1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng và xác định tỷ lệ mang trùng pasteurella ở đàn trâu, bò tỉnh hà tây

106 2,7K 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng và xác định tỷ lệ mang trùng pasteurella ở đàn trâu, bò tỉnh hà tây
Tác giả Nguyễn Văn Minh
Người hướng dẫn PGS.TS. Trương Quang
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp I
Chuyên ngành Thú y
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2005
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

khóa luận

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp i

Trang 2

Lời cam đoan

- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và ch−a từng đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào

- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này

đã đ−ợc cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả

Nguyễn Văn Minh

Trang 3

Lời cảm ơn

Tôi xin chân thành cảm ơn:

PGS.TS Trương Quang - Trưởng Khoa Chăn nuôi - Thú y, Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội đã giúp đỡ, hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành tốt luận văn

Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi - Thú y, Ban chủ nhiệm khoa Sau đại học Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội và Trung tâm Chẩn đoán thú y quốc gia đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và hoàn thành luận văn

Trang 4

Mục lục

2.2 Một số nghiên cứu về dịch tễ học bệnh tụ huyết trùng trâu, bò 7 2.3 Đường xâm nhập của mầm bệnh và hiện tượng mang trùng 11 2.4 Triệu chứng bệnh tích đặc trưng của bệnh tụ huyết trùng 15 2.5 Vi khuẩn gây bệnh tụ huyết trùng 16

2.6 Đặc điểm hình thái và tính chất nuôi cấy vi khuẩn Pasteurella multocida 17

2.7 Phòng và trị bệnh tụ huyết trùng trâu, bò 30

3 Đối tượng, nội dung, nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu 38

3.1 Đối tượng nghiên cứu 38 3.2 Nội dung nghiên cứu 38 3.3 Nguyên liệu dùng cho nghiên cứu 39 3.4 Phương pháp nghiên cứu 46 3.5 Địa điểm nghiên cứu 49

4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 50

4.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên kinh tế- xã hội của tỉnh Hà Tây ảnh hưởng

đến bệnh tụ huyết trùng trâu, bò 50

Trang 5

4.1.1 Điều kiện địa hình 50 4.1.2 Khí hậu, thuỷ văn, mạng lưới sông ngòi 50 4.1.3 Giao thông 52 4.1.4 Đất đai và môi trường 52 4.1.5 Văn hoá, kinh tế, xã hội 52 4.2 Tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu bò và công tác phòng chống bệnh

những năm qua ở tỉnh Hà Tây 53 4.2.1 Tình hình trâu bò ốm chết ở tỉnh Hà Tây 53 4.2.2 Tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu bò ở tỉnh Hà Tây 55 4.2.3 Tính chất mùa vụ của bệnh tụ huyết trùng trâu bò ở tỉnh Hà Tây 564.2.4 Tình hình trâu bò bị bệnh tụ huyết trùng ở các tháng trong năm tại

tỉnh Hà Tây từ 2000-2004 59 4.2.6 Tình hình trâu bò ốm, chết do bệnh tụ huyết trùng ở vùng sinh thái của tỉnh Hà Tây từ năm 2000 – 2004 65 4.2.7 Tình hình trâu, bò ốm, chết do bệnh tụ huyết trùng ở các huyện đại diện cho các vùng sinh thái khác nhau của tỉnh Hà Tây từ năm 2000-

2004 67 4.2.8 Một số triệu chứng, bệnh tích đặc trưng của trâu bò bị bệnh tụ

huyết trùng ở Hà Tây 70 4.4.9 Kết quả phòng chống dịch bệnh tụ huyết trùng trâu bò của

tỉnh Hà Tây từ năm 2000 - 2004 71 4.3 Kết quả phân lập vi khuẩn Pasteurella từ dịch ngoáy mũi trâu bò khoẻ 734.3.1 Kết quả thu thập mẫu 73

4.3.2 Kết quả phân lập vi khuẩn Pasteurella từ dịch ngoáy mũi trâu bò

khoẻ ở tỉnh Hà Tây 74 4.3.3 Kết quả kiểm tra đặc điểm hình thái và tính chất sinh hoá của các

chủng Pasteurella phân lập được 76

Trang 6

4.3.4 Kết quả phân lập Pasteurella từ dịch ngoáy mũi của trâu bò khoẻ

mạnh ở Hà Tây 79

4.3.5 Kết quả xác định độc lực của các chủng Pasteurella phân lập được

từ dịch ngoáy mũi trâu bò khoẻ ở Hà Tây 80

4.3.6 Kết quả khả năng mẫn cảm của các chủng Pasteurella phân lập

được với một số kháng sinh và hoá dược thông thường 83

5 Kết luận và đề nghị 85

5.1 Kết luận 85 5.2 Đề nghị 86

Trang 7

Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t

CS Céng sù FAO Tæ chøc n«ng l−¬ng thÕ giíi

P Pasteurella THT Tô huyÕt trïng

Trang 8

Danh mục các bảng

Bảng 4.2: Tình hình trâu bò ốm chết do bệnh tụ huyết trùng

ở tỉnh Hà Tây từ năm 2000- 2004 55

Bảng 4.3: Tình hình trâu bò ốm, chết do bệnh tụ huyết trùng

ở tỉnh Hà Tây theo mùa vụ từ năm 2000-2004 57

Bảng 4.4: Tình hình trâu bò bị bệnh tụ huyết trùng ở các tháng trong năm

tại tỉnh Hà Tây từ năm 2000-2004 (Đơn vị tính con/tháng) 59

Bảng 4.5: Tình hình trâu bò ốm, chết do bệnh tụ huyết trùng ở các lứa

tuổi tỉnh Hà Tây từ năm 2002 – 2004 63

Bảng 4.6: Tình hình trâu bò ốm, chết do bệnh tụ huyết trùng ở vùng sinh

thái của tỉnh Hà Tây từ năm 2000- 2004 65

Biểu 4.7 : Tình hình trâu bò ốm chết, do bệnh tụ huyết trùng ở các huyện đại

diện cho các vùng sinh thái khác nhau của tỉnh Hà Tây từ 2000 - 2004 68

Bảng 4.8: Kết quả tiêm phòng vaccin tụ huyết trùng trâu bò của tỉnh Hà

Trang 9

Bảng 4.12b Kết quả kiểm tra khả năng lên men một số đường của chủng

pastuerella phân lập được 79 Bảng 4.13 Kết quả phân lập vi khuẩn Pasteurella từ dịch ngoáy mũi

trâu, bò khoẻ mạnh ở tỉnh Hà Tây 80

Bảng 4.14 Kết quả kiểm tra độc lực của các chủng Pasteurella phân lập

được trên chuột bạch 81 Bảng 4.15 Một số loại thuốc kháng sinh để làm kháng sinh đồ 83 Bảng 4.16 Kết quả kiểm tra khẳ năng mẫn cảm với một số kháng sinh và

hoá dược thông thường của các chủng P multocida phân lập được 84

Trang 10

Danh mục các hình

Hình 4.1: Tình hình trâu bò ốm, chết ở tỉnh Hà Tây từ năm 2000- 2004 54 Hình 4.2: Tỷ lệ trâu bò ốm chết do bệnh tụ huyết trùng ở tỉnh Hà Tây từ

Hình 4.5 Tỷ lệ trâu bò ốm, chết do bệnh tụ huyết trùng ở các lứa tuổi

nuôi tại tỉnh Hà Tây từ năm 2002 – 2004 64 Hình 4.6 Tỷ lệ trâu bò ốm chết do bệnh tụ huyết trùng theo vùng sinh

Hình 4.7 : Tỷ lệ trâu bò ốm chết do bệnh tụ huyết trùng ở các huyện đại diện cho các vùng sinh thái khác nhau của tỉnh Hà Tây 69 Hình 4.8: Tỷ lệ tiêm phòng tụ huyết trùng trâu bò của tỉnh Hà Tây từ

Trang 11

1 Mở đầu

1.1 Đặt vấn đề

Chăn nuôi trâu, bò đang phát triển mạnh mẽ trong cả nước và đang là một ngành chiếm vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Việt Nam Chăn nuôi trâu, bò hằng năm cung cấp sức kéo và một lượng lớn phân hữu cơ cho trồng trọt, cung cấp nguồn thực phẩm lớn có giá trị dinh dưỡng cao cho nhu cầu đời sống của người dân trong nước và cũng là nguồn hàng xuất khẩu

có giá trị kinh tế cao

Chăn nuôi nói chung và chăn nuôi trâu bò nói riêng muốn phát triển tốt

và cho hiệu quả kinh tế cao ngoài công tác giống, thức ăn, quản lý chăm sóc thì công tác phòng chống dịch bệnh cần đặc biệt coi trọng Vì thế ngày nay người ta đặt công tác thú y lên hàng đầu

Thực tế những năm qua ngành thú y trong cả nước hoạt động rất mạnh

mẽ đã hạn chế được rất nhiều bệnh truyền nhiễm đảm bảo cho ngành chăn nuôi phát triển lớn do đặc điểm của từng vùng, từng khu vực và từng địa phương, do nhiều yếu tố và nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan vẫn còn một số bệnh truyền nhiễm lẻ tẻ xẩy ra trong đó có bệnh tụ huyết trùng (THT) trâu, bò đã gây thiệt hại đáng kể về kinh tế cho người chăn nuôi

ở Việt Nam những năm qua, bệnh THT trâu, bò đã có mặt hầu hết ở các địa phương trong cả nước Chính vì vậy bệnh này luôn được xác định là

đối tượng nghiên cứu của ngành thú y trong những năm qua, hiện tại và những năm tiếp theo

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về bệnh THT và phân lập vi khuẩn

Pasteurella mang tính chất vùng, miền đại diện cho khu vực

Do đặc điểm dịch tễ học của bệnh phức tạp, nguồn gieo rắc mầm bệnh

Trang 12

là động vật khoẻ mang trùng vẫn chưa được làm sáng tỏ, gặp điều kiện thuận lợi bệnh phát ra ồ ạt hoặc lẻ tẻ theo từng địa phương

Bởi vậy việc nghiên cứu bệnh THT trên cả nước và phân lập vi khuẩn

Pasteurella hiện nay vẫn được các nhà khoa học quan tâm, nhằm tìm ra biện

pháp tốt nhất để ngăn chặn dịch bệnh xảy ra với đàn trâu, bò

Hà Tây là một tỉnh có điều kiện thuận lợi cho phát triển chăn nuôi trâu,

bò Đàn trâu, bò của tỉnh hằng năm tăng từ 10-15%, đặc thù của một tỉnh nông nghiệp có 3 vùng sinh thái rõ rệt: vùng đồi núi, bán sơn địa; vùng đồng bằng, bãi và vùng chiêm trũng

Do đặc điểm vị trí địa lý, khí hậu thời tiết, đất đai và điều kiện kinh tế xã hội, phong tục tập quán, trình độ tiếp thu khoa học kỹ thuật vào sản xuất và chăn nuôi có những nét đặc trưng, nên bệnh THT gia súc nói chung và bệnh THT trâu, bò nói riêng đã và đang xẩy ra ở Hà Tây mang sắc thái riêng, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống

Xuất phát từ yêu cầu thực tế trên, chúng tôi tiến hành đề tài:

“Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng và xác định

tỷ lệ mang trùng Pasteurella ở đàn trâu, bò tỉnh Hà Tây”

1.2 Mục đích của đề tài

- Phân tích đặc điểm dịch tễ học bệnh THT trâu, bò ở tỉnh Hà Tây trong những năm qua từ 2000-2004 để làm rõ tính chất mùa vụ, lứa tuổi bị bệnh, vùng bị bệnh

- Phân lập vi khuẩn Pasteurella từ đường hô hấp trên của trâu, bò khỏe

mạnh để thấy rõ tỷ lệ trâu, bò mang trùng ở địa phương

- Xác định khả năng mẫn cảm với một số kháng sinh, hoá dược thông

thường của các chủng Pasteurella phân lập được, làm cơ sở cho việc phòng trị

Trang 13

2 Tổng quan tài liệu

2.1 bệnh tụ huyết trùng trâu, bò

Bệnh THT trâu, bò đã được phát hiện vào cuối thế kỷ thứ 19 lần đầu tiên ở bò tại Mu ních (Đức), và đã phân lập được vi khuẩn THT ở bò, nghiên cứu các vi khuẩn gây bệnh ở các loài gia súc, thấy sự giống nhau về tính chất gây bệnh, nhưng tương đồng về kháng nguyên ở các loài có khác nhau và đặt

tên là Pasteurella để ghi nhớ công lao của người đầu tiên nghiên cứu phát

hiện ra loại vi khuẩn này

Thời gian sau đó người ta đặt tên vi khuẩn gây bệnh THT cho động vật theo tên vật chủ mà chúng thích nghi:

- Pasteurella suiseptica gây bệnh cho lợn

- Pasteurella aviseptica gây bệnh cho gà

- Pasteurella boviseptica gây bệnh cho bò

Sau này, Rosenbush và Merchant (1939)[84] đã đề nghị đặt tên cho vi

khuẩn này là Pasteurella multocida (P.multocida), để chỉ khả năng gây bệnh

cho nhiều loài vật của chúng và tên này được sử dụng cho đến ngày nay

2.1.1 Tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu, bò trên thế giới

Từ khi phát hiện ra năm ở Đức, sau đó phát hiện ở rất nhiều nước trên toàn thế giới, nhiều nhà khoa học nghiên cứu về dịch tễ học của bệnh Bệnh THT được tổ chức Dịch tễ thế giới (OIE) (1995- 1998) xếp vào bảng B trong danh sách các bệnh truyền nhiễm ở động vật (Sharma Parmoed Chris baldock, 1990[92])

Theo De Alwis (1999)[53]:

- ở châu á: bệnh THT xẩy ra ở các nước Đông Nam á, bao gồm Indonesia, Philippin, Thái Lan và Malaysia Năm 1950 bệnh được thông báo ở Philippin

Trang 14

- ở Nhật Bản được phát hiện năm 1924 song bệnh không gây thành

dịch và đến năm 1954 mới ghi nhận

- ở Iran bệnh được thông báo năm 1930

Dulta (1990)[56] trong phân tích dịch tễ học bệnh ở trâu, bò và loài

nhai lại ở ấn Độ những năm 1974-1986 cho thấy nhiễm trùng huyết, xuất

huyết (Haemorrhagic Septicaemia) do P.multocida gây tỷ lệ chết cao

- ở Malaysia 73% trâu, bò chết từ năm 1970-1979 là do P.multocida

gây thiệt hại rất lớn về kinh tế

- ở châu Phi : Bệnh THT xẩy ra không lớn bởi số lượng trâu, bò ít Theo De Alwis (1999)[53], bệnh THT đã có ở vùng Trung cận đông,

Bắc Phi, Trung Phi, Đông châu Phi và cả Nam châu Phi

- Châu Mỹ: bệnh xẩy ra ở bò rừng tại các công viên quốc gia trong các

năm 1912, 1922, 1966, 1967 ở bò sữa năm 1969 và ở bò thịt vùng California

năm 1993 Cùng năm 1993, ổ dịch THT xẩy ra ở bò tại Canada Bệnh xẩy ra

tại một số nước Nam Mỹ, nơi có mật độ trâu cao và các điều kiện tự nhiên

tương tự như các vùng nhiệt đới của châu á Fao (1991)[78] đưa ra thông

báo là bệnh THT xẩy ra tại một số quốc gia Trung Mỹ, Nam Mỹ và một số nước

của châu âu

- ở Nam á: Theo FAO (1991) [78], những vụ dịch xẩy ra lớn ở ấn Độ,

vào các năm từ 1936-1974 hằng năm có tới vài trăm ổ dịch THT, hơn 40

nghìn gia súc chết mỗi năm, năm 1950 số gia súc chết rất lớn lên đến gần 60

ngàn con Dulta và cộng sự (1990) [56] đánh giá 4 thập kỷ qua đối với ấn Độ,

bệnh THT đã làm chết 46-55% trong tổng số bò chết do các loại bệnh gây

cho đàn trâu, bò DeAlwis (1999)[53], Dulta và cộng sự (1990) [56] đã phân

tích tình hình dịch bệnh xẩy ra ở đàn trâu, bò của ấn Độ từ năm 1974-1986

cho thấy bệnh THT có tỷ lệ chết cao nhất và lây lan thứ hai khi so sánh với

Trang 15

các bệnh khác như lở mồm long móng, nhiệt thán, ung khí thán

+ ở Pakistan số gia súc chết do bệnh THT chiếm 34,1% trong tổng số chết của đàn gia súc và quốc gia này cho rằng bệnh THT là bệnh quan trọng bởi tỷ lệ chết rất cao, (FAO,1991[78] )

+ ở Nêpan, bệnh THT là bệnh truyền nhiễm quan trọng thứ hai sau bệnh dịch tả, (De Alwis,1999 [53])

+ ở Srilanca trong 2 năm 1955- 1956, 5 nghìn con trâu, bò chết do THT trong tổng đàn 2,5 triệu con (FAO,1991[78] )

- Các nước Đông Nam á :

+ ở Malaysia, De Alwis (1999)[53] cho biết 73% số lượng trâu, bò

chết năm 1970-1979 là do Pasteurella multocida và từ năm 1980-1983 số trâu

+ ở Thái Lan số lượng trâu bò rất lớn nhưng dịch phát ra ở mức độ thấp FAO (1991)[78] cho rằng Thái Lan với số lượng bò là 5,5 triệu con, trâu

là 4,5 triệu con nhưng chỉ có 35 ổ dịch được xác nhận trong năm với 3,64% chết trong một ổ dịch

2.1.2 Tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu, bò ở Việt Nam

- ở các tỉnh phía Nam :

Bệnh được phát hiện rất sớm ở tỉnh Bà Rịa và Long Thành do nhà

Trang 16

nghiên cứu người Pháp là Cudemia Sau đó Camein phát hiện ở Gò Công Yessin phát hiện THT trâu, bò ở các tỉnh miền Trung, vào những năm sau này

ổ dịch ở trâu, bò xẩy ra tại Tây ninh, Schein xác nhận là do vi khuẩn

Pasterella multocida gây nên (Phan Đình Đỗ và Trịnh Văn Thịnh, 1958[9])

Bệnh xẩy ra mạnh ở các tỉnh Nam bộ vào các năm 1910,1919 1920,1930,1935 làm chết hàng ngàn trâu, bò (Đoàn Thị Băng Tâm, 1987[30])

Nguyễn Ngã (1996)[23],nghiên cứu bệnh THT trâu, bò ở các tỉnh duyên hải miền trung và Tây Nguyên cho thấy trong 3 năm 1991- 1993 tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh rất cao, chỉ riêng 2 tỉnh: Gia Lai có 904 con trâu, bò mắc bệnh, Quảng ngãi có 600 con Cao Văn Hồng (2001)[13] cho biết bệnh THT trâu,

bò xẩy ra ở Đắk Lắk với tỷ lệ bị bệnh 1,8%/tổng đàn và tỷ lệ chết là 0,7%

- ở các tỉnh phía Bắc :

Những năm trước, ở các tỉnh phía Bắc bệnh THT xẩy ra lẻ tẻ hơn so với các tỉnh phía Nam (Phan Đình Đỗ, Trịnh Văn Thịnh, 1958)[9]) Nhưng theo thông báo mới đây của cục thú y thì bệnh THT có xu hướng tăng lên và xẩy ra nhiều ở các tỉnh phía Bắc và làm chết nhiều trâu, bò, còn các tỉnh phía Nam thì ngược lại, dịch có tính chất lẻ tẻ hơn Trong những năm 60 của thế kỷ

20 mỗi năm chỉ có 4-5 tỉnh báo cáo có dịch bệnh THT, số gia súc chết trung bình 100 con/năm trên toàn miền Bắc và đến những năm 80-90, hằng năm có tới 20-25 tỉnh, thành báo cáo có dịch lưu hành (Bùi Quí Huy, 1998[14])

Theo Dương Thế Long (1995)[20], ở Sơn La trong 6 năm từ 1988-1993

có tổng số 503 lượt xã có dịch THT với 10.230 con chết Bùi Văn Dũng (2000)[8] cho biết ở Lai Châu từ năm 1992 đến năm 1999 có 220 ổ dịch, số trâu, bò ốm do bệnh tụ huyết trùng là 6.173 con và chết là 3.727 Phạm Huy Thụy (2000)[34], thông báo ở Vĩnh Phúc trong 3 năm 1997-1999 đã có 112 ổ dịch THT trâu, bò với 1.610 con ốm và 557 trâu, bò chết Theo Bùi Quý Huy (1998)[14] bệnh gây thiệt hại rất lớn về kinh tế, trong 10 năm từ 1986-1995 đã

có 70% tổng số ca bệnh ở trâu, bò là bệnh tụ huyết trùng, với tỷ lệ tử vong

Trang 17

70%-90% Trong các năm 1990-1994 bệnh xẩy ra ồ ạt ở trâu, bò trên diện rộng với 1.579 ổ dịch làm chết 28.331 trâu, bò Hai năm 1996-1997 bệnh đã bùng phát

ở 25 tỉnh, thành Năm 1999, cả nước đã bị 14.693 trâu, bò mắc bệnh THT với 2.292 con chết

Theo Hoàng Đăng Huyến (2004)[16] ở Bắc Giang từ năm 1995 đến năm

2001, 14.104 con trâu, bò bị bệnh THT, chết 3.591 con Tác giả cho thấy có năm

tỷ lệ tử vong của trâu, bò do bệnh THT lên tới 46,11%, thấp nhất là 15,53%

2.2 Một số nghiên cứu về dịch tễ học bệnh tụ huyết trùng trâu, bò

Các nhà nghiên cứu trên thế giới cho rằng bệnh THT trâu, bò thường xẩy ra ở những quốc gia có những vùng đất thấp ẩm ướt, nóng lạnh thất thường, các vùng chăn nuôi tập trung có mật độ lớn, những vùng có tập quán chăn thả trâu, bò tự do, những vùng đồi núi, vùng sâu vùng xa và những vùng người dân kém hiểu biết về kỹ thuật chăn nuôi, những vùng không có chiến lược phòng chống dịch bệnh

ở Việt Nam, các nghiên cứu cũng cho thấy bệnh THT trâu, bò thường xẩy ra ở những vùng đất trũng, khí hậu nóng và ẩm ướt

- Về vùng địa lý : Phan Đình Đỗ và Trịnh Văn Thịnh (1958)[9], cho

rằng bệnh thường xẩy ra ở những vùng ẩm thấp, khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều,

đặc biệt là vào đầu mùa mưa hoặc sau những trận mưa rào đột ngột và vào các giai đoạn chuyển mùa Năm 1990 riêng 3 tỉnh Sơn La, Hoàng Liên Sơn (cũ), Bắc Thái (cũ) số ổ dịch THT trâu, bò chiếm 60% và 70% số gia súc chết so với toàn miền Bắc

Bùi Quý Huy (1998)[14] nhận xét bệnh tăng mạnh ở các tỉnh miền núi, nơi mà trước đây ít xẩy ra

Theo Nguyễn Ngã (1996)[23], bệnh THT trâu, bò phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội

Trang 18

Cao Văn Hồng (2001)[13] nghiên cứu tại Đắk Lắk đã khẳng định vùng trũng và vùng bình nguyên nhiều ao hồ, ruộng nước thường xẩy ra bệnh THT trùng Đỗ Văn Được (2003)[12] nghiên cứu ở Lạng Sơn cho thấy vùng núi đất,

có độ dốc lớn, nhiệt độ thấp, độ ẩm cao, tập quán chăn nuôi còn lạc hậu, chăn thả tự do tỷ lệ trâu, bò nhiễm bệnh và chết do bệnh viêm phổi cao

Hoàng Đăng Huyến (2004)[16] nghiên cứu ở Bắc Giang cho biết ở vùng

đồi núi thấp, tỷ lệ nhiễm bệnh THT và chết cao

Như vậy, các kết quả nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam đều cho thấy rằng bệnh THT mang tính chất vùng miền (vùng địa lý) rất rõ

- Lứa tuổi mắc bệnh:

Bệnh THT trâu, bò đã được xác định là xẩy ra ở hầu hết các lứa tuổi của trâu, bò Nhưng các tác giả cho rằng gia súc non dễ mắc bệnh hơn gia súc già Theo De Alwis (1999)[53] ở một số nước châu á những con vật non là dễ cảm nhiễm hơn những con vật trưởng thành ở Srilanka bệnh THT ở những vùng dịch có tính chất địa phương, 70% số bò và 665 trâu mắc bệnh THT bị chết ở độ tuổi dưới 2 năm Đối với 2 vụ dich ở một nông trại cho thấy nhóm tuổi mẫn cảm với bệnh nhất là từ 6 tháng đến 2 năm tuổi Yeo và Mokhtar (1992)[97] nghiên cứu bệnh THT trâu, bò ở Malaysia cho biết có 90% con vật dưới 2 năm tuổi bị chết khi mắc bệnh

ở Việt Nam đã có rất nhiều nghiên cứu về bệnh THT trâu, bò Bùi Quý Huy(1998)[14] cho biết trâu, bò từ 1 tuổi đến 3 tuổi dễ mắc bệnh hơn trâu, bò già và khi bị bệnh thì tỷ lệ chết cao hơn Trâu, bò càng béo, khỏe càng dễ mắc bệnh và có tỷ lệ chết cao hơn Bê nghé dưới 6 tháng tuổi rất ít mắc bệnh Tác giả đã thống kê thấy trong 1000 trường hợp bị bệnh thì trâu, bò ở độ tuổi 2-6 năm chiếm 75%, các lứa tuổi khác chỉ chiếm 25%

Dương Thế Long (1995)[20] nghiên cứu bệnh THT trâu, bò ở Sơn La cho biết lứa tuổi cảm nhiễm nhất là trâu, bò dưới 36 tháng tuổi Bùi Văn Dũng (2000)[8] nghiên cứu ở Lai Châu cho thấy trâu, bò lứa tuổi từ 7-36 tháng tuổi

Trang 19

có tỷ lệ ốm, chết cao Cao Văn Hồng (2001)[13] nghiên cứu ở Đắk Lắk cho thấy lứa tuổi cảm nhiễm nhất là trâu, bò dưới 36 tháng tuổi

Đỗ Văn Được (2003)[13] khi nghiên cứu ở Lạng Sơn cho biết trâu, bò

từ 2 tháng tuổi đến 2 năm tuổi tỷ lệ nhiễm bệnh và chết cao Theo Hoàng

Đăng Huyến (2004) [16], ở Bắc Giang trâu, bò dưới 2 năm tuổi ốm, chết cao hơn các lứa tuổi khác

Kết quả nghiên cứu về sự mẫn cảm của các lứa tuổi trâu, bò với bệnh THT, các tác giả trên thế giới và Việt Nam đều nhận xét cơ bản giống nhau là gia súc non mẫn cảm hơn gia súc già

- Mùa vụ:

Các tác giả trên thế giới và Việt Nam nghiên cứu về bệnh THT cho rằng bệnh phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố thời tiết khí hậu Mustafa và cs (1987)[70] và một số tác giả khác, nghiên cứu về ảnh hưởng của mùa vụ tới bệnh THT đã kết luận: bệnh THT thường liên quan đến điều kiện khí hậu ẩm

ướt ở Srilanka và Zambia bệnh được xác định có liên quan đến mùa mưa nhiều, tại Sudan những vụ dịch xẩy ra hầu hết ở mùa mưa ở ấn Độ, dịch xẩy

ra vào mùa ẩm ướt, từ tháng 7 đến tháng 9

ở Srilanka bệnh xẩy ra rải rác suốt trong năm, nhưng mùa ẩm ướt bệnh xuất hiện nhiều hơn Những nước khác ở châu á có khí hậu ẩm ướt thì dịch bệnh cũng phát triển mạnh Natalia và cs (1992)[76], cho rằng mùa phát bệnh THT trâu, bò của các nước châu á tập trung vào các tháng và mùa khác nhau, ở đảo Java (In donesia) bệnh xuất hiện vào cuối mùa mưa

Theo De Alwis (1999) [53], kết quả nghiên cứu của Molina và cs (1994) đã chỉ ra là vào mùa mưa trâu, bò phải cày kéo, hao tổn sức lực nhiều nên con vật dễ mắc bệnh, như những vụ dịch ở phía bắc của Philippin năm

1993 và 1994

De Alwis (1999)[53] nhận xét bệnh THT xẩy ra quanh năm, song tập

Trang 20

trung vào các tháng mưa ẩm

Tính chất mùa vụ của bệnh THT cũng được các nhà khoa học Việt Nam nghiên cứu và có nhận xét chung là: Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa có khí hậu nóng, ẩm, mưa nhiều nên bệnh xẩy ra rải rác quanh năm nhưng tập trung vào các tháng mưa nhiều Đoàn Thị Băng Tâm (1987) [30], cho rằng bệnh thường xẩy ra vào các tháng có mưa nhiều và khi chuyển mùa Phan Đình Đỗ vàTrịnh Văn Thịnh (1958) [9], cho biết ở Nam bộ có chu kỳ 3 năm đến 4 năm bệnh lại xẩy ra nặng Nguyễn Vĩnh Phước (1978a)[25] cũng

đã nhận xét ở Việt Nam thường mùa mưa, khí hậu nóng và ẩm nên bệnh xẩy

ra lây lan thành dịch Dương Thế Long (1921) [20], Nguyễn Thiên Thu (1996)[33] đều cho rằng vào thời gian mưa nhiều, bệnh xẩy ra nhiều Bùi Quý Huy và Trần Hữu Cổn (1996) [15] cho biết tháng 8 và tháng 9 năm 1990, số tỉnh có dịch chiếm 82%, các tháng còn lại chỉ chiếm 18% Nguyễn Ngã (1996) [23] nghiên cứu bệnh THT cũng nhận xét bệnh THT trâu, bò ở các tỉnh miền trung tập trung vào các tháng 4, 5, 8 và 11 trong năm Đỗ văn Được (1999)[11] cho biết ở Lạng Sơn bệnh xẩy ra mạnh từ tháng 1 đến tháng 8, 9 và bệnh xẩy ra đối với các gia súc chưa tiêm phòng vaccin THT Bùi Quý Huy (1998) [14] cho biết ở miền Bắc bệnh xẩy ra quanh năm nhưng tập trung vào các tháng mưa nhiều từ tháng 7 đến tháng 9 ở miền Nam bệnh xẩy ra mạnh sau khi mưa và nắng từ tháng 4 đến tháng 10 Tháng 7 đến tháng 9 số ổ dịch chiếm tới 78% số ổ dịch trong năm Bùi Xuân Đồng (2000)[10] nghiên cứu bệnh tụ huyết trùng trâu, bò ở Hải Phòng cho biết bệnh bắt đầu vào tháng 4,

đỉnh cao là tháng 6 và tháng 7 Bùi văn Dũng (2000) [8] cho biết ở Lai Châu bệnh tụ huyết trùng xẩy ra quanh năm, nhưng tập trung vào tháng 3, tháng 4, tháng 7, tháng 8 hằng năm tập trung vào đầu mùa mưa và cuối mùa mưa Cao văn Hồng (2001) [13] cho biết mùa dịch THT trâu, bò ở Đắk lắk từ tháng 5

đến tháng 9 đây là những tháng mưa nhiều Theo Hoàng Đăng Huyến (2004)[16] bệnh THT xẩy ra ở Bắc Giang từ tháng 4 đến tháng 9 hằng năm,

Trang 21

thời gian này đang là mùa mưa

Như vậy, các kết quả đã nghiên cứu về ảnh hưởng của mùa vụ đến bệnh,

đều thống nhất là bệnh THT có tính chất mùa vụ rõ rệt Bệnh xẩy ra nhiều vào

những thời gian có nhiệt độ cao, nóng ẩm, mưa nhiều Điều đó cho thấy việc

phòng chống bệnh THT cần phải tính đến mùa vụ của bệnh

2.3 Đường xâm nhập của mầm bệnh và hiện tượng mang trùng

2.3.1 Đường xâm nhập của mầm bệnh

Bệnh THT do vi khuẩn P.multocida gây nên, vi khuẩn xâm nhập chủ

yếu qua đường niêm mạc phần trên đường hô hấp, mũi, họng, hạch Amidan,

mặc dù niêm mạc đó không có vết thương Trước đây ở ấn Độ đã thử nghiệm

cho trâu, bò ăn cỏ khô đã phun canh trùng P multocida, cho ăn nhiều ngày

nhưng chỉ có những con gầy yếu mới bị nhiễm bệnh với triệu chứng rõ rệt,

những con khoẻ trở thành có miễn dịch, chứng tỏ là chúng có bị nhiễm nhẹ

2.3.2 Hiện tượng mang trùng

Đã có nhiều tác giả nghiên cứu về dịch tễ bệnh THT và đưa ra nhận xét là có sự liên quan giữa bệnh THT và tỷ lệ mang trùng ở trâu, bò khoẻ vi

khuẩn gây bệnh THT tồn tại ở trâu, bò khoẻ và cư trú ở hầu, họng, ở ruột và

một vài vị trí khác của trâu, bò Singh (1948) [91] đã chứng minh sự có mặt

của vi khuẩn gây bệnh THT trong đường hô hấp của trâu, bò khoẻ Wijewanda

và Karunaratne (1968)[96], đã phát hiện động vật mang trùng khi khảo sát ở

lò giết mổ gia súc là khoảng 15%

Các cuộc khảo sát sau này cho thấy, hiện tượng mang trùng của động

vật trong đường hô hấp trên có liên quan tới các vụ dịch Theo Gupta

(1962)[60], ở một vụ dịch có 7,5% gia súc khoẻ mang trùng ở đường hô hấp

Mustafa và cs (1978)[69], phát hiện có 44% số con khoẻ ở đàn bò trong ổ

dịch có mang trùng trong đường hô hấp, trong 3 đàn khác nhau không liên

quan đến ổ dịch thì tỷ lệ mang trùng ở đường hô hấp là 0%, 3,8%, 5,5% De

Trang 22

Alwis phát hiện 22,7% con vật mang trùng trong đường hô hấp ở 4 đàn nơi có bệnh tụ huyết trùng xẩy ra Những phát hiện này cho thấy tỷ lệ mang trùng ở

đường hô hấp có liên quan tới tỷ lệ mắc bệnh của đàn trâu, bò

Các nghiên cứu khẳng định muốn phát hiện động vật mang trùng, bằng cách lấy bệnh phẩm ở đường hô hấp trên để nuôi cấy phân lập vi khuẩn Singh (1948)[91], Omar và cs (1962), Wijewardana và cs (1968, 1986)[96], đã phân lập vi khuẩn bằng cách nuôi cấy dịch tiết ở mũi, hầu và các hạch limpho của trâu, bò lấy từ lò mổ De Alwis cho rằng có một tỷ lệ thấp trâu, bò mang

vi khuẩn ở hầu, họng, mũi và tuyến Amidan ở những con vật này có hiệu giá kháng thể cao so với con vật không mang trùng và vi khuẩn thông qua dịch tiết niêm mạc mũi bài tiết ra ngoài gây cảm nhiễm cho gia súc khác Theo

Ackermann và cs (1994)[35], hạch Amidan là nơi cư trú của P multocida

chúng có vai trò bệnh nguyên gây ra viêm khí quản, viêm màng phổi Saharee

và cs (1993)[89], đã phân lập từ đàn bò ở Malaysia và cho rằng trong những khoảng thời gian khác nhau thì sự xuất hiện của vi khuẩn tụ huyết trùng trâu,

bò ở các vị trí trên cũng khác nhau Theo De Alwis (1986)[52] việc lấy mẫu

được nhắc lại ở các thời điểm khác nhau, đã phát hiện những con vật khác nhau mang trùng ở những ngày lấy mẫu cũng khác nhau và tỷ lệ động vật mang trùng ở hầu và họng ít nhất dao động từ 12-40%

De Alwis (1999)[53] cũng cho rằng một số động vật biểu hiện dương tính, sau đó lại âm tính và sau cùng là dương tính Điều này cho thấy có sự xuất hiện thất thường của vi khuẩn trong hầu, họng Do vậy câu hỏi đặt ra là vi khuẩn tụ huyết trùng tồn tại ở đâu trong quá trình tạm thời biến mất ở hầu và họng

Nhiều tác giả nghiên cứu và kết luận hạch Amidan của động vật mang

trùng là vị trí ký sinh của vi khuẩn P Multocida Wijewardana và cs đã kiểm

tra 103 hạch Amidan của trâu, bò từ lò giết mổ trong một vùng có dịch địa

phương và đã phân lập được 49 chủng P.multocida ở điều kiện tự nhiên cũng

Trang 23

tiến hành động vật thí nghiệm hạch Amidan mà tất cả các vi khuẩn tụ huyết trùng cư trú, cư trú ở hạch Amidan không bị các kháng sinh nhạy cảm tiêu diệt Đã được De Alwis (1999)[53] phát hiện ra bằng điều trị những con vật mang trùng, những con vật mang trùng ẩn được điều trị 3 ngày với Oxytetracyline, choloramphenycol hoặc Sulfadimidine và được giết mổ một tuần sau đó Kết quả phân lập vi khuẩn được từ amidan là dương tính Chứng

tỏ rằng kháng sinh đã không có tác dụng với vi khuẩn trong hạch Amidan

Các nhà nghiên cứu đã làm rõ vị trí cư trú của vi khuẩn P multocida trong

hạch amidan bằng cách đã sử dụng các phương pháp hoá sinh miễn dịch để kiểm tra những phần của hạch amidan, của các động vật mang trùng ẩn cho thấy, vi khuẩn không tồn tại trong mô hạch Amidan nhưng tồn tại trong hốc hạch amidan như vậy là nó vẫn tồn tại mặc dù có liệu pháp kháng sinh

Hiện tượng mang trùng ở động vật được các nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng nó tồn tại ở hai thể: thể ẩn và thể hiện De Alwis (1999) [53] cũng

đã chứng minh điều này bằng quan sát thực địa và thí nghiệm động vật Đối với hiện trạng những vùng dịch ở địa phương, hầu hết những động vật trưởng thành có vi khuẩn tụ huyết trùng trong hạch Amidan theo thời gian trong hạch Amidan nhân lên trong hạch Amidan rồi di chuyển đến mũi hầu và tồn tại trong đường hô hấp Những động vật mang trùng thể ẩn này được coi như là nguồn gốc gây bệnh tiềm ẩn

ở Việt Nam, Nguyễn Vĩnh Phước và cs, (1986) [27] cho biết kết quả phân lập từ dịch ngoáy mũi thấy có 5,61% vật mang trùng ở trâu bò khoẻ trong kết quả không ghi rõ có nằm trong vùng dịch hay không Nguyễn Thiên Thu (1996) [33] phân lập được 1- 9,47% khoẻ mang trùng từ dịch ngoáy mũi ở vùng miền nam trung bộ và Tây nguyên Nguyễn Ngã (1996) [23] khi phân lập

từ 30 trâu, bò bệnh một số tỉnh nam trung bộ đều phân lập được P multocida

Nguyễn Vĩnh Phước (1996) [27] cho rằng vật mang trùng là nguồn bệnh tiềm tàng gây lên những vụ dịch THT ở các tỉnh phía Nam và các yếu tố Strees

Trang 24

đóng vai trò rất lớn trong điều kiện phát sinh dịch bệnh.Tác giả còn nhấn

mạnh rằng các vi khuẩn phân lập được từ vật mang trùng đều có độc lực

chúng, có khả năng phát sinh dịch khi cơ thể vật chủ mất cân bằng giữa thể

trạng sức khoẻ và mầm bệnh, khả năng này còn phụ thuộc vào điều kiện thời

tiết khí hậu và vùng địa lý nơi động vật sinh sống

Như vậy các kết quả nghiên cứu đã khẳng định trạng thái mang trùng có

liên quan đến khả năng mắc bệnh của trâu, bò Bởi ở trâu, bò khoẻ mang trùng

thì vi khuẩn P multocida tồn tại trong hầu, họng và hạch Amidan

2.3.3 Sự truyền lây

Một số tác giả cho rằng bệnh là động vật hoang dã như chồn, cáo, thỏ

rừng, các loại gậm nhấm và các loại côn trùng, ruồi trâu rất nhạy cảm với vi

khuẩn trong điều kiện tự nhiên, chúng ăn xác súc vật chết vì bệnh, rồi cũng

chết vì bệnh cấp tính và xác của chúng trở thành nguồn bệnh nguy hiểm cho

gia súc Nhưng có loại chuột xám chúng thường có bệnh mãn tính kéo dài đến

hàng tháng nên chúng gieo rắc mầm bệnh ra ngoại cảnh và rồi chết, cả xác

của chúng cũng trở thành nguồn bệnh cho gia súc, những con chuột không

chết mang trùng cũng truyền bệnh cho trâu, bò

Bệnh còn phát sinh lây lan từ những vùng đất thấp lầy lội ngập úng

vùng có nhiều ruộng nước, nhiều kênh rạch, điều kiện khí hậu bất lợi, chăn

nuôi kém phát triển là điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn tồn tại lâu hơn và có

điều kiện để truyền gián tiếp từ con này sang con khác De Alwis (1999)[53]

và một số tác giả nghiên cứu cho thấy sự lây truyền của bệnh THT và đưa ra

chu trình dịch tễ học của bệnh Trước hết cho rằng bệnh xẩy ra là do động vật

mang trùng tiếp súc với các động vật không có miễn dịch, các tác giả đã

nghiên cứu trong vùng dịch địa phương, sau khi vụ dịch xẩy ra, một số lượng

lớn động vật sống sót và trở thành những động vật mang trùng tiềm ẩn, chúng

thỉnh thoảng thải trùng ra môi trường theo thời gian, trường hợp bệnh đầu tiên

xuất hiện khi con vật nhạy cảm tiếp súc với con vật còn sống sau vụ dịch trước

Trang 25

hoặc do tiếp súc với con vật từ nơi khác đến

Nguyên nhân chính là do sự vận chuyển động vật từ vùng này tới vùng khác, những con gia súc mang trùng từ vùng có dịch xâm nhập vào các vùng chưa có dịch là nguyên nhân quan trọng làm cho vật phát sinh dịch tụ huyết trùng (Sharee và cs,1992[89])

2.4 Triệu chứng bệnh tích đặc trưng của bệnh tụ huyết trùng 2.4.1 Triệu chứng

Các tác giả cho rằng bệnh THT trâu bò là một bệnh truyền nhiễm, bệnh thường xảy ra với các triệu chứng lâm sàng chủ yếu là sốt cao, biếng ăn, chảy nước dãi, khó thở, thuỳ thũng, vùng hầu, xuất huyết, sưng hạch, viêm phổi Bệnh kéo dài từ vài giờ đến vài ngày và động vật chết ở giai đoạn cuối do nhiễm trùng máu xuất huyết: Theo De Alwis (1999)[53], sự chuyển biến của bệnh có nhiều giai đoạn , khoảng thời gian của bệnh phụ thuộc vào đường cảm nhiễm, cảm nhiễm qua 12giờ đến 14giờ, qua đường không khí là 30giờ, cảm nhiễm tự nhiên là 46giờ đến 80giờ, thể bệnh quá cấp tính thường kéo dài 4 giờ

đến 12 giờ, trong trường hợp cấp tính là 2 ngày đến 3 ngày

ở việt nam , Nguyễn vĩnh Phước (1978)[25] cho biết bệnh tụ huyết trùng thường thấy các thể: quá cấp tính, cấp tính, thể mãn tính

- Thể cấp tính: thời gian ủ bệnh từ 1 đến 3 ngày, con vật mệt mỏi, ít vận

động, không nhai lại, thân nhiệt tăng 400C đến 410C, niêm mạc mắt đỏ, sau tím tái, con vật chảy nước mắt, nước mũi, triệu chứng tập trung ở 3 dạng chính:

+ Vi khuẩn khu trú ở ngực, con vật thường ho khan, ho nhỏ hoặc ho từng cơn, nước mũi đặc có lẫn mủ

+ Vi khuẩn khu trú ở vùng bụng, xuất hiện triệu chứng viêm ruột, lúc

đầu phân táo sau đi lỏng có lẫn máu, bụng thường chướng to

+ Vi khuẩn khu trú tại hạch lâm ba, xuất hiện các hạch sưng to, thuỳ thũng, những hạch nhìn thấy được là những hạch trước vai, hạch sau hầu, hạch

Trang 26

bẹn nông, hạch khoeo chân, ở dạng này bệnh có biểu hiện dạng què Thường thì các triệu chứng trở nên trầm trọng khi con vật gần chết

- Thể quá cấp tính: Con vật hung dữ, điên cuồng, trước khi chết run rẩy giãy dụa và chết trong khoảng 12 giờ -

- Thể mãn tính: Bệnh tiến triển chậm các triệu chứng lâm sàng tương tự như thể cấp tính, con vật có thể chết do suy dinh dưỡng hoặc có thể khỏi, song gầy yếu khó hồi phục

2.4.2 Bệnh tích

Bệnh tích điển hình là tụ huyết và xuất huyết, các tổ chức dưới da, bắp thịt và hạch lâm ba xuất huyết lấm tấm Khi bệnh khu trú ở ngực, xoang ngực, xoang bao tim chứa nước vàng, có khi viêm dính màng phổi với màng bao tim, khi bệnh khu trú ở bụng xuất hiện viêm phúc mạc có nước vàng, có thuỳ thũng và xuất huyết ở hạch ruột, phủ tạng.trong các trường hợp quá cấp tính thường không thể hiện bệnh tích điển hình

Một số tác giả khi nghiên cứu, các chỉ số huyết thanh học đẵ cho thấy

sự tăng bạch cầu trung tính trong các mẫu máu và dịch phế quản, phế nang, sự tăng bạch cầu đã làm xuất hiện các tổn thương phổi nặng nề hơn (Weiss, DJ

và cs,1991[91])

2.5 Vi khuẩn gây bệnh tụ huyết trùng

Bain và cs (1992)[38] cho thấy thể nhiễm trùng máu xuất huyết

(Pasteurellosis haemorrhagic Septicaemia) ở các nước châu á và châu phi là

do P multocida typ B: 2 và E: 2 gây ra

Các vi khuẩn Pasteurella gây bệnh cho động vật có đặc tính chung, căn

bản giống nhau về đặc tính hình thái và đặc tính nuôi cấy, nhưng nó gây bệnh

theo từng loại vật Vi khuẩn Pasteurella gây bệnh cho gà thường chỉ độc với

gà, Pasteurella gây bệnh cho lợn cơ bản giống gà nhưng không độc đối với

gà, vi khuẩn Pasteurella gây bệnh cho bò có thể gây độc cho lợn, vi khuẩn

Trang 27

Pasteurella gây bệnh cho dê thì độc đối với bò

Nhưng ở trong thiên nhiên có nhiều loài vật mẫn cảm với một loại vi

khuẩn Pasteurella không phân biệt nguồn gốc Vi khuẩn Pasteurella ở gà

không lây bệnh cho lợn nhưng lợn ăn phải gà chết bị chết vì tụ huyết trùng sẽ

có thể mắc bệnh mà chết có thể bị nhiễm bệnh cùng một lúc lượng vi khuẩn

và lượng độc tố lớn Carter, G.R; Chengappa, M.M (1991) [48] bằng kỹ thuật

đánh dấu trên màng nhầy đã phát hiện các Serotype B2 gây nhiễm trùng xuất huyết ở bò Type B: 3,4 gặp ở hươu nai và type B3 ở bò

Các nghiên cứu đều cho thấy rằng khi phân lập từ dịch ngoáy mũi, hạch amidan và các vết thương ở trâu, bò, thấy có nhiều loại vi khuẩn như:

Pasteurella multocida, Pasteurella haemolytica, Mycoplasma bovine Tuy

nhiên nguyên nhân chính gây bệnh THT ở trâu, bò chủ yếu là do vi khuẩn

Pasteurella multocida gây nên

Tóm tắt bệnh do vi khuẩn P multocida gây nên như sau:

- ở bò THT (Haemorrhagie Septicacmia), viêm phổi bò Pasteurella),

viêm khớp

- ở trâu THT nhiễm trùng máu xuất huyết (Haemorrhagie Septicacmia pasteurellosis)

- ở cừu, dê gây viêm phổi xuất huyết, viêm teo mũi

- ở gà, vịt gây tụ huyết trùng

- ở thỏ gây viêm nghẹt mũi

2.6 Đặc điểm hình thái và tính chất nuôi cấy vi khuẩn Pasteurella multocida

2.6.1 Đặc điểm hình thái của vi khuẩn tụ huyết trùng multocida

Vi khuẩn THT multocida là loài hiếu khí hay yếm khí tuỳ tiện có dạng

cầu trực khuẩn bắt màu gram âm và có kích thước từ 1,0- 2 àm x 0,3-1,0 àm

Trang 28

Vi khuẩn có giáp mô không sinh nha bào và bắt màu lưỡng cực, vi khuẩn có thể đứng riêng lẻ hoặc đứng thành đôi theo smith (1959) [93] kích thước và hình thái của vi khuẩn có sự thay đổi phụ thuộc vào nguồn gốc của chúng Vi khuẩn phân lập từ bò có kích thước đồng nhất (0,5 àm-1,2 àm) Carter (1967) [44] cho rằng tính đa dạng của vi khuẩn liên quan đến trong điều kiện chuồng nuôi thiếu oxy Vi khuẩn thường đồng nhất trong máu động vật, trong môi trường nuôi cấy vi khuẩn thường có nhiều hình dạng như hình trứng , hình cầu.Trong canh khuẩn nuôi cấy vi khuẩn có hình gậy một số hình trứng hoặc hình cầu

Theo Rosenbush và Merchant (1993) [84] khi nuôi cấy vi khuẩn trong môi trường có thêm cacbon vi khuẩn thường mọc thành chuỗi, hình thái của vi khuẩn còn thay đổi theo hình thái của nó, kích thước của vi khuẩn có giáp mô còn lớn hơn vi khuẩn không giáp mô

P.multocida là vi khuẩn gram âm, trong môi trường nuôi cấy mới và tổ

chức động vật vi khuẩn bắt màu lưỡng cực đặc trưng khi nhuộm với Leishman hoặc xanh methylene Nếu nuôi cấy trong môi trường nhân tạo thì ít thấy tính chất này Manniger (1919) [67] giải thích tính lưỡng cực của vi khuẩn là do tế bào vi khuẩn đang ở giai đoạn sinh sản, trước khi phân chia các tế bào phát triển trong động vật hay trong môi trường nuôi cấy để lâu vi khuẩn tăng lên về kích thước, nguyên sinh chất tập trung ở hai đầu tế bào nên khi nhuộm thấy dạng khuẩn lưỡng cực, phần thân tế bào không bắt màu

2.6.2 Đặc tính nuôi cấy

Vi khuẩn P multocida có thể nuôi cấy ở nhiều loại môi trường: thể

lỏng, thể đặc hoặc bán cố thể, môi trường có thể cho thêm chất kích thích

P multocida phát triển ức chế các loại vi khuẩn khác, tuỳ vào mục đích

nghiên cứu mà cho thêm vào môi trường các loại đường, axít amin và các hoá chất khác nhau để đánh giá vi khuẩn

Trong môi trường nước thịt Hotinger hoặc Martin sau khi nuôi cấy 24

Trang 29

giờ P multocida phát triển làm đục nhẹ môi trường, khi lắc nhẹ có vẩn đục

như sương mù sau đó mất dần Nếu để quá 24 giờ dưới đáy có lắng cặn nhầy

và bên trong có màng mỏng

Theo Carter (1952)[40] cho biết trong môi trường nước thịt, vi khuẩn P multocida mọc tốt tạo mùi tanh đặc trưng, mùi tanh đặc trưng này thể hiện rõ

nhất ở pha phát triển nhanh Sau khi nuôi cấy lâu, mùi tanh này mất dần

Nuôi cấy trên môi trường thạch thường ở 370C sau 24 giờ vi khuẩn

P.multocida phát triển thành khuẩn lạc sau:

- Dạng S (Smouth) khuẩn lạc có mặt vồng trơn bóng loáng, dung quang sắc cồng vồng, độc lực mạnh, vi khuẩn thuộc dạng khuẩn lạc này, thường tạo lớp giáp mô nhiều hơn loại xù xì

- Dạng M (Mucoid) khuẩn lạc nhầy ướt, kích thước to nhất dung quang sắc cầu vồng, độc lực yếu hơn dạng S

- Dạng R (Rough) khuẩn lạc dẹt rìa nhám, xù xì, dung quang màu xanh, dạng này độc lực yếu

Khi nuôi cấy trên môi trường thạch máu, khuẩn lạc phát triển hình tròn, kích thước lớn hơn thạch thường, trên môi trường thạch huyết cầu tố và huyết thanh

Nguyễn vĩnh Phước (1964) [24] cho rằng đây là môi trường đặc biệt để

giám định và kiểm tra độc lực của vi khuẩn P multocida Khi nuôi cấy vi khuẩn P.multocida phát triển thành khuẩn lạc nhỏ, rìa gọn, xung quanh mép

rìa khuẩn lạc có hiện tượng phát huỳnh quang Khuẩn lạc dạng S có dung quang màu xanh lơ chiếm tỷ lệ 2/3, còn lại là khuẩn lạc R có dung quang

vàng Theo Hudson (1954) [61] nhiệt độ thích hợp nhất cho vi khuẩn P multocida phát triển là 370C với pH từ 7,2 -7,6 Nhiệt độ với pH < 6 hoặc pH

> 8,5 vi khuẩn mọc kém, nếu vi khuẩn mọc tốt cho thêm vào môi trường 10% huyết thanh động vật Hoàng Đạo Phấn (1986)[17] cho thấy vi khuẩn mọc tốt trong môi trường nước thịt peptol, sau một ngày đêm vi khuẩn làm

5%-đục môi trường nhưng vài ngày nước thịt trở nên trong, đáy có cặn lắc khó tan

Trang 30

Tác giả cho rằng để giữ giống tươi, cần cấy chuyển vi khuẩn qua môi trường

thạch máu, vì vi khuẩn mới được phân lập mọc tốt trong các môi trường nuôi

cấy thông thường, nhưng khi nuôi cấy tiếp sẽ mọc yếu, vì vậy phải cho thêm

vào môi trường nuôi cấy huyết thanh máu vỡ

Theo Nguyễn Như Thanh (1997)[31] độc lực của vi khuẩn giảm dần từ

dạng S đến dạng R Theo Carter (1952) [41] và Rimler (1992) [88] khuẩn lạc

của vi khuẩn P multocida tập trung ở 2 dạng chính: khuẩn lạc có dung quang

sắc cầu vồng và khuẩn lạc có dung quang màu xanh Dung quang của khuẩn

lạc liên quan đến vỏ nhầy của vi khuẩn, vi khuẩn có khuẩn lạc dung quang sắc

cầu vồng đứng riêng lẻ hoặc từng đôi có vỏ nhầy và rất độc, thường gây bệnh

thể cấp tính, khuẩn lạc có dung quang màu xanh kém độc lực hơn dạng S,

thường gặp ở những gia súc bị bệnh theo tính chất vùng dịch địa phương

(Rimler và Rohoades (1987) [86]) ,

Rimler (1992b) [88]) Theo Hedleston và cs (1996) [63] xác định

những khuẩn lạc của vi khuẩn mới phân lập có dung quang không đồng đều và

có xu hướng dính vào nhau Dung quang của khuẩn lạc cũng thay đổi khi cấy

chuyển nhiều lần qua môi trường dinh dưỡng hoặc tiêm truyền qua động vật

thí nghiệm khuẩn lạc có thể chuyển từ dạng S sang dạng M hoặc dạng R và

ngược lại Rosenbush và Merchant (1939) [84] cho rằng khi cấy vi khuẩn

P.multocida trên thạch máu hay tiêm truyền qua động vật thí nghiệm, khuẩn

lạc của vi khuẩn được tăng cường độ dung quang Tác giả giải thích rằng hiện

tượng dung quang của khuẩn lạc vi khuẩn có liên quan đến tính chất của một

số hợp chất có khả năng hấp thụ những tia ánh sáng nhất định có trong vi

khuẩn Vi khuẩn nuôi cấy lâu ngày hoặc cấy chuyển nhiều lần thì khuẩn lạc

có sự thay đổi

Rimler và Rohoades (1989) [87] nhận xét rằng khi nuôi cấy lâu ngày

thì kích thước khuẩn lạc sẽ lớn hơn, nhớt và dính chặt vào khuẩn lạc gọi là

khuẩn lạc già và khi cấy chuyển nhiều lần giáp mô bị mất, kích thước của vi

Trang 31

khuẩn sẽ nhỏ lại không màu và trong suốt

Theo Namioka và Mutara (1961) [74] môi trường nuôi cấy tốt nhất cho

vi khuẩn P multocida là môi trường YPC (Yeast extract Pepton,L.cystine) có

thêm Sucrose và Sodium sunfate Đây cũng là môi trường giúp tái tạo mô của

vi khuẩn Prince (1969) [82] cũng cho rằng tính chất kháng nguyên của vi khuẩn tăng lên rõ ràng khi được nuôi cấy ở môi trường YPC này có bổ xung thêm máu Nhưng Jordan (1952) [65] lưu ý rằng máu có thể được thay thế bằng Hematin, sodium sunfat Để làm tăng số lượng khuẩn lạc trên môi trường rắn có thể cho thêm Pantothenate, Thiamin và L.cystine Moriss (1958) [71] đã đưa ra một môi trường chọn lọc để nuôi cấy và phân lập vi khuẩn từ các mẫu tạp khuẩn và cho thêm kháng sinh Neomycine có tác dụng ngăn chặn

sự phát triển của Pasteurella pseudotubecculosis để vi khuẩn P.multocida phát triển

Theo Namioka và Murata (1961) [74] môi trường để phân lập, nuôi giữ

và thu hoạch kháng nguyên, môi trường giữ giống tươi và đông khô dùng cho

vi khuẩn P multocida như sau: Môi trường phân lập, môi trường thạch có

thêm 5%-10% huyết thanh thỏ hoặc ngựa

Môi trường nuôi cấy và thu hoạch kháng nguyên: môi trường YPC thạch, môi trường này giúp phục hồi những khuẩn lạc thoái hoá và thu được những kháng nguyên có chất lượng dùng trong các phản ứng sinh hoá và định type vi khuẩn Khi giữ giống tươi có thể dùng môi trường này đậy nút kín ở

40C giữ được 2-3 tuần

Để đông khô giữ giống: dùng môi trường YPC không cho thạch mà cho thêm 1,0 gam sucrose 1,0 gam sodium glutamic, vi khuẩn ở dạng đông khô có thể giữ được10 năm trong điều kiện 40C

Trong quá trình nuôi cấy vi khuẩn ở môi trường lỏng, người ta có thể dùng phương pháp sục khí, để tăng cường sự phát triển của vi khuẩn

P.multocida Khi so sánh 2 phương pháp nuôi: sục khí và cấy tĩnh thấy số

lượng vi khuẩn tăng lên gấp 20 lần ở cùng loại môi trường, người ta áp dụng

Trang 32

phương pháp nuôi cấy này để tăng số lượng vi khuẩn trong 1ml canh trùng và

để rút ngắn thời gian nuôi cấy trong sản xuất vaccin phòng bệnh

2.6.3 Đặc tính sinh hoá của vi khuẩn P.multocida

Có nhiều công trình nghiên cứu, đặc tính sinh hoá của vi khuẩn

P.multocida và dựa vào các đặc tính và các phản ứng sinh hoá này của vi khuẩn P.multocida để xác định và phân biệt với các loài vi khuẩn khác và

chủng vi khuẩn có nguồn gốc từ các loài động vật khác nhau Lignieres (1900)

[67] cho thấy vi khuẩn P.multocida làm tan chảy gelatin, không phân giải lactose, không sinh Indol và đã chia vi khuẩn P multocida làm 3 nhóm:

- Nhóm 1: gồm các nhóm phân giải lactose, maltose, glucose, mannit, gây dung huyết

- Nhóm 2: gồm các vi khuẩn phân giải glucose,sacharose, mannit, không phân giải Lactose, maltose, không dung huyết

- Nhóm 3: gồm các vi khuẩn phân giải glucose, sacharose, mannit, lactose, maltose, không dung huyết

Abdullahi MZ và CS (1989) [36] nghiên cứu khả năng dung huyết của

các chủng P.multocida và kết luận rằng tất cả đều không gây dung huyết, khi nghiên cứu về phản ứng Indol của các chủng P multocida đã xác định là P.multocida sản sinh Indole

Rosenbush và merchant nghiên cứu các chủng P.multocida đã chia

Trang 33

Tác giả còn cho thấy rằng khi nuôi cấy lâu trong phòng thí nghiệm vi khuẩn mất khả năng phân giải Arabinose và xylose Tất cả các chủng nghiên cứu trên đều sinh Indol không di động, không dung huyết và không phân giải Urea

Carter (1952) [40] đã cho rằng các chủng P.multocida type A phân giải

Arabinose và Dullitol, không phân giải Xylose Các chủng type B và type C phân giải xylose nhưng không phân giải Arabinose và Dulcitol Chúng còn phân giải Glerecose, Inositol, Dextrin và tinh bột Một số chủng phân giải yếu Sorbitol, Glycorol và Fructose tạo thành axít

Fridericksen (1973) [79] khi nghiên cứu sinh hoá của vi khuẩn

P.multocida và đã chia P.multocida thành 6 biotype:

- Type 1: phân gải Arabinose

- Type 2,3,4: không phân giải Arabinose

- Type 1,6: phân giải Xylose

- Type 6: không phân giải Mannitol và sorbitol

Cả 6 type đều âm tính trong các phản ứng Haemolysis.VP, MR, Urea,

H2S, OMPG, Pheninalin Dezaminaze, Arginin, Decarboxylase, Gelatin, Lactose, Mantose Dulcitol, Insit, Salixin,Adonit, Kalicitrat, Cellobiose, và Esculin, trừ type I, các type còn lại đều âm tính với Lyzin Decarboxylase

Tác giả cho kết quả so sánh về tính chất sinh hoá giữa các chủng P

pneumotropica, P.urea, P.haemolytica (typeAT3 và Galinatum) và

Actinobacillus

Về đặc tính sinh hoá của P.multocida gồm các phản ứng cơ bản:

- Dương tính trong các phản ứng Indol, Nitrat, Catalase

- Âm tính trong các phản ứng ONPG, Urea, Haemolyse, VP, MR Đối với các phản ứng phân giải lên men không sinh hơi các loại đường Các chủng

P.multocida phân giải Glucose, Galactose, Maltose, Dulatol và Rafinose

không phân giải Lactose, Maltose, Arabinase và Dulcitol

Trang 34

Pasteurella Phản ứng

và môi trường Multocida haemolytica Anatipestiter Gallinarum

- + +

- +

- +

-

+ +

-

- + +

- +

- +

- + + +

-

Mỗi loại vi khuẩn có sự trao đổi chất riêng của nó, quá trình trao đổi

chất là quá trình hấp thụ chất dinh dưỡng để sống và phát triển, đồng thời cũng

đào thải những chất không cần thiết cho tế bào vi khuẩn và những chất thải của

nó ra ngoài Những chất đào thải đó ở mỗi loại vi khuẩn có khác nhau, do đó sự

trao đổi chất khác nhau của vi khuẩn dẫn đến sự khác nhau về tính chất sinh

hoá của từng loại vi khuẩn Dựa trên sự khác nhau về tính chất sinh hoá, để ứng

dụng vào việc chẩn đoán phân lập vi khuẩn, những phản ứng sinh hoá này của

vi khuẩn P multocida được xác định để phân biệt với các loài vi khuẩn khác,

dùng để xác định các chủng vi khuẩn từ các loài động vật khác nhau và dùng để

phân biệt các loài vi khuẩn khác thuộc giống Pasteurella Namiok (1979)[75]

đã căn cứ vào tính chất sinh hoá của vi khuẩn để phân biệt các khuẩn thuộc

giống Pasteurella

Trang 35

2.6.4 Vi khuẩn Pasteurella haemolytica

Theo Espinasse và cs (1991)[57] đã sử dụng phương pháp hơi thở để chẩn đoán bệnh viêm phổi bò và đã phát hiện được bên cạnh sự có mặt cuả vi

khuẩn P.multocida còn có mặt cuả vi khuẩn P.haemoltica A1.nhưng vai trò gây bệnh của vi khuẩn này được đánh giá là rất thấp, ít có khả năng gây bệnh cho trâu, bò Shoo,- M và cs (1990) [90], đã phát hiện thấy trong hạch amidan,

hạch sau hầu của trâu,bò có P.haemolytica song tác giả cho biết là không có bằng chứng để chứng tỏ P.haemolytica liên quan đến bệnh viêm phổi bò Sự

có mặt của P.haemolytica chỉ là đóng góp thêm, làm tăng thêm các tổn thương phổi trong viêm phổi tụ huyết trùng (Pneumonic pasteurellosis) của trâu,bò

Roberst- NH (1990)[85]; Teale,CJ và cs (1990)[94] đẵ phát hiện thấy

P.haemolytica là nguyên nhân gây bệnh viêm vú mùa hè và viêm vú ở tuổi

trưởng thành của bò

Ingh,-TSGAM-VAN và cs (1990) [55] đã làm thực nghiệm tiêm truyền

vào phế nang độc tố tế bào màng nhầy của P.haemolytica và đã quan sát được

sự hình thành các cục huyết khối thứ phát, sự tràn ngập phế nang, sự lắng

đọng fibrin, mất biểu mô phế nang, không có độc tố tế bào được quan sát ở khí quản

Như vậy P.haemolytica là loại vi khuẩn được biết đến như là vai trò có

liên quan vào việc đóng góp thêm các triệu chứng và các tổn thương phổi và một số nhiễm trùng khác

Việc nghiên cứu loài vi khuẩn này nhằm hiểu biết thêm về bệnh nhiễm trùng huyết xuất huyết ở trâu, bò (Haemorrhagic Septicaemia) và để so sánh

phân biệt với vi khuẩn P.multocida

Rimler (1992)[88] đã tiến hành phản ứng phân huỷ cacbon và phản ứng

sinh hoá để phân biệt P.multocida với P.haemolytica

Trang 36

Các phản ứng sinh hoá để phân biệt P.multocida với P.haemolytica

-

+ +

-

-

+

+/- +/- +/-

-

+

P.haemolytica đã xác định có các biotype được ký hiệu là A và T dựa

trên khả năng lên men đường Arabinose và không lên men đường Trihalose, dựa vào phản ứng ngưng kết gián tiếp hồng cầu đến nay đã xác định được 16

serotype kháng nguyên thân ký hiệu từ 1-16 Các chủng P.haemolytica này

không dẫn đến khả năng gây bệnh ở các loài khác nhau

2.6.5 Đặc tính kháng nguyên của vi khuẩn P.multocida

Kháng nguyên của vi khuẩn P.multocida rất phức tạp, cấu trúc từng loại

kháng nguyên thay đổi Cho đến nay các nhà khoa học đã xác định được

kháng nguyên của P.multocida có 2 loại là kháng nguyên vỏ (K) và kháng

nguyên thân (O)

-Kháng nguyên vỏ (K) chính là lớp vỏ bao xung quanh vi khuẩn, che cho kháng nguyên O khỏi bị các phage tác dụng của kháng thể O Do đó muốn phát hiện kháng nguyên O phải phá huỷ kháng nguyên K hoặc dùng

Trang 37

phương pháp nuôi cấy cho vi khuẩn hình thành kháng nguyên giáp mô K, kháng nguyên giáp mô K chỉ có ở vi khuẩn tụ huyết trùng tạo khuẩn lạc S và không bao giờ gặp ở vi khuẩn tạo khuẩn lạc dạng nhầy M và xù xì dạng R

- Kháng nguyên thân ( kháng nguyên O) là kháng nguyên thành tế bào

của vi P.multocida, các kháng nguyên O chỉ được bộc lộ khi kháng nguyên K

Nhiều tác giả nghiên cứu kháng nguyên protein cho rằng kháng nguyên này rất thông dụng và được coi là yếu tố miễn dịch quan trọng Dhada (1959) [49] cho rằng khi trâu được miễn dịch bằng protein chiết xuất từ giáp mô của

P.multocida có thêm bổ trợ dầu đã tạo được miễn dịch thời gian dài từ 4 tháng

đến 2 năm Kháng nguyên lypopolysaccharid (LPS) cũng được nhiều tác giả nhận xét rằng riêng LPS không phải là kháng nguyên gây miễn dịch bảo hộ mạnh Cho nên khó có thể nói vai trò của LPS là một chất gây miễn dịch

Ramdani và Adler (1991)[83] cho rằng lypoposaccharid đóng vai trò

phụ trong bảo hộ chống lại sự nhiễm trùng của P.multocida type B, ít nhất là

đối với động vật thí nghiệm Kháng nguyên polysaccharid là một loại kháng nguyên giáp mô của vi khuẩn THT nhưng không có khả năng gây miễn dịch

Đã được Muniandy và cs (1992) [72] nghiên cứu khả năng bảo hộ của polysaccharid tinh khiết không có khả năng gây độc và bảo hộ đối với chuột thí nghiệm với liều tiêm là 300àg

Trang 38

2.6.6 Thành phần giáp mô và độc lực của vi khuẩn

Nhiều tác giả nghiên cứu độc lực của vi khuẩn P.multocida đã khẳng

định độc lực của vi khuẩn P.multocida liên quan chặt chẽ với giáp mô của vi khuẩn Vi khuẩn P.multocida sản sinh trong điều kiện nhất định sẽ sinh ra

giáp mô bao quanh tế bào Manniger (1919)[68] đã xác định những vi khuẩn

có giáp mô thì thấy có độc lực và những vi khuẩn không có giáp mô thì thấy không có độc lực Theo Caster (1967) [44] cho biết những vi khuẩn

P.multocida phân lập được từ động vật mắc bệnh cấp tính sẽ thấy có giáp mô

và có độc lực Khi nuôi cấy vi khuẩn này lâu trong môi trường nhân tạo, giáp mô của vi khuẩn sẽ mất và vi khuẩn không còn độc lực Nhưng ta lại cấy tiếp

vi khuẩn mất giáp mô này trong môi trường cho thêm máu hay tiêm truyền

qua động vật thí nghiệm thì vi khuẩn P.multocida tái tạo lại giáp mô và thể

hiện độc lực Caster còn cho rằng khi nuôi cấy vi khuẩn ở 370C trong môi trường nhân tạo qua một đêm thấy vi khuẩn phát triển giáp mô đầy đủ, sau đó mất dần đi Điều này chứng tỏ giáp mô chỉ tồn tại ở những vi khuẩn non

Theo Mannige (1919)[68] cho rằng độc lực của vi khuẩn rất phức tạp và không ổn định, nó còn phụ thuộc vào từng chủng vi khuẩn loài động vật mà

nó tồn tại

Theo tác giả thì khả năng xâm nhập và sự phát triển của vi khuẩn ở trong ký chủ là nhờ sự có mặt của giáp mô Một chủng mất khả năng tái tạo giáp mô cũng sẽ không còn độc lực Nhiều chủng khi phân lập có giáp mô rõ ràng nhưng độc lực lại ít, vì độc lực của vi khuẩn có thể phụ thuộc vào cấu trúc hoá học của giáp mô hơn là sự có mặt của chúng Có thể nhuộm được lớp

vỏ giáp mô của vi khuẩn bằng phương pháp nhuộm Hiss và phương pháp nhuộm Anthony

2.6.7 Yếu tố bám dính của vi khuẩn

Các nghiên cứu phát hiện ra rằng các chủng của serotype A và B bám dính vào tế bào biểu bì khí quản không được chắc lắm Tuy nhiên chủng

Trang 39

serotype A bám dính tốt hơn và các tác giả cũng cho biết chủng serotype A bám dính phần lớn vào biểu bì có lông nhung

Theo PiJoan và Trigo (1988) [81] cũng phát hiện của 2 chủng serotype

A và B đều bám dính thưa thớt, nhưng phần lớn chủng serotype D lại bám dính vào tế bào không có lông nhung, có lẽ các chủng serotype A và D đều có các thụ quan khác nhau đối với sự bám dính tế bào Sự bám dính không tốt

vào tế bào biểu bì nhưng vi khuẩn P.multocida lại rất rễ bám dính trên bề mặt

niêm mạc vòm mũi, có thể đây là vị trí thuận lợi nhất cho vi khuẩn

P.multocida khu trú và gây bệnh

Tính bám dính là chỉ tiêu quan trọng để giải thích quá trình sinh bệnh

của vi khuẩn P.multocida, khả năng bám dính càng lớn thì khả năng gây bệnh càng cao

2.6.8 Khả năng mẫn cảm với kháng sinh của vi khuẩn

Các nhà nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam khi nghiên cứu tính mẫn

cảm với kháng sinh của vi khuẩn P.multocida, đều có nhận xét rằng vi khuẩn

có tính mẫn cảm với rất nhiều loại kháng sinh nhưng nó cũng đang có xu hướng kháng lại nhiều loại kháng sinh Căn cứ vào đó người ta đưa ra phác đồ

điều trị bệnh hợp lý đạt hiệu quả cao

Theo De Alwis (1999) [53] dã kiểm tra khả năng mẫn cảm với kháng

sinh của 10 chủng P.multocida thu được từ các nước Thái lan, Indonesia, ấn

độ, Malaysia, Myanma và Srilanka, đối với 10 loại kháng sinh phổ biến được sửdụng là: Penicilline, Ampicilline, Streptomicine, Tetracyline,Choramphenycol, Erythromycine, Neomycine, Sulfadiazine và một hỗn hợp Sulfanamide -

Trimethoprim đã kết luận rằng không có sự kháng sinh Riêng ở Thái lan các chủng có một phần kháng Streptomicine

ở Việt Nam nhiều tác giả cũng chứng minh vi khuẩn P.multocida, mẫn cảm với nhiều loại kháng sinh Cao Văn Hồng (2001) [13] đã thử tính mẫn cảm của 9 loại kháng sinh với 29 mẫu vi khuẩn THT phân lập được là

Trang 40

Chlotetraciline Chloramphenicol, Neomycine, Ampicilline, Streptomicine, Penicilline, Kanamycine, Gentamycine Qua thử tính mẫn cảm, tác giả đã kết

luận các chủng P.multocida phân lập được mẫn cảm 100% với

Chlotetracilline, Ampicilline, tiếp đến là các loại kháng sinh Chloramphenicol, Gentamycine và Kanamycine có tỷ lệ mẫn cảm là 93,10%

và 89,66%, kháng sinh Streptomycine có tỷ lệ mẫn cảm là 75,86%, thấp nhất

Trong công tác phòng chống bệnh theo nhiều tác giả coi trọng công tác tiêm phòng bằng vaccin cho trâu, bò là chính Abeynagke (1992) [37] đưa ra nhận xét tiêm phòng là biện pháp tích cực và hiệu quả nhất để khống chế và ngăn chặn dịch bệnh THT trâu, bò Bùi Quý Huy (1998) [14] cũng cho rằng việc sử dụng vaccin THT để tiêm phòng cho gia súc là biện pháp tích cực nhất Phạm Huy Thụy (2000) [34] thông báo khi kết quả tiêm phòng đạt trên 90% thì dịch tễ bệnh được ổn định Đã có nhiều nghiên cứu về vaccin và đưa

ra sử dụng, sử dụng cho từng vùng ra sao, thời điểm dùng vaccin như thế nào,

kỹ thuật tiêm phòng như thế nào là có hiệu quả đó là những vấn đề cần phải quan tâm Đã có nhiều loại vaccin THT được sản xuất và sử dụng ở các nước trên thế giới và Việt Nam:

- Vaccin Bacterin: Là loại vaccin vô hoạt dạng đơn giản nhất, vaccin

Ngày đăng: 04/12/2013, 21:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo cáo khoa học chăn nuôi thú y (2004), Nghiên cứu khả năng đáp ứng miễn dịch của vaccin phòng bệnh THT trâu bò. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng đáp ứng miễn dịch của vaccin phòng bệnh THT trâu bò
Tác giả: Báo cáo khoa học chăn nuôi thú y
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2004
2. Ban t− vấn sử dụng kháng sinh - Bộ y tế (1999), H−ớng dẫn sử dụng kháng sinh. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr: 31 - 38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: H−ớng dẫn sử dụng kháng sinh
Tác giả: Ban t− vấn sử dụng kháng sinh - Bộ y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 1999
3. Bộ môn D−ợc lý - Tr−ờng Đại học y khoa Hà Nội (1998), D−ợc lý học, Nhà xuất bản y học, Hà Nội, tr: 94 - 96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: D−ợc lý học
Tác giả: Bộ môn D−ợc lý - Tr−ờng Đại học y khoa Hà Nội
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 1998
4. Carter (1984), “ Chẩn đoán bệnh nhiễm trùng máu xuất huyết”. Sách về chăn nuôi thú y FAO, 81, Rome. (Ng−ời dịch Lê Minh Trí), NXB Nông nghiệp, Hà Nội, 1994, tr: 59 - 85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chẩn đoán bệnh nhiễm trùng máu xuất huyết
Tác giả: Carter
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1984
7. Tr−ơng Văn Dung (1999), Thành tựu về một số bệnh quan trọng ở vật nuôi và biện pháp phòng trị. Viện thú y Hà Nội, tr: 25 – 34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành tựu về một số bệnh quan trọng ở vật nuôi và biện pháp phòng trị
Tác giả: Tr−ơng Văn Dung
Năm: 1999
8. Bùi Văn Dũng (2000), Nghiên cứu tình hình THT và vi khuẩn Pasteurella phân lập từ dịch ngoáy mũi trâu bò khoẻ mạnh của tỉnh Lai Châu. Luận văn thạc sỹ Nông nghiệp, Tr−ờng Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Nghiên cứu tình hình THT và vi khuẩn Pasteurella phân lập từ dịch ngoáy mũi trâu bò khoẻ mạnh của tỉnh Lai Châu
Tác giả: Bùi Văn Dũng
Năm: 2000
9. Phan Đình Đỗ và Trịnh Văn Thịnh (1958), Bệnh truyền nhiễm gia súc (Những bệnh th−ờng có ở Việt Nam), NXB Nông thôn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh truyền nhiễm gia súc (Những bệnh th−ờng có ở Việt Nam)
Tác giả: Phan Đình Đỗ và Trịnh Văn Thịnh
Nhà XB: NXB Nông thôn
Năm: 1958
10. Bùi Xuân Đồng (2000),“Công tác phòng chống bệnh THT trâu bò tại Hải Phòng” KHKT Thú y, 7(I), tr: 52 - 56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác phòng chống bệnh THT trâu bò tại Hải Phòng"” KHKT Thú y, 7(I)
Tác giả: Bùi Xuân Đồng
Năm: 2000
11. Đỗ Văn Được (1999), “ Tìm hiểu ảnh hưởng của khí hậu đến tình hình dịch bệnh THT trâu bò ở Lạng Sơn” KHKT Thú y, 6(III), tr: 52 - 56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu ảnh hưởng của khí hậu đến tình hình dịch bệnh THT trâu bò ở Lạng Sơn"” KHKT Thú y
Tác giả: Đỗ Văn Được
Năm: 1999
12. Đỗ Văn Đ−ợc (2003), Nghiên cứu một số nguyên nhân, đặc điểm bệnh lý triệu chứng bệnh viêm phổi ở trâu Lạng Sơn và biện pháp phòng chống.Luận án tiến sỹ Nông nghiệp, Tr−ờng Đại học Nông I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số nguyên nhân, đặc điểm bệnh lý triệu chứng bệnh viêm phổi ở trâu Lạng Sơn và biện pháp phòng chống
Tác giả: Đỗ Văn Đ−ợc
Năm: 2003
13. Cao Văn Hồng (2001), Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học bệnh THt trâu, bò, lợn tại Đắk Lắk và một số biện pháp phòng trị. Luận án Tiến sỹ Nông nghiệp, Tr−ờng Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học bệnh THt trâu, bò, lợn tại Đắk Lắk và một số biện pháp phòng trị
Tác giả: Cao Văn Hồng
Năm: 2001
14. Bùi Quý Huy (1998), “Một số đặc điểm bệnh THT ở Việt Nam trong những năm qua”. KHKT Thú y, Hội thú y 5(5), Hà Nội, tr: 91 – 94 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Một số đặc điểm bệnh THT ở Việt Nam trong những năm qua"”. KHKT Thú y, Hội thú y
Tác giả: Bùi Quý Huy
Năm: 1998
15. Bùi Quý Huy và Trần Hữu cổn (1996), “ Công tác phòng chống các bệnh chính cho trâu, bò hiện nay”. KHKT Thú y, Hội thú y Hà Nội 3(IV), tr: 92 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác phòng chống các bệnh chính cho trâu, bò hiện nay"”. KHKT Thú y, Hội thú y Hà Nội 3(IV
Tác giả: Bùi Quý Huy và Trần Hữu cổn
Năm: 1996
16. Hoàng Đăng Huyến (2004), Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, các yếu tố ảnh hưởng đến bệnh THT trâu bò tại Bắc Giang (1995- 2000) và đề xuất một số biện pháp phòng chống. Luận án Tiến sỹ nông nghiệp, Viện thú y, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, các yếu tố ảnh h−ởng đến bệnh THT trâu bò tại Bắc Giang (1995- 2000) và đề xuất một số biện pháp phòng chống
Tác giả: Hoàng Đăng Huyến
Năm: 2004
17. Hoàng Đạo Phấn (1986), “P. multocida và type huyết thanh của chúng”. Tạp chí KHKT Thú y, tr: 1 - 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"P. multocida và type huyết thanh của chúng"”. Tạp chí KHKT Thú y
Tác giả: Hoàng Đạo Phấn
Năm: 1986
18. Phạm Sỹ Lăng, Lê Thị Tài (1994), Thuốc điều trị và vaccin sử dụng trong thú y, Nhà xuất bản Nông nghiệp 1994, tr: 5 - 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuốc điều trị và vaccin sử dụng trong thú y
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Lê Thị Tài
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp 1994
Năm: 1994
19. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch lân (1997), Bệnh trâu bò ở Việt Nam và biện pháp phòng trị. Nhà xuất bản Nông nghiệp 1997, tr: 60 - 67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh trâu bò ở Việt Nam và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch lân
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp 1997
Năm: 1997
20. Dương Thế Long (1995), Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học và vi khuẩn học của bệnh THT trâu, bò ở Sơn La để xác định biện pháp phòng trị thích hợp. Luận án Phó tiến sĩ khoa học Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học và vi khuẩn học của bệnh THT trâu, bò ở Sơn La để xác định biện pháp phòng trị thích hợp
Tác giả: Dương Thế Long
Năm: 1995
21. Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ, Thuốc thú y và cách sử dụng. Nhà xuất bản Nông nghiệp, tr: 21 – 103 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuốc thú y và cách sử dụng
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
22. Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong (1986), Thuốc thú y tập II. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, tr: 174 – 175 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuốc thú y tập II
Tác giả: Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1986

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 4.1: Tình hình trâu bò ốm, chết ở tỉnh Hà Tây  từ năm 2000- 2004 - Luận văn nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng và xác định tỷ lệ mang trùng pasteurella ở đàn trâu, bò tỉnh hà tây
Hình 4.1 Tình hình trâu bò ốm, chết ở tỉnh Hà Tây từ năm 2000- 2004 (Trang 64)
Bảng 4.1: Tình hình trâu bò ốm, chết  ở tỉnh Hà Tây  từ năm 2000- 2004 - Luận văn nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng và xác định tỷ lệ mang trùng pasteurella ở đàn trâu, bò tỉnh hà tây
Bảng 4.1 Tình hình trâu bò ốm, chết ở tỉnh Hà Tây từ năm 2000- 2004 (Trang 64)
Bảng 4.2 và hình 4.2. - Luận văn nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng và xác định tỷ lệ mang trùng pasteurella ở đàn trâu, bò tỉnh hà tây
Bảng 4.2 và hình 4.2 (Trang 65)
Hình 4.2: Tỷ lệ trâu bò ốm chết do bệnh tụ huyết trùng ở tỉnh Hà Tây  từ năm 2000- 2004 - Luận văn nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng và xác định tỷ lệ mang trùng pasteurella ở đàn trâu, bò tỉnh hà tây
Hình 4.2 Tỷ lệ trâu bò ốm chết do bệnh tụ huyết trùng ở tỉnh Hà Tây từ năm 2000- 2004 (Trang 66)
Bảng 4.3: Tình hình trâu bò ốm, chết do bệnh tụ huyết trùng                          ở tỉnh Hà Tây theo mùa vụ từ năm 2000-2004 - Luận văn nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng và xác định tỷ lệ mang trùng pasteurella ở đàn trâu, bò tỉnh hà tây
Bảng 4.3 Tình hình trâu bò ốm, chết do bệnh tụ huyết trùng ở tỉnh Hà Tây theo mùa vụ từ năm 2000-2004 (Trang 67)
Hình 4.3: Tỷ lệ trâu bò ốm, chết do bệnh tụ huyết trùng theo mùa vụ  ở tỉnh Hà Tây từ 2000 – 2004 - Luận văn nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng và xác định tỷ lệ mang trùng pasteurella ở đàn trâu, bò tỉnh hà tây
Hình 4.3 Tỷ lệ trâu bò ốm, chết do bệnh tụ huyết trùng theo mùa vụ ở tỉnh Hà Tây từ 2000 – 2004 (Trang 68)
Bảng 4.4: Tình hình trâu bò bị bệnh tụ huyết trùng ở các tháng trong  năm tại tỉnh Hà Tây từ năm 2000-2004 (Đơn vị tính con/tháng) - Luận văn nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng và xác định tỷ lệ mang trùng pasteurella ở đàn trâu, bò tỉnh hà tây
Bảng 4.4 Tình hình trâu bò bị bệnh tụ huyết trùng ở các tháng trong năm tại tỉnh Hà Tây từ năm 2000-2004 (Đơn vị tính con/tháng) (Trang 69)
Hình 4.4: Tình hình trâu bò bị bệnh tụ huyết trùng ở các tháng   trong năm từ năm 2000-2004 - Luận văn nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng và xác định tỷ lệ mang trùng pasteurella ở đàn trâu, bò tỉnh hà tây
Hình 4.4 Tình hình trâu bò bị bệnh tụ huyết trùng ở các tháng trong năm từ năm 2000-2004 (Trang 71)
Bảng 4.5: Tình hình trâu bò ốm, chết do bệnh tụ huyết trùng ở các lứa tuổi    tỉnh  Hà Tây từ năm 2002 – 2004 - Luận văn nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng và xác định tỷ lệ mang trùng pasteurella ở đàn trâu, bò tỉnh hà tây
Bảng 4.5 Tình hình trâu bò ốm, chết do bệnh tụ huyết trùng ở các lứa tuổi tỉnh Hà Tây từ năm 2002 – 2004 (Trang 73)
Hình 4.5. Tỷ lệ trâu bò ốm, chết do bệnh tụ huyết trùng ở các lứa tuổi  nuôi tại tỉnh  Hà Tây từ năm 2002 – 2004 - Luận văn nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng và xác định tỷ lệ mang trùng pasteurella ở đàn trâu, bò tỉnh hà tây
Hình 4.5. Tỷ lệ trâu bò ốm, chết do bệnh tụ huyết trùng ở các lứa tuổi nuôi tại tỉnh Hà Tây từ năm 2002 – 2004 (Trang 74)
Bảng 4.6: Tình hình trâu bò ốm, chết do bệnh tụ huyết trùng ở vùng sinh  thái của tỉnh Hà Tây từ năm 2000- 2004 - Luận văn nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng và xác định tỷ lệ mang trùng pasteurella ở đàn trâu, bò tỉnh hà tây
Bảng 4.6 Tình hình trâu bò ốm, chết do bệnh tụ huyết trùng ở vùng sinh thái của tỉnh Hà Tây từ năm 2000- 2004 (Trang 75)
Hình 4.6. Tỷ lệ trâu bò ốm chết do bệnh tụ huyết trùng theo vùng sinh  thái  của tỉnh Hà Tây từ năm 2000- 2004 - Luận văn nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng và xác định tỷ lệ mang trùng pasteurella ở đàn trâu, bò tỉnh hà tây
Hình 4.6. Tỷ lệ trâu bò ốm chết do bệnh tụ huyết trùng theo vùng sinh thái của tỉnh Hà Tây từ năm 2000- 2004 (Trang 76)
Hình 4.7 : Tỷ lệ trâu bò ốm chết do bệnh  tụ huyết trùng ở các huyện - Luận văn nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng và xác định tỷ lệ mang trùng pasteurella ở đàn trâu, bò tỉnh hà tây
Hình 4.7 Tỷ lệ trâu bò ốm chết do bệnh tụ huyết trùng ở các huyện (Trang 79)
Hình 4.8: Tỷ lệ tiêm phòng tụ huyết trùng trâu bò của tỉnh Hà Tây   từ năm 2000- 2004 - Luận văn nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng và xác định tỷ lệ mang trùng pasteurella ở đàn trâu, bò tỉnh hà tây
Hình 4.8 Tỷ lệ tiêm phòng tụ huyết trùng trâu bò của tỉnh Hà Tây từ năm 2000- 2004 (Trang 82)
Bảng 4.10. Kết quả phân lập Pasteurella từ dịch ngoáy mũi trâu bò  khoẻ mạnh ở Tỉnh Hà Tây - Luận văn nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng và xác định tỷ lệ mang trùng pasteurella ở đàn trâu, bò tỉnh hà tây
Bảng 4.10. Kết quả phân lập Pasteurella từ dịch ngoáy mũi trâu bò khoẻ mạnh ở Tỉnh Hà Tây (Trang 85)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w