Mục tiêu hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với phát triển cơ sở lưu trú du lịch tại thành phố Hồ Chí Minh từ nay đến năm 2025.. Hiểu được điều đó, trong thời gian qua, công tác qu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGÔ KIM THANH THỦY
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CƠ SỞ LƯU TRÚ DU LỊCH
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ CÔNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGÔ KIM THANH THỦY
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CƠ SỞ LƯU TRÚ DU LỊCH
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 8 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS TRƯƠNG THỊ HIỀN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan luận văn “Quản lý nhà nước đối với cơ sở lưu trú
du lịch” là công trình nghiên cứu khoa học của tôi, với sự hỗ trợ, hướng dẫn khoa học từ PGS TS Trương Thị Hiền
Nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng trên tạp chí, các website và các tác giả khác đều được liệt kê tại phần tài liệu tham khảo Các số liệu trong luận văn đều là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng
Tác giả xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước hội đồng về kết quả luận văn và cam đoan luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào khác
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2019
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Ngô Kim Thanh Thủy
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa học và hoàn thành đề tài luận văn này, bản thân tác giả đã nhận được nhiều sự giúp đỡ, hỗ trợ, hướng dẫn từ tập thể thầy cô Học viên Hành chính và các bạn trong lớp cao học HC21.N6
Trước hết, tôi xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến PGS TS Trương Thị Hiền
đã dành nhiều thời gian để hướng dẫn một cách tận tình trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tác giả xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám đốc và quý thầy cô Khoa sau đại học đã tạo điều kiện để tôi học tập và hoàn thành chương trình khóa học
Tác giả cũng xin chân thành cám ơn đến các anh/chị Lãnh đạo Sở Du lịch, Lãnh đạo phòng Quản lý cơ sở lưu trú du lịch – Sở Du lịch đã giúp đỡ tôi trong quá trình tìm tài liệu và dữ liệu để hoàn thành luận văn
Do tài liệu nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với cơ sở lưu trú du lịch không nhiều vì vậy luận văn sẽ còn có nhiều thiếu sót trong quá trình thực hiện Tác giả rất mong nhận được sự góp ý của giảng viên, của lãnh đạo đơn vị và các tác giả đi trước hoặc sau này để nội dung nghiên cứu của luận văn được hoàn thiện hơn
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2019
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Ngô Kim Thanh Thủy
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ISO: Tiêu chuẩn quốc tế
CNXH: Chủ nghĩa xã hội
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
WTO: Tổ chức thương mại thế giới
ASEAN: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
APEC: Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương TPP: Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương
ANTT: An ninh trật tự
TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam
EU: Liên minh Châu Âu
ADB: Ngân hàng phát triển Châu Á
VTOS: Bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề Du lịch Việt Nam
Trang 7MỤC LỤC
1 Tính cấp thiết của đề tài 4
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 6
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 8
3.1 Mục đích nghiên cứu 8
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 9
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 9
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 10
7 Kết cấu luận văn 11
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CƠ SỞ LƯU TRÚ DU LỊCH 12
1.1 Khái niệm và phân loại cơ sở lưu trú du lịch 12
1.1.1 Khái niệm cơ sở lưu trú du lịch 12
1.1.2 Phân loại cơ sở lưu trú du lịch 13
1.2 Quản lý nhà nước đối với cơ sở lưu trú du lịch 14
1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước 14
1.2.2 Khái niệm quản lý nhà nước đối với cơ sở lưu trú du lịch 16
1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước đối với cơ sở lưu trú du lịch 17
1.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về cơ sở lưu trú du lịch của một số tỉnh thành Việt Nam và bài học rút ra cho thành phố Hồ Chí Minh 20
1.3.1 Kinh nghiệm của thành phố Hà Nội 20
1.3.2 Kinh nghiệm của thành phố Đà Nẵng 22
1.3.3 Kinh nghiệm của tỉnh Bình Thuận 24
1.4 Bài học kinh nghiệm rút ra cho thành phố Hồ Chí Minh 25
Tóm tắt Chương 1 26
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CƠ SỞ LƯU TRÚ DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 28
Trang 82
2.1 Các yếu tố thực tiễn ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với cơ sở lưu
trú du lịch trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 28
2.1.1 Yếu tố về tự nhiên, văn hóa - xã hội 28
2.1.2 Yếu tố về thể chế, pháp lý 30
2.1.3 Yếu tố khác: 31
2.2 Thực trạng cơ sở lưu trú du lịch và quản lý nhà nước đối với cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 33
2.2.1 Tổng quan về cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2015 đến nay 33
2.2.2 Hệ thống văn bản pháp luật về quản lý cơ sở lưu trú du lịch 37
2.2.3 Tổ chức bộ máy quản lý cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 40
2.2.4 Về đào tạo phát triển nguồn nhân lực cơ sở lưu trú du lịch 41
2.2.5 Công tác đảm bảo chất lượng cơ sở lưu trú 43
2.2.6 Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử phạt vi phạm pháp luật đối với các cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 46
2.2.7 Hợp tác quốc tế trong phát triển cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 48
2.3 Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 50
2.3.1 Những kết quả đạt được 50
2.3.2 Những tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại 51
Tóm tắt Chương 2 54
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN CƠ SỞ LƯU TRÚ DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG THỜI GIAN TỚI 55
3.1 Cơ sở đề xuất giải pháp 55
3.1.1 Định hướng phát triển ngành Du lịch thành phố Hồ Chí Minh 55
3.1.2 Quan điểm phát triển cơ sở lưu trú du lịch tại thành phố Hồ Chí Minh 56
3.1.3 Mục tiêu phát triển cơ sở lưu trú du lịch tại thành phố Hồ Chí Minh 58
Trang 93
3.2 Đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với phát triển cơ sở
lưu trú du lịch tại thành phố Hồ Chí Minh 58
3.2.1 Mục tiêu hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với phát triển cơ sở lưu trú du lịch tại thành phố Hồ Chí Minh từ nay đến năm 2025 58
3.2.2 Các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với phát triển cơ sở lưu trú du lịch tại thành phố Hồ Chí Minh từ nay đến năm 2025 59
3.3 Một số kiến nghị 67
3.3.1 Đối với Chính phủ 67
3.3.2 Đối với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 68
3.3.3 Đối với Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh 69
Tóm tắt Chương 3 70
KẾT LUẬN 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 104
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã nhiều lần xác định du lịch
là ngành kinh tế dịch vụ tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng, xã hội hoá cao và nội dung văn hoá sâu sắc; có khả năng đóng góp lớn vào phát triển kinh tế, tạo nhiều việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tạo động lực cho các ngành, lĩnh vực khác phát triển, đem lại hiệu quả nhiều mặt về kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị, đối ngoại và an ninh, quốc phòng Bằng việc ban
hành các văn bản liên quan đến công tác phát triển du lịch như Quyết định 97/2002/QĐ-TTg ngày 22 tháng 07 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam 2001 – 2010; Quyết định 2473/QĐ-TTg ngày 30/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030; Quyết định số 4227/QĐ-BVHTTDL ngày 29/11/2013 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
về Phê duyệt Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ ngành Văn hoá, Thể thao và Du lịch giai đoạn 2013-2020, tầm nhìn 2030; Quyết định số 3455/QĐ-BVHTTDL ngày 20/10/2014 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
về việc Phê duyệt “Chiến lược marketing du lịch đến năm 2020”; Nghị quyết
số 92/NQ-CP ngày 08/12/2014 của Chính phủ về một số giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch Việt Nam trong thời kỳ mới; Quyết định số 2522/QĐ- BVHTTDL ngày 13/7/2016 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về phê duyệt Chiến lược phát triển thương hiệu du lịch Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; Quyết định số 2714/QĐ-BVHTDL ngày 03/8/2016 về phê duyệt Đề án Chiến lược phát triển sản phẩm du lịch Việt Nam đến năm
2025, định hướng đến năm 2030, từ năm 2001 đến nay, ngành Du lịch đã có
bước phát triển rõ rệt và đạt được những kết quả quan trọng, rất đáng khích lệ
Trang 115
Tốc độ tăng trưởng khách du lịch quốc tế đạt 10,2%/năm, khách du lịch nội địa đạt 11,8%/năm Năm 2018, số lượng khách du lịch quốc tế đạt 15,5 triệu lượt người, tăng hơn 6,6 lần so với năm 2001; khách du lịch nội địa đạt 80 triệu lượt người, tăng 6,84 lần so với năm 2001; đóng góp trên 10% GDP cả nước
Cùng với tốc độ phát triển của ngành Du lịch Việt Nam, ngành Du lịch thành phố Hồ Chí Minh luôn nỗ lực để phát triển không ngừng và trở thành trung tâm du lịch đứng đầu cả nước Theo số liệu thống kê của Sở Du lịch thành phố Hồ Chí Minh và Cục Thống kê thành phố Hồ Chí Minh, trong năm
2018, khách quốc tế đến thành phố đạt 7,5 triệu lượt, tăng 17,38% so với năm 2017; khách du lịch nội địa đạt 29 triệu lượt, tăng 16,07% so với năm 2017; tổng doanh thu ngành du lịch đạt 140 ngàn tỷ đồng, tăng 21,55% so với năm
2017 Với số lượng khách du lịch đến thành phố ngày một tăng đã đòi hỏi hệ thống cơ sở lưu trú du lịch phải phát triển nhanh về số lượng và chất lượng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của du khách Hệ thống lưu trú du lịch và các dịch vụ bổ trợ trong cơ sở lưu trú du lịch đang ngày càng góp phần tích cực tạo nên sức hấp dẫn chung của sản phẩm du lịch thành phố Hồ Chí Minh Hiểu được điều đó, trong thời gian qua, công tác quản lý nhà nước về cơ sở lưu trú du lịch tại thành phố Hồ Chí Minh luôn được quan tâm, chú trọng nâng cao hiệu lực, hiệu quả đạt được nhiều kết quả tích cực như góp phần thúc đẩy nâng cao chất lượng dịch vụ tại các cơ sở lưu trú du lịch, thường xuyên thanh kiểm tra để kịp thời ngăn chặn những hành vi vi phạm về kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch, không để xảy ra tình trạng khiếu nại, tố cáo, thiết lập môi trường du lịch cạnh tranh lành mạnh Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn những hạn chế như tình trạng quảng cáo không đúng loại, hạng cơ sở lưu trú du lịch gây hiểu nhầm cho du khách khi chọn lựa địa điểm để lưu trú, chưa có sự phối hợp tốt với PC64 (Công an Thành phố) trong
Trang 12đó xác định những biện pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý tại địa phương cũng như kịp thời đề ra giải pháp hỗ trợ nâng cao chất lượng kinh doanh của các cơ sở lưu trú du lịch
Có thể nói, để hệ thống lưu trú du lịch thực sự phát triển ổn định, bền vững trong giai đoạn phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng, nâng cao năng lực cạnh tranh, đáp ứng các yêu cầu về phát triển bên trong, công tác quản lý nhà nước cần phải chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa
Xuất phát từ thực tiễn đó, học viên lựa chọn đề tài cho Luận văn Thạc
sỹ Quản lý công là “Quản lý nhà nước đối với cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” để tiến hành nghiên cứu
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Quản lý nhà nước đối với hệ thống cơ sở lưu trú du lịch đang là vấn đề cấp bách của ngành Du lịch thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay khi ngày càng có nhiều khách sạn cao cấp bị rút hạng sao do không đảm bảo chất lượng hoạt động theo tiêu chuẩn của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tuy nhiên thực tế thời gian qua, các nghiên cứu về hệ thống
cơ sở lưu trú du lịch không nhiều, đa số chủ yếu chỉ tập trung xoay quanh vấn
Trang 137
thực trạng cơ sở lưu trú du lịch ở Việt Nam, công tác quản lý nhà nước của ngành Du lịch đối với lĩnh vực lưu trú du lịch trong bối cảnh hội nhập Tuy nhiên, tác giả phân tích ở mức độ khái quát trên toàn lãnh thổ Việt Nam, không cụ thể tại tỉnh, thành nào
Đề tài nghiên cứu cấp ngành năm 2016 của Tổng cục Du lịch về “Thực trạng và giải pháp chủ yếu phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn” đã đề cập đến một số nội dung chủ yếu như: xu hướng phát triển của du lịch thế giới; quan điểm, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước nhằm phát triển du lịch Việt Nam thành ngành kinh tế mũi nhọn trong xu hướng hội nhập; thực trang ngành Du lịch Việt Nam, các định hướng, giải pháp hiện nay của ngành trong việc thực hiện các mục tiêu của Đảng và Nhà nước giao để từng bước đưa du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn
Báo cáo chuyên đề về “Du lịch Việt Nam– Thực trạng và giải pháp phát triển” do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện vào năm 2014 Báo cáo là một công trình nghiên cứu công phu, hữu ích đối với ngành Du lịch Việt Nam, qua đó một số nội dung đã được làm rõ như: thực trạng của ngành
Du lịch bao gồm những kết quả đạt được và những hạn chế hiện hữu; xu hướng và yếu tố tác động tạo ra những khó khăn, thách thức đối với du lịch Việt Nam; quan điểm và những giải pháp đột phá chiến lược để phát triển du lịch Việt Nam trong thời gian tới
Tọa đàm giải pháp phát triển Du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn do Ban Kinh tế Trung ương chỉ đạo và phối hợp cùng Hiệp hội Du lịch Việt Nam tổ chức vào năm 2016 Buổi tọa đàm đã thu hút các tham luận,
ý kiến của đại biểu về nhiều vấn đề như: Kinh nghiệm phát triển du lịch của một số quốc gia; Điều chỉnh pháp luật hiện hành về Du lịch cho phù hợp với yêu cầu của một ngành kinh tế mũi nhọn; Các chính sách hỗ trợ thu hút khách quốc tế đến Việt Nam; Giải pháp về: phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt
Trang 148
Nam, tăng nguồn thu từ dịch vụ du lịch, đẩy mạnh công tác xúc tiến du lịch, đảm bảo an ninh, an toàn cho khách du lịch, phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ
du lịch của Việt Nam…
Báo cáo về “Ngành Du lịch Việt Nam đến năm 2019” của Travel and
Tourism Intelligence Center vào năm 2015 tập trung vào việc phân tích và dự đoán số lượng du khách trong toàn ngành Du lịch Việt Nam; phân tích việc chi tiêu của du khách đối với những dịch vụ khác nhau như lưu trú, tham quan, giải trí, vận chuyển, mua sắm…
Ngoài ra, còn một số luận văn, bài viết liên quan đến quản lý nhà nước
về du lịch của các cá nhân, tổ chức Tuy nhiên, vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnh vực lưu trú du lịch thì chưa được quan tâm một cách đầy đủ Như vậy, đề tài này là cần thiết được triển khai để giải quyết các vấn đề liên quan cả về mặt lý luận và thực tiễn
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài Luận văn có mục đích nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước đối với cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, trên cơ sở
đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu trên đây, luận văn tập trung thực hiện nhiệm vụ chính sau đây:
- Hệ thống hóa, làm rõ cơ sở lý luận quản lý nhà nước đối với cơ sở lưu
trú du lịch trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và phân tích, rút ra bài học cho thành phố Hồ Chí Minh từ kinh nghiệm một số quốc gia trong khu vực và một số tỉnh thành trong quản lý và phát triển cơ sở lưu trú du lịch
Trang 159
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với cơ sở lưu trú
du lịch trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, rút ra những kết quả đạt được, những hạn chế và phân tích nguyên nhân của những hạn chế trong quản lý nhà nước đối với hệ thống này
- Đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với cơ sở
lưu trú du lịch trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ thúc đẩy ngành du lịch của thành phố phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế của đất nước
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu: Quản lý nhà nước đối với cơ sở lưu trú du lịch
trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi về không gian và nội dung nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu về thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
- Phạm vi về thời gian: đề tài nghiên cứu, tham khảo và đánh giá các số liệu, tài liệu đã công bố từ năm 2015 đến nay, tầm nhìn đến năm 2025
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Phương pháp luận: Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp
luận duy vật lịch sử, duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác-Lenin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp: Việc nghiên cứu đề tài dựa trên kết quả phân tích tài liệu thứ cấp là các công trình nghiên cứu đã có liên
Trang 1610
quan đến phát triển cơ sở lưu trú du lịch ở một số nước trong khu vực và ở một số tỉnh thành ở Việt Nam Từ đó, tác giả luận án có thể tìm hiểu được các kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước về những nội dung liên quan trực tiếp và gián tiếp đến vai trò của Chính phủ trong quản lý và phát triển cơ sở lưu trú du lịch Dựa trên cở sở tài liệu nghiên cứu, tác giả đánh giá các quan điểm phù hợp và chưa phù hợp từ đó đưa ra các kiến giải theo cách tiếp cận từ giác độ chuyên ngành quản lý công
- Phương pháp thống kê: kết quả thu thập thông tin từ các tài liệu, số liệu thống kê đã được công bố giúp luận văn chứng minh hoặc bác bỏ các giả thuyết đặt ra trong đề tài hoặc thực tiễn, xử lý thông tin giúp nghiên cứu hoạch định một số phương hướng, kiến nghị và giải quyết vấn đề nâng cao năng lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực lưu trú du lịch trong thời gian tới
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Trên cơ sở các tài liệu thu thập, tác giả sẽ nghiên cứu, phân tích đánh giá dưới khía cạnh khoa học quản lý công
Từ đó, tổng hợp lại để có những kết luận làm căn cứ đề xuất mang tính khoa học, phù hợp với lý luận và thực tiễn công tác quản lý nhà nước đối với cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hiện nay và tầm nhìn đến năm 2025
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với cơ sở lưu trú du lịch, phân tích thực trạng quản lý nhà nước về cơ sở lưu trú du lịch ở thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay, chỉ ra những nguyên nhân hạn chế Từ đó, đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với phát triển cơ sở lưu trú du lịch ở thành phố Hồ Chí Minh, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ mới
Trang 1711
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung luận văn được cấu trúc thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học về quản lý nhà nước đối với cơ sở lưu trú du lịch
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với cơ sở lưu trú
du lịch ở thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2015 đến nay
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với cơ sở lưu trú du lịch ở thành phố Hồ Chí Minh tầm nhìn đến năm 2025
Trang 1812
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
CƠ SỞ LƯU TRÚ DU LỊCH
1.1 Khái niệm và phân loại cơ sở lưu trú du lịch
1.1.1 Khái niệm cơ sở lưu trú du lịch
Trong quá trình phát triển xã hội, việc đi lại của con người đóng một vai trò quan trọng Du khách đi ra ngoài nơi ở thường xuyên của mình đều cần đến các nghiệp vụ về lưu trú, ăn uống và nghỉ ngơi Đáp ứng nhu cầu trên của khách, ban đầu việc lưu trú chỉ thể hiện tính hiếu khách của dân địa phương, thường trước khi ra đi, khách tặng lại chủ nhà một số tặng phẩm Đây chính là mầm mống của ngành kinh doanh lưu trú ngày nay
Thực tiễn có rất nhiều tài liệu nghiên cứu về quá trình hình thành ngành lưu trú trên thế giới và hầu hết đều khẳng định ngành kinh doanh lưu trú ra đời và chính thức được thừa nhận khi xã hội xuất hiện nền sản xuất hàng hóa, khi đó sự di chuyển của con người diễn ra mạnh mẽ Sự phát triển của ngành kinh doanh lưu trú đã góp phần vào việc thúc đẩy hoạt động du lịch, thu hút công ăn việc làm, đóng góp vào sự phát triển kinh tế tại nhiều vùng, nhiều quốc gia
Căn cứ theo Tiêu chuẩn ISO 18513:2003 “Dịch vụ du lịch - Khách sạn
và các loại hình cơ sở lưu trú du lịch khác - Thuật ngữ” của Tổ chức Tiêu chuẩn quốc tế (ISO) thì khái niệm lưu trú có nghĩa là cung cấp tối thiểu hai dịch vụ: ngủ và các trang thiết bị vệ sinh
Căn cứ Luật Du lịch 2017: “Cơ sở lưu trú du lịch là cơ sở cho thuê buồng, giường và cung cấp các dịch vụ khác phục vụ khách lưu trú, trong đó khách sạn là cơ sở lưu trú du lịch chủ yếu Cơ sở lưu trú du lịch bao gồm: khách sạn, làng du lịch, biệt thự kinh doanh du lịch, căn hộ kinh doanh du
Trang 191.1.2 Phân loại cơ sở lưu trú du lịch
Theo Nghị định số 168/2017/TT-BVHTTDL ngày 31 tháng 12 năm
2017 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Du lịch
về lưu trú du lịch thì các loại cơ sở lưu trú du lịch ở Việt Nam được hiểu như sau:
− Khách sạn: Cơ sở lưu trú du lịch bảo đảm chất lượng về cơ sở vật chất, trang thiết bị và dịch vụ cần thiết phục vụ khách du lịch; bao gồm: Khách sạn nghỉ dưỡng, khách sạn bên đường, khách sạn nổi và khách sạn thành phố
• Khách sạn nghỉ dưỡng: Cơ sở lưu trú du lịch được xây dựng thành khối hoặc thành quần thể các biệt thự, nhà thấp tầng, căn hộ, ở khu vực có cảnh quan thiên nhiên đẹp;
• Khách sạn bên đường: Cơ sở lưu trú du lịch gần đường giao thông, có bãi đỗ xe nhằm phục vụ nhu cầu lưu trú của khách sử dụng phương tiện giao thông đường bộ (xe máy, ô tô) đi du lịch hoặc nghỉ ngơi giữa những chặng đường dài;
• Khách sạn nổi: Cơ sở lưu trú du lịch neo đậu trên mặt nước và có thể di chuyển khi cần thiết;
• Khách sạn thành phố: Cơ sở lưu trú du lịch được xây dựng tại các đô thị phục vụ khách du lịch
− Biệt thự du lịch: Biệt thự có trang thiết bị, tiện nghi cho khách du lịch thuê và có thể tự phục vụ trong thời gian lưu trú
Trang 2014
− Làng du lịch (holiday village): Là cơ sở lưu trú du lịch gồm tập hợp các
biệt thự hoặc một số loại cơ sở lưu trú khác như căn hộ, băng-ga-lâu (bungalow) và bãi cắm trại, được xây dựng ở nơi có tài nguyên du lịch, cảnh quan thiên nhiên đẹp, có hệ thống dịch vụ gồm các nhà hàng, quầy bar, cửa hàng mua sắm, khu vui chơi giải trí, thể thao và các tiện ích khác phục vụ khách du lịch
− Căn hộ du lịch: Căn hộ có trang thiết bị, dịch vụ cần thiết phục vụ khách du lịch Khách có thể tự phục vụ trong thời gian lưu trú
− Tàu thủy lưu trú du lịch: Phương tiện vận tải thủy có phòng ngủ phục
vụ nhu cầu lưu trú của khách du lịch
− Nhà nghỉ du lịch: Cơ sở lưu trú có trang thiết bị, tiện nghi cần thiết phục vụ khách du lịch nhưng không đạt tiêu chuẩn xếp hạng khách sạn
− Bãi cắm trại du lịch: Khu vực được quy hoạch ở nơi có cảnh quan thiên nhiên đẹp, có kết cấu hạ tầng, có cơ sở vật chất và dịch vụ cần thiết phục vụ khách cắm trại
− Nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê (homestay): Là nơi sinh sống
của
người sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp trong thời gian cho thuê lưu trú du lịch,
có trang thiết bị, tiện nghi cho khách du lịch thuê lưu trú, có thể có dịch vụ khác theo khả năng đáp ứng của chủ nhà
− Các cơ sở lưu trú du lịch khác gồm tàu thủy du lịch, tàu hỏa du lịch, cara-van (caravan), lều du lịch
1.2 Quản lý nhà nước đối với cơ sở lưu trú du lịch
1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước
Theo Giáo trình quản lý hành chính nhà nước Tập 1 (2011): “Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước
Trang 2115
đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc XHCN”
Như vậy, quản lý nhà nước là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội Quản lý nhà nước được xem là một hoạt động chức năng của nhà nước trong quản lý xã hội và có thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt quản lý nhà nước được hiểu theo hai nghĩa
Theo nghĩa rộng: quản lý nhà nước là toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà
nước, từ hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp, đến hoạt động tư pháp
Theo nghĩa hẹp: quản lý nhà nước chủ yếu là quá trình tổ chức, điều
hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội
và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước Đồng thời, các cơ quan nhà nước nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành, tính chất hành chính nhà nước nhằm xây dựng tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình Quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp còn đồng nghĩa
với khái niệm quản lý hành chính nhà nước với các đặc điểm sau đây: thứ nhất, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động mang quyền lực nhà nước; thứ hai, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động được tiến hành bởi những chủ thể có quyền năng hành pháp; thứ ba, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động có tính thống nhất, được tổ chức chặt chẽ; thứ tư, hoạt động quản lý
hành chính nhà nước mang tính chấp hành và điều hành
Quản lý nhà nước được đề cập trong đề tài này là quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp, chủ yếu thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành, tính chất hành chính nhà nước
Trang 2216
1.2.2 Khái niệm quản lý nhà nước đối với cơ sở lưu trú du lịch
Trong lĩnh vực du lịch nói chung và lưu trú du lịch nói riêng, nội dung hoạt động quản lý hành chính nhà nước được cụ thể hóa thông qua các mục tiêu, nhiệm vụ, chức năng hoạt động của bộ máy tổ chức hành chính nhà nước được tổ chức theo từng cấp với quyền hạn, thẩm quyền xác định Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ, công chức tương ứng thực hiện chức năng hành pháp tương ứng được cơ quan có thẩm quyền phân cấp, giao phó
Để thực hiện có hiệu quả những mục tiêu, nhiệm vụ của mình, cơ quan liên quan trong lĩnh vực du lịch và lưu trú du lịch, cán bộ, công chức và người lao động các cấp tuân thủ quy trình của quản lý hành chính nhà nước về cơ sở lưu trú du lịch
Chủ thể và khách thể trong quản lý nhà nước đối với cơ sở lưu trú du lịch
Chủ thể nói chung là Đảng, Nhà nước và các cơ quan liên quan có chức năng quản lý nhà nước được pháp luật phân quyền, phân cấp Nhưng với cơ
sở lưu trú du lịch, chủ thể chủ yếu là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trong cả nước Chủ thể có nhiệm vụ chấp hành pháp luật và chỉ đạo thực hiện chủ trương, kế hoạch của Nhà nước Chủ thể có những thẩm quyền nhất định liên quan đến 04 (bốn) nội dung bao gồm: Ban hành các văn bản dưới luật quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hành và tổ chức bộ máy trong quản lý nhà nước về lưu trú du lịch cấp tương ứng; Sử dụng quyền lực để điều chỉnh và điều hành các vấn đề thuộc lưu trú du lịch theo thẩm quyền; Cán bộ lãnh đạo của cơ quan chủ thể theo cơ chế bổ nhiệm, chủ thể thực hiện cơ chế lãnh đạo và quản lý theo chế độ thủ trưởng; Chủ thể ký văn bản quản lý theo chế độ thủ trưởng hoặc liên tịch
Trang 2317
Bên cạnh chủ thể nêu trên, khách thể của quản lý hành chính nhà nước
về lưu trú du lịch là toàn bộ hệ thống, nguồn nhân lực và hành vi, quá trình phát sinh trong thực tế phát triển của cơ sở lưu trú du lịch ở Việt Nam
Như vậy, quản lý nhà nước đối với cơ sở lưu trú du lịch là sự tác động có chủ đích của các cơ quan chức năng trong bộ máy nhà nước nhằm xây dựng thể chế, tổ chức bộ máy điều hành để phát triển cơ sở lưu trú du lịch và kiểm tra, giám sát bảo đảm quản lý chặt chẽ, hiệu quả đạt mục tiêu phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn
1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước đối với cơ sở lưu trú du lịch
1.2.3.1 Xây dựng, ban hành, hướng dẫn và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn, định mức kỹ thuật trong lưu trú du lịch
Quản lý nhà nước về lưu trú du lịch được thực hiện bằng các công cụ pháp luật, các quyết định, hướng dẫn pháp luật của cơ quan có thẩm quyền để điều chỉnh tất cả các hành vi liên quan, đảm bảo các quyết định hành chính được thực hiện có hiệu lực, có tính khả thi cao phù hợp với thực tế đa dạng của các cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn cả nước
Hình thức pháp lý: Cơ quan có thẩm quyền các cấp được phép ban hành văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến cơ sở lưu trú du lịch Đây là hình thức pháp lý quan trọng nhất trong hoạt động của Ngành Du lịch nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình Thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, Ngành Du lịch quy định những quy tắc xử sự chung trong lĩnh vực quản
lý, những nhiệm vụ, quyền hạn và nghĩa vụ đối với cơ sở lưu trú du lịch Hình thức ban hành văn bản áp dụng pháp luật Đây là hoạt động chủ yếu của Ngành Du lịch, nội dung chủ yếu là áp dụng một hay nhiều quy phạm pháp luật vào một trường hợp cụ thể, trong những điều kiện cụ thể Việc ban hành văn bản này làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt những quan hệ hành chính, pháp luật liên quan đến lĩnh vực lưu trú du lịch
Trang 24Điều tra, đánh giá hiện trạng tài nguyên, cung và cầu du lịch để xây dựng quy hoạch phát triển cơ sở lưu trú du lịch tại các địa phương trong cả nước;
1.2.3.3 Tổ chức bộ máy quản lý cơ sở lưu trú du lịch
Ngành Du lịch phối hợp với Bộ Nội vụ hoặc cơ quan liên quan về tổ chức cán bộ, công chức và lao động các cấp tổ chức bộ máy đảm bảo tinh gọn
từ trung ương đến địa phương gồm Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Du lịch các tỉnh, thành phố để điều hành tập trung, thống nhất, thông suốt, linh hoạt, giải quyết kịp thời, đúng thẩm quyền những vấn đề lưu trú du lịch đã được đặt ra và các vấn đề phát sinh theo nhu cầu thực tiễn phát triển Cơ quan trực tiếp tham gia quản lý lưu trú du lịch cấp quận, huyện được tổ chức linh hoạt theo cấp phòng, giúp địa phương triển khai các kế hoạch quản lý, phát triển đã được cơ quan cấp trên hoạch định, phê duyệt
Phối hợp tổ chức và quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ liên quan đến lưu trú du lịch;
Sắp xếp, bố trí đội ngũ cán bộ, công chức theo từng cấp Đội ngũ cán bộ, công chức các cấp đủ về số lượng, tinh về chất lượng, đảm bảo được sắp xếp,
Trang 2519
bố trí công việc theo tiêu chuẩn chức danh, tiêu chuẩn công việc Về cơ bản, đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay đủ phẩm chất chính trị, vững về chuyên môn và có đạo đức, trách nhiệm với công việc được giao, thực hiện tốt các nhiệm vụ quản lý nhà nước về lưu trú du lịch theo phân cấp, thẩm quyền Tuy nhiên, việc tuyển dụng, sử dụng và bố trí cán bộ, công chức và người lao động theo nhu cầu phát triển và thực tiễn tại từng cấp, từng địa phương
1.2.3.4 Giám sát, kiểm tra, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về lưu trú du lịch
Bất cứ lĩnh vực nào, ngành nào dù là quản lý nhà nước hay quản trị doanh nghiệp thì công tác giám sát, kiểm tra, báo cáo, tổng kết và đánh giá luôn là nội dung quan trọng, là thước đo việc thực hiện công việc Muốn quản
lý tốt cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức thuộc bộ máy nhà nước các cấp từ trung ương đến địa phương của Ngành Du lịch Tạo lập hệ thống giám sát công tác kiểm tra thực
sự, có hiệu quả và thường xuyên để có những biện pháp điều chỉnh kịp thời, đặc biệt trước tình hình phát triển nhanh, nhạy hiện nay của hệ thống cơ sở lưu trú du lịch ở Việt Nam
1.2.3.5 Tổ chức hợp tác quốc tế trong phát triển cơ sở lưu trú du lịch
Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình từng bước xây dựng một nền kinh
tế mở, gắn kết nền kinh tế trong nước với nền kinh tế khu vực và thế giới Điều này đặt ra một yêu cầu bất cứ một nền kinh tế nào muốn không bị gạt ra ngoài lề của dòng chảy phát triển, đều phải nỗ lực hội nhập vào xu thế chung Trong khi đó, ngành du lịch là một ngành có sự kết nối mạnh mẽ giữa các quốc gia với nhau Xu hướng toàn cầu hóa giúp các rào cản về quốc gia được nới lỏng, con người có điều kiện đi du lịch nhiều hơn, về việc quản lý nhà nước đối với cơ sở lưu trú du lịch không còn dừng lại ở các địa điểm trong nước mà còn ngoài nước Do vậy, đòi hỏi giữa các quốc gia phải tăng cường
Trang 2620
hợp tác, liên kết với nhau nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động du lịch của du khách Cùng với tiến trình hội nhập của đất nước, Du lịch Việt Nam đã tích cực tham gia các hoạt động hợp tác kinh tế quốc tế, trong khuôn khổ hợp tác song phương, đa phương, luôn hoàn thành tốt vai trò là một ngành dịch vụ quan trọng trong đàm phán ký kết Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, đàm phán gia nhập WTO, hội nhập ASEAN, APEC, cũng như đàm phán Hiệp định TPP Trong quan hệ song phương, Du lịch Việt Nam đã ký được 32 Điều ước quốc tế và 40 Thỏa thuận quốc tế với các nước trong khu vực và các thị trường trọng điểm như ASEAN, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ, Pháp, Tây Ban Nha Trên cơ sở đó hợp tác với các nước Đông Nam Á, Đông Bắc Á, Úc và châu Âu được đẩy mạnh tạo điều kiện phát triển ngành du lịch Việt Nam
1.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về cơ sở lưu trú du lịch của một
số tỉnh thành Việt Nam và bài học rút ra cho thành phố Hồ Chí Minh 1.3.1 Kinh nghiệm của thành phố Hà Nội
Những năm gần đây ngành du lịch Hà Nội đạt tốc độ tăng trưởng mạnh, đặc biệt là tốc dộ tăng trưởng khách du lịch quốc tế Theo Sở Du lịch Hà Nội, năm 2018, thủ đô Hà Nội đón 26,3 triệu lượt khách (tăng 9,3% so với năm 2017) Trong đó, khách du lịch quốc tế đến đạt 6 triệu lượt khách (tăng 16%
so với năm 2017); khách du lịch quốc tế có lưu trú là 4,3 triệu lượt; khách du lịch nội địa đạt 20,3 triệu lượt khách (tăng 7% so với năm 2017) Tổng thu từ khách du lịch đạt 75.000 tỷ đồng (tăng 11,7% so với năm 2017)
Đây là một kết quả hết sức đáng mừng cho du lịch Việt Nam nói chung
và du lịch Hà Nội nói riêng đòi hỏi Hà Nội phải tăng cường duy trì môi trường du lịch lành mạnh, thân thiện, bảo đảm an toàn cho khách du lịch, giữ lòng tin đối với du khách đến với Thủ đô
Trang 2721
Với lượng khách du lịch tăng mạnh kéo theo nhu cầu lưu trú cao Vì vậy,
để đảm bảo cơ sở lưu trú tại thủ đô đủ số lượng đáp ứng và chất lượng mong muốn, Sở Du lịch Hà Nội đã tăng cường phối hợp với các ngành chức năng thực hiện quản lý nhà nước về công tác thanh tra, kiểm tra các cơ sở lưu trú trên địa bàn, kịp thời ứng phó với những hiện tượng bức xúc trong môi trường
du lịch: kiểm tra phòng ngừa hướng dẫn viên là người nước ngoài, xử lý nghiêm hành vi vi phạm do đó hạn chế hướng dẫn viên người nước ngoài hành nghề trái pháp luật tại Hà Nội; ngăn chặn xử lý tình trạng chèo kéo, bắt chẹt, ép giá… khách du lịch, nhất là tại các địa bàn trọng điểm: Khu vực Hồ Hoàn Kiếm, khu phố cổ, Văn Miếu – Quốc Tử Giám, khu vực Lăng Chủ tịch
Hồ Chí Minh, khu vực Hồ Tây trong dịp ngày lễ, Tết
Bên cạnh đó, Hà Nội tiến hành phân cấp quản lý khách sạn hạng thấp cho Ủy ban nhân dân các quận, huyện trên địa bàn để dễ dàng quản lý, sát sao, theo dõi hoạt động của các cơ sở lưu trú hiệu quả hơn
Đối với nguồn nhân lực quản lý nhà nước, Giám đốc Sở Du lịch Hà Nội thẳng thắn nhìn nhận chưa đáp ứng kịp với tốc độ tăng trưởng, nhất là ở khối các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch Vì vậy, Sở Du lịch đã xây dựng kế hoạch chuyên đề về đào tạo và tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ
du lịch cho các cơ sở kinh doanh lưu trú du lịch, cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch, bồi dưỡng lĩnh vực lữ hành, vận chuyển; kiến thức và kỹ năng thuyết minh cho thuyết minh viên tại điểm và tổ chức các lớp văn hóa du lịch cộng đồng tại các điểm du lịch trọng điểm tại các quận, huyện, thị xã trên địa bàn thành phố Hà Nội
Về cơ sở lưu trú cao cấp, theo Sở Du lịch Hà Nội thì hiện nay trên địa bàn chưa đủ cung ứng nhu cầu khách du lịch, vì vậy Sở Du lịch Hà Nội đã xây dựng kế hoạch, xin quỹ đất để kêu gọi các doanh nghiệp đầu tư xây dựng
Trang 28sở lưu trú du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển ngành du lịch thủ đô
1.3.2 Kinh nghiệm của thành phố Đà Nẵng
Thời gian qua, ngành Du lịch Đà Nẵng đã có sự tăng trưởng đáng kể về chất và lượng Năm 2018, tổng lượt khách tham quan, du lịch đến Đà Nẵng đạt 7,6 triệu lượt, tăng 4,33 lần so với năm 2010, trong đó khách quốc tế đạt 2,9 triệu lượt, tăng 7,8 lần so với năm 2010, khách nội địa đạt 4,8 triệu lượt, tăng 3,4 lần so với năm 2010 Tổng thu du lịch đạt 24 ngàn tỷ đồng, tăng 7,8 lần so với năm 2010
Cùng với sự phát triển chung của ngành du lịch, hệ thống cơ sở lưu trú
du lịch trên địa bàn thành phố cũng đang phát triển mạnh trong những năm trở lại đây Giai đoạn 2013 – 2018, tốc độ tăng trưởng bình quân về số lượng cơ
sở du lịch đạt 14% và tốc độ tăng trưởng về số lượng phòng đạt 21% Năm
2018, tổng số cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn Đà Nẵng là 785 cơ sở (tăng gấp 2 lần so với năm 2013) với hơn 35.000 phòng (tăng 2,6 lần so với năm 2013) Đây là những con số thể hiện sự phát triển du lịch của thành phố Đà Nẵng, tuy nhiên nó cũng phản ánh sự khó khăn trong việc quản lý hoạt động của các cơ sở lưu trú nhằm đạt được chất lượng dịch vụ như mong muốn
Để bảo đảm an ninh trật tự địa bàn và nâng cao chất lượng dịch vụ của các cơ sở lưu trú trên địa bàn, từ tháng 6/2018, Đà Nẵng đã chủ động thực hiện phân cấp các cơ sở lưu trú về cho các quận, huyện trực tiếp quản lý các
Trang 2923
cơ sở lưu trú từ mức 1 sao trở xuống Cụ thể, Ủy ban nhân dân các quận, huyện chịu trách nhiệm và chủ trì thực hiện một số chức năng quản lý nhà nước đối với các loại hình khách sạn có quy mô dưới 20 phòng (bao gồm khách sạn đã xếp hạng 1 sao và khách sạn chưa xếp hạng có quy mô tương đương 1 sao), nhà nghỉ du lịch, nhà có phòng cho khách du lịch thuê (homestay), nhà trọ giường tầng - hostel Theo Sở Du lịch Đà Nẵng, giải pháp này giúp giảm được nhân lực và chi phí, bởi vì các quận, huyện với lợi thế về việc nắm địa bàn sẽ làm tốt hơn việc nắm bắt tình hình, triển khai kịp thời công tác kiểm tra, giám sát và công nhận các tiêu chí nhằm tạo điều kiện cho các loại hình cơ sở lưu trú du lịch có quy mô nhỏ này đi vào hoạt động
Bên cạnh đó, Đà Nẵng luôn tăng cường quản lý hoạt động lưu trú du lịch, các cơ quan chức năng giám sát, quản lý khá chặt chẽ về quy định giá phòng tại các cơ sở lưu trú, đòi hỏi việc niêm yết và bán theo giá niêm yết được công khai, hạn chế tình trạng tăng giá phòng, bán giá không đúng với chất lượng phòng làm ảnh hưởng chung đến hoạt động kinh doanh lưu trú nói chung và hình ảnh du lịch Đà nẵng; tăng cường việc đào tạo, tập huấn chuyên môn về nghiệp vụ du lịch cho đội ngũ nhân viên; triển khai ứng dụng phần mềm quản lý, trang điện tử đặt phòng cho hệ thống khách sạn, nhà nghỉ
du lịch trên địa bàn tỉnh Đặc biệt thường xuyên kiểm tra, rà soát, bổ sung nâng cấp cơ sở vật chất xuống cấp tại các cơ sở lưu trú đảm bảo đúng tiêu chuẩn, hạng sao được cấp Đồng thời phối hợp với các đơn vị chức năng đẩy mạnh việc tuyên truyền, biểu dương những doanh nghiệp du lịch làm tốt và
xử lý nghiêm đối với các hành vi không niêm yết giá, tăng giá dịch vụ sai quy định, ảnh hưởng đến hình ảnh du lịch của tỉnh Qua đó góp phần đưa Đà Nẵng thực sự trở thành điểm đến hấp dẫn, có uy tín trên bản đồ du lịch của cả nước
Trang 3024
1.3.3 Kinh nghiệm của tỉnh Bình Thuận
Bình Thuận là nơi có nhiều điểm du lịch nổi tiếng tại nước ta, vì vậy du lịch Bình Thuận luôn phát triển mạnh mẽ Những năm gần đây, khách du lịch nội địa cũng như khách du lịch quốc tế vào Bình Thuận ngày một tăng cao, điều đó kéo theo sự phát triển không ngừng của hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành du lịch nói chung và kinh doanh cơ sở lưu trú nói riêng Nhờ vậy, hệ thống cơ sở lưu trú trên địa bàn tỉnh Bình Thuận không ngừng lớn mạnh, tạo nên thương hiệu riêng cho từng cơ sở lưu trú, góp phần thu hút khách du lịch đến với địa phương Kết quả, năm 2018, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của ngành Du lịch, cơ sở lưu trú và dịch vụ du lịch Bình Thuận đã
có những khởi sắc ấn tượng, góp phần vào thành công của du lịch Bình Thuận đón hơn 5,7 triệu lượt khách, tăng 1,4 lần so với năm 2015, trong đó khách quốc tế đạt 675 ngàn lượt, tăng 1,5 lần so với năm 2015, khách nội địa đạt 5,025 triệu lượt, tăng 1,4 lần so với năm 2015 Doanh thu du lịch đạt 12.851
tỷ đồng, tăng 1,7 lần so với cùng kỳ năm 2015
Hiện nay, toàn tỉnh hiện có 488 cơ sở lưu trú du lịch đã được xếp hạng với tổng số 14.739 phòng Để nâng cao chất lượng cơ sở lưu trú tên địa bàn, Bình Thuận đã hướng đến tạo bước chuyển biến căn bản trong việc nâng cao tính chuyên nghiệp và chất lượng dịch vụ trong hệ thống cơ sở lưu trú, cơ sở vật chất đảm bảo chất lượng theo đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn, tỉnh Bình Thuận thực hiện những giải pháp sau:
Thứ nhất, phân công tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cụ thể cho các sở, ngành, địa phương liên quan Trong đó, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn, kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện các tiêu chuẩn, quy chuẩn về kinh doanh lưu trú Thực hiện công tác thanh kiểm tra theo Luật Du lịch, kiên quyết xử lý nghiêm các vụ việc ảnh hưởng tiêu cực đến du khách
Trang 3125
Thứ hai, song song đó là việc tổ chức tôn vinh, khen thưởng các tập thể,
cá nhân có sáng kiến cải tiến chất lượng, cung cấp dịch vụ lưu trú chất lượng tốt Chủ trì, phối hợp tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, triển khai thực hiện Bộ quy tắc ứng xử trong hoạt động du lịch
Thứ ba, đối với các Sở Công thương, Y tế, Tài nguyên và Môi trường, Lao động, Thương binh và Xã hội, Công an tỉnh, các địa phương tùy theo chức năng, nhiệm vụ thực hiện việc hướng dẫn, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động liên quan đến chất lượng dịch vụ các cơ sở lưu trú Riêng Hiệp hội Du lịch và các cơ sở lưu trú phải cam kết thực hiện và duy trì chất lượng dịch vụ theo hạng, sao đã được công nhận, đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực phục
vụ du khách, đảm bảo an ninh trật tự, an toàn du khách, an toàn vệ sinh thực phẩm, đảm bảo môi trường trong lành, thân thiện để luôn có một hình ảnh đẹp, an toàn, thân thiện và chất lượng cho Du lịch Bình Thuận
1.4 Bài học kinh nghiệm rút ra cho thành phố Hồ Chí Minh
Từ thực tiễn quản lý nhà nước đối với cơ sở lưu trú du lịch của một số tỉnh thành nêu trên, thành phố Hồ Chí Minh có thể rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm áp dụng một cách có sáng tạo, phù hợp với thực tiễn tại thành phố, cụ thể như sau:
Ủy ban nhân dân thành phố cần có sự tập trung chỉ đạo các sở ngành liên quan cùng tích cực tham gia phối hợp với Sở Du lịch trong công tác quản lý nhà nước về cơ sở lưu trú du lịch vì du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng; phân công cụ thể trách nhiệm của từng đơn vị trong công tác phối hợp
Thực hiện phân cấp, ủy quyền cho Ủy ban nhân dân các quận, huyện trong công tác quản lý nhà nước đối với cơ sở lưu trú du lịch được xếp hạng
Trang 32Xây dựng định hướng đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ lao động nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ khách du lịch tại các
cơ sở lưu trú du lịch
Tổ chức tôn vinh, khen thưởng các tập thể, cá nhân có sáng kiến cải tiến chất lượng, cung cấp dịch vụ lưu trú chất lượng tốt và xử lý nghiêm đối với các hành vi không niêm yết giá, tăng giá dịch vụ sai quy định, ảnh hưởng đến hình ảnh du lịch của thành phố
Tăng cường đảm bảo an ninh trật tự, an toàn du khách, an toàn vệ sinh thực phẩm, đảm bảo môi trường trong lành, thân thiện để luôn có một hình ảnh đẹp, an toàn, thân thiện và chất lượng cho du lịch thành phố
Ngoài một số kinh nghiệm của các tỉnh, thành vừa nêu trên, thành phố
Hồ Chí Minh có thể ứng dụng công nghệ trong công tác quản lý nhà nước về
du lịch, rút ngắn thời gian thực hiện các thủ tục hành chính; thường xuyên tổ chức đối thoại với các tổ chức, cá nhân kinh doanh lưu trú du lịch nhằm lắng nghe những khó khăn, vướng mắc của các đơn vị, hoàn thiện cơ chế riêng hướng tới cải thiện môi trường kinh doanh lưu trú du lịch…góp phần đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố
Tóm tắt Chương 1
Ngành du lịch Việt Nam những năm gần đây có sự tăng trưởng mạnh mẽ
và trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước Tuy nhiên, việc tăng
Trang 3327
trưởng đó cũng đòi hỏi ngành du lịch Việt Nam phải đảm bảo các điều kiện phát triển du lịch, trong đó phát triển cơ sở lưu trú du lịch là một yếu tố quan trọng đòi hỏi sự quản lý chặt chẽ từ các cơ quan nhà nước Trong Chương 1 của đề tài này, tác giả đã trình bày những lý thuyết liên quan đến cơ sở lưu trú
du lịch, phân loại cơ sở lưu trú du lịch theo Luật du lịch Việt Nam Bên cạnh
đó, tác giả cũng trình bày lý thuyết về quản lý nhà nước đối với cơ sở lưu trú
du lịch, nội dung quản lý các cơ sở lưu trú du lịch và trình bày các kinh nghiệm quản lý cơ sở lưu trú du lịch tại thành Phố Đà Nẵng, thành phố Hà Nội và tỉnh Bình Thuận Nội dung Chương 1 sẽ làm cơ sở phân tích công tác quản lý nhà nước đối với cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Trang 3428
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CƠ SỞ LƯU TRÚ DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1 Các yếu tố thực tiễn ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với cơ
sở lưu trú du lịch trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
2.1.1 Yếu tố về tự nhiên, văn hóa - xã hội
2.1.1.1 Yếu tố về tự nhiên:
Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố lớn nhất Việt Nam, đồng thời cũng
là một trong những trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa và giáo dục quan trọng nhất của Việt Nam Hiện nay, thành phố Hồ Chí Minh là thành phố trực thuộc Trung ương và được xếp loại đô thị đặc biệt của Việt Nam, cùng với thủ đô Hà Nội Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa Đông Nam Bộ và Tây Nam
Bộ, thành phố Hồ Chí Minh ngày nay bao gồm 19 quận và 05 huyện, tổng diện tích 2.095,06 km2
Với quy mô địa bàn rộng lớn, công tác quản lý nhà nước về cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh tương đối gặp nhiều khó khăn Hiện nay nhiệm vụ quản lý nhà nước về du lịch tại các quận, huyện được giao cho Phòng Kinh tế trực tiếp thực hiện và tham mưu Ủy ban nhân dân các quận, huyện và tại các phòng Kinh tế đều phân công một cán bộ theo dõi về
du lịch Thực tế cho thấy, với lực lượng nhân sự như hiện nay, công tác nắm bắt tình hình kinh doanh của các cơ sở lưu trú du lịch tại địa phương là vô cùng khó khăn
Bên cạnh đó, đối với Sở Du lịch – cơ quan tham mưu, giúp việc Ủy ban nhân dân thành phố trong thực hiện quản lý nhà nước về du lịch nói chung và
cơ sở lưu trú du lịch nói riêng Tuy nhiên hiện nay, lực lượng cán bộ làm công tác chuyên ngành quản lý cơ sở lưu trú du lịch và lực lượng Thanh tra Sở Du
Trang 3529
lịch chỉ có 17 người trải đều toàn thành phố nên gặp nhiều khó khăn trong công tác thanh, kiểm tra, quản lý tình hình hoạt động của các cơ sở lưu trú du lịch trên toàn địa bàn thành phố
2.1.1.2 Yếu tố về kinh tế - xã hội:
Trong những năm qua, thành phố đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, toàn diện về kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị; khẳng định vai trò, vị trí của hành phố đối với cả nước Từ thực tiễn quản lý, thành phố đã chủ động nghiên cứu, đề xuất
và được Chính phủ chấp thuận cho thành lập Sở Du lịch đầu tiên của cả nước; thí điểm thành lập Ban quản lý An toàn thực phẩm trong ba năm nhằm thống nhất đầu mối, nâng cao hiệu quả tổ chức thực thi pháp luật về lĩnh vực này trên địa bàn Thành phố đã triển khai chương trình hợp tác thương mại, kết nối cung - cầu hàng hóa với các tỉnh, thành phố thuộc khu vực Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ từ năm 2011; tổ chức ký hợp tác phát triển toàn diện với 36 địa phương trên cả nước Thành phố cũng mạnh dạn đi đầu triển khai thực hiện
đề án đô thị thông minh nhằm từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, tập trung hướng đến bốn mục tiêu: Bảo đảm tốc độ tăng trưởng kinh tế và hướng đến kinh tế tri thức; nâng cao chất lượng môi trường sống và làm việc; quản trị đô thị hiệu quả; tăng cường sự tham gia quản lý của người dân - phát huy trí tuệ nhân dân Đề án được xây dựng trên bốn nguyên tắc: Tầm nhìn chính xác, xuyên suốt và được sự đồng thuận cao; luôn thấu hiểu người dân; công nghệ là công cụ hỗ trợ phát triển và huy động mọi nguồn lực tham gia
Cùng với sự phát triển chung của thành phố, ngành Du lịch thành phố trong thời gian qua cũng không ngừng phát triển, nhất là sau khi Sở Du lịch được thành lập vào tháng 10 năm 2014, ngành Du lịch đã phát triển dần theo hướng chuyên nghiệp và sâu rộng hơn Ngoài vị trí là một trong những điểm đến hấp
Trang 3630
dẫn nhất với du khách trong và ngoài nước, thành phố Hồ Chí Minh còn là trung tâm du lịch phát triển nhất nước với hàng trăm công ty lữ hành, nhà hàng, khách sạn cùng hàng ngàn đội ngũ hướng dẫn viên chuyên nghiệp, được đào tạo bài bản Ước tính lượng khách quốc tế đến thành phố chiếm từ
50 – 55% lượng khách đến Việt Nam hàng năm, doanh thu lĩnh vực du lịch chiếm khoảng 47% doanh thu cả nước, đóng góp 11% GRDP thành phố
Với sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch trong những năm qua, hệ thống cơ sở lưu trú du lịch cũng không ngừng tăng nhanh, tuy nhiên sự gia tăng chủ yếu tập trung tại các cơ sở lưu trú du lịch vừa và nhỏ, số lượng cơ sở
lưu trú cao cấp chưa được đầu tư xây dựng nhiều
Các quy định của pháp luật về quản lý cơ sở lưu trú du lịch; Hệ thống
các quy định của pháp luật về quản lý cơ sở lưu trú du lịch còn chưa đầy đủ
Ví dụ, hiện nay, Nghị định 96/2016/NĐ-CP ban hành thay thế Nghị định số 72/2007/NĐ-CP, ngày 03/9/2009 của Chính phủ bổ sung quy định điều kiện
về ANTT đối với các cơ sở cho thuê lưu trú nhưng chưa có hướng dẫn cụ thể
Trang 37vi phạm trong kinh doanh dịch vụ lưu trú, nhưng tại Điều 8, Điều 11 của Nghị định này xác định chung hành vi vi phạm các quy định về quản lý một số ngành nghề kinh doanh có điều kiện về ANTT chỉ phù hợp với những hành vi
vi phạm về thủ tục quản lý, những hành vi lợi dụng hoạt động kinh doanh dịch vụ lưu trú để vi phạm đã có đề cập nhưng còn thiếu nhiều hành vi cụ thể
Bên cạnh đó, việc thanh, kiểm tra xử phạt các cơ sở lưu trú du lịch có hành vi vi phạm các quy định về kinh doanh lưu trú du lịch cũng gặp nhiều khó khăn do sau khi cơ quan chức năng lập biên bản và ra quyết định xử phạt hành chính, cơ sở thực hiện thay đổi pháp nhân sở hữu nhằm trốn tránh việc thực hiện quyết định xử phạt Trong khi đó, hiện chưa có những văn bản pháp luật cụ thể về việc chế tài, xử lý đối với những hành vi này
2.1.3 Yếu tố khác:
Công tác thẩm định xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch: theo Luật Du lịch
năm 2017, công tác thẩm định xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch là tự nguyện, tùy theo nhu cầu kinh doanh thực tế mà tổ chức, cá nhân kinh doanh lưu trú du lịch đề nghị hoặc không đề nghị cơ quản chức năng có thẩm quyền thẩm định xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch, nhưng các cơ sở lưu trú du lịch phải đảm bảo
Trang 3832
điều kiện tối thiểu để kinh doanh lưu trú du lịch theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, hiện nay do số lượng cơ sở lưu trú du lịch trên toàn thành phố rất lớn, do đó việc tiến hành kiểm tra điều kiện tối thiểu để kinh doanh lưu trú du lịch đối với các cơ sở còn gặp nhiều khó khăn do lực lượng cán bộ làm công tác chuyên ngành ít
Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đối với cơ sở lưu trú du lịch: trong thời gian qua, thành phố luôn quan tâm, đẩy mạnh việc ứng dụng
công nghệ thông tin trong công tác quản lý đối với ngành du lịch nói chung và
cơ sở lưu trú du lịch nói riêng Tại Sở Du lịch, dịch vụ công trực tuyến đã được triển khai thực hiện mức độ 3, 4 vừa tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp khi nộp hồ sơ liên quan đến các thủ tục hành chính, vừa tạo sự thuận lợi cho cán bộ, công chức Sở trong việc theo dõi, xử lý cũng như lưu trữ các thông tin, dữ liệu quan trọng liên quan đến cơ sở lưu trú du lịch
Năng lực, trình độ phát triển của doanh nghiệp: sau khi gia nhập WTO,
năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp du lịch nói chung và các doanh nghiệp lưu trú du lịch nói riêng ngày càng tăng lên đáng kể, nhiều doanh nghiệp năng động, nhạy bén, mạnh dạn hơn trong việc tham gia thị trường trong khu vực Trình độ quản lý, nguồn nhân lực của các cơ sở lưu trú du lịch tăng lên; nhiều doanh nghiệp đứng vững trước những biến động, khó khăn của nền kinh tế trong nước và những tác động tiêu cực từ khủng hoảng tài chính, suy thoái của nền kinh tế thế giới
Tuy nhiên, đối với các cơ sở lưu trú vừa và nhỏ, do tăng nhanh về số lượng, trong khi chưa chuẩn bị đầy đủ điều kiện cho sự ra đời và hoạt động, nên những hạn chế như thiếu hụt vốn, chất lượng lao động thấp, chưa qua đào tạo, đội ngũ quản lý ít được đào tạo, trình độ am hiểu luật pháp, hệ thống thị trường còn yếu… đã tác động nhiều đến khả năng chống đỡ của doanh nghiệp Bên cạnh đó, doanh nghiệp lại có tâm lý trông chờ vào các chính sách
Trang 3933
của nhà nước, nếu không kịp thích nghi và thay đổi thì số lượng doanh nghiệp giải thể ngày càng nhiều Hiện nay, sự biến động chủ yếu diễn ra tại các cơ sở lưu trú du lịch hạng 1, 2 sao và tương đương
Trước bối cảnh này, công tác quản lý nhà nước đối với luu trú du lịch cần phải thay đổi để phù hợp và thích ứng với từng thời kỳ, hoàn cảnh, đặc biệt là trong việc xây dựng, ban hành các văn bản, chính sách về quản lý cơ
sở lưu trú du lịch
2.2 Thực trạng cơ sở lưu trú du lịch và quản lý nhà nước đối với cơ
sở lưu trú du lịch trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
2.2.1 Tổng quan về cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2015 đến nay
Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm du lịch lớn của cả nước, nơi hội tụ các du khách quốc tế đến Việt Nam và cũng là trung tâm trung chuyển khách du lịch tốt nhất đến các tuyến du lịch Vũng Tàu, Nha Trang, Đà Lạt nên khách du lịch quốc tế ngày càng tăng và theo đó, các doanh nghiệp thành phố đã xây dựng hệ thống cơ sở lưu trú du lịch với nhiều loại hình phong phú
để đáp ứng nhu cầu lưu trú của khách hàng Hệ thống các tập đoàn quản lý khách sạn cao cấp tham gia vào thị trường lưu trú tại thành phố Hồ Chí Minh như Accor, Marriot, Hyatt, Intercontinal… đều có hệ thống đặt phòng toàn cầu, trang thiết bị hiện đại, dịch vụ phong phú, đa dạng, có khả năng tổ chức những hội nghị, hội thảo lớn Phần lớn các khách sạn đều chiếm những vị trí đẹp nhất trong trung tâm thành phố, gần các khu thương mại, cận kề sân bay, nhà ga, bến xe…thuận tiện di chuyển khi lưu trú tại đây
Nhìn chung, hệ thống cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn thành phố những năm gần đây phát triển khá nhanh cả về số lượng lẫn chất lượng, theo kịp đà phát triển của ngành du lịch, góp phần đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du
Trang 4034
lịch không chỉ về lưu trú, mà cả về ăn uống, hội họp, cũng như các dịch vụ sức khỏe, vui chơi, giải trí… Tốc độ tăng trưởng về lượng cung phòng khách sạn tăng, ở cả nhóm khách sạn hạng 1 sao, 2 sao và nhóm khách sạn cao cấp
từ 3 sao đến 5 sao
Tính đến tháng 12/2018, thành phố Hồ Chí Minh có 1.799 cơ sở lưu trú
du lịch đã được xếp hạng với tổng số 46.257 phòng Trong đó, có 190 nhà nghỉ đạt chuẩn phục vụ khách du lịch (1.236 phòng), 1.224 khách sạn 1 sao (21.019 phòng), 261 khách sạn 2 sao (8.159 phòng), 76 khách sạn 3 sao (5.720 phòng), 26 khách sạn 4 sao (3.500 phòng), 20 khách sạn 5 sao (6.257 phòng), 02 căn hộ cao cấp (366 phòng)
Bảng số liệu 2.1 Cơ sở lưu trú được xếp hạng tại thành phố Hồ Chí
Minh giai đoạn 2015-2018