Phần 1 Tài liệu Sự hình thành chủ nghĩa khu vực của ASEAN của tác giả Nguyễn Ngọc Dung gồm nội dungChương 1 - Khái luận về chủ nghĩa khu vực, Chương 2 - Sự hình thành chủ nghĩa khu vực củaASEAN. Tham khảo nội dung Tài liệu để nắm bắt nội dung chi tiết.
Trang 1Chương 1
KHÁI LUẬN VỀ CHỦ NGHĨA KHU VỰC
I KHÁI NIỆM KHU VỰC
Theo từ điển Bách khoa toàn thư của Liên Xô (xuất bản
năm 1987), “khu vực” là một từ gốc La tinh (regio, phái sinh- regionis) để chỉ một vùng đất có đặc trưng xác định hoặc một khu mặt nước rộng lớn, nhưng không nhất thiết trở thành một đơn vị phân loại trong hệ thống phân loại lãnh thổ nào đó Trong tiếng Trung Quốc, chữ khi dịch sang tiếng Anh
tương đương với các từ region, area, district - chỉ một vùng
đất, địa khu (khu tự trị) vạch giới ruộng đất hoặc có những
nghĩa khác như limit, scope, range - chỉ giới hạn, phạm vi của
một vùng lãnh thổ Trên thực tế, việc sử dụng khái niệm “khu vực” hoàn toàn có tính ước lệ khi người ta nói “khu vực Hà Nội”, “khu vực ven biển miền Trung”, “khu vực ĐNÁ” Các khu vực trên không giống nhau về mặt kích thước, nhưng bao giờ cũng có những đặc trưng xác định để phân biệt chúng với những khu vực khác
Là một thuật ngữ của ngành địa lý học, khái niệm “khu vực” phản ánh nhận thức của con người đối với môi trường địa lý tự nhiên và địa lý nhân văn Tuy vậy, buổi đầu, các nhà địa lý học cổ điển chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu khu vực địa lý dưới góc độ tự nhiên chứ chưa tiến đến việc nghiên cứu khu vực địa lý dưới góc độ xã hội - nhân văn Theo quan điểm
truyền thống thì “khu vực địa lý như thể một lãnh thổ với bất kỳ kích thước nào mà trên diện tích ấy tồn tại những liên kết
Trang 2không gian tương tác; hơn nữa, lãnh thổ cần phải thuần nhất trong quan hệ với các yếu tố tạo nền tảng, từ đó khu vực được xác định”1 Quan điểm truyền thống nhìn nhận khu vực địa lý như một hệ thống đặc thù Đó là hệ thống tự nhiên với các yếu tố như địa hình, khí hậu, thủy văn mà chỉ khu vực ấy có Quan điểm này đã được R Hartshorne khái quát trong một
mệnh đề nổi tiếng “không có tính tất yếu trong bất kỳ định đề tổng quát nào khác ngoài quy luật chung của địa lý học rằng, mọi khu vực đều mang tính đơn độc duy nhất”2 Việc chỉ đề cập đến các yếu tố tự nhiên trong nghiên cứu khu vực địa lý đã dẫn tới sự hình thành trong địa lý học trường phái “tính độc nhất” của khu vực Nhưng sau này, các nhà bác học đã vượt qua quan niệm đó Một loạt các công trình của A Liesha, F Shefer, V Bunge, R Chorlu, P Haggta đã mở ra những hướng nghiên cứu mới về tính hợp nhất và các đặc điểm chung của khu vực địa lý3
Trường phái “khu vực địa lý xã hội - nhân văn” ra đời là một bước tiến quan trọng trong nhận thức của con người về khái niệm khu vực Từ đây xuất hiện những quan niệm mới về “tính đơn giản có tổ chức”, “tính phức tạp vô trật tự”, “tính phức tạp có tổ chức”, của khu vực địa lý Phương pháp tiếp cận hệ thống trong nghiên cứu khu vực vốn được áp dụng từ nửa sau thế kỷ XVIII, đến những năm 40 của thế kỷ XX đã
thực sự trở thành khoa học Khái niệm “địa hệ” (geosystem)
1 D Uittlsi: Khuynh hướng khu vực hóa và phương pháp khu vực – địa lý
học châu Mỹ, Nxb Khoa học Mátxcơva 1971, tr.39 (tiếng Nga)
2 Hart Shorne.R: The Nature of Geography Lancaster 1939
3 Đông Nam Á, vấn đề cộng đồng khu vực, Nxb Khoa học Mátxcơva 1977,
tr.8 (tiếng Nga)
Trang 3của địa lý học hiện đại đã bao hàm cả tính tự nhiên và tính xã hội của một khu vực địa lý1 Theo đó, thế giới vật chất bao gồm ba kiểu hệ thống cơ bản: 1/ Hệ thống tự nhiên vô cơ (địa quyển - hiểu theo nghĩa hẹp); 2/ Hệ thống tự nhiên hữu cơ (sinh quyển); 3/ Hệ thống xã hội (nhân quyển)2
Trong mỗi địa hệ đều có các hệ thống như vậy Chúng tác động qua lại lẫn nhau Đến lượt mình, các hệ thống trên có thể phân chia thành các phân hệ Mỗi phân hệ lại có thể chia thành các phần tử Phần tử là thành phần không thể chia nhỏ ra được trong phạm vi hệ thống nào đó Cho nên có thể coi địa hệ là tập hợp xác định của các phân hệ và phần tử Mặc dù có nhiều biểu hiện phức tạp, nhưng đặc trưng quan trọng nhất của địa hệ là tính lãnh thổ và tính không rõ ràng về quy mô lãnh thổ của nó3 Vì thế trong chừng mực nhất định, địa hệ hàm chứa cả nghĩa khu vực Giống như địa hệ, khu vực là nơi thể hiện trình độ và đặc trưng liên kết của các hệ thống địa quyển, nhân quyển và sinh quyển Khoa học địa lý đã đi từ việc nghiên cứu cảnh quan tự nhiên đến nghiên cứu cảnh quan kinh tế, văn hóa, xã hội trên các khu vực cụ thể
Trong giới học giả Xô viết, từ những năm 70, đối tượng,
nhiệm vụ của ngành khu vực học (area studies) đã trở thành
những đề tài của nghiên cứu xã hội nói chung Có nhiều cách
1 Nguyễn Hữu Cát: Cơ hội và những vấn đề đặt ra khi mở rộng ASEAN ra
toàn khu vực Đông Nam Á Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “ASEAN hôm nay và ngày mai” Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, t.1 H 1997,
2 Z.E Dzenis: Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu địa lý kinh tế
– xã hội Nxb Giáo dục, H 1984, tr.12
3 Nguyễn Hữu Cát, sđd, tr 37, 38
Trang 4hiểu về khu vực, nhưng phần lớn họ đều coi khu vực là tổng thể của các tổ chức mang tính xã hội, được phân biệt bởi sự tương đồng mang tính giai đoạn - hình thái1 Trên cơ sở tư liệu về dân tộc học, nhà dân tộc học Xô viết N.N Treboksarov đã coi ĐNÁ là một khu vực địa lý - lịch sử - tộc người Quan điểm này sau đó đã được Ia V.Chesnov kế thừa2
Đặc biệt, khái niệm “khu vực lịch sử” của V.V Boisov được nhiều học giả Xô viết chú ý và tán đồng Theo V.V Boisov,
“khu vực lịch sử” được hiểu như là “một cộng hợp có tính không gian - xã hội, được xác định bởi tính bền vững của biên giới, độ đủ dài của một quá trình lịch sử” Quá trình lịch sử ở đây được hiểu là nền tảng cơ sở, từ đó mà các yếu tố khu vực được hình thành Tính thống nhất của quá trình lịch sử thể hiện qua những lát cắt hiẹân đại Vì thế, phương thức hình thành khu vực thể hiện ở việc khu vực hình thành trong những hoàn cảnh xác định và sự tiêu vong của nó cũng có thể xảy ra trên một giai đoạn nào đó của quá trình lịch sử Mỗi giai đoạn, khu vực có một hình thức tồn tại với các dấu hiệu hoặc đặc trưng tất yếu Nhưng trong quá trình lịch sử, các dấu hiệu hoặc đặc trưng này bị thay đổi theo từng thời kỳ mặc dù khu vực - nhìn chung là một thực thể bền vững Như vậy, khái niệm “khu vực lịch sử” không bắt buộc phải có liên quan trực tiếp đến các hình thái kinh tế - xã hội Các đặc trưng của khu vực, trong khi chịu sự tác động mang tính quy luật của các hệ thống lớn khác thì vẫn giữ được tính ổn định, mặc dù có sự thay đổi về hình thái
1 Đông Nam Á, vấn đề cộng đồng khu vực, sđd, tr.10
2 Ia.V Tresnov: Dân tộc học lịch sử của các nước Đông Dương, Nxb Khoa học Mátxcơva 1976, tr.5 (tiếng Nga)
Trang 5Để xác định một “khu vực lịch sử”, V.V Boisov đã căn cứ vào hai tiêu chí: 1/ Sự tương đồng khu vực; 2/ Các mối quan hệ của khu vực Hai yếu tố này hiện diện trong suốt các giai đoạn khu vực hình thành và phát triển Sự tương đồng là kết quả phát triển của các yếu tố tiên khởi trong quan hệ văn hóa - tộc người của các dân tộc (tộc người) trên một lãnh thổ xác định Sự tương đồng trở thành đặc trưng chủ yếu của giai đoạn đầu tiên hình thành khu vực Đến giai đoạn thứ hai sẽ xuất hiện các quan hệ giữa các yếu tố cấu thành khu vực, trong đó có đường biên phân ranh giới Mặc dù xảy ra những thay đổi về lịch sử, nhưng đường biên là một yếu tố quan trọng để xác định khu vực Đường biên làm nổi bật lên các mối quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa bên trong và bên ngoài khu vực Giai đoạn thứ ba hình thành khu vực lịch sử, gắn liền với việc xuất hiện các tiểu khu vực Mỗi tiểu khu vực đều có một trung tâm mà trong quá trình vận động lịch sử, trung tâm ấy trở thành quốc gia Khi các quốc gia trong khu vực đã được thiết lập thì bang giao giữa chúng là điều không tránh khỏi trong lịch sử Đến đây, tổ chức khu vực đã hình thành với một hệ thống - cấu trúc, bao gồm các quốc gia thành viên và mối quan hệ giữa chúng
Như vậy, “khu vực lịch sử” của V.V Boisov đã chứa cả hệ thống tự nhiên lẫn hệ thống xã hội Trong tính lịch sử cụ thể, các hệ thống này biểu hiện thành một cộng đồng kinh tế, chính trị, văn hóa, lịch sử của các quốc gia, dân tộc trên một lãnh thổ xác định
Ngoài quan niệm “khu vực lịch sử” như đã trình bày ở trên, đến đầu thập niên 90 xuất hiện một số quan niệm khác nữa về khu vực Chẳng hạn, ý kiến của G Kadumov cho
Trang 6rằng, khu vực là hình thức phổ biến của sự liên kết các quốc gia và dân tộc Ông nêu ra năm tiêu chí xác định khu vực:
1 Có ranh giới địa lý rõ ràng Chỉ số địa - chính trị xác định vị trí của nó trong hệ thống quan hệ quốc tế
2 Có một môi trường văn hóa chung Cư dân ở đó hoặc có chung một tôn giáo hoặc có chung một thói quen tâm lý, dân tộc, cộng đồng văn minh (như người Ảrập chẳng hạn) những thứ phân biệt họ với môi trường văn hóa khác
3 Có đặc trưng bởi sự hiện diện của các liên kết kinh tế
- xã hội chặt chẽ và bởi những đặc điểm tương tự về kinh tế và sản xuất
4 Các dân tộc ở khu vực có chung một số phận lịch sử giống nhau, bị lệ thuộc vào đế quốc, bị thực dân thống trị và cùng đấu tranh chống kẻ thù chung
5 Có một hình thức tổ chức nào đó (không phụ thuộc vào tính chất của tổ chức), thí dụ tính khu vực: Tổ chức diễn đàn Islam (OIC); tính kinh tế: cộng đồng châu Âu (EC) hoặc thuần túy tính địa lý: Hiệp ước Andes1 Theo báo Sài Gòn Giải phóng ngày 3/6/1999, các nước Andes đang chuẩn bị thành lập khối thị trường chung vào năm 2005)
Hạn chế của G Kadumov là các tiêu chí ông đưa ra không phản ánh hết được đặc trưng khu vực và các hình thức tổ chức khu vực Đặc trưng khu vực không chỉ là ranh giới địa lý mà còn là vị trí, địa hình, khí hậu Bởi tất cả những yếu tố
1 G Kadumov: Phân tích so sánh sự hợp tác khu vực của ASEAN và SNG
Các nước Đông Nam Á trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI Nxb Khoa học Mátxcơva 1994, tr.30-36 (tiếng Nga)
Trang 7này ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình phát triển lịch sử xã hội của các dân tộc sinh sống trong khu vực đó Aristotle, triết gia Hy Lạp, từ thế kỷ IV trước Công nguyên đã nhận xét rằng, trong những vùng có địa hình khác nhau thì tồn tại nhiều khu vực chính trị thay vì một khu vực chính trị duy nhất được cấu tạo nên1 Còn các hình thức tổ chức khu vực thì muôn màu muôn vẻ Vấn đề này chúng tôi sẽ trình bày ở phần sau Trong sự tìm kiếm không mệt mỏi một khái niệm khu vực hoàn chỉnh, chúng ta còn bắt gặp loại ý kiến xem xét khu vực như “một cộng đồng văn minh”2 Cách tiếp cận khu vực văn hóa này chỉ nhấn mạnh đến những đặc trưng văn hóa của khu vực mà coi nhẹ các yếu tố chính trị, trạng thái kinh tế - xã hội cùng những mối quan hệ của chúng ở cả trong lẫn ngoài khu vực
Bên cạnh những khuynh hướng xem xét khu vực như là các hệ thống tự nhiên và xã hội với những biểu hiện đa dạng, phong phú, người ta còn tiếp cận khu vực trên bình diện nhỏ hẹp nhưng rất căn bản: bình diện địa - chính trị
Địa - chính trị là khái niệm chỉ mối tương quan giữa quyền lực chính trị với bối cảnh địa lý3 Tùy theo đối tượng nghiên cứu mà khái niệm địa lý có thể bao hàm tất cả các yếu tố về tự nhiên, kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa (địa lý tự nhiên, địa lý kinh tế, địa lý chính trị, địa lý quân sự )
1 M.A Lewis: Mô thức chính trị thế giới Trung tâm nghiên cứu Việt Nam
phiên dịch và xuất bản, Sài Gòn, 1963, tr.45
2 Các nước Đông Nam Á trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI, Sđd, tr 30
3 Colins.G: A Debate on Geopolitics The continued primacy of Geography,
Orbits, Spring 1996, vol.140, n o 2, p.247
Trang 8Như vậy địa lý, mặc dù về khái niệm phân biệt với kinh tế, chính trị, quân sự nhưng nó có ảnh hưởng đến hành vi con người trên từng phạm vi đó, nên các mối quan hệ giữa địa lý với kinh tế, chính trị, văn hóa, quân sự có thể được nghiên cứu ở các góc độ địa - kinh tế, địa - chính trị, địa - chiến lược
Các trường phái địa - chính trị xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX trong các quốc gia đứng đầu về tư tưởng ở phương Tây Trường phái đầu tiên xứng đáng được nhắc đến là ở Đức với tên tuổi của Ratzel (1844-1904), giáo sư địa lý Đại học Leipzig Lý thuyết của Ratzel dựa trên hai yếu tố cơ bản mà
địa lý cung cấp cho chính trị: 1 Không gian (raum), được hạn định bởi diện tích, tính chất vật lý, thời tiết ; 2 Vị trí (lage),
có chức năng phối trí không gian với mặt đất và buộc không gian theo điều kiện cục bộ với tất cả những quan hệ của nó1 Hoạt động của con người bị chế ngự bởi chiều hướng không
gian (raum sinn) và sự chế ngự này mang tính định mệnh Sau
này Rudolf Kjellen (1864 - 1922) người Thụy Điển đã đi xa hơn Ratzel trong việc xác lập một lý thuyết ưu việt của chủng
tộc Đức và thuyết về bản tính con người đối với raum sinn
Đáng chú ý hơn cả là trường phái Anh với Mackinder (1861-1947) Mackinder cho rằng trên trái đất chỉ có một phần lục địa quan trọng nhất, bao gồm toàn thể châu Á, châu
Âu, châu Phi Phần đất này ông gọi là Đảo thế giới (World Island ) Trung tâm của Đảo thế giới là Địa tâm (Heartland)
Theo Mackinder, trái tim của toàn bộ châu Á, Phi, Âu chính
là Nga Vì vậy mới có một định đề nổi tiếng: “Ai nắm giữ
1 Celerier.P: Geopolitique et geostrategie Presses Universitaires De
France, Paris 1955, pp 127, tr.14
Trang 9Đông Âu chính là nắm giữ Địa tâm; ai nắm giữ Địa tâm thì chế ngự được Đảo thế giới; ai nắm giữ Đảo thế giới thì thống trị cả thế giới”1
Sở dĩ Mackinder coi nước Nga là Địa tâm bởi ông nhận thấy tình trạng phân phối đất đai và biển cả là cơ sở hình thành sự phân biệt căn bản giữa các hải quốc và lục quốc Một quốc gia vừa nắm giữ thế lực về đất đai, vừa nắm giữ thế lực về biển cả sẽ làm bá chủ Nước Nga đáp ứng được những điều kiện trên Vì thế các quốc gia khác lo sợ người Nga một ngày nào đó sẽ thống trị thế giới
Tư tưởng của Mackinder đã du nhập sang tận châu Mỹ Spykman, một học giả Mỹ đã vận dụng học thuyết của
Mackinder để xác định địa - chính trị của Tân thế giới (New world) Ông căn cứ vào phương pháp đo vẽ bản đồ và đi đến kết luận rằng vai trò của Mỹ cũng tương đồng với Liên Xô (cũ) Người Mỹ không chỉ nắm thế lực về đất đai mà còn bành trướng mạnh ra đại dương
Chắc hẳn lý luận của Mackinder chịu ảnh hưởng của thuyết “châu Âu trung tâm” (Europe Centralism), xuất hiện khoảng đầu thế kỷ XIX Học thuyết này chỉ đứng vững trong thời điểm thực dân châu Âu làm mưa làm gió ở châu Á, Phi, Mỹ La tinh Nhưng vào đầu thế kỷ XX, khi Mỹ trở thành một trung tâm quyền lực mới thì sự độc quyền chính trị thế giới của châu Âu đã chấm dứt, cũng chấm dứt luôn sự độc quyền của châu Âu về kinh tế, văn hóa và cả tiềm lực quân sự nữa Ngày nay, thế giới đang diễn ra quá trình đa cực hóa Sự trỗi dậy của Trung Quốc ở thế kỷ 21 để trở thành một trong các
1 Celerier.P, sđd, tr.15, 18
Trang 10trung tâm quyền lực thế giới đang trở nên hiện thực Đối với các cường quốc lớn như Nga, Mỹ, Trung Quốc, địa lý chính trị biến thành một “hướng dẫn viên” cho ý thức chính trị của quốc gia Dù sao, quan điểm của Mackinder đã đặt cơ sở nền tảng cho việc xác định một khu vực quyền lực Trong sự vận động biến đổi của lịch sử, các khu vực quyền lực ấy không có
ý nghĩa vĩnh hằng
Ngày nay, người ta hiểu địa - chính trị cụ thể hơn so với các quan điểm có tính nguyên lý trước kia Địa - chính trị của một khu vực - về cơ bản - gồm hai nhóm nhân tố: nhóm nhân tố ổn định và nhóm nhân tố biến đổi Các nhân tố ổn định bao gồm diện tích lãnh thổ, địa hình, địa chất, vị trí lục địa, vị trí biển, bờ biển, cảng, eo biển, đảo Các nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia trong khu vực hoặc toàn bộ khu vực Các nhân tố trên còn đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc xác định tầm vóc địa - chiến lược của khu vực trong quan hệ quốc tế Các nhân tố biến đổi gồm có: tình trạng dân số, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, các thể chế chính trị Có thể kể thêm khả năng tàng trữ và sử dụng vũ khí hạt nhân như một thứ quyền lực đặc biệt Nếu quy về tiềm năng thì có thể coi nhóm nhân tố ổn định và nhóm nhân tố biến đổi là hai tiềm năng - tiềm năng “bất biến” và tiềm năng “khả biến” của một khu vực nhất định
Có thể coi ĐNÁ cũng là một khu vực địa - chính trị quan trọng, vì nó nằm án ngữ trên trục giao tiếp Đông - Tây, từ Thái Bình Dương thông qua Ấn Độ Dương Khu vực này có cả các quốc gia lục địa và quốc gia hải đảo Singapore là một hải cảng lớn nhất trong khu vực, trạm trung chuyển hàng hóa đi
Trang 11các nơi trên thế giới Nhiều cảng nước sâu như Cam Ranh (Việt Nam), Subic (Philippines) trở thành quân cảng quan trọng trong vùng Ngoài khơi Thái Bình Dương nhấp nhô rất nhiều quần đảo, đây là những lá chắn có ý nghĩa to lớn về quân sự trong việc kiểm soát đường hàng hải và bảo vệ đất liền
Tóm lại, khu vực thoạt tiên là một khái niệm địa lý với
nội hàm biến đổi theo nhận thức của con người ở mỗi thời điểm lịch sử Tuy không có quy ước rõ ràng về không gian,
nhưng khu vực hàm chứa những hệ thống khác nhau về tự
nhiên, sinh thái và nhân văn Các hệ thống đó, đến lượt mình lại chia ra các phân hệ và phần tử để tạo thành một cấu trúc khu vực Mặc dù khu vực là một thực thể phức tạp với nhiều hệ thống đa tầng như vậy, nhưng đặc trưng quan trọng nhất của khu vực là tính lãnh thổ Từ đây, tùy theo đối tượng nghiên cứu mà người ta có được các ngành hoặc các lĩnh vực khoa học khác nhau, như khu vực địa lý, khu vực lịch sử, khu vực văn hóa, khu vực địa - chính trị
II NHỮNG LUẬN ĐIỂM CHỦ YẾU VỀ CHỦ NGHĨA KHU VỰC
Lịch sử thế giới hiện đại đã chứng kiến không ít những xung đột về tư tưởng, về quân sự giữa một nhóm nước hoặc khu vực, thậm chí trên phạm vi toàn thế giới Bên cạnh đó, lịch sử cũng từng ghi nhận những hình thức phong phú của sự hợp tác giữa các quốc gia, nhóm các quốc gia trong khu vực Hợp tác, đối thoại và tranh chấp, xung đột là những đặc trưng
cơ bản trong quan hệ giữa các quốc gia có chủ quyền Đó là hai dòng chảy rất phức tạp, làm nên diện mạo chính trị thế giới, tùy thuộc vào các giai đoạn phát triển lịch sử Các quốc
Trang 12gia hợp tác với nhau vì có chung lợi ích; đối đầu nhau vì lợi ích các bên không trùng hợp Lợi ích càng khác nhau thì càng khó hợp tác, thậm chí có thể dẫn đến xung đột quốc tế trong trường hợp lợi ích các bên trở thành đối kháng
Sự hợp tác quốc tế về bản chất, cũng tự nhiên như xung đột quốc tế vậy Đó là những hiện tượng khách quan trong đời sống xã hội nhân loại Về nguyên tắc, hợp tác quốc tế chỉ xuất hiện khi có ít nhất hai quốc gia, bất chấp vị trí địa lý, có
nhu cầu quan hệ song phương (bilateralism) - hình thức phổ
biến trong hợp tác quốc tế Tuy nhiên, khi có từ hai quốc gia trở lên trong một khu vực cùng cam kết hợp tác, thì chúng ta có sự hợp tác mang tính tiểu khu vực hoặc khu vực Dựa theo lập luận này, Somsakdi Xuto, một học giả người Thái Lan đã
đồng nhất sự hợp tác khu vực (regional cooperation) với chủ nghĩa khu vực (regionalism)1 Số học giả khác thì cho rằng, chủ nghĩa khu vực là một quá trình hợp tác với những mục tiêu lâu dài2; hoặc chủ nghĩa khu vực đơn thuần là các hình thức hợp tác, vì thế mọi tổ chức khu vực và quốc tế như SEATO, ASA, MAPHILINDO, ASPAC đều là những biểu hiện của chủ nghĩa khu vực trong cả vùng châu Á – Thái Bình Dương1 Đó là một số ý kiến trong rất nhiều trường hợp phổ
1 Somsakdi Xuto: Regional cooperation in Sotheast Asia, Problems
Possibilities and Prospects Institute of Asian Studies, Faculty of political Sciences, Chulalongkorn Uni., 1973, p.2
2 Oemanjadi Njiotowijono: Regionalism in Southeast Asia: Commitment or
Intergration? “Regionalism in Southeast Asia”, Center for Strategic and International Studies, Jakarta 1974, pp 147-156
1 Palmer N.D: The New Regionalism in Asia and Pacific Massachusetts,
Lexington Books, 1991
Trang 13biến về sự không rõ ràng trong nhận thức khái niệm “chủ nghĩa khu vực” Vậy chủ nghĩa khu vực là gì ?
Xét về mặt từ vựng, theo từ điển Anh - Nga, chủ nghĩa
khu vực (regionalism) có ba nghĩa: 1/ Sự phân chia thành khu
vực; 2/ Sự tạo thành khu vực; 3/ Tình trạng địa phương, cục bộ Còn theo từ điển Pháp - Việt của Đào Duy Anh,
“regionalisme” cũng có ba nghĩa chính: 1/ Óc địa phương,
thiên kiến địa phương; 2/ Địa phương chủ nghĩa; 3/ Địa phương phân trị chủ nghĩa Như vậy, theo Đào Duy Anh chủ nghĩa khu vực là một khuynh hướng tư tưởng Còn cách hiểu chủ nghĩa khu vực của các nhà biên soạn từ điển người Nga thì đầy đủ hơn Vì họ quan niệm chủ nghĩa khu vực không đơn thuần chỉ là khuynh hướng tư tưởng, mà còn là sự tạo lập, sự phân chia khu vực về mặt địa lý
Một số Bách khoa toàn thư ở các nước trên thế giới cũng đưa ra khái niệm về chủ nghĩa khu vực, nhưng đó là thứ chủ nghĩa khu vực trong văn chương hoặc hội họa Chẳng
hạn, theo Collier’s Encyclopedia (Bernard Johnston, chủ biên,
xuất bản năm 1996), chủ nghĩa khu vực là một trào lưu văn học Mỹ sau nội chiến, khắc họa các tính cách nhân vật và khung cảnh thời đại chung theo đặc trưng vùng Bởi vì, sau nội chiến 1861 – 1865, chủ nghĩa tư bản ở Mỹ phát triển mạnh Văn minh công nghiệp châu Âu có cơ hội ồ ạt tràn đến Lúc này, để đối chọi với “thời đại vật chất”, các nhà văn Mỹ bắt đầu chú ý thể hiện các khía cạnh sinh hoạt đời thường trong lối sống của người châu Mỹ Đấy là nguyên nhân sinh
ra thứ chủ nghĩa khu vực trong văn chương Còn chủ nghĩa khu vực trong hội họa được Bách khoa toàn thư Xô viết (xuất bản năm 1987) giới thiệu là một trào lưu hội họa châu Mỹ,
Trang 14xuất hiện từ những năm 30 Mô típ chủ yếu của trường phái này bao gồm các phong cảnh châu Mỹ cùng lối sống sinh hoạt của con người sống trên vùng đất này
Còn ở góc độ chính trị học, thì do tính chất phức tạp của đối tượng nghiên cứu đã dẫn đến nhiều quan điểm khác nhau và các quan điểm này thường không đầy đủ Rải rác đây đó xuất hiện vài định nghĩa hạn chế trên một phương diện nào đó của chủ nghĩa khu vực Như việc coi rằng, chủ nghĩa khu vực là sự liên lập có tổ chức
(organized interdependence) dựa trên tính gần gũi về địa lý1 Quan điểm này xác đáng một phần bởi trên thực tế, các quốc gia gần gũi nhau về địa lý thường hay chia sẻ những vấn đề chung trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị hay văn hóa, quân sự Các dân tộc đó bị cuốn hút bởi các khuynh hướng hợp tác khu vực Các khuynh hướng này như một sự lựa chọn hiệu quả và ấn tượng trong việc giải quyết các vấn đề khu vực nói chung Tuy nhiên, tự thân yếu tố địa lý không trở thành cái quan trọng nhất quy định khuynh hướng hợp tác Lịch sử quan hệ quốc tế hiện đại đã từng biết đến một số quốc gia cùng một lúc là thành viên của nhiều hệ thống khu vực khác nhau Thí dụ, nước Pháp là hội viên của khối “Hiệp ước Brussels”; “Tổ chức hiệp ước Bắc - Đại Tây dương” (NATO), “Cộng đồng than, thép châu Âu” (ECSC) Quan hệ quốc tế hiện đại cũng từng biết đến nhiều quốc gia không dính dáng đến nhau về mặt địa lý nhưng vẫn cùng đứng trong một hệ thống như khối “Thịnh vượng chung” của
Anh quốc (Common Wealth), “Hội đồng châu Á và Thái Bình
Dương” (ASPAC), “Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ” (OPEC) Tình hình rắc rối đến độ Alejandro Alvarez, nguyên luật sư của
Trang 15Tòa án tư pháp quốc tế cho rằng: “Không có quy tắc nào để xác định các khu vực Sự hiện hữu của chúng là do các trường hợp và đặc biệt là do sự thỏa hiệp giữa các quốc gia cấu tạo nên chúng”
“Các khu vực được cấu tạo do một số các quốc gia nào đó có liên hệ về nhân chủng, cơ cấu tổ chức hoặc trên hết, về quyền lợi chính trị”1
Ngoài một số ý kiến nhấn mạnh đến yếu tố địa lý trong thành phần chủ nghĩa khu vực còn có các ý kiến khác gắn chủ nghĩa khu vực với yếu tố an ninh và trật tự thế giới2 Có tác giả
coi chủ nghĩa khu vực “như là một bộ phận cấu thành của hệ thống quan hệ quốc tế hiện nay, phản ánh một giai đoạn phát triển mới về kinh tế - xã hội, chính trị và khả năng phối hợp hành động của các nước, nhất là các nước đang phát triển để bảo vệ quyền lợi quốc gia của mình”3
Những nhận thức chung chung về chủ nghĩa khu vực như vậy chưa làm sáng tỏ được những vấn đề thuộc tính của nó như nguồn gốc, nội dung, chức năng, vai trò của chủ nghĩa khu vực trong đời sống xã hội quốc tế nói chung và cả những hình thức biến đổi của nó trong những điều kiện lịch sử cụ thể Muốn nhận thức một cách căn cơ về chủ nghĩa khu vực - theo chúng tôi - phải có thế giới quan duy vật biện chứng Bởi lẽ, chủ nghĩa khu vực với tư cách là một hiện tượng trong đời sống chính trị - xã hội quốc tế phải có căn nguyên lịch sử
1 Alvarez.A: La reforme du pacte de la societe des Nations surdes bases
contineutales et regionales “International organization” edited by Normal Hill, New York, Haper and Bross, 1952, tr.87
2 Yalem R.J: Regionalism and World order Public Affairs Press, Washington D.C,
1965, tr 6-37
3 Nguyễn Ngọc Bình: Về chủ nghĩa khu vực Tạp chí Quan hệ quốc tế, số 7/1992,
tr.13
Trang 16Căn nguyên lịch sử đầu tiên của chủ nghĩa khu vực là việc hình thành các cộng đồng văn minh, vốn xảy ra ở các giai đoạn lịch sử cổ - trung đại thế giới Trên quãng thời gian dằng dặc như thế, rất nhiều các cộng đồng văn minh có tính khu vực được hình thành Hãy lấy cộng đồng văn minh Hy Lạp cổ đại làm thí dụ: vào khoảng thế kỷ VIII-VII trước công nguyên, người Hy Lạp đã xây dựng lên các thành bang của
mình (Polis) Sự di cư của người Hy Lạp theo các hướng tây,
nam, đông, bắc đã kéo theo sự xuất hiện các thành bang Hy Lạp ở Ý, Pháp, Tây Ban Nha, Ai Cập, Libi, ven bờ Địa Trung Hải, Hắc Hải Mặc dù các thành bang này độc lập với nhau về chính trị, kinh tế, phong tục tập quán, thậm chí cả tín ngưỡng tôn giáo nhưng chúng vẫn là một cộng đồng thống nhất Giữa chúng vẫn có những mối liên kết về kinh tế, chính trị, văn hóa nhất định Đại hội điền kinh Olympiad và các mối quan hệ thương mại giữa các thành bang Hy Lạp là những minh chứng thuyết phục về tính cộng đồng thống nhất ấy Cho nên có thể nói, tất cả các thành bang Hy Lạp cổ đại đã tạo thành một khu vực Khu vực này bị tan rã cùng với sự lụi tàn của văn minh Hy Lạp trong những thế kỷ gần Công nguyên Trường hợp đế quốc Ảrập (630-1258) cũng xứng đáng là một điển hình Đây là một đế quốc có lãnh thổ trải dài suốt từ Đông sang Tây, bao gồm cả ba lục địa châu Á, châu Phi, châu Âu Trải qua hơn sáu thế kỷ tồn tại, nó đã hình thành ra một khu vực Hồi giáo; có thể gọi là thế giới Hồi giáo Trừ thế kỷ VIII, khi chính quyền trung ương vững mạnh, đế quốc Hồi giáo Ảrập là một quốc gia thống nhất Các thế kỷ còn lại, nó chỉ là một liên minh chính trị của các quốc gia bị người Hồi giáo Ảrập thôn tính Dù sao, liên minh chính trị này vẫn đảm
Trang 17bảo duy trì một cộng đồng Hồi giáo với các mối quan hệ kinh tế, văn hóa thường xuyên, tạo ra một ranh giới khu biệt đế quốc Ảrập với các khu vực khác
Như vậy, khuynh hướng khu vực hóa đã từng tồn tại trong lịch sử nhưng có thể chưa được nhận thức Trong thế giới cổ - trung đại, khuynh hướng này biểu hiện chủ yếu dưới dạng hình thành một cộng đồng văn hoá, văn minh
Căn nguyên lịch sử thứ hai của chủ nghĩa khu vực là sự hình thành và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Trong khi các quốc gia - dân tộc ở phương Đông xuất hiện từ rất sớm thì ở phương Tây, đến thời đại tư bản chủ nghĩa, các quốc gia - dân tộc tư sản mới hình thành, đồng thời cũng hình thành luôn thị trường quốc gia dân tộc của họ Trong quá trình tồn tại và phát triển, chủ nghĩa tư bản đã kết nối hầu hết các quốc gia - dân tộc trên thế giới vào một thị trường chung thống nhất Bằng các cuộc chiến tranh xâm lược cướp bóc thuộc địa và việc áp đặt các mối quan hệ bất bình đẳng giữa các dân tộc, chủ nghĩa tư bản đã làm nảy sinh các vấn đề vừa mang tính toàn cầu, vừa mang tính khu vực Đến đây, chúng ta cần khảo cứu ba hiện tượng có quan hệ mật thiết với nhau trong quan hệ quốc tế Đó là chủ nghĩa quốc gia, chủ nghĩa toàn cầu và chủ nghĩa khu vực
III CHỦ NGHĨA QUỐC GIA (NATIONALISM)
Trên bình diện công pháp quốc tế, quốc gia được hiểu như là một cộng đồng chính trị - xã hội, có chủ quyền thiêng liêng về lãnh thổ, độc lập về chính trị và bình đẳng trong quan hệ quốc tế Sự tạo lập quốc gia nhất thiết phải có ba yếu tố căn bản : 1/ cộng đồng dân cư; 2/ lãnh thổ; 3/ chủ quyền -
Trang 18tức một quyền uy chính trị khả dĩ đủ năng lực để đối nội, đối ngoại1 Ở phương Đông, do các quốc gia xuất hiện sớm nên nội dung của chủ nghĩa quốc gia - theo chúng tôi - là trùng với chủ nghĩa yêu nước, đó là tinh thần tự tôn dân tộc, ý thức bảo vệ những quyền lợi quốc gia - dân tộc vốn thiêng liêng và bất khả xâm phạm Trước tiên là quyền độc lập về chính trị, toàn vẹn về lãnh thổ Chủ nghĩa quốc gia, vì thế, trở thành những nguyên tắc trong bang giao quốc tế Nhưng cũng cần phải lưu
ý rằng, ở phương Đông không chỉ tồn tại thứ chủ nghĩa quốc gia dân tộc chân chính như trên mà còn có nhiều chủ nghĩa quốc gia dân tộc mang tính sô-vanh lớn, nhỏ (đại bá, tiểu bá) Còn ở phương Tây, việc hình thành các quốc gia - dân tộc mới chỉ xảy ra trong vài ba thế kỷ về trước, lại trùng vào thời điểm phát triển của chủ nghĩa tư bản, nên chủ nghĩa quốc gia
- dân tộc ở phương Tây thực chất là thứ chủ nghĩa quốc gia -
dân tộc tư sản Vì thế, Từ điển Bách khoa toàn thư Xô Viết đã đưa ra một định nghĩa căn bản như sau: “Chủ nghĩa quốc gia (dân tộc) là hệ tư tưởng và đường lối chính trị của giai cấp
tư sản, tiểu tư sản, đồng thời cũng là tâm lý trong vấn đề dân tộc, đối lập với chủ nghĩa quốc tế vô sản Nền tảng cơ sở của chủ nghĩa quốc gia là tư tưởng về tính vượt trội, siêu việt của một dân tộc, tính chất ngoại lệ của một hình thức cộng đồng siêu giai cấp Chủ nghĩa quốc gia trở thành ngọn cờ của giai cấp tư sản chống chế độ phong kiến Trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, chủ nghĩa quốc gia có mối quan hệ mật thiết với chủ nghĩa phân biệt chủng tộc Trong chủ nghĩa quốc gia của các dân tộc bị áp bức có cả nội dung dân chủ lẫn các khía cạnh phản động Chủ nghĩa xã hội đã tạo ra những điều kiện
1 Tăng Kim Đông: Quốc tế công pháp, quyển II, Sài Gòn 1972, tr.15
Trang 19để vượt qua chủ nghĩa quốc gia, thủ tiêu sự áp bức và đối kháng dân tộc” Như vậy, chủ nghĩa quốc gia là một khái niệm có tính lịch sử, phản ánh những biến đổi trong sự phát triển lịch sử của mỗi dân tộc và của toàn nhân loại
Điểm lại lịch sử cận đại chúng ta thấy có sự thay đổi trong quan niệm về quốc gia Các cuộc cách mạng tư sản trong thời kỳ này đã dẫn đến sự cáo chung chế độ phong kiến
ở Tây Âu Phần lớn các vương quốc không còn nữa Các hình thức tổ chức quốc gia tư sản ở Tây Âu dần dần mang tính phổ quát toàn thế giới Quốc gia bây giờ là một cộng đồng chính trị - xã hội, đáp ứng nguyện vọng, quyền lợi của toàn dân Quốc gia đã trở thành nền tảng của cơ cấu chính trị - xã hội
quốc tế Vì thế, nguyên tắc “dân tộc tự chủ” (le principe des nationalités) đã xuất hiện trong bang giao quốc tế 1 Nhưng theo khuynh hướng tự nhiên, các quốc gia mạnh thường tự cho
mình quyền bành trướng hoặc sô-vanh nước lớn (chauvinism)
Từ đó nảy sinh khá nhiều học thuyết về chủ nghĩa quốc gia Những người theo chủ nghĩa quốc gia - dân tộc tư sản lý giải rằng, dân tộc là một hình thức cộng đồng siêu giai cấp Do phẩm chất ưu việt của một số dân tộc đặc biệt mà họ trở nên văn minh hơn các dân tộc khác Vì thế, họ có bổn phận “khai hóa” cho các dân tộc kém phát triển ở các thuộc địa và phụ thuộc Cụ thể như trường hợp dân tộc Đức Trước Đại chiến
thế giới thứ hai, người Đức có thứ chủ nghĩa quốc xã (la doctrine nationale - socialiste) Dựa trên ý niệm về ưu thế tự nhiên của nòi giống Đức và khả năng thấp kém bẩm sinh của các chủng tộc khác, những nhà tư tưởng của Đức quốc xã đã
1 Tăng Kim Đông, sđd, tr 39
Trang 20chia thế giới ra làm hai loại quốc gia cơ bản: quốc gia lãnh đạo
(reich) và quốc gia lệ thuộc (neben - lander)1 Những loại học thuyết này trở thành kẻ dọn đường cho chiến tranh đế quốc Những người mác xít quan niệm quốc gia chỉ tồn tại trong
giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản Trong tác phẩm “Nhà nước và cách mạng” V.I Lênin đã chỉ ra rằng, chủ nghĩa cộng sản có hai giai đoạn Ở giai đoạn đầu (giai đoạn quá độ) giai cấp vô sản thiết lập nhà nước chuyên chính vô sản của mình Điều đó cũng có nghĩa là giai cấp vô sản xây dựng một nhà nước xã hội chủ nghĩa Nhưng khi chế độ cộng sản chủ nghĩa được hoàn thành thì nhà nước chuyên chính vô sản cũng tiêu vong2 Lúc đó, quốc gia Xô viết - nếu vẫn còn là quốc gia - sẽ trở thành một cộng hòa thế
giới (une république mondiale)
Đối với các dân tộc nhỏ bé, chủ nghĩa quốc gia hàm chứa những nguyên tắc về quyền bình đẳng và quyền tự quyết dân tộc Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc kéo dài hàng thế kỷ chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa quốc gia
ở đây còn mang cả sắc thái bài thực Di sản nặng nề của chủ nghĩa thực dân đã khuyến khích tinh thần quốc gia dân tộc ở các nước vốn là thuộc địa cũ, đẩy chủ nghĩa quốc gia ở đây nhiều khi tới mức cực đoan Điều này gây rất nhiều trở ngại trong bang giao quốc tế, kể cả quan hệ song phương hoặc đa phương Vì thế, chủ nghĩa quốc gia luôn có quan hệ mật thiết với chủ nghĩa khu vực và chủ nghĩa toàn cầu
IV CHỦ NGHĨA TOÀN CẦØU (GLOBALISM)
1 Tăng Kim Đông, sđd, tr 49
2 V.I Lênin: Nhà nước và cách mạng Nxb Sự thật, H.1970, tr 11-54
Trang 21Trên bình diện lịch sử, những tiền đề của việc toàn cầu hóa chắc hẳn bắt đầu hình thành bởi những phát kiến địa lý, xảy ra ở cuối thế kỷ XV, đầu thế kỷ XVI Nhờ có phát kiến địa lý mà hệ thống thực dân địa của bọn quý tộc và lái buôn phương Tây dần dần được hình thành, góp phần thúc đẩy quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển Mác đã nhận xét rằng, hệ thống thực dân địa này đảm bảo cho những công trường thủ công mới mở có những nơi tiêu thụ và tích lũy được thuận tiện gấp bội Nhờ có độc quyền trên thị trường thuộc địa, những của cải trực tiếp cướp bóc được ở ngoài châu Âu chảy dồn về chính quốc để làm tư bản1 Chủ nghĩa tư bản phải trải qua hàng trăm năm vừa đấu tranh chống chế độ phong kiến, vừa tiến hành tích lũy tư bản nguyên thủy Sau cách mạng 1848-1849 ở châu Âu, cải cách nông nô ở Nga (1861) và sự thống nhất của hai quốc gia Ý (1870), Đức (1871), chủ nghĩa tư bản đã thực sự trở thành hệ thống thế giới Xu hướng toàn cầu hóa đã được khẳng định Xu hướng này được phản ánh trên nhiều phương diện
Thứ nhất, về chính trị: đến thời điểm này, chủ nghĩa tư bản đã phát triển đến giai đoạn chuyển sang chủ nghĩa tư bản
độc quyền (monopoly) còn gọi là giai đoạn đế quốc chủ nghĩa Trong tác phẩm nổi tiếng “chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản” V.I Lênin đã khái quát năm đặc điểm lớn của chủ nghĩa đế quốc1; trong đó ông nhấn mạnh đến tình trạng độc quyền trong đời sống kinh tế-xã hội, tình trạng xuất khẩu tư bản và việc hình thành các liên minh độc
1 Mác – Ănghen tuyển tập, tập 1, Nxb Sự thật, H 1980, tr 276
1 V.I Lênin: toàn tập, tập 27 Nxb Tiến bộ Mátxcơva 1981, tr 383-541
Trang 22quyền tư bản nhằm phân chia lại thị trường thế giới Từ nửa sau thế kỷ XIX các nước tư bản như Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Nhật, Hà Lan dần dần hoàn thành việc xâm chiếm và phân chia thuộc địa ở khắp nơi trên thế giới Ở châu Á, thực dân Anh chiếm Ấn Độ, Mã Lai, Miến Điện; thực dân Pháp độc chiếm Đông Dương Riêng Thái Lan trở thành vùng tranh chấp ảnh hưởng giữa Anh và Pháp Ở châu Phi, các vùng đất dọc bờ biển trở thành miếng mồi trước tiên cho thực dân phương Tây Đến cuối thế kỷ XIX thì hầu hết đất đai châu Phi
bị các đế quốc Anh, Pháp, Đức, Bỉ, Bồ Đào Nha xâu xé Riêng các nước Mỹ La tinh sau mấy trăm năm chịu ách thống trị của thực dân Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, đến đầu thế kỷ
XX bị lệ thuộc vào đế quốc Mỹ Nhưng do sự phát triển không đều của chủ nghĩa tư bản, cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ
XX xuất hiện sự thay đổi trong cán cân so sánh lực lượng giữa các đế quốc Một số đế quốc mới trở nên hùng mạnh như Mỹ, Đức, Nhật rất cần thuộc địa Họ đã tiến hành các cuộc chiến tranh riêng lẻ nhằm phân chia lại thế giới Cuộc chiến tranh giữa Mỹ và Tây Ban Nha năm 1898 đã dẫn đến việc Mỹ tước đoạt Cuba và Philippines từ tây Tây Ban Nha Sau đó là chiến tranh Anh - Bôer (1899 - 1902) ở Nam Phi; cuộc can thiệp vũ trang của tám nước đế quốc vào Trung Quốc (1900); Chiến tranh Nga - Nhật (1904 - 1905) …
Như vậy, bước sang thế kỷ XX, vấn đề thuộc địa đã trở thành một vấn đề toàn cầu của chủ nghĩa đế quốc Vấn đề này đã được quốc tế hóa Chủ nghĩa đế quốc đã xâu chuỗi hầu hết số phận các quốc gia, dân tộc trong một vòng tranh đấu quyền lực chính trị do các nước đế quốc thao túng Chiến tranh thế giới thứ nhất đã lôi kéo 38 quốc gia và rất nhiều
Trang 23thuộc địa chủ yếu nhằm giải quyết các vấn đề toàn cầu của chủ nghĩa đế quốc
Thứ hai, về kinh tế: hệ thống kinh tế thế giới tư bản chủ nghĩa đã hình thành, bao gồm toàn bôï nền kinh tế quốc dân của các nước tư bản chủ nghĩa và thuộc địa của chúng Do sự phát triển của lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa mà hình thành sự phân công quốc tế tư bản chủ nghĩa Các nước tư bản chủ nghĩa và thuộc địa của chúng vì thế biến thành các khâu của nền kinh tế thế giới thống nhất Nhưng sự thống nhất ấy mang tính đế quốc chủ nghĩa nên tạo ra sự phân công quốc tế phiến diện Những nước thuộc địa và phụ thuộc vốn là các nước nông nghiệp, phụ thuộc chặt chẽ vào nền kinh tế của các nước công nghiệp phát triển Mặt khác, sự phân công quôc tế tư bản chủ nghĩa lại diễn ra trong tình trạng cạnh tranh gay gắt giữa các xí nghiệp tư bản chủ nghĩa ở chính quốc cũng như ở thuộc địa Vì thế kinh tế thế giới tư bản chủ nghĩa thường trải qua các chu kỳ khủng hoảng mang tính toàn cầu
Thứ ba, về xã hội: khi chủ nghĩa đế quốc tiến hành chiến tranh xâm lược thôn tính thuộc địa, biến thuộc địa thành nơi tiêu thụ hàng hóa, nơi cung cấp nguyên liệu cho sản xuất
ở chính quốc, thì nó cũng phá vỡ luôn các xã hội truyền thống của dân bản xứ Các nước đế quốc thi hành chính sách thực dân trong tất cả các lãnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa tư
tưởng, hòng xiết chặt sự cai trị của chúng Vì thế, trong Tuyên ngôn Đảng cộng sản , Mác và Ăngghen đã viết: “Vì luôn luôn
bị thúc đẩy bởi nhu cầu về những nơi tiêu thụ mới, giai cấp tư sản xâm lấn khắp hoàn cầu; nó phải xâm nhập vào khắp nơi, khai thác khắp nơi và thiết lập các mối liên hệ ở khắp nơi”
Trang 24Kết quả là nền công nghiệp truyền thống ở các thuộc địa bị mất cơ sở dân tộc, không còn khả năng tồn tại Giai cấp tư sản đã làm cho sản xuất và tiêu dùng của các nước mang tính chất toàn thế giới1 Các dân tộc thuộc địa ngày càng trở nên nghèo đói, bị bóc lột thậm tệ cũng trở thành hiện tượng toàn thế giới Nền văn hóa của họ bị tổn thất và lai căng văn hóa phương Tây (tất nhiên ở đây không loại trừ việc hấp thụ những tinh hoa giữa các nền văn hóa) Những biến động xã hội có tính lịch sử đó đã tạo nên một tâm thức bài thực dân trong tất cả các dân tộc thuộc địa Đây cũng là vấn đề có tính chất toàn cầu, gắn bó số phận của các dân tộc nhược tiểu cùng đứng chung một chiến hào chống chủ nghĩa đế quốc Như vậy, theo những phân tích trên, khuynh hướng toàn cầu hóa trong tất cả các phương diện kinh tế, chính trị, xã hội đã đặt ra các vấn đề cần giải quyết ở cấp độ quốc tế rộng lớn Điều này, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của duy nhất cường quốc nào Chủ nghĩa toàn cầu đã trở thành một khuynh hướng nhận thức, một hệ nguyên tắc nhằm giải quyết các vấn đề nhân loại trong thế kỷ XX Nó được biểu hiẹân qua một tổ chức toàn cầu tiêu biểu đầu tiên là “Hội Quốc liên”, thành lập vào năm 1919 Ban đầu, Hội Quốc liên thu nhận khoảng
20 quốc gia, nhưng đến năm 1932 số hội viên đạt tới con số
60 Hội Quốc liên là một tổ chức chính trị quốc tế, xuất hiện sau chiến tranh thế giới thứ nhất Hiến ước Hội Quốc liên gồm 26 điều khoản, khởi sự bằng một lời nói đầu rất quan trọng, tuyên bố những nguyên tắc hoạt động căn bản của nó Đó là những cam kết khuyến khích sự hợp tác quốc tế nhằm
1 Mác – Ănghen tuyển tập, tập 1, sđd, tr.545
Trang 25kiến tạo nền hòa bình và an ninh quốc tế; chấp nhận những nghĩa vụ không gây chiến tranh; quy tắc bang giao cởi mở, công bằng; duy trì và triệt để tôn trọng các nghĩa vụ được quy định trong các hiệp ước bang giao giữa các dân tộc Đặc biệt, Hiến ước Hội quốc liên đã yêu cầu các quốc gia thành viên
“củng cố sự công nhạân quốc tế công pháp như một nguyên tắc thực sự trong việc cư xử giữa các chính phủ”
Để thực hiện mục đích, tôn chỉ và cam kết của mình, Hội Quốc liên đã thành lập ra các cơ quan căn bản thường trực và các cơ quan chuyên môn Cơ quan căn bản thường trực
gồm có Đại hội đồng (Assemble), Hội đồng (Conseil), Văn phòng Tổng thư ký (Secretariat General) Các cơ quan chuyên
môn gồm nhiều bộ phận như: Pháp viện thường trực quốc tế, Tổ chức lao động quốc tế 1 Hoạt động của Hội Quốc liên xoay quanh mục tiêu hạn chế quyền khai chiến và tôn trọng các quy luật quốc tế, ngõ hầu bảo đảm nền hòa bình thế giới và sự an ninh của các quốc gia Vì thế, những biện pháp như tài giảm binh bị (điều 8), chấp nhận sự can thiệp của Đại hội đồng, Hội đồng, trong trường hợp có chiến tranh hoặc có đe dọa chiến tranh (điều 11) đã được ghi nhận trong Hiến ước Sự ra đời và tồn tại của Hội Quốc liên (1919-1946) đánh dấu một bước quan trọng trong việc nhận thức về chủ nghĩa toàn cầu Đường lối hòa bình và an ninh thế giới cùng với những hoạt động thực tiễn của Hội Quốc liên đã đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành tổ chức Liên hiệp quốc sau này
Những nguyên nhân thất bại của Hội Quốc liên đều
1 Tăng Kim Đông, sđd, tr 355
Trang 26xuất phát từ chỗ các đường lối, nguyên tắc quốc tế mà tổ chức quốc tế này đề ra bị phá hoại Sự xuất hiện chủ nghĩa phát xít cùng với việc phát động chiến tranh phát xít thôn tính các dân tộc đã phá vỡ những điều khoản căn bản nhất của Hiến ước Bên cạnh đó, số lượng thành viên của Hội Quốc liên còn ít vì nhiều quốc gia không muốn gia nhập Đặc biệt tổ chức này chưa quy tụ được tất cả các cường quốc Mỹ không gia nhập
vì thượng viện Mỹ từ chối việc phê chuẩn Hiến ước Còn Liên Xô được thâu nhận vào năm 1934 nhưng bị khai trừ năm 1939
do xảy ra xung đột với Phần Lan Tuy nhiên, trên tinh thần công bằng, dân chủ, Hiến ước Hội Quốc liên đã thực sự lấy nguyên tắc bình đẳng giữa các quốc gia làm nền tảng Các cường quốc bị mất uy quyền lãnh đạo Điều này giải thích việc sắp đặt vị trí nước lớn của Liên Xô (cũ), Mỹ, Anh, Pháp, Trung Quốc trong tổ chức Liên hiệp quốc sau này
Khi chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, Hội Quốc liên không còn mang ý nghĩa là một công cụ thực hiện đường lối hòa bình và an ninh quốc tế nữa Tuy vậy, nhiều cá nhân, đoàn thể quần chúng ở châu Âu, châu Mỹ và các nước đồng minh vẫn thấy cần thiết có một tổ chức chính trị quốc tế đồng tôn chỉ, mục đích với Hội Quốc liên; nhưng có quy mô to lớn hơn, tầm cỡ hoạt động rộng lớn hơn, hữu hiệu hơn Vì thế,
trong “Hiến chương Đại Tây Dương” (Charte de l’Atlantique)
ngày 14/8/1941, Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt và Thủ tướng Anh Winston Churchill đã nói đến việc thành lập một hệ thống an ninh toàn thể rộng lớn và có tính cách thường xuyên Lời tuyên bố này sau đó được đại diện của 26 quốc gia xác nhận trong “Tuyên ngôn Liên hiệp quốc” ngày 01/01/1942 Kế đến là “Tuyên ngôn Mátxcơva” của tứ cường
Trang 27Anh, Mỹ, Liên Xô (cũ), Trung Hoa Dân quốc vào tháng 10/1943 về tương lai của Liên hiệp quốc
Tại hội nghị San Francisco, họp từ 25/4 đến 26/6/1945, đại diện của 50 quốc gia phe đồng minh chống phát xít đã thông qua bản Hiến chương Liên hiệp quốc Đây là một hiệp ước đa phương quan trọng nhằm duy trì nền hòa bình và an ninh thế giới; khuếch trương bang giao giữa các quốc gia trên tinh thần dân tộc bình quyền và dân tộc tự quyết; thực hiện sự hợp tác quốc tế về kinh tế, xã hội, văn hóa hoặc nhân sinh bằng cách khuyến khích sự tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do căn bản của con người Như vậy Liên hiệp quốc trở thành trung tâm điểm điều hòa hành động của các quốc gia, theo những nguyên tắc căn bản như:
1 Liên hiệp quốc được xây dựng trên nguyên tắc bình đẳng, chủ quyền của tất cả các nước thành viên
2 Tất cả các nước thành viên của Liên hiệp quốc phải làm tròn những nghĩa vụ mà họ đảm nhận, chiếu theo Hiến chương để được bảo đảm hưởng toàn bộ các quyền ưu đãi do
tư cách thành viên mà có
3 Tất cả các thành viên Liên hiệp quốc giải quyết các tranh chấp quốc tế của họ bằng biện pháp hòa bình, sao cho không tổn hại đến hòa bình, an ninh quốc tế và công lý
4 Tất cả các thành viên Liên hiệp quốc từ bỏ sự đe dọa bằng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế nhằm chống lại sự bất khả xâm phạm về lãnh thổ hay nền độc lập chính trị của bất cứ quốc gia nào, cũng như bằng cách khác trái với những mục đích của Liên hiệp quốc
Trang 285 Tất cả các thành viên của Liên hiệp quốc giúp đỡ đầy đủ cho Liên hiệp quốc trong mọi hành động mà nó áp dụng theo đúng Hiến chương và tránh giúp đỡ bất cứ quốc gia nào bị Liên hiệp quốc áp dụng các hành động phòng ngừa hoặc cưỡng chế
6 Liên hiệp quốc làm thế nào để các quốc gia không phải là thành viên Liên hiệp quốc cũng hành động theo những nguyên tắc này, nếu như điều đó cần thiết đểø duy trì hòa bình và an ninh quốc tế
7 Hiến chương này hoàn toàn không cho phép Liên hiệp quốc được can thiệp vào những công việc thực chất thuộc thẩm quyền nội bộ của bất cứ quốc gia nào và không đòi hỏi các thành viên đưa những công việc loại này ra giải quyết theo quy định của Hiến chương1
Đối chiếu những nguyên tắc trên với tình trạng thôn tính thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc ở cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX mới thấy rõ tầm vóc của những biến đổi lớn lao trong đời sống chính trị quốc tế Bản Hiến chương Liên hiệp quốc trở thành một trong những cơ sở pháp lý quan trọng để điều chỉnh các mối quan hệ trong cộng đồng thế giới Theo tinh thần và nội dung bản Hiến chương này, một loạt các biện pháp nhằm tài giảm binh bị, ngăn ngừa chiến tranh, phát triển các quan hệ hợp tác về kinh tế, xã hội giữa các dân tộc đã được ghi nhân đầy đủ hơn rất nhiều so với Hiến ước Hội Quốc liên Có thể nói, tổ chức Liên hiệp quốc là biểu hiện sinh động của chủ nghĩa toàn cầu, đã được các dân tộc nhận thức
1 Nguyễn Xuân Linh: Một số vấn đề cơ bản về luật quốc tế Nxb TP Hồ
Chí Minh, 1995, tr 169-170
Trang 29sau khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai Tuy nhiên, tình hình phức tạp trong quan hệ quốc tế sau năm 1945 đã không cho phép Liên hiệp quốc có thể kiến tạo một nền hòa bình và
an ninh cho các dân tộc như tôn chỉ, mục đích và các nguyên tắc ghi trong bản Hiến chương của mình Trái lại, thế giới chuyển sang một tình thế mới do sự hình thành trật tự thế giới hai cực Sau này, sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cũ vào thập niên 90 đồng thời cũng là sự tan rã của “hệ thống lưỡng cực Yalta” vốn tồn tại gần nửa thế kỷ Nhưng dù mọi biến động chính trị quốc tế có to lớn đến chừng nào cũng không ngăn nổi xu hướng toàn cầu hóa trên hầu khắp các lãnh vực của đời sống xã hội quốc tế Đặc biệt sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học - công nghệ đang làm thay đổi dần các khái niệm về độc lập, chủ quyền,
an ninh; đặt ra các vấn đề về môi sinh, môi trường, ý nghĩa của sự phát triển, tiến bộ xã hội đối với toàn nhân loại
Như vậy, chủ nghĩa toàn cầu hình thành cùng với quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản trên phạm vi toàn thế giới Chính quá trình này đã làm nảy sinh những vấn đề toàn cầu cần phải giải quyết ở khắp các bình diện an ninh - chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội Việc giải quyết các vấn đề trên đòi hỏi cộng đồng quốc tế phải có những công cụ điều phối và các nguyên tắc hoạt động (Hội Quốc liên, Liên hiệp quốc, Hiến ước, Hiến chương của các tổ chức này) Chủ nghĩa toàn cầu là một khuynh hướng phát triển, thể hiện ý chí, nguyện vọng hợp tác, nguyên tắc hợp tác của toàn thể các dân tộc trên thế giới, vì nền hòa bình và an ninh quốc tế, vì sự công bằng và tiến bộ xã hội, vì trách nhiệm chia sẻ những vấn đề nảy sinh trong quá trình phát triển của xã hội loài người
Trang 30V CHỦ NGHĨA KHU VỰC (REGIONALISM)
Trên đây, chúng ta đã đề cập đến chủ nghĩa quốc gia và chủ nghĩa toàn cầu trên phương diẹân lịch sử Vẫn trên phương diẹân này, chúng ta sẽ thấy chủ nghĩa khu vực cũng là một hiẹân tượng tất yếu của quá trình phát triển lịch sử nhân loại Khi chủ nghĩa tư bản đã nối kết hầu toàn bộ thế giới vào một thị trường thống nhất thì nó đồng thời xóa bỏ dần các ngăn cách về chính trị, kinh tế, văn hóa giữa các quốc gia dân tộc Từ đây xuất hiện các vấn đề “siêu quốc gia”, trong phạm vi khu vực và thế giới Đối với các khu vực khác nhau trên thế giới thì quá trình hình thành chủ nghĩa khu vực, nội dung chủ nghĩa khu vực cũng khác nhau; mặc dù chủ nghĩa khu vực là một khái niệm chung Muốn làm sáng tỏ vấn đề này, cần xuất phát từ chính chủ nghĩa quốc gia và chủ nghĩa toàn cầu vừa được xem xét
Như đã biết, tổ chức Liên hiệp quốc là một biểu hiện sinh động, điển hình của chủ nghĩa toàn cầu Từ khi ra đời, tổ chức này đã phải đối chọi với những vấn đề lớn của toàn nhân loại như các cuộc xung đột xảy ra ở hầu khắp các châu lục1 Xung đột lớn đầu tiên là cuộc phong tỏa Berlin từ tháng 6/1948 đến tháng 5/1949 giữa Liên Xô (cũ) với liên quân Anh, Pháp, Mỹ, được Liên hiệp quốc giải quyết rốt ráo bằng hình thức hiệp thương giữa các bên liên quan Tháng 6 /1950, chiến tranh Triều Tiên bùng nổ Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc đã thành lập một lực lượng quân sự quốc tế gồm 16 quốc gia tham dự, phối hợp tác chiến với lực lượng quân sự Nam
1 1945-1995: Liên hiệp quốc để làm gì? Người đưa tin UNESCO, số 10/1995, tr.12
Trang 31Trieău Tieđn Ngaøy 27/7/1953, caùc beđn kyù hieôp ñònh ñình chieân, chaâm döùt chieân tranh Sau nhöõng bieân coâ tređn, ñeân löôït caùc cuođïc “khụng hoạng Cođng - gođ (1960-1961)”, “khụng hoạng teđn löûa ôû Cuba (1962)” ñeău ñöôïc Lieđn hieôp quoâc giại quyeât thaønh cođng toât ñép Nhöõng thaønh töïu tređn cụa Lieđn hieôp quoâc, maịc duø ñöôïc coông ñoăng theâ giôùi ghi nhaôn, vaên khođng khoûa laâp ñöôïc moôt söï thaôt hieơn hieôn laø: nhöõng nguyeđn taĩc toât ñép cụa Hieân chöông Lieđn hieôp quoâc veă quyeăn bình ñaúng, söï cođng baỉng, cođng lyù giöõa caùc dađn toôc nhieău khi chư laø nhöõng töø ngöõ hoa myõ Toơ chöùc Lieđn hieôp quoâc ra ñôøi, tređn thöïc teâ ñaõ ñaùnh daâu cạ söï taùi laôp quan heô laên chia reõ cụa caùc nöôùc lôùn Tráng thaùi lieđn keât vaø chia reõ naøy haøm chöùa nhöõng nguy hieơm cho heô thoâng theâ giôùi Ngoaøi thụ ñoán gađy söùc eùp chính trò vaø vieôn trôï coù ñieău kieôn, caùc cöôøng quoâc ñaõ söû dúng dieên ñaøn Lieđn hieôp quoâc nhö moôt cođng cú thao tuùng neăn chính trò theâ giôùi, buoôc caùc nöôùc nhoû phại khuaât phúc Chính saùch nöôùc lôùn cụa caùc cöôøng quoâc ñaõ daên ñeân tình tráng moôt loát caùc quoâc gia khaùc phại phú thuoôc vaøo ñöôøng loâi cụa hó Nhieău khu vöïc tređn theâ giôùi trôû thaønh nôi tranh chaâp, ạnh höôûng giöõa caùc cöôøng quoâc Khi caùn cađn löïc löôïng tređn theâ giôùi thay ñoơi, hó lieăn ñieău chưnh ñöôøng loâi chính saùch cụa mình, boû qua quyeăn lôïi cụa caùc nöôùc nhoû Tröôùc tình theâ aây, caùc quoâc gia, dađn toôc nhoû beù coù xu höôùng chúm vaøo nhau, ñoaøn keẫt, tranh ñaâu vì lôïi ích chung cụa mình Nhö vaôy veă phöông diéđn chính trò, söï toaøn caău hoùa laøm nạy sinh tình tráng khu vöïc hoùa, toơ chöùc quoâc teâ kích thích söï nạy sinh toơ chöùc khu vöïc
Maịt khaùc, lòch söû caôn hieôn ñái theâ giôùi ñaõ chöùng kieân söï vöôn leđn mánh meõ cụa chụ nghóa quoâc gia tređn khaĩp caùc chađu lúc Ñoâi vôùi caùc quoâc gia voân laø thuoôc ñòa cuõ cụa chụ nghóa ñeâ
Trang 32quốc, di sản thực dân để lại rất nặng nề, biểu hiện qua nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, đời sống nhân dân lao động khó khăn, tăm tối, tình trạng thất học phổ biến Hơn nữa, trong quá trình thôn tính thuộc địa, chủ nghĩa thực dân thường phân chia đường biên giới không dựa trên cơ sở của đường biên giới cũ hoặc ranh giới giữa các sắc tộc Vì thế, các thuộc địa sau khi giành được độc lập đã vừa phải đương đầu với một tình trạng kinh tế - xã hội đen tối ảm đạm; vừa phải vướng vào các cuộc tranh chấp lãnh thổ hoăïc mắc kẹt trong các cuộc xung đột sắc tộc triền miên Việc đẩy mạnh phát triển sự nghiệp kinh tế, văn hóa, giáo dục, dàn xếp các vụ tranh chấp lãnh thổ, xung đột sắc tộc trở thành những vấn đề chung của toàn khu vực chứ không của riêng bất kỳ môït quốc gia nào Các dân tộc nhỏ bé giờ đây không thể khư khư nắm lấy chủ quyền quốc gia cực đoan để gây những bất ổn về chính trị và
an ninh khu vực, dọn đường cho chủ nghĩa đế quốc lợi dụng Như vậy, bước quá độ từ chủ nghĩa quốc gia đến chủ nghĩa khu vực là một quá trình nhận thức về tính thống nhất của khu vực, về nhu cầu ổn định và phát triển của khu vực, trong đó có sự ổn định và phát triển của mỗi quốc gia thành viên Sau đó là sự nhận thức về mối hiểm nguy ngoài khu vực Trên trường quốc tế, nhất là trong quan hệ với các nước lớn, phát biểu với tư cách một tổ chức khu vực có lợi thế hơn là phát biểu với tư cách một quốc gia đơn độc ở khu vực đó Trường hợp quan hệ giữa thị trường chung châu Âu (EEC) với Mỹ, minh chứng rất rõ nhận xét này
Đến đây, về mặt lý luận, hoàn toàn có thể cho rằng, chủ nghĩa khu vực là “vùng giao thoa” và sự dung hòa giữa chủ nghĩa quốc gia với chủ nghĩa toàn cầu Ở góc độ toàn cầu,
Trang 33chủ nghĩa khu vực là một cấp độ của “Globalism” nhưng không hẳn là “Globalism”, vì trung tâm của nó là các vấn đề
khu vực Còn ở góc độ quốc gia thì chủ nghĩa khu vực thực hiện một bước đi thích hợp từ chủ quyền quốc gia đến thứ quyền lực siêu quốc gia trong khoảng thời gian nửa thế kỷ gần đây Bởi chúng ta chỉ có thể nói đến chủ nghĩa khu vực trong nhóm quốc gia có độc lập, chủ quyền Mà tình trạng nhiều quốc gia, nhiều dân tộc có độc lập, chủ quyền mới xảy
ra phổ biến từ sau 1945 mà thôi
Tất cả những gì được trình bày ở trên chỉ là cơ sở thực tiễn của việc hình thành chủ nghĩa khu vực Còn cơ sở lý luận của sự hình thành chủ nghĩa khu vực như thế nào? Để trả lời câu hỏi này, cần phải truy tìm trong lịch sử các tư tưởng về chủ nghĩa khu vực đã được phát biểu, thông qua các trường hợp ở châu Âu, châu Mỹ, châu Phi; sau đó là căn cứ vào tinh thần và các điều khoản cụ thể của Hiến ước Hội Quốc Liên và Hiến Chương Liên hiệp quốc
Có lẽ, những người đầu tiên nhạy cảm với những vấn đề khu vực là một số nhà chính trị, quân sự có tham vọng Napoleon Bonapart (1769-1821), trong quá trình chinh phục châu Âu vào đầu thế kỷ XIX đã từng nói: “Chức phận của tôi vẫn chưa hoàn thành, tôi muốn hoàn thành cái điều mới chỉ được phác họa, tôi phải làm một bộ luật châu Âu ( ), một đồng tiền cũng châu Âu, các đơn vị đo lường, các quy tắc châu Âu Tôi phải biến tất cả các dân tộc ở châu Âu thành một dân tộc và Paris thành thủ đô của thế giới”1 Không chỉ
1 Siegel.F: L’Europe de Maastrict Jelates (trích theo “Liên minh châu Âu”,
Đào Huy Ngọc (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, H 1995, tr 99)
Trang 34Napoleon mà Hitler cũng đã từng mơ tưởng chinh phục và thống nhất châu Âu Tư tưởng về sự thống nhất châu Âu còn làm say mê cả những trí thức lớn Tại hội nghị hòa bình tháng
8 năm 1849, Victor Hugo đã phát biểu: “Sẽ đến một ngày, chiến tranh giữa Paris và London, Peterburge và Berlin, Viene và Turin trở nên phi lý và không thể chấp nhận được như là một cuộc chiến giữa người Ruang và người Amian ngày hôm nay Sẽ đến một ngày mà các bạn nước Pháp, nước Nga, nước
Ý, nước Anh, nước Đức, các bạn ở tất cả các quốc gia của lục địa trong khi vẫn không đánh mất những phẩm chất riêng biệt của mình sẽ hòa quyện trong một thể thống nhất châu Âu và xây dựng tình anh em châu Âu Ngày ấy sẽ đến khi chỉ còn có một chiến trường khác là các thị trường mở cửa cho thương mại và những cái đầu cởi mở đối với các ý tưởng Ngày ấy sẽ đến khi các cuộc bỏ phiếu thay thế cho bom đạn”1
Những tư tưởng vừa được trình bày ở trên không đơn thuần là ý chí của một vài cá nhân mà có căn nguyên từ lịch sử Bởi văn minh châu Âu được bắt nguồn từ văn minh Hy -
La cổ đại Sau khi đế quốc Tây La Mã sụp đổ (năm 476) bởi
các cuộc xâm chiếm của các “man tộc” (Barbars’), vương
quốc Frank ra đời và tồn tại suốt ba thế kỷ rưỡi (481-843) Tại đây, văn minh châu Âu đã thành hình và khuếch tán Trung tâm văn minh châu Âu chuyển dịch từ Địa Trung Hải lên phía sông Ranh, sông Sen và vùng biển Bắc Mặc dù hội nghị Vecdoong năm 843 đặt dấu chấm hết cho sự tồn tại của vương quốc Frank nhưng đó lại là sự khởi đầu của Tây Âu trong khuôn khổ một cộng đồng thống nhất về văn hóa, chia rẽ về
1 Đào Huy Ngọc (chủ biên): Liên minh châu Âu, Nxb Chính trị quốc gia
H.1995, tr.8
Trang 35chính trị
Tình trạng chia rẽ về chính trị đã dẫn đến các của chiến tranh hoặc xung đột triền miên ở châu Âu Nếu tính từ cuộc chiến tranh chinh phục xứ Gaule của người La Mã (61-50 trước công nguyên) cho đến hết chiến tranh thế giới thứ hai (năm 1945), châu Âu đã mất ít nhất 60 triệu người vì chiến tranh2 Đặc biệt, qua hai cuộc chiến tranh thế giới 1914-1918, 1939-1945, toàn châu Âu đã phải gánh chịu những thiệt hại to lớn về vật chất và tinh thần Sau năm 1945, hệ thống xã hội chủ nghĩa ra đời, dẫn đến việc hình thành một thế giới lưỡng cực Nền địa - chính trị toàn cầu bị đảo lộn Những quốc gia vốn là đồøng minh trong chiến tranh chống phát xít trước đây như Liên Xô (cũ), Mỹ đã trở thành kẻ thù của nhau Còn những quốc gia vốn là kẻ thù của nhau như Mỹ, Nhật giờ đây lại liên kết trong khuôn khổ đồng minh chiến lược Châu Âu
bị chia ra làm hai khối Đông và Tây Từ một trung tâm lớn nhất của thế giới tư bản chủ nghĩa, Tây Âu bị suy yếu toàn diện, đành phải dựa vào Mỹ và chấp nhận sự lãnh đạo của Mỹ trong hầu hết các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, thông qua các tổ chức GATT, UECD, NATO Công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế của Tây Âu từ đầu thập niên 50 đã làm thay đổi căn bản quan hệ kinh tế Tây Âu - Mỹ Trong những điều kiện ấy, toàn châu Âu, đăc biệt là Tây Âu có sự nhận thức lại về một cộng đồng thống nhất Một Tây Âu chia rẽ về chính trị sẽ không mang lại hòa bình và phát triển cho các quốc gia trong khu vực Một Tây Âu chia rẽ về kinh tế thì không cạnh tranh nổi với Mỹ Hơn nữa, nhu cầu mở rộng thị
2 Đào Huy Ngọc (chủ biên), sđd, tr.10
Trang 36trường của Tây Âu lúc này rất lớn Trong khi đó, Tây Âu lại đang mất dần thuộc địa Điều kiện lịch sử lúc đó đã đặt trước Tây Âu một tình thế, làm ý thức về một cộng đồng văn minh chung được đề cao1 Bên cạnh đó, trong quan hệ quốc tế từ cuối thập niên 40, ở Tây Âu (trừ Anh quốc) đã từng lưu truyền
tư tưởng coi Tây Âu như một lực lượng thứ ba, độc lập với Liên Xô (cũ) và Mỹ1 Tháng 5/1950, ngoại trưởng Pháp, Robert Shuman đã đưa ra đề nghị đặt toàn bộ việc sản xuất than, thép của Đức và Pháp dưới một cơ quan quyền lực tối cao, trong một tổ chức mở cho các nước châu Âu tham gia Đề nghị này đã được các quốc gia Đức, Ý, Bỉ, Hà Lan, Luxemburg hưởng ứng Ngày 18/4 /1951, “Cộng đồng than, thép châu Âu” (ECSC) ra đời, đánh dấu giai đoạn đầu của tiến trình liên kết châu Âu Các giai đoạn tiếp theo của quá trình liên kết, thống nhất đó là: “Cộng đồng năng lượng nguyên tử châu Âu” (năm 1955) “Cộng đồng kinh tế châu Âu” (năm 1957), “Cộng đồng châu Âu” (năm 1967), cuối cùng là “Liên minh châu Âu” (năm 1993)2
Tất cả những điều trên đây chứng tỏ từ nhận thức lịch sử, việc đưa ra các tư tưởng thống nhất hoặc liên kết khu vực không phải là sự tưởng tượng (sản phẩm chủ quan của bộ óc con người) mà là sự phản ánh một nhu cầu khách quan Bởi
1 Nguyễn Ngọc Dung: Quá trình hình thành EU và ASEAN qua cách tiếp
cận đối chiếu khu vực, Tập san Khoa học xã hội và nhân văn Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, số 4/1997
1 Regionalism in Southeast Asia Center for strategic and International Studies, Jakarta 1974, p.57
2 Nguyễn Ngọc Dung, sđd, số 4/1997
Trang 37bản thân châu Âu đã mang sẵn trong mình các yếu tố thống nhất Trong trường hợp châu Âu, các đại biểu của chủ nghĩa khu vực đã đưa ra những nhận thức chung về vị trí, vai trò, tính thống nhất của khu vực, triển vọng hợp tác song phương và đa phương giữa các quốc gia trong khu vực và cuối cùng là những mối nguy hiểm không chỉ bên trong mà cả bên ngoài khu vực phương hại đến tình hình an ninh của mỗi quốc gia Từ những cơ sở đó, chủ nghĩa khu vực hiện ra với một vẻ đẹp và sự hợp lý hoàn toàn cảm nhận được
Đối với châu Mỹ, cuộc chiến tranh giành độc lập của 13 xứ thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ (1755-1783) và sự thành lập nước Mỹ (The United States of American) ngày 4/7/1776 đã giải phóng Bắc Mỹ khỏi chủ nghĩa thực dân Anh, gây nên những ảnh hưởng ghê gớm đối với các thuộc địa của Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha ở Mỹ La tinh Mỹ trở thành quốc gia đầu tiên giành được độc lập ở châu Mỹ kể từ khi chủ nghĩa tư bản bén rễ trên đại lục này Vào đầu những năm 20 thế kỷ XIX, các cuộc cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân châu Mỹ
La tinh đã lật nhào chế độ thuộc địa của thực dân Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha Trước nguy cơ xâm lược can thiệp của khối “Liên minh thần thánh” (gồm Anh, Nga, Áo, Phổ) nhằm khôi phục lại hệ thống thuộc địa của Tây Ban Nha ở châu Mỹ
La tinh, tổng thống Mỹ lúc đó, James Monroe (1758-1831) đã tuyên bố công nhận nền độc lập của các nước châu Mỹ La tinh Bức thông điệp của Monroe gửi tới quốc hội Mỹ ngày 2/12/1823 đã đi vào lịch sử dưới tên gọi “Học thuyết Monroe” Ông khẳng định rằng, Tân thế giới (nghĩa là cả Bắc Mỹ và Nam Mỹ) không thể một lần nữa được coi là đối tượng của sự bành trướng thuộc địa; Mỹ không đụng chạm đến các
Trang 38thuộc địa hiện tồn của các cường quốc Âu châu nhưng cũng không cho phép thành lập các thuộc địa mới ở châu Mỹ1 Monroe đưa ra khẩu hiệu “châu Mỹ của người châu Mỹ” Học thuyết Monroe đã đặt Mỹ vào địa vị của kẻ bảo hộ khu vực, thực chất là muốn nắm chặt các nước châu Mỹ La tinh để phục vụ cho lợi ích của tư bản Mỹ
Tuy nhiên trên bình diện khu vực, học thuyết Monroe có ảnh hưởng nhất định đến ý thức khu vực, ý thức quốc gia của các nước châu Mỹ La tinh Những người Creole (người Âu sinh ra trên đất châu Mỹ) thuộc vềø tầng lớp nắm giữ quyền lực chính trị mạnh nhất nên rất có tinh thần quốc gia Họ đẩy mạnh việc phát triển chế độ đại điền trang Do trình độ sản xuất còn lạc hậu, chế độ nô lệ vẫn được duy trì, chủ nghĩa Caudillo trở thành đặc trưng của chế độ chính trị ở Nam Mỹ lúc bấy giờ Đây là một dạng độc tài quân sự mang nặng tính phong kiến Vì thế, các quốc gia độc lập châu Mỹ chưa thực sự thiết lập được nền dân chủ tư sản Trong khi đó, các đế quốc tư bản châu Âu vẫn thi hành chính sách can thiệp vào công việc nội bộ của các nước châu Mỹ, đẩy nhiều nước vào tình trạng nửa thuộc địa Năm 1833, đế quốc Anh chiếm quần đảo Manvinat của Agentina Năm 1845, Anh cùng Pháp can thiệp vào chiến tranh Agentina - Uruguay Năm 1861, 1862 các nước Anh, Pháp, Tây Ban Nha đổ quân lên Mexico hòng can thiệp vào cuộc cách mạng tư sản đang nổ ra ở đây Cũng năm 1862 liên quân Anh - Pháp lăm le can thiệp vào cuộc nội chiến ở Mỹ Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khi chủ
1 A.V Ado (chủ biên): Lịch sử cận đại các nước châu Âu và châu Mỹ, Nxb
Đại học Mátxcơva, 1986, tr 578 (tiếng Nga)
Trang 39nghĩa tư bản ở đây đang trên đà phát triển ồ ạt, các đế quốc tư bản châu Âu đã ráo riết xâm nhập vào Mỹ La tinh trong các lãnh vực cốt yếu nhất của nền kinh tế (tài chính, đầu tư, khai mỏ, làm đường sắt ) Như vậy, không thể phủ nhận được những nguy cơ, thách thức ở bên ngoài khu vực có ảnh hưởng trực tiếp đến nền độc lập, sự phát triển của các nước châu Mỹ Giữa hai con đường: 1/ chịu sự bảo hộ của Hoa Kỳ; 2/ chịu sự can thiệp của các cường quốc châu Âu - các nước châu Mỹ đã chọn con đường thứ nhất Điều này khẳng định trong chừng mực nào đó - tính hiện thực của học thuyết Monroe Liên kết khu vực không đơn thuần là ý chí của các quốc gia mà còn là nhu cầu tất yếu của lịch sử Đến năm
1948 thì “Tổ chức các nước châu Mỹ” (OAS) ra đời - một bước hiện thực hóa những tư tưởng của Monroe OAS là tổ chức khu vực gồm 27 thành viên, đứng đầu là Mỹ Mục tiêu chính của tổ chức này là: “Củng cố hòa bình và an ninh trong lục địa, ngăn ngừa những bất đồng và giải quyết tranh chấp bằng đường lối hòa bình, hành động chung trong trường hợp bị xâm lược, thúc đẩy việc giải quyết các vấn đề kinh tế, chính trị và pháp lý của các nước châu Mỹ; thống nhất những cố gắng vì mục đích tiến bộ về kinh tế, xã hội, khoa học - kỹ thuật và văn hóa”1 Sau “Tổ chức các nước châu Mỹ” thì các tổ chức khu vực khác cũng ra đời như “Hiệp hội Liên kết Mỹ
La tinh” (năm 1960); “Hệ thống kinh tế Mỹ La tinh” (SELA) năm 1975 Đây là các tổ chức kinh tế khu vực, được lập ra nhằm phát triển kinh tế các nước thành viên
Xét sang trường hợp châu Phi, vào nửa đầu thế kỷ XIX,
1 Các tổ chức quốc tế, Nxb Pháp lý, 1983, tr.157-158
Trang 40“lục địa đen” này còn là một điều bí hiểm đối với các nước tư bản phương Tây Người ta không thể nói đến khái niệm chủ nghĩa quốc gia Càng không thể nói đến khái niệm chủ nghĩa khu vực, vì đến thời điểm này phần lớn các bộ tộc châu Phi còn ở trong tình trạng xã hội tiền giai cấp Cư dân châu Phi rất khác nhau về sắc tộc, tôn giáo tín ngưỡng, nhất là ở các vùng bắc và nam sa mạc Sahara Nhưng khi thực dân phương Tây du nhập chủ nghĩa tư bản vào đây, làm nảy sinh các quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa thì mọi sắc tộc, tôn giáo châu Phi đều chịu chung một số phận lịch sử Vào đầu thế kỷ XX ở một số các quốc gia Bắc Phi, giai cấp tư sản dân tộc đã ra đời Đây là điều kiện cốt yếu để xuất hiẹân ý thức quốc gia - dân tộc và sau đó là ý thức khu vực Chính sách khai thác, bóc lột thuộc địa của chủ nghĩa thực dân đã làm châu Phi bị kiệt quệ Lòng căm thù chủ nghĩa thực dân trở thành ngọn cờ thống nhất châu Phi trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc
Vì thế, chủ nghĩa khu vực ở đây trước hết mang tính chất bài thực dân1 Trong quá trình xâu xé châu Phi, thực dân phương Tây đã bất chấp các đường biên giới lịch sử, tùy tiẹân vạch ranh giới chia cắt các bộ tộc Đây là nguồn gốc của những xung đột sắc tộc và tranh chấp lãnh thổ giữa các quốc gia châu Phi sau này Trường hợp tranh chấp lãnh thổ giữa Ethiopia và Somalia là bài học điển hình về sự chia rẽ của châu Phi2
Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc ở châu Phi có những bước phát triển mạnh mẽ Bắc Phi là nơi diễn ra phong trào đấu tranh chống
1.2 Regionalism in Southeast Asia, sđd, tr.58, 61