Tóm tắt: Các số liệu trích dẫn của tài liệu khoa học là cơ sở để xây dựng nên các chỉ số khoa học đặc trưng (Chỉ số tác động - Impact Factor) được sử dụng để thống kê, đánh giá và xế[r]
Trang 1Trung tam Thong tin Thu vien, DHQGHN
Nguyễn Huy Chương *
Tóm tắt: Các số liệu trích dẫn của tài liệu khoa học là cơ sở để xây dựng
nên các chỉ số khoa học đặc trưng (Chỉ số tác động - Impact Factor) được
sử dụng để thống kê, đánh giá và xếp hạng các tạp chí khoa học cũng như
các cá nhân và các tổ chức khoa học, đồng thời trực tiếp phục vụ công tác
bổ sung, kiểm soát và phát triển nguồn tin khoa học Sự ra đời thế hệ CSDL
mới này - nhờ dựa vào các thành tựu nghiên cứu của thư mục học hiện đại,
mà lĩnh vực tiêu biểu của nó là trắc lượng thư mục (bibliometrics), và trắc
lượng web (webometrics) - đã hỗ trợ tích cực các thư viện/cơ quan thông
tin thực hiện tốt nhiệm vụ quản trị tri thức số.
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Tài liệu khoa học và công nghệ dưới dạng các cơ sở dữ liệu (CSDL)
đã có một bước phát triển rất mạnh mẽ về số lượng, quy mô và tính chất trong khoảng từ cuối những năm 1990, khi mà Internet trở thành môi trường lưu giữ, trao đổi và cung cấp thông tin của mọi lĩnh vực hoạt động trên toàn cầu Cũng vào thời kỳ này, đã xuất hiện những doanh nghiệp thông tin và xuất bản với quy mô thị trường rộng khắp trên thế giới Thị trường thông tin khoa học, nhất là phân khúc các nguồn tin trực tuyến tăng trưởng với gia tốc lớn và xâm nhập vào mọi lĩnh vực khoa học và công nghệ Về cơ cấu, đa số các nguồn tin trực tuyến đều có thể được chia thành 2 bộ phận: các CSDL thư mục và các tệp toàn văn tương ứng Hai bộ phận này được tích hợp với nhau nhằm mục đích tạo sự thuận tiện cho người sử dụng, trong đó, CSDL thư mục thường thực hiện chức năng cung cấp các thông tin thiết yếu để người sử dụng có cơ sở quyết định có
* Tiến sĩ, Chủ tịch Liên Chi hội Thư viện Đại học Phía Bắc.
Trang 2Trung tam Thong tin Thu vien, DHQGHN
hết các CSDL khoa học do các doanh nghiệp thông tin và xuất bản có uy tín trên thế giới cung cấp, ngoài chức năng chính là kiểm soát tài nguyên thông tin phục vụ việc quản lý, khai thác, tìm kiếm thông tin, thì chúng đều thực hiện chức năng thống kê khoa học Các số liệu trích dẫn của tài liệu khoa học được E Garfield – Viện trưởng sáng lập Viện Thông tin khoa học Mỹ - sử dụng làm cơ sở để xây dựng nên các chỉ số khoa học đặc trưng (Chỉ số tác động Impact Factor - IF) từ năm 1962 Ban đầu, các chỉ số này chủ yếu là được sử dụng để đánh giá và xếp hạng các tạp chí khoa học và trực tiếp phục vụ công tác bổ sung, phát triển tài nguyên thông tin của thư viện Sau này, IF và một số loại chỉ số khác (cũng được
xây dựng trên cơ sở nòng cốt là thống kê trích dẫn, ví dụ H-Index, NSP -
Number of Successful Papers …) được sử dụng để đánh giá và xếp hạng đối với mọi chủ thể tham gia vào hoạt động khoa học: từ cá nhân, đến các cộng đồng khoa học, các tổ chức nghiên cứu, đào tạo và các quốc gia Có thể nói, sự ra đời thế hệ CSDL mới này là nhờ dựa vào các thành tựu nghiên cứu của thư mục học hiện đại, mà lĩnh vực tiêu biểu của nó là trắc lượng thư mục (bibliometrics), và một lĩnh vực khác cùng sử dụng phương pháp nghiên cứu đặc biệt này (thống kê và phân tích trích dẫn) với nhóm đối tượng phổ biến hiện nay – các website – tạo nên trắc lượng web (webometrics) Chính thế hệ CSDL mới này đã giúp các thư viện/cơ quan thông tin nâng cao được vai trò, vị trí của mình đối với sự phát triển các tổ chức nghiên cứu, đào tạo, các trường đại học giai đoạn hiện nay
Bên cạnh đó, một trong các xu hướng phát triển của các thư viện đại học là việc đẩy mạnh và gắn kết hoạt động xuất bản tài liệu khoa học vào hoạt động thông tin-thư viện (TTTV) như vẫn thường thấy để phát triển một loại hình dịch vụ mới – dịch vụ xuất bản tại thư viện
(Library Publishing Service) Kế hoạch chiến lược của Hội các thư
viện khoa học 2010-2012 (ARL Strategic Plan 2010-2012) cho thấy tầm
quan trọng của việc thử nghiệm dịch vụ xuất bản tại thư viện Phát triển nguồn học liệu trực tuyến của mỗi trường đại học, về bản chất, cũng chính là công việc được thực hiện thông qua dịch vụ xuất bản tại thư viện đại học Và vì thế, nếu như dịch vụ xuất bản tại thư viện đại học được chú trọng phát triển một cách toàn diện và theo hướng tích hợp với
Trang 3Trung tam Thong tin Thu vien, DHQGHN
các dịch vụ thông tin khác, thì các vấn đề liên quan tới thông tin phục
vụ nghiên cứu và đào tạo tại trường đại học sẽ được giải quyết một cách
hệ thống, căn bản, lâu dài; từ đó sẽ tạo nên sự đổi mới sâu sắc trong mọi lĩnh vực hoạt động của thư viện đại học, tạo nên các đóng góp mới của thư viện đại học đối với quá trình phát triển trường đại học
2 HIỆN TRẠNG VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC
2.1 Hiện trạng nghiên cứu và ứng dụng của trắc lượng thư mục
Các hướng nghiên cứu về trắc lượng thư mục khá đa dạng Đầu tiên, đó là việc hình thành các phương pháp xác định các đại lượng trích dẫn, từ đó hình thành nên các tham số phổ biến được áp dụng để đánh giá, xếp hạng khoa học
Về bản chất, trắc lượng thư mục luôn được coi là một công cụ quan trọng để nghiên cứu quy luật phát triển cũng như mối quan hệ giữa các nguồn thông tin khoa học Gần đây, đã xuất hiện các nghiên cứu về trắc lượng thư mục được công bố trên các tạp chí khoa học về các khoa học
thông tin, thư viện, khoa học về khoa học như: Library & Information
Science Research, Scientometrics, Informetrics,
Một số nhà khoa học thường nói tới Danh sách Philadelphia hay
danh sách tạp chí khoa học có uy tín trên thế giới do ISI lựa chọn Đó
là danh mục các tạp chí khoa học được phản ánh trong hệ thống CSDL
do Thomson Reuters xây dựng và cập nhật Phạm vi nguồn tạp chí mà Thomson Reuters bao quát để đánh giá là trên Web of Science, trong đó các tạp chí sau khi được lựa chọn sẽ chia thành các nhóm trong danh
mục Người ta đã kết hợp chặt chẽ giữa các tiêu chí mang tính định tính
và định lượng để đánh giá và lựa chọn tạp chí khoa học Phương pháp dựa trên tiêu chí mang tính định lượng ở đây được xây dựng trên cơ sở phương pháp trắc lượng thư mục (bibliometrics)
Chỉ dẫn trích dẫn khoa học (Scientific Citation Index – SCI) là một loại sản phẩm thông tin dạng thư mục đặc biệt Đây là hệ thống tra cứu chỉ dẫn đáp ứng nhu cầu thông tin thư mục về tài liệu SCI bao gồm một
hệ thống gồm các loại chỉ dẫn khác nhau để tạo nên một hệ thống bảng
Trang 4Trung tam Thong tin Thu vien, DHQGHN
dẫn trích dẫn (Citation Index), Chỉ dẫn nguồn (Source Index) và Bảng tra chủ đề hoán vị (Permuterm Subject Index)
Tính chất cơ bản và sự quý giá của SCI chính là ở chỗ việc hệ
thống hoá các tài liệu theo dấu hiệu nội dung được phản ánh và xuất
phát từ quan điểm của nhà khoa học với tư cách là người dùng tin -
người tạo ra các thông tin khoa học
2.2 Xu hướng phát triển của trắc lượng thư mục
Gần đây, một lĩnh vực mới xuất hiện và phát triển mạnh có liên quan đến thống kê thư mục được gọi là webometrics hoặc cybermetrics Thống kê web có thể được định nghĩa như là việc sử dụng các kỹ thuật/ phương pháp của thống kê thư mục nhằm nghiên cứu mối quan hệ giữa các site trên WWW Các kỹ thuật hay phương pháp này có thể được sử dụng để xây dựng một bản đồ về các lĩnh vực của web được xem là có lợi hay hữu ích nhất, được xác định thông qua số lần mà chúng được kết nối đến các website khác Công việc này được gọi là việc xây dựng bản đồ khoa học trong các nghiên cứu thống kê thư mục truyền thống Cùng với xu thế phát triển các ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào công tác thông tin - thư viện, thì các hướng nghiên cứu
cơ bản trong lĩnh vực này cũng được quan tâm Bởi vấn đề của thông tin thư viện không chỉ là các khía cạnh liên quan tới công nghệ Trắc lượng thư mục và việc ứng dụng nó trong quá trình nghiên cứu mối quan hệ
và sự phát triển tài nguyên thông tin (với dạng thức tồn tại đang chiếm
ưu thế là trực tuyến), trong quá trình đánh giá khoa học đang trở thành một xu thế mới, tạo ra bước ngoặt mới cho sự phát triển và đóng góp của khoa học thông tin-thư viện vào sự phát triển chung của khoa học
3 PHƯƠNG PHÁP TRÍCH DẪN VÀ CÁC HỆ THỐNG CHỈ DẪN THAM KHẢO
Trích dẫn là phương pháp được sử dụng phổ biến trong mọi công
trình khoa học, thể hiện sự kế thừa trong hoạt động nghiên cứu Các phân
tích và thống kê trích dẫn được sử dụng là một trong các cơ sở quan trọng
Trang 5Trung tam Thong tin Thu vien, DHQGHN
cho việc đánh giá, xếp hạng khoa học đối với mọi chủ thể, từ một bài báo, một công trình nghiên cứu, một tạp chí khoa học, đến một tác giả, một cộng đồng khoa học, thậm chí một quốc gia Có nhiều phương pháp trích dẫn được sử dụng trong các công trình nghiên cứu như:
- Tự trích dẫn (Self Citation): một cá nhân thực hiện việc trích
dẫn các tài liệu của chính mình trong một nghiên cứu khác
- Phân tích trích dẫn Phân tích trích dẫn sử dụng các trích dẫn
trong các công trình khoa học để thiết lập các mối liên kết, trong đó chú trọng cả tới tính chất và vị trí của các nhóm tài liệu có liên quan Phân tích trích dẫn được sử dụng là để xác định vai trò, vị trí của một tác giả/ tác phẩm/công trình khoa học trong một lĩnh vực cụ thể
- Chỉ dẫn trích dẫn khoa học Chỉ dẫn trích dẫn khoa học
(Sci-ence Citation Index – SCI) là một loại sản phẩm thông tin có chức năng kiểm soát tài liệu ở mức thư mục Các tài liệu được kiểm soát chủ yếu
là bài trích trên một danh sách tạp chí nguồn và các tài liệu đã được các tài liệu này trích dẫn/tham khảo Hiện nay đã xuất hiện nhiều phần mềm quản lý tài liệu tham khảo như EndNotes, RefWorks, Zotero cho phép thực hiện các bài toán thống kê trích dẫn, làm cơ sở quan trọng cho việc đánh giá, xếp hạng khoa học đối với các chủ thể như cộng đồng, cá nhân nhà khoa học, các tạp chí khoa học
Việc trích dẫn trong các công trình nghiên cứu khoa học cần phải được thể hiện một cách thống nhất, theo các quy định chung Nhiều trường đại học trên thế giới đã nghiên cứu và ban hành các quy cách trình bày chỉ dẫn tham khảo Ở nước ta, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng xây dựng và ban hành Thông tư 10/2009/TT-BGDĐT quy định chung về việc trình bày chỉ dẫn tham khảo trong loại công trình nghiên cứu là luận án tiến sỹ
4 ỨNG DỤNG TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC TRONG QUÁ TRÌNH TẠO LẬP TÀI NGUYÊN
THÔNG TIN KHOA HỌC
Các tài nguyên thông tin khoa học (trực tuyến) đang tồn tại hòa hợp với nhau trong một không gian chung, tạo nên sự liên thông Nhờ vậy, việc kiểm soát mối quan hệ giữa chúng trong không gian chung
Trang 6Trung tam Thong tin Thu vien, DHQGHN
lượng thư mục đã được sử dụng để tạo ra các sản phẩm thông tin là các CSDL chỉ dẫn trích dẫn – công cụ cơ bản thực hiện chức năng kiểm soát, thống kê việc trích dẫn giữa các tài liệu khoa học Từ đó, việc đánh giá, xếp hạng khoa học đối với các chủ thể (công trình nghiên cứu, nhà khoa học, tạp chí khoa học, tổ chức khoa học, trường đại học, quốc gia…) đã được thực hiện phổ biến Trên thực tế, những doanh nghiệp thông tin và xuất bản lớn trên thế giới đã thực hiện điều đó từ trên 2 thập
kỷ gần đây (Thomson Reuters từ 1992; Scimago từ 1996…)
Thomson Reuters thực hiện việc kiểm soát tài nguyên thông tin trên
Web of Science với 15 CSDL được chia thành 3 nhóm Citation Indexes (5 CSDL); Product Databases (9 CSDL) và Derwent Innovations
Index Đây là một kho thông tin khổng lồ, và để giảm bớt sức ép phải lựa
chọn, tìm kiếm trong một đại dương thông tin mênh mông này, Thomson Reuters đã cung cấp cho cộng đồng khoa học trên thế giới phần tài nguyên
thông tin cốt lõi nhất - Web of ScienceTM Core Collection Đây là bộ sưu
tập có giá trị bậc nhất của Web of Science phản ánh hồi cố các nghiên cứu
có giá trị được xuất bản từ năm 1900
Quá trình đánh giá bao gồm việc đánh giá nhiều tiêu chí như: Tiêu chuẩn Xuất bản Tạp chí cơ bản bao gồm xuất bản kịp thời, tuân thủ Công ước Biên tập Quốc tế, Thư mục thông tin tiếng Anh (bao gồm cả tiêu đề bài viết bằng tiếng Anh, từ khoá, tóm tắt tác giả, và trích dẫn tài liệu tham khảo) Thomson Reuters cũng xem xét nội dung biên tập của tạp chí, sự đa dạng quốc tế của tác giả và biên tập viên Phân tích trích dẫn sử dụng dữ liệu Thomson Reuters được áp dụng để xác định lịch
sử trích dẫn của tạp chí và/hoặc lịch sử các trích dẫn của tác giả và biên tập viên của tạp chí
Scimago thực hiện việc kiểm soát các tài nguyên thông tin trên Scopus – một hệ thống CSDl bao quát trên 22.000 tạp chí khoa học được xuất bản tại trên 5.000 nhà xuất bản trên thế giới và nguồn tin khổng lồ này do Elsevier tổ chức và phát triển để cung cấp cho các cộng đồng khoa học trên toàn thế giới Các chỉ số này có thể được sử dụng để đánh giá và phân tích các lĩnh vực khoa học
Trang 7Trung tam Thong tin Thu vien, DHQGHN
Ngoài Thomson Reuters, Scimago, các doanh nghiệp thông tin-xuất bản lớn khác trên thế giới đều ứng dụng trắc lượng thư mục trong việc tạo lập, cung cấp tài nguyên thông tin Đặc biệt, nhiều thư viện đại học trên thế giới cũng đã chú trọng đến xu hướng này trong việc phát triển tài nguyên thông tin của mình và hỗ trợ người dùng tin trực tiếp trong việc quản lý các dữ liệu khoa học cá nhân, quản lý việc tham khảo, trích dẫn các tài liệu khoa học
5 Ý NGHĨA, HIỆU QUẢ CỦA VIỆC ỨNG DỤNG TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC TRONG VIỆC KIỂM SOÁT, QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN THÔNG TIN NỘI SINH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC
Việc ứng dụng trắc lượng thư mục có ý nghĩa và hiệu quả lớn đến việc kiểm soát, quản lý tài nguyên thông tin nội sinh trong trường đại học Đó là:
- Công tác quản lí khoa học công nghệ: Thông qua trắc lượng thư
mục thực hiện việc hoạch định công việc, kiểm soát quá trình hoạt động;
- Công tác đánh giá, xếp hạng: Qua các công cụ đo chất lượng
(i) đánh giá chủ quan; (ii) đếm số công bố; (iii) đếm số các trích dẫn của các công trình công bố; (iv) số lượng và trị giá của các hợp đồng nghiên cứu khoa học, cho thấy chất lượng tác giả, tổ chức nghiên cứu
- Việc đo lường theo chỉ số định lượng: Các chỉ số định lượng cho
phép nhìn nhận các kết quả nói chung là tốt hơn so các chỉ số định tính;
- Về (i) đối sánh; và (ii) chỉ báo hoạt động: Trong việc đánh giá
và so sánh chất lượng của hoạt động nghiên cứu khoa học, có thể sử dụng đan xen các chỉ báo hoạt động của các cơ sở nghiên cứu và thực hiện đối sánh, xếp hạng;
- Công tác nghiên cứu: Hỗ trợ (i) nghiên cứu khoa học; (ii) đảm
bảo tính bền vững của nghiên cứu; (iii) thấy được tiềm năng của nghiên cứu; (iv) xác định được tầm quan trọng của nghiên cứu; (v) cho phép
so sánh quốc tế;
- Việc xác định phương pháp thực hiện trắc lượng thư mục: Giúp
xác định được (i) nguồn trích dẫn; (ii) nguồn xuất bản; (iii) uy tín của các tạp chí;
Trang 8Trung tam Thong tin Thu vien, DHQGHN
của các nước công nghệ, như Nhật Bản, việc ứng dụng trắc lượng thư mục có ý nghĩa đối với (i) phân tích khoa học; (ii) đảm bảo hạ tầng trong các ngành công nghiệp; (iii) áp dụng khoa học tính toán, cụ thể là công nghệ thông tin
6 XU THẾ ĐỔI MỚI VÀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC THƯ VIỆN ĐẠI HỌC GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Hệ thống thư viện đại học và nghiên cứu ở Việt Nam trong thời gian qua đã có sự phát triển vượt bậc về quy mô và chất lượng dịch vụ Tuy nhiên, trước sự tăng trưởng bùng nổ của sản phẩm thông tin, về số lượng, nội dung cũng như về hình thức lưu giữ, chuyển giao và so với yêu cầu thực tế của nhiệm vụ, thư viện phải có một tiếp cận khác trong thời kỳ mới Ngoài vai trò là người quản trị, tổ chức và cung cấp các nguồn tin, thư viện còn cần vươn lên đảm nhiệm tốt vai trò người tư vấn thông thái và trực tiếp cung cấp các dịch vụ thông tin – thư viện (DVTT-TV) tốt nhất để đáp ứng tối đa mọi nhu cầu tin đa dạng cả về nội dung
và hình thức của bạn đọc
Thế giới đang bước vào Cách mạng Công nghiệp lần thứ Tư (Cách mạng Công nghiệp 4.0) diễn ra trên 3 lĩnh vực chính gồm kỹ thuật số, công nghệ sinh học và vật lý Những yếu tố cốt lõi của kỹ thuật số trong Cách mạng Công nghiệp 4.0 sẽ là: trí tuệ nhân tạo (AI), vạn vật kết nối
- Internet of Things (IoT) và dữ liệu lớn (Big Data) Việc này càng đòi hỏi thư viện đại học cần có những sự thay đổi đột phá trong nhiều lĩnh vực mà một trong các lĩnh vực đặc biệt quan trọng là áp dụng các thành tựu của khoa học công nghệ, áp dụng kỹ thuật nghiệp vụ mới vào công tác thông tin - thư viện nhằm thay đổi cách thức hoạt động
Thực tế hiện nay cho thấy, các DVTT-TV như cung cấp tài liệu in ấn; dịch tài liệu; tra cứu thông tin; hướng dẫn người dùng tin không còn thỏa mãn yêu cầu ngày càng cao của người dùng Tất yếu để tồn tại, thư viện phải chú trọng phát triển các công nghệ mới để khai thác tài liệu số, phát triển nội dung số thành nội dung số đa phương tiện, sách điện tử đa phương tiện có khả năng tương tác, ảo hóa cao Từ đó tạo ra các eBooks hình thức mới, thích hợp với nhu cầu và thiết bị đầu cuối
Trang 9Trung tam Thong tin Thu vien, DHQGHN
của người sử dụng hiện nay theo xu thế phát triển của công nghệ khai thác nội dung số Đồng thời cần đẩy mạnh ứng dụng trắc lượng thư mục nhằm thống kê công bố khoa học, hỗ trợ tạo lập tài nguyên thông tin cũng như giúp đánh giá, chọn lọc kết quả nghiên cứu chất lượng cao
7 LỰA CHỌN VÀ XÁC ĐỊNH CÁC CHỈ SỐ PHẢN ÁNH CÔNG BỐ KHOA HỌC ĐỐI VỚI ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VÀ CÁC TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO TẠI VIỆT NAM
Các trường đại học Việt Nam đang phát triển theo hướng đại học nghiên cứu Vì vậy, việc ứng dụng trắc lượng thư mục để đánh giá kết quả nghiên cứu là rất quan trọng và cấp thiết Hiện nay, Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) đã xây dựng CSDL chỉ số trích dẫn Việt Nam (Vietnam Citation Index - VIC) để đo định lượng công trình công bố [20]
Theo Giáo sư Nguyễn Hữu Đức (ĐHQGHN) - từ mục tiêu đầu tiên là xây dựng thư viện số nhằm cung cấp các nghiên cứu công bố trên hệ thống tạp chí khoa học trực tuyến của Việt Nam phục vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học, ĐHQGHN còn nhằm thực hiện các phân tích, thống kê phục vụ công tác quản lý khoa học thông qua các công
cụ trắc nghiệm Phương pháp đánh giá định lượng năng suất và chất lượng nghiên cứu khoa học bằng phân tích trắc lượng chỉ số trích dẫn
có rất nhiều ưu điểm Ngoài việc có thể đánh giá năng lực nghiên cứu khoa học của cá nhân các nhà khoa học và các tổ chức khoa học và công nghệ, còn cho phép phân tích, phát hiện các lĩnh vực, chủ đề nghiên cứu thời sự trên thế giới, dự báo xu hướng phát triển khoa học và công nghệ tương lai
Trước hết, ĐHQGHN tích hợp cơ sở dữ liệu của hệ thống hơn 300 tạp chí khoa học trong nước đã được Hội đồng chức danh giáo sư Nhà nước tính điểm công trình Tiếp đó sẽ tích hợp đến hệ thống tạp chí khoa học còn lại, nhưng có phân nhóm Hiện nay, đánh giá chất lượng và điểm của các tạp chí trong nước cũng đang hoàn toàn được thực hiện bằng phương pháp chuyên gia Về cơ bản, các tạp chí của các cơ sở nghiên cứu
và đào tạo lớn, có truyền thống được đánh giá cao hơn các tạp chí của các đơn vị nhỏ, mới xuất hiện Chính vì vậy, ĐHQGHN rất chú trọng công bố kết quả nghiên cứu trên các tạp chí khoa học có uy tín
Trang 10Trung tam Thong tin Thu vien, DHQGHN
công bố khoa học theo tiếp cận của Hội đồng học hàm Nhà nước Theo
đó, các công bố có thể được phản ánh qua một số tham số dưới đây:
- Mã số ISSN cho tạp chí và mã số ISBN cho sách: ISSN là mã số chuẩn quốc tế cho xuất bản phẩm nhiều kỳ, được công nhận trên phạm
vi toàn thế giới nhằm xác định nhan đề của các xuất bản phẩm nhiều kỳ Khi đã có chỉ số ISSN, thì tạp chí sẽ được quốc tế thừa nhận chính thức
và giới thiệu trên quy mô toàn cầu
- Phân loại ISI: Viện Thông tin Khoa học đã xét chọn chất lượng của các tạp chí trên thế giới một cách khắt khe và kỹ lưỡng để đưa vào
cơ sở dữ liệu của họ Liên Hiệp Quốc, các chính phủ và các tổ chức quốc tế thường sử dụng thống kê của ISI trong quản lý và hoạch định các chính sách khoa học, kỹ thuật
- Phân loại Scopus: Nhiều tổ chức xếp hạng thế giới như Tổ chức xếp hạng các cơ sở nghiên cứu khoa học SCIMAGO, Tổ chức xếp hạng đại học còn sử dụng cơ sở dữ liệu từ nguồn Scopus của Elsevier Để được liệt kê vào danh sách Scopus, các tạp chí cũng được lựa chọn nghiêm ngặt Các số liệu của Scopus đã được SCIMAGO sử dụng để đánh giá, xếp hạng các tạp chí khoa học và các cơ sở khoa học Theo số liệu đó, trong số hơn 2.800 cơ sở nghiên cứu mạnh ở trên thế giới, Việt Nam có tên 3 đơn vị: Viện Hàn lâm Khoa học&Công nghệ Việt Nam, ĐHQGHN và Đại học Quốc gia Thành phố Hồ chí Minh
- Chỉ số H và IF: Khi xếp hạng các tạp chí khoa học trên thế giới
người ta thường dựa vào các chỉ số “đo” chất lượng khoa học của tạp chí, ví dụ chỉ số ảnh hưởng IF (Impact Factor) và chỉ số H (H-index) Tuy nhiên, hai chỉ số (có quan hệ với nhau) thường được sử dụng để ước định chất lượng của một công trình nghiên cứu khoa học là chỉ số ảnh hưởng và số lần trích dẫn
Như vậy, để đo định lượng các kết quả nghiên cứu, có thể thực hiện các phương thức: (i) đánh giá số lượng công trình; (ii) đánh giá chất lượng ấn phẩm; (iii) đánh giá khách quan, theo các độ đo như chỉ
số trích dẫn, hệ số tác động IF, chỉ số H Với nhiều hoạt động đa dạng, trên nhiều lĩnh vực, ĐHQGHN và một số đại học đa ngành, đa lĩnh vực
sử dụng chung một đánh giá các công bố là không hợp lý Đánh giá bài