khóa luận
Trang 1Phần I - Mở đầu
1.1 Đặt vấn đề
Cây vải có tên khoa học Litchi chinensis sonn, là loại cây ăn quả lâu năm có giá trị kinh tế cao, thích hợp với điều kiện khí hậu miền Bắc, là cây ăn quả đặc sản của miền Bắc Việt Nam Việc mở rộng diện tích trồng vải đã mang lại lợi ích kinh tế, phục vụ đắc lực công cuộc xoá đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu cho nhiều hộ dân
Đối với những vùng đất đồi gò, nơi đất có độ phì nhiêu thấp thì việc trồng vải là phù hợp vì cây vải có khả năng che phủ, chống xói mòn, chống chịu khô hạn và nghèo dinh dưỡng
Do có lợi thế về điều kiện tự nhiên nên diện tích trồng vải ở các tỉnh miền Bắc đã đạt khoảng trên 40000ha, vải được trồng rộng rãi từ 18 – 190 vĩ bắc trở ra, tập trung chủ yếu là đồng bằng sông Hồng, trung du Bắc bộ và một phần khu 4 cũ
Để phát triển vải bền vững cần có quy hoạch vùng sản xuất, tuyển chọn giống tốt và xây dựng các biện pháp thâm canh thích hợp, vv… để nâng cao năng suất, phẩm chất và hiệu quả kinh tế của việc trồng vải Một trong những biện pháp kỹ thuật thâm canh chính đối với trồng vải là xây dựng quy trình bón phân nhằm cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho cây Đây đang là một khó khăn lớn trong phát triển sản xuất vải Vì những nghiên cứu bón phân cho cây vải
ở Việt Nam còn rất hạn chế Để tạo cơ sở vững chắc cho việc trồng vải trên đất dốc (đất xám feralit), bên cạnh các biện pháp kỹ thuật trồng trọt thông thường (chọn giống tốt; kỹ thuật trồng trọt phù hợp với điều kiện sinh thái…) chúng ta cần đặc biệt quan tâm tới chế độ bón phân cân đối, hợp lý cho cây
Trong một nhiệm kỳ kinh tế, cây vải có ba thời kỳ phát triển chính, có nhu cầu dinh dưỡng và chế độ bón phân khác nhau Trong đó thời kỳ đầu kinh doanh là thời kỳ khó xác định chế độ bón phân nhất; vì thời kỳ này cây vải vừa
Trang 2phát triển tán cây, vừa cho năng suất quả tăng dần Thời kỳ này thường kéo dài làm cho việc kinh doanh không ổn định, gây khó khăn cho người sản xuất
Đây cũng chính là lý do để chúng tôi xây dựng chế độ bón phân hợp lý cho cây vải trên đất xám feralit huyện Đông Triều - Quảng Ninh:
"Nghiên cứu lượng phân bón cho cây vải ở thời kỳ đầu kinh doanh
trên đất xám feralit Đông Triều – Quảng Ninh "
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục đích của đề tài
Xác định lượng phân bón hợp lý cho cây vải ở thời kỳ đầu kinh doanh trên đất xám feralit nhằm đạt năng suất, phẩm chất và hiệu quả sản xuất vải
1.2.2 Yêu cầu của đề tài
1 Đánh giá khả năng cung cấp dinh dưỡng của đất xám feralit cho cây vải
và nhu cầu dinh dưỡng của cây vải ở thời kỳ đầu kinh doanh
2 Xác định công thức bón phân cho cây vải, giúp cây sinh trưởng phát triển tốt, đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả cao
Trang 3PhÇn II - Tæng quan
2.1 §Æc ®iÓm chung cña c©y ¨n qu¶
2.1.1 Đặc điểm sinh trưởng, phát triển của cây ăn quả
Sinh trưởng, phát triển theo nhiệm kỳ kinh tế của cây ăn quả
Nhiệm kỳ kinh tế của cây ăn quả được chia ra 3 thời kỳ phát triển: thời
kỳ kiến thiết cơ bản (hình thành rễ và bộ khung cành lá), thời kỳ kinh doanh
và thời kỳ già cỗi
- Thời kỳ hình thành rễ và bộ khung cành lá, là thời kỳ từ khi trồng cây
đến khi cây cho thu hoạch có ý nghĩa kinh tế Đây là thời kỳ cây phát triển mạnh các cơ quan sinh trưởng, với tốc độ tăng mạnh hàng năm nên có nhu cầu dinh dưỡng phân biệt rõ theo năm Thường thời kỳ này kéo dài khoảng 2 -
3 năm đối víi các cây ăn quả như: ổi, táo, cam quýt nhưng cũng có thể kéo dài từ 5 đến 10 năm đối với các cây như: nhãn, vải, chôm chôm, bơ, mít, xoài, sầu riêng, măng cụt Thời kỳ hình thành rễ và bộ khung cành lá có thể chia
ra thành 2 thời kỳ nhỏ hơn là: Thời kỳ cây con và thời kỳ kiến thiết cơ
bản Thời kỳ cây con được tính từ khi trồng cho đến khi cây ra quả đầu
tiên, đặc trưng bởi sự phát triển mạnh hệ rễ và các cơ quan sinh trưởng
trên mặt đất Thời kỳ kiến thiết cơ bản, đặc trưng bởi sự phát triển mạnh
đường kính thân, các cành khung và lá để tạo tán cây, là tiền đề để ra nhiều quả sau này Để đơn giản trong thực tế thường gọi chung thời kỳ hình thành rễ và bộ khung cành lá là thời kỳ kiến thiết cơ bản
- Thời kỳ kinh doanh của cây ăn quả là thời kỳ cây cho thu hoạch quả, thời
kỳ cây sinh trưởng sinh thực mạnh, có nhu cầu dinh dưỡng phụ thuộc nhiều vào
năng suất quả Thời kỳ này có thể chia ra làm 2: Thời kỳ kinh doanh có năng
suất chưa ổn định, có đặc điểm là cây vừa cho năng suất quả tăng hàng năm
đến đạt cực đại, vừa phát triển các cơ quan sinh trưởng (thân, cành, lá, tán
Trang 4cây) nhưng tốc độ chậm dần Đây là thời kỳ cần được đặc biệt quan tâm trong nghề trồng cây ăn quả vì yêu cầu dinh dưỡng của cây vừa cao vừa thay đổi
hàng năm Thời kỳ kinh doanh có năng suất ổn định, là thời kỳ cây ăn quả có
năng suất quả ổn định, cây ngừng phát triển thêm các cơ quan sinh trưởng và chết các cành phụ mọc dày
- Thời kỳ cây già (cỗi), là thời kỳ cây cho năng suất giảm, chết nhiều
cành phụ, cành khung và xuất hiện các chồi tái sinh trên các cành khung
Như vậy trong một nhiệm kỳ kinh tế của cây ăn quả, cây phát triển theo các thời kỳ sinh trưởng có các đặc trưng khác nhau øng với mỗi thời kỳ phát triển trên, cây ăn quả đòi hỏi các chế độ dinh dưỡng khác nhau nên cần bón phân khác nhau [11]
Sinh trưởng, phát triển trong một năm của cây ăn quả
Chu kỳ sinh trưởng hàng năm của cây ăn quả có thể chia ra làm hai thời
kỳ sinh trưởng chính sau:
Thời kỳ thứ nhất, tính từ khi cây bắt đầu sinh trưởng dinh dưỡng đến
khi cây cho thu hoạch Thời kỳ này có đặc trưng: Phát triển mạnh chồi búp,
lá, hoa, tạo quả của năm hiện tại và tạo các cành sẽ cho hoa quả ở năm sau ë thời kỳ này cây ăn quả đòi hỏi nhiều dinh dưỡng, đặc biệt là đạm
Thời kỳ thứ hai, tính từ sau thu hoạch quả đến hết nghỉ đông Thời kỳ
này có đặc trưng: Cây phát triển hệ rễ, tiếp tục phát triển các cành cho hoa quả ở vụ sau, tăng cường hút các chất dinh dưỡng dự trữ
2.1.2 Đặc điểm dinh dưỡng của cây ăn quả
Cây ăn quả có hệ thống rễ và tán lá cây phát triển Thường vùng đất
rễ cây ăn quả có thể hút dinh dưỡng có đường kính lớn gấp 1,5 - 2,0 lần đường kính tán cây trên mặt đất và có thể đạt tới vài mét tuỳ theo tuổi cây với hệ thống rễ dày đặc Hệ rễ cây ăn quả có thể đạt tới chiều sâu 10m Vì vậy cây ăn quả có thể khai thác được nhiều dinh dưỡng từ đất
Trang 5Bảng 1.2: Lượng chất dinh dưỡng cõy ăn quả lấy đi từ đất trong một năm
(kết quả trung bỡnh của nhiều cõy ăn quả, kg/ha)
Số lượng
Chất dinh dưỡng
( Nguồn: H.Rebour,1968 -Vũ Cụng Hậu, 1996)
Tất nhiờn, nhu cầu dinh dưỡng của cõy ăn quả thay đổi tuỳ theo giống cõy, tuổi cõy, năng suất, đất, thời tiết nhưng nhỡn chung cõy ăn quả cần dinh dưỡng theo thứ tự từ cao đến thấp là: kali, đạm, lõn
Bảng 2.2: Tớnh mẫn cảm của cỏc loại cõy ăn quả
đối với cỏc nguyờn tố dinh dưỡng vi lượng
Mức độ mẫn cảm Loại
nguyờn tố
Mẫn cảm trung bỡnh
Mẫn cảm thấp
Fe Cõy cú mỳi, nho
Mn Cỏc cõy ăn quả, đặc biệt cõy cú mỳi
Zn Cõy cú mỳi, nho
(Viet, 1966; Mortvedt, 1977; Lucas, 1972- Nguyễn Xuõn Trường,2005)
Trang 6Nhu cầu dinh dưỡng của cây ăn quả có sự phân biệt theo sự sinh trưởng
và phát triển trong các năm của một nhiệm kỳ kinh tế và trong một năm của
cây ăn quả
Trong một nhiệm kỳ kinh tế của cây ăn quả, nhu cầu về các chất dinh
dưỡng của cây có xu hướng tăng dần từ khi mới trồng cho đến khi cây cho thu hoạch quả ổn định, rồi khá ổn định ở thời kỳ kinh doanh và giảm dần ở thời kỳ già Trong đó dinh dưỡng đạm và lân có tốc độ tăng mạnh ngay từ thời kỳ đầu sinh trưởng theo năm, còn nhu cầu kali của cây có tốc độ và nhu cầu tăng mạnh
ở giai đoạn kinh doanh của cây ăn quả Thời kỳ kinh doanh, cây đã có quả dù cần cả N, P, K nhưng yêu cầu về tỷ lệ các chất này đã khác ở giai đoạn cây còn non và kiến thiết cơ bản Cây ăn quả vẫn cần đạm và lân để ra thêm lá, ra hoa, đậu quả nhưng cây đặc biệt cần nhiều kali khi quả xúc tiến việc tích luỹ nhiều chất dự trữ
Trong một năm nhu cầu dinh dưỡng của cây ăn quả cũng có sự khác
biệt, đặc biệt rõ đối với cây ăn quả ở thời kỳ kinh doanh:
Sau thu hoạch quả cây có nhu cầu dinh dưỡng cao để bù đắp lượng dinh dưỡng lấy đi theo năng suất quả và chống chịu rét nên đòi hỏi cung cấp dinh dưỡng đạm vừa phải, cung cấp nhiều lân và kali
Thời kỳ cây bắt đầu sinh trưởng dinh dưỡng đến khi cây cho thu
hoạch đòi hỏi nhiều dinh dưỡng, đặc biệt là đạm và kali Trong đó vào đầu
mùa xuân khi cây ăn quả nảy lộc và phát triển mạnh các cơ quan sinh trưởng (lá, cành…) có nhu cầu dinh dưỡng chủ yếu là đạm; còn lân và kali tuỳ theo yêu cầu của từng loại cây Ở giai đoạn tiếp theo trong năm, khi cây
ra hoa, đậu quả, cây ăn quả vẫn cần đạm và lân để ra thêm lá, ra hoa, đậu quả nhưng cây cần nhiều kali, đặc biệt khi quả sắp chín, và khi quả xúc tiến việc tích luỹ nhiều chất dự trữ [11]
Trang 72.2 Giá trị kinh tế của cây vải
Vải là cây ăn quả lâu năm, có giá trị kinh tế cao Quả vải có hương vị
đặc biệt, được sử dụng ăn tươi và chế biến (sấy khô; làm đồ hộp; làm nước giải khát và nhiều sản phẩm khác) Người xưa đã viết về vải: “Vải có vị ngọt đậm,
ăn vào thấy hương thơm tưởng chừng như thứ rượu tiên" [23;24] Cây vải cũng
có nhiều tác dụng trong sản xuất: vỏ cây, rễ có chứa nhiều tananh dùng làm nguyên liệu trong công nghiệp Hạt vải chứa nhiều tinh bột (37%) dùng lên men rượu, làm dấm Hoa vải là nguồn cung cấp mật và phấn hoa chất lượng cao cho loài ong Một cây vải trong một vụ có thể cung cấp nguyên liệu để loài ong tạo nên 15 - 26kg mật ong Cùi vải, hạt vải, hoa vải, vỏ thân, rễ cây
được dùng làm thuốc bồi dưỡng và chữa bệnh cho người trong y học "Vải còn chữa được bệnh yếu tim, thêm trí nhớ, bổ dạ dày, lá lách, yên thần kinh, dễ ngủ…”[23] Vải là cây xanh tốt quanh năm, ít sâu bệnh, tán tròn gọn, ở thời
kỳ đầu kinh doanh cây có lá dày che kín ánh sáng chiếu trực tiếp xuống mặt
đất có tác dụng chống cỏ dại và xói mòn, rửa trôi Cây vải giúp nhiều hộ gia
đình thoát khỏi cảnh đói nghèo, vươn lên làm giàu [25]
2.3 Yêu cầu sinh thái của cây vải
Nhiệt độ cần cho cây vải sinh trưởng và phát triển từ 16 - 180C, thích hợp nhất là 24 – 250C Cây vải phù hợp biên độ nhiệt độ giữa ngày và đêm rộng Để năng suất vải cao cần có thời tiết lạnh và khô vào tháng 11 – tháng
12 (phù hợp cho việc hình thành mầm hoa) còn ở thời kỳ ra hoa đậu quả vào tháng 2 – 3 cần nhiều ngày nắng; không có gió bấc mưa phùn; nhiệt độ thích hợp cho vải ra hoa thụ phấn là 18 – 240C [11;24;28]
Do phù hợp về khí hậu nên vùng trồng vải chủ yếu của Việt Nam là miền Bắc Lượng mưa hàng năm tốt nhất đối với cây vải là 1250 - 1700mm Cây vải có khả năng chịu hạn cao [23] Cây cần tránh gặp phải mưa phùn ở
Trang 8thời kỳ nở hoa, cây cần được cung cấp đầy đủ nước ở giai đoạn cùi quả phát triển nhanh, giai đoạn quả chín yêu cầu về lượng mưa giảm để tránh gây nứt quả, bộ rễ vải phát triển nhất khi hàm lượng nước trong đất là 23% [28]
Cây vải yêu cầu ánh sáng trực xạ trong suốt quá trình sinh trưởng Khi tăng chu kỳ ánh sáng ngày ngắn sẽ làm tăng số lượng hoa cái của cây Gió giúp cho cây vải quang hợp tốt và giảm bớt sâu bệnh [8;28]
Vải là loại cây trồng không kén đất, có khả năng thích ứng khá rộng; trừ
đất có tầng quá mỏng, không thoát nước, đất quá chua hoặc quá kiềm ở các tỉnh miền Bắc vải được trồng trên nhiều loại đất [10;22] Vải mọc tốt trên đất dễ thoát nước, giàu chất hữu cơ, có pH từ 5,0 đến 6,0 [11;23]
2.4 Đặc điểm sinh lý dinh dưỡng của cây vải
2.4.1 Đặc điểm hệ rễ của cây vải
Cây vải có bộ rễ phát triển rất khoẻ, bao gồm rễ ăn đứng và rễ ăn ngang
Bộ rễ ăn sâu, nông, rộng, hẹp tuỳ thuộc cách nhân giống, đất trồng, nước, phân bón, không khí và chế độ nhiệt trong đất Cây vải gieo hạt rễ ăn sâu đến
4 - 5m, nhân giống bằng chiết cành rễ ăn nông hơn (1,2 - 1,6m) Đại bộ phận
rễ hút tập trung ở tầng đất từ 0 - 60cm Độ lan xa của bộ rễ so với hình chiếu của tán gấp 1 - 2 lần, nhưng hầu hết rễ tơ tập trung trong và ngoài phạm vi tán
10 - 50cm [11]
Nhiệt độ đất từ 10 – 200C hoạt động của bộ rễ tăng dần, nhiệt độ từ 23 –
260C là phù hợp nhất cho bộ rễ hoạt động; từ 310C trở lên bộ rễ hoạt động kém hẳn Hàm lượng nước trong đất từ 9 - 16% rễ hoạt động kém, rễ hoạt động khoẻ khi hàm lượng nước đạt 23% Vì vậy, vào thời gian nhiệt độ thấp, thiếu nước việc bón phân sẽ kém hiệu quả [11;23;25]
2.4.2 Đặc điểm sinh trưởng phát triển của cây vải
Cây vải phải trải qua các thời kỳ sinh trưởng chính như sau:
- Thời kỳ kiến thiết cơ bản: Từ sau khi trồng đến khi cây đạt 3 tuổi; thời
kỳ này cây vải phát triển hệ thống rễ, thân, cành, hình thành tán; cây phát triển
Trang 9rất chậm ở thời gian đầu Đường kính thân, số cành và tán cây vải tăng dần hàng năm Một năm, cây vải cho ra từ 4 - 5 đợt lá non (lộc); các lộc này có thể phát triển thành cành vào các tháng từ tháng 2 - 9, nếu gặp thời tiết ấm phát triển cả vào các tháng 10 - 11 [11]
- Thời kỳ kinh doanh của cây vải được bắt đầu từ năm thứ tư sau trồng
ở thời kỳ này, một năm cây vải cho 2 - 3 đợt lộc; đợt lộc xuân vào khoảng tháng 2, đợt lộc sau thu hoạch quả vào khoảng tháng 6 - 7 và đợt lộc thu vào khoảng tháng 9 - 10 Cây vải không ra hoa trên cành 1 năm, nên đợt lộc thu sẽ tạo ra các cành thu cho hoa và quả vào năm sau, có ý nghĩa rất lớn cho năng suất vải vụ tới Tháng 10 - 11 là giai đoạn ủ mầm hoa nên cây cần dinh dưỡng, cần lưu
ý giảm lượng đạm sử dụng Từ tháng 2 đến tháng 6 là thời kỳ cây ra hoa kết quả, nếu quả nhiều thì cây không ra lá; cần cung cấp nhiều dinh dưỡng cho cây, đặc biệt là đạm và kali để nuôi quả Đọt lá có chùm hoa nảy sinh ở trên gọi là đọt mẹ,
đọt mẹ càng già càng có khả năng sinh ra nhiều chùm hoa khoẻ, thuần hoá và cho nhiều quả hơn Khi cây thụ phấn xong, hạt vải bắt đầu phát triển, khoảng 3 -
4 tuần trước khi quả chín thì hạt ngừng phát triển và cùi vải phát triển nhanh, giai đoạn này cây cần nhiều nước và dinh dưỡng, đặc biệt là N, K và Ca Thời
kỳ đầu kinh doanh cây vải cho năng suất và nhu cầu dinh dưỡng tăng dần trong khoảng 10 năm (từ năm thứ 4 đến năm thứ 14 sau trồng), thường từ năm thứ 15 sau trồng cây vải mới cho năng suất ổn định [11]
- Thời kỳ già, một năm cây vải chỉ ra 2 đợt lộc vào các tháng 2 và 9; cây cho năng suất quả giảm dần cùng với hiện tượng chết cành Nhu cầu dinh dưỡng của cây cũng giảm so với thời kỳ đầu kinh doanh [11]
2.4.3 Nhu cầu dinh dưỡng của cây vải
Hai yếu tố dinh dưỡng mà cây cần nhiều nhất trong quá trình sinh trưởng và phát triển là đạm và kali; sau cùng là lân ở thời kỳ cây con cây cần nhiều đạm và lân, ở thời kỳ kinh doanh cây cần nhiều kali và đạm Để tạo ra
Trang 10100kg quả cần cung cấp cho cây các chất dinh dưỡng chính theo tỷ lệ N:P2O5:K2O là 1:0,3 - 0,5:1,2 [25]
Nhu cầu về dinh dưỡng đạm
Đạm là một yếu tố dinh dưỡng rất quan trọng đối với cây trồng nói chung và cây vải nói riêng Do đạm có tác dụng lớn trong việc phát triển thân, cành, lá và tạo tán của cây vải; đạm cũng là yếu tố dinh dưỡng rất quan trọng ở thời kỳ cây con ở thời kỳ kinh doanh của cây, đạm có tác dụng lớn đến việc ra hoa đậu quả, nâng cao năng suất và phẩm chất quả vải Thiếu đạm đọt lộc mọc yếu, lá và cành bé, lá có thể bị rụng sớm, hoa và quả vải rụng nhiều Thiếu đạm kéo dài làm cây mọc yếu, tán thấp bé, rút ngắn thời gian kinh doanh Thừa đạm làm cho cành lá cây vải phát triển quá mạnh, ảnh hưởng đến phân hoá mầm hoa, làm rụng hoa và quả nhiều, giảm năng suất và phẩm chất của quả [11;25]
Theo Vũ Hữu Yêm (1995) đạm là yếu chính tố quyết định sinh trưởng và phát triển cây trồng Đạm nằm trong nhiều hợp chất cơ bản biểu hiện sự sống của cây như diệp lục và các chất men, các bazơ đạm, thành phần cơ bản của axit nucleic, trong các ADN, ARN của nhân tế bào, nơi khu trú của các thông tin di truyền trong tổng hợp protein Do vậy, đạm là yếu tố cơ bản của quá trình đồng hoá các bon, kích thích bộ rễ phát triển và hút các yếu tố dinh dưỡng khác [33] Trong một nhiệm kỳ kinh tế nhu cầu đạm của cây vải tăng dần hàng năm; nhu cầu đạm tăng mạnh ở thời kỳ đầu kinh doanh, đạt cực đại ở thời kỳ cây có năng suất ổn định, giảm dần ở thời kỳ già của cây Trong 1 năm thì nhu cầu đạm của cây tăng cao vào thời kỳ sau thu hoạch; đạm ở thời kỳ này giúp cây phục hồi
và phát triển cành thu, phục vụ cho vụ quả năm sau (tháng 7 - 8) Nhu cầu đạm giảm mạnh khi cây bước vào phân hoá mầm hoa (tháng 12) và lại tăng mạnh vào
đầu xuân (tháng 2 - 3) khi cây phát triển cành xuân và bắt đầu ra hoa đậu quả; nhu cầu đạm lại giảm dần đến trước khi thu hoạch quả [11]
Trang 11Để khắc phục hiện tượng thiếu đạm, cần bón nhiều phân hữu cơ, đặc biệt
bổ sung phân đạm hoá học vào các giai đoạn cây ra lộc, ra hoa, kết quả… Có thể dùng dung dịch phân đạm nồng độ 0,3 - 0,5% để phun lên lá [25]
Nhu cầu về dinh dưỡng lân
Cây vải không cần nhiều lân; tuy nhiên, lân cũng không thể thiếu trong quá trình sinh trưởng và phát triển của cây Tác dụng của lân được thể hiện chủ yếu ở một số mặt là: Phân chia tế bào, tạo thành chất béo và protein Lân thúc đẩy việc ra hoa, hình thành quả và quyết định phẩm chất hạt giống Lân giúp cho cây vải tăng khả năng chịu hạn, chịu rét, thúc đẩy quá trình phân hóa mầm hoa, tăng sự phát dục của quả, sự thành thục của hạt, nâng cao phẩm chất quả vải Lân giúp hạn chế tác hại của việc bón thừa đạm, thúc đẩy cây ra
rễ, đặc biệt là rễ bên và lông hút, lân làm thân và gốc cây vải vững chắc, cải thiện chất lượng quả vải [33]
Cây vải thiếu lân có lá to hơn và tối màu, ở mép lá và mút lá có màu vàng nâu cục bộ, lan dần ra gân chính Thiếu lân vải hút dinh dưỡng yếu, sinh trưởng
và phát triển kém, ảnh hưởng lớn đến việc ra hoa đậu quả, năng suất và chất lượng quả vải [11;26]
Khi cây vải được cung cấp quá nhiều lân, gây thiếu đạm và kali trong cây, ảnh hưởng xấu tới cây vải Trong một nhiệm kỳ kinh tế, nhu cầu lân của cây vải tăng dần hàng năm, đặc biệt là ở thời kỳ kiến thiết cơ bản Trong một năm nhu cầu lân của cây vải cao vào thời kỳ sau thu hoạch; lân cần để phục hồi và phát triển cành thu, phục vụ cho việc ra quả ở năm sau và chuẩn bị phân hoá mầm hoa (từ tháng 7 - 12), nhu cầu lân giảm từ sau phân hóa mầm hoa đến trước thu hoạch quả [11]
Trang 12Lân giúp rễ cây vải phát triển; tăng khả năng chịu hạn, chống rét cho cây; thúc đẩy quá trình phân hoá mầm hoa, hình thành quả, sự thành thục của hạt, nâng cao phẩm chất quả vải [11;12;25]
Khắc phục hiện tượng thiếu lân bằng cách dùng phân hữu cơ và phân lân bón cho cây; đối với đất đồi chua cần bón vôi trước khi trồng, mỗi hố bón 1kg vôi bột, có thể dùng dung dịch phân lân nồng độ 2 - 3% lân hay 0,3% biphosphat kali phun lên lá cây vải [25]
Nhu cầu dinh dưỡng kali
Kali là yếu tố dinh dưỡng mà cây vải hút nhiều nhất Kali giúp cho cấu tạo các mô cứng cáp, vận chuyển các sản phẩm quang hợp đến các cơ quan dự trữ của cây thuận lợi Kali làm tăng khả năng chịu hạn, lạnh, nóng; tăng khả năng chống chịu sâu bệnh; giúp cho quả vải nhanh lớn và chóng thành thục Kali có tác dụng làm tăng độ ngọt và phẩm chất quả, tăng khả năng cất giữ và bảo vệ của vỏ quả [11]
Thiếu kali lá vải có màu hơi nhạt, mút lá có hiện tượng trắng màu tro, khô, mép lá có màu nâu gụ, màu này lan dần đến tận gốc lá Thiếu kali có ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng và phát triển, năng suất và chất lượng quả của cây vải [11;25]
Nhu cầu kali tăng hàng năm theo nhiệm kỳ kinh tế của cây vải, tương tự như đối với đạm Nhu cầu kali hàng năm tăng dần từ sau thu hoạch quả, đạt cao nhất ở thời kỳ cây ra hoa, nhu cầu kali giảm dần từ khi đậu quả đến thu hoạch [11]
Khắc phục hiện tượng thiếu kali bằng cách tránh dùng phân N hoá học
đơn thuần, cần phối hợp đạm với kali hoặc tro bếp, có thể dùng nước tro bếp
từ 2 - 3% để phun lên lá [25]
Nhu cầu về các yếu tố dinh dưỡng khác
Các yếu dinh dưỡng trung lượng và vi lượng đóng vai trò khá quan trọng trong quá trình sinh trưởng của cây Các yếu tố vi lượng có tác dụng
Trang 13thúc đẩy sự trao đổi chất trong cây, tác động tốt đến quá trình sinh lý và sinh hoá, các yếu tố vi lượng ảnh hưởng đến quá trình tổng hợp diệp lục và nâng cao cường độ quang hợp, tăng khả năng chống chịu của cây đối với bệnh nấm, bệnh vi khuẩn và các điều kiện bất lợi của môi trường như nóng, lạnh, úng Khi được đảm bảo dinh dưỡng vi lượng, cây vải sinh trưởng và phát triển bình thường và cho năng suất cao Thiếu vi lượng sẽ dẫn đến tình trạng kìm hãm hoặc phá vỡ các quá trình sinh hoá quan trọng của cây vải, khiến cây phát triển không bình thường, năng suất thấp mặc dù cung cấp đầy đủ các yếu tố dinh dưỡng đa lượng và trung lượng [13]
Cây vải có nhu cầu khá cao về MgO, CaO Magie cần thiết cho quá trình quang hợp của cây thuận lợi, tạo ra khả năng chịu hạn của cây và tăng độ ngọt cho quả vải Canxi có tác dụng lớn trong việc hấp thu dinh dưỡng của cây vải, do canxi có tác dụng tốt đến phát triển hệ thống rễ bên và lông hút của cây, đặc biệt trong điều kiện vải được trồng trên đất chua Canxi còn giúp cây vải có khả năng chịu úng tạm thời, ảnh hưởng tốt đến việc tích luỹ chất gluxit vào quả Như vậy, canxi ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng vải [11] Trong số các yếu tố dinh dưỡng thứ cấp, Cl là yếu tố dinh dưỡng có nhu cầu khá rõ đối với cây vải, nên dùng một lượng Cl nhất định bón cho vải sẽ có hiệu quả tích cực [21]
2.5 Nghiên cứu bón phân cho cây vải
2.5.1 Loại và dạng phân bón cho cây vải
Trong trồng vải thường bón nhiều loại phân hữu cơ, phân hữu cơ dùng để bón lót trước trồng không cần hoai mục, phân dùng để bón hàng năm nên ủ hoai Ngoài ra, có thể dùng bùn ao, nước phân để bón cho vải
Các loại phân khoáng thường sử dụng để bón cho vải gồm: Phân đạm ure; phân lân nung chảy và supe lân; phân kali clorua, kali sunphat và tro bếp; phân N, P, K 11 - 4 - 14 và các loại phân bón chuyên dùng cho vải
Trang 14Ngoài ra, có thể sử dụng một số loại phân bón qua lá nhằm cung cấp kịp thời chất dinh dưỡng cho cây ở những thời kỳ cây bị khủng hoảng; nồng độ tương ứng để bón qua lá là: Ure 0,3 – 0,5%, biphosphat kali 0,3 – 0,5%, sunfat magie 0,3–0,5%, borat natri 0,02 – 0,05%, axit boric 0,05 – 0,1%, sunfat kẽm 0,1 – 0,6% [11]
2.5.2 Liều lượng bón phân cho vải
Theo sách “ Cây ăn quả Australia” trong chăm sóc cây vải 3 - 4 tuổi ở phía Nam Queesland, trước khi trồng 1 tháng bón 0,5kg phân phosphat đơn cho 1m2 diện tích trồng và xới vào đất 3 xô bùn phơi khô, đập nhỏ hay 1 xô phân chuồng hoai mục Sau khi trồng (thường trồng vào tháng 2 - 3) năm
đầu tiên bón 30g ure/cây/lần, cộng với 30g phân hỗn hợp, 3 tháng bón 1 lần; bón cùng với 3 xô bùn phơi khô đập vụn hay 1 xô phân chuồng hoai mục, phân hỗn hợp N, P, K có tỷ lệ 11,4.4,8.11,6; S - 7,6; Ca - 4,3; Mg - 1,3; Bo - 0,1; Mn - 0,1; Cu - 0,04; Zn - 0,02; Co - 0,0006 Năm thứ 2, bắt
đầu bón vào mùa xuân; bón với bùn khô đập vụn hay lượng phân chuồng như trên, nhưng đều tăng lượng đạm và phân hỗn hợp 40g/cây Năm thứ 3 bón như năm thứ 2 Trường hợp đặc biệt ở nơi có nhiều phân hữu cơ thì phải
được bón trước [8]
ở Trung Quốc, theo kinh nghiệm của người dân trồng vải nên dùng phân chuồng để bón cho vải ở ấn Độ, ngoài bón phân hữu cơ người ta còn kết hợp bón phân vô cơ theo độ tuổi của cây Đối với cây 10 tuổi, người ta bón đến 60kg hữu cơ, 3,5kg đạm, 2,25kg lân và 0,6kg kali ở đảo Ha Oai, việc sử dụng N, P, K theo tỷ lệ 10.10.10 hoặc 14.14.14 được chia làm 2 – 3 lần và bón cho cây từ nhỏ (1 - 4 tuổi) với lượng 0,33 – 1,35kg còn đối với cây 5 tuổi trở lên thì dựa theo năng suất quả thu hoạch để bón phân ở Florida (Mỹ) bón phân N, P, K theo tỷ lệ 1.1.1 hoặc 2.2.1 được coi là thích
Trang 15hợp cho cây vải Kinh nghiệm bón phân cho vải tỉnh Quảng Đông - Trung Quốc cho biết: Đối với các giống vải chính vụ và muộn, cây từ 30 tuổi trở lên cứ 100kg quả tươi bón 3kg đạm sunfat, 2-3kg supe lân và 1,5kg kali clorua Để đánh giá tình trạng phát triển của cây người ta thông qua phân tích lá, hàm lượng các chất dinh dưỡng trong lá cây phản ánh tình hình dinh dưỡng của cây Khoa học ngày nay dùng đó làm phương pháp
bổ sung dinh dưỡng kịp thời và tiết kiệm để có hiệu quả kinh tế cao [23] Nguyễn Như Hà tổng kết các khuyến cáo sử dụng phân bón cho cây vải nhận thấy bón phân cho vải được chia ra các thời kỳ sau:
Bón phân cho vải thời kỳ kiến thiết cơ bản
- Bón lót: Sử dụng phân hữu cơ, phân kali để bón lót trước khi trồng,
lượng phân bón cho mỗi cây là: 20 - 40kg phân hữu cơ; 0,085 – 0,1kg P2O5; 0,3 – 0,35kg K2O Phân hữu cơ có thể sử dụng phân chưa hoai mục, phân lân nên dùng là lân nung chảy, kali nên dùng là kali clorua và tro bếp Bón phân vào hố trước khi trồng cho mỗi cây Làm đất và bón lót phân cho vải tốt nhất
là trước khi trồng 1 tháng
- Bón hàng năm: Sử dụng phân hữu cơ và đủ 3 loại phân khoáng N, P, K
để bón hàng năm cho cây vải mới trồng (1 - 3 tuổi) Lượng bón cho mỗi cây trong 1 năm như sau: phân hữu cơ 20 – 30kg; 0,2kg N; 0,1kg P2O5; 0,1kg
K2O Lượng phân bón tăng dần hàng năm Tổng lượng phân bón trong một năm được chia làm 4 - 5 đợt bón Nếu đất không đủ ẩm cần kết hợp với tưới nước hay hòa phân vào nước để tưới cho cây sau mỗi đợt bón
Bón phân cho vải thời kỳ kinh doanh
ở thời kỳ này sử dụng các loại phân hữu cơ và phân khoáng với liều lượng và tỷ lệ cao hơn Để xác định lượng phân bón trong thời kỳ này cần căn
cứ vào độ lớn của cây (thông qua đường kính tán cây), sản lượng hàng năm,
Trang 16đất đai Có thể dựa vào việc phân tích hàm lượng dinh dưỡng trong lá và trong quả để điều chỉnh lượng phân bón cho cây Thời kỳ này thường sử dụng phân hữu cơ hoai mục hoặc nước phân chuồng để bón cho cây Lượng phân hữu cơ bón cho mỗi cây vải trong một năm thường từ 30 – 50kg cho chu kỳ bón 2 –3 năm một lần [11]
Tổng lượng phân khoáng bón hàng năm cho cây vải tăng đều ở thời kỳ
đầu kinh doanh (từ năm thứ 4 đến năm thứ 14) Trong đó, bón 0,2 – 1kg
đạm/cây/năm; 0,1 – 0,3kg lân/cây/năm; 0,3 – 1,4kg kali/cây/năm [11]
Bảng 3.2: Bón phân cho cây vải còn non chưa ra hoa
Phân hoá học nguyên chất(g/cây/năm) Nước Tuổi cây
(Nguồn: Vũ công Hậu,1996)
Tổng lượng phân bón cho mỗi cây vải trong 1 năm ở chu kỳ kinh doanh
có năng suất ổn định (từ năm thứ 15 trở đi) là: 1kg đạm; 0,3kg lân; 1,4kg kali
Trang 17Tỷ lệ N, P, K bón cho vải ở thời kỳ kinh doanh của cây thay đổi nhiều so với thời kỳ kiến thiết cơ bản Trong đó tỷ lệ kali bón tăng mạnh, còn lân giảm và
đạt tương ứng là 1:0,3 - 0,5:1,2 Dưới đây là lượng phân bón cụ thể cho vải theo từng tuổi cây ở thời kỳ đầu kinh doanh [11;25]
Bảng 4.2: Lượng phân khoáng hàng năm cho cây vải (kg/cây)
Tuổi cây Đường kính tán
Theo báo Người làm vườn, Đài Loan là nước trồng nhiều vải và cách bón
phân cũng chia ra các thời kỳ trước khi ra hoa, quả Mỗi năm có 3 lần bón vào các tháng 2, 5, 8 với liều lượng tính cho 1ha (kg) [24] Có thể bón thêm phân chuồng ủ hoai mục Khi khô hạn phải tưới cho cây 2 - 3 lần, nhất là thời kỳ ra hoa, ra quả phải kịp thời cung cấp đủ nước cho hoa, quả phát triển tốt
Bảng 5.2: Liều lượng bón theo độ tuổi của cây ở Đài Loan
Tuổi cây Loại phân
Trang 18ở Việt Nam những nghiên cứu về vải chưa nhiều
Có thể căn cứ vào điều kiện đất đai, độ tuổi cây và tình trạng sinh trưởng của cây thể hiện qua số đo đường kính tán để bón với số lượng phân thích hợp [23]
Bảng 6.2 Nhu cầu phân bón hàng năm của cây vải (g/cây)
Phan Quỳnh Sơn, Phạm Văn Côn nghiên cứu phản ứng đối với phân bón N, P, K của cây vải thiều ở thời kỳ kinh doanh có năng suất ổn định, trồng trên đất đồi và đất phù sa chua phía Bắc Việt Nam cho kết quả như sau: Hiệu quả sử dụng phân bón cho vải ở vùng Lục Ngạn đạt từ 3 - 23,1kg quả/kg N; 6 - 11,3kg quả/kg P2O5, với phân kali không đáng kể Hiệu quả
sử dụng phân bón ở vùng Thanh Hà là 9,5 - 39,6kg quả/kg N; 20 - 28,9kg quả/kg P2O5 và với phân kali cũng không rõ rệt Lượng phân N, P, K và tỷ lệ phù hợp cho cây vải thiều ở vùng Lục Ngạn có thể là 180 N – 150 P2O5 –
225 K2O (kg/ha) ứng với tỷ lệ N:P2O5:K2O là 1,2:1,0:1,5 Còn đối với vùng
Trang 19vải Thanh Hà là 135 N – 225 P2O5 – 225 K2O (kg/ha) ứng với tỷ lệ
N:P2O5:K2O là 1,0:1,7:1,7 [16]
Theo Viện bảo vệ thực vật nên bón phân cho vải như sau: Năm thứ
nhất dùng nước phân đã ủ kỹ, pha loãng nồng độ 30% để tưới, nếu dùng
phân ure thì lượng phân bón là 25g/cây/năm Năm thứ 2 lượng bón tăng
dần, nước phân pha loãng 50%, ure 50 – 100g/cây/năm, supe lân 0,3 -
0,4kg và kali sunfat 0,3 – 0,4kg/cây/năm Khi cây đã ra quả có thể bón
2kg ure hay hơn nữa Nếu sử dụng phân hỗn hợp thì tỷ lệ phân bón
N:P2O5:K2O từ 2:1:1 đến 3:2:2, vài ba năm một lần bón thêm phân
chuồng; lượng bón từ 30 - 50 kg/cây Có thể dùng bùn ao bón xung quanh
gốc và khu vực tán cây [30]
Theo quy trình bón phân cho vải của Viện nghiên cứu rau quả [31] có
lượng phân bón được khuyến cáo trên phạm vi miền Bắc như sau:
ở thời kỳ cây con
Bảng 7.2 : Lượng phân bón cho vải ở thời kỳ chưa cho quả
Lượng phân bón (gam/cây/năm) Tuổi cây (năm)
Đạm ure Lân supe Kali clorua
(Nguồn: Viện nghiên cứu rau quả, 2003)
Năm thứ hai bón bổ sung: Phân chuồng 30 - 50kg/cây; vôi bột 0,3 -
0,5kg/cây
ở thời kỳ cây đang cho quả
Tuỳ theo điều kiện đất đai, hiện trạng sinh trưởng của cây, sản lượng quả
thu hoạch của năm trước để xác định liều lượng bón thích hợp cho cây Với
Trang 20những cây nhiều năm tuổi, cứ 100kg quả tươi/năm thì có thể bón cho mỗi cây
với lượng phân: 1,6kg đạm ure + 2,5kg supe lân + 2kg kali clorua
Tỷ lệ các loại phân N:P2O5:K2O sử dụng cho hiệu quả tốt nhất đối với vải
là 1:0,3:1,2 hoặc 1:0,5:1,2
Bảng 8.2 : Lượng phân bón cho vải ở thời kỳ cây cho thu hoạch quả
Lượng phân bón (kg/cây/năm) Tuổi cây
Phân chuồng Đạm ure Lân supe Kali clorua
Việc bón phân chia ra làm nhiều đợt bón là cần thiết khi trồng vải trên
đất có thành phần cơ giới nhẹ, đồng thời làm tăng hiệu quả sử dụng phân bón,
tăng năng suất và phẩm chất quả Cần quan tâm tính toán hiệu quả kinh tế,
công lao động Để bón phân cho vải, có thể bón phân vào hố hay hốc và bón
phân vào rãnh Nên bón phân trước khi trời mưa để phân tan ra và thấm vào
đất dễ dàng Trời hạn thì phải hoà phân vào nước để tưới theo hình chiếu của
tán cây [11]
Trang 21Kim Oanh viết về bón phân chiếu theo mép tán 30cm, đào rãnh 20 x 20cm vòng quanh tán Trộn phân bón rải đều xuống rãnh, lấp đất; có thể hoà nước phân chuồng tưới đều quanh tán; lấy phù sa, bùn ao (để ải phơi khô, đập nhỏ) không đổ quá nhiều hoặc quá dày (chỉ dày 5 - 7cm) Đối với cây không cho quả giảm lượng phân chuồng, lân và bón thêm phù sa, bùn ao [34]
Hầu hết các kết quả nghiên cứu đều cho rằng trong 1 năm tổng lượng phân bón được chia ra làm 3 thời kỳ:
+ Thời kỳ thứ nhất: bón trước lúc ra hoa, nhằm xúc tiến quá trình phân hóa mầm hoa và giúp cho việc ra hoa đậu quả tốt Kinh nghiệm cho thấy nên bón vào trước và sau tiểu hàn với liều lượng N và K là khoảng 25% tổng lượng bón cả năm và 1/3 tổng lượng lân
+ Thời kỳ thứ hai: sau khi ra hoa đến rụng quả sinh lý lần 2 thì bón Vì lúc này cây tiêu hao nhiều dinh dưỡng nên bón thúc quả nhằm bổ sung dinh dưỡng kịp thời cho cây, giúp cho quả phát triển được tốt để quả lớn nhanh Lúc này cần nhiều kali và bón kali là chủ yếu Lượng kali dùng cho đợt này là 50% tổng lượng kali cả năm, bón 25% tổng lượng đạm cả năm và 1/3 tổng lượng lân
+ Thời kỳ thứ ba: bón trước và sau thu hoạch quả, cần bón bón kịp thời để phục hồi sinh trưởng cho cây Mặt khác, còn có tác dụng thúc đẩy cành thu phát triển khỏe mạnh chuẩn bị cành mẹ cho năm sau Lần bón này rất quan trọng, bón đạm là chủ yếu chiếm 50% tổng lượng bón cả năm phối hợp với lân
và kali Với 1/3 tổng lượng lân bón, 25% tổng lượng kali [25]
Trần Thế Tục cho biết kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy để ra hoa và
đậu quả tốt nên bồi dưỡng cành thu vào đợt 2 Sau thu hoạch quả kết hợp cắt tỉa, lật đất với bón phân để bồi dưỡng cành thu đợt 1 vào đầu và giữa tháng 8 Nếu cành này ra nhiều và khoẻ thì không cần phải bón phân nữa, kích thích cành đợt
2 ra vào giữa tháng 10 Cây vải nào mà trong năm không có quả thì càng phải chú ý bồi dưỡng cành thu đợt 2 Sau khi trồng nên bón ít với nồng độ loãng và bón làm nhiều lần Trong một năm có thể bón từ 4 – 6 lần, năm đầu dùng nước phân ủ kỹ, pha loãng 30% hoặc dùng ure với lượng 25g/cây/năm, về sau tăng
Trang 22dần liều lượng và nồng độ Những năm sai quả có thể bón thêm phân khoáng vào cuối tháng 3 sau khi thụ tinh quả để làm bớt sự rụng quả [21]
Theo kinh nghiệm bón phân cho vải để đạt năng suất và phẩm chất cao
ở Quảng Tây – Trung Quốc thì người ta chia lượng phân bón ra làm 6 lần [11] Bảng 9.2: Phương pháp bón phân cho vải ở Quảng Tây – Trung Quốc
Lượng phân bón so với tổng lượng bón (%) Thời kỳ bón phân Mục đích
N P2O5 K2O Cuối T7 - đầu T8 Phục hồi sau thu hoạch 30 10 10
Nửa đầu tháng 12 Thúc phân hóa mầm hoa 15 15 20
(Nguồn: Trần Thế Tục, 1997)
Cũng theo Trần Thế Tục (1999) với những cây vải đang ra hoa kết quả cho năng suất cao, nên bón phân vào thời kỳ trước lúc ra hoa để xúc tiến quá trình phân hoá mầm hoa, nhằm tăng cường dinh dưỡng giúp cây
ra hoa đậu quả tốt Theo kinh nghiệm của các nơi, đợt bón này nên bón vào thời kỳ trước và sau tiểu hàn đến trước và sau đại hàn Bón phối hợp
N, P, K với NK bón 25% lượng cả năm còn P bón 1/3 lượng cả năm Bón thúc quả sau khi ra hoa cho đến khi rụng quả sinh lý đợt 2 Trên các cây tiêu hao nhiều dinh dưỡng do vụ trước cho năng suất cao thì nên bón kịp thời để phục hồi sự sinh trưởng của cây, nhằm thúc đẩy cành thu phát triển tốt và sung sức để chuẩn bị trở thành cành mẹ cho năm sau Đây là lần bón rất quan trọng nhằm quyết định quả năm sau Nếu bón quá nhiều thì thời gian ra lộc kéo dài, lộc ra vào mùa đông dẫn đến quá trình phân
Trang 23hoá mầm hoa sẽ không thực hiện được Vì vậy sẽ không có hoa hoặc có quả rất thưa, dẫn đến năng suất thấp [24]
Ngoài ra có thể bón trước thu hoạch quả 15 – 20 ngày hoặc bón sau khi thu hoạch quả Đây là lần bón sử dụng 50%N, 1/3P, 25%K, tổng lượng phân dùng trong cả năm Lần này có thể dùng thêm phân hữu cơ làm cho bộ rễ phát triển mạnh và nên sử dụng loại đạm có hiệu lực nhanh [24]
Trần Thế Tục nêu ra các phương pháp bón phân cho vải trong điều kiện thực tế ở Việt Nam như sau:
Bón phân vào đất
Bón hốc bằng cách xới những hốc nhỏ, nông khoảng 5 - 7cm, xung quanh vùng hình chiếu của tán lá cây, vì ở đây tập trung nhiều rễ hút, sau đó rắc phân đều xuống hốc rồi lấp đất Để tiết kiệm công, trước khi trời mưa có thể rắc phân theo hình chiếu đường kính tán cây, khi mưa xuống phân đạm sẽ
được phân giải và thấm vào đất, rễ cây có thể hút chất dinh dưỡng được ngay Bón theo phương pháp sẻ rãnh theo hình chiếu tán cây rộng 30 - 40cm, tuỳ thuộc vào từng loại đất Khi bón phân hữu cơ có thể trộn thêm phân hoá học để bón cho cây ở những vùng đồi hạn, thiếu nước có thể hoà phân với nước tưới cho cây Phân đạm có thể bón nông còn lân và kali khả năng di động kém nên bón sâu hơn Ngoài phương pháp bón vào đất người ta có thể cung cấp trực tiếp chất dinh dưỡng cho cây bằng cách bón qua lá, khi bón phân qua lá cho cây cần chú ý, ở lá non lưng lá có nhiều khí khổng có khả năng hấp thụ dinh dưỡng nhiều hơn các lá già và mặt trên của lá hấp thụ dinh dưỡng kém hơn lưng lá vì nó có ít khí khổng hơn Vì vậy khi phun lên lá thì nên phun vào lưng lá (phun từ dưới lên), với điều kiện môi trường không quá cao (15 –
200C) và độ ẩm không khí quá thấp, nên phun vào sáng sớm hoặc chiều tối là tốt nhất [25]
Trang 24Việc bón phân lên lá
Nhằm kịp thời cung cấp các chất dinh dưỡng cho cây, nhất là các nguyên
tố vi lượng như bo, kẽm, sắt, molipden vì dùng với một lượng nhỏ nên bón vào đất ít có hiệu quả so với bón lên lá Có thể nói thông qua việc bón lên lá cây có điều kiện hấp thu nhanh, tiết kiệm phân bón Khi bón phân lên lá cần chú ý một số điểm [25]:
1 Lá non và lưng lá là nơi có nhiều khí khổng có khả năng hấp thụ mạnh hơn so với lá già và mặt trên của lá Vậy khi phun phải chọn lúc có nhiều lá non và phải phun vào lưng lá
2 Nhiệt độ không quá cao (15 – 250C) và độ ẩm không khí không quá thấp phun phân lên lá rất tốt Bởi vậy khi phun lên lá cần chọn lúc râm mát, độ
ẩm không khí cao là tốt nhất Cần tránh ngày mưa, hoặc nhiệt độ cao, khí hậu khô hạn có gió nóng Tốt nhất là phun vào sáng sớm hoặc buổi chiều
3 Các loại phân bón và nồng độ thường dùng là ure 0,3 – 0,5%; biphosphat kali 0,3 – 0,5%, xúc tiến quá trình thành thục của lộc cành và quá trình phân hoá mầm hoa Sunfat magie 0,3 – 0,5% NaB4O7 0,02 – 0,05% Axit boric 0,05 – 0,1% Sunfat kẽm 0,1 – 0,6%
2.6 Vấn đề chẩn đoán nhu cầu dinh dưỡng cho cây lâu năm
Chẩn đoán nhu cầu dinh dưỡng cho cây lâu năm là nhiệm vụ thực sự cần để thiết lập chế độ phân bón phù hợp theo giống, tuổi, mức sinh trưởng và năng suất Hiện nay trên thế giới khoảng 40 - 60% sản lượng nông nghiệp tăng nhờ phân bón, những đầu tư cho việc sử dụng phân bón ngày càng tăng nhanh
và tăng gấp nhiều lần các chi phí khác Chính vì vậy, nhiệm vụ cấp bách của ngành Nông hóa là tìm kiếm những biện pháp xác định chính xác, nhanh chóng nhu cầu đích thực của cây; nhằm sử dụng phân bón có hiệu quả nhất Một trong những biện pháp đó là chẩn đoán nhu cầu dinh dưỡng cây trồng thông qua phân tích lá [3]
Trang 25Để xác định nhu cầu dinh dưỡng của cây trồng người ta thường tiến hành các thí nghiệm đồng ruộng Đây là phương pháp kinh điển có độ tin cậy cao Song để có kết luận về một số vấn đề cụ thể cần thiết tối thiểu phải có thời gian, đối với cây lâu năm có thể từ 5 - 7 năm hoặc lâu hơn Mặc dù tốn nhiều công phu và thời gian như vậy, những số liệu thu được lại chỉ có ý nghĩa ứng dụng ở một số địa phương và khí hậu nhỏ hẹp Chính vì vậy từ nhiều năm nay chẩn đoán nhu cầu dinh dưỡng cây trồng bằng phân tích lá ngày càng
Phương pháp này có thể dùng để chẩn đoán nhu cầu dinh dưỡng đối với các yếu tố đa lượng và cả các yếu tố vi lượng
Từ hàm lượng tổng số, hàm lượng chất dinh dưỡng được rút ra bằng một phương pháp nhất định; tỷ số giữa các chất trong cây hoặc dựa trên tỷ lệ giữa
Trang 26các dạng hữu cơ hay vô cơ của chất đó; các tác giả đề ra các thang bậc xác
định cây được cung cấp đủ hay thiếu chất dinh dưỡng và định lượng bón
Nội dung nghiên cứu thường tập trung vào các vấn đề dưới đây:
số của chất cần bón, hàm lượng chất cần bón được rút tinh bằng một cách nào
đó như phương pháp rút bằng axit axetic 2% của Manhitxki, bằng axit pecloric và axit sunfuric theo Ginzbua, hoặc rút bằng nước theo Seglova và Vunfius, v.v cũng có khi dùng tỷ lệ giữa các dạng chất đó trong cây, tỷ lệ N,
P vô cơ; N, P hữu cơ; hàm lượng N ở một dạng aminoaxit tiêu biểu, có khi dùng tỷ lệ giữa các chất dinh dưỡng như tỷ lệ N/P, C/N, Fe/Mn v.v
chẩn đoán đúng Có thể dùng rễ cây, dịch cây, lát cắt cành hay cuống lá, nước
ép lá hoặc toàn cây con, phân tích toàn bộ lá hoặc phân tích lá ở một tầng, một
vị trí nào đấy
trị số, các chỉ tiêu phân tích phù hợp với năng suất cây trồng, cân nhắc giữa các tuổi cây, tuổi lá, vị trí cành và vị trí lá trên cây
4 Xây dựng mức thể hiện cây được cung cấp đủ hay thiếu một chất dinh dưỡng nào đó, mức cần thiết để đạt năng suất cao và phẩm chất tốt [3]
2.6.2 Nghiên cứu về chẩn đoán nhu cầu dinh dưỡng bằng phân tích lá
Phân tích lá được xem như phân tích vật chỉ thị tốt nhất các mối quan
hệ tổng hoà của phức hệ đất, cây, khí hậu và các nhân tố phức hợp ảnh hưởng
đến dinh dưỡng của cây trồng Phân tích lá cho biết lượng và tỷ lệ của các yếu
tố dinh dưỡng mà cây trồng hút lên từ đất; ngay cả khi đất được bón phân đầy
đủ, cây trồng cũng không thể hút được tất cả các thức ăn cần thiết Mặt khác, dựa vào phân tích lá có thể tìm ra được các nguyên tố mà đất không thể cung cấp thoả mãn yêu cầu của cây, giúp đánh giá gián tiếp độ phì nhiêu thực tế của
Trang 27đất Hơn nữa, giữa điều kiện ngoại cảnh và phân bón, giữa các yếu tố phân bón có ảnh hưởng qua lại với nhau Trong điều kiện này hay điều kiện khác thay đổi lượng bón yếu tố này sẽ dẫn đến sự biến đổi lượng bón các yếu tố khác và khả năng hấp thụ của cây
Vào những năm 30 - 40 của thế kỷ này, những người đặt nền móng cho phương pháp chẩn đoán dinh dưỡng thông qua phân tích lá là Lagatu và Maume (1932 - 1934); Thomas (1937); Ulrich (1943); Chapman (1941) và Lundehard (1943 - 1945) đã có nhiều nghiên cứu và kết luận đánh giá rằng hoàn toàn có thể
sử dụng phương pháp phân tích lá cây hoặc một bộ phận khác để xác nhu cầu phân bón của cây trồng Các tác giả trên đã đề nghị chẩn đoán dinh dưỡng hàng loạt cây trồng theo kết quả xác định hàm lượng N, P, K trong lá [3]
Ưu thế của việc xác định nhu cầu dinh dưỡng bằng phân tích lá đặc biệt
rõ hơn ở vườn cây ăn quả và cây công nghiệp lâu năm Theo Chapman (1966), Xemennhuc (1969); Serling (1967 - 1970); Socolov (1970) thì với cây lâu năm phân tích lá cho phép đánh giá tình trạng dinh dưỡng khoáng của cây trồng tốt hơn phân tích đất [3]
Việc áp dụng phân tích lá trong chẩn đoán dinh dưỡng của cây chè cũng
đã được tiến hành rất có hiệu quả Buchulatze và Datuladze bằng những thí nghiệm công phu trong nhiều năm đã đi đến kết luận là hàm lượng đạm, lân, kali, canxi và magie trong lá chè thay đổi rất mạnh theo vị trí của lá, giai đoạn sinh trưởng và thậm chí cả thời gian trong ngày [3]
ở Việt Nam, vấn đề ứng dụng phân tích lá trong chẩn đoán nhu cầu dinh dưỡng của cây trồng tuy không còn mới mẻ song phạm vi áp dụng còn rất hạn chế Tuy nhiên, với những kết quả nghiên cứu của Đoàn Triệu Nhạn (1982);
Đoàn Triệu Nhạn; Lê Đình Sơn (1992) trên cà phê, Chu Xuân ái (1992)…cho thấy hoàn toàn có thể áp dụng phương pháp chẩn đoán nhu cầu dinh dưỡng qua lá để sử dụng phân bón hợp lý, tiết kiệm đồng thời nâng cao năng suất và chất lượng nông sản, đặc biệt là với cây lâu năm khi mà nước ta chưa có đủ điều kiện
để tiến hành những nghiên cứu đồng ruộng quy mô và dài hạn [3]
Trang 28* Nghiên cứu phân tích lá để chỉ đạo bón phân cho cây cam của Lê
Đình Sơn cho phép đưa ra những nhận định:
1 Quan hệ giữa hàm lượng mùn và hàm lượng đạm, kali trong lá: Hàm lượng mùn trong đất càng cao thì hàm lượng kali trong lá cũng cao Giữa chúng có tương quan thuận khá chặt (P đạt 0,05 và 0,001) Hệ số tương quan
3 Quan hệ giữa lân trong đất và lân trong lá: Qua điều tra các lô cam kinh doanh ở Nông trường Cờ Đỏ năm 1990 ta thấy: Hàm lượng lân tổng số và lân dễ tiêu đều có tương quan thuận với hàm lượng lân trong lá Hệ số tương quan của chúng đạt R = 0,63 và 0,83 Độ tin cậy P = 0,05 Hàm tương quan của chúng là Y = 0,19x + 0,151 và Y = 0,0258x - 0,0003
4 Quan hệ giữa hàm lượng kali trong đất và trong lá Hàm lượng kali tổng số trong đất và trong lá có tương quan thuận tương đối chặt Hệ số tương quan R là 0,7 đạt P = 0,05 và phương trình tương quan tương ứng là Y = 0,365x + 1,257 (kết quả điều tra vườn cam) [17]
* Những công trình nghiên cứu về phân tích lá trên cây công nghiệp, chủ yếu tập trung vào cây cà phê đã được nghiên cứu từ năm 1961 ở trạm nghiên cứu cây nhiệt đới Tây Hiếu Công trình được nghiên cứu ở Viện nghiên cứu cà phê Eakamat cho cây cà phê chè và vối, đặc biệt là cây cà phê vối Mục tiêu nghiên cứu là sử dụng kết quả của phân tích lá để chỉ đạo việc phân bón cho cây cà phê
Mặc dù một số kết quả nghiên cứu về phân tích lá để chỉ đạo phân bón cho cây cà phê chè và cà phê vối chưa được hoàn thiện, song ngưỡng dinh
Trang 29dưỡng về N P K cho cà phê chè và N P K Ca Mg cho cà phê vối là cơ sở bước đầu cho việc chỉ đạo bón phân khoáng cho cây cà phê chè ở các tỉnh phía Bắc và cho cây cà phê vối ở các tỉnh Tây Nguyên của Việt Nam [18]
Phân tích cây trồng để xác định nhu cầu của cây về phân bón đã được khởi xướng từ rất lâu Nhà thực vật học người Pháp De Saussure ngay từ những năm 1809 đã có ý đồ sử dụng phân tích cây để xác định nhu cầu dinh dưỡng của nó Sau này phương pháp trên được Liebig (1836), Bergman (1957) phát triển Vào những năm 1930-1940 những người đặt nền móng cho phương pháp chẩn đoán dinh dưỡng thông qua phân tích lá là Lagatu và Maume (1932, 1934), Thomas (1937), Ulrich (1943), Chapma (1941) và Lundegard (1943) đã có nhiều nghiên cứu và kết luận đánh giá rằng hoàn toàn có thể sử dụng phương pháp phân tích lá cây hoặc một bộ phận khác để xác định nhu cầu phân bón của cây trồng
Hội nghị thường kỳ lần thứ V các nước thành viên Hội đồng tương trợ kinh tế dành cho vấn đề chẩn đoán thực vật được tiến hành vào mùa thu năm
1971 đã xác định phân tích cây là một phương pháp chẩn đoán dinh dưỡng và hiệu lực của phân bón đa lượng, vi lượng
Chẩn đoán dinh dưỡng thực vật bằng phân tích lá cho phép tìm hiểu tác dụng thực tế của các chất dinh dưỡng trong cả lớp đất phân bố rễ cây, điều mà khó tính đến khi phân tích đất, đặc biệt đối với cây lâu năm Vạch ra những nhu cầu độc đáo của các cây riêng biệt về phân bố bổ sung Tiến hành kiểm tra động thái dinh dưỡng của cây theo mùa vụ
Nhiều công trình nghiên cứu về xác định nhu cầu dinh dưỡng bằng phương pháp chẩn đoán lá đã chỉ ra rằng dinh dưỡng khoáng của cây cần được xác định rõ
đặc tính theo hai chỉ tiêu chủ yếu: Một là, cường độ hấp thu của cây với mỗi yếu tố dinh dưỡng trong cùng một thời gian; Hai là, tương quan giữa các yếu tố mà cây trồng hấp thu trong suốt thời gian sinh trưởng Trong đó tương quan của các chất dinh dưỡng cây hấp thu ở mức độ nhất định có ảnh hưởng lớn hơn nồng độ các chất hấp thu đến sinh trưởng, phát triển và chất lượng sản phẩm [1]
Trang 30Theo kết quả phân tích lá giống vải Nomixư và Hoài Chi ở Quảng Đông vào thời kỳ quả non, người ta thấy hàm lượng các chất dinh dưỡng như sau: N: 0,931 - 2,096%; P: 0,077 - 0,207%; K: 0,124 - 0,33% Còn ở Quảng Tây tại trạm nghiên cứu vải Bắc Lưu cho biết: N: 1,76 - 1,78%; P: 0,254 - 0,273%; K: 0,75 - 0,92% Như vậy ở các vùng trồng vải khác nhau đã cho kết quả phân tích khác nhau Mỗi nước khác nhau thì vai trò của phân và cách bón phân cho vải khác nhau [25]
Theo Nguyễn Như Hà [11] để xác định lượng phân bón hợp lý cho từng thời kỳ trong một năm, tốt nhất là dựa vào kết quả phân tích đất và
“phương pháp chẩn đoán nhu cầu dinh dưỡng của cây” thông qua phân tích một cơ quan nào đó của cây, mà thường là lá Tuy nhiên phương pháp này chưa được áp dụng phổ biến ở nước ta Khi sử dụng phương pháp này cần chú ý lựa chọn loại lá và thời gian trong quá trình sinh trưởng của cây để lấy mẫu cho phù hợp với từng loại cây ăn quả Kết quả phân tích lá cây ăn quả về kali thường cho đánh giá đúng về việc cung cấp kali cho cây, còn về
đạm thì có tính tương đối
Bảng 10.2: Bộ phận và thời gian trong quá trình sinh trưởng của cây
được lấy để chẩn đoán nhu cầu dinh dưỡng của cây ăn quả
Loại cây Bộ phận của cây Thời gian lấy mẫu
Lê tàu Lá phát triển hoàn chỉnh Đợt thu hoạch
Chuối Các mảnh của phiến lá phát triển
hoàn chỉnh
Giai đọan cây phát triển
Xoài Lá thứ 5 của cành đang cho quả Sau thu hoạch
Cam Lá phát triển hoàn chỉnh của
cành trưởng thành
Cây đang mang quả
Đu đủ Cuống lá trưởng thành trẻ nhất Thời kỳ ra hoa
Dứa Lá trưởng thành trẻ nhất Thời kỳ 1, 3, 6 tháng
trước khi hình thành hoa Chôm Chôm Lá phát triển hoàn chỉnh Cây đang mang quả
Dưa hấu Lá phát triển hoàn chỉnh Giữa thời kỳ sinh trưởng
(Nguồn: Nguyễn Như Hà, 2004)
Trang 312.7 Bón phân trong điều kiện khô hạn
Lượng mưa và nhiệt độ có ý nghĩa rất lớn đối với chế độ bón phân Lượng mưa quyết định hàm lượng nước trong đất và độ ẩm không khí Nhiệt
độ ảnh hưởng đến hoạt động của vi sinh vật đất, đặc điểm phát dục của cây, năng lực hút thức ăn của cây từ môi trường bên ngoài Cho nên chế độ phân bón ở vùng ẩm ướt phải khác chế độ phân bón ở vùng khô hạn, vùng khô hạn
được tưới nước khác với vùng khô hạn không có hệ thống tưới
ở vùng khô hạn trong thời kỳ sinh trưởng cây bị thiếu nước thì việc bón lót sâu trước khi trồng có tác dụng lớn, tác dụng của việc bón thúc lại bị hạn chế Không những vậy khi bón phân hữu cơ lại phải chọn loại phân khá hoai Vùng thiếu nước bón phân hữu cơ nông và có độ hoai mục kém làm cho lớp
đất mặt bị khô hạn hơn, quá trình khoáng hoá chậm đi Cần bón vào lớp đất có
độ ẩm ổn định, bộ rễ hoạt động tốt
ở vùng khô hạn có tưới, biện pháp bón phân phải phối hợp với các biện pháp kỹ thuật trồng trọt khác làm cho bộ rễ phát triển tốt nhất; phát triển từ lớp đất mặt tương đối khô xuống lớp đất nhiều nước, nhiều màu ở vùng này việc bón supe lân là rất có ý nghĩa
Phân bón có ảnh hưởng đến tính chịu hạn của cây trồng Lân và kali làm tăng tính chống chịu hạn của cây vì nó làm tăng sức giữ nước của cây, làm giảm phát tán nước qua mặt lá giúp cây sử dụng nước tiết kiệm hơn Bón nhiều đạm làm giảm tính chịu hạn, những vùng hạn và các năm hạn cây cần
được chú ý bón lân và kali [27]
Trang 32Phần III - Đối tượng, địa điểm, Nội dung và phương pháp nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Lượng phân bón N, P, K cho cây vải ở thời kỳ đầu kinh doanh trên đất xám feralit
Giống vải nghiên cứu là giống vải chín sớm Bình Khê do Viện nghiên cứu rau quả trung ương tuyển chọn
3.2 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn xã Bình Khê - huyện Đông Triều - tỉnh Quảng Ninh
3.3 Nội dung nghiên cứu của đề tài
• Một số tính chất đất và khả năng cung cấp dinh dưỡng của đất khu vực nghiên cứu
• ảnh hưởng của lượng phân N, P, K bón tới sinh trưởng, phát triển của cây vải
• ảnh hưởng của lượng phân N, P, K bón tới các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất vải
• ảnh hưởng của lượng phân N, P, K bón tới chất lượng quả
• Đánh giá mối quan hệ giữa phân bón với hàm lượng các chất dinh dưỡng trong lá cây vải và năng suất vải
3.4 Phương pháp nghiên cứu
• Bố trí thí nghiệm tại đồi trồng vải thời kỳ kinh doanh (năm bắt đầu cho thu hoạch quả có ý nghĩa) tại Bình Khê - Đông Triều - Quảng Ninh, thí nghiệm gồm 8 công thức 5 lần nhắc lại, bố trí theo hướng dốc, mỗi lần nhắc lại 3 cây, tổng số cây vải trong thí nghiệm là 120 cây Các công thức được trình bày ở bảng 1.3