1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đức thánh Tam giang - Nơi ra đời bài thơ “Thần” - Bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước Đại Việt

16 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 135 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nơi ấy là đền Xà trên khu vực ngã ba Xà (nay thuộc xã Tam Giang - Yên Phong - Bắc Ninh) nơi hội lưu sông Cà Lồ đổ vào sông Cầu. Đền Xà thờ Thánh Tam Giang - thượng tướng Trương Hống, phó tướng Trương Hát (là em). Hai anh em ngài đều là bậc tướng, chí dũng song toàn, phò Triệu Việt Vương, cầm quân đánh thắng quân Lương vào năm Canh Ngọ (550), giải phóng đất nước Vạn Xuân khỏi ách áp bức của vua quan nhà Lương phương Bắc. Hai anh em ngài là bậc đại nhân “sinh vi dũng tướng,...

Trang 1

Đức Thánh Tam Giang Nơi ra đời bài thơ “Thần” - Bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước Đại Việt

Nơi ấy là đền Xà trên khu vực ngã ba Xà (nay thuộc xã Tam Giang - Yên Phong - Bắc Ninh) nơi hội lưu sông Cà Lồ đổ vào sông Cầu Đền Xà thờ Thánh Tam Giang - thượng tướng

Trương Hống, phó tướng Trương Hát (là em) Hai anh em ngài đều là bậc tướng, chí dũng song toàn, phò Triệu Việt Vương, cầm quân đánh thắng quân Lương vào năm Canh Ngọ (550), giải phóng đất nước Vạn Xuân khỏi ách áp bức của vua quan nhà Lương phương Bắc Hai anh em ngài là bậc đại nhân “sinh vi dũng tướng, tử vi minh thần”

Công đức của anh em ngài rất lớn, nên được nhiều triều đại tặng phong mỹ tự: “Đại vương

thượng đẳng thần” Hơn 300 làng ven các triền sông Cầu, sông Cà Lồ, sông Thương có đình

đền thờ Đức Thánh Tam Giang Riêng các làng bên ven triền sông Cầu kể từ thượng nguồn

Đu Đuổm xuống hạ lưu Lục Đầu, hầu như đều tôn thờ Thánh Tam Giang làm Thành hoàng

Vào đầu triều đại Lý Nhân Tông thế kỷ thứ XI, nhà Tống lăm le xâm lược nước ta lần thứ 2 Tổng binh Lý Thường Kiệt thấu hiểu tâm đen của nhà Tống, ông xây dựng phòng tuyến Như Nguyệt, dài theo bờ nam sông Cầu (từ ngã ba Xà trở xuống) để chặn bước tiến của quân xâm lược, khi chúng liều lĩnh sang đánh nước ta Quả nhiên năm 1076 (năm thứ 5 triều đại Lý Nhân Tông) nhà Tống sai tướng Quách Quỳ, Triệu Tiết hợp binh với quân Chiêm Thành, Chân Lạp hùng hổ sang đánh chiếm nước ta Đến bờ sông Cầu, chúng bị chặn đứng, phải lập trại đóng quân bên bờ Bắc, củng cố lực lượng, chờ thời cơ vượt sông Cầu chọc thủng phòng tuyến của quân ta, tiến về kinh đô Thăng Long

Một lần, Lý Thường Kiệt dẫn quân đi kiểm tra chiến tuyến, khi đến Phương La, thấy có ngôi đền lớn bên ngã ba Xà, hỏi ra mới biết đây là đền Xà, thờ nhị vị Đại Vương Tôn Thần họ

Trương - Đức Thánh Tam Giang Trương Hống, Trương Hát Lý Thường Kiệt bèn truyền

quân sửa lễ vào đền thắp hương bái yết, cầu xin âm phù hộ quốc Truyền thuyết về sự kiện lịch sử này, dân trong vùng kể rằng:

Đêm ấy, nằm nghỉ ở đình Xà - Ngọt, đang lúc chập chờn nửa tỉnh, nửa mơ, Lý Thường Kiệt thấy hai vị thần nhân, mũ áo chói loà hiện ra Lý Thường Kiệt vội đứng dậy bái chào Hai vị thần nhân cao lớn lẫm liệt khác thường Một vị mặt đen, mắt xanh, mặc áo bào trắng Một vị mặt trắng, râu dài, mình khoác bào đỏ, bảo rằng: Mới tới thăm nhau buổi sáng mà đã vội quên! Lũ giặc Tống kia, chỉ cần làm bạt hồn vía chúng, thì chúng sẽ tan Anh em chúng tôi xin mang thần binh đến giúp ngài quét sạch lũ giặc Dứt lời liền ngâm bài thơ:

Nam quốc sơn hà nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư

Bấy giờ Lý Thường Kiệt mới biết, đấy là hai vị thần thờ ở đền Xà Tiếng ngâm vừa dứt, bỗng hai vị thần nhân hoá thành đôi rắn có mào, trườn về phía sông Cầu

Lý Thường Kiệt liền truyền quân đốt đèn, lấy bút nghiên và ông ngồi trầm ngâm tự chép lại bài thơ Thần trong trí nhớ Chép đi chép lại nhiều lần mới nhớ đúng được lời của bài thơ Lý Thường Kiệt đắc ý khẽ cất tiếng ngâm Mấy tỳ tướng chầu hầu nghe được, phấn chấn hẳn lên cũng lẩm nhẩm học theo Lý Thường Kiệt sai quân chép bài thơ Thần làm nhiều bản, gửi tới tướng sĩ khắp chiến tuyến

Trang 2

Hôm sau ông bí mật đưa đại quân vượt sông sang bờ Bắc, mở trận tập kích vào đồn lũy giặc Tống Lý Thường Kiệt đứng trước cửa đền Xà, bỗng nghe từ trên không trung có tiếng hò reo, ngựa người rầm rập, khí giới loảng xoảng cùng âm vang tiếng chiêng, tiếng trống theo nhịp bước quân đi Ông ngửa mặt nhìn lên, thì thấy hai vị thần họ Trương, áo mũ xanh đỏ tề chỉnh, ngự trên đám mây trắng, quân sĩ đứng hai bên giáo mác tua tủa Biết có thần binh trợ giúp, quân sĩ đều háo hức muốn xông n_ vào đồn giặc Liền đó, từ trên cao xanh trước cửa đền vọng xuống tiếng ngâm bài thơ Thần “Nam quốc sơn hà Nam Đế cư ” ngâm đi ngâm lại nhiều lần Càng về sau tiếng ngâm càng sang sảng Nghe tiếng thơ rền vang, tinh thần quân ta phấn chấn ào ạt xông lên giết giặc Bên kia bờ Bắc, quân Tống nghe tiếng thơ ngâm mà hoảng

sợ, bạt vía kinh hồn Trước sức tiến công như vũ bão của quân ta, quân giặc tan vỡ thành từng mảng, bỏ chạy toán loạn, dẫm đạp lên nhau Xác giặc ngổn ngang trên cánh đồng Mai

Thượng (nay vẫn còn dấu ấn lịch sử là cánh đồng Xác và ngôi chùa Xác, sau đổi lại là An Lạc Tự) Quân Tống đại bại, sau trận ấy vội vàng rút quân về nước

Đền Xà, nơi thờ vị Đại Vương Tôn Thần họ Trương – Thánh Tam Giang Trương Hống,

Trương Hát, nơi bài thơ Thần - bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước Việt Nam ta được công bố đã được tu bổ lại Trước cửa đền Xà, năm 2000 Nhà nước đã xây dựng một nhà bia hình tứ giác hai tầng mái Bên trong dựng một tấm bia lớn đặt trên mình con rùa Đầu rùa đặt một bình hương Mặt trước bia nhìn vào đền khắc bài thơ Thần bằng chữ Hán Mặt sau, phần trên dịch âm, phần dưới dịch nghĩa bài thơ Thần

Bài thơ Thần - bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của đất nước ta, ra đời trong bối cảnh lịch sử đặc biệt như vậy Bài thơ có sức công phá vào tinh thần và ý chí xâm lược của quân Tống; khích lệ tinh thần quyết chiến, quyết thắng của quân ta, góp phần làm nên chiến thắng hào hùng của quân dân thời nhà Lý đánh tan 10 vạn quân Tống bên bờ sông Như Nguyệt

Dương Quang Luân

CHUYỆN TRƯƠNG HỐNG VÀ TRƯƠNG HÁT

Khước Địch Thiện Hựu Trợ Thuận Đại Vương

Uy Địch Dũng Cảm Hiển Thắng Đại Vương

Xét Sử ký của Đỗ Thiện chép thì hai Vương là hai anh em Thời Nam Tấn Vương nhà Ngô đi đánh giặc Lý Huy ở Long Châu, đóng quân ở cửa Phù Lan (1), đêm ngủ mộng thấy hai người

y quan kỳ vĩ, diện mạo khôi ngô, đến ra mắt vua và thưa rằng:

- Bọn nghịch tặc hoành hành đã lâu lắm, chúng tôi xin tòng quân trợ chiến

Vua lấy làm lạ, hỏi rằng:

- Bọn khanh là người nào Cô này chưa hề biết mặt; đã có lòng thông cảm thì nên cho biết tính danh

Hai người đều sụp xuống lạy, thưa rằng:

- Bọn thần là anh em, vốn người Phù Lan, nguyên họ Trương, anh tên là Hống, em tên là Hát, đều làm tướng của Việt Vương (2) Việt Vương bị Lý Nam Đế đánh bại, Nam Đế đem lễ vật đến rước bọn thần có ý muốn cho làm quan Bọn thần thưa lại rằng: Tôi trung chẳng thờ hai vua, gái trinh chẳng đổi hai chồng, huống hồ ngươi là người bội nghĩa mà còn muốn khuất cái tiết bất di dịch này ư? Mới trốn vào ở núi Phù Long; Nam Đế nhiều lần cho người đến truy nã

Trang 3

không được, mới treo ngàn vàng cầu người bắt Bọn thần không còn đường tiến thối nên đều uống thuốc độc mà qua đời Thượng đế thương bọn thần vô tội chết chẳng phải mệnh, sắc bỏ chức Than Hà Long Quân Phó Sứ, tuần hai sông Vũ Bình và Lạng Giang đến tận trên nguồn, hiệu là Thần Giang Đô Phó Sứ Trước kia Tiên Chúa (3) trong chiến dịch Bạch Đằng, bọn thần đã hiệu lực trợ thuận

Vua tỉnh dậy, bảo đem cỗ rượu đến điện tế, khấn rằng:

- Quả có anh linh, hãy phù trợ chiến dịch này, nếu được thắng lợi, tức thì dựng miếu và phong tước, hương hỏa đời đời

Vua mới tiến quân vây núi Côn Lôn, giặc ỷ thế hiểm trở, không ai có thể vịn trèo mà lên được Đóng đồn lâu quá, quân sĩ đều có ý trở tâm Đêm ấy vua mộng thấy hai Vương đốc binh, bộ ngũ liên thuộc đều có mặt mày như quỷ thần cả, hàng ngũ rất nghiêm, bộ lạc rất chỉnh tề hội tại cửa Phù Lan Binh ông anh đóng từ sông Vũ Bình đến sông Như Nguyệt tiến đến đầu nguồn sông Phú Lương; Binh ông em đi từ men sông Lạng Giang vào sông Nam Bình (4)

Vua tỉnh dậy bảo với tả hữu, quả nhiên trận ấy được toàn thắng Bình xong giặc Tây Long, vua sai Sứ chia chỗ lập đền thờ, đều phong làm Phúc Thần một phương, chiếu phong anh là Đại Đương Giang Đô Hộ Quốc Thần Vương, lập đền ở cửa sông Như Nguyệt Còn em là Tiểu Đương Giang Đô Hộ Quốc Thần Vương, lập đền ở cửa sông Nam Bình

Thời vua Nhân Tông nhà Lý, binh Tống nam xâm kéo đến biên cảnh; vua sai Thái uý Lý Thường Kiệt dựa bờ sông đóng cừ để cố thủ

Một đêm kia quân sĩ nghe trong đền có tiếng ngâm to rằng:

Sông núi nhà Nam Nam đế ở

Phân minh trời định tại thiên thư

Cớ sao nghịch lỗ sang xâm phạm?

Bọn chúng rồi đây sẽ bại hư (5)

Quả nhiên quân Tống chưa đánh đã tan rã Thần mộng rõ ràng, mảy lông sợi tóc chẳng sai (6)

Niên hiệu Trùng Hưng năm đầu, sắc phong Như Nguyệt Khước Địch Đại Vương, năm thứ tư gia phong Thiện Hựu Dũng Cảm

Tiếm bình

Hơn thua được mất là một lý mà cũng là một thế vậy Điềm lành, điềm xấu là khí vậy lý thế ở đâu thì khí cũng theo đó mà gây nên, nên khi họ Trỉ Bá sắp mất thì thần Hoác Sơn lấy thẻ tre trao cho Trương Tử, mọi Khiết Đan sắp bị diệt thì thần Ap Giang lấy đầu lâu trao cho Hoàng Nhan, đó chẳng quá là cái lý về sự phúc của kẻ thiện, cái họa của kẻ dâm

Hai họ Trương đây là tôi Việt Vương, không chịu khuất phục vua Nam Đế, cái khí trung nghĩa hạo nhiên thường phảng phất ở khoảng trời đất, không nên lấy tý lông mảy vết mà bàn luận vậy Sống làm danh tướng, chết là danh thần, cho vua Tấn Vương nằm thấy mà giặc Côn Lôn phá tan, ngâm bài thơ Nam Quốc mà quân nhà Tống không bị đánh tự tan vỡ, lấy sự báo ứng như thế, phong làm Phúc Thần, hưởng được cúng vái nghìn xưa, đội ân vinh phong tặng

Trang 4

ở cửu trùng, hai đền thờ ngày nay vẫn còn, người ở hai bên sông đều tránh tên huý, gọi hát bằng xướng Tinh anh đầy dẫy, nghìn trăm năm vẫn thường như một ngày, khiến cho đương thời, những kẻ cam lòng đầu giặc, mưu cầu phú quý một thời, đâu được trổi thơm muôn đời, khiến cho người ta thán mộ mà hăng hái lên như hai Vương này vậy

-Ghi chú:

1) Phù Lan là sông Lục Đầu

2) Theo Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca, Trương Hống và Trương Hát đã can Triệu Việt Vương đừng gã Cảo Nương cho Nhã Lang:

Có người: Hống, Hát họ Trương

Vũ biền nhưng cũng biết đường cơ mưu,

Rằng: “Xưa Trọng Thuỷ, Mỵ Châu,

Hôn nhân là giả, khấu thù là chân

Mảnh gương vãng sự còn gần,

Lại toan dắt mối Châu Trần sao nên?

3) Thiên chúa tức Ngô Quyền

4) Sông Nam Bình tức sông Thương Đền thờ của Hống ở cửa sông Nam Bình, ở làng

Phượng Nhãn, bắc ngạn sông Thương

5) Bản dịch của Hoàng Xuân Hãn

Sông núi nước Nam, vua Nam coi

Rành rành phận định ở sách Trời

Có sao lũ giặc sang xâm phạm!

Bay sẽ tan tành chết sạch toi (Sđd, tr.287)

6) Chuyện này bất quá vì là lòng sùng bái của người ta mà bịa đặt ra, và nhà nho phụ họa cho thêm linh Sự thật có lẽ như tôi đã theo ý Trần Trọng Kim, nhận rằng thơ là của Lý Thường Kiệt Nhưng nói chắc là Lý Thường Kiệt làm thơ được thì không có gì làm bằng cớ

Ngày nay cả vùng lân cận hai sông Cầu và Thương, có đến hơn 290 ngôi đền thờ hai vị thần

họ Trương Đền chính thờ Trương Hống ở làng Vọng Nguyệt, cạnh làng Như Nguyệt; và đền thờ chính Trương Hát ở làng Phượng Nhỡn ở cửa sông Thương Vị trí đền phù hợp với việc quân Tống qua sông ở bến đò Như Nguyệt, cho nên câu chuyện thần ám trợ kể trong Việt Điện U Linh có căn cứ vào sự thật ít nhiều (Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt, tr.303)

Tướng quân Trương Hống, Trương Hát (15/06/2007)

Trương Hống, Trương Hát người làng Vân Mẫu, huyện Quế Dương (sau là Võ Giàng) quận

Vũ Ninh, xứ Kinh Bắc (nay là thôn Vân Mẫu, xã Vân Dương, huyện Quế Võ), là học trò của Tiên sinh Lã Thị người hương Chu Minh, lộ Bắc Giang (tức xã Hương Mạc, huyện Từ Sơn ngày nay)

Trang 5

Căn cứ sử sách ghi chép sơ sài thì các ông sinh vào đầu thế kỷ 6 (504?) trong vòng 1.000 năm Bắc thuộc tăm tối Anh em học đến đâu lầu thông kinh sử đến đấy, ngày ngày chăm đọc binh thư, siêng rèn võ nghệ.Gặp khi nước nhà lâm nạn, nhà Lương bên Tàu, đời vua Đại Đồng năm thứ bảy, sai bọn Trần Bá Tiên và Dương Phiêu đem đại binh sang đánh nước ta, tàn nhiễu muôn dân, đau lòng trăm họ, hại người cướp của, phá hủy cửa nhà.Vua nước ta đem quân ra đánh nhưng quân Lương thế mạnh, Triệu Việt Vương liền rời bỏ kinh thành rút quân về đóng

ở đầm Dạ Trạch, phủ Khoái Châu đất Hưng Yên, dựa vào bốn phía đầm lầy, thủy thế hiểm trở

để tính kế lâu dài Triều đình truyền hịch kể tội nhà Lương, bố cáo muôn dân, ai có tài hãy ra giúp nước Khi ấy hai ông Trương Hống, Trương Hát đã trưởng thành, đang thời sung sức, nghe có hịch chiêu tài, anh em bàn nhau xin lệnh thầy, dụng kế lập thân, về quê mộ quân để đi giúp nước.Lã Tiên sinh khen ngợi tinh thần trung quân ái quốc của học trò và tình nguyện đi theo giúp việc quân cơ Trong buổi hội bàn, thầy trò lo lắng, quê hương mấy làng quanh đây

là đất hiền lành, nghèo túng, vả lại gia tư bấn bách, không gạo, không tiền, người đi theo không có May sao có Trương Đạm Nương là em gái trổ tài nội trợ đi vận động làng Ngà hộ muối (nay làng này còn mang tên làng Muối), làng Ngườm hộ gạo (Ngườm tức là làng Nghiêm Xá, vùng đó có câu “gạo Nghiêm Xá-cá Thất Gian”), làng Dạm Gấu giúp người (Dạm Gấu tức là làng Đa Cấu, trước đây nổi tiếng đất nghịch), làng Vát giúp rèn khí giới (Vát

là làng Việt Vân, có nghề rèn nổi tiếng, tục ngữ: “Liềm thợ Rào, dao thợ Vát”) Lã mưu sỹ chọn ngày lành làm lễ bái yết thần linh, tôn Trương Hống làm chánh tướng, Trương Hát làm phó tướng, tế cờ ra quân, ngày đêm luyện tập (nay còn hai xứ đồng gọi là Bãi Kiếm và bãi Phất Cờ) Sau này các ông đến địa phận làng Tiên Tảo, huyện Kim Hoa, phủ Đa Phúc, lộ Bắc Giang thấy đất có thế ỷ giốc, tiến thoái lưỡng tiện có thể dụng binh liền cho quân hạ trại, làm

tờ chiêu dụ nhân dân Tờ rằng: “Đất nước Vạn Xuân ta đang thanh bình, càn nguyên hanh thái, bỗng đâu giặc Lương xâm lấn, xã tắc đảo điên, muôn dân khốn khổ Bọn Hống-Hát chúng tôi xuất thân con nhà lam lũ, được học võ nghệ, có chút mưu cơ, dám đem sức lực người bản xứ, dấy binh cuốc cầy, địch cùng lang sói ngoại bang, giúp Triệu Việt Vương giữ

an bờ cõi, dám mong chư vị bàn dân hưởng ứng nghĩa quân thì lấy làm may lắm”.Phụ lão làng ấy tiếp tờ, thấy các ông dung dị khác thường, uy nghi đường bệ, thi đua nhau cho con cháu đi theo làm quân sỹ Rồi tiếng đồn khắp hạt ấy rằng có tướng tài mộ quân, đinh tráng các nơi tấp nập kéo đến và được hơn ba trăm người, phiên chế thành cơ đội, cắt cai ký chỉ huy, lập đại bản doanh ở làng Tiên Tảo, ngày đêm ra sức luyện rèn và sai sứ báo về Dạ Trạch Triệu Quang Phục được tin cũng sai sứ lên phong Trương Hống làm thượng tướng quân, Trương Hát làm phó tướng quân, Lã tiên sinh làm quân sư, Trương Lừng, Trương Lẫy làm tỳ tướng, Đạm Nương làm hậu binh lương và lo kế sách phản công Đúng kỳ thúc giáp, hai phía cùng truyền lệnh quân cơ, tỏa binh tiếp trận, quân Triệu Quang Phục ở Dạ Trạch tiến lên, quân Hống-Hát ở Tiên Tảo kéo xuống, thủy bộ bốn mặt giáp công, xung đột tung hoành đánh rất dữ dội.Quân Lương không sao chống cự nổi, đại bại rã rời, số chạy dẵm đạp lên nhau, chết hại nhiều vô kể, số bị bắt mặt mày tái mét, run rẩy van xin, chánh tướng Trần Bá Tiên tử trận, phó tướng Dương Phiêu phải thu nhặt tàn quân rút về Bắc quốc.Dẹp xong giặc rồi, khải hoàn tấu tiệp, Triệu Việt Vương kéo quân về Long Biên sang sửa đô thành, khao thưởng tướng sỹ,

úy lạo muôn dân, trong nước đã yên, thiên hạ thái bình, càn khôn phẳng lặng, trăm họ làm ăn vui vẻ.Vua Triệu phong thực ấp cho hai anh em họ Trương ở Kinh Bắc, Trương Hống ở làng Tiên Tảo, huyện Kim Anh, Trương Hát ở làng Tam Lư, huyện Đông Ngàn là nơi dấy binh cũ

Pháp Thuận và bài thơ thần nước Nam sông núi

Lê Mạnh Thát (Một giả thuyết khác về nguồn gốc bài thơ “Nam quốc sơn hà…”)

Trang 6

Vì thế, những năm tháng ấy là một giai đoạn đấu tranh khó khăn khốc liệt giữa một bên là một quốc gia rộng lớn, đông người, đã có gần hai thập kỷ hòa bình để phát triển và một bên là một đất nước nhỏ bé, ít người hơn nhiều lần và thời gian hòa bình cũng chưa được bao lâu Triều đình nhà Tống có lẽ tính toán trên cơ sở một nhận định như thế, nên đã cho tiến hành cuộc chiến tranh năm 981 Lê Đại Hành hiểu rõ ý đồ và tính toán của địch cũng như tiềm lực của ta Do đó, ông đã chủ động tiếp xúc và vận động toàn dân, trong đó có cả những nhân tài của đất nước tham gia vào cuộc chiến tranh này Nếu không làm được thì tình hình đất nước

có thể đã đi theo một ngõ quanh khác của lịch sử [473] [1]

[474] Cuộc tiếp xúc và vận động do Lê Đại Hành thực hiện có thể diễn ra dưới nhiều dạng khác nhau ông đã trực tiếp gặp thiền sư Vạn Hạnh, tính toán về tương quan lực lượng giữa giặc và ta để xem diễn tiến cuộc chiến sẽ diễn ra trong bao lâu Ông cũng đã nhờ đại sư Khuông Việt đến núi Vệ Linh cầu nguyện cho cuộc chiến chóng thành công Và đặc biệt chính bản thân vua Lê Đại Hành đã làm lễ tế đền hai vị anh hùng Trương Hống và Trương Hát của cuộc chiến tranh giải phóng do Triệu Việt Vương lãnh đạo vào những năm 548-570

và sự ra đời của bài thơ Thần nổi tiếng Nước Nam sông núi, mà Lĩnh nam chích quái 2 tờ

74-75 đã ghi:

“Triều hoàng đế Đại Hành nhà Lê năm Tân Tỵ Thiên Phúc thứ nhất (981), Tống Thái Tổ sai bọn tướng quân Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng đem quân xâm lược nước Nam, trên sông Đại Than Vua Lê Đại Hành và tướng quân Phạm Cự Lượng đóng quân ở sông Đồ Lỗ để chống lại Hai bên đối lũy giữ nhau

Vua Đại Hành ban đêm mơ thấy hai người thần vái ở trên sông nói: Anh em thần, một người tên Trương Hống, một người tên Trương Hát, trước thờ Triệu Việt Vương thường theo chinh phạt bọn giặc dữ, mà có được thiên hạ Đến sau, Lý Nam Đế chiếm nước, nghe tiếng anh em thần, cho vời đến Thần về nghĩa không thể đến, uống thuốc độc mà chết Thượng đế thương

kẻ có công, mà khen lòng trung nghĩa một tiết, ban cho Tướng quan [475] thần bộ, thống lĩnh

kỷ binh Nay thấy quân Tống vào cõi làm khổ sinh linh nước ta, nên bọn thần đến gặp xin cùng vua đánh bọn giặc này để cứu sinh dân’

Vua Đại Hành kinh ngạc thức dậy gọi bề tôi hầu cận, nói: ‘Đây là thần giúp ta vậy’ Bèn liền lập tức rước thuyền vua đốt hương làm lễ xin rằng: ‘Thần nhân có thể giúp ta thành được công nghiệp này thì việc phong thưởng và cúng đơm muôn đời sẽ không hết’ Vua cho giết sinh lao để tế, đem các món áo mũ tiền giấy và voi ngựa đốt đi để ban cho Đêm ấy lại mơ thấy hai thần nhân cùng mặc áo mũ đã ban, đến trước vua bái tạ Đến đêm hôm sau, vua mơ thấy một thần nhân đem quỉ bộ áo trắng từ phía nam Bình Giang tới, và một vị thần nhân đem quỉ bộ áo đỏ từ sông Như Nguyệt xuống Cả hai đều nhắm trại giặc mà đánh

Ngày 2 tháng 10, vào lúc canh ba của đêm, khí trời tối mịt, gió lớn mưa dồn nổ ra, quân Tống tan vỡ Thần mập mờ đứng trên không trung, cao tiếng ngâm:

Nước Nam sông núi vua Nam ở

Rành rẽ phân chia tại sách trời

Giặc nghịch sao nay dám đến phạm

Chúng bay chuốc bại chắc ngay thôi

(Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên dĩ định tại thiên thư

[476] Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư)

Trang 7

Quân Tống nghe thế chen nhau tứ tán, mỗi tự chạy trốn, bị bắt sông không thể kể xiết Quân Tông đại bại rút lui Vua Đại Hành đem quân về mừng thắng trận, phong thưởng cho hai thần nhân, người em là Uy Địch Đại Vương, lập đền tại Tam Kỳ Giang ở Long Nhãn, sai dân Long Nhãn và Bình Giang phụng thờ Người anh là Khước Địch Đại Vương, lập đền ở sông Như Nguyệt, sai dân ven sông phụng thờ, đến nay vẫn còn.”

Đây có thể là nguồn thông tin đầu tiên về bài thơ thần Nước Nam sông núi và nguồn thông tin

này cho ta thấy bài thơ Thần đã được đọc lên trong cuộc chiến tranh 981 và có liên hệ với vua

Lê Đại Hành Sau này tác giả Thiên Nam vân lục cũng thống nhất coi bài thơ ấy do thần đọc

lên trong cuộc chiến tranh đó, dù đã cho hai vị thần này là những bộ tướng của Ngô Quyền, chứ không phải của Triệu Việt Vương Tuy nhiên, khi Ngô Sĩ Liên đã đưa bài thơ ấy vào

trong Đại Việt sử ký toàn thư 3 tờ 9b2-8, thì ông đã gắn cho cuộc chiến năm 1076 của Lý

Thường Kiệt Từ đó mới xuất hiện một ngoa truyền đây là bài thơ của Lý Thường Kiệt:

“Thế truyền rằng, Thường Kiệt dựng rào dọc sông để cố giữ Một đêm quân sĩ bỗng nghe trong đền Trương tướng quân có tiếng to ngâm rằng:

[477] Nước Nam sông núi vua Nam ở

Rành rẽ định phân tại sách trời

Giặc nghịch sao nay dám đến phạm

Chúng bay chuốc bại chắc ngay thôi

(Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư)

Rồi sau quả như thế Trương tướng quân anh em hai người Anh tên Hống, em tên Hát, đều là danh tướng của Triệu Việt Vương Triệu Việt Vương bị Lý Nam Đế đánh bại mà mất nước Nam đế cho vời ra làm quan Hai người đều nói: ‘Trung thần không thờ vị vua đã hại chúa mình’, rồi bèn bỏ trốn ở núi Phù Long Nam Đế nhiều lần mời không đáp, ra lệnh: ‘Ai lấy được thủ cấp thì trọng thưởng cho ngàn vàng Hai người đều uống thuốc độc mà chết

Nam Tấn Vương nhà Ngô khi đánh giặc Lý Huy châu Tây Long, đóng quân ở cửa Phù Lan, chiêm bao thấy hai người theo giúp quân vua, nói rằng: ‘Thiên đế thương là kẻ trung thần không thờ hai vua, bổ cho làm Than hà long quân phó tuần Vũ Lạng nhị giang và Chi man nguyên tuần giang đô phó sứ Bình định giặc rồi, Nam Tấn Vương phong anh làm Đại đương giang đô hộ quốc thần vương, dựng đền ở cửa sông Như Nguyệt Còn [478] em thì làm Tiểu đương giang đô hộ quốc thần vương, dựng đền ở cửa sông Nam Quân, tức đền thờ này”

Đây là hai nguồn tư liệu chính liên hệ với bài thơ Thần của chúng ta Ngô Sĩ Liên cho thấy,

ông đã lấy thông tin từ “thế truyền”, tức những lời lưu truyền ở đời, để đưa vào Đại Việt sử ký toàn thư Mà những lời lưu truyền này chắc chắn đã tồn tại trước thời Ngô Sĩ Liên Tập hợp đầu tiên các truyện ấy ta có Lĩnh nam chích quái nếu không phải của Trần Thế Pháp, thì cũng

của một tác gia thời Trần mạt, tức nửa cuối thế kỷ thứ 14 Điều này có thể chứng minh một

cách dễ dàng, khi phân tích các truyện có trong các truyền bản của Lĩnh nam chích quái hiện

được bảo lưu

Chẳng hạn, trong số 22 truyện của nó, có hai cặp truyện chắc chắn là rút ra từ Thiền uyển tập anh Đó là cặp truyện Từ Đạo Hạnh Nguyễn Minh Không và cặp truyện Dương Không Lộ

Nguyễn Giác Hải Văn cú của hai cặp truyện này trong các truyền bản hiện có hầu như hoàn

Trang 8

toàn thống nhất với các văn cú của truyện bốn vị thiền sư có trong Thiền uyển tập anh Thiền uyển tập anh ta đã biết là phải ra đời vào năm 1337 Do thế, tác giả Lĩnh nam chích quái đã

sao lại truyện của bốn vị thiền sư vào trong sách của mình Đúng là ông đã làm công tác

“chích quái”, tức là nhặt lấy những truyện lạ từ các sách khác để tạo nên tác phẩm của mình

[479] Từ đó chuyện hai vị thần Long Nhãn và Như Nguyệt dù ngày nay ta không có được

may mắn như trường hợp truyện bốn thiền sư, chắc chắn cũng phải được tác giả Lĩnh nam chích quái đã trích dẫn từ một văn bản nào đó, mà ngày nay ta chưa thể tìm ra được (Có người do không nghiên cứu kỹ càng nên đã viện dẫn bừa bãi về nghĩa chữ chích, rồi khen đại

là tác giả Lĩnh nam chích quái đã có sự gia công đóng góp của mình Phân tích truyện bốn thiền sư trên cho ta kết quả hoàn toàn ngược lại Tác giả Lĩnh nam chính quái đã trích dẫn sao

y nguyên văn bốn truyện vừa nêu, dù từ Thiền uyển tập anh hay bất cứ một nguồn nào khác) Dẫu vậy, nếu so với Đại Việt sử ký toàn thư, Lĩnh nam chích quái có một tính cổ sơ và văn bản đáng tin cậy hơn là Đại Việt sử ký toàn thư Vì thế, bài thơ Thần phải được coi là xuất

hiện dưới thời vua Lê Đại Hành trong cuộc chiến tranh năm 981, chứ không phải là trong cuộc chiến tranh năm 1076 với Lý Thường Kiệt

Xác định thời điểm ra đời của bài thơ như thế, không những phù hợp với nội dung và ý nghĩa của bài thơ như một tuyên ngôn độc lập, mà còn phù hợp với cung cách chỉ đạo chiến tranh của vua Lê Đại Hành Về nội dung và ý nghĩa, bài thơ Thần đúng là một bản tuyên ngôn cho nhà nước Trung Quốc biết về sự độc lập của đất nước Việt Nam và của nhà nước đang làm chủ đất nước ấy, mà từ thời Ngô Quyền đánh bại quân Nam [480] Hán năm 939 cho đến khi Đinh Tiên Hoàng lên ngôi hoàng đế vào năm 968, những người lãnh đạo nước ta chưa có cơ hội để công bố Cho nên, nếu coi bài thơ Thần ấy xuất hiện vào năm 1076 thì thật cũng lạ lùng là nước ta độc lập đã gần hai thế kỷ mới có tuyên ngôn độc lập sao?

Còn về cung cách chỉ đạo chiến tranh, ta đã thấy vua Lê Đại Hành nhờ đại sư Khuông Việt đến núi Vệ Linh cầu nguyện, để cho cuộc chiến tranh đi đến thắng lợi hoàn toàn Khoan nói chi tới việc lời cầu nguyện ấy có được thần linh đáp ứng hay không Chỉ cần nói rằng mỗi một việc nhờ đi cầu nguyện như thế, vua Lê Đại Hành đã muốn thông qua nó để tác động lên tinh thần quân sĩ Đây là một công tác tư tưởng chuẩn bị cho một cuộc chiến đấu gay go sắp tới

Và gay go thật khi quân đội ta đang đối diện với quân đội của một nước to lớn hơn nhiều và

đã có những lần thành công đè bẹp được sức chiến đấu của quân đội ta trong những thế kỷ trước Do thế, yêu cầu công tác tư tưởng là một yêu cầu cấp bách để chuẩn bị cho quân đội chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu Từ đó, sự có mặt của hai vị anh hùng Trương Hống, Trương Hát của Triệu Việt Vương và sự xuất hiện bài thơ Thần là một tất yếu Vì vậy, chúng tôi nghĩ

rằng bài thơ Thần đã xuất hiện trong cuộc chiến tranh 981, như Lĩnh nam chích quái đã ghi Những bản [481] Lĩnh nam chích quái về sau như bản Tục loại của Đoàn Vĩnh Phúc chép vào năm Quang Bảo thứ nhất (l500) đã theo Đại Việt sử ký toàn thư và chép bài thơ ấy liên hệ với

Lý Thường Kiệt trong cuộc chiến tranh 1076 Tân đính hiệu bình Việt điện u linh tập do Gia

Cát Thị thực hiện vào năm Cảnh Hưng Giáp Ngọ (1774) cũng làm thế, nhưng đã cho ta một bài thơ gần như khác hẳn:

Nam bắc phong cương các biệt cư

Tinh phân Chẩn Dực tại thiên thư

Kình thôn lang phệ chân vô yếm

Hội kiến trần thanh tảo thái hư

(Cõi bờ Nam Bắc mỗi riêng nơi

Chẩn Dực sao chia tại sách trời

Sói cắn kình nhai đâu thấy chán

Bụi dơ quét sạch thấy trời tươi)

Trang 9

Bài thơ này có khả năng Gia Cát Thị đã lấy từ một bản nhuận sắc của truyền bản A.2914 của

Lĩnh nam chích quái hiện đang được bảo lưu tại thư viện Viễn Đông Bác Cổ nay là thư viện

Hán Nôm:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư

Như kim bắc lỗ lai xâm phạm

Hội kiến hải trần tận tảo trừ

[482] Do thế, theo chúng tôi, ta nên trả bài thơ Thần trên về cho cuộc chiến tranh năm 981 và chúng ta đã có đủ cơ sở để làm như thế Đây không phải là một kết luận mới Hai bộ sử viết

bằng tiếng Việt vào thế kỷ 16 và 17, là Việt sử diễn âm và Thiên nam ngứ lục đều thống nhất

có cùng một kết luận Việt sử diễn âm đã dành một đoạn dài nói về lai lịch của bài thơ này,

viết:

Tháng bảy có Tống binh sang

Toàn những tướng mạnh binh cường ba muôn

Đến thành Phù Lỗ đóng vây

Quân ta quân nó đôi bên ngất trời

Chưa phân thắng phụ về ai

Ngày rằm tháng chạp vua nằm chiêm bao

Thấy đôi thần nhân bãi nào

Trương Hống Trương Hát bước vào quỳ thưa

Chúng tôi thần đế lòng xưa

Phụng thờ nhà chúa bấy chừ chẳng sai

Tiên Hoàng có sắc chỉ bày

Đòi về phong chức cho tôi tước quyền

Trung thần bất sự nhị quân

Chúng tôi tự vẫn làm thần đạo ngay

Thượng đế thấy bộ thương thay

Phong chúng tôi rày Quỉ bộ thần quân

Đại Hành thức dậy mừng thay

Giết trâu liền có minh tài tế khao

Đêm sau vua lại chiêm bao

[483] Thấy mặc áo mới liền vào tạ ơn

Có một người đứng án tiền

Lĩnh được trăm áo vàn vàn quỷ binh

Lấy ra chưng đất Nam Bình

Đại Hành sực thức gẫm tình mới hay

Nửa đêm thấy một cơn mây

Bạo phong hắc ám gió bay vội vàng

Tống binh mất vía trở dường

Chúng quỷ đánh gãy đao thương liền cờ

Bỗng nghe mảng tiếng không hư

Thần nhân hiện xuống có thơ ngâm rằng

Thi vân:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư

Trang 10

Như hà Bắc lỗ cảm xâm phạm

Hội kiến phong trần tận tảo trừ [2]

Thiên nam ngữ lục có vẻ tiếp thu quan điểm của tác giả Việt sử diễn âm, vì bài thơ Thần hai

bản chép tương đối giống nhau:

Bấy giờ binh mã sửa sang

Địch cùng Nhân Bảo là thằng giặc Ngô

Mười buôn binh mạnh thẳng đua

Qua miền Giang Bắc, đây là Phù Lan

[484] Đêm thấy hai ngài đến màn

Xưng danh là Hát, xưng danh là Hồng

Giúp đời Triệu Việt có công

Thuở chẳng như lòng, ẩn nội Phù Lan…

Ơn trên Thượng đế xét thương

Quyền cho chúa tể giữ phương yên này

Bây chừ bệ hạ đến đây

Nguyện ra giúp nước phá này giặc Ngô

Phán rằng: Tướng quan y như

Công nên thời lập miêú thờ trả ơn

Ngày sau Nhân Bảo ra quân

Trên không nghe tiếng người ngâm thơ rằng:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư

Như hà Bắc lỗ lai xâm phạm

Hội kiến phong trần tận khử trừ [3]

Vấn đề tiếp theo là dù thơ Thần đi nữa thì cũng phải do con người làm ra, phải thông qua một con người để đọc lên Vậy, ai có khả năng có thể làm ra bài thơ này? Để trả lời câu hỏi này, ta thấy trong số những người tham mưu vào bộ chỉ huy của vua Lê Đại Hành trong cuộc chiến tranh năm 981 không ai có nhiều điều kiện gần gũi hơn Pháp Thuận, đặc biệt khi truyện Pháp

[485] Thuận đã xác nhận ông là người tham gia "vận trù kế sách" ngay từ lúc vua Lê Đại Hành

sáng nghiệp

Hơn nữa, nếu những văn thư ngoại giao dưới triều Lê Đại Hành là do Pháp Thuận soạn thảo, như trên đã chứng tỏ, thì việc Pháp Thuận sáng tác bài thơ Thần ấy là một kết luận hợp lý

Ngoài ra, Pháp Thuận đã có một hệ tư tưởng chính trị hoàn chỉnh phát biểu trong bài thơ Vận nước dưới đây Đây là hai yếu tố khác cho phép xác nhận khả năng Pháp Thuận đã sáng tác

bài thơ ấy Thêm vào đó, bài thơ này hòa nhập một cách nhuần nhuyễn và thể hiện được khuynh hướng nổi bật của dòng văn học thời sự chủ lưu các thế kỷ ấy Khuynh hướng văn học nổi bật đây đã chi phối gần 300 năm phát triển của nền văn học Việt Nam với sự tập trung cao độ của vấn đề nóng bỏng nhất của dân tộc thời bấy giờ là vấn đề làm chủ đất nước

Từ khi Định Không khai sáng ra dòng văn học này, nó đã liên tục làm chủ sự phát triển của văn học Việt Nam giai đoạn ấy Đó là nền văn học phục vụ cho cuộc đấu tranh chính trị vì chủ quyền của đất nước, vì quyền sống của người dân, vì sự hưng thịnh của Phật giáo Chưa bao giờ trong lịch sử văn học nước ta lại có một sự nhất quán cao độ như thế về cảm thức thời

sự của những cây bút anh tài Dòng văn học này đã qui tụ xung quanh nó một loạt các nhà thơ lớn của dân tộc từ [486] Định Không cho đến Vạn Hạnh, qua La Quí, Khuông Việt, Pháp Thuận, Đa Bảo Cho nên bài thơ Thần ra đời vào giai đoạn ấy nằm trong xu thế chung của lịch sử văn học Việt Nam ở giai đoạn đó

Ngày đăng: 14/05/2021, 08:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w