Trong điều kiện đó, các công trình nghiên cứu về tự do hoá thƣơng mại nông sản trong khuôn khổ WTO và tác động đối với các nƣớc đang phát triển hầu nhƣ chƣa giành đƣợc sự quan tâm thíc[r]
Trang 1Tự do hoá thương mại nông sản trong khuôn khổ WTO và tác động đối với các nước đang phát triển
Trần Đức Bắc Người hướng dẫn : PGS.TS Lê Bộ Lĩnh
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Nông nghiệp nói chung, nông sản nói riêng là một lĩnh vực quan trọng đối với tất cả các quốc gia, cho dù tỷ trọng của lĩnh vực này trong GDP tỷ lệ nghịch đối với sự phát triển Dù là nước phát triển hay nước đang phát triển, các quốc gia đều cần phải có và phải được thoã mãn nhu cầu về lương thực, thực phẩm Một khi vấn đề lương thực, thực phẩm không được bảo đảm thì sự ổn định của một quốc gia nói chung, phát triển bền vững nói riêng là khó có thể đảm bảo nếu không nói
là không đạt được
Đối với các nước đang phát triển nói riêng, vấn đề nông nghiệp và nông sản
còn quan trọng hơn bởi vì đây là lĩnh vực mang lại cho họ nhiều lợi ích Thứ nhất,
các mặt hàng xuất khẩu của các nước đang phát triển có tỷ trọng nông sản cao Trong đó, đối với một số không ít các nước đang phát triển, xuất khẩu nông sản thô
vẫn còn lớn Thứ hai, nông nghiệp là lĩnh vực giải quyết nhiều việc làm nhất cho
các nước đang phát triển Trong điều kiện tự nhiên nhất, nông nghiệp vốn dĩ là cái
nôi cho sự tồn tại và phát triển của loài người Thứ ba, là lý do hệ quả từ lý do thứ
nhất, xuất khẩu nông phẩm được coi là nguồn thu ngoại tệ có tiềm năng thực tế nhất của các nước đang phát triển Một sự suy giảm trong kim ngạch xuất khẩu nông phẩm đều có thể dẫn đến khả năng xấu đi của cán cân vãng lai của các nước đang phát triển Và do đó cũng làm xấu đi tình hình kinh tế trong nước của những
quốc gia này Thứ tư, sự tăng trưởng của lĩnh vực nông nghiệp được coi là chìa
khoá cho sự tăng trưởng chung của nền kinh tế ở các nước Sự tăng trưởng của lĩnh
Trang 2vực nông nghiệp đảm bảo cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến Bên cạnh đó, sự phát triển của nông nghiệp và nông thôn tạo nên sự gia tăng cầu về hàng hoá công nghiệp, cả tư liệu tiêu dùng lẫn tư liệu sản xuất
Trong khuôn khổ các vòng đàm phán thương mại đa phương nhằm tạo dựng một hệ thống thương mại toàn cầu, vấn đề nông nghiệp chỉ mới được đưa vào các vòng đàm phán kể từ vòng Urugoay (1986 - 1994) Trước đó, vấn đề nông nghiệp chưa được đưa vào các vòng đám phán đa phương, nếu có cũng chỉ dừng lại ở mức
độ chi tiết nhỏ của một số mặt hàng cụ thể Cho đến trước vòng Urugoay, chỉ có vấn đề thịt bò và sản phẩm từ sữa đạt được việc ký Hiệp định (vòng Tokyo 1973 - 1979)
Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, tỷ trọng nông nghiệp trong GDP hàng năm vẫn còn cao Bên cạnh đó, lĩnh vực nông nghiệp vẫn đang là kế sinh nhai của hơn năm mươi phần trăm dân số Việt Nam Sự chuyển biến về tự do hoá thương mại nông sản sau các vòng đàm phán trong khuôn khổ WTO hiện nay chắc chắn sẽ có những tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam nói chung cũng như đến đời sống của người làm nông nghiệp
Với những lý do trên, người viết lựa chọn đề tài "Tự do hoá thương mại
nông sản trong khuôn khổ WTO và tác động đối với các nước đang phát triển"
với hy vọng góp phần dự báo tác động đối với nông nghiệp ở các nước đang phát triển của các Hiệp định trong khuôn khổ WTO
2 Tình hình nghiên cứu:
Cho đến nay, vấn đề nông nghiệp và tự do hoá thương mại nông sản trong khuôn khổ Tổ chức Thương mại Thế giới - WTO vẫn còn là một lĩnh vực mới mẻ
Số lượng các công trình, báo cáo chuyên đề hay các bài nghiên cứu về lĩnh vực này
Trang 3vẫn còn ít Là một nước đang phát triển, hiện đang thực hiện các vòng đàm phán để gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, tại Việt Nam việc nghiên cứu vấn đề này vẫn còn mới Số lượng các công trình nghiên cứu về lĩnh vực này cũng chưa nhiều Trong điều kiện đó, các công trình nghiên cứu về tự do hoá thương mại nông sản trong khuôn khổ WTO và tác động đối với các nước đang phát triển hầu như chưa giành được sự quan tâm thích đáng Một số tác phẩm, công trình nghiên cứu gần đây nhất cũng chỉ mới đề cập đến vấn đề này ở những khía cạnh khác Tác giả Nghiêm Thị Hồng Nhung trong luận văn thạc sỹ của mình chỉ mới nghiên cứu vấn
đề nông nghiệp trong WTO ở góc độ chính sách nông nghiệp của Việt Nam Các báo cáo chuyên đề của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và Bộ Thương Mại cũng chỉ đề cập đến vấn đề nông nghiệp và thương mại nông sản ở khía cạnh tác động đến Việt Nam và lộ trình tham gia vào liên kết kinh tế quốc tế của lĩnh vực kinh tế này Trong lúc đó, các chuyên khảo, bài viết của các tác giả Dominique Bureau, Jean Christophe Bureau lại đề cập đến khía cạnh chính sách nông nghiệp của các nước phát triển nói chung và các nước EU nói riêng Hai tác giả Merlinda
D Ingco and John D Nash lại nghiên cứu về nông nghiệp dưới góc độ hệ thống thương mại thế giới nói chung Bên cạnh đó, một số lượng không nhỏ các chuyên
đề của các tác giả phương Tây viết về vấn đề tự do hoá nông sản cũng như những tác động đối với các nước đang phát triển Tuy nhiên, các công trình đó cũng chỉ là quan điểm của các tác giả phương Tây Cách nhìn nhận sự tác động đó của họ bắt nguồn từ cách tiếp cận, từ một khía cạnh, thế giới quan khác
Vì vậy, tôi quyết định lựa chọn đề tài này với mục đích tìm hiểu tác động của Hiệp định Nông nghiệp và tự do hoá thương mại nông sản trong khuôn khổ WTO đối với các nước đang phát triển
3 Mục đích nghiên cứu:
Trang 4Với lý do đã nói ở trên, mục đích của người viết khi lựa chọn đề tài này là nhằm đánh giá tác động của tiến trình tự do hoá thương mại nông sản đối với các nước đang phát triển Trên cơ sở đó, đưa ra các kiến nghị giải pháp đối với Việt Nam trong bối cảnh chung của WTO
4 Đối tượng nghiên cứu:
Với mục đích nghiên cứu như trên, đối tượng nghiên cứu của đề tài này là các vòng đàm phán về tự do hoá thương mại nông sản trong khuôn khổ của GATT trước đây và WTO hiện nay, cũng như Hiệp định Nông nghiệp của WTO
Do đặc thù riêng của lĩnh vực nông nghiệp, phạm vi nghiên cứu của đề tài này bắt đầu từ 1995 - thời điểm ra đời của WTO - cho đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài được thực hiện bằng một sự kết hợp các phương pháp nghiên cứu Đó
là phương pháp phân tích - so sánh và phương pháp biện chứng
6 Những đóng góp mới của luận văn:
Với đề tài nghiên cứu này, người viết mong muốn đề tài này có được những đóng góp sau:
Một là, đánh giá được tác động của quá trình tự do hoá thị trường nông sản
thế giới đến các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam
Hai là, có căn cứ để đưa ra một số kiến nghị giải pháp đối với Việt Nam
7 Bố cục của luận văn:
Với lý do lựa chọn và mục đích nghiên cứu nói trên, đề tài này có bố cục gồm 3 chương và một phần kiến nghị đối với Việt Nam Trong đó: Chương 1 được xây dựng nhằm trả lời các câu hỏi "Tại sao cần tự do hoá thị trường nông sản thế giới? Tự do hoá thương mại nông sản mang lại lợi ích gì cho các nước đang phát triển? Quan điểm của các bên liên quan về tự do hóa nông sản như thế nào?"
Trang 5Chương 2 nhằm mục đích trả lời câu hỏi "Để tiến tới thực hiện tự do hoá thị trường nông sản cần tiến hành các nội dung đàm phán nào? Đến nay các đàm phán đó đã đạt được những kết quả gì?" Chương 3 sẽ trả lời các câu hỏi " Tự do hoá thương mại nông sản tác động như thế nào đến các nước đang phát triển?" Ngoài ra, tác giả cũng mạnh dạn đưa ra một số các kiến nghị về giải pháp dành cho Việt Nam
Bố cục chính của luận văn như sau:
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CỦA TỰ DO HOÁ THƯƠNG MẠI NÔNG SẢN
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ NỘI DUNG CỦA CÁC CUỘC ĐÀM PHÁN VỀ TỰ DO HOÁ THƯƠNG MẠI NÔNG SẢN TRONG KHUÔN KHỔ WTO
CHƯƠNG 3 TÁC ĐỘNG CỦA TỰ DO HOÁ THƯƠNG MẠI NÔNG SẢN ĐẾN CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
Với sự lựa chọn đối tượng và phạm vi nghiên cứu như trên, đề tài này không tránh khỏi một số khó khăn làm hạn chế đến kết quả nghiên cứu và tham vọng của người viết Đó là, đối tượng và phạm vi nghiên cứu trải rộng trên phạm vi toàn cầu, những khó khăn về nguồn số liệu (các số liệu có nhiều nguồn gốc, chủ yếu là từ số liệu thống kê của các tổ chức quốc tế như WB, WTO, FAO ); do có nhiều nguồn tra cứu nên dẫn tới việc tính nhất quán của các tài liệu không cao Bên cạnh đó, các tài liệu cũng được truy cập với một số lượng đáng kể từ các trang web (nên không
có bản cứng) cũng có thể là một trở ngại
*****
Trang 6CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CỦA TỰ DO HOÁ THƯƠNG MẠI NÔNG SẢN
1 1 Cơ sở lý thuyết của vấn đề tự do hoá thương mại
Trong mục này, tác giả lý giải sự cần thiết phải tiến hành tự do hoá thương mại Một số lý luận của A.Smith, D.Ricardo hay lý thuyết về tính hiệu quả của lợi thế kinh tế nhờ quy mô được tác giả viện dẫn dể giải thích tại sao cần tiến hành tự
do hoá thương mại nông sản Bên cạnh đó, quá trình phát triển của nền thương mại thế giới đã cho thấy rằng, sản phẩm nông nghiệp đang bị chèn ép với mức độ nặng
nề hơn rất nhiều so với các sản phẩm phi nông nghiệp, đặc biệt là sản phẩm công nghiệp Mặt khác, sự phát triển của thương mại thế giới chỉ ra rằng, càng ngày các loại rào cản thương mại được dựng lên càng nhiều với mức độ ngày càng chặt chẽ
và tinh vi
1.2 Tổ chức Thương mại Thế giới WTO và tự do hoá thương mại:
Trong mục này, tác giả giới thiệu về quá tình hình thành và phát triển của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Sự ra đời này chấm dứt một thời kỳ tạm thời kéo dài nửa thế kỷ của GATT, đồng thời nó cũng thiết lập một cơ chế có tính ràng buộc chặt chẽ hơn đối với các thành viên tham gia Là một tổ chức có tính toàn cầu, WTO bao gồm một hệ thống các văn bản có tính pháp lý chặt chẽ đối với tất
cả các thành viên Hệ thống các văn bản của WTO quy định các nguyên tắc về thương mại cũng như các vấn đề có liên quan đến thương mại
Bên cạnh đó, tác giải cũng giới thiệu các nguyên tắc cơ bản về tự do thương mại của WTO
1.3 Những lợi ích và trở ngại đồi với tự do hoá thương mại nông sản
Sau những lý giải ở phần trên, tác giả đưa ra các chứng cứ về lợi ích của tự
do hoá thương mại nông sản Các con số được đưa ra trên cơ sở các ước đoán từ các chi phí cần thiết để thực hiện việc duy trì các rào cản thương mại đối với các sản phẩm nông nghiệp