1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu luận văn Những Nhân Tố Tác Động Đến Chất Lượng Thông Tin Trên Báo Cáo

100 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ tầm quan trọng của vấn đề kết hợp với việc tiếp cận với chất lượng thông tin kế toán khu vực công bằng một nghiên cứu thực nghiệm tại một đơn vị hành chính sự nghiệp, cụ thể

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

LÊ HỒNG SANG

NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI– NGHIÊN CỨU TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan luận văn thạc sĩ kinh tế với đề tài “Những nhân tố ảnh hưởng

đến chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính của Bảo hiểm xã hội – Nghiên cứu tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu của

riêng tôi Các phân tích số liệu và kết quả được nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ một công trình nghiên cứu nào khác

Tác giả

Lê Hồng Sang

Trang 3

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 2

2.1 Mục tiêu 2

2.2 Câu hỏi nghiên cứu 2

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 2

3.1 Đối tượng nghiên cứu 2

3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Ý nghĩa thực tiễn 3

6 Kết cấu đề tài 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 5

1.1 Các nghiên cứu nước ngoài 5

1.2 Các nghiên cứu trong nước 10

1.3 Nhận xét các nghiên cứu trước và xác định khe hổng nghiên cứu 15

1.3.1 Nhận xét tổng quan về các nghiên cứu trước 15

1.3.2 Khe hổng nghiên cứu 16

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 18

2.1 Tổng quan về chất lượng thông tin 18

2.1.1 Khái niệm về thông tin 18

2.1.2 Khái niệm về chất lượng 19

2.1.3 Khái niệm về chất lượng thông tin 19

2.2 Tổng quan về BCTC khu vực công 21

Trang 4

2.2.1 Khái niệm và mục đích của Báo cáo tài chính khu vực công 21

2.2.2 Phân loại thông tin BCTC 21

2.2.3 Đối tượng sử dụng thông tin 22

2.3 Chất lượng thông tin trên Báo cáo tài chính 22

2.3.1 Quan điểm của Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế - IASB 23

2.3.2 Quan điểm của Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ - FASB 24

2.3.3 Quan điểm của CMKT Việt Nam 26

2.3.4 Đặc tính thông tin trình bày trên BCTC của khu vực công 26

2.4 Giới thiệu cơ quan BHXH và kế toán áp dụng của cơ quan BHXH 30

2.4.1 Khái quát về BHXH 30

2.4.2 Các quy định pháp lý liên quan tới kế toán BHXH 34

2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến CLTT trên BCTC của cơ quan BHXH 37

2.6 Một số lý thuyết nền ứng dụng trong nghiên cứu 41

2.6.1 Kinh tế học thể chế 41

2.6.2 Lý thuyết thông tin hữu ích 43

2.6.3 Lý thuyết ủy nhiệm 43

2.6.4 Lý thuyết thông tin bất cân xứng 45

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 48

3.1 Giới thiệu 48

3.2 Quy trình nghiên cứu 48

3.3 Phương pháp nghiên cứu 49

3.3.1 Phương pháp nghiên cứu định tính 49

3.3.2 Phương pháp định lượng 51

3.4 Xây dựng thang đo 52

3.4.1 Thang đo cho biến phụ thuộc 53

3.4.2 Thang đo cho Biến độc lập 54

3.5 Các giả thuyết nghiên cứu cần kiểm định 56

3.6 Mẫu nghiên cứu định lượng 56

Trang 5

3.6.1 Phương pháp chọn mẫu 56

3.6.2 Xác định định cỡ mẫu 56

3.7 Đối tượng khảo sát 57

3.8 Phạm vi khảo sát 57

3.9 Công cụ thu thập dữ liệu 57

3.10 Phân tích và xử lý dữ liệu 57

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 59

4.1 Mẫu nghiên cứu định lượng 59

4.2 Đánh giá thang đo bằng Crobach Alpha 60

4.2.1 Nhân tố Nhà quản lý đơn vị 60

4.2.2 Nhân tố Trình độ nhân viên kế toán 60

4.2.3 Nhân tố Hệ thống pháp lý 61

4.2.4 Nhân tố Ứng dụng CNTT 62

4.2.5 Nhân tố Chế độ kế toán 62

4.2.6 Nhân tố Hoạt động thanh tra, giám sát 63

4.2.7 Nhân tố Chất lượng thông tin kế toán 63

4.3 Phân tích khám phá nhân tố EFA 65

4.3.1 Phân tích EFA cho các biến độc lập 65

4.3.2 Phân tích EFA cho biến phụ thuộc 70

4.4 Kiểm định mô hình nghiên cứu 71

4.4.1 Phân tích tương quan 71

4.4.2 Kiểm định độ phù hợp của mô hình ngiên cứu 72

4.4.3 Kiểm định giả thuyết nghiên cứu 72

4.4.4 Kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến 74

4.5 Kết luận kết quả hồi quy và kết quả nghiên cứu 74

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 76

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77

5.1 Kết luận chung 77

Trang 6

5.2 Kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng thông tin kế toán trên BCTC tại cơ quan

BHXH TP HCM 78

5.2.1 Hoàn thiện hệ thống pháp lý 78

5.2.2 Đẩy mạnh vai trò nhà quản trị đơn vị 78

5.2.3 Tăng cường hoạt động thanh tra, giám sát của nhà nước 79

5.2.4 Xây dựng một chế độ kế toán cho cơ quan BHXH 80

5.2.5 Nâng cao trình độ nhân viên 81

5.4 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 81

5.4.1 Hạn chế của đề tài 81

5.4.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 82 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT

BCTC : Báo cáo tài chính

BHTN : Bảo hiểm thất nghiệp

BHXH : Bảo hiểm xã hội

BHYT : Bảo hiểm y tế

CLTT : Chất lƣợng thông tin

CMKT : Chuẩn mực kế toán

CNTT : Công nghệ thông tin

CNVC : Công nhân viên chức

DN : Doanh nghiệp

FASB : Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ HCSN : Hành chính sự nghiệp

IASB : Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế

IPSAS : Chuẩn mực kế toán công quốc tế

TTKT : Thông tin kế toán

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

Bảng 2.1 Bảng tổng họp nhân tố của các nghiên cứu liên quan……….… …….39

Bảng 3.1 CLTT – Thang đo CLTT trên BCTC của BHXH……….….….53

Bảng 4.1 Đối tượng khảo sát……….….……59

Bảng 4.2 Cronbach Alpha của nhân tố Nhà quản lý đơn vị……….….…….60

Bảng 4.3 Cronbach Alpha của nhân tố Trình độ nhân viên kế toán………… 60

Bảng 4.4 Cronbach Alpha của nhân tố Hệ thống pháp lý……… …….61

Bảng 4.5 Cronbach Alpha của nhân tố Ứng dụng CNTT……….… ……62

Bảng 4.6 Cronbach Alpha của nhân tố Chế độ kế toán……… …62

Bảng 4.7 Cronbach Alpha của nhân tố Hoạt động thanh tra, giám sát…… …….63

Bảng 4.8a Cronbach Alpha của nhân tố Chất lượng thông tin kế toán…… ……64

Bảng 4.8b.Cronbach Alpha của nhân tố Chất lượng thông tin kế toán (đã loại CLTT6)……… …… 64

Bảng 4.9 Kiểm định KMO và Barlett……….… … 65

Bảng 4.10 Bảng phương sai trích……….…… ….67

Bảng 4.11 Ma nhận nhân tố xoay……… …….68

Bảng 4.12 Kết quả phân tích EFA cho biến phụ thuộc……… ….………70

Bảng 4.13 Ma trận hệ số tương quan……… ………71

Bảng 4.14 Tóm tắt mô hình……….… …… 72

Bảng 4.15 Phân tích phương sai (ANOVA)……… …….73

Bảng 4.16 Trọng số hồi quy……….73

Sơ đồ 3.1 Quy trình nghiên cứu……… ……49

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh nền kinh tế đang không ngừng phát triển và cạnh tranh ngày càng gay gắt, bất kỳ một tổ chức kinh tế hoạt động vì lợi nhuận hay phi lợi nhuận đều cần những thông tin tài chính đáng tin cậy để làm cơ sở cho việc ra quyết định Và thông tin

kế toán được xem như là ngôn ngữ của kinh doanh của một tổ chức, nó đóng vai trò truyền đạt thông tin về tình hình tài chính và tình hình kinh doanh của đơn vị thông qua các báo cáo tài chính, không chỉ cho các đối tượng bên trong nội bộ mà còn cho các cá nhân, đơn vị bên ngoài tổ chức có nhu cầu sử dụng có thể nắm bắt thông tin kịp thời Mặc khác, thông tin kế toán chỉ có giá trị ra quyết định khi nó đảm bảo những yêu cầu cơ bản

về chất lượng Hơn thế nữa, chất lượng thông tin kế toán không chỉ là vấn đề riêng của doanh nghiệp mà còn là vấn đề hiện đang được các cơ quan, tổ chức đoàn thể trong khu vực công rất quan tâm, thậm chí yêu cầu chất lượng thông tin trong lĩnh vực công còn đòi hỏi cao hơn vì nó không chỉ tạo dựng niềm tin đối với công chúng và còn mang tầm ảnh hưởng quốc tế, làm tăng sức cạnh tranh của quốc gia Robert O Opanyi (2016) cũng nêu

rõ vai trò quan trọng của chất lượng BCTC khu vực công khôngchỉ là trách nhiệm giải trình của Chính phủ đối với công dân mà còn thể hiện được cách thức chính phủ đó quản lý tài chính của quốc gia mình Một số nhà nghiên cứu khác trên thế giới cũng đã khai thác đề tài minh bạch thông tin tài chính đối với khu vực công như nghiên cứu của Seyoum và Manyak (2009), Khan (2010) WorldBank (2012) cũng cho rằng việc thiếu minh bạch thông tin trong tài chính công là một trong những nguyên nhân góp phần tạo

ra tham nhũng

Việt Nam hiện nay đã gia nhập nhiều tổ chức kinh tế mang tính chất khu vực và thế giới như APEC, ASEAN, TPP …, việc nâng cao tính minh bạch của thông tin kế toán ở khu vực công đòi hỏi ngày càng cao Tuy nhiên, các tổ chức cá nhân bên ngoài lại gặp nhiều vấn đề khó khăn trong việc tiếp cận thông tin trên BCTC của các cơ quan đơn vị trong khu vực công, do đó không thể xem xét, phân tích và đánh giá việc sử dụng nguồn

Trang 10

vốn ngân sách nhà nước của các đơn vị này Vấn đề này dẫn tới việc có thể sử dụng ngân sách nhà nước không đúng mục đích, sai quy định, gây ra tình trạng lãng phí và tham nhũng Xuất phát từ tầm quan trọng của vấn đề kết hợp với việc tiếp cận với chất lượng thông tin kế toán khu vực công bằng một nghiên cứu thực nghiệm tại một đơn vị hành chính sự nghiệp, cụ thể là cơ quan Bảo hiểm xã hội (BHXH), tôi quyết định chọn đề tài

“Những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính tại Bảo Hiểm Xã Hội - Nghiên cứu tại cơ quan BHXH TP HCM” nhằm xác định những yếu tố

có tác động tích cực đến việc đánh giá chất lượng thông tin trên BCTC của cơ quan bảo hiểm xã hội TP HCM Từ dó, luận văn cũng xin đề xuất một số giải pháp để cải thiện chất lượng thông tin kế toán trên BCTC khu vực công

2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

2.2 Câu hỏi nghiên cứu

- Có những nhân tố nào tác động đến chất lượng thông tin trên BCTC tại cơ quan BHXH

- Mức độ tác động của những nhân tố ảnh hưởng như thế nào đến chất lượng thông tin trên BCTC

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 11

Để đạt được mục tiêu đề ra, luận văn hướng tới nghiên cứu đối tượng là những nhân

tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin trên Báo cáo tài chính của cơ quan hành chính sự nghiệp nói chung và cơ quan BHXH nói riêng

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là ở các cơ quan bảo hiểm xã hội các quận, huyện trên địa bàn TP HCM vào khoảng thời gian từ tháng 10/2016 đến tháng 04/2017

4 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp cả hai phương pháp nghiên cứu là định tính và định lượng để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến CLTT trên BCTC ở cơ quan BHXH TPHCM

Phương pháp nghiên cứu định tính

Nghiên cứu định tính được sử dụng để tiến hành tìm hiểu, hình thành thang đo, cố gắng giải thích sự tương quan có ý nghĩa từ các thang đo, từ kết quả này xây dựng nên bảng câu hỏi chính thức sao cho phù hợp với mặt ý nghĩa của thang đo và đối tượng lấy mẫu

Phương pháp nghiên cứu định lượng

Tiến hành khảo sát thực nghiệm bằng cách phỏng vấn trực tiếp hoặc gửi mail các kế toán trưởng và kế toán tổng hợp của các cơ quan bảo hiểm xã hội tại địa bàn TPHCM thông qua bảng câu hỏi khảo sát Sau đó tiến hành phân tích kết quả thu được bằng phần mềm SPSS nhằm xác định mức độ tác động của từng nhân tố đến chất lượng thông tin trên BCTC của cơ quan BHXH – Nghiên cứu tại BHXH TP HCM

Thang đo nghiên cứu: Sử dụng thang đo Lirket 5 cấp độ đánh giá

5 Ý nghĩa thực tiễn

Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở cho các đơn vị hành chính sự nghiệp nói chung và cơ quan BHXH nói riêng có thể nhận diện được những nhân tố tác động đến chất lượng thông tin trên BCTC Những giải pháp được đề xuất trong nghiên cứu cũng được kỳ vọng sẽ đem lại hiệu quả trong việc cải thiện chất lượng thông tin kế toán tại cơ quan BHXH, từ đó giúp cho người sử dụng nắm bắt được tình hình hoạt

Trang 12

động cùng với các chính sách quản lý, những vấn đề phát sinh trong đơn vị Hơn thế nữa, mô hình được xây dựng trong bài nghiên cứu cũng có thể vận dụng cho các đơn vị hành chính sự nghiệp khác

6 Kết cấu đề tài

Nội dung bài nghiên cứu bao gồm 5 chương:

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Trang 13

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1 Các nghiên cứu nước ngoài

Nghiên cứu The factor affecting the implementation of internation public sector

accounting standards in Kenya của S Hamisi Kutitập trung vào việc xác định những

nhân tố ảnh hưởng đến mức độ ứng dụng IPSAS ở Kenya Tác giả đã thực hiện mô tả mức độ áp dụng IPSAS ở Bộ Tài chính, tập hợp dữ liệu sơ cấp lẫn thứ cấp để tiến hành phân tích Trong đó, dữ liệu sơ cấp được chính tác giả thu thập, còn dữ liệu thứ cấp được

kế thừa từ các bài nghiên cứu trước Phương pháp thống kê mô tả, mô hình hồi quy để xác định mức độ tương quan của các biến nhằm tìm ra những nhân tố ảnh hưởng thực sự đến việc áp dụng Chuẩn mực kế toán công quốc tế ở Kenya Kết quả nghiên cứu cho thấy những nhân tố như: sự thất bại trong việc giải quyết những vấn đề kế toán cụ thể, thiếu sự

hỗ trợ của công nghệ và thiếu sự hỗ trợ tài chính của chính phủ có ảnh hưởng đáng kể đến việc áp dụng chuẩn mực kế toán công quốc tế ở Kenya Nghiên cứu cũng đưa ra những vấn đề cơ bản trong việc giảm hiệu suất và hiệu quả của việc sử dụng IPSAS là mức độ

sử dụng công nghệ thấp, việc cải cách và áp dụng các chu trình quản trị tài chính công hiện đại còn yếu, thiếu khung pháp lý và chính trị yếu kém là những nhân tố cơ bản dẫn đến sự thất bại của việc áp dụng IPSAS ở Kenya Ngoài ra, việc thiếu cán bộ được đào tạo và có thẩm quyền trong việc áp dụng IPSAS vào báo cáo tài chính khu vực công cũng được xem là một nhân tố ảnh hưởng Nghiên cứu cũng đưa ra được một số kiến nghị nhằm xây dựng một khung pháp lý vững chắc về việc áp dụng IPSAS

Nghiên cứu The Impact Of International Public Sector Accounting Standard

(IPSAS) On Reliability, Credibility And Integrity Of Financial Reporting In State Government Administration In Nigeria của Ijeoma, N.B tập trung vào việc xác định

những tác động của IPSAS vào độ tin cậy, độ tín nhiệm và tính đầy đủ của Báo cáo tài chính thuộc cơ quan quản lý chính phủ ở Nigeria Và kết quả nghiên cứu cho ta thấy IPSAS không chỉ nâng cao độ tin cậy, độ tính nhiệm và tính đầy đủ của BCTC của cơ quan quản lý chính phủ ở Nigeria mà còn giúp nâng cao hiệu quả của kiểm soát nội bộ

Trang 14

cũng như quản trị tài chính khu vực công ở Nigeria Ngoài ra, việc ứng dụng IPSAS cũng nâng cao mục tiêu của chính phủ Liên bang trong việc cung cấp các dịch vụ công ngày càng hiệu quả hơn Trách nhiệm giải trình không bị nghi ngờ là dấu hiệu cho thấy đây là một chính phủ tốt, nếu Nigeria muốn trở thành một trong 20 nước có nền kinh tế phát triển nhất thế giới vào năm 2020 thì thủ trưởng đơn vị khu vực công, công dân và các bên liên quan khác cần tuân thủ tính minh bạch, đầy đủ và trách nhiệm giải trình trong quản

lý tài chính khu vực công Tác giả cũng đưa ra kết luận rằng việc áp dụng IPSAS sẽ nâng cao độ tin cậy, độ tính nhiệm và tính đầy đủ mà cũng góp phần mở đường cho việc thành lập một quy chuẩn chung cho báo cáo tài chính của ba cấp trong chính quyền Nigeria hiện nay

Nghiên cứu Conceptual framework issues: perspectives of Australian public sector

stakeholderscủa Kalph Kober, Janet Lee và Juliana Ng nhằm mục tiêu xem xét những

vấn đề cần quan tâm trong việc phát triển các khái niệm, định nghĩa và các nguyên tắc sao cho phù hợp với khuôn khổ khu vực công Bằng nghiên cứu thực nghiệm ở Úc, các tác giả đã tiến hành khảo sát các bên liên quan về báo cáo tài chính khu vực công, kết quả cho thấy được mức độ đồng ý khác nhau đối với những câu hỏi liên quan đến mục tiêu của BCTC, giới hạn của BCTC và các yếu tố thuộc BCTC Tuy nhiên, những người tham gia khảo sát đều có chung quan điểm không ủng hộ việc đưa ra một khuôn mẫu duy nhất

để áp dụng cho cả khu vực công và khu vực tư Ngoài ra, nghiên cứu này cũng dựa trên thực tiễn của một số quốc gia khác để phân tích và có cái nhìn sâu sắc hơn về vấn đề này

Từ đó, các tác giả nhấn mạnh những thách thức còn tồn tại trong việc thiết lập tiêu chuẩn

và sự cần thiết trong việc phát triển một khuôn khổ khái niệm để đáp ứng nhu cầu của khu vực công

Nghiên cứu Quality of Financial Reporting in Public Sector của Kristina

Rudzioniene & Toma Juozapaviciute nhằm mục đích tạo ra mô hình tổng quát nhằm đánh giá chất lượng báo cáo tài chính khu vực công Sau khi phân tích về chất lượng BCTC và đặc điểm chất lượng thông tin kế toán, tác giả đã đưa ra mô hình nghiên cứu có

Trang 15

chứa cả các yếu tố định tính và các yếu tố đánh giá định lượng Theo đó, mô hình đánh giá chất lượng báo cáo tài chính khu vực công bao gồm: hai yếu tố quan trọng nhất tác động đến BCTC khu vực công là chế độ kế toán và chính sách kế toán, các đặc tính chất lượng thông tin (phù hợp, kịp thời, dễ hiểu, trung thực, có thể kiểm chứng và có thể só sánh được) và các chỉ số tài chính (chẳng hạn như khả năng thanh toán hiện hành, tỷ lên nợ/vốn chủ,…) được sử dụng để đo lường chất lượng thông tin kế tóan, mục đích của việc tạo ra thông tin kế toán chất lượng - sự thỏa mãn nhu cầu của người sử dụng để ra quyết định Ước lượng định tính được phân tích dựa trên toàn bộ tổ chức trong khu vực công thuộc Lithuania và những đánh giá định lượng được tạo ra bằng nghiên cứu thực nghiệm của một tổ chức cụ thể Những đánh giá định tính và định lượng đều được sử dụng để đo lường chất lượng của BCTC

Nghiên cứuFactors Affecting Quality of Local Government Financial Statements

to Get Unqualified Opinion (WTP) of Audit Board of the Republic of Indonesia (BPK)của Dadang Suwanda nhằm mục tiêu kiểm tra các nhân tố làm cho BCTC chính

quyền địa phương không đạt chất lượng theo ý kiến đánh giá của ban kiểm toán nhà nước Indonesia, các yếu tố đó bao gồm Chuẩn mực kế toán chính phủ, Chất lượng nguồn nhân lực, Hệ thống kiểm soát nội bộ, Cam kết của tổ chức và Việc ứng dụng CNTT Tác giả đã thực hiện khảo sát 10 vùng của tỉnh Tây Java, áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích và phân tích hồi quy đa biến Kết quả nghiên cứu cho thấy cả 5 yếu tố đều có ảnh hưởng đến chất lượng BCTC chính quyền địa phương, nhưng mức độ tác động của các yếu tố này là khác nhau Trong đó, Chuẩn mực kế toán công chính phủ và Cam kết tổ chức là hai yếu tố tác động mạnh hơn so với các yếu tố còn lại Tuy nhiên, kết quả này chưa thể kiểm chứng được vì chưa có nghiên cứu nào tương tự trước đây

Nghiên cứuFactors influencing the quality of financial reporting and its

implications on good government governance (Research on Local Government Indonesia)của Nunuy Nur Afiah và Dien Noviany Rahmatika lại xuất phát từ tầm nhìn

quản trị chính phủ là bao gồm việc lập được một báo cáo tài chính chính phủ tốt Từ

Trang 16

kết quả của những nghiên cứu trước của Ban kiểm toán nhà nước, không phải tất cả tổ chức chính quyền đều có thể hoàn thành báo cáo tài chính công theo chuẩn mực kế toán công Nghiên cứu này được thực hiện năm 2014 nhằm chỉ ra ảnh hưởng thực tế của Năng lực bộ máy và Kiểm soát nội bộ đến chất lượng thông tin của báo cáo tài chính Nghiên cứu này đã tiến hành ở 70 tổ chức công của 7 bộ máy chính quyền ở một

số tỉnh ở Indonesia Dữ liệu sơ cấp được thu thập dựa trên bảng câu hỏi Kết quả nghiên cứu cho thấy: (1) Từ kết quả của kiểm định Krusskal Wallis, không có sự khác biệt đáng kể giữa Năng lực bộ máy tổ chức và Kiểm soát nội bộ, chất lượng báo cáo tài chính và quản trị chính quyền tốt ở 7 bộ máy chính quyền được khảo sát (2) Năng lực

bộ máy tổ chức và Kiểm soát nội bộ có tác động đến chất lượng BCTC từng phần và toàn bộ Chất lượng BCTC cũng có tác động đến việc quản trị chính quyền tốt

Nghiên cứu The Effect of Adoption of International Public Sector Accounting

Standards on Quality of Financial Reports in Public Sector in Kenya của Robert O

Opanyinêu rõ vai trò quan trọng của chất lượng BCTC khu vực công, nó khôngchỉ là trách nhiệm giải trình của Chính phủ đối với công dân mà còn thể hiện được cách thức chính phủ đó quản lý tài chính của quốc gia mình Việc giới thiệu IPSAS nhằm mục tiêu đáp ứng yêu cầu minh bạch trong trách nhiệm giải trình tài chính của chính phủ, và

nó cũng đóng vai trò quan trọng trong cuộc cải cách theo xu hướng toàn cầu hóa kế toán khu vực công Do đó, nghiên cứu này tập trung đánh giá tính hiệu quả của việc áp dụng IPSAS để nâng cao chất lượng báo cáo tài chính Thiết kế khảo sát mô tả với đối tượng nghiên cứu là 19 bộ trong chính phủ Kenya, dữ liệu thu thập được phân tích bằng cách sử dụng phương pháp thống kê mô tả và kiểm định T-test để chỉ ra được sự khác biệt giữa việc áp dụng và không áp dụng IPSAS Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc áp dụng IPSAS làm tăng các đặc tính chất lượng như tính so sánh, phù hợp, kịp thời và trung thực, trong khi đó tính dễ hiểu bị giảm Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy áp dụng IPSAS không tạo sự khác biệt đáng kể liên quan đến tính minh bạch và trách nhiệm giải trình, do đó mục tiêu ban đầu của chính phủ có thể không

Trang 17

hoàn toàn đạt được Cuối cùng, nghiên cứu kết luận rằng có tồn tại sự khác biệt giữa BCTC theo chuẩn mực kế toán cũ và theo IPSAS, việc áp dụng IPSAS được đánh giá

là có ảnh hưởng ở mức độ vừa phải đến BCTC trong khu vực công, góp phần tăng tính hữu ích trong chất lượng thông tin kế toán trên BCTC

Nghiên cứu Enhancing Malaysian public sector transparency and accountability:

lesson and Issues của Nur Barizah Abu Bakar, Zakiah Saleh và Muslim Har Sani

Mohamad tập trung vào cơ hội và thách thức của Malaysia khi tiến hành việc thực hiện chế độ kế toán như các nước phát triển Bài nghiên cứu cũng cho rằng mục tiêu của các sáng kiến đo lường hiệu suất sẽ không thúc đẩy tính minh bạch và tạo ra trách nhiệm giải trình lớn hơn nếu sự phát triển của họ không được mở rộng thông qua việc công bố thông tin Việc công bố thông tin này có thể hỗ trợ những bên liên quan để có tỷ lệ là xếp hạng xứng đáng của các cơ quan chính phủ trong lĩnh vực của mình Bài nghiên cứu cũng cho rằng việc minh bạch hơn trong khu vực công đang có xu hướng đáng khích lệ, điều này

có thể được tăng cường hơn nữa thông qua việc cải thiện chính sách lỗi thời của chính phủ

Nghiên cứu The role of technology in enhancing transparency and accountability

in public sector organization of Pakistan của Sirajul Haque và Pairote Pathrannarakul

tập trung vào việc nghiên cứu tác động của công nghệ điện tử trong chính phủ đến việc tăng cường sự minh bạch và trách nhiệm giải trình trong các tổ chức công Bài nghiên cứu cũng đưa ra hai giả thuyết liên quan đến sự minh bạch và trách nhiệm giải trình Về

sự minh bạch bài nghiên cứu đưa ra việc truy cập thông tin một cách nhanh chóng tác động tích cực đến việc tăng tính minh bach của tổ chức Còn về trách nhiệm giải trình, bài viết đưa ra giả thuyết rằng việc trao quyền cho nhân viên làm tăng đáng kể tính trách nhiệm trong tổ chức

Nghiên cứu Application of IPSAS Standards to the Vietnamese Government

Accounting and Financial Statements của Lê Thị Nha Trang này tập trung vào việc trả

lời câu hỏi kế toán chính phủ Việt Nam có chính xác khi áp dụng IPSAS hay không, nếu

Trang 18

có thì mức độ áp dụng sẽ như thế nào trong điều kiện của Việt Nam hiện nay để có thể tận dụng được lợi thế cũng như vượt qua những thách thức khi áp dụng IPSAS Mục đích của nghiên đánh giá một cách toàn diện tính hữu ích và tính khả thi của việc áp dụng IPSAS trong kế toán và lập báo cáo tài chính khu vực công ở Việt Nam Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng với các công cụ nghiên cứu cụ thể là phương pháp phân tích dữ liệu và sử dụng bảng câu hỏi nghiên cứu Dữ liệu được phân tích bao gồm bài báo, bài nghiên cứu, sách quản trị tài chính công, kế toán khu vực công và chuẩn mực kế toán công quốc tế, hệ thống pháp lý Việt Nam hiện hành liên quan tới quản lý tài chính khu vực công, chế độ kế toán, các báo cáo liên quan tới cải cách quản lý tài chính khu vực công và biên bản các cuộc họp liên quan Bảng câu hỏi sẽ được gửi tới các nhà quản lý và giảng viên trong lĩnh vực kế toán công để lấy dữ liệu, quan điểm, nhận thức về áp dụng IPSAS vào kế toán và lập báo cáo tài chính khu vực công ở Việt Nam

1.2 Các nghiên cứu trong nước

Nghiên cứu Vận dụng IPSAS để hoàn thiện BCTC trong đơn vị hành chính sự

nghiệp có thu của Đào Thị Kim Yến đã nêu lên thực trạng của các báo cáo tài chính của

các đơn vị hành chính sự nghiệp chỉ tập trung vào cung cấp thông tin cho cơ quan quản lý các cấp mà chưa chú trọng đến việc công bố thông tin minh bạch cho các đối tượng có liên quan Tác giả cũng cho rằng IPSAS đã và đang đáp ứng điều này để hoàn thiện BCTC trong đơn vị sự nghiệp có thu Tác giả có nêu ra một số mô hình BCTC công ở một số nước trên thế giới, từ đó đưa ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam và định hướng nghiên cứu trong tương lai Quan điểm của tác giả cho rằng cơ sở kế toán của việc ghi nhận các yếu tố trên BCTC có ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán Tuy nhiên những nhận định của tác giả vẫn là mang ý nghĩa định tính và chưa qua kiểm định thực

tế

Nghiên cứu Hệ thống kế toán công ở Việt Nam – Thực trạng và kiến nghị của Ngô

Thanh Hoàng nhằm nghiên cứu lý luận cơ bản về hệ thống kế toán công, hệ thống pháp

Trang 19

luật kế toán điều chỉnh hệ thống kế toán công ở Việt Nam hiện hành và đánh giá những tồn tại của hệ thống kế toán công trên các phương diện như: so sánh với các chuẩn mực

kế toán quốc tế, tính hiệu quả của thông tin kế toán công đối với lãnh đạo quản lý và quản trị; từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống kế toán công ở Việt Nam trong thời gian tới Tác giả cũng đưa ra những nhân tố tác động đến chất lượng thông tin

kế toán bao gồm hệ thống pháp lý, phương pháp quản lý và cơ chế tài chính

Còn trongChế độ kế toán công HCSN và IPSAS: Khoảng cách và những việc cần

làm của Hà Thị Ngọc Hà cho rằng BCTC của đơn vị HCSN hiện nay chỉ là một bộ phận

cấu thành để tổng hợp vào báo cáo quyết toán ngân sách nhằm phục vụ điều hành ngân sách của quốc hội BCTC của đơn vị HCSN hiện nay chưa phải là báo cáo của một đơn vị kinh tế bị kiểm soát, phục vụ cho việc hợp nhất BCTC của chính phủ để công khai nhằm cung cấp đầy đủ thông tin giúp cho tất cả công dân có thể kiểm tra giám sát đánh giá năng lực tài chính cũng như kết quả hoạt động của quốc gia cho từng năm tài chính Do khoảng cách từ chế độ kế toán HCSN Việt Nam tới IPSAS còn khá lớn, nên việc ban hành một CMKT khu vực công là việc cần làm ngay Việc ban hành này sẽ cải thiện hệ thống quản lý tài chính khu vực công hiện nay và nâng cao được CLTT kế toán trên BCTC Để làm được điều đó, theo tác giả phải thay đổi được nhận thức cũng như phương thức quản lý nguồn NSNN Như vậy, phương thức quản lý NSNN có sự tác động đến việc cải thiện chất lượng thông tin trên BCTC

Bài báo của Mai Thị Hoàng MinhCần thiết ban hành Chuẩn mực kế toán công tiến

hành phân tích những hạn chế của hệ thống kế toán HCSN và những khác biệt giữa kế toán hành chính sự nghiệp Việt Nam so với IPSAS Những khác biệt được tác giả nêu ra

ở đây là: Hệ thống BCTC; Đặc điểm của đơn vị HCSN và cách lập BCTC hợp nhất Tác giả cũng khẳng định rằng các quốc gia phải lập BCTC hợp nhất cho toàn bộ lĩnh vực công theo khuôn mẫu thống nhất và chuẩn mực của kế toán công quốc tế để phản ánh tình hình tài chính, kết quả hoạt động của từng năm để có sự so sánh trên phạm vi toàn cầu theo một tiêu chung nhất

Trang 20

Trong nghiên cứuXây dựng và hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính áp dụng cho

đơn vị hành chính sự nghiệp ở Việt Nam theo định hướng chuẩn mực kế toán công quốc

tế, Lê Thị Cẩm Hồng tiến hành những nghiên cứu lý luận cơ bản, tìm hiểm thực trạng về

BCTC hiện nay đang áp dụng tại các đơn vị HCSN Việt Nam Sau đó dựa trên những lý thuyết thực tiễn của kế toán Việt Nam và thế giới, tác giả đưa ra những giải pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện hệ thống BCTC áp dụng cho đơn vị HCSN cùng nhiều kiến nghị

hỗ trợ thêm Mục tiêu nghiên cứu muốn hướng tới là giúp người sử dụng BCTC khu vực công có cái nhìn đầy đủ hơn và thông tin cung cấp ngày càng trung thực, hợp lý hơn hỗ trợ đắc lực cho nhà nước trong việc quản lý công Cuối cùng, tác giả đã nêu ra những hạn chế của bài nghiên cứu cũng như đưa ra những phương án khắc phục cho những nghiên cứu trong tương lai để hoàn thiện hệ thống BCTC khu vực công

Trong nghiên cứu Hoàn thiện Báo cáo tài chính khu vực công ở Việt Namcủa

Nguyễn Thị Thu Hiền đã tập trung vào việcxác định những nhân tố ảnh hưởng tới cải cách kế toán khu vực công và đề xuất những giải pháp nhằm đảm bảo cho việc cải cách

và đổi mới kế toán khu vực công được khả thi, qua đó tạo cơ sở pháp lý để thiết lập hệ thống BCTC cho mục đích chung ờ khu vực công nói chung và kế toán hành chính sự nghiệp nói riêng nhằm cung cấp thông tin hữu ích cho người sử dụng theo hướng tiếp cận chuẩn mực kế toán công quốc tế và xu hướng chung của kế toán công của các quốc gia trên thế giới nhưng lại phù hợp với môi trường kế toán ở Việt Nam Nghiên cứu đã đưa ra những nhân tố tác động bao gồm:

(1) Môi trường pháp lý: bao gồm những nhân tố Sự dân chủ; sự giám sát chặt chẽ của cơ quan và đơn vị giám sát; Áp lực từ việc bắt buộc cung cấp thông tin trên BCTC độc lập của đơn vị công; Quyền hạn sử dụng thông tin

(2) Môi trường kinh tế: bao gồm những nhân tố Sự phát triển của kinh tế khu vực công; Nợ công; Quy mô đơn vị công

(3) Môi trường giáo dục nghề nghiệp: bao gồm Trình độ chuyên gia, chuyên viên

kế toán; Mức độ tiếp cận với kế toán khu vực công; Tăng cường sử dụng CNTT

Trang 21

(4) Môi trường văn hóa: bao gồm những nhân tố Chủ nghĩa cá nhân và tham nhũng;

Sự đấu tranh đòi quyền sử dụng thông tin của công chúng; Quan điểm của nhà nước; Sự nghiêm túc thực thi chuẩn mực và đạo đức nghề nghiệp

Qua quá trình nghiên cứu và kiểm định, tác giả kết luận nhóm nhân tố Môi trường pháp lý tác động nhiều nhất đến kết quả nghiên cứu, sau đó là nhóm nhân tố môi trường chính trị, môi trường văn hóa và cuối cùng là môi trường giáo dục nghề nghiệp, sự chuyên nghiệp Từ kết quả này, tác giả đã đưa ra một số kiến nghị cho quốc hội và cơ quan quản lý hành chính nhà nước nhằm cải thiện hệ thống báo cáo tài chính khu vực công cũng như đưa ra hướng nghiên cứu tiếp theo trong tương lai

Nghiên cứu Hoàn thiện hệ thống tài khoản kế toán áp dụng cho đơn vị hành chính

sự nghiệp ở Việt Nam theo định hướng tiếp cận chuẩn mực kế toán công quốc tế của Đậu

Thị Kim Thoa nhằm mục tiêu hoàn thiện hệ thống TTKT áp dụng cho đơn vị HCSN ở Việt Nam trên cơ sở kế thừa những ưu điểm của hệ thống TTKT hiện tại mang lại, hoàn thiện những vấn đề còn tồn tại của hệ thống này để nâng cao chất lượng theo dõi các đối tượng và cung cấp thông tin tài chính theo định hướng tiếp cận, hòa hợp với IPSASs công quốc tế nhưng vẫn phù hợp với đặc điểm đặc thù của nền kinh tế Việt Nam Nghiên cứu cũng tiến hành khảo sát tại 23 đơn vị HCSN tập trung ở 3 thành phố lớn là TPHCM, Bình Dương và Đồng Tháp Đối tượng khảo sát chủ yếu là kế toán trưởng, kế toán tổng hợp đang trực tiếp làm việc tại đơn vị và một số giảng viên đang tiến hành giảng dạy môn

kế toán công tại một số trường Đại học trên địa bàn Bảng câu hỏi tập trung vào việc đánh giá các vấn đề liên quan đến hệ thống kế toán mà đơn vị HCSN đang sử dụng như hệ thống pháp lý; cách phân loại và đặt tên hệ thống kế toán; vai trò của hệ thống TTKT trong việc theo dõi các đối tượng kế toán để có thể cung cấp thông tin kịp thời; hạn chế của hệ thống TTKT hiện nay; hệ thống chứng từ, sổ sách, báo cáo; phần mềm kế toán Dựa trên kết quả từ việc khảo sát, tác giả đưa ra những ưu điểm cũng như hạn chế của hệ thống hiện nay, từ đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện hệ thống TTKT đơn vị HCSN

Trang 22

trên cơ sở của hệ thống TTKT hiện tại nhưng theo một hướng mới, tiến tới thống nhất với thông lệ kế toán công quốc tế nhưng vẫn đảm bảo được đặc thù của Việt Nam

Nghiên cứu Tổ chức hệ thống thông tin kế toán cho đơn vị sự nghiệp có thu trên địa

bàn TPHCM của Trần Thị Thanh Hương nhằm mục tiêu đánh giá thực trạng thông tin

trình bày trên BCTC các đơn vị HCSN tại Việt Nam Thông qua phương pháp định tính bằng cách sử dụng bảng câu hỏi để thu thập ý kiến chuyên gia, tác giả đã tiến hành tổng hợp và phân tích toàn bộ cơ sở lý luận về đặc điểm hoạt động cùng với những quy định lập và trình bày thông tin trên BCTC của đơn vị HCSN Hơn thế nữa, nghiên cứu cũng sử dụng kỹ thuật so sánh và đối chiếu các quy định về thông tin trình bày trên BCTC đơn vị hành chính sự nghiệp với thông tin trình bày trên BCTC theo Chuẩn mực kế toán công quốc tế nhằm tìm ra những điểm khác biệt và hạn chế của hệ thống BCTC đơn vị HCSN tại Việt Nam Kết quả nghiên cứu cho thấy hệ thống BCTC của đơn vị HCSN theo quy định hiện hành đã cung cấp được những thông tin cơ bản về tình hình tài chính, đáp ứng được yêu cầu quản lý của nhà nước, phù hợp với Luật Ngân sách nhà nước và các chính sách quản lý tài chính của các đơn vị HCSN Tuy nhiên, BCTC ở các đơn vị HCSN vẫn tồn tại một số hạn chế như: BCTC được thiết lập chỉ cung cấp thông tin hữu ích cho nhóm đối tượng bên trong đơn vị hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà bỏ qua nhu cầu sử dụng thông tin của nhóm đối tượng bên ngoài; cơ sở kế toán áp dụng không thống nhất; nội dung trên báo cáo tài chính đơn vị HCSN chưa cung cấp được thông tin về tình hình tài chính, thông tin còn bị trùng lắp, chưa đầy đủ và không có tính so sánh giữa thực

tế so với dự toán; thông tin còn khá rời rạc và chưa có sự phân biệt thông tin theo mục đích sử dụng Thông qua đó, tác giả đã tìm ra những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế này và đưa ra được các giải pháp để hoàn thiện hệ thống BCTC đơn vị hành chính sự nghiệp của Việt Nam sao cho phù hợp hơn với yêu cầu phát triển và hội nhập

Trong bài báoTiêu chí đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin

kế toán của Nguyễn Thị Hồng Nga, tác giả đã kế thừa kết quả các nghiên cứu có liên

quan để đưa ra được các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng TTKT Ví dụ như Ahmad AI

Trang 23

– Hiyari & Ctg (2013) đã cho rằng chất lượng của TTKT phụ thuộc vào các yếu tố Nhân

sự, Cam kết quản lý, Hệ thống thông tin (IT), Chất lượng dữ liệu, trong đó nhân tố chất lượng dữ liệu không có ảnh hưởng đáng kể Heidi Vander Bauwhede (2001) cho rằng các nhân tố tiềm năng ảnh hưởng đến báo cáo tài chính (BCTC) bao gồm Quyết định của nhà quản lý, Cơ chế quản lý bên ngoài, Cơ chế quản trị nội bộ, Các quy định về BCTC,

Hệ thống pháp luật, Cấu trúc tài chính, Sự phân tán giữa quyền sở hữu và quyền kiểm soát, Nhu cầu và mục tiêu của BCTC Hay là nghiên cứu của Rapina (2014) đã kết luận các yếu tố cam kết quản lý, văn hóa tổ chức và cơ cấu tổ chức có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của TTKT

- Nguồn nhân lực kế toán và nhà quản lý: bao gồmnăng lực,trình độ chuyên môn,

trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp, ý thứctuân thủ pháp

- Hệ thống thông tin kế toán: bao gồmhệ thống thiết bị công nghệ thông tin truyền

thông,phần mềm quản lý, phần mềm kế toán

- Môi trường DN: bao gồm cả các yếu tố bêntrong và bên ngoài DN như văn hóa

DN, cơ cấu tổ chức, chính sách đãi ngộ, áp lực côngviệc, ngành nghề kinh doanh

- Hệ thống văn bản pháp quy (Luật, chuẩnmực) và sự quản lý, giám sát của

Nhànước

Sau quá trình phân tích mô hình hồi quy, tác giả đã chứng minh và kết luận rằng có

2 nhân tố ảnh hưởng ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng TTKT của các doanh nghiệp ở Việt Nam là Nhân sự kế toán và các nhà quản lý và Hệ thống văn bản pháp quy, quản lý, giám sát của Nhà nước

1.3 Nhận xét các nghiên cứu trước và xác định khe hổng nghiên cứu

1.3.1 Nhận xét tổng quan về các nghiên cứu trước

Nhìn chung, các nghiên cứu về chất lượng thông tin trình bày trên BCTC tại các đơn vị thuộc khu vực công hiện đang được rất nhiều tác giả quan tâm Các nghiên cứu nước ngoài về vấn đề này chủ yếu tập trung vào xu hướng vận dụng IPSAS nhằm nâng cao chất lượng của BCTC Chẳng hạn như nghiên cứu của Ijeoma (2014) chỉ rõ tầm quan

Trang 24

trọng của việc ứng dụng IPSAS, Kuti (2012) cũng chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng IPSAS hay Opanayi (2016) cũng đề cập đến vấn đề áp dụng IPSAS sẽ làm tăng chất lượng thông tin trên BCTC Kobert và cộng sự (2012) thì chỉ rõ vai trò của việc phát triền một khuôn khổ lý thuyết riêng cho khu vực công Suwanda (2015) nghiên cứu BCTC công nói chung tại một địa phương cụ thể

Bên cạnh đó, cũng có một số nghiên cứu phân tích một vài nhân tố có ảnh hưởng đến chất lượng thông tin trên BCTC khu vực công như Afiah và Rahmatika (2012), Haque và cộng sự (2013), Rudzioniene và Juozapaviciute (2013) nhưng những nghiên cứu này vẫn chỉ mới phân tích một hoặc hai nhân tố mà tác giả cho là quan trọng nhất có tác động đến chất lượng thông tin trên BCTC chứ chưa xây dựng mô hình đầy đủ các nhân tố

Hầu hết các nghiên cứu ở Việt Nam đều tập trung chủ yếu vào việc vận dụng IPSAS vào đơn vị công tại Việt Nam Một số nghiên cứu cũng có đề cập đến việc hoàn thiện hệ thống thông tin kế toán cho đơn vị hành chính sự nghiệp như Trần Thị Thanh Hương (2015) hay Nguyễn Thị Thu Hiền (2015) về việc hoàn thiện BCTC khu vực công Tuy nhiên, vẫn khá ít các nghiên cứu xây dựng mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến chất

lượng thông tin trên BCTC của một đơn vị HCSN

1.3.2 Khe hổng nghiên cứu

Sau khi nhìn nhận một cách tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước, tác giả nhận thấy vẫn chưa có nghiên cứu về xây dựng mô hình các nhân tố tác động đến được chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính ở một cơ quan HCSN là BHXH Do đó, đóng góp mới của đề tài là sẽ xây dựng được mô hình nghiên cứu về các nhân tố tác động đến chất lượng thông tin trên BCTC tại BHXH thông qua nghiên cứu thực nghiệm tại BHXH TP HCM

Trang 25

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương 1 đã trình bày tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến chất lượng thông tin kế toán trong khu vực công Những nghiên cứu này đã chứng minh được vấn đề thông tin trên BCTC của các đơn vị trong khu vực công đang được nhiều quốc gia quan tâm, mục tiêu cuối cùng của hầu hết các nghiên cứu hướng tới

là tìm ra được giải pháp để cải thiện thông tin kế toán trên BCTC của đơn vị công Kết quả của những bài nghiên cứu này cũng là cơ sở để luận văn kế thừa và vận dụng để xây dựng mô hình nghiên cứu tại Việt Nam liên quan đến chất lượng thông tin kế toán trên BCTC của cơ quan BHXH, cụ thể cơ quan BHXH TP HCM

Chương 2, tác giả sẽ tiếp tục xây dựng cơ sở lý thuyết của đề tài

Trang 26

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1 Tổng quan về chất lượng thông tin

2.1.1 Khái niệm về thông tin

Đoàn Phan Tân (2001) cho rằng “Thông tin là khái niệm cơ bản của khoa học

cũng là khái niệm trung tâm xã hội trong thời đại chúng ta Mọi quan hệ, mọi hoạt động

của con người đều dựa trên một hình thức giao lưu thông tin nào đó” Như vậy, thông tin

có vai trò rất quan trọng đối với mỗi tổ chức, cá nhân trọng thời đại hiện nay

Theo quan điểm triết học, thông tin là sự phản ánh sự vận động và tương tác tự nhiên và xã hội (thế giới vật chất) bằng ngôn từ, ký hiệu, hình ảnh… và quá trình tư duy bằng tất cả phương tiện tác động lên giác quan của con người phản ánh và tiếp nhận phản ánh, biến phản ánh thành hiều biết, thành tri thức

Theo quan điềm kinh tế học, thông tin là những gì con người thu nhận được từ

dữ liệu và xử lý dữ liệu nhằm tạo ra sự hiểu biết, các tri thức và được đánh giá là có ích phục vụ cho việc ra quyết định Dữ liệu ở đây được hiểu là những con số, hình ảnh hay quan sát về một sự kiện hay hoạt động nào đó còn ở hình thức lộn xộn, hoặc chưa có ý nghĩa phù hợp với người sử dụng

Theo Gelinas và Dull (2008), thông tin là những sự kiện, con số được thể hiện trong một hình thức hữu ích với người sử dụng để phục vụ cho việc ra quyết định Thông tin có ích với việc ra quyết định vì nó giảm sự không chắc chắn và tăng tri thức về vấn đề được đề cập

Như vậy, khái niệm về thông tin rất đa dạng và tùy thuộc cách tiếp cận mà thông tin được định nghĩa khác nhau Nguyên nhân của sự khác nhau này được cho rằng

là do thông tin không thể sờ mò được, người ta gặp thông tin chỉ trong quá trình hoạt động, thông qua tác động trừu tượng của nó (Đoàn Phan Tân, 2001) Trong bài nghiên cứu này, thông tin được xem xét ở góc độ kinh tế, nên tác giả định nghĩa thông tin như

sau: thông tin là những gì con người thu nhận được từ việc thu thập dữ liệu và xử lý dữ

Trang 27

liệu nhằm tạo ra sự hiểu biết, các tri thức và được đánh giá là có ích phục vụ cho việc ra quyết định

2.1.2 Khái niệm về chất lượng

Chất lượng là một phạm trù phức tạp và có nhiều quan điểm khác nhau về chất lượng, tiêu biểu ở đây là:

Trong “Sổ tay quản lý chất lượng”, Juran đã định nghĩa “Chất lượng là sự phù hợp

với nhu cầu” (Juran, 1988)

Deming (1968) cho rằng “Chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu của khách hàng Nếu một sản phẩm mà không đáp ứng được nhu cầu khách hàng thì dù sản phẩm

đó có tốt đến mấy thì cũng bị xem là sản phẩm kém chất lượng”

Theo quan điểm của Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO), chất lượng là mức độ tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu Đáp ứng yêu cầu tức là đáp ứng được

những mong đợi của khách hàng đối với sản phẩm, dịch vụ

Như vậy, chất lượng là khái niệm đặc trưng cho khả năng thỏa mãn nhu cầu của khách hàng hay người sử dụng sản phẩm, dịch vụ Sản phẩm hay dịch vụ nào không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng thì bị coi là kém chất lượng cho dù sản phầm, dịch vụ

đó được làm ra với trình độ công nghệ sản xuất ra có hiện đại đến đâu đi chăng nữa Đánh giá chất lượng từ cao hay thấp đều phải đứng trên quan điểm của người sử dụng Tương

tự đối với thông tin kế toán được tạo ra từ báo cáo tài chính được xem là có chất lượng khi nó đáp ứng được nhu cầu ra quyết định của người sử dụng thông tin

2.1.3 Khái niệm về chất lượng thông tin

Có nhiều quan điểm khác nhau về chất lượng thông tin, một số quan điểm tiêu biểu như:

Quan điểm của Wang và cộng sự (1999), chất lượng thông tin có thể định nghĩa là thông tin phù hợp cho việc sử dụng của người sử dụng thông tin Còn quan điểm của Kahn và cộng sự (1999) thì cho rằng chất lượng thông tin là đặc tính của thông tin để giúp đạt được các yêu cầu hay sự mong đợi của người sử dụng thông tin

Trang 28

Bên cạnh đó, việc đo lường chất lượng thông tin cũng mang ít nhiều tính cảm tính Eppler & Wittig (2000), việc đo lường chất lượng thông tin có tính cảm tính và sự khác biệt giữa thông tin yêu cầu và thông tin đạt được càng nhỏ thì chất lượng thông tin càng cao Nhóm tác giả cũng đã tiến hành tổng hợp những nghiên cứu chất lượng thông tin trong khoảng thời gian 10 năm từ 1989 – 1999 Kết quả tổng hợp và phân tích từ các nghiên cứu này cho thấy các tiêu chuẩn chất lượng thông tin bao gồm:

- Tính kịp thời: nhấn mạnh đến tính cung cấp thông tin một cách nhanh chóng hoặc thông tin được cập nhật đúng thời điểm theo nhu cầu người sử dụng

- Tính có thể truy cập hoặc có thể đạt được: nhằm đảm bảo cung cấp thông tin nhanh chóng và ổn định mang lại các giá trị cho người sử dụng

- Tính khách quan: đảm bảo thông tin phản ánh thực tế một cách khách quan

- Tính thích hợp: thông tin phải thích hợp cho các quyết định của người sử dụng

- Chính xác: đây là tiểu chuẩn đòi hỏi tính rõ ràng và chắc chắn của thông tin

- Nhất quán: đây là tiêu chuẩn đòi hỏi thông tin không mâu thuẫn, nhất quán về hình thức và nội dung

- Đầy đủ: thông tin phải đảm bảo các yêu cầu nhằm phản ánh đúng thực tế Tuy nhiên nhóm tác giả cũng chỉ rõ những hạn chế giữa một số các tiêu chuẩn chất lượng thông tin, chẳng hạn giữa tiêu chuẩn an ninh và có thể truy cập (vì càng đảm bảo

an ninh tốt thì càng khó truy cập), hoặc giữa chính xác và kịp thời; giữa phạm vi tổng quát thông tin và mức độ chi tiết thông tin (càng nhiều thông tin chi tiết thì càng ít mang tính tổng quát)

Tóm lại, có rất nhiều quan điểm khác nhau về chất lượng thông tin và mỗi quan điểm có những tiêu chuẩn khác nhau Có những tiêu chuẩn mâu thuẫn lẫn nhau, trùng lắp nhau do việc phân loại thông tin chỉ mang tính cảm tính Tuy nhiên, các tác giả đều có cách nhìn chung là thông tin có chất lượng khi nó đảm bảo một số đặc điểm yêu cầu sao cho nó phù hợp với nhu cầu và quyết định của người sử dụng thông tin

Trang 29

2.2 Tổng quan về BCTC khu vực công

2.2.1 Khái niệm và mục đích của Báo cáo tài chính khu vực công

Theo IPSASB (2013) thì BCTC của đơn vị công là một trình bày có cấu trúc về tình hình tài chính và hoạt động của một đơn vị Mục đích BCTC dành cho khu vực công

là cung cấp thông tin tài chính về tình hình hoạt động tài chính, lưu chuyển tiền của một

tổ chức cho một loạt người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định và đánh giá phân bổ nguồn lực

Theo Khuôn mẫu lý thuyết kế toán khu vực công (2013), mục đích chính của BCTC của các tổ chức khu vực công là cung cấp thông tin hữu ích cho người sử dụng cho mục đích giải trình và mục đích ra quyết định, minh bạch, giải trình

Theo IPSASB (2006), mục đích của BCTC khu vực công là cung cấp thông tin hữu ích cho việc ra quyết định và để chứng minh trách nhiệm của đơn vị trong các nguồn lực giao phó

IPSAs phân biệt hai loại BCTC khác nhau cho từng khu vực công bố là: Báo cáo tài chính cho mục đích chung và Báo cáo tài chính cho mục đích đặt biệt Báo cáo tài chính khu vực công cho mục đích chung được công bố cho những người sử dụng nhưng không có khả năng yêu cầu các thông tin tài chính cụ thể nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân riêng của họ được gọi là báo cáo tài chính cho mục đích chung Người sử dụng trong trường hợp này có thể là công dân, đại diện dân cử và các đối tượng công chúng khác Còn Báo cáo tài chính cho mục đích đặc biệt được lập cho các đối tượng khác như cơ quan lập pháp, cơ quan quản lý, cơ quan thực hiện chức năng giám sát, những người có quyền yêu cầu BCTC phải được lập để cung cấp những thông tin thỏa mãn nhu cầu riêng của họ

2.2.2 Phân loại thông tin BCTC

BCTC khu vực công cung cấp những loại thông tin sau: Thông tin về tình hình hoạt động; Thông tin về tình hình tài chính; Thông tin về sự thay đổi tài sản thuần; Thông tin về dòng tiền; Thông tin giải trình, thuyết minh bổ sung

Trang 30

Tất cả những thông tin này được trình bày trên 5 báo cáo là: Báo cáo kết quả hoạt động, Báo cáo tình hình tài chính, Báo cáo sự thay đổi của tài sản thuần, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và Bảng thuyết minh BCTC Ngoài ra, tùy thuộc theo nhu cầu sử dụng thông tin của các đối tượng sử dụng (như cơ quan lập pháp, cơ quan quản lý, cơ quan thực hiện chức năng giám sát, những người có quyền yêu cầu BCTC phải được lập để cung cấp những thông tin thỏa mãn nhu cầu của riêng họ) thì BCTC sẽ được lập để cung cấp thông tin phù hợp, đáp ứng nhu cầu của đối tượng sử dụng

2.2.3 Đối tượng sử dụng thông tin

Đối với BCTC theo mục đích chung, đối tượng được sử dụng ở đây là công dân, đối tượng dân cử hoặc các đối tượng dân chúng khác Còn đối với BCTC cho mục đích đặc biệt, đối tượng sử dụng ở đây là tất cả những đối tượng có khả năng hoặc quyền lực yêu cầu đơn vị công cung cấp thông tin nhằm đáp ứng nhu cầu sử dung thông tin riêng của họ Ví dụ như là cơ quan thuế, cơ quan quản lý ngân sách nhà nước, đơn vị cấp trên, kiểm toán nhà nước, ngân hàng, khách hàng đặc biệt, chủ nợ hoặc tổ chức quốc tế…

Tại Việt Nam hiện nay, các đơn vị công chỉ lập báo cáo tài chính chưa phân biệt báo cáo tài chính cho mục đích chung hay báo cáo tài chính đặc biệt Báo cáo tài chính khu vực công hiện nay vừa cung cấp thông tin cho mục đích chung vừa cung cấp thông tin cho mục đích đặc biệt nhưng phần lớn các thông tin phục vụ cho quyết toán ngân sách

và không công bố công rãi cho công chúng như vậy có thể tự hiểu là báo cáo tài chính cho mục đích đặc biệt

2.3 Chất lượng thông tin trên Báo cáo tài chính

Trong lĩnh vực kế toán, CLTT được đề cập trong các báo cáo của tổ chức nghề nghiệp kế toán quốc tế như AAA, FASB, IASB, CMKT Việt Nam và trong các nghiên cứu cơ bản về CLTT trên BCTC Luận văn sẽ lần lượt đề cập tới từng quan điểm và sẽ tổng hợp các đặc tính chất lượng phù hợp để thưc hiện nghiên cứu này

Trang 31

2.3.1 Quan điểm của Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế - IASB

Theo quan điểm của IASB, các đặc tính chất lượng của thông tin trên BCTC gồm: có thể hiểu được, thích hợp, đáng tin cậy và có thể so sánh được IASB cũng đưa ra các hạn chế của chất lượng thông tin là cân đối giữa lợi ích-chi phí, sự kịp thời và sự cân đối giữa các đặc điểm chất lượng

- Có thể hiểu được: Người sử dụng phải hiểu được BCTC thì thông tin mới hữu ích Người sử dụng BCTC được giả thiết là có một kiến thức nhất định về kinh tế, kinh doanh và kế toán cũng như phải có thiện chí và nỗ lực đọc BCTC Tuy nhiên thông tin

về một vấn đề phức tạp nhưng cần thiết cho việc ra quyết định thì không được loại trừ

ra khỏi BCTC dù nó khó hiểu đối với một số đối tượng sử dụng BCTC

- Thích hợp: Thông tin được coi là thích hợp khi nó giúp người đọc đánh giá quá khứ, hiện tại (tính xác nhận), tương lai (tính dự đoán) hoặc xác nhận hay điều chỉnh các đánh giá trước đây Tính thích hợp chịu ảnh hưởng của nội dung và tính trọng yếu của thông tin

- Đáng tin cậy: Đáng tin cậy là đặc điểm chất lượng yêu cầu thông tin phải thể hiện đầy đủ các đặc tính dưới đây

+ Phản ánh trung thực các sự kiện hay nghiệp vụ cần trình bày

+ Thông tin cần xem trọng nội dung hơn là hình thức, nghĩa là phải trình bày phù hợp với bản chất kinh tế chứ không chỉ căn cứ và hình thức pháp lý

+ Thông tin trung lập, khách quan

+ Thận trọng khi thực hiện một xét đoán hay ước tính trong điều kiện chưa rõ ràng phải đảm bảo sao cho tài sản và thu thập không bị thổi phồng, nợ phải trả không được giấu bớt

+ Thông tin phải đầy đủ trong phạm vi của trọng yếu và chi phí Một sự bỏ sót có thể làm thông tin bị hiểu lầm hay sai lệch và do đó sẽ ảnh hưởng đến tính đáng tin cậy

Trang 32

- Có thể so sánh được: Muốn thông tin so sánh được cần sử dụng nhất quán phương pháp và thủ tục kế toán qua các kỳ Việc thuyết minh là cần thiết trong trường hợp doanh nghiệp thay đổi chính sách kế toán hoặc theo yêu cầu của chuẩn mực

IASB cũng đưa ra các hạn chế liên quan đến các đặc tính chất lượng thông tin, bao gồm:

- Sự kịp thời : Thông tin được báo cáo chậm trễ sẽ mất đi tính thích hợp nhưng ngược lại việc cung cấp thông tin đáng tin cậy phải có thời, vì vậy cần phải cân đối giữa yêu cầu kịp thời và tính đáng tin cậy của thông tin

- Cân đối giữa lợi ích và chị phí: Lợi ích mang lại từ thông tin cần cân đối với chi phí để cung cấp chúng

- Cân đối giữa các đặc điểm chất lượng

2.3.2 Quan điểm của Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ - FASB

Theo quan điển của FASB, chất lượng của thông tin trên BCTC được chia thành 2 nhóm đặc tính bao gồm: (1) Đặc tính cơ bản gồm thích hợp và đáng tin cậy, và (2) nhóm đặc tính thứ yếu là nhất quán và có thể so sánh được FASB cũng đưa ra các hạn chế của chất lượng thông tin là vấn đề: cân nhắc chi phí – hiệu quả; trọng yếu và thận trọng

- Thích hợp: Thông tin kế toán thích hợp là thông tin giúp chúng ta ra quyết định (người sử dụng) có thể thay đổi quyết định của mình, bao gồm:

+ Có giá trị dự đoán hay đánh giá: Thông qua việc dự đoán hay đánh giá lại các

dự đoán trong quá khứ, người ra quyết định có thể thay đổi các tiên đoán trước đó và

do đó có thể thay đổi quyết định của mình

+ Kịp thời: Kịp thời là một đặc tính hỗ trợ cho tính thích hợp của thông tin Kịp thời được hiểu là thông tin phải sẵn sàng cho người quyết định trước khi thông tin này

bị mất khả năng ảnh hưởng tới việc ra quyết định

- Đáng tin cậy: Thông tin kế toán đáng tin cậy là thông tin trình bày trung thực, không có sai sót hoặc thiên lệch trong phạm vi có khả năng kiểm chứng

Trang 33

+ Tính trình bày trung thực: Việc đánh giá để tạo thông tin và việc diễn đạt thông tin kế toán phải phù hợp với nghiệp vụ hoặc sự kiện muốn trình bày

+ Có thể kiểm chứng: Có thể kiểm chứng là khả năng đồng thuận giữa những người đánh giá có đủ năng lực và độc lâp để đảm bảo thông tin tài chính phù hợp với nghiệp vụ hoặc sự kiện muốn trình bày hoặc phương pháp đánh giá tạo thông tin không

có sai sót hoặc thiên lệch

+ Trung lập hay khách quan: thông tin phải khách quan, không được thiên lệch để tạo ra một kết quả đã được định trước hay chịu ảnh hưởng của một tác động cá biệt nào

đó nhằm tô vẽ hình ảnh thông tin nhằm tác động lên quyết định theo một hướng đặc biệt nào đó

- Khả năng so sánh được và nhất quán

+ So sánh được: So sánh được là yêu cầu thông tin giúp người sử dụng có thể nhận thấy sự khác biệt và tương tự giữa hai hiện tượng kinh tế Các hiện tượng giống nhau phải được phản ảnh giống nhau; các hiện tượng khác nhau phải được phản ánh khác nhau

+ Nhất quán: đỏi hỏi sự thống nhất giữa các kỳ báo cáo thông qua việc không thay đổi thủ tục và chính sách kế toán Khi cần áp dụng phương pháp kế toán mới, để đảm bảo khả năng so sánh được thì thông tin cần có thêm phần thuyết minh giải trình thích hợp

Các đặc điểm chất lượng trong nhiều tình huống không thể thực hiện đầy đủ FASB đưa ra các hạn chế liên quan đến chất lượng thông tin, bao gồm:

- Quan hệ chi phí – lợi ích: lợi ích có được từ việc sử dụng thông tin cần được xem xét trong mối quan hệ với chi phí để cung cấp thông tin đó Quan hệ lợi ích và chi phí là giới hạn có ảnh hưởng rộng tới chất lượng thông tin

- Trọng yếu: trọng yếu là tầm quan trọng của việc bỏ sót hay trình bày sai thông tin mà trong một hoàn cảnh nhất định nào đó, sự sai sót này ảnh hưởng tới việc xét đoán làm thay đổi quyết định của người sử dụng thông tin đó

Trang 34

- Thận trọng: là phản ứng thận trọng với các tình huống chưa rõ ràng để đảm bảo các tình huống chưa rõ ràng và các rủi ro tiềm tàng được xem xét một cách đầy đủ

2.3.3 Quan điểm của CMKT Việt Nam

Theo CMKT Việt Nam số 01, các yêu cầu cơ bản đối với kế toán bao gồm:

- Trung thực: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo trên cơ sở các bằng chứng đầy đủ khách quan và đúng với thực tế về hiện trạng, bản chất nội dung và giá trị của nghiệp vụ kinh tế phát sinh

- Khách quan: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo đúng với thực tế, không bị xuyên tạc, không bị bóp méo

- Đầy đủ: Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh liên quan đến kỳ kế toán phải được ghi chép và báo cáo đầy đủ, không bị bỏ sót

- Kịp thời: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo kịp thời, đúng hoặc trước thời hạn quy định, không được chậm trễ

- Dễ hiểu: các thông tin và số liệu kế toán trình bày trong BCTC phải rõ ràng dễ hiểu đối với người sử dụng Thông tin về những vấn đề phức tạp trong BCTC phải được giải trình trong phần thuyết minh

- Có thể so sánh: Các thông tin và số liệu kế toán cần được tính toán và trình bày nhất quán Trường hợp không nhất quán thì phải giải trình trong phần thuyết minh để người sử dụng BCTC có thể so sánh và đánh giá

2.3.4 Đặc tính thông tin trình bày trên BCTC của khu vực công

IPSASs và khuôn mẫu lý thuyết kế toán công quốc tế đã thiết lập những đặc tính góp phần tăng tính hữu ích của thông tin được cung cấp trong BCTC của khu vưc công đối với người sử dụng thông tin như sau:

- Tính dễ hiểu: Thông tin đưa ra trong báo cáo phải dễ hiểu để người sử dụng thông tin có thể hiểu được ý nghĩa chung Thông tin đưa ra phải đảm bảo cho người sử dụng thông tin hiểu được các hoạt động của đơn vị, môi trường hoạt động của đơn vị

và người sử dụng sẵn sàng nghiên cứu thông tin Thông tin về những vấn đề tổng hợp

Trang 35

không nên đưa vào báo cáo một cách tổng hợp làm cho người sử dụng thông tin không thể hiểu được

- Tính thích hợp và đáng tin cậy: Các thông tin thích hơp với người sử dụng khi

nó giúp cho việc đánh giá sự kiện ở quá khứ, hiện tại và tương lai hoặc trong việc khẳng định, tự điều chỉnh và đánh giá trong quá khứ

+ Thời gian cung cấp thông tin kịp thời, nếu có một sự trì hoãn thái quá trong việc báo cáo thông tin thì sẽ làm mất tính thích hợp về thời gian của thông tin Thông thường, việc cung cấp thông tin kịp thời là phải được tiến hành trước khi các giao dịch của đơn vị được các đối tượng bên ngoài biết và vì vậy độ tin cậy của thông tin không cao Ngược lại, việc báo cáo thông tin bị chậm lại cho đến khi tất cả tình hình của đơn

vị được biết thì thông tin có độ tin cậy cao nhưng ít có hữu ích cho người sử dụng thông tin để ra các quyết định trong thời hạn quá độ Để đạt được sự cân bằng giữa tính thích hợp và độ tin cậy của thông tin cần phải có sự xem xét làm thế nào đó để có thể thoả mãn tốt nhất nhu cầu của người sử dụng thông tin

+ Quan hệ giữa lợi ích và chi phí: quan hệ lợi ích và chi phí ràng buộc mang tính bao trùm Lợi ích đưa đến từ việc sử dụng thông tin phải lớn hơn chi phí sử dụng thông tin Việc xác định lợi ích và chi phí là một vấn đề cần phải quan tâm Thêm vào đó, chi phí không phải lúc nào cũng được bỏ ra từ người hưởng lợi ích của việc sử dụng thông tin đem lại cho người sử dụng nó chứ không phải là người mà thông tin đó định được cung cấp cho Chính vì vậy, mối quan hệ giữa lợi ích và chi phí trong một trường hợp

cụ thể rất khó đánh giá Mặc dù vậy, những người lập BCTC cũng như người sử dụng báo cáo cần phải nhận biết được điều đó

+ Quan hệ với những đặc điểm định tính: Trong thực tiễn một sự cân bằng hay đánh đổi giữa các đặc điểm định tính của báo cáo tài chính cần phải được xem xét Nhìn chung, mục đích đạt được sự cân bằng thích hợp giữa các đặc điểm định tính để đáp ứng được mục tiêu của báo cáo tài chính, điều quan trọng là phải điều chỉnh được

sự cân đối giữa các đặc điểm đó trong những trường hợp khác nhau

Trang 36

- Tính trung thực: Thông tin trung thực là những thông tin không có các lỗi cơ bản hay bị bóp méo và nó có thể còn phụ thuộc vào người sử dụng để trình bày một cách trung thực và hợp lý tình hình của đơn vị

+ Trình bày trung thực và hợp lý: Các thông tin trình bày trung thực các giao dịch

và sự kiện khác, nó cần được thể hiện phù hợp với thực chất của các giao dịch, sự kiện một cách hợp pháp và không chỉ phản ánh đơn thuần theo hình thức hợp pháp của chúng

+ Sự đúng đắn: Nếu thông tin thể hiện trung thực các giao dịch và sự kiện khác thì thông tin đó phải được tính toán và thể hiện đúng tính chất của nó, đúng các hoạt động kinh tế và không chỉ phản ánh đơn thuần theo hình thức hợp pháp của chúng Sự đúng đắn của các giao dịch, sự kiện không phải lúc nào cũng gắn liền với hình thức hợp pháp của chúng

+ Tính trung lập: Thông tin trung lập là thông tin không bị bóp méo BCTC sẽ mất tính trung lập nếu những thông tin trong đó được lựa chọn và thể hiện theo sự sắp đặt trước để làm ảnh hưởng đến việc ra quyết định hoặc điều chỉnh để đạt được kết quả định trước

+ Sự thận trọng: Thận trọng là sự tính đến cả mức độ ảnh hưởng trong việc thực hiện điều chỉnh cần thiết khi tiến hành những tính toán trong điều kiện không ổn định Trong những trường hợp đó, tài sản hoặc thu nhập không được phóng đại và các khoản

nợ, chi phí không được cắt xén Tuy nhiên, tính thận trọng không được phép đánh giá cao hơn các giá trị của tài sản và các khoản thi đánh giá thấp hơn các giá trị các khoản

nợ phải trả và chi phí bởi vì các báo cáo tài chính sẽ không có tính trung lập và vì vậy

nó không có tính thực tế Ví dụ ghi nhận các khoản dự trữ chưa chắc hoặc lập dự phòng sớm

+ Sự đầy đủ: Thông tin trong báo cáo tài chính phải đảm bảo được đúng phạm vi

và mức độ của nó

Trang 37

- Tính so sánh được: Thông tin trong BCTC có thể so sánh được khi người sử dụng thông tin nhận biết được những điểm tương tự và sự khác nhau giữa các thông tin

đó với thông tin trong các báo cáo khác Sự so sánh được áp dụng để so sánh các BCTC của các đơn vị khác với nhau hoặc so sánh các BCTC của một đơn vị ở các thời điểm khác nhau Một điều quan trọng liên quan đến tính so sánh được là người sử dụng thông tin phải biết được chính sách áp dụng trong quá trình lập BCTC, sự thay đổi các chính sách đó và ảnh hưởng đến việc thay đổi Bởi vì người sử dụng thông tin muốn so sánh kết quả hoạt động của đơn vị qua các thời kỳ khác nhau Cho nên trong BCTC phải đưa ra được thông tin tương ứng của các kỳ trước Trừ khi một chuẩn mực kế toán công quốc tế cho phép hoặc yêu cầu khác, những thông tin bằng số có thể so sánh được của kỳ kế toán trước phải được trình bày trên báo cáo tài chính trừ trường hợp đó kỳ kế toán đầu tiên đơn vị mới áp dụng chuẩn mực này Những thông tin có thể so sánh được bao gồm những thông tin mô tả bằng lời nói khi nó liên quan đến việc xem xét báo cáo tài chính của kỳ kế toán hiện tại, trong một số trường hợp thông tin mô tả bằng lời nói

ở BCTC trong kỳ kế toán trước có liên quan đến những thông tin đó của kỳ kế toán hiện tại Khi điều chỉnh cách trình bày hoặc phân loại các khoản mục trong BCTC thì

số liệu so sánh phải được phân loại, điều chỉnh cho phù hợp với nội dung các khoản mục; (trừ trường hợp không thể phân loại được) để đảm bảo với việc so sánh với kỳ kế toán hiện tại và phải chỉ rõ tính chất, số lượng, lý do phân loại lại Trong trường hợp không thể phân lọai lại số liệu thì cũng phải nêu rõ lý do và tính chất của những thay đổi nếu việc phân loại được thực hiện

Ngoài đặc tính chất lượng báo cáo tài chính như trên, khuôn mẫu lý thuyết kế toán khu vực công (2013) còn quy định thêm đặc tính là sự kiểm chứng được.Sự kiểm chứng được là đặc điểm chất lượng của thông tin giúp người sử dụng đảm bảo được rằng thông tin trong BCTC trung thành đại diện cho kinh tế và các hiện tương mà nó ngụ ý để đại diện Các quan sát viên có thể kiểm chứng các nội dung sau:

Trang 38

- Thông tin đại diện cho kinh tế và các hiện tượng mà nó ngụ ý để đại diện cho các tài liệu mà không có lỗi hoặc sai lệch; hoặc một công nhận phù hợp hay đại diện cho phương pháp đã được áp dụng mà không có lỗi kỹ thuật hoặc thiên vị

- Việc kiểm chứng có thể được thực hiện bằng cách xác nhận trực tiếp hoặc gián tiếp, tự xác nhận, đếm, quan sát, tính toán…

- Việc kiểm chứng sẽ có giá trị hơn nến được thực hiện bởi một đơn vị chuyên nghiệp, độc lập và có uy tín

2.4 Giới thiệu cơ quan BHXH và kế toán áp dụng của cơ quan BHXH

2.4.1 Khái quát về BHXH

Trong 10 chính sách của Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp soạn thảo năm 1941, vấn đề bảo hiểm xã hội (BHXH) được đề cập khá toàn diện: “Đối với công nhân ngày làm việc 8 giờ; định tiền lương tối thiểu; cứu tế thất nghiệp; xã hội bảo hiểm;… lập các giấy giao kèo giữa chủ và thợ, công nhân già có lương hưu trí….” Những định hướng về chính sách BHXH của buổi đầu sơ khai này đã mang đậm ý nghĩa nhân văn sâu sắc và cao đẹp, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, công tác BHXH trở thành nhiệm vụ trực tiếp của Nhà nước cách mạng Ngày 1/11/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành Sắc lệnh số 54 quy định về điều kiện hưu cho công chức các ngạch; tiếp theo đó từ năm 1945 đến 1950 Nhà nước ta đã ban hành nhiều Sắc lệnh quy định chế độ cho công nhân, viên chức khi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, già yếu, từ trần Thời kỳ này, các

cơ quan quản lý sử dụng cán bộ, công nhân, viên chức nhà nước đồng thời là cơ quan thực hiện các chế độ BHXH

Đến ngày 27/12/1961 Hội đồng Chính Phủ ra Nghị định số 218 ban hành Điều lệ tạm thời về chế độ BHXH đối với cán bộ, công nhân viên chức nhà nước; giao cho Tổng Công đoàn Việt Nam phụ trách và tổ chức thu 4,7% so với quỹ lương của cơ quan, xí nghiệp để chi trả 6 chế độ BHXH như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, hưu trí, mất sức và tử tuất Ngày 20/3/1962, Hội đồng Chính phủ ra Nghị định số

Trang 39

31 điều chỉnh một số nhiệm vụ về quản lý và thực hiện các chế độ BHXH, theo đó Bộ Lao động - Thương binh & Xã hội quản lý thu 1% để thực hiện các chế độ hưu trí, mất sức, tử tuất

Năm 1975, đất nước bước sang một giai đoạn phát triển mới, giai đoạn cả nước thống nhất, cùng chung tay xây dựng chủ nghĩa xã hội Để đáp ứng những yêu cầu đặt ra trong giai đoạn này, hệ thống chính sách BHXH tiếp tục được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện như việc mở rộng áp dụng các chế độ mất sức lao động, hưu trí, tử tuất đối với công nhân viên chức và quân nhân ở miền Nam (năm 1976), sửa đổi một số chế độ đối với CNVC nhà nước và quân nhân (năm 1978)… Ngày 18/12/1980, tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa IV đã thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam, tại Điều

59 Hiến pháp 1980 đã quy định rõ: “ … CNVC khi về hưu, già yếu, bệnh tật hoặc mất sức lao động được hưởng quyền lợi BHXH, Nhà nước mở rộng dần sự nghiệp BHXH theo lộ trình phát triển của nền kinh tế quốc dân và bảo đảm cho người lao động được hưởng quyền lợi đó Nhà nước hướng dẫn các hợp tác xã thực hiện từng bước chế độ BHXH đối với xã viên”

Sau Đại hội lần thứ VI của Đảng, nước ta bước vào thời kỳ đổi mới, quan hệ lao động theo cơ chế mới cũng từng bước được hình thành Đây chính là yêu cầu hết sức khách quan đòi hỏi Nhà nước phải cải cách các chính sách xã hội trong đó có chính sách BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT) Ngày 30/6/1994 Quốc hội nước ta thông qua Bộ Luật Lao động có chương XII quy định về BHXH bắt buộc Đã đánh dấu sự đổi mới của chính sách pháp luật về BHXH ở nước ta phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Thi hành Bộ Luật Lao động, ngày 26/1/1995 Chính phủ ban hành Nghị định

số 12 quy định các chế độ BHXH đối với cán bộ, công chức và người lao động trong các thành phần kinh tế và Nghị định số 45 ngày 15/7/1995 quy định các chế độ BHXH đối với lực lượng vũ trang

Để thực hiện tốt chính sách BHXH, ngày 16/2/1995, Chính Phủ ban hành Nghị định số 19 thành lập BHXH Việt Nam trên cơ sở thống nhất các tổ chức BHXH ở Trung

Trang 40

ương và địa phương thuộc hệ thống Lao động - Thương binh & Xã hội và Liên đoàn Lao động với chức năng, nhiệm vụ chính là quản lý thu, chi và thực hiện chế độ chính sách cho BHXH Thực hiện tiến trình cải cách hành chính của Chính phủ, ngày 24/1/2002, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 20 chuyển BHYT Việt Nam thuộc Bộ Y tế sang BHXH Việt Nam Như vậy, từ thời điểm này BHXH Việt Nam được giao thêm nhiệm vụ quản lý thực hiện chế độ BHYT

Quan tâm đặc biệt tới chính sách BHXH, ngày 26/5/1997 Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 15-CT/TW về tăng cường lãnh đạo thực hiện các chế độ BHXH Tại Đại hội

IX của Đảng (4/2001), chủ trương phát triển BHXH, an sinh xã hội được nhấn mạnh:

“Khẩn trương mở rộng hệ thống BHXH và an sinh xã hội Sớm xây dựng và thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp (BH thất nghiệp)” Đến Đại hội X, chính sách BHXH, BHYT được đề cập song hành trong tổng thể hệ thống an sinh xã hội: “Xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa dạng; phát triển mạnh hệ thống BHXH, BHYT, tiến tới BHYT toàn dân”

Năm 2006, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật BHXH; năm

2008, tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật BHYT Hai luật này đã quy định chi tiết các chế độ BHXH và BHYT trên các quan điểm lớn của Đảng và kế thừa những quy định phù hợp của pháp luật với nguyên tắc mức hưởng trên cơ sở mức đóng Quản lý, hạch toán Quỹ BHXH, BHYT độc lập và chia sẻ giữa những người tham gia BHXH, BHYT với mục tiêu góp phần thực hiện an sinh xã hội, bảo đảm mối tương quan hợp lý giữa các đối tượng tham gia và ở các thời kỳ khác nhau, hài hòa các chính sách kinh tế với chính sách xã hội Triển khai thực hiện Luật BHYT, ngày 16/6/2008 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 283/QĐ-TTg lấy ngày 01/7 hàng năm là ngày

“Bảo hiểm y tế Việt Nam” Ngày 7/9/2009, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 38-CT/TW về đẩy mạnh công tác BHYT trong tình hình mới

Ngày 22/11/2012 Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW về tăng cường

sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012 -2020 và ngày

Ngày đăng: 13/05/2021, 22:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w