1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn hệ thống kiểm soát nội bộ trong công tác quản lý tài chính tại ngân hàng nhà nước việt nam

132 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ trong công tác quản lý tài chính trong hoạt động của Ngân hàng Nhà nước .... Một vài ý kiến về “Hoạt động của hệ thống kiểm toán nội bộ hiện

Trang 1

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

BÙI THỊ HẢI VÂN

HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ

TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG

HÀ NỘI - NĂM 2020

Trang 2

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

BÙI THỊ HẢI VÂN

HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG

Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng

Mã số: 8 34 02 01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHẠM THỊ THANH HƯƠNG

HÀ NỘI - NĂM 2020

Trang 3

Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Luận văn được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và tình hình thực tiễn tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Phạm Thị Thanh Hương

Các số liệu, kết quả trong Luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

Tác giả luận văn

Bùi Thị Hải Vân

Trang 4

Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình và quý báu trong quá trình nghiên cứu tài liệu tham khảo, thu thập số liệu của các cô chú, anh chị đồng nghiệp tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Cuối cùng, tôi bày tỏ sự cảm ơn tới những người thân trong gia đình, bạn bè

đã khích lệ, động viên tôi hoàn thành tốt luận văn này

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

Tác giả luận văn

Bùi Thị Hải Vân

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 7

1.1 Hệ thống kiểm soát nội bộ 7

1.1.1 Khái niệm về hệ thống kiểm soát nội bộ 7

1.1.2 Các yếu tố cơ bản của hệ thống kiểm soát nội bộ 11

1.2 Công tác quản lý tài chính trong Ngân hàng Nhà nước 16

1.2.1 Đặc điểm hoạt động của Ngân hàng Nhà nước 16

1.2.2 Công tác quản lý tài chính trong Ngân hàng Nhà nước 16

1.3 Hệ thống kiểm soát nội bộ trong công tác quản lý tài chính của Ngân hàng Nhà nước 21

1.3.1 Sự cần thiết của hệ thống kiểm soát nội bộ trong công tác quản lý tài chính của Ngân hàng Nhà nước 22

1.3.2 Đặc điểm quản lý tài chính trong Ngân hàng Nhà nước có ảnh hưởng tới hệ thống kiểm soát nội bộ 23

1.3.3 Hệ thống kiểm soát nội bộ trong công tác quản lý tài chính của Ngân hàng Nhà nước 24

1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến Hệ thống kiểm soát nội bộ trong công tác quản lý tài chính của Ngân hàng Nhà nước 27

1.4.1 Nhân tố khách quan 27

1.4.2 Nhân tố chủ quan 28

Trang 6

1.5 Kinh nghiệm quốc tế về hệ thống kiểm soát nội bộ trong công tác quản lý tài chính của Ngân hàng Trung ương một số quốc gia 29

1.5.1 Kinh nghiệm quốc tế về hệ thống kiểm soát nội bộ trong công tác quản lý tài chính của Ngân hàng Trung ương một số quốc gia 30 1.5.2 Bài học cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 32

TỔNG KẾT CHƯƠNG 1 35 Chương 2 THỰC TRẠNG HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 36 2.1 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và công tác quản lý tài chính của Ngân hàng Nhà nước 36

2.1.1 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 36 2.1.2 Công tác quản lý tài chính của NHNN Việt Nam 37

2.2 Hệ thống kiểm soát nội bộ trong công tác quản lý tài chính tại NHNN Việt Nam 43

2.2.1 Sự hình thành và phát triển hệ thống kiểm soát nội bộ của NHNN Việt Nam 43 2.2.2 Hệ thống kiểm soát nội bộ trong công tác quản lý tài chính tại Ngân hàng Nhà nước hiện nay 45

2.3 Đánh giá thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ trong công tác quản lý tài chính trong hoạt động của Ngân hàng Nhà nước 69

2.3.1 Kết quả đạt được của hệ thống kiểm soát nội bộ trong công tác quản lý tài chính tại Ngân hàng Nhà nước 69 2.3.2 Một số hạn chế của hệ thống kiểm soát nội bộ với việc tăng cường công tác quản lý tài chính tại Ngân hàng Nhà nước 74 2.3.3 Nguyên nhân hạn chế của hệ thống kiểm soát nội bộ với việc tăng cường công tác quản lý tài chính tại Ngân hàng Nhà nước 83

TỔNG KẾT CHƯƠNG 2 86 Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI 87 NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 87 3.1 Sự cần thiết và phương hướng hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong công tác quản lý tài chính tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 87

Trang 7

3.1.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong công tác quản

lý tài chính tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 87

3.1.2 Phương hướng hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong công tác quản lý tài chính tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 88

3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong công tác quản lý tài chính tại NHNN Việt Nam 91

3.2.1 Hoàn thiện môi trường kiểm soát 91

3.2.2 Hoàn thiện hệ thống thông tin 97

3.2.3 Nâng cao chất lượng các thủ tục kiểm soát 99

3.2.4 Nâng cao chất lượng kiểm toán nội bộ 101

3.3 Một số kiến nghị 105

3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ 105

3.3.2 Kiến nghị với Bộ Tài chính 105

3.3.3 Kiến nghị với Kiểm toán nhà nước 105

TỔNG KẾT CHƯƠNG 3 106

KẾT LUẬN 107

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108

PHỤ LỤC 110

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

STT Chữ viết tắt Viết đầy đủ

Trang 9

DANH MỤC HÌNH MINH HỌA

Hình 2.1 Các chức năng của NHNN Việt Nam 36 Hình 2.2 Mô hình phân phối kết quả tài chính năm của NHNN 40 Hình 2.3 Cấu trúc kinh phí khoán của NHNN 42

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Nơi nhận Báo cáo tài chính của NHNN 53 Bảng 2.2: Kết quả thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính năm 2018, 2019 59 Bảng 2.3: Tổng hợp kết quả kiểm toán thu nhập – chi phí năm 2018 60 Bảng 2.4: Giải thích nguyên nhân chênh lệch kết quả kiểm toán thu nhập - chi

phí năm 2018 61 Bảng 2.5: Tổng hợp kết quả kiểm toán tài sản năm 2018, 2019 65 Bảng 2.6: Tổng hợp kết quả kiểm toán tài sản - nguồn vốn năm 2019 65 Bảng 2.5: Giải thích nguyên nhân chênh lệch kết quả kiểm toán tài sản – nguồn

vốn năm 2019 67

Trang 10

MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của Đề tài

Các quốc gia trên thế giới đang đối mặt với thách thức nghiêm trọng trong đảm bảo tính ổn định nguồn thu của ngân sách nhà nước và sự gia tăng của mức dư

nợ công trong bối cảnh phải liên tục tăng chi để thực hiện các chính sách an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế này và yêu cầu đảm bảo bền vững tài khóa đang là một trong những nhiệm vụ ưu tiên hiện nay của ngành tài chính Trong bối cảnh tình hình kinh tế trong nước và quốc tế dự báo tiếp tục có những diễn biến khó lường, nhiệm vụ đặt ra đối với nền tài chính quốc gia hết sức nặng nề, đòi hỏi cần phải có những giải pháp toàn diện và đồng bộ

Là một cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng, hàng năm, NHNN đều được ngân sách nhà nước cấp kinh phí khoán để đảm bảo hoạt động như các khoản chi cho cán bộ công chức, chi hoạt động quản lý công vụ Bên cạnh đó, những năm qua, NHNN đã có những đóng góp không nhỏ vào ngân sách nhà nước với những khoản thu từ hoạt động đặc thù như nghiệp vụ tín dụng, nghiệp

vụ thị trường mở, dịch vụ thanh toán… Cùng với cả nước, NHNN đã cố gắng sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính nhằm thực hiện nhiệm vụ của mình, góp phần phát triển kinh tế - xã hội Một trong những giải pháp mang tính chiến lược và cấp thiết là việc xây dựng hệ thống KSNB trở thành cơ chế tự phòng chống rủi ro và bảo vệ an toàn tài sản, tăng cường hiệu quả công tác quản lý tài chính

Hệ thống KSNB ngân hàng tại Việt Nam mới phát triển trong những năm gần đây Chính vì vậy qui trình thực hiện, hiệu quả của hoạt động đó cho đến nay còn nhiều thiếu sót, cần được quan tâm và nâng cao NHNN cần phải xây dựng và hoàn thiện một hệ thống KSNB đủ mạnh để có thể hướng các hoạt động của đơn vị theo đúng quy định của pháp luật, ngăn ngừa các sai phạm, chống thất thoát nguồn vốn, tài sản, từ đó nâng cao hiệu quả công tác quản lý tài chính

Với Đề tài “Hệ thống kiểm soát nội bộ trong công tác quản lý tài chính

tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”, Tác giả mong muốn tiếp tục quá trình

Trang 11

nghiên cứu về hệ thống KSNB với việc quản lý tài chính góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động và đạt được các mục tiêu mà Ban Lãnh đạo NHNN đã đặt ra

1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan

Tại Việt Nam, có nhiều tác giả quan tâm đến đề tài về hệ thống kiểm soát nội trong Ngân hàng Các đề tài đã góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ Một số đề tài, bài viết có thể kể đến là:

- “Hệ thống KSNB của một ngân hàng hiện đại” - bài viết của tác giả ThS

Vũ Thúy Ngọc (công tác tại NHNN) trên Tạp chí Ngân hàng số 9/2006 ngày 29/05/2006 Bài viết mới chỉ dừng lại ở việc nêu khái niệm của hệ thống KSNB, kiểm toán nội bộ, mục tiêu và các cấu phần của hệ thống; một số nhận xét, đánh giá

và các giải pháp nâng cao chất lượng hệ thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ của các ngân hàng thương mại Việt Nam được xây dựng trên cơ sở Luật các tổ chức tín dụng ban hành năm 1997 và Quy chế về kiểm tra, kiểm toán nội bộ của các tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định số 03/1998/QĐ-NHNN3 ngày 03/01/1998 của Thống đốc NHNN

Một vài ý kiến về “Hoạt động của hệ thống kiểm toán nội bộ hiện nay” - bài viết của tác giả Bùi Thị Thư - Phó Kiểm toán trưởng Kiểm toán Nhà nước chuyên ngành VII trên web tạp chí Kiểm toán ngày 12/01/2010, đã mở rộng đối tượng hơn khi nêu được đặc điểm hoạt động của kiểm toán nội bộ với ngân hàng nhà nước và ngân hàng thương mại, các hình thức của kiểm toán nội bộ, những vấn đề khó khăn trong thực trạng hoạt động của bộ máy KTNB lĩnh vực ngân hàng; một số đánh giá chung về công tác kiểm toán nội bộ của NHNN, ngân hàng thương mại qua hoạt động kiểm toán của KTNN, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy kiểm tra, kiểm toán nội bộ lĩnh vực ngân hàng Tác giả bài viết đã có những đóng góp đáng kể khi nghiên cứu khá toàn diện các vấn đề của hệ thống KTNB trong cả NHNN và ngân hàng thương mại dựa trên kinh nghiệm kiểm toán của mình Tuy nhiên, Tác giả chỉ đi sâu vào một yếu tố trong hệ thống KSNB

là kiểm toán nội bộ mà chưa có cái nhìn tổng quát về cả hệ thống, và cũng chưa đánh giá được vai trò của kiểm toán nội bộ với công tác quản lý tài chính

Trang 12

- Về luận văn Thạc sĩ có thể kể đến các tác giả:

Đề tài “Giải pháp hoàn thiện kiểm toán nội bộ trên cơ sở đánh giá rủi ro tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”- của tác giả Chu Sỹ Thế (công tác tại Ngân hàng Nhà nước) năm 2013 Đề tài nghiên cứu với mục đích hỗ trợ cho việc triển khai phương pháp kiểm toán trên cơ sở đánh giá rủi ro tại NHNN Việt Nam cả về lý luận

và thực tiễn trong đó trọng tâm nghiên cứu là những giải pháp để việc triển khai phương pháp kiểm toán trên cơ sở đánh giá rủi ro tại NHNN Việt Nam có hiệu quả Tác giả Vũ Đức Long (2019) với đề tài “Hoạt động kiểm toán nội bộ trong

hệ thống Ngân hàng Nhà nước Việt Nam” Trong nghiên cứu này, tác giả đã đi sâu

phân tích cơ sở lý luận chung, các văn bản pháp lý có liên quan điều chỉnh hệ thống kiểm toán nội bộ của ngân hàng trung ương; phân tích góp phần hoàn thiện thêm những vấn đề lý luận cơ bản về kiểm toán nội bộ của NHNN; phân tích thực trạng hoạt động KTNB trong những năm qua tại NHNN Việt Nam, từ đó đánh giá những kết quả đạt được cũng như những tồn tại và tìm ra nguyên nhân của tồn tại; từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng KTNB tại NHNN Việt Nam trong thời gian tới

Các công trình nghiên cứu trên đã khái quát những lý luận cơ bản về hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng, các nhân tố ảnh hưởng và các tiêu chí đo lường hiệu quả, qua đó phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động hệ thống kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng trung ương, so sánh với hoạt động kiểm soát nội bộ tại các Ngân hàng trung ương trên Thế giới và đưa ra những giải pháp tăng cường, nâng cao hiệu quả kiểm soát nội bộ

Tuy nhiên, hiện nay chưa có tác giả nào đi sâu vào việc đánh giá hoạt động của

hệ thống kiểm soát nội bộ gắn với quản lý tài chính tại một chủ thể nghiên cứu là một

cơ quan nhà nước có đặc thù phức tạp như NHNN Việt Nam Đồng thời, hiện nay NHNN Việt Nam đã triển khai Dự án hiện đại hóa ngân hàng (FSMIMS), trong đó có cấu phần về SG 3.1- Kế toán ngân hàng lõi, lập kế hoạch tài chính trên hệ thống công nghệ thông tin Đây là một phương pháp làm việc mới phục vụ công tác quản lý tài chính; tiếp cận với phương pháp mới đòi hỏi hệ thống kiểm soát nội bộ cũng cần đồng

Trang 13

bộ, khắc phục những tồn tại, hạn chế của của phương pháp cũ Xuất phát từ những lý

do trên tác giả quyết định lựa chọn đề tài Luận văn “Hệ thống kiểm soát nội bộ trong công tác quản lý tài chính tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam” Tác giả muốn từ cách nhìn tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ của Ngân hàng Nhà nước đến việc phân tích sâu cụ thể vào lĩnh vực tài chính để thấy được thực trạng của hệ thống kiểm soát nội bộ trong công tác quản lý tài chính tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, từ những hạn chế tồn tại đưa ra những phương hướng, giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ đối với công tác quản lý tài chính tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu hệ thống KSNB nói chung, hệ thống KSNB với công tác quản lý tài chính nói riêng, Luận văn hướng tới giải quyết những vấn đề nghiên cứu như sau:

Thứ 1: Phân tích các cơ sở khoa học của hệ thống kiểm soát nội bộ nói chung,

hệ thống kiểm soát nội bộ trong công tác quản lý tài chính tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nói riêng

Thứ 2: Thực trạng của hệ thống kiểm soát nội bộ gắn với công tác quản lý tài chính tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, đánh giá những ưu, nhược được, tìm ra nguyên nhân của các hạn chế

Thứ 3: Tìm ra các phương hướng để hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ gắn liền với công tác quản lý tài chính tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Từ đó đề xuất các giải pháp cụ thể cho việc hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong công tác quản lý tài chính tại Ngân hàng nhà nước Việt Nam

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống kiểm soát nội bộ trong công tác quản lý tài chính tại Ngân hàng Nhà nước

Phạm vi nghiên cứu:

+ Về nội dung: đề tài khảo sát, nghiên cứu và đánh giá vấn đề kiểm soát nội

bộ có gắn với công tác quản lý tài chính tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Trong

đó, tác giả xin tập trung sâu hơn vào vấn đề kiểm soát các khoản chi phí quản lý

Trang 14

thực hiện theo cơ chế khoán của NHNN Việt Nam

+ Về không gian: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

+ Về thời gian: Nghiên cứu trong 02 năm 2018, 2019 và định hướng đến năm 2030

1.5 Phương pháp nghiên cứu của Đề tài

1.5.1 Phương pháp luận

Phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhận thức khoa học Phương pháp này giúp cho người nghiên cứu có sự đối chiếu giữa lý luận và thực tiễn một cách biện chứng

1.5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp đối chiếu, liên hệ và so sánh Với phương pháp thu thập số liệu, thông tin, cụ thể tác giả đã sử dụng hai nguồn dữ liệu cơ bản

là nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp

Đối với nguồn dữ liệu thứ cấp đó là các văn bản liên quan đến hoạt động kiểm soát, KTNB nói chung có hiệu lực (hệ thống chuẩn mực), các văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động của ngân hàng như Luật Ngân hàng Nhà nước, văn bản nội bộ do NHNN ban hành, các báo cáo, hồ sơ lưu trữ… Việc thu thập các nguồn

dữ liệu này chủ yếu dựa vào việc tra cứu thông tin trên các file lưu trữ văn bản bằng bản cứng và bản mềm được lưu hành nội bộ NHNN, bên cạnh đó tác giả còn sử dụng thông tin trên các trang mạng điện tử được pháp luật công nhận

Đối với nguồn dữ liệu sơ cấp, thông qua quan sát, thu thập thông tin thông qua bảng hỏi đồng thời thu thập dữ liệu cụ thể về hệ thống KSNB, khảo sát các biểu phân tích của các kiểm soát viên có kinh nghiệm, khả năng bao quát vấn đề tốt về Phòng/bộ phận kiểm soát các đơn vị; thăm dò lấy ý kiến của trưởng, phó phòng KTNB về những bất cập, tồn tại của hoạt động kiểm soát, KTNB tại NHNN Các kết quả, số liệu về công tác quản lý tài chính được lấy từ Phòng Quản lý Tài chính -

Vụ Tài chính - Kế toán Sau khi thu thập được nguồn dữ liệu sơ cấp trên, tác giả sẽ

đi vào phân tích và đưa ra những kết luận chung về hoạt động kiểm soát cụ thể về

Trang 15

qui trình, chất lượng của hoạt động KSNB với việc tăng cường quản lý tài chính

1.6 Ý nghĩa của Đề tài nghiên cứu

Trên phương diện thực tiễn: Tác giả Luận văn đưa ra những luận giải thực tế

về hệ thống KSNB của NHNN Việt Nam nói chung và với công tác quản lý tài chính nói riêng, từ đó thấy được những ưu nhược điểm và đề ra những giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống KSNB trong việc tăng cường công tác quản lý tài chính tại đơn vị

Trên phương diện lý luận: tác giả luận văn đưa ra lý luận về KSNB trong việc tăng cường công tác quản lý tài chính của NHNN

1.7 Kết cấu nghiên cứu của Đề tài

Kết cấu Luận văn: Ngoài phần mở đầu và kết luận đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở khoa học về hệ thống kiểm soát nội bộ trong công tác

quản lý tài chính trong hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;

Chương 2: Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ trong công tác quản lý tài

chính tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;

Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ

trong công tác quản lý tài chính tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

1.1 Hệ thống kiểm soát nội bộ

1.1.1 Khái niệm về hệ thống kiểm soát nội bộ

Kiểm soát cần thiết trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người và có liên quan mật thiết đến quản lý Đích cuối cùng mà quá trình quản lý hướng tới là đạt được mục tiêu đã đặt ra trong khuôn khổ một đơn vị nhất định Việc thực hiện

kế hoạch luôn phải đối mặt với những thay đổi môi trường bên trong và bên ngoài đơn vị Nếu không có kiểm soát, nhà quản lý sẽ không có những thông tin để ra những quyết định thích hợp nhằm thích ứng với môi trường, do đó khó có thể thực hiện được mục tiêu đã đặt ra Chính vì vậy, nghiên cứu và thực hiện kiểm soát hiệu

quả luôn là nội dung gắn liền với quản lý

Theo các tác giả Schoderbek, Cosier và Aplin (1988), kiểm soát là hoạt động đánh giá và chỉnh sửa những lệch lạc từ tiêu chuẩn Kiểm soát do đó bao gồm các hoạt động: thiết lập tiêu chuẩn, đánh giá thực tế bằng cách so sánh thực tế với tiêu chuẩn, và chỉnh sửa những lệch lạc từ thực tế so với tiêu chuẩn đã xác lập Cách thức này được áp dụng chung cho mọi hệ thống kiểm soát có thể là kiểm soát chất lượng, kiểm soát hành vi, kiểm soát nhân sự Các tác giả Jones và George (2003) cho rằng kiểm soát là quá trình nhà quản lý giám sát và điều tiết tính hiệu quả và hiệu lực của một tổ chức và các thành viên trong việc thực hiện các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức Tuy nhiên, kiểm soát không có nghĩa là chỉ phản ứng lại những sự kiện sau khi đã diễn ra Kiểm soát cũng có nghĩa là giữ cho tổ chức theo đúng định hướng và dự kiến các sự kiện có thể xảy ra

Theo Từ điển Tiếng Việt (1996), kiểm soát là sự xem xét để phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định Với quan điểm nghiên cứu về kiểm soát trong kiểm soát quản lý, TS Nguyễn Thị Phương Hoa đã đưa ra khái niệm về kiểm soát: “Kiểm

Trang 17

soát là quá trình đo lường, đánh giá và tác động lên đối tượng kiểm soát nhằm đảm bảo mục tiêu, kế hoạch của tổ chức được thực hiện một cách có hiệu quả”

Trên cơ sở kế thừa và phát triển các quan điểm về bản chất và vai trò của kiểm soát trong quản lý, kiểm soát không phải là một pha hay một giai đoạn trong quá trình quản lý mà là một chức năng không thể tách rời của quản lý Trong suốt quá trình quản lý, kiểm soát luôn tồn tại trước, trong và sau mỗi hoạt động Một cách tổng hợp nhất, kiểm soát được hiểu là tổng hợp các phương sách để nắm lấy và điều hành đối tượng hoặc khách thể quản lý

Kiểm soát là hoạt động quan trọng trong một tổ chức cũng như toàn bộ xã hội Với các nhà quản lý, kiểm soát là phương sách để đạt được các mục tiêu đã đề

ra Không có kiểm soát cũng đồng nghĩa với sự không tồn tại quản lý Một hệ thống kiểm soát có các thước đo cho phép nhà quản lý đánh giá tính hiệu quả của tổ chức trong việc sản xuất và cung cấp dịch vụ Không có hệ thống kiểm soát nhà quản lý không có ý tưởng gì về tổ chức hoạt động như thế nào và hoạt động có thể cải thiện

ra sao Trong lĩnh vực kiểm toán, từ lâu các kiểm toán viên đã nhận thức được ảnh hưởng của kiểm soát đối với báo cáo tài chính của đơn vị và đã phát triển các kỹ năng tìm hiểu, đánh giá chúng để phục vụ cho công tác kiểm toán Do đó, khái niệm

về kiểm soát nội bộ đã hình thành, phát triển và trở thành một hệ thống lý luận về kiểm soát trong tổ chức, không chỉ phục vụ công việc của kiểm toán viên mà còn liên quan mật thiết đến vấn đề quản trị kinh doanh

Hiện có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm kiểm toán nội bộ cũng như

hệ thống kiểm soát nội bộ trên thế giới Năm 1987, Hiệp hội các tổ chức tài trợ COSO (được thành lập từ các hiệp hội nghề nghiệp uy tín tại Mỹ) đã công bố một

hệ thống tiêu chuẩn đầy đủ giúp các tổ chức có thể đánh giá quá trình kiểm soát của

họ nhằm tìm giải pháp hoàn thiện, trong đó đưa ra định nghĩa về kiểm soát nội bộ

như sau: “KSNB là quá trình do hội đồng quản trị, người quản lý và nhân viên của đơn vị chi phối, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện các mục tiêu dưới đây:

Đảm bảo sự tin cậy của báo cáo tài chính;

Trang 18

Đảm bảo sự tuân thủ các quy định và luật lệ;

Đảm bảo các hoạt động được thực hiện hiệu quả.”

Trên thực tế, báo cáo của COSO được đánh giá là thiết thực, rõ ràng với các

tổ chức trong việc thiết lập và thực hiện kiểm soát nội bộ nhằm tạo thành một quá trình liên tục để mỗi tổ chức có thể đảm bảo việc thực hiện được mục tiêu của họ

Theo Chuẩn mực kiểm toán quốc tế IAS 400: “Hệ thống KSNB là toàn bộ những chính sách và thủ tục kiểm soát do Ban Giám đốc của đơn vị thiết lập nhằm đảm bảo việc quản lý chặt chẽ và hiệu quả của các hoạt động trong khả năng có thể” Cuối năm 2003, Ủy ban Chuẩn mực Kiểm toán và các Dịch vụ đảm bảo quốc tế thuộc Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) đã ban hành một số chuẩn mực kiểm toán mới, trong đó có ISA 315 “Hiểu biết tình hình kinh doanh, môi trường của doanh nghiệp và đánh giá rủi ro có sai phạm trọng yếu” trên cơ sở đề cập một cách toàn diện về khái niệm rủi ro trong kiểm toán Chuẩn mực này có hiệu lực từ sau ngày 15/12/2004 và thay thế cho ISA 400- Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ Theo ISA

315, kiểm soát nội bộ được hiểu là “một quá trình được thiết kế và chịu sự chi phối của các nhà quản lý và các nhân viên trong một tổ chức nhằm cung cấp sự đảm bảo hợp lý về việc đạt được các mục tiêu liên quan đến độ tin cậy của báo cáo tài chính, hiệu quả hoạt động cùng hiệu năng quản lý và tuân thủ các quy định luật lệ” Tuy

nhiên, cả COSO và IFAC trong ISA 315 mới chỉ đưa ra khái niệm về “kiểm soát nội bộ” mà không phải toàn bộ “hệ thống kiểm soát nội bộ”

Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “hệ thống” xét theo cách chung nhất là “thể thống nhất được tạo lập bởi các yếu tố cùng loại, cùng chức năng, có liên hệ chặt chẽ với nhau” hoặc “thể thống nhất bao gồm những tư tưởng, nguyên tắc, quy tắc liên kết với nhau một cách chặt chẽ, có logic” Theo Từ điển Kinh tế Kinh doanh Anh – Việt có giải thích hệ thống kiểm soát nội bộ là “hệ thống các phương pháp, thể thức hay chế độ kiểm tra trong nội bộ một công ty nhằm đẩy mạnh hiệu quả, đảm bảo việc thi hành đường lối chính sách và bảo toàn các tài sản của công ty”

Theo Chuẩn mực kiểm toán quốc tế về Đánh giá rủi ro và Đo lường Kiểm

soát nội bộ của IFAC (IAS 400 trước đây) “Hệ thống KSNB là tập hợp bao gồm các

Trang 19

chính sách và thủ tục (các loại hình kiểm soát) được áp dụng bởi các nhà quản lý của đơn vị nhằm thực hiện các mục tiêu đã định như: thực hiện hoạt động hiệu quả

và tuân thủ pháp luật, bám sát chủ trương mà nhà quản lý đã đặt ra; bảo vệ tài sản; ngăn ngừa và phát hiện các gian lận và sai sót; đảm bảo sự đầy đủ và chính xác của các thông tin kế toán; lập báo cáo tài chính trung thực, đúng thời hạn” Quan

điểm này khá tương đồng với Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam VAS 400 được ban

hành theo Quyết định Số 143/2001/QĐ-BTC ngày 21/12/2001: “Hệ thống KSNB là các quy định và các thủ tục kiểm soát do đơn vị xây dựng và áp dụng nhằm: Đảm bảo cho đơn vị tuân thủ pháp luật và các quy định để kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót; Để lập báo cáo tài chính trung thực và hợp lý; Bảo vệ, quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản của đơn vị”

Tuy nhiên sau vụ bê bối của Tập đoàn Enron và sự đổ vỡ của hàng loạt ngân hàng trong khủng hoảng kinh tế thế giới những năm gần đây cho thấy xu thế tất yếu phải tiếp cận kiểm toán trên cơ sở xác định và đánh giá rủi ro Những thay đổi, sửa đổi và bổ sung hàng loạt những chuẩn mực kiểm toán mới của IFAC theo hướng thích ứng với môi trường kinh doanh ngày càng đa dạng, phức tạp là cơ sở cho sự thay đổi của các chuẩn mực kiểm toán ở các quốc gia trên thế giới Trước những thay đổi này, tại Việt Nam, Bộ Tài chính đã ủy quyền cho Hiệp hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam thực hiện nghiên cứu, soạn thảo, cập nhật Hệ thống Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam phù hợp với Hệ thống Chuẩn mực Kiểm toán quốc tế mới, nhưng hiện nay vẫn chưa ban hành Đến thời điểm hiện tại, Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam VAS 400 về Đánh giá rủi ro và Kiểm toán nội bộ vẫn còn hiệu lực

Trên cơ sở những tổng kết những quan điểm khác nhau về hệ thống KSNB, PGS TS Ngô Trí Tuệ và các cộng sự đã đi đến một khái niệm về hệ thống KSNB

một cách chung nhất: “Hệ thống KSNB là hệ thống các chính sách và thủ tục được thiết lập nhằm đạt được bốn mục tiêu cơ bản: bảo vệ tài sản của đơn vị; đảm bảo độ tin cậy của các thông tin; đảm bảo việc thực hiện các chế độ pháp lý và đảm bảo hiệu quả của hoạt động” Cơ sở để thiết kế các chính sách và thủ tục này cần phải tuân

theo các nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và kiểm soát nhằm đảm bảo việc thực hiện

Trang 20

tốt các mục tiêu mà nhà quản lý theo đuổi Khái niệm này có tính tổng quát, có thể sử dụng để nghiên cứu hệ thống KSNB trong mọi loại hình đơn vị trong các lĩnh vực khác nhau như hành chính, kinh doanh hay sự nghiệp

Tại Thông tư số 06/2020/TT-NHNN ngày 30/6/2020 của NHNN quy định về

kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ NHNN Việt Nam giải thích “Hệ thống kiểm soát nội bộ Ngân hàng Nhà nước là tổng thể các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ, cơ cấu tổ chức được thiết lập và triển khai thực hiện trong các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước phù hợp với quy định của pháp luật, của Ngân hàng Nhà nước

và quy định tại Thông tư này nhằm kiểm soát, phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời các rủi ro có thể xảy ra, đảm bảo hoạt động của đơn vị được an toàn, hiệu quả và đạt được các mục tiêu đề ra” Khái niệm này tương tự các quan điểm ở trên và được ban

hành bởi chủ thể là NHNN Việt Nam nên được Tác giả ứng dụng nhằm nghiên cứu

về hệ thống KSNB tại NHNN vào lĩnh vực cụ thể là quản lý tài chính của NHNN

1.1.2 Các yếu tố cơ bản của hệ thống kiểm soát nội bộ

Hệ thống kiểm soát nội bộ bao gồm 4 yếu tố, cụ thể: là môi trường kiểm soát, hệ thống thông tin, thủ tục kiểm soát và kiểm toán nội bộ

1.1.2.1 Môi trường kiểm soát

Môi trường kiểm soát là các chính sách, quy trình, thông lệ được xây dựng nhằm đảm bảo thực hiện các kế hoạch, các yêu cầu do các cấp quản lý điều hành đặt

ra và các quy trình giảm thiểu rủi ro liên quan Môi trường kiểm soát là nền tảng cho toàn bộ các cấu phần của hệ thống kiểm soát nội bộ, bao gồm cơ cấu tổ chức,

cơ chế phân cấp, phân quyền, các chính sách, thông lệ về nguồn nhân lực, đạo đức nghề nghiệp, năng lực, cách thức quản trị, điều hành của các cấp lãnh đạo Môi trường kiểm soát bao gồm toàn bộ nhân tố bên trong của đơn vị và bên ngoài đơn vị

có tính môi trường tác động đến việc thiết kế, hoạt động và xử lý dữ liệu của các loại hình kiểm soát nội bộ

Các nhân tố trong môi trường kiểm soát bao gồm:

Đặc thù về quản lý: Các đặc thù về quản lý đề cập tới quan điểm khác nhau trong điều hành hoạt động doanh nghiệp của các nhà quản lý Các quan điểm đó ảnh

Trang 21

hưởng trực tiếp đến chính sách, chế độ, các quy định và cách thức tổ chức kiểm tra, kiểm soát trong doanh nghiệp Bởi vì chính các nhà quản lý này đặc biệt các nhà quản lý cấp cao nhất sẽ phê chuẩn các quyết định, chính sách và thủ tục kiểm soát

sẽ áp dụng tại doanh nghiệp

Cơ cấu tổ chức: Một cơ cấu tổ chức hợp lý phải thiết lập sự điều hành và kiểm soát toàn bộ hoạt động, các lĩnh vực của doanh nghiệp sao cho không bị chồng chéo hoặc bỏ trống Như vậy, để thiết lập một cơ cấu tổ chức thích hợp và có hiệu quả, các nhà quản lý phải tuân thủ các nguyên tắc sau: Thiết lập được sự điều hành

và sự kiểm soát trên toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp, không bỏ sót lĩnh vực nào, đồng thời không có sự chồng chéo giữa các bộ phận; Thực hiện sự phân chia rành mạch ba chức năng: xử lý nghiệp vụ, ghi chép sổ và bảo quản tài sản; Đảm bảo

sự độc lập tương đối giữa các bộ phận nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong hoạt động của các bộ phận chức năng

Chính sách nhân sự: Sự phát triển của một doanh nghiệp luôn gắn liền với đội ngũ nhân viên và họ luôn là nhân tố quan trọng trong môi trường kiểm soát cũng như chủ thể trực tiếp thực hiện mọi thủ tục kiểm soát trong hoạt động của doanh nghiệp Mặc dù doanh nghiệp có thiết kế và vận hành các chính sách và thủ tục kiểm soát chặt chẽ nhưng với đội ngũ nhân viên kém năng lực trong công việc

và thiếu trung thực về phẩm chất đạo đức thì hệ thống kiểm soát nội bộ không thể phát huy được hiệu quả

Công tác kế hoạch: Việc lập và thực hiện kế hoạch được tiến hành khoa học

và nghiêm túc thì hệ thống kế hoạch và dự toán đó sẽ trở thành công cụ kiểm soát rất hữu hiệu Trong thực tế các nhà quản lý thường quan tâm xem xét tiến độ thực hiện kế hoạch, theo dõi những nhân tố ảnh hưởng đến kế hoạch đã lập nhằm phát hiện những vấn đề bất thường và xử lý, điều chỉnh kế hoạch kịp thời

Ủy ban kiểm soát: Bao gồm những người trong bộ máy lãnh đạo cao nhất của đơn vị như thành viên của hội đồng quản trị nhưng không kiêm nhiệm các chức

vụ quản lý Ủy ban kiểm soát thường có nhiệm vụ và quyền hạn sau: Giám sát sự chấp hành luật pháp của công ty; Kiểm tra và giám sát công việc của kiểm toán viên

Trang 22

nội bộ; Giám sát tiến trình lập báo cáo tài chính; Dung hòa những bất đồng giữa ban giám đốc với các kiểm toán viên bên ngoài

Các nhân tố ngoài môi trường kiểm soát:

Môi trường kiểm soát chung của một doanh nghiệp còn phụ thuộc vào các nhân tố bên ngoài Các nhân tố này tuy không thuộc sự kiểm soát của các nhà quản

lý nhưng có ảnh hưởng rất lớn đến thái độ, phong cách điều hành của nhà quản lý cũng như sự thiết kế và vận hành các quy chế và thủ tục kiểm soát nội bộ Thuộc nhóm nhân tố này bao gồm: Sự kiểm soát của các cơ quan chức năng của nhà nước, môi trường pháp lý, đường lối phát triển của đất nước

1.1.2.2 Hệ thống thông tin

Hệ thống thông tin và cơ chế trao đổi thông tin là hệ thống hỗ trợ toàn bộ các cấu phần của hệ thống kiểm soát nội bộ thông qua việc đảm bảo các thông tin được nắm bắt đầy đủ và kịp thời trong toàn ngân hàng Hệ thống thông tin chủ yếu

là hệ thống kế toán của đơn vị bao gồm hệ thống chứng từ kế toán, hệ thống sổ kế toán, hệ thống tài khoản kế toán và hệ thống bảng tổng hợp - cân đối kế toán Một

hệ thống kế toán hữu hiệu phải bảo đảm các mục tiêu kiểm soát chi tiết sau:

Tính có thực: Cơ cấu kiểm soát không cho phép những nghiệp vụ không có thực vào sổ sách của đơn vị

Sự phê chuẩn: Bảo đảm mọi nghiệp vụ xảy ra phải được phê chuẩn hợp lý Tính đầy đủ: Bảo đảm việc phản ánh trọn vẹn các nghiệp vụ kinh tế phát sinh

Sự đánh giá: Bảo đảm không có sai phạm trong việc tính giá và phí

Sự phân loại: Bảo đảm các nghiệp vụ được ghi chép đúng theo sơ đồ tài khoản và ghi nhận đúng đắn các loại sổ sách kế toán

Tính đúng kỳ: Bảo đảm việc ghi sổ các nghiệp vụ phát sinh được thực hiện kịp thời theo quy định

Quy trình chuyển sổ và tổng hợp chính xác: Số liệu kế toán được ghi vào sổ phụ phải được tổng cộng và chuyển sổ đúng đắn, tổng hợp chính xác trên các báo cáo tài chính của doanh nghiệp

Trang 23

1.1.2.3 Thủ tục kiểm soát

- Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA 400, thủ tục kiểm soát được định nghĩa như sau: "Thủ tục kiểm soát là các qui chế và thủ tục do Ban lãnh đạo đơn vị thiết lập và chỉ đạo thực hiện trong đơn vị nhằm đạt được mục tiêu quản lí cụ thể"

- Các loại thủ tục kiểm soát

+ Kiểm soát trực tiếp: là các qui chế, thủ tục, quá trình kiểm soát được thiết lập nhằm trực tiếp đáp ứng các mục tiêu chi tiết của kiểm soát Các thủ tục thuộc loại kiểm soát trực tiếp gồm:

Kiểm soát bảo vệ tài sản, thông tin: Bao gồm các biện pháp qui chế kiểm soát phục vụ cho việc đảm bảo an toàn cho tài sản, thông tin của đơn vị Các kiểm soát này bao gồm: phân định trách nhiệm bảo vệ tài sản và thông tin; thiết lập các qui chế, biện pháp để ngăn ngừa sự tiếp cận đến tài sản, thông tin của những người không có trách nhiệm; đảm bảo các kho tàng, thiết bị cho việc bảo

vệ tài sản, thông tin hoạt động tốt; thiết lập các qui chế kiểm kê hiện vật, lấy xác nhận của bên thứ ba,…

Kiểm soát quản lí: Hay còn gọi là kiểm soát độc lập với việc thực hiện Đây

là việc kiểm soát các hoạt động riêng lẻ do những nhân viên độc lập với người thực hiện hoạt động đó tiến hành Nhu cầu cho việc thực hiện kiểm soát quản lí phát sinh

do nhân viên không tránh khỏi quên hoặc sai sót do vô ý không tuân theo thủ tục, một số nhân viên có thể trở nên cẩu thả nếu không có người giám sát và đánh giá công việc của họ

Kiểm soát xử lí: Loại kiểm soát này được đặt ra để đảm bảo các nghiệp

vụ kinh tế được ghi sổ là thực sự xảy ra và được xử lí, ghi chép đúng đắn vào

sổ kế toán

+ Kiểm soát tổng quát: Là sự kiểm soát tổng thể đối với nhiều hệ thống, nhiều công việc khác nhau Đối với các đơn vị có sử dụng hệ thống tin học trong công tác kế toán thì sự tư vấn, giúp sức của các chuyên gia trong lĩnh vực máy tính, tin học là rất quan trọng trong quá trình kiểm toán

Trang 24

- Nguyên tắc cơ bản: Nguyên tắc bất kiêm nhiệm, nguyên tắc phân công, phân nhiệm rõ ràng và chế độ ủy quyền

Nguyên tắc phân công, phân nhiệm: Theo nguyên tắc này, trách nhiệm và công việc cần được phân chia cụ thể cho nhiều bộ phận, và cho nhiều người trong

bộ phận Việc phân công, phân nhiệm rõ ràng, tạo sự chuyên môn hóa trong công việc, sai sót ít xảy ra và khi xảy ra thường dễ phát hiện

Nguyên tắc bất kiêm nhiệm: Nguyên tắc này quy định sự cách ly thích hợp

về trách nhiệm trong các nghiệp vụ có liên quan nhằm ngăn ngừa các sai phạm và hành vi lạm dụng quyền hạn

Nguyên tắc ủy quyền và phê chuẩn: Theo sự ủy quyền của các nhà quản lý, các cấp dưới được giao cho quyết định và giải quyết một số công việc trong phạm

vi nhất định Quá trình ủy quyền được tiếp tục mở rộng xuống cấp thấp hơn để tạo nên một hệ thống phân chia trách nhiệm và quyền hạn mà vẫn không làm mất tính tập trung của doanh nghiệp

1.1.2.4 Kiểm toán nội bộ

Kiểm toán nội bộ là một bộ phận độc lập được thiết lập trong đơn vị tiến hành công việc kiểm tra và đánh giá các hoạt động phục vụ yêu cầu quản trị nội bộ của đơn vị

- Đặc điểm của hoạt động kiểm toán nội bộ: Bảo đảm tính độc lập, trung thực, khách quan, công khai, minh bạch; Tuân thủ pháp luật, quy định, quy trình nghiệp vụ; chấp hành chương trình, kế hoạch kiểm toán được phê duyệt; Không can thiệp hoặc làm cản trở hoạt động bình thường của đơn vị được kiểm toán; bảo vệ bí mật nhà nước và bí mật của đơn vị được kiểm toán

- Vai trò: Là một trong những nhân tố cơ bản trong hệ thống kiểm soát nội

bộ của doanh nghiệp, bộ phận kiểm toán nội bộ cung cấp một sự quan sát, đánh giá thường xuyên về toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm cả tính hiệu quả của việc thiết kế, và vận hành các chính sách và thủ tục về kiểm soát nội bộ Bộ phận kiểm soát nội bộ hữu hiệu sẽ giúp cho doanh nghiệp có được những thông tin kịp thời và xác thực về các hoạt động trong doanh nghiệp, chất lượng của hoạt động

Trang 25

kiểm soát nhằm kịp thời điều chỉnh và bổ sung các quy chế kiểm soát thích hợp và hiệu quả

1.2 Công tác quản lý tài chính trong Ngân hàng Nhà nước

1.2.1 Đặc điểm hoạt động của Ngân hàng Nhà nước

NHTW là một thể chế tài chính đặc biệt của mỗi quốc gia, về mô hình tổ chức của NHTW mỗi quốc gia sẽ tùy thuộc vào điều kiện đặc điểm quản lý, kinh

tế và xã hội mỗi nước Tuy nhiên dù thuộc mô hình nào thì mục đích hoạt động của NHTW cũng có những điểm giống nhau cơ bản Với vai trò điều tiết vĩ mô lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng; hoạt động của NHTW có ảnh hưởng và tác động mạnh

mẽ nhất đối với sự phát triển của nền kinh tế NHTW có chức năng quan trọng nhất đó là quản lý hệ thống tiền tệ của quốc gia và chịu trách nhiệm thi hành chính sách tiền tệ Mục đích hoạt động của NHTW là ổn định giá trị của tiền tệ, ổn định cung tiền, kiểm soát lạm phát, lãi suất đảm bảo an toàn hệ thống các Ngân hàng Thương mại

Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng ngân hàng trung ương của một quốc gia đồng thời là cơ quan ngang Bộ trực thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và chức năng Ngân hàng Trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý của Ngân hàng Nhà nước

1.2.2 Công tác quản lý tài chính trong Ngân hàng Nhà nước

1.2.2.1 Khái niệm về quản lý tài chính trong Ngân hàng Nhà nước

Tài chính được thể hiện là sự vận động của các dòng vốn gắn với sự tạo lập

và sử dụng những quỹ tiền tệ của các chủ thể khác nhau trong xã hội trong đó phản ánh các mối quan hệ kinh tế phát sinh giữa các chủ thể Tài chính trong cơ quan tổ chức được hiểu là các hoạt động thu và chi bằng tiền của cơ quan, tổ chức đó để đảm bảo cho cơ quan tổ chức đó tồn tại hoạt động và thực hiện các chức năng và nhiệm vụ được giao

Thuật ngữ “Quản lý” thường được hiểu đó là quá trình mà chủ thể quản lý sử dụng các công cụ quản lý và phương pháp quản lý thích hợp nhằm điều khiển đối

Trang 26

tượng quản lý hoạt động và phát triển nhằm đạt đến những mục tiêu đã định

Quản lý tài chính trong NHNN là quá trình áp dụng các công cụ và phương pháp quản lý nhằm tạo lập các khoản thu và sử dụng các khoản chi của NHNN để NHNN thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình

Đối tượng quản lý của công tác quản lý tài chính trong NHNN là hoạt động tài chính của NHNN, đó là việc quản lý quá trình hình thành, phân phối, sử dụng nguồn tài chính (các nguồn thu, các nguồn kinh phí thường xuyên hoặc kinh phí không thường xuyên, các quỹ theo quy định) của Ngân hàng Để quản lý tài chính, NHNN sử dụng nhiều phương pháp cũng như nhiều công cụ quản lý khác nhau nhằm mục đích sử dụng hiệu quả nguồn tài chính để thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị được giao

1.2.2.2 Nguyên tắc quản lý tài chính trong Ngân hàng Nhà nước

Trong quá trình tổ chức thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng trung ương, NHNN phát sinh các nguồn thu tương đối ổn định từ hoạt động nghiệp vụ này, bao gồm: (i) việc quản lý, sử dụng Quỹ Dự trữ ngoại hối quốc gia (thông qua các hình thức đầu tư chứng khoán trên thị trường quốc tế, kinh doanh ngoại hối hoặc duy trì

số dư tiền gửi ngoại tệ tại các ngân hàng nước ngoài) và (ii) từ việc điều hành chính sách tiền tệ cũng như thực hiện chức năng khác của một NHTW (thu lãi cho vay, thu từ hoạt động mua bán giấy tờ có giá trên thị trường mở, thu phí dịch vụ thanh toán, ngân quỹ,…) Như vậy, thu nhập của NHNN thông thường đủ để bù đắp các khoản chi phí phát sinh về nghiệp vụ cũng như chi phí quản lý công vụ của NHNN

Do vậy, cơ chế tài chính hàng năm của NHNN có nhiều điểm khác biệt so với các

Bộ, cơ quan ngang Bộ khác:

Thứ nhất, mặc dù là cơ quan của Chính phủ nhưng NHNN không được giao

dự toán thu, chi ngân sách thông qua Kho bạc Nhà nước mà sử dụng nguồn thu nghiệp vụ để bù đắp các chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động, bao gồm cả khoản chi phí nghiệp vụ NHTW và chi quản lý công vụ

Trang 27

Thứ hai, các khoản thu, chi tài chính của NHNN, về nguyên tắc thực hiện

theo Luật Ngân sách Nhà nước NHNN không phải nộp các loại thuế đối với hoạt động nghiệp vụ và dịch vụ ngân hàng

Thứ ba, kết quả tài chính dương (chênh lệch thu lớn hơn chi) của NHNN

được tổng hợp vào dự toán thu ngân sách trung ương Khi kết thúc năm tài chính, sau khi xác định kết quả tài chính năm (tổng thu trừ tổng chi bao gồm cả chi dự phòng rủi ro, chi bổ sung kinh phí khoán), NHNN thực hiện trích lập các quỹ (quỹ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia; quỹ dự phòng tài chính), số còn lại nộp về NSNN

Thứ tư, NHNN thực hiện cơ chế khoán kinh phí hoạt động tương tự như các

Bộ, ngành và đơn vị hành chính khác Tuy nhiên, cơ chế khoán của NHNN có các điểm đặc thù riêng, cụ thể: (i) Mức khoán kinh phí BTC giao cho NHNN là hạn mức sử dụng kinh phí hoạt động chứ không phải là kinh phí do NSNN cấp thông qua KBNN; (ii) Mức khoán kinh phí của NHNN được chia thành 02 cấu phần: hạn mức khoán tuyệt đối và kinh phí bổ sung từ chênh lệch thu, chi theo tỷ lệ do BTC xác định từng năm; (iii) Công chức NHNN được chi bổ sung thu nhập từ kinh phí tiết kiệm và bổ sung từ chênh lệch thu chi ở mức tối đa là 0,8 lần lương thực hiện

1.2.2.3 Quy trình quản lý tài chính trong Ngân hàng Nhà nước

Quản lý tài chính trong NHNN được thực hiện theo quy trình gồm 03 bước, bao gồm: quản lý việc lập dự toán thu chi tài chính, quản lý việc chấp hành dự toán được duyệt và quyết toán thu chi tài chính

- Lập dự toán: căn cứ văn bản hướng dẫn lập dự toán của Bộ Tài chính và

hướng dẫn của cơ quan quản lý cấp trên; căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ theo quy định; tình hình thực hiện nhiệm vụ của năm trước và các nhiệm vụ được giao năm

kế hoạch; căn cứ các định mức, chế độ tiêu chuẩn chi tiêu tài chính hiện hành theo quy định của Nhà nước, NHNN lập dự toán thu, chi tài chính theo chế độ quy định

- Chấp hành dự toán được duyệt: Khi được cơ quan có thẩm quyền giao dự

toán, các cơ quan đơn vị tổ chức thực hiện thu chi tài chính trong phạm vi và tuyệt đối chấp hành dự toán được duyệt Khi thực hiện thu, chi tài chính phải căn cứ trên

Trang 28

các văn bản quy định pháp luật về tiêu chuẩn, định mức, chế độ chính sách của Nhà nước và dựa trên cơ sở cân đối giữa thu và chi

- Quyết toán: Cuối quý, cuối năm NHNN phải tiến hành lập báo cáo kế toán,

báo cáo quyết toán thu, chi tài chính về tình hình sử dụng nguồn tài chính để gửi đến các cơ quan chức năng theo quy định Báo cáo quyết toán ngân sách của nhằm cung cấp thông tin tài chính của đơn vị giúp cho việc đánh giá tình hình và thực trạng của cơ quan, đơn vị

1.2.2.4 Nội dung công tác quản lý tài chính trong Ngân hàng Nhà nước

NHNN với vai trò là cơ quan ngang Bộ quản lý nhà nước ngành ngân hàng,

đồng thời là Ngân hàng Trung ương của quốc gia, mô hình tài chính của NHNN cũng được xây dựng với các nội dung riêng, đặc thù, là sự pha trộn giữa nguyên tắc quản lý tài chính của các Bộ ngành hiện nay và cơ chế tài chính của một ngân hàng trung ương theo thông lệ quốc tế Theo đó, NHNN được giao quản lý, sử dụng nguồn vốn, quỹ thuộc sở hữu nhà nước, có bảng cân đối tài sản riêng; NHNN không

sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước mà sử dụng nguồn thu từ hoạt động nghiệp

vụ ngân hàng trung ương để bù đắp các chi phí hoạt động; kết quả tài chính hàng năm được trích lập các quỹ và nộp phần còn lại vào ngân sách nhà nước Tuy nhiên, đối với các khoản thu, chi tài chính và quy trình lập, thực hiện kế hoạch kinh phí khoán hàng năm của NHNN, về nguyên tắc, phải tuân thủ Luật Ngân sách Nhà nước

Công tác quản lý tài chính của NHNN bao gồm:

- Quản lý các khoản thu:

Nguồn lực tài chính cho hoạt động của NHNN, bao gồm: các nguồn thu từ hoạt động nghiệp vụ đặc thù của NHNN, dịch vụ ngân hàng, phí, lệ phí được để lại, các khoản kinh phí từ ngân sách nhà nước cấp, và các khoản thu khác Tuy nhiên, nguồn thu từ phí, lệ phí thường chiếm tỷ lệ rất nhỏ, do vậy, nguồn tài chính chủ yếu của các NHNN chủ yếu là từ hoạt động nghiệp vụ đặc thù của NHNN Các loại vốn, quỹ của NHNN và phần lớn các khoản thu nghiệp vụ của NHNN được quản lý thống nhất và hạch toán tập trung tại NHNN Trung Ương

Trang 29

- Quản lý các khoản chi của NHNN:

Ngân hàng Nhà nước có các khoản chi: Chi hoạt động nghiệp vụ và dịch vụ ngân hàng; Các khoản chi thực hiện theo cơ chế khoán; Các khoản chi phí quản lý không thực hiện theo cơ chế khoán Các khoản chi của NHNN thực hiện trên cơ sở

kế toán dồn tích Chi hoạt động nghiệp vụ và dịch vụ Ngân hàng được chi trên cơ sở nhu cầu thực tế phát sinh phục vụ hoạt động nghiệp vụ và dịch vụ theo quy định hiện hành của Nhà nước và NHNN Các khoản chi phí quản lý thực hiện theo cơ chế khoán của Bộ Tài chính

Ngân hàng Nhà nước được sử dụng các nguồn thu để trang trải chi phí hoạt động của mình Chênh lệch thu, chi sau khi trích lập quỹ theo quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và quy định cụ thể, số còn lại được nộp vào ngân sách nhà nước

- Phân phối kết quả tài chính của NHNN:

NHNN có các Quỹ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, Quỹ dự phòng tài chính, Khoản dự phòng rủi ro,… để thực hiện các biện pháp điều hành, can thiệp thị trường tiền tệ cũng như phòng ngừa rủi ro Đây cũng là khoản mục phù hợp với đặc thù của hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động của Ngân hàng Trung ương nói riêng

Kết quả tài chính hàng năm của NHNN được xác định trên cơ sở chênh lệch thu nhập trừ các khoản chi phí phát sinh Kết quả tài chính này đã được phân bổ theo tỷ lệ giữ lại NHNN (30% + số góp vốn vào tổ chức quốc tế phát sinh) và nộp

về NSNN (khoảng 70%)

- Thực hiện cơ chế khoán kinh phí hoạt động

Cơ chế khoán chi phí quản lý hiện hành của NHNN có những đặc điểm riêng phù hợp với đặc thù hoạt động của NHNN, tạo sự chủ động cho NHNN trong quản

lý, điều hành về tài chính, cụ thể như sau:

+ Cơ chế sử dụng nguồn thu để bù đắp chi phí hoạt động, không sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước thông qua hệ thống Kho bạc Nhà nước đã tạo sự chủ động, linh hoạt cho NHNN trong sử dụng nguồn lực để thực hiện nhiệm vụ

Trang 30

chính trị; giảm thiểu thời gian, thủ tục thanh toán qua Kho bạc Nhà nước Cơ chế này mang lại hiệu quả lớn cho NHNN do chi phí quản lý hoạt động của hệ thống NHNN lớn hơn nhiều so với các Bộ, ngành khác

+ NHNN được trích bổ sung kinh phí từ chênh lệch thu chi để chi bổ sung thu nhập cho cán bộ, công chức ở mức tối đa 0,55 lần lương thực hiện Đây là cơ chế bổ sung thu nhập cho cán bộ NHNN nhằm ghi nhận và khuyến khích sự đóng góp của cán bộ NHNN trong điều hành thị trường tiền tệ cũng như tăng thu ngân sách nhà nước

+ Quy trình lập kế hoạch thu nhập, chi phí của NHNN theo quy định hiện hành được thực hiện tương đối khoa học; kế hoạch khoán kinh phí quản lý của NHNN do Bộ Tài chính phê duyệt, không cần trình Quốc hội phê chuẩn nên giảm thiểu cấp phê duyệt và không phụ thuộc vào các kỳ họp của Quốc hội và Ủy ban thường vụ quốc hội

+ Phương pháp xác định mức khoán cho các đơn vị NHNN được xác định chi tiết theo từng khoản mục, đặc biệt đối với mức khoán chi cho cán bộ, công chức được xác định theo số cán bộ thực tế, hệ số lương của từng cán bộ, công chức nên đảm bảo tính sát thực tế cao Việc sử dụng phương pháp tính toán theo số liệu lịch

sử và có điều chỉnh đối với các nhiệm vụ được phát sinh thêm là phương pháp ước tính phù hợp, có cơ sở thực tiễn

- Về quản lý và sử dụng tài sản, trang thiết bị tại NHNN

Ngoài ra, công tác quản lý tài chính tại NHNN bao gồm cả việc quản lý và

sử dụng tài sản, nhằm đảm bảo phát huy hiệu quả công việc, sử dụng các nguồn tài chính hiệu quả, tiết kiệm, tránh lãng phí

Khoản trích từ chi phí bằng 12% trên nguyên giá TSCĐ bình quân hàng năm

và chênh lệch tăng do đánh giá lại TSCĐ theo quy định của Nhà nước được bổ sung vào Vốn đầu tư xây dựng và mua sắm TSCĐ của NHNN

1.3 Hệ thống kiểm soát nội bộ trong công tác quản lý tài chính của Ngân hàng Nhà nước

Trang 31

1.3.1 Sự cần thiết của hệ thống kiểm soát nội bộ trong công tác quản lý tài chính của Ngân hàng Nhà nước

Trong thời gian qua, mô hình quản lý tài chính tại NHNN như nêu ở trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho NHNN thực hiện tốt chức năng của một Ngân hàng Trung ương và chức năng của một Bộ quản lý ngành; đảm bảo cho NHNN quản lý chặt chẽ, an toàn và hiệu quả nguồn vốn, tài sản của Nhà nước giao, đáp ứng đủ nguồn lực tài chính cho các đơn vị NHNN thực hiện nhiệm vụ chính trị cũng như tạo điều kiện về thu nhập cho CBCC Tuy nhiên, với sự phát triển ngày càng mạnh

mẽ của hệ thống Ngân hàng nói chung và các yêu cầu về vai trò, vị thế của NHNN trong thời kỳ mới, cơ chế tài chính này đã phát sinh một số vướng mắc, bất cập về vốn, quỹ, cơ chế khoán kinh phí; gây khó khăn trong việc quản lý, tổ chức thực hiện công tác tài chính trong hệ thống NHNN

Để có nguồn lực tài chính đủ mạnh để thực hiện nhiệm vụ chính trị hiện nay cũng như triển khai thực hiện Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng đồng thời giảm thiểu các rủi ro thất thoát tài sản, tài chính của nhà nước đòi hỏi phải có sự kiểm tra toàn bộ quy trình hoạt động quản lý tài chính, tiến hành kiểm tra thường xuyên đối với từng khâu hoạt động nhằm bảo đảm cho công tác quản lý tài chính của NHNN vận hành một cách đồng bộ, đúng pháp luật, các chủ trương, chính sách của nhà nước, các cơ chế nghiệp vụ của NHTW được triển khai một cách có hiệu quả, cũng là một đòi hỏi, yêu cầu tất yếu, cần thiết trong giai đoạn hiện nay

Kiểm soát nội bộ NHTW là một hệ thống gồm nhiều bộ phận thuộc cơ cấu

tổ chức của NHTW Kiểm soát nội bộ được thiết lập sẽ góp phần hướng dẫn nghiệp vụ và củng cố nề nếp hoạt động quản lý tài chính nói riêng và hoạt động tài chính kế toán nói chung, kiểm tra, đánh giá và xác minh một cách độc lập đối với thông tin về các hoạt động, là công cụ quản lý có hiệu quả và có tác dụng rất lớn trong việc sớm phát hiện, ngăn chặn các hành vi tiêu cực, gian lận, sai sót trong quản lý và điều hành hoạt động, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực của NHNN

Trang 32

1.3.2 Đặc điểm quản lý tài chính trong Ngân hàng Nhà nước có ảnh hưởng tới

hệ thống kiểm soát nội bộ

- Đặc thù về quản lý của NHNN là cơ quan ngang Bộ của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và chức năng Ngân hàng Trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý của Ngân hàng Nhà nước Do vậy, NHNN thực hiện chế độ tài chính riêng do Chính phủ ban hành Chế độ tài chính này vừa đảm bảo cho NHNN hoạt động theo chức năng quản lý, vừa đảm bảo hoạt động nghiệp vụ của NHNN; trong hoạt động quản lý chịu sự chi phối của Chính phủ Do đó, môi trường kiểm soát của NHNN cũng cần được thiết lập để phù hợp với cơ chế chính sách, đúng quy định hiện hành của Nhà nước

- Đặc thù của NHNN là cơ quan ngang Bộ tổ chức theo ngành dọc, gồm nhiều Chi nhánh trên tất cả các tỉnh thành phố cả nước, do đó cũng cần thủ tục kiểm soát nghiêm ngặt, đảm bảo các nguyên tắc bất kiêm nhiệm, nguyên tắc phân công, phân nhiệm rõ ràng và chế độ ủy quyền

- Ngoài sự kiểm soát trực tiếp của Chính phủ là cơ quan chủ quản, NHNN còn chịu sự kiểm soát của Kiểm toán Nhà nước, Bộ Tài chính, nhất là đối với các nguồn thu, chi hoạt động nghiệp vụ và dịch vụ ngân hàng và các khoản chi từ nguồn ngân sách nhà nước Báo cáo tài chính sau kiểm toán của NHNN do Kiểm toán nhà nước ban hành được gửi cho Thủ tướng Chính phủ và Bộ Tài chính Các báo cáo liên quan đến tình hình thu nhập - chi phí của NHNN gửi sang Bộ Tài chính định kỳ hàng quý để theo dõi và có cơ sở cấp, bổ sung phù hợp với yêu cầu hoạt động của NHNN Do đó, đòi hỏi một hệ thống thông tin gồm hệ thống kế toán của đơn vị (hệ thống chứng từ kế toán, hệ thống sổ kế toán, hệ thống tài khoản kế toán và hệ thống bảng tổng hợp - cân đối kế toán) mang lại hiệu quả cao NHNN sử dụng hệ thống kế toán ngân hàng do chính Thống đốc NHNN ban hành trên cơ sở các nguyên tắc kế toán chung được pháp luật quy định

- Đối với cơ chế giao khoán như trình bày ở trên, trước ngày 30 tháng 10 hàng năm, các đơn vị NHNN lập kế hoạch tài chính năm sau của đơn vị gửi lên Vụ

Trang 33

Tài chính - Kế toán xem xét, tổng hợp phương án khoán chi phí quản lý trình Thống đốc ký gửi Bộ Tài chính Căn cứ mức giao khoán của Bộ Tài chính đối với NHNN, NHNN tiếp tục lập kế hoạch phân bổ mức giao khoán chi phí quản lý cho các đơn

vị Trên cơ sở các đặc điểm đã trình bày, Ban lãnh đạo NHNN sẽ đề ra các thủ tục kiểm soát cho phù hợp với những quy định của pháp luật và cơ quan chủ quản

- Ngân hàng Nhà nước có nhiều khoản thu, chi theo đặc thù, như: Chi hoạt động nghiệp vụ và dịch vụ ngân hàng; Các khoản chi thực hiện theo cơ chế khoán; Các khoản chi phí quản lý không thực hiện theo cơ chế khoán Vì vậy, hoạt động kiểm soát tại NHNN được xây dựng, thiết lập phù hợp với nội dung của từng khoản thu chi Công tác kế hoạch và thực hiện kế hoạch được tiến hành khoa học và nghiêm túc để trở thành công cụ kiểm soát rất hữu hiệu

- Ngoài ra, tất cả các nội dung về quản lý tài chính nêu trên đều cần phải được một đơn vị kiểm toán nội bộ độc lập với đơn vị nghiệp vụ để thực hiện công việc kiểm tra và đánh giá các hoạt động phục vụ yêu cầu quản trị nội bộ của Thống đốc NHNN

1.3.3 Hệ thống kiểm soát nội bộ trong công tác quản lý tài chính của Ngân hàng Nhà nước

Ngân hàng Nhà nước được sử dụng các nguồn thu để trang trải chi phí hoạt động của mình Theo cơ chế tài chính này, kinh phí tiết kiệm từ mức khoán chi và kinh phí bổ sung từ chênh lệch thu chi được sử dụng bổ sung thu nhập cho cán bộ, công chức của hệ thống Ngân hàng Nhà nước Mức chi tối đa do Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định trong phương án khoán Do đó, các đơn vị đã chủ động đổi mới cơ cấu tổ chức, tinh giản bộ máy theo hướng gọn nhẹ, nâng cao hiệu suất, hiệu quả làm việc của từng cá nhân trong đơn vị, tích cực mở rộng các nguồn thu sự nghiệp, sử dụng có hiệu quả, tiết kiệm các nguồn kinh phí, giảm thiểu các rủi ro Điều này song song với việc phải đẩy mạnh công tác kiểm tra, kiểm soát, hoàn thiện các chính sách về nhân sự để tăng cường hiệu quả hoạt động của đơn vị, có nghĩa các đơn vị cần phải chú trọng thiết lập cho mình một hệ thống KSNB đủ vững mạnh để

Trang 34

đáp ứng yêu cầu trong cơ chế tài chính mới Nhìn chung, hệ thống KSNB của NHNN hiện nay có những đặc điểm chủ yếu sau:

1.3.3.1.Môi trường kiểm soát

Môi trường kiểm soát được xác định từ những quan điểm, cách thức điều hành của lãnh đạo NHNN, đến hệ thống cơ cấu tổ chức bộ máy NHNN, các chính sách về nhân sự, công tác lập kế hoạch đến công tác tự kiểm tra tài chính

Trước hết là quan điểm, cách thức điều hành và sự quan tâm của lãnh đạo ngân hàng đến hệ thống kiểm soát nội bộ Điều này được thể hiện ở việc xây dựng lại và hoàn thiện cơ cấu tổ chức theo hướng hợp lý, phù hợp với tình hình mới Quy định rõ cơ cấu tổ chức của từng Vụ, Cục cũng như chức năng nhiệm vụ cụ thể của từng phòng ban trực thuộc

Công tác quản lý tài chính và hạch toán kế toán cũng được quan tâm, xây dựng và ban hành Quy chế quản lý tài chính của NHNN, Quy chế quản lý, sử dụng tài sản của NHNN, Quy chế chi tiêu nội bộ tại NHNN, chi nhánh NHNN và các đơn

vị sự nghiệp nhằm tích cực đẩy mạnh tiết kiệm chống lãng phí, tăng cường tính chủ động trong việc khai thác các nguồn thu sự nghiệp Đối với chính sách nhân sự, NHNN đã ban hành quy chế tuyển dụng, khen thưởng, bổ nhiệm; quy trình thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ Công tác kế hoạch cũng được các đơn vị xây dựng hàng năm, đối với công tác tài chính thì vẫn chủ yếu là việc xây dựng các dự toán về thu nhập - chi phí, kế hoạch đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản

Bên cạnh môi trường kiểm soát trong còn có cả kiểm soát từ bên ngoài, trong hoạt động tài chính, hàng năm cơ quan Kiểm toán Nhà nước đều thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính NHNN Việt Nam và một số đơn vị NHNN Ngoài ra, các đơn

vị cũng được kiểm soát bởi Bộ Tài chính đối với việc chấp hành các quy định về thu, chi tài chính của Nhà nước, trình tự và thủ tục thực hiện đầu tư và giải ngân các

dự án đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý và sử dụng tài sản công Cơ quan chủ quản cấp trên sẽ là người thẩm tra và phê duyệt quyết toán tài chính hàng năm, kiểm tra việc chấp hành chế độ chính sách của các đơn vị…Công tác kiểm tra thanh tra của các cơ quan chức năng diễn ra thường xuyên

Trang 35

1.3.3.2 Hệ thống thông tin kế toán

Các đơn vị NHNN áp dụng hệ thống kế toán ban hành Chế độ báo cáo tài chính đối với NHNN Việt Nam; Chế độ chứng từ kế toán ngân hàng; Hệ thống tài khoản kế toán NHNN Việt Nam

Các đơn vị cũng tuân thủ quy trình lập duyệt và luân chuyển chứng từ kế toán theo chế độ quy định Các nghiệp vụ kế toán khi phát sinh được phản ánh vào chứng từ kế toán, luân chuyển qua các bộ phận, nhờ đó phát huy được chức năng kiểm tra của kế toán Các đơn vị thiết lập các tài khoản chi tiết phù hợp với yêu cầu quản lý trên cơ sở hệ thống tài khoản theo quy định Phần lớn các đơn vị đều sử dụng hình thức sổ nhật ký chung, hình thức kế toán trên máy vi tính Ngoài ra còn các sổ kế toán phục vụ công tác quản trị nội bộ của đơn vị Các đơn vị thực hiện báo cáo quyết toán tài chính hàng năm, báo cáo thuế, phí lệ phí… theo hệ thống mẫu biểu chế độ quy định của Ngân hàng Nhà nước

Phần mềm kế toán được áp dụng ở hầu hết các đơn vị nhằm giảm thiểu khối lượng công việc thủ công, tập trung vào phân tích số liệu chuyên sâu, cung cấp kịp thời số liệu cho công tác quản lý tài chính cũng như việc lập các báo cáo định kỳ và đột xuất

1.3.3.3.Thủ tục kiểm soát

Thủ tục kiểm soát tại các đơn vị đã được chú trọng xây dựng như:

Kiểm soát việc tuân thủ pháp luật: Các văn bản trình lãnh đạo phê duyệt, các văn bản xin uỷ quyền thực hiện đều phải trích dẫn đầy đủ các căn cứ về pháp luật và nội dung xin phê duyệt phải phù hợp với pháp luật định, các văn bản này có trình tự luân chuyển đến các phòng ban chức năng trước khi được lãnh đạo đơn vị phê duyệt Đối với việc soạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện việc quản lý trong lĩnh vực chuyên ngành sẽ có sự phối hợp giữa bộ phận chức năng với các Vụ, Cục có liên quan tham gia ý kiến Các văn bản hướng dẫn thực hiện đấu thầu mua sắm tài sản, quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, quy chế chi tiêu nội bộ tại các đơn vị NHNN đều được xây dựng và cụ thể hóa dựa trên các Thông tư hướng dẫn của cơ quan chuyên ngành về lĩnh vực đó như Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Xây

Trang 36

dựng, Bộ Tài chính

Kiểm soát việc xây dựng kế hoạch, lập dự toán: các đơn vị đều căn cứ vào quy định về dự toán ngân sách, mục lục ngân sách, phối hợp giữa bộ phận kế toán – tài vụ với các bộ phận chức năng khác để xác định mục tiêu, kế hoạch của năm, từ

đó lập ra dự toán thu - chi ngân sách Bản dự toán phải kèm theo thuyết minh, nêu

rõ căn cứ lập, cách lập…;

Kiểm soát việc quản lý sử dụng tài sản, các định mức mua sắm theo tiêu chuẩn của chế độ do BTC quy định, kiểm soát việc sử dụng xe công, kiểm soát việc tuyển dụng, đào tạo và tiền lương, trích nộp bảo hiểm xã hội, hội nghị, hội thảo, công tác phí…;

Các đơn vị nhìn chung đều có sự phân công rõ ràng trong cơ cấu tổ chức, thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc phân công phân nhiệm, nguyên tắc bất kiêm nhiệm, nguyên tắc uỷ quyền và phê chuẩn… đảm bảo cho các thủ tục kiểm soát được thực hiện nghiêm túc

1.3.3.4 Kiểm toán nội bộ

Kiểm toán nội bộ là một bộ phận cấu thành của hệ thống KSNB của NHNN, với chức năng kiểm toán nội bộ và tham mưu giúp Thống đốc chỉ đạo, kiểm tra, giám sát chặt chẽ các hoạt động nghiệp vụ NHNN Thông qua kết quả kiểm soát, kiểm toán, Kiểm toán nội bộ đưa ra những kiến nghị các Vụ, Cục liên

quan thực hiện tốt nhiệm vụ và chấp hành nghiêm túc quy định của Nhà nước

1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến Hệ thống kiểm soát nội bộ trong công tác quản lý tài chính của Ngân hàng Nhà nước

Trang 37

NHNN thực hiện chế độ tài chính riêng do Chính phủ ban hành, trong hoạt động quản lý chịu sự chi phối của Chính phủ Các Quyết định về Chế độ Tài chính, Chế

độ Kế toán tại NHNN do Thủ tướng Chính phủ ký ban hành sau khi có ý kiến của các Bộ, ngành liên quan (Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp ) Do đó, khi có sự thay đổi

về môi trường pháp lý , chính sách của nhà nước cũng có tác động trực tiếp tới môi trường kiểm soát thuộc hệ thống kiểm soát nội bộ của NHNN KTNB của NHNN cần có vị trí độc lập tương đối, được thể chế trong luật NHNN, trong các văn bản dưới luật và trong quy định chức năng, nhiệm vụ của Vụ KTNB

- Thứ hai, nhân tố từ phía KTNN: Sự hỗ trợ của KTNN về đào tạo, việc ban hành các chuẩn mực kiểm toán cũng như quy trình và phương pháp kiểm toán, hoạt động kiểm toán thường xuyên sẽ hỗ trợ tích cực cho KTNB hoàn thành tốt nhiệm

vụ, từ đó đánh giá chính xác thực trạng chất lượng KTNB của NHNN, giúp cho Ban lãnh đạo NHNN và hệ thống KTNB nâng cao chất lượng hoạt động

- Thứ ba, các nhân tố khác như sự hỗ trợ, đánh giá đúng mức của các cơ quan ban ngành, của các tổ chức quốc tế về hoạt động KTNB là cơ sở để nâng cao chất lượng hoạt động KTNB của Ngân hàng Trung ương KTNB cần Chuẩn mực quốc tế rõ ràng Điều này cũng tác động không nhỏ đến công tác kiểm toán nội bộ trong NHNN, do các chuẩn mực để thực hiện đánh giá chất lượng của từng cuộc kiểm toán sẽ cho thấy được mức độ thành công hay thất bại, tính hiệu quả về mặt chi phí của cuộc kiểm toán nội bộ đó để rút ra các bài học, kinh nghiệm

1.4.2 Nhân tố chủ quan

- Trước hết có thể kể đến quan điểm của Ban lãnh đạo NHNN về vai trò của

KTNB: Khi lãnh đạo NHNN quan tâm đúng mức, KTNB sẽ được đặt đúng vị trí của nó, từ đó, góp phần tích cực trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của ngân hàng Khi việc tiếp nhận thông tin và xử lý thông tin được cung cấp bởi bộ phận kiểm toán một cách khách quan, kịp thời Ban lãnh đạo ngân hàng phải quan tâm đúng mức tới những thông tin báo cáo do KTNB cung cấp và được tiếp nhận xử lý một cách khách quan và kịp thời

- Thứ hai là cơ cấu tổ chức bộ máy của NHNN

Trang 38

NHNN là cơ quan ngang Bộ theo ngành dọc Do khoảng cách về địa lý và số lượng Chi nhánh quá nhiều, do đó hệ thống kiểm soát nội bộ đòi hỏi xây dựng một cách khoa học, chặt chẽ, thống nhất, có sự liên thông nhằm phát huy hiệu quả công tác KTNB Điểm này khác với NHTW các nước bởi NHTW các nước có rất ít Chi nhánh gắn với địa giới hành chính, mà chủ yếu là các Ngân hàng khu vực

Cơ cấu tổ chức bộ máy kiểm soát nội bộ tại NHNN Các bộ phận, phòng ban trong ngân hàng cần hiểu rằng kiểm toán nội bộ hỗ trợ trong việc thực hiện trách nhiệm của mình về kiểm soát nội bộ và trao đổi thông tin về các sáng kiến, các thông lệ tốt nhất nhằm đạt được các mục tiêu đề ra để có sự phối hợp tốt nhất trong công việc Cơ cấu này cần thực sự đảm bảo tính độc lập, khách quan, tránh chồng chéo chức năng, nhiệm vụ ảnh hưởng đến hoạt động của các đơn vị của NHNN Khi các chính sách, thủ tục kiểm soát cho mỗi quy trình đã được ban hành đầy đủ đi kèm với các tiêu chí đánh giá kết quả hoạt đồng rõ ràng thì ngân hàng có thể quản lý tốt hoạt động và các rủi ro liên quan Việc tự kiểm tra, kiểm soát thường xuyên là một phần của kiểm soát nội bộ, cần thực hiện nghiêm túc giảm lãng phí nguồn lực, kém hiệu quả

- Thứ ba là cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ KTNB: Phần mềm quản trị điều

hành, kiểm toán chuyên dụng, hệ thống máy tính, các thiết bị chuyên dùng sẽ là những công cụ đắc lực giúp nâng cao hiệu quả các hoạt động ngân hàng

- Thứ tư là số lượng và chất lượng đội ngũ kiểm toán viên: Con người luôn là

nhân tố quan trọng trong bất kỳ một hệ thống, khâu tổ chức nào Đây là nhân tố có ảnh hưởng quan trọng nhất đến năng lực của đơn vị kiểm toán, bởi vì KTNB được thực hiện bởi con người theo những quy trình kiểm toán và công nghệ hỗ trợ Vị trí kiểm soát nội bộ cần công chức được đào tạo bài bản, đầy đủ, có kinh nghiệm xử lý nghiệp vụ quản lý tài chính tại các chi nhánh hoặc tại Vụ Tài chính Kế toán Một đơn vị KTNB mạnh phải có một đội ngũ cán bộ đủ về số lượng và từng cán bộ phải

có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm nghề nghiệp cũng như động lực cá nhân tốt

1.5 Kinh nghiệm quốc tế về hệ thống kiểm soát nội bộ trong công tác quản lý tài chính của Ngân hàng Trung ương một số quốc gia

Trang 39

1.5.1 Kinh nghiệm quốc tế về hệ thống kiểm soát nội bộ trong công tác quản lý tài chính của Ngân hàng Trung ương một số quốc gia

Ngân hàng Liên bang Đức

Hệ thống kế toán của Ngân hàng Liên bang Đức phải tuân thủ các nguyên tắc

kế toán chung đã được chấp nhận BCTC hàng năm phải được lập dưới góc độ những nhiệm vụ của Ngân hàng Liên bang Đức, đặc biệt do BCTC của Ngân hàng Liên bang Đức là một phần không tách rời của Hệ thống các Ngân hàng Trung ương châu Âu và phải được công bố với giải thích hợp lý; cơ cấu các khoản tài sản nợ không cần phải công bố Hội đồng Ngân hàng Trung ương Liên bang Đức phải lập BCTC năm nhanh chóng Bản kiểm toán năm phải được kiểm toán bởi một hay nhiều kiểm toán viên độc lập do Hội đồng Ngân hàng Trung ương bổ nhiệm với sự nhất trí của Hội đồng các Kiểm toán viên Liên bang và sau đó được công bố Bản báo cáo của Kiểm toán viên được coi là cơ sở cho sự kiểm toán do Hội đồng các kiểm toán viên Liên bang tiến hành Hội đồng các Kiểm toán viên Liên bang phải báo cáo những thông tin này lên Hạ viện

Về công tác quản lý tài chính, Ngân hàng Liên bang Đức phải lập tài khoản chi phí Trước khi bắt đầu năm tài chính, Ngân hàng Liên bang Đức phải lập ra các tài khoản chi phí tiêu chuẩn và kế hoạch đầu tư Vào cuối năm tài chính, Ngân hàng Liên bang Đức sẽ làm đánh giá so sánh các số liệu dự toán và chi phí, đầu tư thực

tế Bản phân tích này phải được xem xét một cách độc lập bởi các kiểm toán viên Báo cáo Quyết toán, tài khoản chi phí tiêu chuẩn, kế hoạch đầu tư, đánh giá so sánh

số liệu dự toán và chi phí, đầu tư thực tế và các báo cáo của kiểm toán viên phải được chuyển cho Bộ Tài chính Liên bang, Hội đồng các Kiểm toán viên Liên bang Báo cáo Quyết toán, đánh giá so sánh số liệu dự toán và chi phí, đầu tư thực tế và các báo cáo của kiểm toán viên phải được trình lên Hạ viện

Ngân hàng Quốc gia Hungary

Ban Kiểm soát là cơ quan thay mặt chủ sở hữu Ngân hàng Quốc gia Hungary thực hiện chức năng giám sát Phòng Kiểm soát nội bộ của Ngân hàng Quốc gia Hungary nằm dưới sự kiểm soát của Ban Kiểm soát, với những vấn đề vượt quyền

Trang 40

hạn của Ban Kiểm soát thì dưới sự điều hành của Ban Lãnh đạo Trong trường hợp Ban Lãnh đạo thực hiện chức năng quản lý của mình phát hiện ra có báo cáo liên quan đến kiểm toán thuộc thẩm quyền của Ban Kiểm soát thì Ban Lãnh đạo phải trao đổi với Ban Kiểm soát về bản bảo cáo đó Thẩm quyền của Ban Kiểm soát không vượt quá các trách nhiệm đã được quy định Ban Kiểm soát phải chuẩn bị bản báo cáo được quy định tại Luật Doanh nghiệp Kiểm toán viên của Ngân hàng Quốc gia Hungary có thể được bổ nhiệm với nhiệm kỳ tối đa 10 năm Sau khi hết nhiệm kỳ trên, kiểm toán viên này không được bổ nhiệm lại trong vòng 5 năm

Ngân hàng Trung ương Thụy Điển

Tại trụ sở chính Ngân hàng Trung ương Thụy Điển có một đơn vị kiểm toán và chịu sự điều hành hoạt động của Hội đồng quản trị Hoạt động của đơn vị kiểm toán bao gồm kiểm tra một cách độc lập việc điều hành và quản lý nội bộ của Ngân hàng Trung ương, và làm thế nào Ngân hàng Trung ương đáp ứng được các trách nhiệm kế toán tài chính của mình Việc kiểm toán sẽ tuân theo những nguyên tắc chung về kiểm toán nội bộ Ngân hàng Trưng ương thông qua

kế hoạch kiểm toán hoạt động của mình theo sự tư vấn của Cơ quan Kiểm toán nhà nước Thụy Điển

Mỗi năm, trước khi kết thúc tháng 12, Ban Điều hành Ngân hàng Trung ương Thụy Điển sẽ dự thảo bản ngân sách tài chính cho các hoạt động quản lý của năm kế toán tiếp theo Ban Điều hành sẽ đệ trình bản dự thảo này lên Ủy ban Tài chính Quốc hội và Cơ quan Kiểm toán quốc gia cũng như cho Hội đồng quản trị Ngân hàng Trung ương phải thực hiện kế toán ghi sổ, yêu cầu này sẽ phải tuân thủ các chuẩn mực chung về kế toán Các hướng dẫn của Ngân hàng Trung ương Châu

Âu về khuôn khổ pháp luật quy định về kế toán và báo cáo tài chính trong hệ thống các Ngân hàng Trung ương châu Âu sẽ được áp dụng Vào mỗi năm, trước 15/2, Ban Điều hành sẽ đệ trình bản báo cáo thường niên về các hoạt động của Ngân hàng Trung ương trong năm tài chính lên Quốc hội, Cơ quan Kiểm toán quốc gia, Hội đồng quản trị Hội đồng quản trị sẽ đưa ra các kiến nghị lên Quốc hội và Cơ quan kiểm toán quốc gia về việc phân bổ lợi nhuận của Ngân hàng Trung ương Bản báo

Ngày đăng: 14/05/2021, 12:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. TS. Nguyễn Tuấn Anh, Ths. Đinh Thị Lan Hương và cộng sự (2019), Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý tài chính của Ngân hàng Nhà nước, Đề tài Khoa học công nghệ cấp Cơ sở, Tạp chí ngân hàng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý tài chính của Ngân hàng Nhà nước
Tác giả: TS. Nguyễn Tuấn Anh, Ths. Đinh Thị Lan Hương và cộng sự
Năm: 2019
2. PGS.TS Mai Văn Bạn và cộng sự (2008), Giáo trình nghiệp vụ Ngân hàng Trung ương, Nhà xuất bản Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình nghiệp vụ Ngân hàng Trung ương
Tác giả: PGS.TS Mai Văn Bạn và cộng sự
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội
Năm: 2008
3. Bộ Tài chính (2001), Quyết định ban hành Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400, Quyết định Số 143/2001/QĐ-BTC, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tài chính (2001), "Quyết định ban hành Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2001
4. Bộ Tài chính (2013), Thông tư hướng dẫn chế độ tài chính của Ngân hàng nhà nước Việt Nam, Thông tư số 195/2013/TT-BTC , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư hướng dẫn chế độ tài chính của Ngân hàng nhà nước Việt Nam
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2013
5. Chính phủ (2017), Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của NHNN Việt Nam, Nghị định 16/2017/NĐ-CP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của NHNN Việt Nam
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2017
6. Chính phủ (2013), Quyết định quy định về chế độ tài chính của NHNN Việt Nam, Quyết định 07/2013/QĐ-TTg, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định quy định về chế độ tài chính của NHNN Việt Nam
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
7. Chính phủ (2013), Quyết định quy định về chế độ kế toán của Ngân hàng Nhà nước, Quyết định số 08/2013/QĐ-TTg , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định quy định về chế độ kế toán của Ngân hàng Nhà nước
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
8. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2005), Quyết định về việc ban hành Chế độ chứng từ kế toán ngân hàng, Quyết định số 1789/2005/QĐ-NHNN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định về việc ban hành Chế độ chứng từ kế toán ngân hàng
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Năm: 2005
9. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2008), Quyết định về việc ban hành Chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng nhà nước Việt Nam, Quyết định số 23/2008/QĐ-NHNN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định về việc ban hành Chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng nhà nước Việt Nam
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Năm: 2008
10. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2014), Quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Vụ Kiểm toán nội bộ, Quyết định số 310/QĐ-NHNN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Vụ Kiểm toán nội bộ
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Năm: 2014
11. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2015), Quyết định quy định quy chế quản lý tài chính của Ngân hàng Nhà nước, Quyết định số 1038/QĐ-NHNN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định quy định quy chế quản lý tài chính của Ngân hàng Nhà nước
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Năm: 2015
12. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2017), Quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Vụ Tài chính Kế toán, Quyết định số 860/QĐ-NHNN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Vụ Tài chính Kế toán
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Năm: 2017
13. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2019), Quyết định quy định quy chế quản lý, sử dụng tài sản của Ngân hàng Nhà nước, Quyết định số 2673/QĐ-NHNN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định quy định quy chế quản lý, sử dụng tài sản của Ngân hàng Nhà nước
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Năm: 2019
14. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2015), Thông tư quy định hệ thống tài khoản kế toán NHNN Việt Nam, Thông tư số 19/2015/TT-NHNN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư quy định hệ thống tài khoản kế toán NHNN Việt Nam
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Năm: 2015
15. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2019), Thông tư quy định hạch toán kế toán kế toán tài sản cố định, công cụ lao động, dụng cụ và vật liệu của NHNN, Thông tư số 35/2019/TT-NHNN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư quy định hạch toán kế toán kế toán tài sản cố định, công cụ lao động, dụng cụ và vật liệu của NHNN
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Năm: 2019
16. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2020), Thông tư quy định về kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ NHNN Việt Nam, Thông tư số 06/2020/TT-NHNN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư quy định về kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ NHNN Việt Nam
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Năm: 2020
17. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam – Tổ chức hợp tác kỹ thuật Đức GTZ (German Technical Cooperation) (2008), Pháp luật về Ngân hàng Trung ương và ngân hàng thương mại một số nước, Nhà xuất bản Lao động – Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về Ngân hàng Trung ương và ngân hàng thương mại một số nước
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam – Tổ chức hợp tác kỹ thuật Đức GTZ (German Technical Cooperation)
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động – Xã hội
Năm: 2008
18. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2016), Công văn hướng dẫn tự kiểm tra tài chính, kế toán trong hệ thống Ngân hàng Nhà nước, Công văn số 4808/NHNN-KTNB, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn hướng dẫn tự kiểm tra tài chính, kế toán trong hệ thống Ngân hàng Nhà nước
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Năm: 2016
19. Vũ Thúy Ngọc (2006), Hệ thống kiểm soát nội bộ của một ngân hàng hiện đại, Tạp chí Ngân hàng, Số 9/2006, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Thúy Ngọc (2006), "Hệ thống kiểm soát nội bộ của một ngân hàng hiện đại
Tác giả: Vũ Thúy Ngọc
Năm: 2006
20. Vũ Đức Long (2019), Hoạt động kiểm toán nội bộ trong Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luận văn thạc kỹ, Trường Đại học Đông Đô, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Đức Long (2019), "Hoạt động kiểm toán nội bộ trong Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Tác giả: Vũ Đức Long
Năm: 2019

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w