Nghiên cứu sự phát triển vùng ven biển cửa sông Hồng và sông Thái Bình trên cơ sở ứng dụng thông tin viễn thám và hệ thông tin địa lý (GIS) phục vụ khai thác sử dụng hợp lý lãnh thổ.[r]
Trang 1THẾ KỶ XVII-XVIII QUA PHÂN TÍCH
CÁC BẢN ĐỒ CỔ VÀ BIẾN ĐỘNG ĐỊA HÌNH
TS Trần Thanh Hà, Ths Nguyễn Quang Anh
Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển, ĐHQGHN
Đặt vấn đề
Việt Nam là nước nhiệt đới gió mùa, có đường bờ biển dài và nhiều cửa sông, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành các cảng sông, biển
Từ xa xưa, người Việt cổ đã biết tận dụng những điều kiện này để xây dựng những bến cảng phục vụ cho việc đi lại và giao thương Các cảng lớn thường gắn liền với một đô thị nào đó, do vậy các cảng sông, biển này có ý nghĩa rất to lớn về mặt kinh tế xã hội
Tuy nhiên, khu vực cửa sông ven biển thường có sự biến động rất mạnh về địa hình, các con sông cũng liên tục uốn khúc và thay đổi dòng chảy Ngoài ra, các công trình thủy lợi như sông, đê biển, kênh đào cũng làm thay đổi đáng kể cấu trúc thủy văn của các con sông, làm mất đi những điều kiện cần thiết và thuận lợi của các cảng để có thể giao thương buôn bán Chính sự thay đổi này nhiều khi đã làm nên sự suy tàn, hay thậm chí
là biến mất của một số cảng cũng như đô thị cổ
Do đó, việc xác định vị trí và vai trò các cảng sông, biển cổ có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc phục dựng các điều kiện, dấu vết của các đô thị
cổ, các quá trình hoạt động kinh tế ngày xưa Công việc này cũng góp phần tạo cơ sở khoa học cho việc định hướng xây dựng các cảng biển hiện đại và quy hoạch định hướng cho các hoạt động kinh tế khu vực cửa sông ven biển
Về mặt lịch sử, vào thế kỉ XVII-XVIII ở Việt Nam đã xuất hiện các thương gia phương Tây đến buôn bán, một số trung tâm buôn bán lớn nổi lên như Thăng Long - Kẻ Chợ, Phố Hiến, Hội An… Đặc biệt vào thời kì này, các
Trang 2thương gia phương Tây có nhắc đến một con đường thông thương chính toàn khu vực phía Bắc được gọi là “Sông Đàng Ngoài” (Tonkin River) Vị trí cửa ngõ của con đường này nằm ở khu vực hạ lưu cửa sông Thái Bình Các tài liệu trên cũng nói đến một thương cảng lớn đầu tiên trong con đường
từ biển Đông đi tới Thăng Long có tên là cảng Domea
Tuy nhiên, từ những mô tả và ghi chép trên bản đồ và thư tịch cổ phương Tây đến vị trí của Domea trên thực địa vẫn còn là một nghi vấn lớn vì hai
lý do, thứ nhất, Domea chưa thấy đề cập trong các bộ chính sử Việt Nam đương đại cũng như những tài liệu địa phương; thứ hai, vùng cửa sông Thái Bình cũng như những vùng cửa biển khác của đồng bằng Bắc Bộ từ thế kỷ XVII-XVIII đến nay đã có những biến đổi về địa hình, gây khó khăn cho việc xác định vị trí bến cảng Cho đến nay, các nhà nghiên cứu vẫn chưa có được một ý kiến thống nhất về vai trò, chức năng và đặc biệt là vị trí của Domea Bài viết này trình bày việc xác định vị trí cảng Domea bằng việc phân tích, đối sánh sự biến động địa hình và thông tin rút ra từ các bản đồ cổ Đây cũng là hướng tiếp cận địa lý trong giải quyết một vấn đề mang tính lịch sử
1 Cơ sở tài liệu và phương pháp nghiên cứu
Domea là cái tên khá quen thuộc trên một số bản đồ và thư tịch cổ phương Tây về khu vực phía bắc Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII Theo mô tả
từ nguồn tư liệu này, Domea là một cảng quan trọng của các thương thuyền châu Âu tại vùng cửa sông Thái Bình Chính vì mối liên hệ giữa Domea với việc thông thương qua sông Đàng Ngoài mà lịch sử của nó cũng đầy biến động, lúc thăng lúc trầm theo nhịp độ buôn bán Các ghi chép của lái buôn
và thủy thủ phương Tây là nguồn tư liệu rất có ý nghĩa, đặc biệt là các bản
đồ mà họ vẽ lại về tuyến đường sông và những địa hình địa vật có liên quan Trong số những tư liệu này, chúng tôi tập trung vào những ghi chép của William Dampier [8] và phân tích những thông tin mang tính định lượng của ông Nguồn tư liệu khác là những công trình nghiên cứu mới đây về vai trò và vị thế của Domea qua các tư liệu lịch sử và thực địa [3,6] Qua đó để thấy được quy mô và thời gian hoạt động của bến cảng Ngoài ra, nguồn tư liệu khác nữa được sử dụng là bản đồ địa hình các thời kỳ, ảnh vệ tinh Aster, Landsat để phân tích các đê cát cổ, lòng sông cổ và biến động địa hình Theo hướng tiếp cận này, các phương pháp được sử dụng là phương pháp địa mạo trong phân tích biến động địa hình, phương pháp viễn thám
Trang 3để đọc thông tin trên ảnh vệ tinh về các lòng sông cổ, phương pháp khảo sát và điều tra thực địa để có những cái nhìn trực quan về khu vực nghiên cứu, phương pháp này cũng bổ sung rất hữu ích cho các phương pháp khác, phương pháp lịch sử và lôgic giúp cho việc nhìn nhận, lý giải, đánh giá khách quan các sự vật, hiện tượng liên quan trong những điều kiện lịch
sử cụ thể Phương pháp bản đồ và hệ thông tin địa lý được sử dụng nhiều trong việc phân tích chồng xếp các lớp thông liên quan
Sơ đồ nghiên cứu được tiến hành như sau:
Hình 1 Sơ đồ nghiên cứu
2 Đánh giá chung về điều kiện địa lý các cảng sông và biển cổ
Đầu tiên, cảng là nơi giao thương buôn bán, do đó phải có được một vị trí hết sức thuận lợi về mặt giao thông, thường là đầu mối của các con sông lớn, nằm trên đường giao thương chính Sông phải đủ lớn để tàu thuyền qua lại Các cảng cổ được chúng tôi phân tích là cảng Phố Hiến, cảng Hội An, cảng Vân Đồn, đều có các vị trí rất thuận lợi, đặc biệt là cảng Hội An nằm ở cửa sông Thu Bồn rất thuận lợi trong việc giao thương buôn bán vận chuyển hàng hóa đến toàn bộ xứ Quảng Hay như Phố Hiến là nơi gặp nhau của hai con đường thủy quan trọng dẫn đến Thăng Long Các bến cảng luôn gắn liền với các con sông tuy nhiên do sự biến đổi địa hình mà chúng không còn tồn tại đến ngày nay
Thứ hai, cảng phải là nơi có nền đất cao và ổn định hơn so với khu vực xung quanh Các cảng gần sông biển là nơi có thể bị ảnh hưởng bởi lũ lụt hay các đợt triều cường, do đó để tránh ngập lụt thì thường các cảng biển được xây
ở trên nền các đê cát cổ và các cảng sông thường được hình thành trên các gờ cao ven lòng Các vị trí này vừa có nền tảng địa chất tương đối vững chắc và
ổn định, lại vừa cao hơn so với các khu vực xung quanh Cảng Hội An nằm trên một dải đê cát cổ gần biển bị cắt bởi sông Thu Bồn là một ví dụ điển hình
Khảo sát thực địa
Vị trí chính xác
Vị trí thích hợp của các cảng cổ
Phân tích
đặc điểm
chung của
các cảng cổ
Đưa ra các tiêu
chí đánh giá khu
vực có khả năng
xây dựng cảng
Xác định lòng sông cổ Xác định hệ thống đê cát cổ Xác định vị trí tương đối
Tư liệu lịch sử
GIS
Trang 4Thứ ba, các cảng phải có những nơi neo đậu cho tàu thuyền, nhất là những cảng lớn thường có các khu vực neo đậu là các vịnh, đầm được che chắn bởi các dải cát ven biển hoặc các đảo hay núi Ví dụ như cảng Vân Đồn được bao bọc bởi một dãy đảo hay cảng Hội An nằm hơi lùi vào trong đất liền Cũng vì lí do này các cảng thường nằm sâu về phần đất liền từ vài ki-lô-mét đến khoảng hơn 10 km để tàu thuyền có thể an toàn trước bão và các đợt thủy triều mạnh
3 Tác động của yếu tố nhân sinh đến khu vực hạ lưu sông Thái Bình
Khu vực hạ lưu sông Thái Bình là một trong những khu vực có mật độ dân cư đông nhất trong hệ thống các huyện ven biển Bắc Bộ Hiện nay, các
hộ gia đình khu vực này chủ yếu làm nghề nông có kết hợp với nuôi trồng thủy hải sản Mặt khác, giao thông đường thủy và các hoạt động khai thác cát ở khu vực này khá phát triển Do đó các hoạt động của con người có tác động đến biến động của dòng sông ở khu vực này khá đa dạng và phức tạp Nếu chỉ xét về các tác động mang tính tự nhiên thì trong khoảng 200 năm các dòng sông không biến đổi quá nhiều, thực tế cho thấy, sự thay đổi của dòng sông Luộc và sông Hồng trên các bản đồ cổ của phương Tây so với hiện nay
là không nhiều Tuy nhiên khu vực hạ lưu sông Thái Bình có khá nhiều các hoạt động nhân sinh phức tạp gây ra một số thay đổi tương đối rõ rệt ở sông Văn Úc và sông Thái Bình Các hoạt động nhân sinh chủ yếu gây ảnh hưởng đến hệ thống sông ngòi là quai đê lấn biển, nạo vét sông ngòi, xây đập chặn dòng chảy Năm 1832-1833 có đào mới các đoạn sông Luộc ở Hưng Yên Năm
1936, Pháp đã cho đào đoạn sông Mới nằm giữa hai xã Tự Cường và Tiên Tiến
để nối thông các sông Thái Bình Việc đào sông Mới đã dẫn đến việc dồn một phần nước sông Luộc cung cấp cho sông Thái Bình được đổ vào sông Văn
Úc, đó cũng là một trong hai nguyên nhân chính dẫn đến việc sông Thái Bình
có xu hướng ngày càng teo nhỏ trong khi sông Văn Úc trở thành nhánh lớn nhất của hệ thống sông Thái Bình Ngoài ra việc đắp đập, cống cũng đã gây
ra hiện tượng suy yếu của các con sông Đập Đại Thắng đã chặn đoạn hạ lưu sông Thái Bình, điều này cùng với việc đào sông mới đã làm cho sông Thái Bình suy giảm hai nguồn nước chủ yếu và có nguy cơ chết dần Mặt khác, sự phân bố không đều của dòng phù sa do nhiều đoạn sông bị lấp chặn đưa đến các phương thức phát triển địa hình và đường bờ rất khác nhau Ngoài ra, xét trên toàn bộ đồng bằng Bắc Bộ các tuyến đê ngăn lũ và nước mặn đã cắt đứt nguồn nước và phù sa sông ngòi trao đổi trực tiếp với châu thổ Phần diện
Trang 5tích trong các tuyến đê không được bồi tụ hình thành các ô trũng cục bộ vốn
là các lạch triều chiếm diện tích đáng kể Việc chặt phá rừng đầu nguồn và xây dựng các hồ thủy điện ở thượng nguồn các con sông cũng làm thay đổi cán cân bùn cát, chế độ thủy văn vùng hạ lưu sông
4 Domea trên các bản đồ cổ
Một yếu tố hết sức quan trọng để xác định vị trí Domea chính là các bản
đồ cổ của phương Tây vẽ sông Đàng Ngoài hay còn gọi là Tonkin River Việc xác định một cách tương đối vị trí của cảng Domea sẽ góp phần xác định chính xác toàn bộ con đường thông thương với nước ngoài của Việt Nam thế
kỉ XVI-XVII Ngược lại bản đồ cổ cũng là một bằng chứng rất xác thực về vị trí của Domea Trong các bản đồ cổ thu thập được có 3 bản đồ có giá trị và đáng chú ý nhất, trong bài viết này cũng đi sâu phân tích về 3 bản đồ cổ này Bản đồ sông Đàng Ngoài của công ty Đông Ấn Hà Lan (Hình 2) vẽ toàn
bộ con đường đi từ biển vào đến Thăng Long của các thương nhân phương Tây Chữ trên tấm bản đồ này là chữ Hà Lan cổ hiện không đọc được nhưng bản đồ được vẽ hết sức chi tiết từng vị trí của các khúc uốn, các bãi bồi Ngoài
ra, trên bản đồ cũng có định hướng rõ ràng và có vẽ một đường vĩ độ Theo đánh giá của chúng tôi thì đây là đường chỉ tọa độ 20 độ 45 phút Về vị trí nằm ngay trên đỉnh của dải đất chứa cảng Domea, vĩ độ này cũng nằm ngay bên trên một điểm được đánh dấu trên bản đồ, điểm này được xác định là Phố Hiến ở Hưng Yên Quả thật, Phố Hiến cũng nằm ngay dưới vĩ độ 20 độ
45 phút Như vậy ta có thể tạm thời kết luận tấm bản đồ đã được vẽ tương đối chính xác về mặt toán học Từ đó ta có thể giải thích về con đường này như sau: đoạn sông chảy từ Thăng Long qua Phố Hiến đương nhiên là sông Hồng, sau đó đi tiếp đến ngã ba sông Hồng, sông Luộc thì rẽ vào sông Luộc
Đi men theo sông Luộc đến một ngã ba được vẽ trên bản đồ thì rẽ xuống vào sông Hóa và đi tiếp đến ngã ba giữa sông Thái Bình và sông Luộc Đây cũng chính là khu vực cửa sông Đò Mè theo cách gọi của người Việt và là khu vực cảng Domea Nhánh sông bên trên theo phỏng đoán có thể là sông Văn Úc hiện nay Trước đây, sông Văn Úc không lớn như bây giờ và đoạn nối giữa sông Luộc và sông Văn Úc là một đoạn sông nhỏ và được phỏng đoán là nằm
ở giữa khu vực ba xã đường 10 (xã Tự Cường, Đại Công, Đại Thắng) Có một
số quan điểm cho rằng đó là đoạn sông Mới (trước đây cũng từng là một dòng sông cổ đã tàn) nhưng khi nghiên cứu các bản đồ cổ chúng tôi thấy rằng điểm giao cắt giữa sông Luộc và sông Thái Bình nằm dưới đoạn sông nối này một
Trang 6khoảng Ở bản đồ cổ thứ 3 được trình bày bên dưới ta cũng hoàn toàn không thấy con sông nào ở vị trí sông Mới hiện nay Do đó, con đường chính đi từ biển vào đến khu vực Domea chính là con sông Thái Bình hiện tại
Hình 2 Bản đồ sông Đàng Ngoài thế
kỷ XVII của công ty Đông Ấn Hà Lan
Hình 4 Bản đồ khu vực cửa sông
Đàng Ngoài năm 1728, lưu trữ tại
công ty Đông Ấn Hà Lan
Hình 3 Bản đồ sông Đàng Ngoài thế kỷ XVII của công ty Đông Ấn Anh
Bản đồ sông Đàng Ngoài của công ty Đông Ấn Anh (Hình 3) nhìn qua thì có vẻ khác so với bản đồ của công ty Đông Ấn Hà Lan, mặc dù 2 bản đồ
vẽ cùng một con đường, nhưng nếu nghiên cứu kĩ ta thấy bản đồ của công
ty Đông Ấn Anh không được định hướng, tức là bản đồ này không được định sang hướng bắc thông thường mà xoay để vừa với chiều dọc của khổ giấy Vì thế chúng tôi đã tiến hành xoay tấm bản đồ lại và thấy rằng hai tấm bản đồ này có nhiều điểm giống nhau về mặt hình thái, nhưng bản đồ của người Hà Lan được vẽ chính xác hơn Điểm mạnh của tấm bản đồ này là chữ trên bản đồ là tiếng Anh và hoàn toàn có thể dịch lại để phân tích các thông tin Vị trí của phố Hiến được ghi là có một thương điếm của người Anh Một vị trí khác là chữ “pagoda” ở khu vực đối diện cảng Domea về phía bên kia sông được chúng tôi xác định là chùa Phúc Linh
Bản đồ sông Đàng Ngoài vẽ năm 1728 lưu trữ tại Công ty Đông Ấn Hà Lan (Hình 4) thực ra chỉ vẽ từ cửa biển đến một phần sông Luộc hiện tại Bản đồ này tỉ lệ lớn và được vẽ hết sức chính xác, có thể dùng để đối chiếu
Trang 7với các bản đồ hiện đại để thấy được chính xác con đường và các biến đổi của dòng sông
5 Xác định vị trí của Domea trên cơ sở phân tích biến động địa hình
Hoạt động uốn khúc của lòng sông là một quy luật tất yếu, quá trình biến động của lòng sông trong lịch sử thường để lại nhiều dấu vết cho tới tận ngày nay Đó là những dải địa hình trũng, có cấu trúc dạng tuyến uốn khúc và có độ ẩm rất cao Trên ảnh vệ tinh chúng thường thể hiện ở tông màu tối Dựa vào một số nghiên cứu trước đây về lòng sông Thái Bình cổ kết hợp với việc phân tích một số đặc điểm lòng sông trên ảnh vệ tinh, từ
đó chỉ ra các khu vực được cho là lòng sông cổ trên ảnh Aster năm 2005
Hình 5 Dấu vết lòng sông cổ trên ảnh vệ tinh Aster tại khu vực nghiên cứu
Qua những phân tích trên, những khu vực được xác định là dấu vết lòng sông cổ là những dải địa hình trũng có màu thẫm trên ảnh vệ tinh và được khảo sát thực địa Từ đó đánh dấu được con sông cổ trên ảnh Landsat năm 2001, tích hợp được lớp thông tin về lòng sông Thái Bình cổ, do sự biến động địa hình thì các lòng sông này có thể song song cùng tồn tại hoặc tồn tại riêng rẽ vào các thời điểm khác nhau Ta có thể thấy được là sông Thái Bình thời điểm trước đây là một con sông rất lớn, nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau mà nó đã bị thu nhỏ dòng chảy như ngày nay, ngoài ra, khi đến khu vực xã Khởi Nghĩa sông được tách ra làm hai Một dòng sông cổ hiện đã chết nhưng dấu tích vẫn còn rất rõ ràng trên thực địa
Trang 8Bản đồ nhà Nguyễn thế kỉ XVIII cũng đã thể hiện hai nhánh của sông Thái Bình và một hệ thống phức tạp các con kênh, lạch và sông nhỏ đan xen
Sơ đồ trên chỉ thể hiện đoạn sông Thái Bình có liên quan đến khu vực nghiên cứu chứ không phục dựng toàn bộ sông Thái Bình cổ, tiến tiếp về phía biển thì theo chúng tôi thời điểm đó đã là sát bờ biển
Song song với việc tồn tại
các lòng sông cổ là các đê cát
cổ Dựa vào một số nghiên
cứu trước đây về hệ thống đê
cát cổ [1,5,6], các tác giả đã xác
định lại các đê cát cổ trên ảnh
vệ tinh Landsat năm 2001: Các
dải đê cát thường là dải địa
hình sáng màu được biểu thị
cho các đường bờ cổ, các thế hệ
đường bờ cổ được thể hiện rất
rõ qua các dải đê cát Các đê cát
cùng tuổi lập thành một dải đê
cát dạng tuyến song song với
đường bờ biển Ở khu vực này ta thấy rõ có ba dải đê cát điển hình Một dải đê cát cổ nhất bắt đầu từ xã Khởi Nghĩa, đoạn đê cát này bị cắt bởi một lòng sông cổ, dải đê cát được kéo dài đến tận chân núi khu vực An Lão Một dải đê cát thứ hai bắt nguồn từ xã Cổ Am qua khu vực Toàn Thắng và Tân Trào Dải đê cát thứ ba gần biển nhất và còn lại khá rõ ràng đi qua khu vực Bạch Sa
Những điểm được đánh dấu đỏ trên hình 7 là các khu vực có điều kiện
tự nhiên tương đối thích hợp để đặt cảng Các khu vực này trước đây đều sát những con sông, nằm trên dải đê cát cổ có cấu trúc nền tảng bền vững,
ít chịu tác động của các đợt triều cường cũng như lũ lụt Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, chúng tôi xác định cảng Domea nằm ở vị trí xã Khởi Nghĩa
vì vị trí này hội tụ đầy đủ nhất các tiêu chí đánh giá, là cách xa biển, gần các vũng vịnh lớn để neo đậu tàu thuyền, trong khi đó khu vực Tiên Lãng như nhận định của một số tác giả thì chỉ nằm trên nhánh sông Thái Bình cổ và luồng lạch không lớn lắm, còn khu vực cuối cùng thì quá sát bờ biển Một
số khu vực khác thì ít có các điều kiện thuận lợi như trên hoặc thậm chí là không có Mặt khác, theo như ghi chép của William Dampier [8] thì bến
Hình 6 Hệ thống các đê cát cổ khu vực
cửa sông Thái Bình [6]
Trang 9cảng Domea nằm cách bờ biển từ 5 đến 6 lý (tức là 24 đến 29km), nếu như
ta đo trên bản đồ từ bờ biển vào sâu trong đất liền dọc theo sông Thái Bình thì khu vực xã Khởi Nghĩa cũng cách bờ biển một khoảng gần 29 km Điều này thêm minh chứng cho kết luận đã chỉ ra ở trên về vị trí của Domea
Hình 7 Hệ thống lòng sông cổ, đê cát biển và các vị trí thuận lợi
để xây dựng cảng
Kết luận
Qua việc phân tích một số điều kiện địa hình thuận lợi cho việc xác định
vị trí các cảng biển/sông cổ như ở vị trí giao thông thuận lợi, bên các nhánh sông đủ lớn cho tàu bè qua lại, gần các dải địa hình cao có cấu trúc ổn định
và vững chắc như gờ cao ven lòng hoặc đê cát cổ Tuy nhiên, không quá gần
bờ biển để có thể tránh các tác động trực tiếp của bão, gần đầm vịnh để có thể neo đậu tàu thuyền Chúng tôi đã xác định được 5 vị trí thuận lợi cho việc hình thành các bến thuyền tại hạ lưu khu vực sông Thái Bình
Dựa trên các bản đồ cổ và tư liệu viễn thám có thể khẳng định sự biến động về không gian của sông Thái Bình từ thế kỷ XVII đến đầu cuối thế
kỷ XIX là không nhiều Vì vậy con đường thông thương chính từ biển đến Thăng Long - Kẻ Chợ thế kỷ thứ XVI-XVII có thể xác định một cách tương đối theo lộ trình từ biển qua cửa rộng và đi theo sông Thái Bình sang sông Luộc đến Phố Hiến rồi ngược sông Hồng lên Hà Nội như ngày nay Trong năm vị trí tương đối thuận lợi cho việc hình thành các cảng sông thì chỉ có vị trí ở thôn An Dụ xã Khởi Nghĩa là hội đủ tất cả các điều kiện
Trang 10của các chỉ tiêu đánh giá Ngoài ra các nghiên cứu lịch sử và khảo sát thực địa cũng chỉ ra rằng khu vực này chính là vị trí chính xác nhất Do đó chúng tôi đưa đến kết luận đây chính là khu vực cảng Domea thế kỷ XVII-XVIII Phương pháp địa lý nói chung và địa mạo nói riêng có thể giải quyết thành công một số vấn đề lịch sử còn bỏ ngỏ Qua đó, chúng ta thấy được
sự cần thiết của các nghiên cứu liên ngành trong việc giải quyết các vấn đề khoa học liên quan đến phát triển kinh tế xã hội
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Đào Đình Bắc, Đặng Văn Bào, 1996 Phân tích địa mạo và diễn biến lòng sông
vùng hạ lưu sông Thái Bình, sông Hóa Tạp chí Các khoa học Trái Đất số 6/1996,
tr 85-88
2 Vũ Minh Giang, 2002 Một số vấn đề lịch sử Hải Phòng trong các thế kỷ XVI-XVIII,
Tham luận trình bày tại Hội thảo Khoa học về Lịch sử Hải Phòng, tháng 01 năm 2002
3 Nguyễn Quang Ngọc, 2001 Sông Đàng Ngoài và vị thế Phố Hiến xưa, Tạp chí
Văn hoá Nghệ thuật, số 10/2001
4 Nguyễn Viết Phổ, 1983 Sông ngòi Việt Nam, Nxb Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội,
tr 30-31
5 Phạm Quang Sơn, 2004 Nghiên cứu sự phát triển vùng ven biển cửa sông Hồng và
sông Thái Bình trên cơ sở ứng dụng thông tin viễn thám và hệ thông tin địa lý (GIS) phục vụ khai thác sử dụng hợp lý lãnh thổ Luận án Tiến sỹ Địa lý, lưu trữ tại Thư
viện Quốc gia Hà Nội
6 Trần Đức Thạnh, 2002 Đặc điểm địa hình và quá trình phát triển vùng đất Hải
Phòng, Tham luận trình bày tại Hội thảo Khoa học về Lịch sử Hải Phòng, Hải
Phòng, tháng 3 năm 2002, tr 22
7 Ban Nghiên cứu Lịch sử Hải Phòng, 1987 Đất và người Tiên Lãng, Nxb Hải
Phòng, tr 22
8 William Dampier, 2007 Một chuyến du hành đến Đàng ngoài năm 1688 (Bản dịch
của Hoàng Anh Tuấn) Nxb Thế giới