T ừ những bài thơ ra đời ngay sau ngày Cách mạng thành công cho đến bài th ơ cuối cùng: Hoan hô chi ến sĩ Điện Biên , chào đón hoà bình, từ biệt Việt B ắc về xuôi, có thể nói Tố Hữu [r]
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Người hướng dẫn khoa học: GS Phong Lê
Thái Nguyên - 2009
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến GS Phong Lê, thầy đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian làm luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Ngữ Văn, cùng gia đình, bạn bè người thân đã tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành luận văn này
Thá i Nguyên, ngày tháng năm 2009
Nguyễn Thị Mỹ
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
2.1 Những bài nghiên cứu về thơ Tố Hữu nói chung 2
2.2 Những bài nghiên cứu về các tập thơ của Tố Hữu 3
2.3 Xung quanh tập thơ "Việt Bắc" 4
2.4 Khảo sát văn bản tập thơ Việt Bắc 6
3 Mục đích nghiên cứu 10
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 10
6 Phương pháp nghiên cứu 10
7 Cấu trúc của luận văn 10
Ch ƣơng 1: "VIỆT BẮC" TRONG NỀN THƠ VIỆT NAM TỪ 1945 ĐẾN 1954 11
1.1 Tổng quan về thơ Việt Nam 1945 đến 1954 11
1.2 Con đường thơ Tố Hữu từ tập thơ Từ ấy sang tập thơ Việt Bắc 18
1.2.1 Từ tập thơ "Từ ấy" 18
1.2.2 đến tập thơ "Việt Bắc" 21
Ch ƣơng 2: GIÁ TRỊ NỘI DUNG CỦA TẬP THƠ“ VIỆT BẮC” 25
2.1 Khát vọng và niềm vui giải phóng Đất nước qua các chặng đường 25
2.1.1 Cách mạng Tháng Tám năm 1945 25
2.1.2 Kháng chiến chín năm 27
2.1.3 Chiến thắng Điện Biên phủ 29
2.2 Cái "tôi" tác giả gắn với cái "ta"quần chúng trong bức tranh nhân dân kháng chiến 31
2.2.1 Hình ảnh người lính 31
2.2.2 Hình ảnh người phụ nữ 45
Trang 42.3 Tình yêu quê hương đất nước 53
2.4 Tình cảm gắn bó với lãnh tụ và quê hương cách mạng 59
Ch ƣơng 3: GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT CỦA TẬP THƠ “ VIỆT BẮC” 72
3.1 Sự gắn bó khăng khít giữa tính dân tộc và tính đại chúng 72
3.1.1 Thể thơ, câu thơ 72
3.1.2 Nhạc điệu 78
3.1.3 Ngôn ngữ, hình ảnh 88
3.1.4 Niêm luật và vần 92
3.2 Sự kết hợp giữa tính dân tộc và âm hưởng hiện đại 96
KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
Trang 5Việt Nam Bộ tuyển tập Tố Hữu - Về tác giả và tác phẩm, do Nhà xuất bản Giáo
dục in năm 2003 gồm 929 trang, thuộc loại lớn nhất, đã tuyển chọn những bài
viết, những công trình nghiên cứu về giá trị tư tưởng, giá trị giáo dục và giá trị nghệ thuật trong thơ ông
Thế nhưng sau khi chiến tranh kết thúc (1975), cho đến khi đất nước bước sang thời kỳ đổi mới dường như thơ Tố Hữu có nhạt dần đi vị trí và vai trò của mình trong nền thơ ca dân tộc Từ tập thơ Một tiếng đờn (1992), cho đến Ta với
ta (2000) trong đời sống học đường hầu như không có một luận văn nào nghiên
cứu về thơ ông Các tác phẩm trước đó trong hành trình sáng tác của ông cũng ít được nhắc tới Để bù đắp vào chỗ trống thiếu đó chúng tôi muốn góp một phần
nhỏ bé để nhìn nhận lại giá trị của thơ Tố Hữu nói chung và tập thơ Việt Bắc nói
riêng trong nền thơ ca dân tộc
1.2.Trong hành trình thơ Tố Hữu, tập thơ Việt Bắc (1954) và tập thơ Từ ấy
lúc tái bản lần thứ nhất (1959), đã tạo nên hai cuộc tranh luận sôi nổi trong giới
sáng tác và phê bình Đáng chú ý là cuộc tranh luận về tập thơ Việt Bắc diễn ra
ngay sau 1954, với những ý kiến nghiêng về phủ định nhằm hạ thấp giá trị thơ Tố
Hữu, trên vấn đề đánh giá giá trị hiện thực, tính giai cấp, tính đảng của tập thơ, và
cũng có nhiều ý kiến khẳng định giá trị cơ bản của tập Việt Bắc theo chiều hướng
ngược lại Do vậy chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu để định lại giá trị của tập thơ với tiêu đề: Giá trị và vị trí của tập thơ" Việt Bắc" trong hành trình thơ Tố Hữu
Trang 61.3 Tôi được sinh ra và lớn lên ở chiếc nôi quê hương cách mạng, gắn
với cảnh quan thiên nhiên, và những con người bình dị đã làm nên lịch sử Đó
là mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào; là rừng cọ, đồi chè, bến nước Bình Ca…những địa danh in đậm dấu ấn lịch sử của dân tộc ta trong chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp Lịch sử nơi đây đã trở thành kỷ niệm gắn
bó sâu nặng với Tố Hữu, và được kết đọng lại trong các vần thơ của ông, trước
hết là tập thơ Việt Bắc
Là người con của quê hương cách mạng, và là giáo viên một trường phổ thông mang tên địa danh lịch sử Tân Trào, tôi rất yêu thích và có nhiều cảm xúc
đối với thơ Tố Hữu, đặc biệt là tập thơ Việt Bắc, bởi ông đã ghi lại một cách chân
thực những nét đẹp mộc mạc, giản dị của con người và cảnh quan thiên nhiên một
miền sơn cước - nơi tôi sống và công tác Vì vậy nếu đề tài được thực hiện thành công, chúng tôi hy vọng sẽ góp phần để tác phẩm Việt Bắc mãi mãi nhận được
sự đón đợi và mến mộ của đông đảo bạn đọc, trong đó có người đọc là các thế hệ
trẻ của quê hương tôi
2 L ịch sử vấn đề
Trong hơn năm thập kỷ qua, thơ Tố Hữu đã trở thành một đối tượng nghiên cứu lớn của giới học thuật, thu hút đông đảo các nhà nghiên cứu, phê bình tên tuổi
2.1 Những bài nghiên cứu về thơ Tố Hữu nói chung
Ngay từ khi thơ Tố Hữu mới xuất hiện rải rác trên báo chí cách mạng vào
những năm cuối thời kỳ Mặt trận dân chủ Đông Dương, cùng với sự đón nhận
nồng nhiệt của công chúng, giới văn học cách mạng đã đánh giá cao thơ ông Trong bài viết đầu tiên giới thiệu về thơ Tố Hữu ( báo Mới, số 1, ngày 1-5-1939)
tác giả K và T đã khẳng định:“ Thơ Tố Hữu là cả một nguồn sinh lực đem phụng
sự cho lý tưởng”, “ Với Tố Hữu, chúng ta có một nhà thơ cách mạng có tài”, “nhà
ơ chiến sĩ”, “ nhà thơ của tương lai”…
Trang 7Từ sau 1954 cho đến sau 1975, có rất nhiều bài viết về thơ Tố Hữu Đặc
biệt có ba công trình biên khảo chuyên sâu về thơ ông Đó là: Thơ Tố Hữu của Lê Đình Kỵ (1979), Thơ Tố Hữu, tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng nói đồng chí của
Nguyễn Văn Hạnh (1985) và Thi pháp thơ Tố Hữu của Trần Đình Sử (1987) Hai
công trình đầu tiếp cận thơ Tố Hữu theo phương pháp truyền thống, kết hợp khảo
cứu công phu, khoa học với cảm thụ nghệ thuật tinh tế Hai tác giả đã lần đầu tiên nghiên cứu thơ Tố Hữu như một chỉnh thể toàn vẹn, có hệ thống, với nhiều phát
hiện và đánh giá quý báu theo phương pháp nghiên cứu mác xít
Công trình Thi pháp th ơ Tố Hữu của Trần Đình Sử tiếp cận thơ Tố Hữu
theo hướng thi pháp học đem đến những cảm nhận và đánh giá mới mẻ về thơ Tố
Hữu khác với cách phân tích truyền thống
Hà Minh Đức, cũng là một người bền bỉ, chuyên tâm nghiên cứu về thơ
Tố Hữu qua hai Lời giới thiệu công phu cho hai Tuyển tập thơ Tố Hữu vào các
năm 1979 (Nxb Văn học) và 1995 ( Nxb Giáo dục)
Ngoài ra còn có rất nhiều bài nghiên cứu về thơ Tố Hữu ở trong và ngoài
nước, tiêu biểu như của Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Hoàng Trung Thông, Nguyễn Đăng Mạnh, Vũ Đức Phúc, Nhìn chung các bài nghiên cứu đều có sự nhìn nhận đánh giá những giá trị cơ bản và nổi bật của thơ Tố Hữu
2.2 Những bài nghiên cứu về các tập thơ của Tố Hữu
Từ tập thơ đầu tay Từ ấy, đến các tập Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu và
Hoa, …đã có hàng trăm bài viết, công trình nghiên cứu phê bình phong phú, đa
dạng dọc theo đời thơ Tố Hữu suốt nửa thế kỷ qua
Tập thơ Từ ấy có các bài viết tiêu biểu của Đặng Thai Mai, Phan Cự Đệ,
Vũ Đức Phúc, Hoài Thanh,…
Tập thơ Việt Bắc có các bài viết tiêu biểu của Vũ Đức Phúc, Hoài Thanh,
Hoàng Trung Thông,
Trang 8Tập thơ Gió lộng có các bài viết tiêu biểu của Hoài Thanh, Lê Đình Kỵ,
Nguyễn Văn Long, Hà Xuân Trường…
Các tập thơ khác có các bài viết của Hà Minh Đức, Nguyễn Văn Hạnh, Hoài Thanh, …
2.3 Xung quanh tập thơ "Việt Bắc"
Có nhiều bài phê bình, đánh giá về tập Việt Bắc, đặc biệt xuất hiện tập
trung trong cuộc tranh luận diễn ra vào năm 1954- 1955 với hai luồng cảm hứng
Luồng cảm hứng phủ định với những bài viết của Hoàng Yến, Hoàng Cầm, Lê
Đạt… Hoàng Yến phủ định“chủ nghĩa hiện thực trong tập thơ Việt Bắc" Nhận
xét về bài thơ Bắn Hoàng Yến viết:“ Tác giả đã tổng kết sự việc trên tài liệu chứ
chưa kinh qua thực tế của cuộc sống để tổng kết chất thơ” “ Khi Tố Hữu nói về
cái Vi ệt Bắc oai hùng, cái đất thần thánh, thiêng liêng của cách mạng thì hơi thơ
đuối, khí thơ đoản, cái nhiệt tình nóng cháy trên kia tưởng như giảm sút đi”
Cũng như Hoàng Yến, Hoàng Cầm nhận xét:“ Tập thơ Việt Bắc thiếu chất sống
thực tế”, là“ thùng nước loãng”, là“ không hiện thực”, cụ thể khi nhận xét về bài
Cá n ước Hoàng Cầm viết: “Tình cảm gặp gỡ giữa anh cán bộ và anh bộ đội cũng
chỉ nhẹ nhàng lớt phớt” Ở bài Bắn“ Bài thơ tuy có vẻ sôi nổi giục bắn, mà thực ra
bàng quan lạnh lùng”… Lê Đạt nhận xét:“ Tính chất tiểu tư sản và xa thực tế là hai khuyết điểm căn bản nó cản trở khả năng hiện thực của Tố Hữu Nó là nguyên nhân của cái buồn, cái công thức, cái hời hợt rải rác trong tập thơ"
Bác lại các ý kiến trên là những bài viết khẳng định giá trị cơ bản và nổi
bật của tập thơ Việt Bắc, như của Hoài Thanh, Nguyễn Đình Thi, Vũ Đức Phúc,
Xuân Diệu,… cùng một số bạn đọc Vũ Đức Phúc nhận xét về tập thơ Việt Bắc,
cụ thể bài thơ Em bé Triều Tiên “những dòng thơ của Tố Hữu, ngoài việc tả
những cảnh thảm thiết, điển hình, có thực, cũng không có một chữ nào nói quá đi
để làm cho người đọc ghê rợn” Hoài Thanh khẳng định “Cả tập thơ Việt Bắc xây
ựng trên một tình yêu lớn: tình yêu nước Giá trị tập thơ, tác dụng tập thơ là ở
Trang 9đó” Nguyễn Đình Thi cũng đánh giá cao thơ Tố Hữu“ Thơ Tố Hữu đi vào thực
tế quần chúng” Xuân Diệu rất nhạy cảm để chỉ ra nét riêng của thơ Tố Hữu là“
Tiếng thơ của tình thương mến” làm nên“ hương vị của thơ Tố Hữu” và là nét
chủ đạo trong phong cách nghệ thuật của ông
Cuộc thảo luận kết thúc với bài tổng kết của Hoàng Trung Thông về tập
thơ Việt Bắc ( Báo Nhân dân, 11-1955)
Năm 2005, Lại Nguyên Ân tập hợp những bài viết trong cuộc thảo luận, thành một ấn phẩm sưu tầm và biên soạn có tên: Tư liệu thảo luận 1955 về tập
th ơ" Việt Bắc"
Nhìn chung, trong quan niệm văn học và cách phê bình lúc này, tính chất
xã hội học là nét khá đậm, ở cả những ý kiến đề cao lẫn những ý kiến hạ thấp giá
trị tập thơ Qua hai luồng cảm hứng phủ định và khẳng định giá trị cơ bản của tập
thơ, ta thấy những bài viết mang quan điểm phủ định quy chiếu tác phẩm văn học vào các nội dung xã hội, chính trị, đồng nhất văn học với chính trị, vận dụng quan điểm giai cấp một cách máy móc để phân tích văn học Thậm chí đôi khi còn
cường điệu, không nói đúng những gì tác phẩm vốn có, dẫn đến nhận định mang tính chủ quan cho rằng thơ Tố Hữu là“ bản chất tiểu tư sản cách mạng, chủ nghĩa
ái quốc trong tập thơ Việt Bắc là chủ nghĩa ái quốc lãng mạn tiểu tư sản”
Trong cuộc thảo luận này ngoài hai luồng ý kiến ngược nhau như trên,
cũng đã có nhiều bài phê bình thực sự có giá trị, khám phá và phân tích những giá
trị nổi bật của tập thơ Việt Bắc Để nhìn nhận đúng giá trị, vị trí của tập thơ, ta
phải đặt tập thơ trong hoàn cảnh lịch sử xã hội lúc đó Cụ thể là trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1946- 1954), thơ Tố Hữu giữ một vị trí quan
trọng trong thơ kháng chiến, và được phổ biến rộng rãi, bởi thơ ông đáp ứng được
sớm nhất và tốt nhất cho hai yêu cầu cơ bản của văn học cách mạng và kháng chiến- đó là dân tộc hoá và đại chúng hoá như đã được đặt ra trong Đề cương về
v ăn hoá Việt Nam 1943; và hai phương châm: Cách mạng hoá tư tưởng và quần
Trang 10chúng hoá sinh ho ạt, trong những năm sau đó khi cả dân tộc bước vào cuộc
kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp Trong nền thơ kháng chiến chống Pháp không có một tên tuổi nhà thơ nào có được vị trí xứng đáng như nhà thơ Tố
Hữu Các tác giả khác tên tuổi họ thường chỉ gắn với một hoặc vài bài thơ như Hoàng Lộc với Viếng bạn, Hồng Nguyên với Nhớ, Tân Sắc với Lên Cấm Sơn,
Trần Hữu Thung với Thăm lúa, Hồ Vi với Lời quê, Quang Dũng với Tây
ti ến…Riêng Tố Hữu là sự xuất hiện liên tục, đều đặn những bài thơ được quần
chúng yêu mến, cho đến bài thơ dài Việt Bắc được chọn làm tên chung cho tập
thơ gồm 37 bài được ấn hành ngay sau hoà bình lặp lại 1954
2.4 Khảo sát văn bản tập thơ Việt Bắc
Tìm hiểu giá trị tập thơ Việt Bắc, trên từng bài riêng lẻ, hoặc chung cho cả
tập thơ, chúng ta không thể không kháo sát quá trình nhà thơ sửa chữa trên từng bài, và thêm bớt qua mỗi lần tái bản; qua đó thấy nhà thơ đã dụng công như thế nào để cho Việt Bắc luôn luôn đạt được sự hoàn thiện tối ưu trong tiếp nhận và
cảm xúc thẩm mỹ của người đọc Chưa có điều kiện khảo sát kỹ tất cả các bài; ở đây chúng tôi mới chỉ nêu hai trường hợp ghi nhận sự sửa chữa cẩn trọng của tác
giả, từ khi in báo, và được đưa vào sách- đó là bài Lên Tây Bắc và bài Lượm
● Bài Lên Tây Bắc, đăng lần đầu trên Tạp chí Văn nghệ (số 8, 9 ), tháng 1,
2 n ăm 1949; với mở đầu:
Các anh đi trước, tôi đi sau
C ũng lá che lưng lá lợp đầu
B ỡ ngỡ anh trông người lính lạ Theo anh không bi ết để đi đâu
Sáng nay ra tr ận lên Tây Bắc Hai đứa ta cùng đi đánh giặc
ắp súng vai đeo dao
Trang 11Tôi có gì đâu, chỉ cái xắc Tôi đi như đứa trẻ thơ ngây Được mẹ cho theo dự cỗ đầy
Khi đưa vào tập thơ Việt Bắc, theo văn bản in xong ngày 15.4.1955 bốn
câu thơ đầu đã bị lược bỏ và sáu câu thơ sau rút lại còn bốn câu thơ:
Sáng nay ra tr ận lên Tây Bắc Hai đứa ta cùng đi đánh giặc Tay dao tay súng, g ạo đầy bao Chân c ứng đạp rừng gai đá sắc
● Bài Lượm, đăng lần đầu trên báo Cứu quốc ngày 15.4.1948, với đoạn mở
đầu như sau:
Cháu Nha Trang ra
G ặp chú ở Huế Chú h ỏi : Còn ba?
Cháu r ằng: Mặc kệ ! Cháu không th ương ba?
Ông n ội, cháu thương!
R ồi Huế đổ máu
Trang 12Khi đưa vào tập Việt Bắc theo văn bản in xong ngày 15.4.1955, thì 12 câu
thơ đầu được cắt bỏ và bài thơ được bắt đầu từ câu thơ:
Ngày Hu ế đổ máu Chú Hà N ội về Tình cờ chú cháu Gặp nhau Hàng Bè
Phần cuối bài Lượm in xong ngày 15.4.1948 như sau:
Th ư đề "thượng khẩn"
Chú ngã : Ru ột phèo Chú đã chết
Ch ết
Ch ết thật rồi
L ượm ơi!
A chú c ười Híp mí Chú đồng chí
Ch ắc bây giờ Chú n ửa ngờ Chú ch ưa biết Chú ch ết
Chú bé lo ắt choắt
Phần cuối bài Lượm in xong ngày 15.4.1955 được thay bằng một đoạn thơ khác:
Vụt qua mặt trận Đạn bay vèo vèo
Th ư đề" Thượng khẩn"
S ợ chi hiểm nghèo!
Đường quê vắng vẻ
Trang 13Ca- lô chú bé
Nh ấp nhô trên đồng
B ỗng loè chớp đỏ Thôi r ồ, Lượm ơi!
Chú đồng chí nhỏ
M ột dòng máu tươi!
Cháu n ằm trên lúa Tay n ắm chặt bông Lúa th ơm mùi sữa
H ồn bay giữa đồng
L ượm ơi còn không?
● Số lượng bài của Việt Bắc từ lần in đầu đến các lần in sau cũng có thay đổi
* Văn bản in xong ngày 15.4.1955, gồm 24 bài thơ
* Văn bản in xong tháng 12 năm 1998, gồm 27 bài thơ
- Thêm: 7 bài thơ ( Đêm xanh, Tình khoai sắn, Trường tôi, Lạnh lạt, Sợ, Bà
b ủ, Mưa rơi)
- Bỏ : 4 bài thơ ( Em bé Triều Tiên, Bao giờ hết giặc, Bài ca tháng Mười,
Đời đời nhớ Ông)
Nhìn vào sự thay đổi này, chúng ta cũng có thể thấy những biến động lớn
của thời cuộc đã quy định chặt chẽ giá trị của tác phẩm như thế nào
Trên đây là khảo sát bước đầu của chúng tôi (chưa thật đầy đủ) về văn bản
tập thơ Việt Bắc đã được in và sửa chữa ở những thời gian khác nhau Khi nghiên
cứu chúng tôi dựa theo văn bản in xong tháng 12 năm 1998
Trang 143 M ục đích nghiên cứu
Luận văn nhằm chỉ rõ những giá trị về nội dung và nghệ thuật của tập
thơ Việt Bắc, đồng thời khẳng định vai trò của tập thơ Việt Bắc trong nền thơ
ca kháng chiến chống Pháp và rộng ra là nền thơ ca hiện đại Việt Nam
4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
Để thực hiện luận văn, chúng tôi đã được tham khảo và nghiên cứu các tài
liệu sau
- Toàn bộ thơ ca kháng chiến chống Pháp (1945- 1954)
- Tập thơ Việt Bắc từ văn bản 1 đến văn bản cuối cùng
- Trong khi tập trung khảo sát tập thơ Việt Bắc, chúng tôi chú ý hai tập thơ
có mối liên hệ kề cận là tập thơ Từ ấy và tập thơ Gió lộng
- Các công trình, bài viết xung quanh giá trị tập thơ Việt Bắc và về thơ Tố
Hữu nói chung
5 Nhi ệm vụ nghiên cứu
- Luận văn chỉ ra những giá trị nội dung và nghệ thuật của tập thơ Việt Bắc
- Khẳng định vị trí của tập thơ trong nền thơ ca hiện đại Việt Nam
6 Ph ƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp so sánh- đối chiếu
- Phương pháp phân tích- tổng hợp
7 C ấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn có cấu trúc gồm 3 chương:
Chương 1: Việt Bắc trong nền thơ Việt Nam từ 1945->1954
Chương 2: Giá trị nội dung của tập thơ Việt Bắc
Chương 3: Giá trị nghệ thuật của tập thơ Việt Bắc
Trang 15C HƯƠNG I
1.1 T ổng quan về thơ Việt Nam 1945 đến 1954
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 chấm dứt ngót tám mươi năm nô lệ
dưới ách chủ nghĩa thực dân Pháp, mở ra một kỷ nguyên mới- kỷ nguyên Độc lập
Tự do cho dân tộc Đồng thời giải phóng cho văn học thoát khỏi những quẩn quanh, bế tắc, chán chường, tuyệt vọng, đem lại một nguồn cảm hứng sáng tạo
lớn lao cho thơ ca Trước hết đó là nguồn cảm hứng giải phóng, hồi sinh Trong
bầu không khí những ngày đầu cách mạng, hầu hết các nhà thơ từ các xu hướng nghệ thuật khác nhau đã tập hợp dưới ngọn cờ cách mạng Chưa nhiều ý thức
nhưng lại rất nhiều cảm xúc, bằng sự nhạy cảm của người nghệ sĩ, các nhà thơ đã nhanh chóng nhận ra ý nghĩa lớn lao của thời điểm lịch sử đánh dấu sự hồi sinh dân
tộc trong độc lập tự do
Cảm hứng nổi bật và bao trùm thơ ca thời kỳ này là niềm vui sướng, tự hào đến mức say mê, nồng nhiệt trước cuộc“ tái sinh mầu nhiệm”( chữ dùng của Hoài Thanh) của đất nước và con người Việt Nam Nguồn sống của thời đại mới khơi
dậy sức sáng tạo cho các nhà thơ Với hai khúc tráng ca Ngọn quốc kỳ, Hội nghị
non sông, Xuân Diệu đã mở ra chặng đường thơ cách mạng trong sự nghiệp sáng tác của mình Với Tố Hữu, nhà thơ hàng đầu của nền thơ cách mạng, thì thắng lợi
của Cách mạng Tháng Tám là một luồng gió lớn cuốn mạnh hồn thơ lên đỉnh cao
của cảm hứng lãng mạn sôi trào Hơn bất cứ nhà thơ nào khác, ở tác giả Từ ấy, đó
là niềm vui lớn như được dồn tụ vào một điểm hẹn không gian và thời gian: Huế
Tháng Tám (1945) Một năm sau, hòa trong dòng người cuồn cuộn của đêm hội hoa đăng giữa lòng Hà Nội chào đón một năm ngày độc lập, Tố Hữu lại tràn ngập
một niềm Vui bất tuyệt (1946) Trần Mai Ninh cũng là một cây bút tài năng, giàu
nhiệt huyết từ thời kỳ Mặt trận Dân chủ Nhà thơ da diết những cảm xúc về Tổ
Trang 16quốc trong Tình sông núi, dữ dội trong Nhớ máu."Trần Mai Ninh người đón trước
và làm kết đọng hai tình cảm lớn của dân tộc, cũng là người đi đầu và sớm nhất trong việc tự do hóa và làm mới câu thơ "( Lưu Khánh Thơ )
Đứng trước sự đe dọa của thù trong giặc ngoài, nền thơ ca mới đã thể hiện
rõ nhiệt tình yêu nước chiến đấu, cổ động toàn dân tham gia vào công cuộc dựng
nước và giữ nước, đả kích các thế lực tay sai phản động đang điên cuồng tấn công chính quyền cách mạng Nền thơ kháng chiến đã thực sự bắt đầu cùng với khí thế
giết giặc cứu nước và phong trào Nam tiến sôi nổi ngay sau khi thực dân Pháp quay lại xâm lược Miền Nam Theo lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, cả nước bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp Trên chặng đường chín
năm ấy, thơ ca đã góp phần tích cực vào công cuộc kháng chiến của dân tộc và xây dựng nên nền móng vững chắc và hết sức cơ bản cho sự phát triển của nền
thơ ca hiện đại
Trong nền thơ ca kháng chiến, thơ Hồ Chủ tịch có vị trí và ý nghĩa tiêu
biểu Thơ Bác hướng tới mọi tầng lớp quần chúng nhân dân, khơi dậy sức mạnh
của toàn thể dân tộc Trong lời kêu gọi của vị lãnh tụ như đã vang vọng lời đáp
của nhân dân Những bài thơ trữ tình của Bác trong kháng chiến, kết thành chùm
thơ đặc sắc, mở ra một thế giới phong phú, những xúc động tâm tình của vị lãnh
tụ cách mạng, của nhà thơ trong một bối cảnh không gian và lịch sử rộng lớn: đất
nước kháng chiến, thiên thiên đất nước hiện lên đẹp đẽ với những rung cảm trữ tình, nhưng trung tâm của khung cảnh vẫn là con người, là hình ảnh cuộc kháng chiến: một tiếng chuông báo tin thắng trận, đội quân du kích đánh giặc trở về, tin báo tiệp dập dồn chân ngựa Thơ Bác là sự kết tinh cao nhất hiện thực kháng chiến, tinh thần kháng chiến
Cả dân tộc bước vào cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện suốt chín năm
để giành lại và bảo vệ chủ quyền, độc lập của dân tộc Cũng như mọi lĩnh vực
ạt động văn hóa tinh thần khác, thơ ca đã được huy động vào cuộc chiến đấu
Trang 17của nhân dân, trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống tinh thần của con người Việt Nam kháng chiến Hoài Thanh nhận xét:" Con người kháng chiến
lo lắng, hồi hộp, chờ đợi, hy vọng, phấn khởi, sống dồn trong một hai năm nhiều
hơn những cuộc sống nhạt kéo dài trong hàng thế kỉ Do đó thấy cần phải có thơ Các nhà thơ làm thơ, anh cán bộ chính trị, anh thông tin, anh đội viên binh nhì, các chị phụ nữ, các em thiếu nhi, hết thẩy đều làm thơ Hầu hết những con người mang ba lô lặng lẽ đi trên các nẻo đường kháng chiến, trong một cuốn sổ tay nào
đó cũng có ít bài thơ, trong các buổi họp mặt, các buổi liên hoan trên báo tay, báo tường, thơ có khi lại còn nhiều hơn văn xuôi và thơ cũng là phần được công chúng những tờ báo ấy đọc nhiều hơn cả Trong cuộc chiến tranh nhân dân của chúng ta, tiếng súng, tiếng nhạc, tiếng thơ, cùng hòa điệu"
Phong trào sáng tác thơ, ca dao, hò, vè của quần chúng phát triển sôi nổi và
rộng khắp: Có thơ của từng giới, từng ngành; có thơ bộ đội, thơ dân công, thơ quân giới, thơ nông binh…; thơ kết thành từng mảng đề tài: thơ phát động, thơ trong chiến dịch sông Thao, thơ chiến dịch Điện Biên Phủ… Phong trào thơ quần chúng là cái nền vững chắc của thơ kháng chiến, là điểm tựa vạm vỡ nâng đỡ cho
mọi tìm tòi của nhà thơ Hướng đi của thơ kháng chiến là nhằm theo cái hướng
sống chắc nịch được thể hiện giản dị và lành mạnh trong thơ ca quần chúng
Trong phong trào thơ ca quần chúng nổi bật lên vai trò thơ bộ đội, thơ
“đội viên”, thơ của những người lính thực sự Thơ trở thành một công cụ tự nhận
thức, tự giáo dục, trở thành một hình thức tuyên truyền đầy sức mạnh, khi người đội viên, chiến sĩ, chủ yếu là những người lính nông dân ý thức được bản thân mình, cũng ý thức được quyền làm chủ của mình Và trong sinh hoạt, thơ bộ đội
đã diễn ra sự giao thoa và đan kết kỳ lạ giữa cuộc sống và văn thơ, giữa ý thức tự giác và bản năng sáng tạo hồn nhiên, giữa chức năng giáo dục và chức năng giải trí, giữa yêu cầu kháng chiến hóa văn hóa và yêu cầu văn hóa hóa kháng chiến mà
Hồ Chủ tịch đã đúc kết thành phương châm Trong những năm đầu của nền thơ
Trang 18ca dân chủ cộng hòa trẻ tuổi, thơ bộ đội, thơ của người lính là một phong trào thơ sôi nổi mạnh mẽ, đóng vai trò khai phá, xung kích của nền thơ kháng chiến
Phương châm dân tộc hoá, đại chúng hóa là xu hướng mà nhiều nhà thơ
đã tìm đến ngay từ những năm đầu của cuộc kháng chiến và nó sớm trở thành khuynh hướng chủ đạo trong thơ ca giai đoạn này, đã thu hút nhiều cây bút thuộc nhiều thế hệ khác nhau
Thế hệ nhà thơ trước Cách mạng Tháng Tám cũng chuyển hẳn sang viết
những bài thơ theo lối thơ đại chúng Xuân Diệu có Bà cụ mù lòa, Tặng làng
Còng và t ập thơ Mẹ con được viết trong thời gian đi tham gia phát động quần
chúng ở Thanh Hóa Chế Lan Viên viết Bữa cơm thường trong bản nhỏ, Nhớ lấy
để trả thù Lưu Trọng Lư dựa trên các điệu dân ca hát giặm, để viết những bài O
ti ếp tế, Tiếng hát tăng gia, Ngò cải đơm hoa Nguyễn Bính ở Nam Bộ có hai bài
thơ dài Đồng Tháp Mười và Ông lão mài gươm Tế Hanh kể chuyện Người đàn
bà Ninh Thu ận…Ở thế hệ nhà thơ này diễn ra bước ngoặt chuyển biến với rất
nhiều dằn vặt đớn đau của một qúa trình “lột xác” Mỗi nhà thơ đều gánh vác
những công tác kháng chiến với tinh thần công dân tích cực Những chuyến đi cùng dân công, cùng bộ đội, những đợt tham gia đấu tranh giảm tô và cải cách
ruộng đất, phương châm “cách mạng hóa tư tưởng, quần chúng hóa sinh hoạt” được hưởng ứng một cách tự giác, đã từng bước làm chuyển biến tư tưởng và tình
cảm nhà thơ, tuy nhanh chậm khác nhau Nhìn chung, ở lớp nhà thơ này, quá trình nghiền ngẫm tìm tòi để đổi mới hồn thơ còn kéo dài trên suốt chặng hành trình kháng chiến, có người viết nhiều, viết khỏe nhưng chưa thật nhuần nhuyễn;
có người viết còn cầu kỳ, rắc rối; có người viết rất ít, hoặc gần như im lặng Điều
nhận ra ở đây là thơ của họ đã đến với cuộc sống, phản ánh tâm tư nguyện vọng
của quần chúng một cách chân thành Tuy thành quả chưa nhiều, nhưng mỗi nhà
thơ đều có những bài thơ có ý nghĩa đánh dấu sự chuyển biến của nhận thức, xúc
ảm và bút pháp, góp phần vào thành tựu chung của thơ ca cách mạng
Trang 19Bộ phận các nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến sớm từng bước
khẳng định sức sáng tạo của mình Họ đã đến được với tiếng nói trữ tình của quần chúng và đóng góp cho thơ kháng chiến nhiều tác phẩm tiêu biểu Hoàng Trung Thông với tập Quê hương chiến đấu, Trần Hữu Thung với Đồng tháng năm và
D ặn con, Minh Huệ với bài Đêm nay Bác không ngủ, Hồng Nguyên với Nhớ, Hồ
Vi với Lời quê Các nhà thơ dân tộc thiểu số như Nông Quốc Chấn, Bàn tài
Đoàn, và nhiều nhà thơ khác đã đem đến cho thơ kháng chiến tiếng thơ độc đáo,
hồn nhiên, mang bản sắc riêng của mỗi dân tộc Phần lớn trong số họ được rèn luyện và trưởng thành từ công tác kháng chiến, từ phong trào văn nghệ quần chúng Thực tế lớn lao của kháng chiến, vẻ đẹp lớn lao của những con người đánh
giặc là cảm hứng chủ đạo, thôi thúc họ cầm bút với những trang viết tràn đầy cảm xúc về tình đồng chí, đồng đội, lòng yêu quê hương, tinh thần chiến đấu, trách nhiệm công dân và lòng trung thành với Tổ quốc
Thơ kháng chiến tập trung biểu hiện những tình cảm cộng đồng và tinh
thần công dân mà bao trùm là tình yêu nước, với những biểu hiện phong phú,
thấm sâu vào mọi mặt trong đời sống của con người kháng chiến Thế giới của cái"tôi" trở nên chật hẹp, thậm chí bị coi là lạc lõng, vô nghĩa khi nó không hòa
nhập vào cái "ta" cộng đồng Con người kháng chiến sống với những biến cố dữ
dội, những sự kiện lịch sử, những rung động mạnh mẽ và mới lạ, họ chỉ thực sự tìm thấy sức mạnh, niềm vui và niềm tin tưởng ở trong đội ngũ đông đảo của tập
thể, của giai cấp và dân tộc
Cách mạng không chỉ giải phóng cho đông đảo quần chúng nhân dân mà còn phải dựa hẳn vào lực lượng quần chúng, phát huy sức mạnh vĩ đại và tiềm
năng cách mạng của quần chúng để thực hiện những sự nghiệp lớn Quần chúng nhân dân, mà trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp chủ yếu là công nông binh,
đã trở thành nhân vật chính yếu của lịch sử, do đó trở thành những nhân vật chủ
chốt và tiêu biểu của nền văn học mới Trong thơ kháng chiến, hình ảnh con
Trang 20người quần chúng đã xuất hiện ngay từ buổi đầu và ngày càng đông đảo, đa dạng, chân thực Làm biến đổi hẳn các dạng thức của cái "tôi" trữ tình và nhân vật trữ tình trong thơ lãng mạn trước đây
Cách mạng và kháng chiến đưa thơ trở về với hiện thực cuộc sống của đất
nước và nhân dân Giúp các nhà thơ tìm thấy chất thơ trong cuộc sống hàng ngày, trong sinh hoạt, lao động và đấu tranh của quần chúng Con đường đi của phong
trào th ơ mới trước Cách mạng là con đường thoát ly thực tại, tìm đến cảnh tiên
hay tìm về quá khứ vàng son và còn bao nhiêu những lối thoát ly khác nữa, trong tình và mộng, trong vũ trụ siêu hình, hoặc trong cái "tôi" cô đơn, cô độc Nhà thơ
của thời đại mới trước hết là một công dân, một cán bộ, hay chiến sĩ, sống với
cuộc đời thực, với mọi gian khổ, buồn vui, lo lắng, hy vọng của con người kháng chiến, cùng với đông đảo mọi người Đời sống như vậy đã tác động và làm biến đổi cách nhìn, cách nghĩ, điệu cảm xúc của người làm thơ
Các nhà thơ Việt Nam thời kỳ này tề tựu đông đủ trở thành một lực lượng
mạnh, tràn đầy khí thế sôi nổi, đem hết tâm hồn và nghị lực của mình hòa chung vào dòng thác lớn thời đại, cố gắng nắm bắt hiện thực mới Họ đã xây dựng nhiều hình ảnh đẹp về anh bộ đội, những người lính giản dị mà vô cùng anh dũng; về
những người mẹ, người phụ nữ cần cù chịu khó và giàu lòng yêu thương; về
những em bé gan dạ, quên mình vì kháng chiến; về lòng biết ơn sâu sắc với Chủ
tịch Hồ Chí Minh; về những tên đất, tên làng, những trận đánh được phản ánh khá chi tiết; về những sự việc, chính sách, đường lối kháng chiến được thể hiện khá nhuần nhị, làm nên diện mạo mới cho nền thơ ca kháng chiến
Trong nền thơ kháng chiến, tập thơ Việt Bắc là thành công lớn nhất, tiêu
biểu nhất." Chỉ có nhà thơ lớn mới có thể hiểu thấu chất thơ của thời đại mình vì
chất thơ của mọi thời đại trước đó bao giờ cũng dễ hiểu hơn"( H Hainơ) Tố Hữu
là nhà thơ lớn trước hết theo ý nghĩa ấy Vậy điều gì đã khiến nhà thơ có được sự thành công Đó là: Ông tiếp thu truyền thống thơ ca dân gian, cổ điển của dân tộc,
Trang 21một sự tiếp nhận sâu và đa diện, tiếp nhận một cách sáng tạo đầy bản lĩnh những tinh hoa của thơ ca truyền thống, để góp phần diễn tả một cách sinh động những
tư tưởng, tình cảm mới của thời đại Những sự kiện lịch sử, cảm xúc rất mới đã
được ghi lại trong tập thơ Việt Bắc với ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, tự nhiên, chứa
đựng lối nói, lối nghĩ của quần chúng
Ngòi bút của Tố Hữu tiến lên nối tiếp truyền thống của các nhà thi hào cổ điển ở bút pháp hết sức tinh tế, chất trữ tình tha thiết, khêu gợi nhiều hơn diễn tả,
chữ đúc lại với nhau Là nhà thơ tiếp thu những tinh hoa của các thế hệ nhà thơ
nổi tiếng từ trước 1945 như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Xuân Diệu, Huy
Cận, Lưu Trọng Lư và thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến như Chính Hữu, Hoàng Trung Thông, Trần Hữu Thung Ông là người có tư cách cùng lúc đại diện cho cả hai thế hệ nhà thơ trong sự gắn bó những gì ưu tú nhất
Sự kế tục dòng thơ cách mạng của các chiến sĩ cộng sản, nhưng đã được đổi mới trên cơ sở vận dụng những thành tựu hiện đại hoá thơ ca đương thời, đem đến cho văn học cách mạng một tiếng thơ mới mẻ Âm hưởng hùng tráng, trong không khí lạc quan hừng hực đấu tranh bảo vệ thành quả cách mạng, hình ảnh, ngôn ngữ, nhịp điệu câu thơ đều thể hiện tình cảm thiết tha gắn bó với non sông đất nước và lòng căm thù giặc Thơ giàu chất liệu hiện thực, cuộc sống đời
thường tràn vào thơ, và làm cho lời thơ gần gũi với tiếng nói hàng ngày, ở giọng
thơ tâm tình, ngôn ngữ giản dị của bản thân hiện thực Những con người thật đi vào thơ ông như những nguyên mẫu nhưng vẫn lung linh những nét sáng tạo của riêng Tố Hữu Nhà thơ học cách viết lấy người thực, việc thực làm hạt nhân tìm
tứ thơ trong đời sống của nhân dân
Tố Hữu sử dụng những vần thơ 5 tiếng, 7 tiếng, các loại thơ tự do, cùng
với việc sử dụng vần liên tục Tố Hữu đã nói: "Ở họ, Thế Lữ, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận, tôi đã học những sinh lực mới, những hình thức mới để biểu
hiện, những hình thức diễn đạt mới, một ngôn ngữ trực tiếp hơn, thơ hơn, nhân tình hơn, uyển chuyển hơn" Nhưng cái khác là ở Tố Hữu còn có những nét mạnh
dạn, những điều đặc sắc mà người khác không thấy Tác giả nhìn thẳng vào thực
Trang 22tế, để tâm hồn mình rung cảm sâu sắc với thực tế, rồi nói lên cảm xúc ấy bằng
những lời tự nhiên, không kiểu cách, đầy sức mạnh của sự thật để diễn tả đúng nguyện vọng, tâm tình của nhân dân
Tố Hữu đã thực sự nắm bắt được chất thơ của thời đại và điều quan trọng
đã thể hiện được nó bằng nghệ thuật, thông qua sự sáng tạo riêng mình Chất thơ
của hiện thực kháng chiến, Tố Hữu đã lĩnh hội được sớm nhất, nói lên được một cách giản dị và thấm thía nhất Xuân Diệu đã nói cảm tưởng của mình khi đọc bài
thơ Cá nước của Tố Hữu:" Tôi còn nhớ cái cảm tưởng đầu tiên của tôi khi đọc bài
thơ Cá nước trong số 1 này, một chất gì đó đã sinh ra, cái chất đó chỉ có thể sinh
ra được do tâm hồn người:" Tôi ở Vĩnh Yên lên- Anh trên Sơn Cốt xuống- Gặp
nhau l ưng đèo Nhe- Bóng tre trùm mát rượi" Đó là chân thành, chân thành Đó là
Tố Hữu, Tố Hữu Chúng tôi, một số thi sĩ đã viết thơ từ trước Cách mạng Tháng Tám, không phải là chúng tôi không biết sào nấu cho thơm điếc mũi lên, nhưng chúng tôi đứng lặng trước cái chất tình người này: "Một thoáng lặng nhìn nhau-
M ắt đã tìm hỏi chuyện- Đôi bộ quần áo nâu- Đã âm thầm thương mến " Tố
Hữu còn tìm đến một tâm thế trữ tình mới hướng vào khẳng định, ngợi ca nhân
vật quần chúng bằng cách sáng tạo kiểu trữ tình nhập vai hoặc để cái“ tôi” nhà
thơ lùi lại phía sau làm nổi bật hình ảnh quần chúng"
Vì vậy, Tố Hữu là nhà thơ thời sự thành công nhất trong nền thơ Cách
mạng, có sự khởi đầu tuyệt đẹp từ sau 1945 Chuyện đời vào thơ với tất cả vẻ tươi
tắn, vừa đậm tính dân tộc vừa hiện đại đã truyền cảm trực tiếp vào hàng triệu trái tim Điều đó được ghi nhận trong tập thơ Việt Bắc như một bước phát triển mới sau T ừ ấy
1.2 Con đường thơ Tố Hữu từ tập thơ Từ ấy sang tập thơ Việt Bắc
1.2.1 Từ tập thơ "Từ ấy"
T ừ ấy (1937- 1946) là chặng đầu mười năm thơ Tố Hữu cũng là mười năm
hoạt động sôi nổi, say mê từ giác ngộ qua thử thách đến trưởng thành của một
người thanh niên cách mạng trong một giai đoạn lịch sử sôi động của xã hội Việt
Trang 23cuộc đấu tranh cách mạng với tất cả tâm hồn và bầu nhiệt huyết của mình Là sự
biểu hiện một cách chân thực cái " tôi” hết sức trong sáng, hồn nhiên của một thế
hệ thanh niên khát khao lý tưởng, tự ca hát niềm vui lớn của mình khi bắt gặp lý
tưởng cộng sản chủ nghĩa Nhà thơ hình dung đó là" mặt trời chân lý" và nguyện
được chiến đấu hy sinh cho lý tưởng ấy:
T ừ ấy trong tôi bừng nắng hạ
M ặt trời chân lý chói qua tim
H ồn tôi là một vườn hoa lá
R ất đậm hương và rộn tiếng chim
( Từ ấy, 1938)
Ánh sáng lý tưởng chiếu rọi vào tâm hồn trẻ làm bừng nở một thế giới đầy
hương sắc, tràn trề sức sống và niềm vui Sự giác ngộ lý tưởng ấy tạo nên một
cái“ tôi” trữ tình kiểu mới trong thơ: cái“ tôi” gắn bó với muôn người, ở giữa mọi
người" Tôi buộc lòng tôi với mọi người Để tình trang trải với trăm nơi Để hồn tôi với bao hồn khổ Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời" Niềm vui tràn trề của
một tâm hồn trong trạng thái bừng ngộ, hòa vào niềm hân hoan của cả một thế hệ thanh niên cách mạng tạo nên một cảm xúc ngây ngất say mê:
Ồ vui quá! Rộn ràng trên vạn nẻo
B ốn phương trời vào theo dấu muôn chân
C ũng như tôi, tất cả tuổi đương xuân
Chen b ước nhẹ trong gió đầy ánh sáng
và niềm tin ở ngày mai
Trang 24Trong những năm tháng bị giam cầm, người thanh niên ấy luôn thấm thía
nỗi cô đơn vì phải xa phong trào, xa những người đồng chí Với Từ ấy, ta được
thấy tâm hồn nhạy cảm của ông khi đang nằm lắng nghe sau tầng tầng cửa sắt
những tiếng dội thưa thớt của đời sống hằng ngày bên ngoài:" Dưới đường xa nghe
tiếng guốc đi về”; khi nhà thơ gửi gắm những lời tâm huyết với người bạn tù“ đồng chí”; khi bâng khuâng“ nhớ người” và “ nhớ đồng”; hoặc khi thét lên cái ý chí đấu tranh trong những ngày tuyệt thực… Tất cả đều cháy bỏng nỗi khát khao tự do để được hoạt động
Suốt ba năm bị giam cầm đày ải trong các nhà tù thực dân, nếm trải nhiều gian nguy, có lúc đã cận kề bên cái chết, tinh thần và ý chí của người thanh niên cách mạng được tôi rèn để càng trở nên vững vàng, kiên định Con cá chột nưa
thể hiện chân thực cuộc đấu tranh nội tâm của người tù để giữ vững khí tiết cách
mạng, được trình bày như một màn kịch với sự xung đột giữa một bên là“ cái bụng”
với một bên là lương tâm của người chiến sĩ, cho dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào thì
người chiến sĩ vẫn phải giữ cho được ý chí, phẩm chất của người cách mạng
Trải qua cảnh tù đầy khắc nghiệt, tâm hồn người cách mạng trẻ tuổi vẫn nguyên vẹn sự nhạy cảm, tinh tế, giàu tình thương và luôn tha thiết với cuộc sống
Nằm trong xà lim Quy Nhơn, tâm hồn nhạy cảm của ông luôn hướng vào cuộc
sống bên ngoài nhà tù, lắng nghe và đón nhận những âm thanh của cuộc sống, thiên nhiên và con người, từ một tiếng dơi chiều đập cánh, tiếng guốc đi về, một
tiếng rao đêm lọt vào qua cánh cửa nhà tù Niềm căm hận kiếp tù đày, khát
vọng tự do và ham muốn được hoạt động, tất cả đã dồn tụ để thổi bùng lên một quyết tâm hành động vượt ngục:
Núi h ỡi! Từ đây băng xuống đó
Ch ừng bao nhiêu dặm, mấy đêm trường?
( Tiếng hát đi đày, 1942)
Sau khi thoát tù, nhà thơ kêu gọi lứa tuổi trẻ hãy mạnh dạn dấn thân vào
cuộc đấu tranh trong thời điểm mà khí thế cách mạng đang sục sôi
Trang 25Đi, bạn ơi, đi! Sống đủ đầy
S ống trào sinh lực, bốc men say
S ống tung sóng gió thanh cao mới
S ống mạnh, dù trong một phút giây
( Đi, 1944 )
Trong những ngày sôi sục của Cách mạng Tháng Tám và trong niềm vui
tưng bừng của độc lập tự do, hồn thơ Tố Hữu như được chắp cánh bay bổng trong
cảm hứng lãng mạn say sưa với niềm vui lớn của dân tộc Huế tháng Tám ghi lại
hình ảnh kinh thành Huế trong giờ phút lịch sử trọng đại ngày 23- 8-1945, khi chính quyền về tay nhân dân, một hình ảnh thật lớn lao, bay bổng" Ngực lép bốn
nghìn n ăm, trưa nay cơn gió lạnh, Thổi phồng lên, tim bỗng hóa mặt trời"
Ở Từ ấy Tố Hữu đặt ra nhiều vấn đề trước cuộc đời Người thanh niên trí
thức, khi tâm hồn bừng sáng lý tưởng cách mạng, đã nhìn cuộc đời từ nhiều phía, trong tầm xa và chiều sâu, trong quan hệ giữa sự sống và cái chết, cái riêng và cái chung; dân tộc và thời đại,… Từ ấy mang theo hơi thở và máu thịt của cuộc đời
chung, nhưng trước hết là của tác giả: sôi nổi, trẻ trung và thanh khiết, cái đẹp, cái cao cả của lý tưởng, của cuộc đời đang đẩy lùi mọi cái xấu xa, vẩn đục Từ ấy có
phần là tiếng hát, có phần là nỗi niềm tâm sự và có cả tiếng nói quyết tâm của ý chí trên con đường đấu tranh Cái“ tôi” của người cộng sản trẻ tuổi ghi dấu ấn
đậm nét Nói như Hoài Thanh Từ ấy là“ Tiếng ca của một thanh niên, một người
cộng sản”
1.2.2 đến tập thơ "Việt Bắc"
Tập thơ Việt Bắc (1946-1954) thể hiện sự chuyển biến mạnh mẽ của thơ
Tố Hữu theo hướng dân tộc và đại chúng, phù hợp với phương châm của nền văn
nghệ mới, như được ghi trong Đề cương về văn hoá Việt Nam- 1943
Nếu như ở Từ ấy nổi bật và kết tinh giá trị của tập thơ là hình tượng cái
"tôi" trữ tình tác giả - người thanh niên cộng sản, thì đến Việt Bắc là bước chuyển
Trang 26từ cái "tôi" sang cái "ta" chung của dân tộc, của giai cấp Là bản hợp ca của một dân tộc anh hùng không chịu khuất phục trước bất cứ kẻ thù nào, trước bất cứ khó
khăn, gian khổ nào để dành cho được độc lập, tự do Bản hợp ca đó được xây
dựng trên một nền trữ tình phong phú, nổi bật là hình tượng quần chúng nhân dân kháng chiến Có thể nói tập thơ Việt Bắc là hình ảnh, tâm tình, tiếng nói của quần
chúng kháng chiến Nhà thơ tập trung thể hiện hình ảnh những con người đại diện cho quần chúng với những chi tiết chân thực mà bình dị của đời sống, trong mọi
hoạt động kháng chiến với tâm tình, ý nghĩ và tiếng nói của họ Đó là anh Vệ
quốc quân đã làm nên chiến thắng Việt Bắc vang dội:
Gi ọt giọt mồ hôi rơi Trên má anh vàng ngh ệ Anh V ệ quốc quân ơi Sao mà yêu anh th ế!
( Cá nước, 1947)
Là chị nông dân con mọn vượt lên những gian khổ, thiếu thốn, hăng hái tham gia tiêu thổ kháng chiến," phá đường" chặn bước đi của giặc:
Nhà em ph ơi lúa chửa khô
Ngô ch ửa vào bồ sắn thái chưa xong
Ngoài phên gió núi ù ù
M ưa đêm mưa tự chiến khu mưa về…
( Bà bủ, 1948)
Trang 27Là em bé liên lạc hồn nhiên, anh dũng ngã xuống trên cánh đồng quê tháng
mười dưới làn đạn giặc mà linh hồn và hình ảnh của em vẫn còn mãi với quê
hương đất nước:
Cháu n ằm trên lúa Tay n ắm chặt bông Lúa th ơm mùi sữa
H ồn bay giữa đồng…
(Lượm, 1949)
Trong Vi ệt Bắc, cái "tôi” trữ tình nhà thơ đã hóa thân vào các nhân vật
quần chúng hoặc có hiện diện cũng chỉ là đường viền làm nổi bật hình ảnh những con người quần chúng Những con người bình thường, cụ thể đó bỗng được nâng lên thành biểu tượng của Nhân dân, của Tổ quốc Lịch sử thơ ca Việt Nam từ cổ điển đến hiện đại, có lẽ chưa đâu có những hình ảnh sinh động và thấm thía yêu
thương như thế về những con người bình thường mà làm nên lịch sử
Tình cảm bao trùm và sâu đậm nhất trong tập thơ Việt Bắc là lòng yêu quê
hương đất nước Tình cảm ấy được biểu hiện phong phú, sâu sắc trong nhiều
trạng thái đa dạng Đó là tình nghĩa gắn bó giữa hậu phương với tiền tuyến, là
mối tình gắn bó thân thiết giữa người miền xuôi với người miền ngược, là lòng
biết ơn sâu nặng của người cán bộ với đồng bào Việt Bắc, và trên hết là lòng kính yêu của nhân dân với lãnh tụ Tất cả được thể hiện trong một mối tình
"cá nước" thắm thiết tình nghĩa, cùng hoà trong niềm tự hào dân tộc và niềm vui chiến thắng
Thiên nhiên đất nước hiện lên với nhiều cảnh sắc đa dạng, phong phú khi thì" hắt hiu lau xám đậm đà lòng son", khi lại "trăng lên đầu núi nắng chiều lưng
nương", khi lại có những cảnh rộn rã, tấp nập trong sinh hoạt kháng chiến của cơ quan, những cảnh hào hùng của từng đoàn dân công, bộ đội đi chiến dịch tạo nên bức tranh thật sinh động, phong phú
Trang 28Vi ệt Bắc, là chặng đường có vị trí quan trọng trên hành trình thơ Tố Hữu
Đến tập thơ này, cái"tôi” của nhà thơ đã thực sự hoà nhập vào đời sống nhân dân,
thấu hiểu và gần gũi với cuộc đời, tâm tình, ước nguyện của quần chúng kháng chiến Thơ Tố Hữu đã bắt được vào nguồn mạch sâu xa và bền bỉ của truyền
thống văn hóa dân tộc, đồng thời thể hiện được lý tưởng cách mạng, tinh thần của
thời đại trong việc làm, hành động, ý thức và tinh thần của đông đảo quần chúng Cái"tôi” ấy hầu như mất hẳn cái riêng để trở thành cái "ta” của Đảng, của nhân dân và của dân tộc
Trang 29C HƯƠNG II
GIÁ TRỊ NỘI DUNG CỦA TẬP THƠ“ VIỆT BẮC”
2.1 Khát v ọng và niềm vui giải phóng Đất nước qua các chặng đường
2.1.1 Cách mạng Tháng Tám năm 1945
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là cuộc bùng nổ long trời lở đất, chấm
dứt ách đô hộ tám mười năm của thực dân Pháp, mở ra một thời đại vẻ vang cho dân tộc: thời đại Hồ Chí Minh, thời đại của độc lập, tự do, và chủ nghĩa xã hội Cách mạng Tháng Tám đã đáp ứng nguyện vọng sâu xa của toàn thể dân tộc, mở
ra trước mắt mọi người những chân trời bao la, niềm phấn khởi dâng trào, khí thế
của quần chúng thật là hào hùng quyết liệt khi nước nhà dành được chính quyền
Từ những bài thơ ra đời ngay sau ngày Cách mạng thành công cho đến bài thơ cuối cùng: Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, chào đón hoà bình, từ biệt Việt
Bắc về xuôi, có thể nói Tố Hữu đã giương cao lá cờ chiến đấu của thơ, tô thắm cho nó và giữ thắm cho nó trong suốt chín năm, để nói lên những tình cảm lớn
của con người cách mạng và kháng chiến; là tiếng thơ sớm nhất và lớn nhất nói lên thấm thía những sự đổi đời của dân tộc
Một số bài thơ tiếp nối Từ ấy và Việt Bắc như: Huế tháng Tám (1945),
Xuân nhân lo ại (1946), Vui bất tuyệt (1946) là những bài được Tố Hữu viết trong
niềm vui chiến thắng khi nước nhà giành được chủ quyền dân tộc Sự ra đời của
tập thơ Việt Bắc tiếp nối cảm hứng giải phóng dân tộc của tập thơ Từ ấy Cái vui
của thơ Tố Hữu trong những ngày Tháng Tám vẫn lôi cuốn chúng ta rất mãnh
liệt, và cảm hứng giải phóng khi nước nhà độc lập được ghi lại sâu đậm trong
những vần thơ mới:
Đi, đi, đi ! ôi nhịp đời phơi phới
Tr ăng sáng, đường dài
Ta đều chân : Một ! Hai !
Trang 30Đó cũng là lời thiêng, là tình cảm kết đọng trong bản nhạc Diệt phát xít của
Nguyễn Đình Thi - "Ôi đất Việt yêu dấu ngàn năm"
Tiếp đó là những ngày toàn dân tộc hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chí Minh chống ba loại giặc: giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm Ở khắp mọi nơi, toàn dân sôi nổi tham gia phong trào tăng gia sản xuất, những ngày khoai sắn mọc xanh khắp mọi nơi, con người vui say trong công việc, với tinh thần đoàn kết, thi đua lao động không biết mệt mỏi:
R ồi từ hôm đó, bọc hoàng cung
L ớp lớp khoai xanh mượt vạn vồng
Lòng đất kiêu kiêu nghe nặng củ
Khách d ừng âu yếm, ngẩn ngơ trông…
(Tình khoai sắn, 1946)
Sau chống đói là chống dốt với phong trào Bình dân học vụ, mà tất cả các
tầng lớp quần chúng nhân dân đều tích cực hưởng ứng:
Nghiêng đầu trên tấm bảng chung
Ph ơ phơ tóc bạc, bạn cùng tóc xanh
Này em, này ch ị, này anh
Chen vai mà h ọc, rách lành sao đâu !
(Trường tôi, 1946)
Không đầy một tháng sau, thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta Kháng chiến Nam Bộ, rồi toàn quốc kháng chiến bùng nổ Lời kêu gọi của Hồ chủ tịch
Trang 31vang dậy thấm sâu vào trái tim của mỗi người dân Việt Nam.“Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô
lệ…Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm Không có gươm thì dùng
cuốc, thuổng, gậy gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân cứu nước… Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định
về dân tộc ta”
Trong những ngày đầu phòng ngự với chủ trương tiêu thổ những thành
phố, thị trấn, phá cầu đường để cản bước tiến công của giặc, một bài thơ được truyền tụng đến thuộc lòng, là bài Phá đường ghi tạc không phai công sức của
nhân dân vào lịch sử:
Đêm nay gió rét trăng lu
R ộn nghe tiếng cuốc chiến khu phá đường
Cuộc kháng chiến chống Pháp đã tỏ rõ sức mạnh và sức sáng tạo lớn lao
của quần chúng- cái sức mạnh trước kia còn ẩn tàng, mai phục, chưa có dịp bộc lộ
hết thì nay đã trở thành sự thật hiển nhiên, hàng ngày, đập vào tai mắt, vào suy nghĩ và tưởng tượng của mỗi người Với Việt Bắc, thơ Tố Hữu đã thực sự chín và
ngang tầm với đề tài như được thể hiện qua bốn câu thơ đề từ:
Nhân dân là b ể
V ăn nghệ là thuyền Thuy ền xô sóng dậy Sóng đẩy thuyền lên
Trang 32Cái bể nhân dân được cách mạng lay dậy tự đáy sâu, dâng lên cuồn cuộn
đã đẩy sáng tác thơ ca lên một trình độ cao Có một sự chuyển hướng rõ rệt trong sáng tác của Tố Hữu Cuộc kháng chiến bùng nổ, bài thơ xuất sắc đầu tiên trong giai đoạn này của Tố Hữu là bài Cá nước không còn những câu thơ trực
tiếp trình bày ý nghĩ của tác giả mà là sự thâm nhập tự nhiên vào những suy tư,
Không cần giảng giải, thuyết lý, bài thơ có sự thuyết phục của cái hiện
thực trực tiếp, như thể tai nghe mắt thấy Với Việt Bắc, nhà thơ không còn tự nói
về mình, việc tự biểu hiện trực tiếp hầu như không còn nữa, thay vào những trữ tình riêng tư là sự thể hiện trực tiếp cảm nghĩ của quần chúng cách mạng Anh
Vệ quốc quân lần đầu xuất hiện trong thơ dễ thương đến lạ lùng; tiếp xúc với anh
ai mà không cùng đồng lòng thốt lên như Tố Hữu:
Anh V ệ quốc quân ơi
Sao mà yêu anh th ế!
(Cá nước, 1947)
Cuộc kháng chiến ở hậu phương được tái hiện qua hình ảnh những người nông dân bình dị Đó là bà mẹ Việt Nam; bà mẹ đẻ những người Vệ quốc quân,
bà mẹ nuôi các anh cán bộ Tố Hữu đã ca ngợi bà mẹ đó trong hình ảnh bà bủ
Việt Bắc ngồi kể" chuyện nhà chuyện cửa" bên bếp lửa, trên nhà sàn; trong hình ảnh "bà bủ nằm ổ chuối khô" nhớ con đi bộ đội; bà bầm suốt đời thắt lưng buộc
bụng Là chị nông dân con mọn vượt lên những gian khổ thiếu thốn hăng hái tham gia công tác kháng chiến Tố Hữu đã tạo ra điển hình chú Lượm tượng
trưng cho các cháu bé nhỏ và anh dũng của Bác Hồ
Trang 33Tố Hữu là nhà thơ của thời đại, hành trình thơ Tố Hữu luôn là sự vận động không ngừng, phát triển Tác giả nhìn theo con mắt sử thi để thấy được tầm vóc to
lớn, trách nhiệm nặng nề của con người thời đại Do đó việc chuyển sang thể tài
sử thi đánh dấu một bước tiến trong tư duy nghệ thuật và tiếng thơ Tố Hữu Mặc
dù ở Từ ấy đã có yếu tố sử thi, như trong hình ảnh Mã Chiếm Sơn" buông cương
và ng ẫm nghĩ", như hình ảnh" Những người không chết", nhưng sang Việt Bắc thì
chất liệu này mới chiếm địa vị chủ đạo Các vấn đề của thơ Tố Hữu thời kỳ này bao giờ chủ yếu cũng là các vấn đề đặt ra giữa "ta" và "nó","chúng ta" và"chúng nó" chứ không còn là vấn đề giữa" anh" và" em", giữa cá nhân này với cá nhân khác Nếu có khi nhà thơ nêu vấn đề giữa" mình" và "ta" thì đó là"mình" và"ta"
với tầm vóc dân tộc
2.1.3 Chiến thắng Điện Biên phủ
Với chiến thắng Điện Biên phủ, hồn thơ Tố Hữu như được nâng bổng,
vươn xa trong cảm hứng sử thi hào hùng và tầm khái quát lịch sử Bài Hoan hô
chi ến sĩ Điện Biên mang đậm tính thời sự, ghi lại một cách đậm nét khí thế của
thời đại trong bước ngoặt đi lên của lịch sử dân tộc
Kế tiếp, Tố Hữu viết Ta đi tới với khí thơ hùng mạnh, tương ứng với bước
đi không có gì ngăn nổi của dân tộc Những bước đi hào hùng từ “ Bắc Sơn, Đình
Cả, Thái Nguyên”, những chặng đường dài chín năm vượt mọi gian khổ hy sinh
để hôm nay đến được niềm vui lớn:
Ta đi giữa ban ngày
Trên đường cái, ung dung ta bước
Đường ta rộng thênh thang tám thước…
(Ta đi tới, 1954)
Trong không khí náo nức, hào hùng, càng tự hào về Tổ quốc và nhân dân,
ta càng yêu quê hương, đất nước:
Trang 34Đẹp vô cùng, Tổ quốc ta ơi !
R ừng cọ đồi chè đồng xanh ngào ngạt
N ắng chói Sông Lô, hò ô tiếng hát Chuy ến phà dào dạt, bến nước Bình Ca
(Ta đi tới, 1954 )
Bài Vi ệt Bắc mang tên chung của tập thơ là thi phẩm xuất sắc nhất của thơ
Tố Hữu thời kỳ kháng chiến chống Pháp và là một trong những bài thơ hay nhất
của thơ ca hiện đại Bài thơ là cuộc đối thoai giữa mình và ta, ta và mình, giữa
người cán bộ về xuôi với Việt Bắc ở lại:
Nếu như ở phần đầu Việt Bắc cái"tôi" trữ tình của nhà thơ thường nhập vai
nhân vật quần chúng hoặc trực tiếp làm nổi bật những con người quần chúng, thì
ở những bài thơ viết vào giai đoạn cuối cuộc kháng chiến lại nổi bật cái "tôi" sử thi, mang tính khái quát và đại diện cho nhân dân, dân tộc, cách mạng; đi liền với cái "tôi' sử thi ấy là giọng hào sảng, kiêu hãnh và đầy tin tưởng
Trang 35Như vây, trên hành trình lịch sử của cách mạng, của dân tộc, hồn thơ của
Tố Hữu đều có những tiếng ngân vang xứng đáng, có sự vận động không ngừng
và luôn phát triển theo đà đi lên của cách mạng Đọc tập thơ Việt Bắc người đọc
có thể hình dung được bước đi của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến trường kỳ đến với chiến thắng Điện Biên Phủ- chặng đường đầu tiên trong sự nghiệp
giải phóng đất nước kéo dài 30 năm( 1945-1975)
2.2 Cái "tôi" tác gi ả gắn với cái "ta"quần chúng trong bức tranh nhân dân
kháng chiến
Việt Bắc ra đời vừa như sự khởi đầu, vừa như là kết thúc chặng đường vẻ
vang 9 năm văn nghệ kháng chiến Cùng với thực tiễn cách mạng vĩ đại của dân tộc, lý tưởng thẩm mỹ của nhà thơ đã có sự phát triển Nếu trước kia nhà thơ muốn kêu to lên, muốn chia sẻ với mọi người cái mới lạ, cái đẹp của lý tưởng, thì giờ đây lý tưởng ấy đã biến thành đời sống hằng ngày mà dân tộc, quần chúng đã thực hiện, đã sống với lý tưởng đó một cách bình dị và thật cảm động Cái đẹp của lý tưởng, của ước mơ đã biến thành cái đẹp của quần chúng kháng chiến, cái đẹp của
con người và cuộc sống thực
Tố Hữu đã thấy rõ những bước tiến của lịch sử, nhận thức đầy đủ quy luật phát triển của dân tộc, của con người Việt Nam chiến đấu và trưởng thành Đó là những người nông dân lao động, từ anh bộ đội nghỉ chân trên lưng đèo Nhe đến anh pháo binh vác voi ra trận, từ bà mẹ trên nhà sàn Việt Bắc đến bà bủ nằm ổ chuối khô, từ chị phụ nữ phá đường, đến em bé liên lạc, Tất cả góp phần làm hiện lên toàn cảnh cuộc chiến tranh nhân dân với sự sống hồn nhiên, chân thực, có chiều sâu của đời sống hiện thực, và đi vào lòng người
2.2.1 Hình ảnh người lính
1 Mở đầu Việt Bắc, ai cũng nhận thấy anh bộ đội cụ Hồ chiếm một vị trí
quan trọng trong tập thơ Kể từ Cách mạng Tháng Tám thành công cho đến những
năm đầu kháng chiến, hình ảnh anh bộ đội chưa xuất hiện trong thơ ca, hay chỉ
Trang 36hiện ra một cách thấp thoáng, thì nay hình ảnh anh Vệ quốc kháng chiến được thể hiện rõ nét trong thơ, với tư cách là những người nông dân nghèo khổ:
Bữa đói bữa no
Bài thơ xuất sắc đầu tiên ở tập Việt Bắc viết về anh Vệ quốc quân kháng chiến là bài Cá nước Nhà thơ ghi lại cuộc gặp gỡ trò chuyện giữa" tôi" và anh Vệ
quốc quân:
Tôi ở Vĩnh Yên lên Anh trên Sơn Cốt xuống Gặp nhau lưng đèo Nhe Bóng tre trùm mát rượi
Trang 37Tròn một củ Hay những người gầy sắt lại Mặt rẹt một đường gươm Lạnh gáy
( Nhớ máu, 1946 )
Cũng tương tự là Quang Dũng trong Tây Tiến:
Tây Tiến, đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá giữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
( Tây Tiến, 1948 )
So với họ, Tố Hữu đã tiến một bước dài trong nhận thức cũng như trong thể hiện chiến tranh Nhà thơ đã ghi lại thực tế quyết liệt của kháng chiến, những cuộc hành quân vất vả của pháo binh, hay nỗi lo âu thắt ruột của bà mẹ chiến sĩ
Sự lay động đến gốc rễ tâm hồn người làm thơ và trách nhiệm sâu xa mà người làm thơ cảm thấy nặng trên vai, khi nhìn vào những sống chết hàng ngày của quần chúng, tất cả những cái đó đã giúp cho Tố Hữu không còn viết những câu thơ lãng mạn cũ:
Nhân loại trườn lên trên biển máu Đang mơ xuân đến với môi cười
( Xuân, 1946 )
Mà sớm đến với những chất liệu mới có ngay trong hiện thực:
Tôi ở Vĩnh yên lên Anh trên Sơn Cốt xuống Gặp nhau lưng đèo Nhe Bóng tre trùm mát rượi
( Cá nước, 1947 )
Trang 38Đi cùng pháo binh, Tố Hữu nhìn ngay bằng con mắt của anh pháo binh thân mật, chăm chút, mến thương với pháo:
Ta bế ta bồng Voi lên ta hát Vai ta vai sắt Chân ta chân đồng
Ta đi qua rừng Lau tre san sát Voi nghe ta hat Núi rội vang lừng
( Voi, 1948 )
Một bài thơ thật hay trong thơ ca Việt Nam Trong tiếng hát của anh pháo binh, chúng ta nghe như vang dội tiếng hò của người kéo gỗ Bài thơ vui đùa mà chắc nịch, thật lạc quan Nó đã đem đến cho thơ ca tiếng hát khoẻ mạnh và tự hào của quần chúng, trên hai âm hưởng, hai giai điệu, đó là lao động và chiến đấu
Tố Hữu đã từng mặc áo bộ đội, vai nặng ba lô, chân đạp rừng gai đá sắc, trèo đèo lội suối, cùng ăn cơm vắt thấm nước, dãi gió dầm sương với anh bộ đội
Tố Hữu đã giúp ta hiểu cách mạng, hiểu cuộc sống nơi rừng sâu của anh Vệ quốc Người lính ở rừng núi bị sốt rét dày vò Tố Hữu đã nói hộ tình cảm của nhân dân đối với anh:
Giọt giọt mồ hôi rơi
Trên má anh vàng nghệ Anh Vệ quốc quân ơi Sao mà yêu anh thế !
(Cá nước, 1947)
Trang 39Thế mà qua anh, cuộc kháng chiến đã dành từ thắng lợi này đến thắng lợi khác:
Trận chợ Đồn, chợ Rã
Ta đánh giặc chạy re Hai đứa cười ha hả
( Cá nước, 1947)
Cuộc gặp gỡ tình cờ, câu chuyện chiến thắng sôi nổi, dáng dấp hiền lành của người chiến sĩ được ghi lại trong vần thơ Tố Hữu không khoa trương mà lắng đọng, không xôn xao mà thấm thía; người thi sĩ cán bộ gặp anh Vệ quốc quân trên lưng đèo Nhe, chưa nói với nhau lời nào mà đã hiểu, đã yêu Và cái tình cảm
âm thầm đằm thắm, cũng như cái miếng thuốc lào đã gắn bó họ lại với nhau
Trưa nay trên đèo Nhe
Ta say sưa vài phút Chia nhau điếu thuốc lào Nào anh hút tôi hút
( Cá nước, 1947 )
Trang 40Những cử chỉ tưởng như là nhỏ nhặt, bình thường chẳng có gì đáng nhớ"; chia nhau điếu thuốc lào", mà ngụ một tình cảm thật thắm thiết, bao la Thơ Tố
Hữu thật tài tình và lý thú Ông lấy tên bài thơ là Cá nước, dựa theo cách nói quen
thuộc của Giải phóng quân Việt Nam trong thời kỳ bí mật" Dân là nước, du kích
là cá" Tố Hữu đã lấy sức mạnh của thơ làm cho tình "Cá nước" trở thành điển hình tình cảm mới của thời đại Đó là tình quân dân thắm thiết, nguồn gốc của tinh thần và sức mạnh của chiến tranh nhân dân
Viết về anh Vệ quốc, Chính Hữu cũng có những hình ảnh chân thực về
những người lính gặp gỡ nhau trong chiến tranh:
Tôi với anh đôi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau
Súng bên súng đầu sát bên đầu
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ
( Đồng chí, 1948 )
Những người"tứ xứ" hôm qua còn xa lạ, hôm nay đã trở thành" tri kỷ" Cách mạng làm nảy sinh nhiều thứ tình cảm trước kia rất ít thấy: tình đồng đội, tình đồng chí, tình đại gia đình dân tộc gắn bó mọi người lại với nhau:
Gặp nhau mới lần đầu
Họ tên nào chẳng biết?
Anh người đâu, tôi đâu?
Gần nhau là thân thiết
Ta hò ta reo !
(Voi, 1948 )