1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Bài giảng Động vật không xương sống ở nước - CĐ Thủy Sản

69 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Động vật không xương sống ở nước
Trường học Trường Cao Đẳng Thủy Sản
Chuyên ngành Nuôi trồng thủy sản
Thể loại Bài giảng
Năm xuất bản 2016
Thành phố Nha Trang
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 3,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU (5)
    • 1.1. Định nghĩa, đối tượng và nhiệm vụ môn học (5)
      • 1.1.1. Định nghĩa (5)
      • 1.1.2. Đối tượng (5)
      • 1.1.3. Nhiệm vụ của môn học (5)
    • 1.2. Phương pháp, kỹ thuật nghiên cứu (5)
      • 1.2.1. Phương pháp hình thái so sánh (5)
      • 1.2.2. Phương pháp giải phẫu (6)
      • 1.2.3. Phương pháp cổ vật học (6)
      • 1.2.4. Phương pháp sinh hóa học (6)
      • 1.2.5. Phương pháp địa lý học (6)
      • 1.2.6. Phương pháp cá thể phát triển (6)
      • 1.2.7. Phương pháp miễn dịch (6)
      • 1.2.8. Phương pháp chuẩn đoán huyết thanh (6)
      • 1.2.9. Điều tra cơ bản vùng nước (7)
    • 1.3. Một số thành tựu nghiên cứu, khai thác và sử dụng động vật không xương sống (9)
      • 1.3.1. Một số thành tựu nghiên cứu (9)
      • 1.3.2. Vai trò của động vật không xương sống ở nước (10)
  • CHƯƠNG 2 PHÂN LOẠI ĐỘNG VẬT PHÙ DU (11)
    • 2.1. Động vật nguyên sinh (Protozoa) (11)
      • 2.1.2. Dinh dưỡng (11)
      • 2.1.3. Di chuyển (11)
      • 2.1.4. Sinh sản (11)
      • 2.1.5. Phân bố và ý nghĩa (12)
      • 2.1.6. Phân loại và giống loài thường gặp (13)
    • 2.2. Giáp xác râu chẻ (Cladocera) (15)
      • 2.2.1. Đặc điểm hình thái phân loại (15)
      • 2.2.2. Dinh dưỡng (17)
      • 2.2.3. Sinh sản (17)
      • 2.2.4. Phân bố và ý nghĩa (18)
      • 2.2.5. Phân loại và giống loài thường gặp (19)
    • 2.3. Giáp xác chân mái chèo (Copepoda) (19)
      • 2.3.1. Đặc điểm hình thái phân loại (20)
      • 2.3.2. Dinh dưỡng (22)
      • 2.3.3. Sinh sản và phát triển (23)
      • 2.3.4. Phân bố và ý nghĩa (23)
      • 2.3.5. Phân loại và giống loài thường gặp (23)
    • 2.4. Luân trùng (Rotifer) (25)
      • 2.4.1. Đặc điểm chung (25)
      • 2.4.2. Phân bố và ý nghĩa (28)
      • 2.4.3. Phân loại và giống loài thường gặp (28)
    • 2.5. Thân mềm (mollusca) (29)
      • 2.5.1. Lớp chân bụng (Gastropoda) (29)
      • 2.5.2. Lớp hai mảnh vỏ Bivalvia (33)
    • 2.6. Chân khớp (Arthropoda) (36)
      • 2.6.1. Bộ giáp xác bơi nghiêng Amphipoda (36)
      • 2.6.2. Bộ giáp xác chân đều Isopda và Tanaidacea (37)
      • 2.6.3. Lớp phụ tôm Natantia (38)
      • 2.6.4. Lớp phụ cua Brachyura (41)
    • 2.7. Ruột khoang (Coelenterata) (43)
      • 2.7.1. Đặc điểm chung của ngành (43)
      • 2.7.2. Đặc điểm hình thái phân loại (45)
      • 2.7.3. Vai trò (47)
    • 2.8. Da gai (47)
      • 2.8.1. Đặc điểm chung của da gai (47)
      • 2.8.2. Phân loại (49)
      • 2.8.3. Vai trò của ngành (51)
  • CHƯƠNG 3 KHU HỆ THUỶ SINH VẬT (0)
    • 3.1. Khu hệ động vật không xương sống nước ngọt (52)
    • 3.2. Môi trường sống và các yếu tố ảnh hưởng (53)
    • 3.3. Cấu trúc khu hệ động vất không xương sống nước ngọt (0)
    • 3.4. Khu hệ động vật không xương sống nước mặn (56)
      • 3.4.2. Biến động số lượng theo không gian và thời gian (58)
  • CHƯƠNG 4 NUÔI SINH KHỐI ĐỘNG VẬT PHÙ DU (0)
    • 4.1. Nuôi Luân trùng (Rotatoria) (60)
      • 4.1.1. Đặc điểm (60)
      • 4.1.2. Kỹ thuật nuôi (61)
      • 4.1.3. Thu hoạch, thu gom luân trùng (67)
    • 4.2. Kỹ thuật nuôi Daphnia (67)
      • 4.2.1. Đặc điểm sinh học: Daphnia. Carinata thuộc giống Daphnia (67)
      • 4.2.2. Kỹ thuật nuôi D. carinata (68)

Nội dung

Bài giảng Động vật không xương sống ở nước gồm 4 chương, cung cấp cho người học những kiến thức như: Vai trò của động vật không xương sống ở nước, phân loại động vật phù du, khu hệ thuỷ sinh vật, nuôi sinh khối động vật phù du. Mời các bạn cùng tham khảo để biết thêm các nội dung chi tiết.

PHÂN LOẠI ĐỘNG VẬT PHÙ DU

Động vật nguyên sinh (Protozoa)

2.1.1.Đặc điểm hình thái phân loại a Hình dạng: Hình dạng cơ thể của các giống loài trong ngành Động vật nguyên sinh rất đa dạng ta gặp hầu hết các kiểu đối xứng của động vật như : Không đối xứng, đối xứng toả tròn (Amip có vỏ), đối xứng hai bên…một số có bộ xương trong tế bào chất hay có vỏ, một số có khả năng kết bào xác khi gặp điều kiện môi trường không thuận lợi b Cấu tạo: Là nhóm động vật đơn giản nhất trong giới động vật, cơ thể cấu tạo chỉ có một tế bào, tuy các phần của tế bào lại được phân hoá phức tạp (màng, nguyên sinh chất, nhân tế bào…) để đảm nhận các chức phận cơ bản của một cơ thể sống Đa số các giống loài có kích thước nhỏ thường không quá hàng trăm micromet

Hầu hết động vật nguyên sinh sống trong các thuỷ vực đều theo lối dị dưỡng, ngoại trừ một số ít giống loài như trùng roi thực vật có khả năng dinh dưỡng tự dưỡng Chúng thường ăn vi khuẩn, tảo đơn bào và thậm chí là các động vật nguyên sinh nhỏ hơn Ngoài ra, một số động vật nguyên sinh còn là ký sinh trên tôm cá và các động vật thuỷ sinh khác.

Di chuyển nhờ roi, chân giả, tiêm mao

Gồm hai hình thức sinh sản : vô tính và hữu tính a Sinh sản vô tính:

Sinh sản ở động vật nguyên sinh thường diễn ra qua hai hình thức chính: phân đôi nguyên nhiễm, một phương pháp phổ biến, và sinh sản hữu tính Một số loài thuộc lớp trùng ống hút Sutoria còn có khả năng sinh sản vô tính thông qua quá trình mọc chồi.

Bao gồm ba mức độ: đẳng giao, dị giao, noãn giao Ở lớp trùng cỏ

Infusoria có khả năng sinh sản hữu tính thông qua quá trình tiếp hợp, trong đó hai trùng cỏ áp mặt bụng vào nhau, tạo điều kiện cho miệng tiếp xúc Màng phin tan ra và cầu nối nguyên sinh chất hình thành giữa hai cá thể Màng nhân lớn cũng tan ra thành nhiều mảnh và tiêu biến, trong khi nhân nhỏ trải qua hai lần phân chia liên tiếp để tạo ra bốn nhân Trong số này, ba nhân sẽ tiêu biến, còn một nhân sẽ tiếp tục phân chia để hình thành nhân định cư và nhân di động.

Nhân di động của cá thể này sẽ kết hợp với nhân định cư của cá thể kia để tạo ra nhân kết hợp (Sycaryon) Sau khi tách rời, mỗi cá thể chỉ còn một nhân Chúng sẽ phân chia nhiều lần, trong đó một phần của nhân biến đổi phức tạp để tăng số lượng nhiễm sắc thể và làm phong phú thêm lượng ADN, hình thành nên nhân lớn, trong khi phần còn lại sẽ trở thành nhân nhỏ Quá trình tiếp hợp kết thúc tại đây.

Các đặc điểm về hình dạng, cấu tạo, kích thước và cơ quan vận chuyển, cùng với các hình thức sinh sản, là những yếu tố quan trọng trong việc phân loại động vật nguyên sinh Protozoa.

Hình 2.1 Phân đôi ở trùng biến hình

Hình 2.2 Tiếp hợp ở trùng roi

2.1.5 Phân bố và ý nghĩa Động vật nguyên sinh sống trong nước gặp cả ở nước ngọt, lợ, mặn Chúng có thể sống nổi, đáy hay sống ký sinh trên tôm cá hay các động vật thuỷ sinh khác Đa số động vật nguyên sinh sống nổi là thức ăn cho tôm cá và các động vật thuỷ sinh trong nước Người ta nghiên cứu thấy rằng ấu trùng các Trích, một loại cá kinh tế ở biển, thức ăn quan trọng của nó là bọn Tintinodae thuộc lớp Infusoria

Trong nghề nuôi trồng thủy sản, tác hại của động vật nguyên sinh là một vấn đề đáng lưu tâm Một số ký sinh như Zoothamnium và Vorticella bám vào mang, mắt và giáp đầu ngực của tôm, gây cản trở cho sự di chuyển, lột xác và trao đổi khí của tôm Điều này đặc biệt nghiêm trọng khi hàm lượng oxy hòa tan trong nước thấp, dẫn đến nguy cơ chết hàng loạt cho tôm.

Một số loài sống tự do đóng vai trò là nguồn thức ăn quan trọng cho các loài động vật phù du, do đó, chúng có thể được xem là nguồn thức ăn gián tiếp cho các đối tượng nuôi thủy sản.

Nguyên sinh động vật chủ yếu sống ký sinh trên người và động vật, trong đó trùng cỏ cá Ichthyophthirius gây bệnh điểm trắng ở cá nước ngọt, khiến cá gầy yếu và thường chết gần bờ, đặc biệt nghiêm trọng ở cá bột Trùng cỏ cá Trichodina thường ký sinh ở mang và da cá, phổ biến nhất ở cá bột dưới một tuổi Ngoài ra, trùng bào tử gai và vi bào tử trùng cũng ký sinh trong mô, xoang cơ thể và tế bào, gây tổn hại đáng kể cho nghề nuôi cá.

2.1.6 Phân loại và giống loài thường gặp

Phân lớp động vật nguyên sinh, đặc biệt là lớp trùng chân giả (Sacrodina), có vai trò quan trọng trong các thuỷ vực nội địa và liên quan chặt chẽ đến nghề nuôi trồng thuỷ sản Các đại diện của lớp này thường gặp trong môi trường nước ngọt, ảnh hưởng đến hệ sinh thái và sự phát triển của các loài thủy sản.

Hình 2.3 Trùng Leptophrys vorax có hình dạng không xác định

Lớp động vật có cấu tạo đơn giản nhất bao gồm khoảng 10.000 loài, trong đó 80% sống ở biển, số còn lại sinh sống trong nước ngọt, và một số loài có chế độ sống ký sinh Lớp này được chia thành ba phân lớp.

Giới thiệu một số giống loài thường gặp:

Họ Amip trần Amoebidea bao gồm những amip không có gai xương hoặc vỏ cứng, di chuyển nhờ các chân giả mà vị trí hình thành không cố định Hình dạng chân giả của chúng rất đa dạng, có thể là hình sợi, cánh sao hoặc chia nhánh, tùy thuộc vào từng loài Một số loài amip phổ biến thường gặp trong các thủy vực nước ngọt giàu chất hữu cơ như ao hồ, ruộng lúa và mương.

Loài thường gặp Amoeba proteus; Amoeba dubia; Amoeba discodes; Amoeba verrucosa; Ameoba radiosa; Ameoba gorgonian

Họ Difflugidae là một nhóm sinh vật có vỏ cứng được cấu tạo từ Kitin, với khả năng tiết ra ngoại chất để kết dính các hạt cát và mảnh vỏ tảo silic Vỏ của chúng có độ dày khác nhau và hình dạng thay đổi tùy theo từng loài Một trong những giống đại diện tiêu biểu của họ này là Difflugia, bao gồm nhiều loài khác nhau.

+ Difflugia Lebes có dạng lựu đạn, quả na

+ Difflugia Oblonga có dạng hũ đáy tròn

+ Difflugia acuminata có dạng hũ đáy nhọn

- Loài Centropyxis cornisei có dạng ấm giỏ Chân giả, hoặc ẩn trong vỏ hoặc thò ra hình ngón kéo vỏ đi

- Giống Euglypha vỏ mỏng do nhiều mảnh lục giác ghép lại Vành lỗ miệng vỏ hình răng cưa Chân giả hình sợi phân nhiều nhánh

Hình 2.4 Một số Amip có vỏ nước ngọt b Lớp trùng cỏ Infusonia:

Cơ quan tử chuyển vận của các sinh vật này là các lông bơi, với ít nhất hai loại nhân: nhân lớn đảm nhận chức năng dinh dưỡng và nhân nhỏ có vai trò sinh dục Phần lớn các loài thuộc phân lớp Ciliata có lông bơi suốt đời, trong khi một số loài chỉ phát triển lông bơi khi còn ở giai đoạn non thuộc phân lớp trùng ống hút.

Giáp xác râu chẻ (Cladocera)

2.2.1 Đặc điểm hình thái phân loại

Tất cả các loài trong bộ giáp xác râu chẻ đều có đặc điểm chung là sở hữu đôi râu thứ hai phân nhánh, tạo nên tên gọi của chúng Đây là những động vật nhỏ, chủ yếu sống trong các thuỷ vực nước ngọt và đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái thuỷ sinh vật nước ngọt.

Cơ thể được bao bọc bởi một lớp vỏ giáp, dính liền ở phần lưng và tách ra ở phần bụng Sự phân đốt của cơ thể không rõ ràng, chia thành ba phần chính: đầu, ngực và bụng Phần đầu nằm ở phía trước, có hình dạng khác nhau tùy thuộc vào từng giống loài; ví dụ, đầu của Moina có hình tròn, trong khi đầu của Daphnia kéo dài về phía trước tạo thành hình nhọn Trên đầu có nhiều phần phụ khác nhau.

- Mắt: có hai loại là mắt kép và mắt đơn

+ Mắt kép: vị trí ở giữa hai đôi râu, dạng lớn, màu sắc đen thẫm

+ Mắt đơn: vị trí ở giữa đôi râu 1 và mắt kép, dạng vệt đen lớn hay nhỏ

Các đặc điểm và số lượng, hình dạng, kích thước của mắt là đặc điểm để phân loại giáp xác râu chẻ

- Râu: có hai đôi râu là đôi râu 1 và đôi râu 2

Râu 1 có dạng nhỏ, không phân đốt và phân nhánh, với đầu nhọn thường mang các lông cảm giác Râu 1 của con đực lớn hơn so với con cái, giúp hỗ trợ cho việc bơi lội hiệu quả.

Đôi râu có hai dạng lớn, được phân thành hai nhánh với cấu trúc gồm phần gốc và phần ngọn Phần gốc bao gồm hai nhánh, mỗi nhánh có từ 2 đến 4 đốt, và trên mỗi đốt có nhiều sợi tơ phân bố Các đặc điểm như hình dạng, kích thước và số lượng sợi tơ trên mỗi đốt là những yếu tố quan trọng để phân loại.

Miệng của động vật thuộc họ Chydoridae có cấu trúc phức tạp, bao gồm một đôi hàm lớn và hai đôi hàm nhỏ Đặc biệt, chúng có tấm che bên ngoài gọi là tấm môi Hình dạng và kích thước của tấm môi là những đặc điểm quan trọng giúp phân loại giống và loài trong bộ này.

Hình 2.6 Đại diện giáp xác râu chẻ Moina

Phần ngực là bộ phận lớn nhất của cơ thể, chiếm phần lớn thể tích Hình dạng phần ngực có sự khác biệt giữa các giống loài, với nhiều hình dáng khác nhau, chẳng hạn như hình tròn ở một số loài.

Moina có hình cầu giống như Chydorus, trong khi Diaphanosoma có cơ thể kéo dài Phần ngực của chúng có các đặc điểm như cạnh lưng, cạnh bụng và các cạnh trên vỏ giáp có thể liên tục hoặc kéo dài thành gai Vỏ giáp có thể xuất hiện các hình mạng ô (Ceriodaphnia) hoặc kẻ sọc (Pleuroxus), và những đặc điểm này, cùng với hình dạng, kích thước, số lượng gai, là cơ sở để phân loại Phần ngực có 4-6 đôi chân ngực dạng chân lá với hai nhánh, trên đó có nhiều sợi tơ dày đặc, và ở gốc chân ngực có các thuỳ mang Khi chân ngực hoạt động, chúng tạo ra dòng nước mang theo thức ăn và cung cấp oxy cho cơ thể.

Đuôi bụng (Postabdomen) là phần kéo dài của bụng, có hình dạng khác nhau tùy thuộc vào từng giống loài Phần tận cùng của đuôi bụng thường có vuốt ngọn Trên mặt bên của đuôi bụng, thường xuất hiện các đám tơ hoặc gai phân bố ở cạnh trên Những đặc điểm về hình dạng, số lượng gai và tơ của đuôi bụng đóng vai trò quan trọng trong việc phân loại giống và loài trong bộ Cladoera.

Hầu hết các loài Cladocera lấy thức ăn theo cách thụ động, ngoại trừ một số ít như Leptodora có tính ăn thịt Chúng sử dụng các đôi chân ngực để tạo ra dòng xoáy, giúp nước chảy vào xoang mang và mang theo thức ăn như vi khuẩn, tảo đơn bào và nguyên sinh động vật Cladocera sẽ chọn lọc thức ăn dựa trên kích thước miệng của chúng; ví dụ, loài M affinis với chiều dài cơ thể trên 0,4mm có khả năng lọc thức ăn có kích thước dưới 40µm, với đường kính từ 10 – 15µm.

2.2.3 Sinh sản a Hệ sinh dục

Trong quần thể Cladocera, chủ yếu chỉ có con cái, với hệ sinh dục bao gồm đôi buồng trứng kéo dài từ đôi chân ngực đến cuối bụng, cùng ống dẫn trứng ngắn hướng về phía sau Trong giai đoạn sinh sản, buồng trứng chứa trứng hoặc con nhỏ đang phát triển.

Trứng được lưu trữ trong buồng trứng nằm ở phía lưng của con cái Buồng trứng của Daphnia hoàn toàn kín, trong khi buồng trứng của Moina lại mở Trong buồng trứng, chúng ta có thể quan sát thấy trứng hoặc con non của chúng.

Trứng cái, hay còn gọi là trứng mùa hè, xuất hiện trong điều kiện môi trường thuận lợi, thể hiện sự sinh sản đơn tính của con cái Tất cả các trứng này đều nở ra con cái với số lượng nhiễm sắc thể là 2n Kích thước trứng cỏi của M affinis dao động từ 94 đến 95 mm, và số lượng trứng phụ thuộc vào từng loài, thường từ 5 đến 10 trứng mỗi lần.

Trứng đực có số lượng nhiễm sắc thể là n, kích thước nhỏ, khoảng từ 60 – 80 µm ở M affinis, và được bao quanh bởi một màng mỏng Trứng xuất hiện nhiều lần trong năm.

Trứng nghỉ, hay còn gọi là trứng mùa đông, xuất hiện khi môi trường sống không thuận lợi, chẳng hạn như mật độ quần thể cao, thiếu thức ăn hoặc nhiệt độ thấp Những trứng này có số lượng nhiễm sắc thể là 2n và kích thước từ 0,5-0,65mm Chúng được bao bọc bởi màng citin vững chắc và thường chỉ có một trứng nghỉ trong mỗi lần sinh sản.

Trong vòng đời của Cladocera có hai hình thức sinh sản vô tính và hữu tính tuỳ theo điều kiện sống mà hình thức nào chiếm ưu thế

Khi môi trường thuận lợi, quần thể Cladocera sinh ra trứng cái, từ đó nở ra những con cái qua nhiều thế hệ Ngược lại, khi gặp điều kiện không thuận lợi, hình thức sinh sản hữu tính xuất hiện với sự xuất hiện của con đực và con cái mang trứng nghỉ Những trứng này được thụ tinh và nằm trong buồng trứng, nhưng khi điều kiện sống không tốt, con mẹ có thể chết, khiến trứng chìm xuống đáy thủy vực Nhờ vào vỏ dày và chắc chắn, trứng được bảo vệ trước những điều kiện khắc nghiệt Khi môi trường trở nên thuận lợi, những trứng này sẽ nở hàng loạt, tạo ra các cá thể non mới và hoàn thành vòng đời của chúng.

2.2.4 Phân bố và ý nghĩa a Phân bố

Giáp xác chân mái chèo (Copepoda)

Giáp xác chân mái chèo là một thành phần quan trọng trong hệ sinh thái nước, bao gồm các sinh vật di chuyển nhờ chân ngực Những chân này được gắn liền với cơ thể bằng tấm kitin mỏng, giúp chúng hoạt động đồng bộ như mái chèo, do đó chúng được gọi là giáp xác "chân mái chèo".

2.3.1 Đặc điểm hình thái phân loại

Hình 2.7 Hình dạng của Giáp xác chân mái chèo

1.Râu 1; 2 Râu 2; 3 Giáp đầu ngực; 4 Đốt đầu; 5 Đốt ngực; 6 Đốt bụng; 7 Đốt bụng (đốt sinh dục); 8 Trứng; 9 Chạc đuôi; 10 Tơ đuôi; 11 Mắt; 12 Ruột;

13 Cơ dọc; 14 Tuyến trứng; 15 Túi trứng

Giáp xác chân chèo là động vật giáp xác nhỏ, thường có chiều dài từ 0,5 đến 4mm, trong khi những loài sống ở biển sâu như Megacalanus và Bathycalanus có thể đạt kích thước từ 10 đến 12mm Hình dạng của giáp xác chân chèo rất đa dạng, phụ thuộc vào điều kiện sống, với các loài có hình trứng (Oithonidae), hình bầu dục (Cyclopidae) và hình lá (Centropagidae).

Giáp xác chân chèo sống tự do có cơ thể và các phần phụ phát triển đầy đủ, trong khi chân chèo sống ký sinh lại có cơ thể và các phần phụ bị tiêu giảm rõ rệt.

Cơ thể giáp xác chân chèo được cấu tạo từ 16-17 đốt, nhưng do một số đốt hợp lại, tổng số đốt thường không vượt quá 11 Cơ thể chia thành hai phần chính: phần đầu ngực (Cephalothorax) và phần bụng (Abdomen).

Bài viết mô tả cấu trúc của cơ thể một số loài động vật giáp xác, trong đó có 5 đốt, với đốt I thường dài hơn các đốt khác do sự kết hợp của năm đốt đầu và một đốt ngực Đặc điểm hình dạng của đốt này rất đa dạng, có thể là hình tròn (Paracalanus), hình tam giác (Eucalanus) hoặc hình mỏ neo (Rhincalanus) Các đốt ngực còn lại thường được tạo thành từ sự hợp nhất của các đốt, dẫn đến sự tồn tại chỉ còn lại 3-4 đốt Góc bên sau của đốt ngực cuối cùng là đặc điểm phân loại quan trọng, với các dạng như góc tù (Paracalanus), nhọn (Candaeta) hay lồi dạng gai (Pontellopsis) Ở con đực, góc bên sau thường biến dạng và không đối xứng, đặc biệt ở nhóm Cylopoida, nơi đốt ngực V hẹp gần bằng các đốt bụng, dẫn đến sự nhầm lẫn Phần bụng (Aldomen) ở các nhóm Calanoida, Cydopoida và một số Harpacticoida thường thót nhỏ lại rõ rệt so với phần đầu ngực, giúp phân biệt dễ dàng.

Harpacticoida phần bụng không thót nhỏ lại so với phần đầu ngực vì thế khó phân biệt hai phần này (cơ thể dạng ống)

Phần bụng của Copepoda được cấu tạo từ 5 đốt, nhưng ở con cái, số đốt ít hơn do một số đốt hợp lại, đặc biệt là đốt bụng I và II Mặt bụng có lỗ sinh dục, là đặc điểm quan trọng để phân loại; đốt sinh dục của con đực thường ngắn hơn và đốt thứ hai có lỗ sinh dục bên trái, dẫn đến sự mất đối xứng Đốt cuối cùng của phần bụng là đốt hậu môn, mang lỗ hậu môn và có thể có các cấu trúc phụ như màng, gờ, gai, đóng vai trò quan trọng trong phân loại các nhóm Harpacticoida Tận cùng của phần bụng là chạc đuôi (Furca), bao gồm hai nhánh với hình dạng khác nhau tùy theo từng bọn: Cydopoida thường có chạc đuôi dài và vuông góc, trong khi Calanoida có thể ngắn và tròn đều (Diaptomidae) hoặc hẹp dài (Centropagidae), còn Harpacticoida thường có chạc đuôi rất ngắn.

Trên chạc đuôi có các tơ gồm:

- Bốn tơ ngọn dạng lông chim đó là: tơ ngoài, tơ giữa ngoài, tơ giữa trong và tơ trong mọc ở đỉnh của chạc đuôi

- Tơ cạnh ngoài (tơ bên) gồm 1-2 tơ mọc ở cạnh ngoài chạc đuôi mỗi bên

Tơ lưng của giáp xác chân mái chèo bao gồm một tơ mọc ở mặt lưng gần đầu ngọn chạc đuôi Các phần phụ của chúng thường có dạng một hoặc hai nhánh ở phần đầu ngực, trong khi phần bụng không có phần phụ Sự khác biệt giữa phần phụ của con đực và con cái chủ yếu thể hiện qua cấu tạo của râu I và chân ngực V.

Các phần phụ đầu gồm có: đôi râu I, đôi râu II, đôi hàm trên, đôi hàm dưới

I và II, đôi chân hàm, giáp xác chân chèo chỉ có một mắt

Đôi râu I có từ 4-26 đốt dài, là đặc điểm phân loại quan trọng, với nhiều lông cứng ở con cái có cấu tạo đối xứng, trong khi con đực thường mất đối xứng và biến thành cơ quan ôm với các đốt biến dạng Hình dạng, độ dài, số lượng đốt và vị trí cơ quan ôm là những yếu tố phân loại chính Đặc biệt, ở họ Diaptomidae, con đực có phần phụ đặc trưng tại đốt thứ 3 Đôi râu II ngắn gồm 2 nhánh, trong khi đôi hàm trên có tấm kitin sắc và xúc biện hàm với một hoặc hai nhánh Đôi hàm dưới I có 2 nhánh dạng lá mỏng, còn đôi hàm dưới II và đôi chân hàm có dạng một nhánh phân đốt.

Phần phụ ngực của giáp xác chân chèo gồm 5 đôi chân ngực, trong đó 4 đôi đầu tiên có cấu tạo đồng nhất với phần gốc gồm 2 đốt (Coxa và Basis) và phần ngọn chia thành hai nhánh: nhánh trong (endopodit) và nhánh ngoài (exopodit), mỗi nhánh có 2-3 đốt Trên các đốt có tơ và gai, với số lượng và độ dài tơ, gai ở đốt ngọn của nhánh trong và nhánh ngoài đặc trưng cho từng giống loài Chân ngực V có sự biến đổi lớn, là căn cứ quan trọng trong phân loại giáp xác chân chèo, và trong bộ Calanoida, cấu tạo của chân ngực V ở con đực và con cái có sự khác biệt rõ rệt.

- Chân ngực V con cái chia 3 loại:

Loại 2 nhánh có cấu tạo đa dạng tùy thuộc vào từng loại Nhánh nguyên thủy nhất có cả nhánh trong và nhánh ngoài phát triển giống như đôi chân trước, phục vụ cho việc bơi lội Trong khi đó, một số loại có nhánh ngoài phát triển mạnh mẽ, trong khi nhánh trong lại có dấu hiệu thoái hóa.

Undinula, Pontellia) một số loài có nhánh ngoài nhánh trong cùng thái hoá ( Labidocera)

Nhánh trong của loại 1 có thể mất hẳn, trong khi nhánh ngoài có thể thái hoá ở các mức độ khác nhau Có nhiều loại nhánh như loại 4 đốt (Eurytemorra, Pleuromanma), loại 3 đốt (Rhincalanus), loại 2 đốt (Paracalanus), hoặc loại một đốt (Microcyclops varicans) Đặc biệt, có loài chỉ còn lại chân trái với 3 đốt như Stenocalanus.

+ Chân ngực V hoàn toàn mất hẳn như Eucalanus, Euchaeta, Pseudocalanus

Chân ngực V của con đực đã phát triển thành cơ quan giao cấu, với sự biến đổi đáng kể so với con cái Cấu trúc của chân ngực V con đực rất phức tạp và được chia thành hai loại khác nhau.

Loại hai nhánh là loại nguyên thủy, trong đó cả nhánh trong và nhánh ngoài đều phát triển với cấu tạo tương tự như chân bơi (Calanus) Một số loại có nhánh trong hơi thoái hóa, với chân trái và chân phải không giống nhau.

Loại một nhánh trong nhóm Cydopoida chỉ còn lại nhánh ngoài với sự đối xứng trái phải, hoặc có thể mất đối xứng do sự khác biệt về số lượng đốt dài ngắn Một số loài chân ngực V như Labidocera và Condacia có sự phát triển và cấu tạo rất phức tạp Ngoài ra, một số loài như Paracalanus và Eucalanus có chân trái dài hơn chân phải, trong khi Colocalanus lại có chân phải dài hơn chân trái Một số loài như Aetideus lại cho thấy chân phải bị thoái hóa rõ rệt.

Đa số các loài giáp xác chân mái chèo lấy thức ăn bằng cách lọc, trong khi một số loài như Lernea và Ergasilus là ký sinh trên cá và tôm Ngoài ra, một số giáp xác chân chèo còn bắt các sinh vật nhỏ như trứng cá và cá con, gây hại trong nghề ương ấp cá.

Luân trùng (Rotifer)

Trùng bánh xe là nhóm động vật đa bào kích thước vi mô, thường từ 1-3 mm, với một số loài như Ascomopha munima chỉ dài 40 micro Chúng có cơ thể hình cầu, trong khi hầu hết các loài khác được chia thành ba phần chính: đầu, thân và chân.

Hình 2.8 Cấu tạo ngoài và cấu tạo trong trùng bánh xe

26 a Đầu thường không giới hạn với thân, có lớp cuticun mỏng bao ngoài

Xung quanh miệng có vành tia mao, bao gồm hai vòng gọi là vòng tia mao đầu, giúp hình thành cơ quan vận chuyển và cuốn thức ăn vào miệng Các kiểu vành tia mao khác nhau tùy thuộc vào từng nhóm sinh vật.

Kiểu Euchlanis là một loại phân tia mao phát triển mạnh ở phía trước vùng miệng, với vành tia mao khỏe Phần còn lại của vành tia mao quanh miệng cong vào phía trong tạo thành phễu, không chia thành vòng trên và vòng dưới Đại diện tiêu biểu cho kiểu này là Brachlonidae.

* Kiểu Hexathra Vành tia mao quang miệng nhỏ vòng tia mao quanh đầu phát triển mạnh Đại diện là bộ phụ Flosculariacea trừ họ Conochilidae

Kiểu Philodina có một vòng tia mao ở đầu, chia thành hai vòng nhỏ Giữa hai vòng này có vòi, và phía trước miệng nhỏ nằm trên vòi Đại diện cho kiểu này là họ Philodinidae.

* Kiểu Conochilus vành tia mao có hình móng ngựa, vàng tia mao miêng nằm ỏ phía lưng Đại diện là họ Conochilidae

Kiểu Asplanchna có các hàng tia mao phát triển ở bờ trên vùng miệng, nối với vành tia mao quanh đầu, trong khi vành tia mao quanh miệng thường bị tiêu giảm và có mấu lòi Các họ đại diện bao gồm Asplanchnidae, Synchaetidae, Gastropodidae, Trichocercidae và một số loài thuộc họ Notommatidae.

Kiểu Notommatidae có vành tia mao quanh miệng và đầu lớn, đôi khi có mấu lồi tia mao Chúng có khả năng bơi hoặc bò trên giá thể, với đại diện tiêu biểu thuộc họ này.

* Kiểu Dicranophorus có vành tia mao quanh miệng lớn, vành tia mao quanh đầu tiêu giảm chỉ còn 2 túm, đầu kéo dài thành mỏ Đại diện là họ

* Kiểu Adineta vành tia mao ở miệng lớn, có chùm tia mao ở vòi, chỉ còn ít ở quanh đầu Chúng sống bò Đại diện là bộ Adineta

Kiểu Collotheca có vành tia mao quanh miệng, chỉ còn lại lẻ tẻ ở mép trên của đai quanh đầu, với nhiều lông dài giúp đưa thức ăn vào miệng Đại diện cho kiểu này là con cái của bộ Collotheca, có chùm cơ ở đầu giúp co thụt hoặc thò ra ngoài Thân của chúng được bao bọc bởi lớp vỏ cuticun dày, có tiết diện tròn, dẹt theo chiều lưng bụng hoặc dẹp bên, trong khi các nội quan nằm bên trong thân.

Dưới lớp vỏ, có một lớp biểu mô đơn với các chùm cơ giúp điều khiển chuyển động của phần đầu và thân Xoang cơ thể là xoang nguyên sinh, nằm ngay dưới lớp biểu mô này.

Ống tiêu hóa bắt đầu từ miệng ở mặt bụng phần đầu, tiếp theo là hầu Trong hầu có cơ quan nghiền được cấu tạo từ các tấm kitin theo kiểu "đe và búa", với nhiều kiểu bộ máy nghiền đại diện cho các họ và giống loài khác nhau.

Kiểu Malles có sự phát triển đầy đủ của các phần xương, với phiến nghiền ngắn nhưng rộng Đặc điểm nổi bật là đôi nhánh động khỏe mạnh không có răng ở bờ trong, cùng với đôi răng một mảnh có nhiều răng giúp nhai nghiền và giữ mồi hiệu quả.

Kiểu Virgatus : phiến nghiền là một que dài, đôi nhánh đông hình lá lớn, mỏng, không có răng, ống hầu ngắn hoặc không có Đại diện là Notommatidae,

Gastropodidae, Trichocercidae, Notommatidae, mic rocođiniae

Kiểu Forcipatus phiến nghiền mảnh, đôi nhánh động khỏe cong bờ trong có răng, có một răng, không có ống hầu Đậi diện Dicranophoridae

Kiểu incudatus phiến nghiền là một bản vuông rộng, đôi nhánh động có hình kẹp nhọn và khỏe, răng mảnh Đại diện họ Asplanchnidae

Kiểu Ramatus phiến nghiền tiêu giảm, răng dài nằm trong đôi nhánh động, thích ứng với lối nhai thức ăn Đại diện là bộ phụ Bđelloiae

Kiểu Uncinatus hầu là một loại tú lớn với thành cơ mỏng, bên trong chứa tuyến dạ dày, trong khi bộ máy tiêu hóa đã giảm thiểu chỉ còn lại những tấm xương mỏng Đại diện cho kiểu này là họ Collothecacea.

Tiếp theo là thực quản, dạ dày, ruột cuối cùng là huyệt Thức ăn trong ống tiêu hoá từ 2-20 phút

Hệ thần kinh của Rotatoria đơn giản, với một hạch hầu từ đó phát triển nhiều dây thần kinh chạy lên phía trước và phía sau cơ thể, đặc biệt là hai dây thần kinh bên cạnh ruột kéo dài đến chân Tua đầu gồm ba chiếc có chức năng xúc giác, trong khi phần lớn Rotatoria sở hữu mắt nằm ngay trên hạch hầu, với cấu trúc đơn giản bao gồm một thể thủy tinh nằm trên cốc sắc tố.

Hệ tuần hoàn và hệ hô hấp không có Hệ bài tiết theo kiêu nguyên đơn thận, sản phầm bài tiết đổ ra ngoài qua lỗ huyệt

Rotatoria là nhóm sinh vật phân tính dị hình, trong đó con đực thường ít và nhỏ hơn con cái Con cái có tuyến trứng gồm hai thuỳ nằm ở cuối thân, dưới ống tiêu hóa, với hai phần: phần sinh sản trứng và phần cung cấp chất dự trữ Ống dẫn trứng của con cái đổ ra ngoài qua lỗ huyệt Trong khi đó, con đực có hệ tiêu hóa và bài tiết giảm thiểu, chỉ có một tuyến tinh và ống dẫn tinh, kết thúc ở huyệt tận cùng, đóng vai trò trong quá trình giao phối Đáng chú ý, con đực thường chết ngay sau khi thụ tinh với con cái.

Dựa vào kích thước và hình dạng để phân biệt 3 dạng:

+ Trứng lớn vỏ mỏng, phát triển đơn tính thành con cái

+ Trứng bé vỏ mỏng, phát triển đơn tính thành con đực

+ Trứng lớn vỏ dày là sản phẩm sinh sản hữu tính thường sống tiềm sinh qua đông nở thành con cái

Trứng của trùng bánh xe thường được dính thành từng chùm hoặc dải ở cuối cơ thể mẹ Nghiên cứu cho thấy khi có sự xuất hiện của trùng đực, số lượng trùng cái giảm đáng kể, cho thấy cơ chế này có thể bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi của các yếu tố môi trường nước Việc hiểu rõ cơ chế này có thể giúp tăng cường số lượng trùng bánh xe trong các thủy vực nuôi cá.

Chân là một bộ phận cơ thể có cấu trúc cuticun chia thành các đốt và kết thúc bằng nhú khớp linh động Tại gốc nhú có tuyến dính giúp động vật bám chặt hoặc tạm thời vào giá thể Chân cũng bao gồm cơ vòng và cơ dọc phát triển, tạo nên khả năng di chuyển linh hoạt.

Trùng bánh xe là một trong những thành phần thức ăn tự nhiên rất quan trọng của cá

Thân mềm (mollusca)

Nằm trong ngành động vật thân mền Mollusca a Đặc điểm hình thái phân loại vỏ ốc nước ngọt

Thân mềm chân bụng sống trong các thủy vực nước ngọt gồm ốc mang trước (Prosobrachia) và ốc có phổi (Pulmonata) Cả hai loại đều có vỏ xoắn ốc, tuy nhiên, ốc mang trước luôn có nắp miệng, trong khi ốc phổi thì không có.

Cơ thể ốc được bảo vệ bởi vỏ, với vỏ cuộn xoắn quanh một trục, tạo thành các vòng xoắn bắt đầu từ đỉnh và kết thúc tại miệng vỏ Ở ốc nước ngọt, các vòng xoắn chồng lên nhau, tạo thành trụ ốc chạy dọc theo ruột, trùng với trục vỏ Trụ này có thể rỗng và mở ra gần miệng vỏ, hình thành lỗ rốn, hoặc có thể dày và không có lỗ rốn Các vòng xoắn có thể nằm trên một mặt phẳng như ở họ Planorbidae, hoặc trên các mặt phẳng khác nhau, tạo thành tháp ốc lồi.

Hình 2.9 Cấu tạo vỏ ốc

1 Đỉnh vỏ; 2 Vành xoắn; 3 Nắp miệng; 4 Vành miệng; 6 Lỗ rốn; 8 Rãnh xoắn;

10 Trô èc; 1-5 chiÒu cao; 7-9 ChiÒu réng

Miệng vỏ ốc là điểm thông giữa ốc và môi trường bên ngoài, bao gồm bờ trụ (bờ trong hoặc bờ dưới) và vành miệng ngoài (bờ ngoài hoặc bờ trên) Hình dạng lỗ miệng vỏ thay đổi theo từng giống loài, có thể tạo thành đường viền liên tục hoặc ngắt quãng ở bờ trụ Các đặc điểm như hình dạng, màu sắc, kích thước, số lượng vòng xoắn, rãnh xoắn, cũng như đặc điểm về lỗ rốn và gai là những yếu tố quan trọng trong việc phân loại ốc.

Trong việc phân loại ốc nước ngọt, các đặc điểm của lưỡi gai và cơ quan sinh dục lưỡng tính ở ốc có phổi (Pulmonata) đóng vai trò quan trọng Cấu trúc lưỡi gai của mỗi loài rất đặc trưng về hình dạng và số lượng, cho phép phân biệt giữa các loài Trên một hàng răng, có thể nhận diện sự đối xứng giữa bên trái và bên phải, bao gồm các loại gai như gai giữa (c), gai bên (1), gai trung gian (i) và gai rìa (m) Công thức lưỡi gai thường được sử dụng để thể hiện đặc điểm cấu tạo của lưỡi gai một loài cụ thể.

Nghĩa là trên lưỡi gai có :

1 gai ở giữa (c) mỗi gai có 1 răng

1 gai ở bên (l) mỗi gai có 3 răng

2gai ở trung gian (i) mỗi gai có 2 răng

8 gai ở rìa (m) mỗi gai có 3-4 răng b Dinh dưỡng

Ốc chủ yếu ăn mùn bã thực vật và rêu nấm, trong khi một số loài như ốc bươu vàng còn tiêu thụ lúa và rau Ngoài ra, có những loài ốc ăn thịt, thức ăn của chúng có thể bao gồm giun, sứa và hầu.

Cơ quan sinh dục của chân bụng có thể là phân tính hoặc lưỡng tính, và chúng sinh sản hữu tính Chân bụng thường thực hiện thụ tinh trong và có thể đẻ trứng hoặc đẻ con (Viviparidae) Trứng của chân bụng thường được đẻ thành từng đám, bám vào cây thủy sinh như ốc Lymnaea hoặc vào hốc đốt như ốc nhồi và ốc sên Đối với các loài ốc sống ở nước lợ và nước mặn, quá trình phát triển của chúng trải qua các giai đoạn ấu trùng luân cầu (Trochophora) và ấu trùng Veliger.

Hình 2.10 Sự phát triển của ốc Patella a ấu trùng luân cầu Trochophora; b ấu trùng

Veliger tr−ớc khi vặn xoắn; c

Ấu trùng Veliger có cấu trúc phức tạp với nhiều bộ phận quan trọng như chùm lông đỉnh, lông ở nửa bán cầu trên, và vành lông trước miệng Miệng và dải phôi giữa cũng đóng vai trò thiết yếu, cùng với vỏ và bao nội tạng Các phần như áo, lông ở phía sau cơ thể, mầm chân và ruột từ Đôgen giúp tạo nên hình dạng đặc trưng của ấu trùng Ấu trùng Veliger sở hữu hai màng bơi hình nửa vòng tròn với lông dài, và trong quá trình phát triển, nó lần lượt hình thành chân, mắt, tua cảm giác, vỏ xoắn do sự sinh trưởng không đều của các phần cơ thể Giai đoạn phát triển này bao gồm sự xoắn vỏ và khối phủ tạng 180 độ.

Một số loài ốc mang trước sống ở biển như Conus và Natica, cùng với hầu hết các loại ốc mang trước nước ngọt và ốc phổi, có quá trình sinh sản đặc biệt Chúng nở trứng trực tiếp thành con non, trong đó ấu trùng luân cầu (Trochophora) và ấu trùng Veliger phát triển bên trong trứng.

Lớp chân bụng gặp cả trong nước ngọt, lợ, biển

Các giống loài trong lớp chân bụng đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm cho con người và chăn nuôi, như là nguồn thức ăn cho vịt, ngan và cá trắm đen, chép Ngoài ra, các loại vỏ ốc đẹp còn được sử dụng trong ngành đồ mỹ nghệ và trang trí, mang lại giá trị thẩm mỹ cao.

Một số loại ốc như ốc bươu vàng được xem là địch hại trong nghề nuôi nhuyễn thể và nông nghiệp, gây thiệt hại cho lúa và rau Phân loại và giống loài ốc thường gặp trong các thuỷ vực nước ngọt rất đa dạng, cần được nghiên cứu và quản lý hiệu quả.

Lớp chân bụng Gastropoda được phân làm 3 phân lớp Giới thiệu các giống loài thường gặp

* Phân lớp ốc mang trước Prosobranchia:vỏ có nắp miệng Trong các thuỷ vực nước ngọt gặp một số họ:

Họ Thiaridae có đặc điểm vỏ dài với chiều cao lớn hơn hai lần chiều rộng, vòng xoắn cuối thường ngắn hơn nửa chiều cao vỏ Vỏ của chúng thon dài và một số đại diện phổ biến thường gặp ở sông, ao, và ruộng như các giống Thiara, Sermyla, Taberia, và Melanoides.

- Họ Pilidae: vỏ ngắn, chiều cao vỏ gần bằng 2 lần chiều rộng, ốc có dạng mập tròn Giống đại diện: Giống Pila

Loài Pila polita (ốc nhồi, bươu) có đặc điểm lỗ miệng hẹp, tháp ốc vuốt nhọn, vỏ bóng Thường gặp trong ao, ruộng vùng đồng bằng và trung du

Loài P conica (ốc mít) : Lỗ miệng vỏ loe rộng, tháp ốc lùn, vỏ không bómg

Họ Viviparidae: Chiều cao vỏ lớn hơn chiều rộng, ốc cỡ trung bình, chiều cao vỏ trên 15mm đại diện:

+ Giống Cipangopalodina: Ốc lớn trên 30mm, vỏ rộng, vòng xoắn cuối phồng to, lỗ miệng vỏ dài sấp sỉ phần tháp ốc

+ Angulyagra: Ốc nhỏ dưới 30mm, vỏ hẹp dài, vỏ dày, mặt vỏ có nhiều gờ vòng xù xì Không có lỗ rốn

+ Bellamya: Ốc nhỏ dới 30mm , vỏ mỏng hoặc dày vừa, nhẵn, có hay không có lỗ rốn

+ Sinotaia: Vỏ mỏng, chỉ có các đường vòng nâu trên vòng xoắn cuối

* Phân lớp ốc có phổi Pulmonata

Mang tiêu biến có phổi là thành trong xoang áo, nơi có nhiều mạch máu và lỗ thở nhỏ bên phải, phù hợp với cơ quan xoang áo lẻ và thần kinh lệch, với các hạch thần kinh tập trung ở phía đầu Cơ quan sinh dục lưỡng tính và không có nắp vỏ Đại diện của bộ mắt gốc Basommatophora có mắt nằm ở gốc tua đầu, tua không co thụt được và vỏ phát triển Chúng chủ yếu sống trong các thủy vực nước ngọt và có thể gặp các giống như Lymnaea (họ Lymnaeidae), Gyraulus, Hyppentis, Indoplanorbis, và Polypylis (họ ốc đĩa Planorbidae).

2.5.2 Lớp hai mảnh vỏ Bivalvia Động vật hai mảnh vỏ Bivalvia thuộc ngành động vật thân mền Mollusca Nhiều giống loài trong lớp này là các đối tượng nuôi trồng và khai thác quan trọng trong ngành thuỷ sản a Đặc điểm hình thái phân loại

Hình 2.11 Cấu tạo vỏ trai

1 đỉnh vỏ; 2 Răng chủ giả; 3 Vết bám của cơ khép vỏ trước; 4 Vết bám của cơ trước; 5 Vết bám của cơ duỗi chân trước; 6 Đường viền mép áo; 7 Vết bám của cơ khép vỏ sau; 8.Vết bám cơ sau; 9 Răng bên; 10 Dây chằng

Thân mềm 2 mảnh vỏ, bao gồm trai, ngao và sò, sống chủ yếu trong các thuỷ vực nước ngọt thuộc các bộ Schizodonta và Heterodonta Đặc điểm nổi bật của chúng là sự phát triển và phân hoá cao của răng vỏ, trong một số trường hợp, răng vỏ có thể bị tiêu giảm hoàn toàn.

Chân khớp (Arthropoda)

2.6.1 Bộ giáp xác bơi nghiêng Amphipoda

Hình 2.13 Hình dạng của Amphipoda

2.6.1.1 Đặc điểm hình thái phân loại

Cơ thể của loài này có cấu tạo dẹp bên, thường gồm 18 đốt chia thành 3 phần: đầu, ngực và bụng Phần đầu bao gồm 4 đốt đầu và 1 đốt ngực mang chân hàm, với đầu kéo dài về phía trước tạo thành chuỷ, có thể không rõ ràng hoặc cong lại thành mỏ Hai bên đầu có các thuỳ nhô ra phía trước giữa các gốc râu 1 và 2 Trên đầu có các phần phụ như mắt, râu (1 và 2), và các phần phụ miệng bao gồm môi trên, môi dưới dạng lá mỏng, cùng với hàm trên và hàm dưới (1, 2) cùng các chân hàm.

Các đặc điểm hình dạng đầu, râu và các phần phụ miệng là cơ sở để phân loại giáp xác bơi nghiêng Phần ngực gồm 7 đốt, mỗi đốt mang một đôi chân ngực, chia thành hai nhóm: nhóm trước (I-IV) hướng về phía đầu và nhóm sau (V-VII) hướng về phía đuôi Các chân ngực I và II biến thành càng I và II, với đốt 6 rộng bản và đốt 7 nhọn thành vuốt, khớp với đốt 6 tạo thành kẹp, là đặc điểm quan trọng để phân loại Amphipoda Gốc các chân ngực II-V có các tấm mang tròn, nhẵn, trong khi con cái có tấm mang trứng dạng kitin kéo dài với viền tơ rậm Phần bụng gồm 6 đốt mang 6 đôi chân bụng, chia thành chân bơi (I-III) và chân nhảy (I-IV) Chân bơi có 2 nhánh hình sợi, nhiều đốt, trong khi chân đuôi có phần gốc và phần ngọn, với chân đuôi thứ III thường có nhánh ngoài phân đốt và nhánh trong có thể tiêu giảm, là đặc điểm quan trọng để phân loại.

Thức ăn của giáp xác bơi nghiêng là mùn bã hữu cơ, thực vật và các động vật nhỏ bé

2.6.1.3 Sinh sản Đực cái phân tính, trứng thụ tinh được giữ trong khoang trứng ở gốc chân ngực II – V của con cái Trứng phát triển thành con non, sau đó con non rời cơ thể mẹ sống tự do

Giáp xác bơi nghiêng chủ yếu phân bố trong các thuỷ vực nước lợ và mặn, với một số ít xuất hiện trong nước ngọt Chúng là nguồn thức ăn quan trọng cho tôm cá ăn đáy và nhiều động vật thủy sinh khác.

2.6.1.5 Phân loại và giống loài thường gặp

- Họ gammaridae: râu I có nhánh râu phụ gồm ít nhất hai đốt Râu I dài hơn râu II Các đốt chân ngực hẹp dài, tơ thưa

Giống thường gặp: Giống Melita gặp trong các thuỷ vực nước lợ

- Họ Hyalidae: Râu I thường không có nhánh râu phụ, nếu có chỉ có 1 đốt Không có xúc biện hàm trên Các đốt Basis chân III- V có răng ở cạnh sau

Giống thường gặp: Giống Hyale, gặp trong các thuỷ vực nước lợ, có khi thấy cả ở sông ruộng vùng đồng bằng

Họ Corophiidae có đặc điểm là râu I không có nhánh râu phụ và có xúc biện hàm trên Các đốt Basis chân III-V không có răng ở cạnh sau, và chủy thường nhỏ, hình mũi nhọn hoặc không phát triển.

Giống đại diện: Giống Corophium

2.6.2 Bộ giáp xác chân đều Isopda và Tanaidacea

2.6.2.1 Đặc điểm hình thái phân loại

Bộ giáp xác chân đều Isopoda và Tanaidacea có cấu trúc cơ thể và phần phụ tương đồng với Amphipoda.

Các đặc điểm phân loại cũng tương tự, trong cấu tạo chỉ có sai khác là :

- Chỉ có càng do đôi chân ngực I biến đổi thành, ở Tanaidacea đốt 6 và 7 của càng có dạng kẹp, trên đốt 2 có phần phụ 3 đốt (epipodit)

- Các chân ngực II – VII có cấu tạo gần đồng nhất ở Isopoda, ở

Tanaidacea chân ngực II phát triển so với các chân ngực khác nhưng không có dạng kẹp

Các chân bụng từ I đến V có cấu tạo dạng chân lá hai nhánh, trong khi chân bụng VI đã biến đổi thành chân đuôi Đối với Isopoda, chân đuôi cũng có cấu trúc hai nhánh dạng chân lá, và ở Tanaidacea, chân đuôi được chia thành một phần gốc và hai nhánh hình sợi phân đốt.

Thức ăn của chúng là mùn bã hữu cơ, các động vật, thực vật nhỏ

2.6.2.3 Sinh sản Đực cái phân tính, một số loài ký sinh có hiện tượng lưỡng tính Trứng thụ tinh và phát triển trong khoang ngực của con cái đến giai đoạn con non mới rời cơ thể mẹ ra môi trường ngoài

Chúng xuất hiện trong các thuỷ vực nước ngọt, nước lợ và biển, nhưng chủ yếu tập trung ở đồng bằng ven biển Đây là nguồn thức ăn dinh dưỡng cho tôm, cá đáy và các động vật thuỷ sinh khác.

2.6.2.5 Phân loại và giống loài thường gặp a Bộ Isopoda

- Họ Anthuridae: Cơ thể hình que dài : chân ngực có cấu tạo lhác với các chân ngực khác

Giống đại diện: Cyathura gặp nhiều trong các thuỷ vực nước lợ ven biển

- Họ Corallanidae: Cơ thể hình trứng , chân ngực I có cấu tạo giống các chân ngực khác

Giống thường gặp: Tachaea gặp trong các thuỷ vực nước ngọt vùng núi, đồng bằng, trung du b Bộ Tanaidacea:

Bộ Apseudidae, trong đó có giống Apseudes, thường được tìm thấy trong các thủy vực nước lợ ven biển, sông, và ruộng ở vùng đồng bằng gần biển.

2.6.3.1 Đặc điểm hình thái phân loại

Tôm có cấu tạo bao gồm các phần chính như đầu ngực, bụng và ngực Các bộ phận quan trọng gồm ang ten 1 và ang ten 2, hàm trên, hàm dưới (1 và 2), chân hàm (1-2-3), chân càng, chân bò và chân bụng Hình dạng và cấu trúc này đóng vai trò quan trọng trong việc xác định chức năng và sinh thái của tôm.

9 Chân đuôi, 10 Telson, 11 Giáp đầu ngực, 12 Chủy, 13 Mắt

Cơ thể tôm chia hai phần rõ rệt : Phần đầu ngực và phần bụng tận cùng bởi Telson (gai đuôi)

Giáp đầu ngực của tôm nằm ở vị trí đầu, kéo dài về phía trước tạo thành chuỷ, với răng ở cả cạnh trên và cạnh dưới Những răng này cũng kéo dài sang giáp đầu ngực, góp phần vào cấu trúc và chức năng của tôm.

The carapace of the thorax features spines, grooves, and ridges In shrimp, notable spines include the antennal spine, supraorbital spine, hepatic spine, branchiostegal spine, and pleurogostomian spine Commonly observed ridges and grooves include the post-rostral ridge, ad-rostral groove, antenal ridge, branchio-cardiac groove, and hepatic groove.

Phần đầu ngực gồm có các phần phụ sau :

- Các phần phụ miẹng bao gồm : đôi hàm trên, đôi hàm dưới I và II, ba đôi chân hàm

- Năm đôi chân ngực : đôi chân ngực I và II ở họ tôm Palaemonidae và Atyidae biến đổi thành càng Họ Peneaidae 3 đôi chân ngực đầu tiên dày càng

Mỗi chân ngực gồm 7 đốt : 2 đốt gốc (Coxa, Basis), phần ngọn 5 đốt (Ischium,

Merus, Carpus, Propodus và Dactylus)

Các đặc điểm của phần đầu ngực tôm, bao gồm răng chuỷ, gai, gờ, rãnh, và râu I, II, cùng với chân ngực I, II, là những yếu tố quan trọng trong việc phân loại tôm Bên cạnh đó, phần bụng cũng đóng vai trò không kém trong quá trình xác định loại tôm.

Phần bụng tôm gồm 7 đốt đồng nhất, với các tấm bên kéo dài tới Telson, nơi có các gai xếp thành đôi Đầu ngọn Telson cũng có các gai, và mé trước hậu môn thường có một gờ Kitin gọi là gờ trước hậu môn.

(Preanal) thấy có ở tôm Caridina

Ruột khoang (Coelenterata)

2.7.1 Đặc điểm chung của ngành

Ruột khoang, thuộc nhóm động vật đa bào đã hoàn thiện (Eumetazoa), đại diện cho một giai đoạn thấp trong quá trình tiến hóa Các đặc điểm cơ bản của ruột khoang bao gồm cấu trúc cơ thể đặc trưng.

Hình 2.17 Hình dạng một số ruột khoang

Cơ thể đối xứng tỏa tròn với các bộ phận sắp xếp đối xứng quanh trục cơ thể, chưa phân rõ đầu, đuôi, trái, phải, là đặc điểm nổi bật của động vật thuộc ngành Ruột khoang Kiểu đối xứng này rất phù hợp với lối sống bám ở đáy hoặc trôi nổi, cho phép cơ thể chịu tác động đồng đều từ môi trường xung quanh.

Cơ thể được cấu tạo bởi hai lớp tế bào: lớp ngoài có chức năng bảo vệ và lớp trong đảm nhiệm dinh dưỡng, sinh dục Hai lớp tế bào này ở ruột khoang có nguồn gốc từ hai lá phôi hình thành trong giai đoạn phôi, với lá phôi ngoài và lá phôi trong có vị trí và sự phân hóa ổn định trong quá trình phát sinh cá thể Tuy nhiên, do chỉ mới hình thành hai lá phôi, khả năng hình thành cơ quan ở ruột khoang vẫn bị hạn chế, khác với động vật có ba lá phôi sau này.

Ngoài hai đặc điểm cơ bản trên, Ruột khoang còn có nhiều điểm mới quan trọng trong cấu tạo cơ thể

Các tế bào thần kinh và tế bào cảm giác xuất hiện, góp phần hình thành hoạt động thần kinh cảm giác, mặc dù chỉ ở mức độ thấp của một cơ thể động vật đa bào.

Mặc dù các yếu tố cơ vẫn còn ở mức độ phân hóa thấp và chỉ tồn tại dưới dạng tế bào biểu mô cơ, nhưng chúng đã mang lại cho cơ thể khả năng vận động chủ động trong cuộc sống.

Sự phát triển của xoang vị cho phép động vật ruột khoang tiêu hóa mồi lớn thông qua phương pháp ngoại bào Các tế bào gai không chỉ có chức năng tấn công mà còn bảo vệ, giúp cho động vật này có khả năng chủ động bắt và ăn mồi hiệu quả.

Tập đoàn động vật ruột khoang rất phổ biến và có thể được phân loại thành đơn hình hoặc đa hình, với sự phân hóa chức năng rõ rệt trong dinh dưỡng, sinh sản và các hoạt động khác như bơi lội và săn mồi Đặc điểm sinh thái của chúng thể hiện sự đa dạng phong phú, cho thấy khả năng thích ứng cao với nhiều môi trường sống khác nhau, từ tầng nước, dưới đáy biển, đến ven bờ, bao gồm cả những loài sống động và bám vào vật thể.

2.7.2 Đặc điểm hình thái phân loại

Ngành Ruột khoang hiện nay gồm khoảng 9000 loài, chia thành ba lớp:

Có khoảng 3000 loài hình dạng cơ thể thường là túi đơn độc hoặc tập đoàn, với chân đế đối diện là núm miệng có tua xung quanh Thành cơ thể của chúng rất đặc trưng.

Lớp tế bào ngoài bao gồm tế bào biểu mô cơ, tế bào gai (hay còn gọi là thích bào) tập trung chủ yếu ở các tua miệng, cùng với tế bào thần kinh và tế bào cảm giác.

- Tầng trung gian có các tế bào trung gian chưa phân hoá có kích thước bé

Lớp trong của hệ tiêu hóa bao gồm tế bào biểu mô và tế bào tuyến tiết men tiêu hóa Phân lớp thủy tức (Hydroidea) có 5 bộ, sống cố định và thường có hình dạng giống như cành cây.

Bộ Hydrida là nhóm sinh vật sống đơn độc và không có thuỷ mẫu trong chu trình sống Tại Việt Nam, Protohydra caulleryi được tìm thấy ở các rạn đá, nổi bật với việc không có tua miệng và chỉ sinh sản hữu tính.

+ Bộ leptolida: Sống thành tập đoàn hình búi có vòng đời sen kẽ 2 dạng thủy mẫu và thủy tức giữa chúng có sự tiêu giảm khác nhau

+ Bộ Chondrophora: Có kích thước cơ thể lớn, sống trôi nổi có lỗ miệng hướng về phía dưới xung quanh miệng là núm sinh dục và tua bắt mồi

Bộ Trachylida hiện chỉ còn lại giai đoạn thủy mẫu mà không có sen kẽ thế hệ Phân lớp thuỷ tức hình ống (Siphonophora) bao gồm khoảng 2700 loài, trong đó có 2-3 loài nguy hiểm như sứa lửa Physalia Những loài này sống ở các vùng biển nhiệt đới, thường tập đoàn và có sự phân hóa trong dinh dưỡng cũng như sinh sản.

Vùng biển Phú Quốc và Côn Đảo ở nước ta có độ sâu 15m, nơi sinh sống của nhiều loài như Campalularia, Sertularia, Plumaria, Obelia, Millepora, và Velella Tuy nhiên, các loài thủy tức nước ngọt và lợ ở Việt Nam vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ.

Có khoảng 200 loài thủy tức sống trôi nổi trong nước, thường hình thành từ sự sinh sản dinh dưỡng của các tập đoàn thủy tức Cơ thể của chúng có hình dạng đĩa hoặc hình dù, trong suốt, với tua miệng và tua bờ dù Cấu trúc cơ thể tương tự như thủy tức, nhưng tầng trung gian chứa đến 98% là nước, hệ thần kinh và cảm giác phát triển hơn, có mắt và bình nang - cơ quan giữ thăng bằng Lớp này được chia thành 5 bộ khác nhau.

*Bộ sứa rãnh Coronata : Sứa tròn có rãnh ngăn bờ dù và đỉnh dù, bờ du có nhiều tua

Bộ sứa đĩa Semacostomeae có đặc điểm nổi bật với bờ mép dài tới 30m và khả năng phát sáng, trong khi đường kính của chúng có thể đạt đến 2m Chúng thường sống cộng sinh với cá và giáp xác.

Da gai

2.8.1 Đặc điểm chung của da gai

Hình 2.18 Hình dạng một số da gai

Ngành Da gai bao gồm khoảng 5000 loài động vật biển, chủ yếu là những loài sống tự do ở đáy biển, nhưng cũng có một số loài có cuống bám trên giá thể Cơ thể của chúng có hình dạng đối xứng toả tròn, thường thuộc loại đối xứng toả tròn bậc.

5 Ấu trùng đối xứng hai bên Đáng chú ý là đối xứng toả tròn của Da gai chỉ là kiểu đối xứng thứ sinh bắt nguồn từ tổ tiên đối xứng hai bên

Hệ ống nước và chân ống của da gai là cơ quan thiết yếu cho chuyển động và trao đổi khí, hoạt động chủ yếu dựa vào áp lực nước trong hệ ống Hệ ống nước hình thành từ tú thể xoang của ấu trùng, lấy nước từ biển qua tấm sàng vào ống nước quanh hầu, rồi phân tán ra các ống phóng xạ và ampun hai bên Chân ống, được nâng đỡ bởi tấm xương và có thành mỏng, không có cơ vòng mà chỉ có cơ dọc, giúp di chuyển nhờ sức ép nước Mỗi cơ thể da gai có khoảng hai nghìn chân ống, phối hợp với nhau nhờ điều chỉnh áp lực trong hệ ống nước Khi chân bám vào nền cứng, một phần nhờ tương tác ion và một phần nhờ hoạt động của tế bào tuyến kép, gồm hai loại tế bào: một loại tiết chất dính và loại kia tiết chất làm tan chất dính.

Trên ống vòng quanh hầu có túi poli và thể Tideman, đóng vai trò quan trọng trong việc dự trữ nước Ngoài ra, thể Tideman còn có chức năng lọc nước biển để tạo ra dịch thể xoang.

* Dưới lớp da của Da gai là bộ xương bằng tấm đá vôi có các gai, mấu tỏa ra xung quanh

* Thể xoang chính thức của Da gai phát triển và có phần phân hoá thành khoang của hệ ống nước

Đặc điểm hệ tuần hoàn của da gai bao gồm hai vòng mạch máu: vòng quanh miệng và vòng đối miệng, cùng với một hệ trục ở giữa Từ hai vòng máu này, các mạch máu phân nhánh đến các cơ quan, trong đó mạch máu thực chất là các dải mô với mỗi dải được bao ngoài bởi một xoang.

Hệ hô hấp ở một số loài có thể phát triển yếu hoặc tiêu biến, với một số hình thức hô hấp như qua da, chân ống hoặc mang Hệ bài tiết chuyên hóa thường thiếu ở các thể trưởng thành, trong khi ấu trùng có hậu đơn thận Tế bào thể xoang, do hệ trục sinh ra, đóng vai trò quan trọng trong việc nhận biết và thực bào các tế bào lạ, hàn gắn vết thương, tổng hợp sắc tố và collagen, cũng như vận chuyển dinh dưỡng và oxy Ngoài ra, hệ trục còn có thể tham gia vào quá trình bài tiết.

Hệ thần kinh nguyên thuỷ nằm dưới lớp mô bì và gồm ba hệ: hệ ngoài (cảm giác), hệ dưới da và hệ trong (vận động) Mức độ phát triển của các hệ này phụ thuộc vào từng nhóm sinh vật; trong đó, hệ ngoài phát triển mạnh ở các lớp trừ Huệ biển, trong khi hệ dưới da chỉ phát triển mạnh ở đuôi rắn và một phần sao biển.

Mô liên kết biến đổi có khả năng co cứng hoặc giãn nở khi bị kích thích, giúp da gai bắt mồi, di chuyển linh hoạt và tự ngắt các phần cơ thể để thoát thân khi bị tấn công.

Da gai phân tính, với trứng phân cắt hoàn toàn và phóng xạ, phát triển qua ấu trùng đối xứng hai bên dipleurula Sau đó, quá trình biến thái phức tạp diễn ra, dẫn đến sự hình thành con trưởng thành có đối xứng toả tròn.

Động vật như sao biển, rắn và hải sâm có khả năng tái sinh ấn tượng, với khả năng phục hồi một nửa cơ thể hoặc thậm chí chỉ từ một cánh của sao biển để tạo thành một cơ thể mới.

2.8.2.1 Phân ngành dạng cây Pelmatozoa

Các loài thuộc lớp huê biển Crinoidea thường sống cố định và có cuống bám ở phía cực đối miệng Trên cực đối miệng, chúng có các lỗ như lỗ miệng, lỗ hậu môn, lỗ ống nước và lỗ sinh dục Lớp này bao gồm các loài có từ 10 thuỳ trở lên, với các thuỳ kéo dài dạng lá, và được phân chia thành 4 bộ khác nhau.

+ Bộ Comatulida b Lớp hộp biển Edrioasteriidea c Lớp nụ biển Blastoidea d Lớp cầu biển Cystoidea e lớp quả biển carnoidea

2.8.2.2 Phân ngành cầu gai Eleucheozoa

Hải sâm thuộc lớp Holothuroidea có cấu trúc đặc trưng với miệng và lỗ hậu môn nằm ở hai bên đối diện Chúng có thân dài hình ống và các thuỳ ngắn tập trung xung quanh miệng.

+ Bộ tua miệng tròn Aspidochiroidea

+ Bộ tua miệng phân nhánh Dendrochirota

+ Bộ không chân Apoda b Lớp cầu gai Echinoidea cơ thể hình cầu và có rất nhiều gai

* Phân lớp cầu gai đều Regularia

* Phân lớp cầu gai không đều Irregularia

+ Bộ Spatangoida c Lớp sao biển Asteroidea Cơ thể thường có 5 cánh như cánh sao Lớp này được chia thành 9 bộ Sau đây là một số bộ thường gặp

+ Bộ Forcipulatida d Lớp đuôi rắn Ophiuroidea 5 cánh kéo dài như đuôi rắn và có nhiều gai nhỏ:

Hải sâm và cầu gai là thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, dẫn đến việc chúng được khai thác và nuôi trồng trong ngành thủy sản Mỗi năm, lượng da gai được khai thác toàn cầu đạt từ 60-70 ngàn tấn, trong đó cầu gai chiếm 60% Ngoài giá trị dinh dưỡng, một số loài như sao biển và hải sâm còn được khai thác để làm dược liệu Trong tự nhiên, da gai cũng là nguồn thức ăn cho nhiều loài cá có giá trị kinh tế Tuy nhiên, sao biển lại là mối đe dọa lớn đối với nghề nuôi hầu.

KHU HỆ THUỶ SINH VẬT

NUÔI SINH KHỐI ĐỘNG VẬT PHÙ DU

Ngày đăng: 14/05/2021, 11:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Lớp phụ chân mái chèo (Copepoda) Vịnh Bắc Bộ.Nguyễn Văn Khôi, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Copepoda
1. Định loại động vật không xương sống nuớc ngọt Bắc Việt Nam của Đặng Ngọc Thanh, Thái Trần Bái và Phạm Văn Miên Khác
2. Động vật học không xương sống của Thái Trần Bái, Nguyễn Văn Khang năm 2009 Khác
3. Động vật không xương sống Thái Trần Bái, Hoàng Đức Nhuận, Trần Văn Khang Khác
5. Cẩm nang sản xuất và sử dụng thức ăn sống để nuôi thủy sản – tài liệu Kỹ Thuật nghề cá của FAO, 2000 Khác
6. Các báo cáo khoa học về thành phần loài, phân bố của động vật thủy sinh Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w