1. Trang chủ
  2. » Mẫu Slide

Vấn đề phát triển kinh tế hộ Nông dân ở vùng đồi núi Hòa Bình theo hướng sản xuất Hàng Hóa

17 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 246,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

The strategy of developing local economy, due to the above problems, is to develop household economy following goods production orientation (or market economy). The report also gives o[r]

Trang 1

Bài 7 Vấn đề phát triển kinh tế hộ nông dân

ở vùng đồi núi Hoà Bình theo hướng sản xuất hàng hoá

ThS Trần Văn Dư, Phó Hiệu trưởng

Trường Trung học và Dạy nghề Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn I

Đặt vấn đề

Kinh tế nông hộ là một bộ phận hữu cơ trong nền kinh tế, là yếu tố quan trọng trong phát triển nông nghiệp và đổi mới nông thôn Kinh tế hộ nông dân là một hình thức phổ biến và đang

có vai trò vị trí rất lớn trong quá trình phát triển nông nghiệp ở nông thôn nước ta hiện nay

Việc nghiên cứu thực trạng kinh tế hộ nông dân để tìm ra những giải pháp nhằm thúc đẩy kinh tế hộ nông dân phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá có một ý nghĩa hết sức to lớn về kinh tế - xã hội đối với nước ta Hoà Bình là một tỉnh miền núi, là vùng chuyển tiếp giữa vùng

Đồng bằng sông Hồng và vùng núi Tây Bắc có diện tích đất tự nhiên đứng thứ 3 và dân số đứng thứ 2 trong các tỉnh vùng Tây Bắc Vùng đồi núi Hoà Bình là một vùng còn nhiều tiềm năng nông nghiệp chưa được khai thác Kinh tế hộ nông dân ở đây còn kém phát triển, đời sống còn nhiều khó khăn Thực trạng quy mô kinh tế hộ nông dân hiện nay như thế nào? Yếu tố nào nhằm tạo

điều kiện cho kinh tế nông hộ mở rộng và phát triển sản xuất theo hướng hàng hoá? Những vấn

đề này còn có ít thông tin và nhất là vùng đồi núi tỉnh Hoà Bình

I Đặc điểm vùng đồi núi Hoà Bình

Hoà Bình là một tỉnh miền núi thuộc vùng núi Tây Bắc, có diện tích tự nhiên là 4.622,5 km2 chiếm 1,41% diện tích cả nước Phía Bắc tiếp giáp tỉnh Phú Thọ; phía Đông Nam giáp Hà Nam, Ninh Bình; phía Đông giáp tỉnh Hà Tây; phía Tây giáp tỉnh Sơn La và Thanh Hoá Toàn tỉnh có 9 huyện, 1 thị xã (trong đó có 197 xã, 6 phường, 11 thị trấn)

Hoà Bình là một tỉnh có địa hình phức tạp, chia cắt mạnh và thấp dần theo hướng Tây Bắc -

Đông Nam Hồ sông Đà có dung tích 9,5 tỷ mét khối nước phục vụ cho nhiều mục tiêu kinh tế và quốc phòng Ngoài việc phục vụ phát điện, nhà máy thuỷ điện Hoà Bình còn có nhiệm vụ cắt lũ

về mùa mưa, điều tiết nước chống hạn về mùa khô cho Đồng bằng sông Hồng là quan trọng nhất Theo số liệu thống kê năm 2000 cho thấy, dân số Hoà Bình là 772,4 nghìn người, mật độ bình quân 165 người/ km2, bằng 69% so với cả nước Dân số nông thôn chiếm 86,2%, dân số thành thị chiếm 13,8% Hoà Bình có 6 dân tộc anh em, trong đó dân tộc Mường chiếm 60,3%, dân tộc Kinh chiếm 31%, các dân tộc Thái, Tày, H'Mông, Dao chiếm 8,7% Như vậy 69% dân số của tỉnh là người dân tộc ít người

Trang 2

"Chá Chiêng", "Sên Bản, Sên Mường", hội cầu mưa, hội hoa ban, Những sắc phục dân tộc nhiều màu sặc sỡ, những cảnh vui chơi ném còn, bắn nỏ, cồng chiêng, hát đối, nhảy sạp, Chẳng những thế, Hoà Bình còn có vẻ đẹp của nền văn hóa dân gian Mường, Thái, Tày, Dao, H.Mông, đang được cộng đồng các dân tộc hiện cư trú trên địa bàn tỉnh kế thừa và nâng dần lên một tầm cao mới theo đường lối phát triển văn hoá của Đảng hiện nay

Vì vậy, trong nghiên cứu về kinh tế hộ nông dân cần phải chú ý quan tâm đến tập quán canh tác, sinh sống và bản sắc văn hoá của các dân tộc đang chung sống trên địa bàn tỉnh để gợi ý những giải pháp và đề ra các chính sách góp phần đẩy mạnh sản xuất nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho các đồng bào dân tộc, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội

II Thực tiễn phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá

II.1 Sơ lược về phát triển kinh tế nông hộ sản xuất hàng hoá ở nước ta thời

kỳ đổi mới kinh tế

Một là, sản xuất nông nghiệp đã phát triển toàn diện, liên tục tăng trưởng cao (đạt tốc độ 4,3% năm) kể từ sau khi có Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nông

nghiệp (4/1988) Hai là, cơ cấu kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công

nghiệp và dịch vụ (chiếm khoảng 30% GDP nông thôn), cây công nghiệp, rau, hoa quả (khoảng

18%) Ba là, cơ sở hạ tầng nông thôn được cải thiện nhất là về thuỷ lợi Tới nay trên 84% diện tích

gieo trồng lúa cả năm được tưới, tạo điều kiện quan trọng để khai hoang, tăng vụ mở rộng diện

tích gieo trồng lúa (thêm 1,2 triệu ha); cây công nghiệp và một số loại cây trồng khác Bốn là,

nhiều nhân tố mới trong nông nghiệp đã xuất hiện Cả nước có khoảng 1,5 triệu hộ nông dân đạt tiêu chuẩn hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi và trên 11,5 vạn hộ phát triển kinh tế trang trại Những thành tựu đạt được về nông - lâm nghiệp trong những năm vừa qua là mốc son sáng

chói đánh dấu sự sang trang từ tự túc tự cấp đến sản xuất hàng hoá

II.2 Phát triển kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá ở tỉnh Hoà Bình

Sản xuất nông, lâm nghiệp của tỉnh Hoà Bình trong những năm qua, nhìn chung có nhiều chuyển biến Chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, thâm canh tăng vụ được nông dân hưởng ứng, quan tâm để phát triển sản xuất hàng hoá nông, lâm nghiệp phục vụ nhu cầu tiêu dùng và chế biến Diện tích các loại cây trồng có hiệu quả kinh tế cao được mở rộng Phong trào

đưa giống mới vào sản xuất, trình độ thâm canh, tăng vụ ứng dụng với khoa học công nghệ ngày một nâng cao

Đi đôi với phát triển trồng trọt trong những năm qua công tác chăn nuôi đã đi vào thâm canh tăng năng suất, chất lượng đàn gia súc, gia cầm ở một số nơi được nâng lên, công tác lai tạo giống mới như bò lai Sind, bò sữa, lợn hướng nạc đã được chú ý phát triển Năm 2000 chăn nuôi đã đạt kết quả như sau: Đàn trâu của tỉnh đạt 126.665 con, đàn bò 47.386 con, đàn lợn 277.632 con, đàn gia cầm 2,322 triệu con Sản phẩm thịt lợn hơi 11.453 tấn, thịt trâu bò hơi 2.282 tấn Sản lượng gia cầm các loại là 2.130 tấn Tốc độ tăng trưởng bình quân đàn gia súc, gia cầm

đạt từ 3,5 - 5,0%/năm

Trang 3

Bảng II.7.1 Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng năm 2000

(ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (Tấn)

Về lâm nghiệp trong những năm qua đã chuyển trọng tâm sang bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng Đẩy mạnh công tác trồng rừng theo các chương trình và dự án, khoanh nuôi rừng gắn với phát triển lâm nghiệp xã hội, thực hiện tốt chủ trương giao đất khoán rừng cho các hộ gia

đình gắn với việc xây dựng và phát triển kinh tế trang trại Trong 5 năm qua, toàn tỉnh đã trồng

được khoảng 28.800 ha rừng các loại

II.3 Một số kết luận rút ra từ lý luận và thực tiễn

Từ lý luận và thực tiễn phát triển kinh tế hộ, kinh tế trang trại trên thế giới và trong nước như

đã nêu ở trên, chúng tôi có nhận xét về phát triển kinh tế hộ theo hướng sản xuất hàng hoá như sau:

Kinh tế hộ gắn với sản xuất hàng hoá là bước tiến bộ mới về tổ chức sản xuất nông nghiệp, phát triển cao của kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá là kinh tế trang trại gia đình Trang trại gia đình là loại hình thích hợp, phổ biến nhất trên thế giới, chiếm khoảng 80-90% tổng số trang trại Đây là hình thức lấy hộ gia đình làm nền tảng để sản xuất nông sản hàng hoá, sử dụng lao động gia đình trong quản lý và sản xuất, có thể sử dụng lao

động làm thuê thường xuyên hoặc theo thời vụ

Kinh tế trang trại gia đình có ưu thế là có khả năng dung nạp các trình độ sản xuất nông nghiệp khác nhau về xã hội hoá, chuyên môn hoá; có khả năng dung nạp các quy mô sản xuất khác nhau (nhỏ, vừa và lớn); các cấp độ công nghệ khác nhau, tách biệt hoặc

đan xen nhau, từ thô sơ đến hiện đại Như vậy trang trại gia đình là loại hình tổ chức sản xuất phù hợp với trình độ tổ chức quản lý, khoa học công nghệ và phù hợp với điều kiện của nông nghiệp nước ta trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Trong giai đoạn đầu của công nghiệp hoá, kinh tế hộ sản xuất hàng hoá phát triển theo hướng kinh doanh tổng hợp, sau đó từng bước đi vào sản xuất tập trung chuyên canh lớn

Trang 4

III Thực trạng phát triển kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá ở vùng đồi núi tỉnh Hoà Bình

III.1 Khái quát phát triển kinh tế nông hộ qua các giai đoạn

III.1.1 Giai đoạn trước năm 1961

Cùng với miền Bắc, Hoà Bình bắt tay vào công cuộc khôi phục kinh tế trong điều kiện khó khăn gay gắt về nhiều mặt Hội nghị Tỉnh uỷ đã xác định nhiệm vụ cụ thể giai đoạn phát triển kinh

tế của Hoà Bình trong đó nhấn mạnh: "tiếp tục đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, khuyến khích phục hồi diện tích hoang hoá, chống thiên tai địch hoạ, phát triển thuỷ lợi nhỏ, vận động cải tiến

kỹ thuật canh tác, cải tiến công cụ; đẩy mạnh chăn nuôi gia súc; phổ biến sâu rộng 10 chính sách khuyến khích sản xuất của Chính phủ"

Đến cuối năm 1960, tỉnh Hoà Bình đã căn bản hoàn thành hợp tác hoá nông nghiệp kết hợp hoàn thành cải cách dân chủ Toàn tỉnh đã xây dựng được 1078 hợp tác xã với 31.737 hộ chiếm 86,37% tổng nông hộ Riêng vùng cao đã có 45 HTX, (với 53,5% nông hộ), đặc biệt đồng bào xã Toàn Sơn đã căn bản hoàn thành HTX (96,4% nông hộ)

Bắt đầu thời kỳ này thu nhập của hộ gia đình chủ yếu là dựa vào thu nhập của hợp tác xã, còn kinh tế phụ gia đình hầu như không được đề cập tới

III.1.2 Giai đoạn 1961 đến 1980

Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn này là nền kinh tế miền Bắc nói chung và tỉnh Hoà Bình nói riêng bị chiến tranh tàn phá nặng nề, nhất là từ năm 1966- 1972, cộng thêm sự yếu kém của HTX nên sản xuất nông nghiệp phát triển chậm, sau năm 1972 (Hiệp định Paris) nền kinh tế bắt

đầu khôi phục và một số mặt có chuyển biến Song nhìn chung cả thời kỳ đều nằm trong tình trạng sa sút, lương thực là nhu cầu thiết yếu của nhân dân thì hàng năm phải nhập khẩu

III.1.3 Giai đoạn 1981 - 1988

Năm 1981 với sự ra đời của Chỉ thị 100/CT/TƯ về khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động mà thực chất là khoán hộ, có thể coi là mốc khởi đầu cho một quá trình đổi mới,

nó thực sự đã được bà con trong tỉnh Hoà Bình ủng hộ, mọi người đã hăng hái sản xuất, tận tâm, tận tình với công việc và có trách nhiệm hơn với sản phẩm của mình Kinh tế hộ thời kỳ này đã

được tự chủ ít nhiều về sức lao động, tư liệu sản xuất, song phần nhiều còn bị mô hình tập thể hoá chi phối Khoán 100, sau một thời gian phát huy tác dụng lại bộc lộ những hạn chế Bởi lẽ tuy

là khoán nhưng hợp tác xã vẫn dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, quản lý tập trung và phân phối theo công điểm, mức khoán lại do hợp tác xã quy định Nên đã xảy ra tình trạng quản

lý quan liêu, mức khoán thì quá cao, không xuất phát từ thực tế, làm cho xã viên không có lợi trong việc đầu tư thâm canh để vượt khoán Nông dân chán nản, trả bớt ruộng khoán Động lực

"khoán 100" bị mất dần đi

III.1.4 Giai đoạn từ năm 1988 đến nay

Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị ra đời cùng với nội dung xác định quyền quản lý ruộng đất lâu dài cho hộ nông dân Sau khi tách tỉnh, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho sản xuất còn nhiều khó khăn Tình hình thời tiết diễn biến phức tạp Song, với tinh thần khắc phục khó khăn, Tỉnh uỷ đã ra Nghị quyết 03 về đẩy mạnh phát triển sản xuất Kết quả vụ chiêm xuân 1992 năng

Trang 5

suất lúa bình quân đạt 24 tạ/ha, ngô 11,6 tạ/ha, sản lượng lương thực đạt 51.652 tấn Chỉ trong 5 năm tổng đàn trâu đã có 180 nghìn con tăng 6,4%; đàn bò có hơn 20 nghìn con, tăng 36,3%; đàn lợn tăng 346 nghìn con so với năm 1997 Nếu như năm 1991 cả tỉnh mới có 47 hộ sản xuất giỏi, thu nhập từ 0,8 - 1triệu đồng/người/năm, năm 1993 đã có 260 hộ sản xuất giỏi, có thu nhập bình quân trên 2 triệu đồng/người/năm, năm 1998 có trên 500 hộ làm kinh tế giỏi có thu nhập 6 triệu

đồng/người/ năm, thì đến năm 2000 đã có trên 1.000 hộ sản xuất kinh doanh giỏi, nhiều gia đình nông dân ở miền núi Kỳ Sơn, Lương Sơn, Tân Lạc, Yên Thuỷ đã có thu nhập 100 triệu đồng/năm Những hộ nông dân nhạy cảm đã thực hiện có hiệu quả và đang lôi kéo người khác xung quanh vào làm ăn theo phong cách mới, hướng tới sản xuất hàng hoá

Tóm lại, trong thời kỳ đổi mới kinh tế hộ nông dân vùng đồi núi tỉnh Hoà Bình đã có nhiều thay đổi Các mô hình sản xuất đã xuất hiện như: nông - lâm kết hợp; rừng - vườn - ao - chuồng; rừng - vườn; rừng - chuồng - ruộng theo hình thức hộ sản xuất hàng hoá với qui mô khác nhau, hộ sản xuất hàng hoá nhỏ, kinh tế trang trại, song vẫn còn ít cả về số lượng và chất lượng Mặc dù

đời sống có được cải thiện, nhưng so với các vùng khác thì vùng đồi núi vẫn là vùng khó khăn nhất

III.2 Thực trạng kinh tế hộ nông dân ở 3 vùng nghiên cứu

III.2.1 Đánh giá các điều kiện sản xuất của hộ nông dân

III.2.1.1 Tình hình về đất đai

Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được trong sản xuất nông, lâm, thuỷ sản của nông hộ Nếu phân nhóm hộ theo mức thu nhập thì nhóm hộ trung bình có quy mô đất

đai là 1,062 ha, nhóm hộ trên trung bình là 1,289 ha và nhóm hộ giầu 1,951 ha Như vậy bình quân quy mô đất đai của những hộ giầu có diện tích gấp 1,51 lần hộ trên trung bình và gấp 1,83

lần hộ trung bình

III.2.1.2 Tình hình về lao động của nông hộ

Khi nghiên cứu yếu tố lao động phải đề cập đến hai khía cạnh của lao động, đó là chất lượng và số lượng lao động Chất lượng lao động thể hiện trình độ học vấn của nông hộ để có khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật, tích luỹ kinh nghiệm sản xuất Qua điều tra cho thấy, tính chung các vùng thì hộ có từ 1 - 2 lao động chiếm 62,1%, hộ có 3 - 4 lao động chiếm 35,4% và hộ có từ 5 lao động trở lên chiếm 2,5% Quy mô lao động tăng dần từ vùng thấp lên vùng cao Thể hiện số người đến tuổi lao động ngày một tăng, trong khi đó họ ít có khả năng thoát li khỏi nông nghiệp, mặt khác các ngành nghề trong nông thôn miền núi kém phát triển, lao động nông nghiệp nông thôn miền núi ít có cơ hội tìm kiếm việc làm

III.2.1.3 Tình hình về nguồn vốn và vốn sản xuất của hộ nông dân

Nguồn vốn và vốn thể hiện khả năng sản xuất của các hộ, để phát triển kinh tế hộ đòi hỏi phải có vốn Khả năng tích tụ tập trung vốn của đại bộ phận các hộ nông dân là thấp

Trang 6

Bảng II.7.2 Nguồn vốn bình quân nông hộ tại thời điểm điều tra tính theo mức thu nhập

năm 2000 Chỉ tiêu Hộ Giầu Hộ trên Trung

bình

Hộ Trung bình Chung

các hộ

Nguồn: Số liệu từ phiếu điều tra

Phân tích theo mức thu nhập thì các hộ có chênh lệch đáng kể về vốn và nguồn vốn đầu tư

Hộ giầu là 18,183 triệu đồng, hộ trên trung bình là 12,333 triệu đồng và hộ trung bình là 10,099 triệu đồng Như vậy, hộ giàu có mức vốn gấp 1,8 lần hộ trung bình Cho nên những hộ giầu thường có mức vốn vay cao hơn các hộ khác, thể hiện sự mạnh dạn đầu tư và biết tạo nguồn vốn

để đẩy mạnh sản xuất kinh doanh

III.2.2 Kết quả sản xuất hàng hoá của nông hộ

Sản xuất hàng hoá là xu thế vận động của kinh tế hộ nông dân Để đánh giá trình độ phát triển kinh tế hàng hoá có thể sử dụng 2 chỉ tiêu chủ yếu: Quy mô giá trị sản phẩm hàng hoá và tỷ suất giá trị sản phẩm hàng hoá Trong hộ điều tra và phân tích ở đây là giá trị trên cơ sở sản phẩm lưu thông trên thị trường

Các sản phẩm hàng hoá của hộ nông dân chủ yếu là nông sản Rừng trồng đang trong thời

kỳ chăm sóc tu bổ chưa khai thác, ở diện tích khoanh nuôi bảo vệ đã có khai thác, song chưa nhiều, vì vậy sản phẩm hàng hoá còn rất ít

Bảng II.7.3 Quy mô và cơ cấu giá trị sản phẩm hàng hoá ở hộ nông dân điều tra

thu

Trong đó Trồng trọt Chăn nuôi Lâm nghiệp

SL (Tr.đ)

Tỷ lệ (%)

SL (Tr.đ)

Tỷ lệ (%)

SL (Tr.đ)

Tỷ lệ (%)

SL (Tr.đ)

Tỷ lệ (%)

1 Theo vùng sinh thái

2 Theo tộc người

Trang 7

- Người Thái 5,894 100 3,230 54,8 1,939 32,9 0,725 12,3

3 Theo mức thu nhập

Nguồn: Số liệu từ phiếu điều tra

Phân tích giá trị sản phẩm hàng hoá theo vùng cho thấy, vùng 2 có giá trị hàng hoá thấp nhất 6,128 triệu đồng, vùng 2 và 3 từ 6,337- 6,347 triệu đồng Giữa các vùng có tỷ lệ cơ cấu các ngành cũng khác nhau, ngành trồng trọt ở vùng 1 là 42,3%, vùng 2 là 46,0%, vùng 3 cao nhất đạt 56,4% Ngành chăn nuôi, cao nhất là vùng 2 (39,6%), thấp nhất là vùng 1 (35,8%) và ngành lâm nghiệp ở vùng 1 chiếm 21,9%, vùng 2 chiếm 14,4% và thấp nhất là vùng 3 chiếm 6,1% Như vậy giá trị hàng hoá ngành trồng trọt ở vùng 3 gấp 1,3 lần vùng 1

Phân tích giá trị sản phẩm hàng hoá theo tộc người cho thấy, người Kinh có bình quân giá trị sản phẩm hàng hoá cao nhất 6,891 triệu đồng, thấp nhất là người Dao đạt 5,585 triệu đồng Phân tích theo ngành sản xuất thì cơ cấu giá trị sản phẩm hàng hoá ngành trồng trọt của các nhóm hộ cao nhất là người Mường chiếm 59,5%, thấp nhất là người Dao 51,1% Cơ cấu giá trị sản phẩm hàng hoá ngành chăn nuôi, cao nhất là người Dao và người Thái 32,9% và thấp nhất là người Mường 28,4% Cơ cấu giá trị sản phẩm hàng hoá ngành lâm nghiệp, cao nhất là người Dao 16%, thấp nhất là người Kinh 9,0% Như vậy người Kinh, người Mường có tỷ trọng hàng hoá từ ngành trồng trọt là chủ yếu, đã coi trọng cả trồng trọt và chăn nuôi Còn người Thái và người Dao chủ yếu là tổ chức sản xuất theo hướng nông lâm kết hợp và chăn nuôi trâu bò là chủ yếu

Phân tích giá trị sản phẩm hàng hoá theo mức thu nhập cho thấy, không có sự chệnh lệch nhiều về cơ cấu giá trị hàng hoá giữa các ngành, điều khác nhau chủ yếu là về quy mô giá trị hàng hoá ở nhóm hộ có mức thu nhập trung bình có bình quân giá trị hàng hoá là 5,305 triệu

đồng, nhóm trên trung bình là 6,400 triệu đồng, nhóm hộ giầu là 9,878 triệu đồng Như vậy nhóm

hộ giầu gấp 1,54 lần hộ trên trung bình và gấp 1,86 lần hộ trung bình

III.2.3 Thu nhập và đời sống của hộ nông dân

Tổng thu nhập của hộ nông dân bao gồm nguồn thu từ nông lâm nghiệp và nguồn thu ngoài nông lâm nghiệp

Nếu so sánh các nguồn thu nhập của hộ, cho thấy thu nhập từ nông nghiệp chiếm 76,9%, thu nhập từ ngành khác 23,1% Nếu so sánh thu nhập các ngành khác với thu nhập từ nông lâm

nghiệp thì từ các ngành khác chiếm 30,1%

Trang 8

Đồ thị II.7.1 Quy mô tổng thu nhập của hộ nông dân trong vùng nghiên cứu

III.2.4 Tình hình chi tiêu của hộ

Do thu nhập của các nông hộ vùng đồi núi Hoà Bình tương đối thấp cho nên mức chi cho

đời sống còn nhiều hạn chế Mức chi tiêu bình quân chung của hộ điều tra là 4,964 triệu đồng Chủ yếu chi cho ăn uống, hút bao gồm chi mua lương thực, thực phẩm, chất đốt, chi ăn ngoài, chi hút thuốc, uống rượu, chè, chiếm 58,2% Chi cho đời sống khác như giáo dục, sức khoẻ, đi lại,

điện nước, chi mua sắm thiết bị, quần áo, dày dép, chiếm 41,8%

Đồ thị II.7.2 Tình hình chi tiêu của các hộ điều tra

III.3 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hộ sản xuất hàng hoá

Để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nông hộ sản xuất hàng hoá ở vùng đồi núi Hoà Bình, chúng tôi dùng phương pháp phân tổ thống kê để phân tích, từ đó nghiên cứu các mức độ

0 1.000.000

2.000.000

3.000.000

4.000.000

5.000.000

6.000.000

7.000.000

8.000.000

Giá trị (đồng)

Tổng thu nhập Thu nhập từ NN Thu nhập khác

0 1.000

2.000

3.000

4.000

5.000

6.000

Tổng số Chi ăn uống hút Chi ĐS khác

Trang 9

ảnh hưởng của chủ nông hộ, của các yếu tố sản xuất và hướng sản xuất đến khả năng sản xuất hàng hoá của hộ nông dân Với các chỉ tiêu chính là: Giá trị sản lượng hàng hoá/lao động, giá trị

sản lượng hàng hoá/ha, giá trị sản lượng hàng hoá/đồng chi phí và tỷ suất hàng hoá

Yếu tố sản xuất của hộ có ảnh hưởng rất lớn đến hạt động sản xuất kinh doanh của nông

hộ như đất đai, vốn sản xuất và lao động

Về quy mô đất đai của hộ nông dân, qua bảng 3.32 cho thấy, đất đai ở nhóm phân tổ 2 và

3 là chủ yếu chiếm 68,7% Quy mô càng lớn thì hiệu quả sản xuất càng cao Qua điều tra cho thấy nhóm hộ nhóm hộ có trên 2 ha đạt giá trị sản phẩm hàng hoá cao nhất 8,783 triệu đồng và

tỷ suất hàng hoá là 58,4%, trong khi đó nhóm hộ có diện tích 0,5 - 1 ha đạt tỷ suất hàng hoá 56,7% và nhóm hộ từ 1 - 2 ha tỷ suất hàng hoá đạt 56,6% Nhưng do trình độ dân trí còn hạn chế nên mỗi hộ chỉ ở mức 1 - 2 ha là hợp lý

Bảng II.7.4 ảnh hưởng của các yếu tố đất đai, lao động và vốn tới kết quả sản xuất hàng

hoá của hộ điều tra năm 2000

HH/hộ (trđ)

GTSL HH/ha (trđ)

GTSL HH/CP (lần)

Tỷ suất HH (%)

1 Theo quy mô đất đai

2 Theo quy mô lao động

3 Theo mức đầu tư

Nguồn: Số liệu từ phiếu điều tra

III.4 Những vấn đề đặt ra trong phát triển kinh tế nông hộ theo hướng sản xuất hàng hoá

Bên cạnh những thành tựu về phát triển kinh tế hộ nông dân tỉnh Hoà Bình trong những năm qua thì phát triển kinh tế hộ theo hướng sản xuất hàng hoá còn nhiều khó khăn, nhất là vùng

Trang 10

triển kinh tế hộ sản xuất hàng hoá còn chậm, chưa tương xứng với tiềm năng của vùng đồi núi Hoà Bình Phần lớn các hộ nông dân tổ chức sản xuất trong gia đình còn mang tính tự cung tự cấp Cơ cấu kinh tế chưa thoát khỏi một nền nông nghiệp độc canh, năng suất lao động chưa cao

và nguồn lợi thu nhập từ rừng chưa nhiều

Thứ hai, trình độ các chủ nông hộ về học vấn và nhất là chuyên môn còn thấp, hầu hết

chưa qua các trường lớp đào tạo Trình độ kỹ thuật canh tác còn yếu và tiếp cận thị trường rất hạn chế Các chủ hộ thường thiếu chủ động trong sản xuất, tính toán hiệu quả kinh tế yếu, nhất là

đồng bào các dân tộc vùng cao

Thứ ba, việc áp dụng khoa học kỹ thuật rất hạn chế, dịch vụ kỹ thuật chưa phát triển, công tác khuyến nông lâm còn nhiều bất cập, các giống cây con mới và tốt chưa nhiều Trình độ sản xuất và công nghệ còn thấp kém, năng suất chất lượng hàng nông, lâm sản, nhất là hàng chế

biến xuất khẩu chưa đủ sức cạnh tranh trong hội nhập với khu vực và thế giới

Thứ tư, hệ thống chính sách chưa đồng bộ và việc cụ thể hoá cho từng vùng nhằm khuyến khích kinh tế nông hộ phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá còn chậm

Thứ năm, hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn còn yếu, đáng chú ý mạng lưới giao thông, thuỷ lợi, điện nông thôn, chế biến nông sản phẩm Cơ sở hạ tầng, nhất là giao thông và thị trường giao lưu hàng hoá phát triển chậm, làm cho nông sản hàng hoá tuy chưa nhiều nhưng tiêu thụ

đang rất khó khăn, người sản xuất dễ bị thua lỗ

Thứ sáu, tốc độ tăng dân số nông thôn còn ở mức cao, cho nên vấn đề lao động, việc làm, thu nhập đang là vấn đề bức xúc hiện nay ở nông thôn

Tóm lại, vùng đồi núi Hoà Bình đang đứng trước những mâu thuẫn gay gắt, đó là xây dựng vùng chuyên canh, thâm canh với việc áp dụng khoa học kỹ thuật tiến tiến theo hướng hàng hoá thì trình độ dân trí còn thấp Muốn xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn thì gặp phải định cư của các

hộ dân phân tán, Những tồn tại trên là cơ sở quan trọng cho việc lựa chọn được các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế hộ nông dân vùng đồi núi tỉnh Hoà Bình theo hướng sản xuất hàng hoá

IV Phương hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế hộ vùng đồi núi Hoà Bình theo hướng sản xuất hàng hoá

IV.1 Quan điểm phát triển kinh tế hộ nông dân vùng đồi núi Hoà Bình theo hướng sản xuất hàng hoá

Kinh tế hộ khi trở thành đơn vị độc lập, tự chủ trên tất cả các khâu, xét về quy mô và mục

đích sản xuất không đứng lâu tại chỗ mà luôn luôn vận động đi dần vào quỹ đạo của nền kinh tế sản xuất hàng hoá Vì vậy, có thể nêu lên một số quan điểm về phát triển kinh tế hộ nông dân vùng đồi núi tỉnh Hoà Bình theo hướng sản xuất hàng hoá như sau:

Ngày đăng: 14/05/2021, 09:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w