Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về dự phòng rủi ro tín dụng và các yếu tố ảnh hưởng đến dự phòng rủi ro tín dụng theo nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau: tăng trưởng GDP, tỷ lệ vốn c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ HIẾU
CÁC YẾU TỔ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh - Năm 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ HIẾU
CÁC YẾU TỔ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
VIỆT NAM CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS ĐOÀN ĐỈNH LAM
TP Hồ Chí Minh - Năm 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “CÁC YẾU TỔ ẢNH HƯỞNG ĐẾN DỰ
PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM” là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các nội
dung, số liệu trong bài là trung thực, chính xác và được thu thập có nguồn gốc rõ ràng, những phần tham khảo đã ghi nguồn trích dẫn và ghi trong phần tài liệu tham khảo
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình
TP HCM, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hiếu
Trang 4MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH VẼ
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐÈ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1 Lý do thực hiện đề tài 1
1.2 Câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu 3
1.5 Kết cấu luận văn 4
1.6 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 4
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 6
2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng và dự phòng rủi ro tín dụng trong ngân hàng 6
2.1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng 6
2.1.2 Dự phòng rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng 7
2.2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây về dự phòng rủi ro tín dụng 10
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến dự phòng rủi ro tín dụng 12
2.3.1 Dự phòng rủi ro với độ trễ một năm 12
2.3.2 Thu nhập trước thuế và dự phòng EBTP 13
2.3.3 Hệ số rủi ro tín dụng GL 14
Trang 52.3.4 Tăng trưởng tín dụng LG 14
2.3.5 Nợ xấu IL 15
2.3.6 Tăng trưởng GDP 17
2.3.7 Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản CAP 18
2.3.8 Quy mô ngân hàng SIZE 19
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN DỰ PHÒNG RỦI RO TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM 21
3.1 Tổng quan về hoạt động ngành ngân hàng tại Việt Nam 21
3.2 Thực trạng trích lập dự phòng rủi của các NHTMCP ở Việt Nam 24
3.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến dự phòng rủi ro tín dụng tại các NHTMCP Việt Nam 26
3.3.1 Hệ số rủi ro tín dụng GL 27
3.3.2 Tăng trưởng tín dụng LG 28
3.3.3 Tỷ lệ nợ xấu IL 30
3.3.4 Quy mô ngân hàng SIZE 33
3.3.5 Tăng trưởng GDP 35
3.3.6 Thu nhập trước thuế và dự phòng EBTP 36
3.3.7 Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản CAP 37
CHƯƠNG 4: NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM 40
4.1 Giả thuyết nghiên cứu 40
4.1.1 Biến phụ thuộc 40
4.1.2 Biến độc lập 40
4.1.2.1 Dự phòng rủi ro với độ trễ theo thời gian 40
Trang 64.1.2.2 Thu nhập trước thuế và dự phòng EBTP 41
4.1.2.3 Hệ số rủi ro tín dụng GL 41
4.1.2.4 Tăng trưởng tín dụng LG 42
4.1.2.5 Nợ xấu IL 43
4.1.2.6 Tăng trưởng GDP 43
4.1.2.7 Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản CAP 44
4.1.2.8 Quy mô ngân hàng SIZE 44
4.2 Mô hình và phương pháp nghiên cứu 45
4.2.1 Mô hình nghiên cứu 45
4.2.2 Phương pháp nghiên cứu 46
4.3 Kết quả nghiên cứu 50
4.3.1 Thống kê mô tả 50
4.3.2 Ma trận hệ số tương quan 51
4.3.3 Kiểm đinh đa cộng tuyến 52
4.4 Kiểm định các giả thuyết hồi quy 53
4.5 Thảo luận kết quả 54
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60
5.1 Kết luận 60
5.2 Kiến nghị 61
5.2.1 Đối với Ngân hàng Nhà nước 61
5.2.2 Đối với Ngân hàng thương mại cổ phần 62
5.3 Hạn chế và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo 64
5.3.1 Hạn chế 64
5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 65
Trang 7TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ACB : Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu
BIDV: Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam
CAP : Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản
CTG : Ngân hàng TMCP Công thương
EBTP : Thu nhập trước thuế và dự phòng
GDP : Gross Domestic product (Tổng sản phẩm quốc nội)
GL : Hệ số rủi ro tín dụng
GLS : Generalized Least Square (Phương pháp ước lượng bình phương tổng quát)
GMM : Generalized Method of Moments (Phương pháp Moment tổng quát)
IL : Imparied Loan (Nợ xấu)
LG : Tăng trưởng tín dụng
LLR : Loan Loss Reserve (Dự phòng rủi ro tín dụng)
NHNN: Ngân hàng Nhà Nước
NHTM: Ngân hàng thương mại
NHTMCP: Ngân hàng thương mại cổ phần
OECD : Organization for Economic Cooperation and Development (Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế)
SIZE : Tổng tài sản
Trang 9TCTD : Tổ chức tín dụng
VAMC: Vietnam Asset Management Company (Công ty quản lý tài sản Việt Nam)
VCB : NHTMCP Ngoại thương Việt Nam
Trang 10DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Dự phòng rủi ro tín dụng bình quân của 18 NHTMCP Việt Nam giai đoạn
2007-2015 25
Bảng 3.2 Hệ số rủi ro tín dụng bình quân của 18 NHTMCP giai đoạn 2007-2015 27
Bảng 3.3 Tỷ lệ nợ xấu trên tổng tài sản 18 NHTMCP giai đoạn 2007-2015 30
Bảng 4.1 Bảng tóm tắt mô tả các biến 45
Bảng 4.2 Danh sách 18 NHTMCP tại Việt Nam 49
Bảng 4.3 Thống kê mô tả các biến 50
Bảng 4.4 Ma trận hệ số tương quan giữa các biến độc lập 52
Bảng 4.5 Kiểm định đa cộng tuyến 53
Bảng 4.6 Kết quả ước tính các yếu tố tác động theo GMM 53
Trang 11DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 3.1 Biểu diễn mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng GDP giai đoạn 2007-2015 22 Hình 3.2 Dự phòng rủi ro tín dụng bình quân của 18 NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2007-2015 25 Hình 3.3 Biểu diễn mối tương quan giữa hệ số rủi ro tín dụng với dự phòng rủi ro tín dụng của 18 NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2007-2015 27 Hình 3.4 Biểu diễn mối tương quan giữa tăng trưởng tín dụng và dự phòng rủi ro tín dụng của 18 NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2007-2015 28 Hình 3.5 Biểu diễn mối tương quan giữa tỷ lệ nợ xấu và dự phòng rủi ro tín dụng
của 18 NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2007-2015 31 Hình 3.6 Biểu diễn mối tương quan giữa quy mô ngân hàng và dự phòng rủi ro tín dụng của 18 NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2007-2015 34 Hình 3.7 Biểu diễn mối tương quan giữa tăng trưởng GDP và dự phòng rủi ro tín
dụng của 18 NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2007-2015 35 Hình 3.8 Biểu diễn mối tương quan giữa thu nhập trước thuế và dự phòng và dự
phòng rủi ro tín dụng của 18 NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2007-2015 36 Hình 3.9 Biểu diễn mối tương quan giữa tỷ lệ vốn chủ sỡ hữu trên tổng tài sản và dự phòng rủi ro tín dụng của 18 NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2007-2015 37
Trang 12CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐÈ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Lý do thực hiện đề tài
Với vai trò phân bổ nguồn lực tài chính trong nền kinh tế thì rõ ràng rằng sức khỏe của hệ thống ngân hàng là cực kỳ quan trọng đối với một quốc gia Sự sụp đổ của một ngân hàng có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng Điều này có thể được nhìn thấy từ tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu từ năm
2008, một trong những nguyên nhân của cuộc khủng hoảng này bắt nguồn từ việc quản lý rủi ro tín dụng chưa hợp lý (Deliz, 2000) Về bản chất, hoạt động chủ yếu của ngân hàng là cho vay và đi vay nên không thể tránh khỏi việc phát sinh những khoản nợ xấu, càng đặc biệt hơn nữa khi chúng chuyển thành những khoản rủi ro tín dụng mà ngân hàng phải gánh chịu khi đối tượng mất khả năng thanh toán, điều này gây ảnh hưởng đến uy tín, hoạt động của ngân hàng và ảnh hưởng đến nền kinh tế của một quốc gia
Vì vậy đã có rất nhiều công cụ được thiết kế để giúp các ngân hàng quản lý rủi
ro và một trong những công cụ này là dự phòng rủi ro tín dụng Nếu như ngân hàng
có chính sách quản lý dự phòng rủi ro tín dụng hợp lý thì nó sẽ góp phần vào ổn định hệ thống tài chính và thay đổi lợi nhuận ngân hàng (Beatty và Liao, 2009) Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về dự phòng rủi ro tín dụng và các yếu tố ảnh hưởng đến dự phòng rủi ro tín dụng theo nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau: tăng trưởng GDP, tỷ lệ vốn chủ sở hữu, tăng trưởng tín dụng, nợ xấu, quy mô ngân hàng, hệ số rủi ro tín dụng, thu nhập trước thuế và dự phòng (Laeven và Majnoni, 2003; Bouvatiervà Lepetit, 2008; Floro, 2010; Caporale và cộng sự, 2015; Abdullah
và cộng sự, 2015….) Ở Việt Nam trong những năm qua cũng có nhiều đề tài nghiên cứu về dự phòng rủi ro tín dụng như nghiên cứu của tác giả Phạm Đình Tuấn
và Nguyễn Thị Thu Hiền về các yếu tố tác động đến dự phòng rủi ro tín dụng hệ thống NHTM Việt Nam năm 2014 …
Trang 13Vì các khoản dự phòng rủi ro tín dụng được ghi nhận vào chi phí nên sẽ làm cho lợi nhuận của ngân hàng bị giảm, điều này làm cho việc ghi nhận dự phòng rủi
ro tín dụng tại các ngân hàng còn nhiều điểm không phù hợp với thực tế phát sinh, dẫn đến trường hợp khi nợ xấu thật sự phát sinh thì ngân hàng sẽ không có khoản
dự phòng rủi ro để đảm bảo, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến toàn bộ hoạt động của ngân hàng và của cả nền kinh tế Thêm nữa công tác phân loại nợ, trích lập dự phòng hiện nay chưa thật sự hiệu quả, chưa phản ánh chính xác mức độ rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt
Xuất phát từ thực tế trên và nhận thấy được tầm quan trọng của dự phòng rủi
ro tín dụng đối với hoạt động ngân hàng, tác giả thực hiện nghiên cứu: “Các yếu tố ảnh hưởng đến dự phòng rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam” giai đoạn từ năm 2007 đến 2015
1.2 Câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu:
Những yếu tố nào ảnh hưởng đến dự phòng rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần Viêt Nam? Và mức độ ảnh hưởng của chúng đến dự phòng rủi
ro tín dụng tại các NHTMCP Việt Nam
Mục tiêu nghiên cứu:
Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến dự phòng rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần Viêt Nam
Đo lường ảnh hưởng của các yếu tố đến dự phòng rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
Đề xuất một số kiến nghị cho công tác quản lý ở các ngân hàng và điều hành chính sách của Ngân hàng nhà nước
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 14Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các yếu tố ảnh hưởng đến dự phòng rủi
ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong khoảng thời gian
từ năm 2007 đến năm 2015
Phạm vi nghiên cứu: tiến hành nghiên cứu tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm 2007 đến năm 2015 Dữ liệu nghiên cứu được lấy từ báo cáo tài chính, báo cáo thường niên của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam và tổng cục thống kê Việt Nam trong thời gian từ năm 2007-
2015
Tuy nhiên do hạn chế về thông tin dữ liệu và thời gian thu thập, luận văn sử dụng số liệu 18 NHTMCP tại Việt Nam
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn là phương pháp nghiên cứu định lượng Luận văn sử dụng các nghiên cứu trước đây làm cơ sở cho việc xác định các yếu tố các yếu tố tác động đến dự phòng rủi ro tín dụng
Dữ liệu được thu thập từ năm 2007- 2015 của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Các số liệu về dự phòng rủi ro tín dụng, thu nhập trước thuế và dự phòng, nợ xấu, quy mô ngân hàng, hệ số rủi ro tín dụng, tăng trưởng tín dụng, vốn chủ sở hữu được lấy từ báo cáo tài chính và báo cáo thường niên của ngân hàng Số liệu tăng trưởng GDP được lấy từ website Tổng cục thống kê Việt Nam
- Quy trình chọn mẫu:
Thu thập dữ liệu của 18 NHTMCP Việt Nam công bố đầy đủ các báo cáo tài chính qua 9 năm, từ năm 2007 đến 2015
- Phương pháp thu thập:
Trang 15Thu thập đầy đủ báo cáo thường niên, báo cáo tài chính của ngân hàng trong thời gian 9 năm, bắt đầu từ năm 2007 đến năm 2015 thông qua website của các ngân hàng và các website liên quan
- Phương pháp phân tích dữ liệu:
Sử dụng kỹ thuật phân tích thống kê mô tả, phân tích hệ số tương quan và chạy mô hình hồi quy GMM để xác định các yếu tố tác động và mức độ tác động của các yếu tố đến mức trích lập dự phòng rủi ro tại các NHTMCP Việt Nam
1.5 Kết cấu luận văn
Luận văn gồm 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu
Chương 2: Tổng quan về rủi ro tín dụng và các yếu tố ảnh hưởng đến dự phòng rủi ro tín dụng trong hệ thống ngân hàng thương mại
Chương 3: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến dự phòng rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
Chương 4: Nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến dự phòng rủi
ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Luận văn tập trung khảo sát các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa dự phòng rủi ro tín dụng và các biến độc lập: dự phòng rủi ro tín dụng năm trước, tỷ lệ
nợ xấu trên tổng tài sản, quy mô ngân hàng, tăng trưởng tín dụng, hệ số rủi ro tín dụng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản, thu nhập trước thuế và dự phòng, tăng trưởng GDP tại 18 NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2007-2015
Trang 16 Đối với người nghiên cứu
Nghiên cứu hoàn thành sẽ giúp cho người nghiên cứu hoàn thiện khả năng nghiên cứu khoa học cùng với nâng cao kiến thức, kinh nghiệm trong việc nghiên cứu rủi ro tín dụng tại các NHTMCP Việt Nam
Trang 17CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng và dự phòng rủi ro tín dụng trong ngân hàng 2.1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng
Theo Thomas P Fitch (1997) thì rủi ro tín dụng là loại rủi ro khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ Cùng với rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạt động cho vay của ngân hàng
Còn theo Greuning và Bratanovic (2003) thì rủi ro tín dụng là rủi ro mà người
đi vay không thể chi trả tiền lãi hoặc vốn gốc theo đúng thời gian như đã ký kết trong hợp đồng tín dụng Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và gây ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của ngân hàng
Rủi ro tín dụng cũng còn được hiểu là một khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng tiến hành cho vay, điều đó có nghĩa là luồng thu nhập dự tính từ khoản cho vay đó không được thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ cả về số lượng và thời gian (Saunder và cộng sự, 2000)
Foos, Norden và Weber (2010) nhấn mạnh rằng các khoản cho vay là nguồn chính tạo ra rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng là sự mất mát tài chính tiềm năng phát sinh từ sự thất bại của khách hàng hoặc đối tác để giải quyết nghĩa vụ tài chính trong hợp đồng, vì vậy NHNN nên giám sát chặt chẽ hoạt động cho vay vì những khoản cho vay xấu có thể dẫn đến thất bại ngân hàng
Theo thông tư 02/2013/TT-NHNN thì rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của một tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết
Trang 182.1.2 Dự phòng rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng
Cuộc khủng hoảng tài chính 2008 cho thấy mối quan hệ mật thiết giữa tăng trưởng tín dụng, thu nhập của ngân hàng, tỷ lệ an toàn vốn và trích lập dự phòng rủi
ro tín dụng Chính sách trích lập dự phòng là rất quan trọng trong việc đánh giá sự
ổn định hệ thống tài chính, trong đó nó đóng góp quan trọng vào sự biến động lợi nhuận của các ngân hàng và nó có thể ảnh hưởng đến việc cung cấp tín dụng cho nền kinh tế (Beatty và Liao, 2009) Về cơ bản khoản dự phòng rủi ro phản ánh sự tự tin của các nhà quản lý ngân hàng về chất lượng danh mục đầu tư của họ, điều đó có nghĩa là các khoản dự phòng nên lường trước được các khoản thua lỗ tín dụng dự kiến, trong trường hợp họ thực sự tin rằng khoản dự phòng rủi ro tín dụng là chỉ số tốt nhất về rủi ro tín dụng thực sự (Dugan, 2009) Theo Bouvatier và Lepetit (2008), các ngân hàng có thể thực hiện không nghiêm ngặt các phương pháp thống kê để tính tổng dự phòng, điều này phụ thuộc một phần vào tăng trưởng tín dụng của từng ngân hàng và có thể bị ảnh hưởng bởi hành vi của các nhà quản lý ngân hàng
Theo IAS 39, yêu cầu mỗi đơn vị vào cuối mỗi kỳ kế toán phải đánh giá xem liệu có bất kỳ bằng chứng khách quan nào thể hiện một tài sản tài chính hoặc một nhóm tài sản tài chính bị tổn thất Khi bằng chứng khách quan được thành lập, tổ chức phải ước tính tổn thất một cách đáng tin cậy Sau đó, giá trị ghi sổ có thể được giảm một cách trực tiếp hoặc thông qua tài khoản dự phòng Đây là khoản dự phòng dành cho sự suy giảm về tài sản của ngân hàng khi phát sinh các rủi ro và ước tính tổn thất đáng tin cậy
Theo Adzis và cộng sự (2015) thì dự phòng rủi ro tín dụng được định nghĩa là ước tính cho khả năng tổn thất khi cho vay, số tiền này sẽ được tính vào kết quả kinh doanh như một khoản chi phí Trích lập dự phòng rủi ro tín dụng đóng vai trò quan trọng do các thông tin nhạy cảm mà nó truyền đạt và có thể phản ánh chất lượng danh mục đầu tư tín dụng của các ngân hàng (Curcio và Hasan, 2013)
Trang 19Trích lập dự phòng rủi ro tín dụng là quá trình nhận biết những tổn thất của khoản vay Khi cho vay, ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ người vay không trả
dư nợ gốc, tiền lãi Khi nhận ra số tiền vay không thể thu hồi, ngân hàng phải tạo ra nguồn dự trữ để bù đắp cho những tổn thất tín dụng Trong bảng cân đối kế toán của ngân hàng, dự phòng là một khoản mục thuộc tài sản và làm giảm giá trị của khoản tài sản có, nhằm phản ánh sự suy giảm của tài sản trước những tổn thất có khả năng xảy ra Còn trong bảng kết quả kinh doanh, dự phòng là một khoản chi phí tiền mặt, được ghi nhận làm giảm lợi nhuận, vốn chủ sở hửu của ngân hàng
Theo Điều 131 Luật các tổ chức tín dụng số: 47/2010/QH12 quy định như sau:
Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải dự phòng rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài Khoản dự phòng rủi ro được hạch toán vào chi phí hoạt động Việc phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động NHNN quy định sau khi thống nhất với Bộ tài chính Như vậy, việc trích lập
dự phòng để xử lý rủi ro là điều bắt buộc nhằm đảm bảo an toàn cho hoạt động của các tổ chức tín dụng
Theo thông tư 02/2013/TT-NHNN thì dự phòng rủi ro tín dụng là số tiền được trích lập và hạch toán vào chi phí hoạt động để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh nước ngoài
Theo Floro (2010), tại hầu hết các nước dự phòng rủi ro được chia thành dự phòng cụ thể và dự phòng chung:
+ Dự phòng cụ thể là số tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với từng khoản nợ cụ thể Tỷ lệ này được trích lập bao nhiêu là phụ thuộc vào khoản nợ đó được phân loại nợ vào nhóm nào
+ Dự phòng chung là số tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra nhưng chưa xác định được khi trích lập dự phòng cụ thể
Trang 20Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể với từng nhóm từ nhóm 1 đến nhóm 5 tương ứng là: 0%, 5%, 20%, 50% và 100% Công thức tính toán số tiền trích lập dự phòng được quy định cụ thể như sau:
Như vậy, số tiền dự phòng cụ thể không những phụ thuộc vào giá trị khoản nợ
và tỷ lệ trích lập dự phòng mà còn phụ thuộc vào giá trị tài sản đảm bảo Nếu giá trị tài sản đảm bảo sau khi được tính theo tỷ lệ phần trăm lớn hơn giá trị khoản nợ thì
số tiền dự phòng cũng bằng không, điều đó có nghĩa là tổ chức tín dụng không phải lập dự phòng cho khoản nợ đó (Giá trị tài sản đảm bảo được nêu cụ thể trong phần phụ lục 1)
Việc trích lập dự phòng rủi ro có thể gây ra tổn thất cho vay trong ngân hàng
vì khi trích lập dự phòng là giá trị của khoản cho vay khách hàng trên bảng cân đối
kế toán bị giảm xuống Và việc tăng hay giảm trích lập dự phòng rủi ro cho vay là
do chi phí dự phòng rủi ro phát sinh trong kỳ kế toán được thể hiện trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Nếu sau khi ngân hàng tiến hành phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro mà số tiền trích lập trong kỳ lớn hơn số tiền trích lập kỳ trước thì ngân hàng sẽ ghi tăng chi phí dự phòng rủi ro và sự gia tăng chi phí dự phòng rủi
ro sẽ làm cho mức dự phòng cho vay tăng lên và làm tài sản ngân hàng giảm xuống
Và ngược lại, nếu số tiền trích lập trong kỳ nhỏ hơn số tiền trích lập kỳ trước thì ngân hàng sẽ thực hiện hoàn nhập dự phòng và giảm chi phí dự phòng rủi ro tín
Trang 21dụng, lúc này trích lập dự phòng cho vay sẽ giảm, trên cơ sở đó làm tăng tài sản cho vay khách hàng
2.2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây về dự phòng rủi ro tín dụng
Theo Laeven và Majnoni (2003) chính sách tài khóa thuận chu kỳ xảy ra khi các ngân hàng tăng dự phòng rủi ro trong thời điểm khó khăn và giảm dự phòng rủi
ro trong thời điểm thuận lợi Trong thời kỳ khó khăn, tăng trích lập dự phòng rủi ro tín dụng sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng, làm suy yếu vốn và giảm khả năng cho vay đối với khách hàng vay vốn tín dụng Bài nghiên cứu sử dụng mẫu 1419 ngân hàng từ 45 quốc gia giai đoạn từ 1988-1999 Biến độc lập là biến dự phòng rủi
ro với độ trễ 1 năm và 2 năm, thu nhập trước thuế và dự phòng, tăng trưởng tín dụng, tăng trưởng GDP, biến giả thời gian.Với hai phương pháp GLS và GMM (Arellano và Bond, 1991) bài nghiên cứu đã xác định được mức độ tác động của biến độc lập đối với dự phòng rủi ro là khác nhau đối với các quốc gia khác nhau Nghiên cứu của Wall và Hasan (2003) nghiên cứu về các yếu tố tác động đến
dự phòng rủi ro tín dụng của các ngân hàng Mỹ và ngoài Mỹ, bao gồm Canada, Nhật và một nhóm 21 quốc gia Bài nghiên cứu sử dụng mô hình yếu tố tác động cố định (fixed effects) để xác định và đo lường mức độ tác động của các yếu tố: tỷ lệ
nợ xấu trên tổng tài sản tại thời điểm t NPL, tỷ lệ giá trị tổn thất ròng cả năm t trên tổng tài sản tại thời điểm t NCO, tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài sản tại thời điểm t LOAN, tỷ lệ vốn chủ trên tài sản cho ngân hàng i tại thời điểm kết thúc năm trước
ER, tỷ lệ thu nhập trước thuế và dự phòng tại thời điểm t RETN và biến tác động cố định Y theo năm được cho bằng 1 nếu quan sát bắt đầu từ năm t và bằng 0 nếu không phải Bài nghiên cứu cho ra kết quả hầu hết yếu tố đều có ảnh hưởng đến mức trích lập dự phòng rủi ro tín dụng nhưng có sự khác nhau về ý nghĩa thống kê giữa 2 khu vực, một số biến có tác động mạnh đối với ngân hàng nước này thì lại không phải là yếu tố tác động mạnh đối với ngân hàng nước khác Biến Loan có ý nghĩa thống kê đối với các ngân hàng nước Mỹ nhưng lại không có ý nghĩa thống
kê với ngân hàng ngoài nước Mỹ
Trang 22Bouvatier và Lepetit (2008) kiểm tra hành vi trích lập dự phòng cho cỡ mẫu là
186 ngân hàng châu Âu giai đoạn từ năm 1992 đến 2004 Họ nhận ra rằng quản lý rủi ro tín dụng mà không dự phòng rủi ro có thể có những tác động thuận chu kỳ
Họ cũng tìm thấy các khoản trích lập dự phòng rủi ro tín dụng không tùy ý có mối quan hệ mật thiết với chu kỳ kinh doanh Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 cho thấy tầm quan trọng của chính sách tài khoán thuận chu kỳ trong lĩnh vực tài chính Nó làm suy yếu các tổ chức ngân hàng do những thay đổi trong hoạt động kinh tế có khả năng ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính và tăng trưởng kinh tế Bài nghiên cứu cũng sử dụng phương pháp GMM để kiểm tra sự tác động của các biến độc lập đến dự phòng rủi ro, kết quả chỉ ra dự phòng rủi ro năm trước, nợ xấu, tăng trưởng GDP và thu nhập trước thuế và dự phòng có ảnh hưởng đến mức trích lập dự phòng, còn tỷ lệ dư nợ cho vay trên tài sản lại không có tác động đến trích lập dự phòng
Với mẫu dữ liệu là các ngân hàng Philippine giai đoạn 2001-2009, Floro (2010) đã kiểm tra vốn ngân hàng ảnh hưởng đến dự phòng rủi ro như thế nào Floro cho rằng mối quan hệ giữa dự phòng rủi ro và vốn, hai trong số các công cụ chính sách vĩ mô quan trọng nhất mà các cơ quan giám sát sử dụng để đảm bảo sự
ổn định của ngân hàng- được liên kết bởi Basel II, sự phát triển dẫn đến việc sử dụng các khoản dự phòng rủi ro tín dụng để bù đắp các khoản mất mát dự kiến, và vốn để bù đắp mất mát chưa phòng trừ được Với phương pháp GMM (Arellano và Bond, 1991) bài nghiên cứu đã cho thấy sự hiện diện của quản lý vốn ảnh hưởng đến dự phòng rủi ro, bên cạnh đó các biến dự phòng rủi ro độ trễ 1 năm, nợ xấu, hệ
số rủi ro tín dụng, quy mô ngân hàng, tăng trưởng GDP, chính sách tiền tệ cũng ảnh hưởng đến dự phòng rủi ro tín dụng
Còn Abdullah và các cộng sự (2015) nghiên cứu xem việc trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại các NHTM Malaysia có bị ảnh hưởng bởi các yếu tố vĩ mô (tăng trưởng GDP, lạm phát, lãi suất) vào giai đoạn 2004-2012, bên cạnh đó bài nghiên cứu đưa vào các yếu tố thu thập trước thuế và dự phòng EBTP, tỷ lệ vốn chủ trên tài sản rủi ro CAP, tỷ lệ nợ xấu, tổng tài sản, hệ số rủi ro tín dụng, tăng trưởng tín dụng
Trang 23để xem xét sự ảnh hưởng của chúng đến dự phòng rủi ro tín dụng Với phương pháp nghiên cứu GMM, bài nghiên cứu đã cho thấy dự phòng rủi ro tín dụng năm trước, thu nhập trước thuế và dự phòng EBTP, tỷ lệ vốn CAP, tăng trưởng GDP, nợ xấu, quy mô ngân hàng có ảnh hưởng đến dự phòng rủi ro tín dụng, các biến còn lại không có tác động đến dự phòng rủi ro tín dụng tại các NHTM Malaysia giai đoạn 2004-2012
Adiz và cộng sự (2015) cũng nghiên cứu về hành vi trích lập dự phòng rủi ro tại 15 NHTM Malaysia giai đoạn 2002-2012 để xem xét các ngân hàng này có sử dụng dự phòng rủi ro để quản lý thu nhập, quản lý vốn và xem xét ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính 2007-2009 đến mức trích lập dự phòng tại 15 ngân hàng này Với phương pháp kiểm định tác động cố định, kết quả nghiên cứu chỉ ra thu nhập trước thuế và dự phòng, tỷ lệ nợ xấu có tác động đến dự phòng rủi ro tín dụng, các yếu tố còn lại: thay đổi dư nợ cho vay, tỷ lệ vốn trên tài sản, GDP không có có ảnh hưởng đến dự phòng, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng khủng hoảng tài chính 2007-2009 buộc các nhà quản lý ngân hàng này phải tăng mức trích lập dự phòng để đền bù cho những khoản thiệt hại được dự kiến phát sinh từ các khoản vay của khách hàng Candidate (2016) nghiên cứu về dự phòng rủi ro tín dụng cho các ngân hàng Albanian giai đoạn 2004-2014, các biến độc lập được đưa vào để kiểm tra mối quan
hệ giữa chúng và dự phòng rủi ro là: dự phòng rủi ro tín dụng năm trước, thu nhập trước thuế và dự phòng EBTP, nợ xấu NPL, dư nợ trên tài sản Loan_rate, hệ số an toàn vốn CAP, tăng trưởng GDP, % thay đổi của thu nhập trước thuế và dự phòng SIGN, kết quả nghiên cứu chỉ ra tất cả các biến đều có tác động có ý nghĩa đến mức trích lập dự phòng tại các ngân hàng Albanian trừ CAP và SIGN không có tác động đến mức trích lập dự phòng rủi ro
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến dự phòng rủi ro tín dụng
2.3.1 Dự phòng rủi ro với độ trễ một năm
Biến này kết hợp vào mô hình để phản ánh bản chất động của điều chỉnh dự phòng Tương tự như biến phụ thuộc, biến độc lập này được chuẩn hóa bởi tổng tài sản Abdullad và cộng sự (2015) khi nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến dự
Trang 24phòng rủi ro tín dụng của các NHTM Malaysia giai đoạn 2004-2012 đã cho thấy sự tác động của dự phòng rủi ro trong quá khứ với độ trễ một năm đến dự phòng rủi ro tín dụng năm hiện tại Khi quyết định số tiền trích lập dự phòng tại một năm cụ thể, các nhà quản lý sẽ tham khảo tỷ lệ của năm trước đó khi đưa ra quyết định tỷ lệ của năm nay (Bouvatier và Lepetit, 2008) Laeven và Majnoni (2003), Fonseca và Gonzalez (2008) và Floro (2010) cũng tìm được kết quả tương tự
2.3.2 Thu nhập trước thuế và dự phòng EBTP
Biến này được đo bằng cách lấy thu nhập trước thuế và dự phòng chia cho tổng tài sản Floro (2010) nghiên cứu các ngân hàng Philippine giai đoạn 2001-
2009, Bikker và Metzemakers (2005) kiểm tra các ngân hàng của 29 quốc gia OECD trong việc trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại các quốc gia nghiên cứu thì tìm thấy mối quan hệ tích cực giữa dự phòng rủi ro tín dụng và thu nhập Biến này được đưa vào để kiểm tra giả thuyết làm đẹp báo cáo thu nhập thông qua sử dụng
dự phòng rủi ro tín dụng Khi thu nhập trước thuế và dự phòng thấp, các nhà quản
lý ngân hàng có xu hướng giảm trích lập dự phòng năm hiện tại để nhằm tăng lợi nhuận và làm đẹp báo cáo tài chính
Một nghiên cứu khác của Cavallo và Majinoni (2002) cũng kiểm tra sự tương quan giữa thu nhập trước thuế và dự phòng với dự phòng rủi ro tín dụng khi thực hiện trên mẫu của 1,176 ngân hàng thương mại, 372 trong số đó đến từ các nước không thuộc tổ chức quốc tế G10 giai đoạn 1988-1999 Kết quả cho thấy hành vi khác nhau giữa hai nhóm ngân hàng này, các ngân hàng thuộc G10 sẽ trích lập dự phòng rủi ro cao khi thu nhập cao Ngược lại, các ngân hàng của các nước không thuộc nhóm G10 không có hành vi làm đẹp báo cáo thu nhập, họ trích lập dự phòng
ít hơn khi nền kinh tế mở rộng và tạo ra thu nhập cao
Tuy nhiên, Laeven và Majnoni (2003) lại thấy rằng mối quan hệ này là tiêu cực khi tiến hành nghiên cứu về các nền kinh tế phát triển ở châu Á Hệ số tiêu cực của biến này cũng được tìm thấy trong nghiên cứu của Caporale và cộng sự (2015)
Trang 25với mẫu là 400 ngân hàng Ý giai đoạn từ 2001-2012 Cũng có nghiên cứu lại kết luận rằng không có ý nghĩa thống kê về mối tương quan giữa thu nhập ngân hàng và trích lập dự phòng như nghiên cứu của Ahmed và cộng sự (1999)
2.3.3 Hệ số rủi ro tín dụng GL
Tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tài sản thường được sử dụng như một chỉ số để cảnh báo về nguy cơ vỡ nợ cho danh mục đầu tư tín dụng tổng thể và do đó nó tích cực ảnh hưởng đến dự phòng rủi ro tín dụng.Tỷ lệ này ở mức cao thể hiện các cổ đông đang thực hiện chính sách thâm dụng nợ và làm cho ngân hàng trở nên rủi ro hơn, điều này sẽ không có lợi cho ngân hàng khi được đánh giá về mức độ an toàn
và tính hấp dẫn để thu hút nguồn vốn.Theo Candidate (2016), khi tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản tăng lên, các nhà quản lý của ngân hàng nên dự phòng rủi ro tín dụng cao hơn Đồng quan điểm với Candidate, Fonseca (2008), Bikker và Metzemakers (2005), Davis và Zhu (2009) cũng tìm thấy hệ số rủi ro tín dụng có ảnh hưởng tích cực lên dự phòng rủi ro tín dụng
Còn đối với Cavallo và Majnoni (2002) thì ngược lại, họ cho rằng tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tài sản có mối tương quan ngược chiều với dự phòng rủi ro tín dụng, khi tỷ lệ này cao thì dự phòng rủi ro tín dụng lại thấp và ngược lại Bên cạnh
đó cũng có một số nghiên cứu lại cho rằng hệ số rủi ro tín dụng lại không có tác động đến mức trích lập dự phòng rủi ro tín dụng như nghiên cứu của Bouvatier (2008), Floro (2010) và Abdullah và cộng sự (2015)
Trang 26khoản vay ngân hàng được cho là có liên quan ngược chiều với rủi ro ngân hàng, khi ngân hàng tăng lãi suất cho vay hoặc tăng tiêu chuẩn cấp tín dụng, trong trường hợp này tăng trưởng tín dụng sẽ có thể làm giảm rủi ro tín dụng dẫn đến giảm trích lập dự phòng rủi ro tín dụng Cavallo và Majnoni (2002) cũng có kết luận tương tự
Trái ngược với quan điểm trên thì Bikker và Metzemakers (2005) lại tìm thấy mối tương quan tích cực của tăng trưởng tín dụng lên dự phòng rủi ro tín dụng, bài nghiên cứu cho rằng tốc độ tăng trưởng nhanh chóng của các khoản cho vay ngân hàng thường đồng nghĩa với sự giám sát thấp và sự sa sút về chất lượng danh mục cho vay, vì vậy sẽ làm gia tăng rủi ro, dẫn đến trích lập dự phòng cho vay sẽ tăng lên Như vậy, nếu các ngân hàng tăng trưởng tín dụng bằng việc nới lỏng điều kiện xét duyệt tín dụng, tiêu chuẩn cho vay lỏng lẻo thì sẽ làm gia tăng các khoản cho vay chất lượng thấp, lúc đó mức trích lập dự phòng sẽ cao
2.3.5 Nợ xấu IL
Nợ xấu trong bài nghiên cứu được đo lường qua tỷ lệ nợ xấu trên tổng tài sản Theo Quỹ tiền tệ quốc tế IMF (2005): “Một khoản cho vay được coi là không sinh lời (nợ xấu) khi tiền thanh toán lãi, tiền gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã được tái cơ cấu hay gia hạn nợ hoặc các khoản thanh toán dưới 90 ngày nhưng có các nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ
sẽ được thực hiện đầy đủ” Với quan điểm này, nợ xấu được nhận dạng qua hai góc độ: thời gian quá hạn và khả năng trả nợ đáng nghi ngờ
Còn theo tiêu chuẩn kế toán và ngân hàng quốc tế IAS 39, thay vì đề cập cụm
từ “nợ xấu’ thì lại tổ chức này lại dung cụm từ “những khoản vay bị tổn thất”
Theo thông tư 02/2013/TT-NHNN thì “Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (dưới chuẩn), nhóm 4 (nghi ngờ) và nhóm 5 (có khả năng mất vốn)” Ngoài ra nợ xấu còn là các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn, có khả năng tổn thất một phần
nợ gốc và lãi, có khả năng tổn thất cao hay không còn khả năng thu hồi, mất vốn
Trang 27Nợ xấu được lấy từ tổng dư nợ nhóm 3, nhóm 4, nhóm 5 từ báo cáo thường niên hàng năm của ngân hàng Khoản mục tổng dư nợ được lấy từ bảng cân đối kế toán Theo Viện nghiên cứu tài chính quốc tế, năm nhóm nợ được áp dụng ở nhiều quốc gia áp dụng bao gồm:
Nợ nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn bao gồm các khoản nợ trong hạn được các TCTD đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn
Nợ nhóm 2: Nợ cần chú ý bao gồm các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày
Nợ nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm các khoản nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày
Nợ nhóm 4 (Nợ nghi ngờ): bao gồm các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến
nợ xấu càng cao thì trích lập dự phòng càng cao
Theo Abdullah và cộng sự (2015) thì hệ thống ngân hàng dễ bị rủi ro tín dụng liên quan đến những khoản cho vay có vấn đề và khó khăn trong việc thu hồi nợ đặc biệt là trong thời kỳ kinh tế khó khăn, tuy nhiên sự bất ổn của các tổ chức tài chính được đệm bằng việc trích lập dự phòng rủi ro tín dụng và tỷ lệ an toàn vốn mạnh, vốn điều lệ là cần thiết để hoạt động như một bộ đệm chống lại thiệt hại bất ngờ, trong khi dự phòng rủi ro là để bù đắp những tổn thất dự kiến từ cho vay Do đó, điều quan trọng để ngân quản lý rủi to tốt là phải đảm bảo một lượng dự phòng đủ
để bù đắp lại những khoản nợ xấu không thể thu hồi được Điều đó cho thấy rằng,
Trang 28nợ xấu có một mối quan hệ mật thiết với dự phòng rủi ro, nếu như quản lý tốt nợ xấu thì sẽ hạn chế được việc trích lập dự phòng
Có nhiều nghiên cứu đã sử dụng biến nợ xấu để đo lường mức độ ảnh hưởng của nó đến dự phòng rủi ro tín dụng như nghiên cứu của Candidate (2016) tại 15 ngân hàng Albanian giai đoạn từ 2004-2014 đã cho thấy nợ xấu có tác động cùng chiều với dự phòng rủi ro tín dụng, hay nghiên cứu của Packer và Zhu (2012), Floro (2010) cũng cho kết quả tương tự
Cũng có nhiều cách để đo lường biến nợ xấu, tùy theo từng bài nghiên cứu cụ thể, Floro (2010), Packer và Zhu (2012) thì đo lường tác động của nợ xấu thông qua
nợ xấu trên cho tổng tài sản, trong khi PhD Candidate (2016), Caporale (2015) lại
đo lường tác động nợ xấu qua nợ xấu trên tổng dư nợ Hoặc như nghiên cứu Phạm Đình Tuấn và Nguyễn Thi Thu Hiền (2014) về các yếu tố tác động đến mức trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam đã sử dụng cả hai cách đo lường trên để xem xét tác động của nợ xấu đến dự phòng rủi ro tín dụng và kết quả nghiên cứu đã chỉ ra tỷ lệ nợ xấu trên tổng tài sản là biến ảnh hưởng đến mức trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, trong khi tỷ số nợ xấu trên tổng dư nợ lại không có ý nghĩa, bài nghiên cứu này đo lường tác động của nợ xấu thông qua tỷ lệ nợ xấu trên tài sản như nghiên cứu của các tác giả Floro (2010), và Packer và Zhu (2012)
2.3.6 Tăng trưởng GDP
Yếu tố kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến chất lượng các khoản cho vay của các ngân hàng đã được nhiều nhà nghiên cứu nói nhiều trong thời gian qua GDP là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm Số liệu GDP được lấy tại trang điện tử của tổng cục thống kê
Sự gia tăng trong tăng trưởng GDP cho thấy sự cải thiện các điều kiện kinh tế, theo đó sẽ giúp các doanh nghiệp và người tiêu dùng gia tăng thu nhập, góp phần tăng khả năng hoàn trả vốn vay ngân hàng, dẫn đến giảm rủi ro tín dụng ngân hàng
Trang 29Với một cái nhìn tích cực về khả năng cam kết với các hợp đồng tín dụng của khách hàng, điều đó dẫn đến một sự suy giảm trong việc trích lập dự phòng cho các khoản rủi ro tín dụng dự kiến
Ngược lại khi GDP giảm, các hoạt động sản xuất kinh doanh bị trì trệ, doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả, không trả được các khoản vay nợ đúng hạn, nợ xấu tăng lên và dẫn đến trích lập dự phòng cũng tăng lên Điều đó cho thấy một mối tương quan nghịch giữa tăng trưởng GDP và việc trích lập dự phòng rủi ro tín dụng Các nghiên cứu của Laeven và Majnoni (2003), Bikker và Metzemakers (2005), Bouvatier và Lepetit (2008), Floro (2010), Caporale và cộng sự (2015) và Soedarmonoa và cộng sự (2016) đã minh chứng cho những kết luận trên
2.3.7 Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản CAP
Theo Floro (2010), có nhiều nghiên cứu sử dụng tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản cho giả thuyết quản lý vốn, và cũng có nhiều kết quả khác nhau thể hiện mối quan hệ giữa mức vốn và dự phòng rủi ro tín dụng
Packer và Zhu (2012), Bouvatier (2008) tìm thấy một mối quan hệ ngược chiều giữa tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản với dự phòng rủi ro tín dụng Một mối quan hệ tiêu cực giữa tỷ lệ vốn trên tài sản và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng ngụ
ý rằng các ngân hàng trích lập dự phòng cao hơn khi tỷ lệ vốn chủ sở hữa trên tài sản thấp Kết quả tương tự cũng được tìm thấy trong các nghiên cứu của Bikker và Metzemakers (2005), Foncesa và Gonzales (2008)
Trái ngược với quan điểm trên, Eng và Nabar (2007), Caporale và cộng sự (2015) lại tìm thấy một mối quan hệ cùng chiều giữa dự phòng rui ro tín dụng và tỷ
lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản Khi tỷ lệ này thấp có nghĩa là khả năng tự chủ về tài chính của ngân hàng không cao, vì vậy các nhà quản lý ngân hàng có xu hướng giảm trích lập dự phòng rủi ro nhằm tăng nguồn vốn chủ sở hữu Vì khi tỷ lệ này cao sẽ đảm bảo cho an toàn hoạt động ngân hàng, bên cạnh đó còn làm cho các cổ đông và nhà đầu tư cảm thấy an toàn về khả năng tự chủ của ngân hàng Do đó, một
Trang 30mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ lệ vốn và dự phòng rủi ro được dự kiến sẽ là một bằng chứng về hoạt động quản lý vốn
2.3.8 Quy mô ngân hàng SIZE
Tổng tài sản ngân hàng thể hiện quy mô ngân hàng Nghiên cứu của Floro (2010) cho các ngân hàng Philippine từ 2001-2009 đã chỉ ra mối quan hệ ngược chiều giữa quy mô ngân hàng và dự phòng rủi ro tín dụng, các ngân hàng lớn thường có cơ hội lớn hơn trong việc đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ cung ứng, do đó mức độ rủi ro của họ là thấp hơn so với các ngân hàng nhỏ Eng và Nabar (2007) khi xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến dự phòng rủi ro tín dụng tại Singapore, Malaysia, Hong Kong giai đoạn 1993-2000 cũng cho kết quả tương tự Điều này có nghĩa là các ngân hàng lớn sẽ trích lập dự phòng rủi ro ít hơn, điều đó cho thấy rằng
có một mối tương quan nghịch giữa quy mô của các ngân hàng và mức trích lập dự phòng rủi ro
Tuy nhiên Abdullah và cộng sự (2015) và Yeh (2010) lại tìm thấy một mối quan hệ cùng chiều giữa dự phòng rủi ro tín dụng và quy mô ngân hàng Yeh (2010) cho rằng các ngân hàng lớn sẽ nhận được sự quan sát chặt chẽ hơn từ cổ đông, những người lo ngại về sự an toàn của ngân hàng, nên sẽ trích lập dự phòng cao hơn
Kết luận chương 2
Nội dung chương 2 đã cho chúng ta thấy được các lý thuyết liên quan đến rủi
ro tín dụng, dự phòng rủi ro tín dụng, các yếu tố ảnh hưởng đến dự phòng rủi ro tín dụng
Luận văn cũng đã đưa ra một số nghiên cứu của các quốc gia trên thế giới, nghiên cứu về việc trích lập dự phòng rủi ro và các yếu tố ảnh hưởng đến trích lập
dự phòng rủi ro tín dụng, từ đó trình bày cơ sở lý thuyết cho việc lựa chọn các yếu
Trang 31tố ảnh hưởng đến dự phòng rủi ro tín dụng tại các NHTMCP Việt Nam Đây là nền tảng lý thuyết quan trọng cho những chương tiếp theo
Trang 32CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN DỰ PHÒNG RỦI RO TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM
Trong chương này luận văn trình bày tình hình trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại các NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2007-2015 và thực trạng tương quan giữa dự phòng rủi ro tín dụng và các biến độc lập đã trình bày ở chương 2
3.1 Tổng quan về hoạt động ngành ngân hàng tại Việt Nam
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã có nhiều sự thay đổi đáng kể, sự thay đổi cơ cấu, bãi bỏ các quy định tài chính không cần thiết đã dẫn đến một hệ thống hiệu quả hơn Hệ thống ngân hàng Việt Nam cũng đóng góp đáng kể vào quá trình thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Sau quá trình phát triển nóng về số lượng ngân hàng và các loại hình dịch vụ, năm 2012 Chính phủ đã phê duyệt đề án số 254 về tái cấu trúc các tổ chức tín dụng
mà trọng tâm là các NHTM Sau hơn 4 năm thực hiện, một số các NHTM yếu kém
đã được sáp nhập với nhau, hoặc sáp nhập vào các NHTM lớn; các NHTM hoạt động yếu kém, nợ khách hàng lớn hơn nhiều lần vốn chủ sở hữu, NHNN đã mua với giá 0 VND và nhận nợ thay, chuyển sang mô hình Ngân hàng trách nhiệm hữu hạn một thành viên Đối với một số chi nhánh NHTM nước ngoài, ngân hàng liên doanh hoạt động yếu kém, NHNN đã yêu cầu ngân hàng mẹ phải xử lý hoặc cho phép ngân hàng nước ngoài mua lại…
Tính đến 30/6/2016, hệ thống NHTM hoạt động tại VN bao gồm:
- 4 NHTM Nhà nước
- 31 NHTM cổ phần
- 2 ngân hàng liên doanh
- 6 ngân hàng 100% vốn nước ngoài
- 2 ngân hàng chính sách
Trang 33Về tình hình hoạt động tín dụng của các NHTMCP Việt Nam: Đối với hệ thống NHTMCP Việt Nam, tăng trưởng tín dụng luôn là một vấn đề được quan tâm hàng đầu, nó phản ánh dư nợ tín dụng của toàn bộ nền kinh tế thời điểm hiện tại so với trước đó là bao nhiêu phần trăm, tín dụng tăng trưởng hợp lý sẽ tạo ra nguồn thu nhập ổn định và an toàn cho ngân hàng, bởi sự gia tăng tín dụng sẽ có tác động làm tăng cung tiền, qua đó tác động đến lạm phát và tăng trưởng kinh tế, khoản mục cho vay có tỷ trọng lớn nhất nên rủi ro nảy sinh ở khoản mục này cũng là nhiều nhất Hoạt động của ngành ngân hàng có nhiều biến động trong giai đoạn 2007-2015, diễn biến tình hình tăng trưởng tín dụng cũng có những điểm tương đồng với diễn biến của nền kinh tế
Hình 3.1 Biểu diễn mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng GDP giai đoạn 2007-2015
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà nước
Theo báo cáo của NHNN giai đoạn 2007 - 2010, tốc độ tăng trưởng tín dụng bình quân khoảng 35%/ năm, nhưng giai đoạn 2012 - 2014 chỉ khoảng 10 - 11%/
năm Xét quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng kinh tế cho thấy 9 năm qua Việt nam có tốc độ tăng trưởng tín dụng cao hơn so với tốc độ tăng trưởng GDP
8.46
6.31 5.32 6.42 6.24 5.25 5.42 5.98 6.68
51.40
30.00 37.70
27.60
14.30
8.90 12.51 12.62
Trang 34cùng thời kỳ, đặc biệt giai đoạn 2007 - 2010, tăng trưởng tín dụng thường gấp 5 - 6
lần tốc độ tăng GDP, đó là điều không hợp lý, thể hiện hiệu quả đồng vốn thấp, tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào tăng vốn Từ năm 2012 đến nay, tăng trưởng tín dụng thường cao hơn 2 lần tốc độ tăng GDP
Giai đoạn 2007-2009, các NHTMCP có tốc độ tăng trưởng tín dụng rất cao, đặc biệt là năm 2007 với tốc độ tăng trưởng tín dụng đạt 51.4%, sự tăng trưởng cao này là kết quả của việc NHNN mở rộng cung tiền, hậu quả dẫn đến tỷ lệ lạm phát vào năm này cũng tăng vọt, bên cạnh 8 giải pháp kiềm chế lạm phát của Chính phủ, lúc này NHNN đã có những biện pháp tiền tệ rất linh hoạt như tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, thu tiền đồng thông qua nghiệp vụ thị trường mở… chính những yếu tố này
đã góp phần làm tăng trưởng tín dụng năm 2008 giảm còn 30%, một nguyên nhân khác khiến cho tăng trưởng tín dụng năm 2008 giảm là bởi ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính Hoa Kỳ Sang năm 2009 tốc độc tăng trưởng tín dụng
đã hồi phục trở lại với 37.7%, trong năm này NHNN đã điều hành chính sách tiền tệ theo hướng nới lỏng nhằm hỗ trợ thanh khoản cho các tổ chức tín dụng và tạo điều kiện mở rộng tín dụng hiệu quả
Sau giai đoạn tăng trưởng cao, từ năm 2010 tín dụng ngân hàng đã chững lại
và giảm xuống đáng kể, đỉnh điểm là năm 2012 tốc độ tăng trưởng tín dụng chỉ còn 8.9%, thấp nhất trong trong 9 năm qua Báo cáo NHNN cho biết năm 2012 ngành ngân hàng gặp nhiều khó khăn, thách thức do những tác động bất lợi của kinh tế vĩ
mô trong nước và ngoài nước, hệ thống các tổ chức tín dụng bước vào năm 2012 trong điều kiện thanh khoản căng thẳng, rủi ro tiềm ẩn lớn, một bộ phận các tổ chức tín dụng có nguy cơ mất khả năng chi trả, mặt bằng lãi suất ở mức cao… Trước thực trạng đó NHNN đã triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp chỉ đạo, điều hành nhằm đảm bảo thanh khoản, ổn định thị trường, các giải pháp tín dụng được điều hành theo hướng mở rộng tín dụng đi đôi với an toàn, chính nhờ những giải pháp này tăng trưởng tín dụng năm 2013 đã tăng trở lại, tuy tăng không nhiều đã có dấu hiệu cải thiện đáng kể cho những năm sau đó
Trang 35Theo báo cáo của NHNN thì tính đến cuối tháng 11/2016, tín dụng toàn ngành tăng 13.94%, thấp hơn mức 14.5% cùng kỳ 2015 và thấp hơn đáng kể so với kế hoạch cả năm 18%, tín dụng có dấu hiệu bị chững lại trong khi huy động được đẩy mạnh, diễn biến tăng trưởng tín dụng đi cùng diễn biến tăng trưởng kinh tế và phản ảnh ảnh hưởng của các chính sách mới ban hành Cụ thể là thông tư 06/2016/TT-NHNN được ban hành vào cuối tháng 5/2016 với các điều khoản thắt chặt tỷ lệ cho vay và nâng hệ số rủi ro đối với khoản vay kinh doanh bất động sản, đồng thời cuối tháng 9/2016 NHNN cũng ban hành công văn số 7076/NHNN-TD yêu cầu tăng cường kiểm soát tín dụng kinh doanh bất động sản, dự thảo thông tư quy định về tỷ
lệ an toàn vốn mới (Basel II) được ban hành, chặt chẽ hóa cách tính hệ số CAR và đưa ra lộ trình áp dụng tại 10 ngân hàng thí điểm từ tháng 9/2017 Theo đó áp lực tăng vốn, hạn chế tăng trưởng tín dụng để duy trì CAR tăng lên trong toàn ngành
3.2 Thực trạng trích lập dự phòng rủi của các NHTMCP ở Việt Nam
Từ năm 2013 đến nay, Ngân hàng Nhà nước ban hànhThông tư NHNN quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro cho hoạt động của tổ chức tín dụng
02/2013/TT-và Thông tư 09/2014/TT-NHNN sửa đổi bổ sung một số điều của Thông tư 02 nhằm siết chặt việc phân loại, trích lập dự phòng nợ xấu để phản ánh đúng sức khoẻ tài chính của ngân hàng
Một cuộc khảo sát của Ernst & Young (EY) năm 2012 cũng cho thấy, hầu hết các ngân hàng Việt Nam thừa nhận trích lập dự phòng rủi ro đang là hạng mục tiêu tốn chi phí lớn, trong bối cảnh nợ xấu tăng khi các nhà băng phải thực hiện phân loại nợ sát hơn nhằm thực hiện Thông tư 02
Theo Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, đến cuối năm 2015 hệ thống ngân hàng còn khoảng 179,501 tỷ đồng nợ quá hạn và 200,000 tỷ đồng nợ xấu, đều giảm đáng kể so với năm 2014 Tuy nhiên, nợ xấu giảm nhanh chủ yếu là nhờ bán sang tay cho Công ty Quản lý tài sản các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) tổng số hơn 243,000 tỷ đồng nợ xấu
Trang 36Bảng 3.1 Dự phòng rủi ro tín dụng bình quân của 18 NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2007-2015
Nguồn: Dữ liệu báo cáo tài chính của 18 NHTMCP
Trong bài luận văn này, dự phòng rủi ro được đo lường bằng tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng tài sản
Theo bảng 3.1, tổng dự phòng rủi ro tín dụng của các NHTMCP Việt Nam có
xu hướng tăng qua các năm từ 2007-2015 Dự phòng rủi ro tín dụng năm 2015 tăng gấp 4.5 lần so với năm 2007
Hình 3.2 Dự phòng rủi ro tín dụng bình quân của 18 NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2007-2015
Nguồn: Dữ liệu báo cáo tài chính của 18 NHTMCP
Hình 3.2 thể hiện tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro của các NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2007-2015, trong đó năm 2008 là năm có tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro trung bình cao nhất với 1.093%, con số trích lập dự phòng rủi ro tuyệt đối vào năm
(tỷ đồng) 996,852 1,165,314 1,586,805 2,295,805 2,775,762 2,891,738 3,177,950 3,650,347 4,288,324 LLR tb (%) 0.780 1.093 0.966 0.845 0.780 0.883 0.891 0.851 0.817
Trang 37này cũng tăng đột biến so với năm 2007 Điều này liên quan đến sự suy giảm mạnh của thị trường bất động sản và chứng khoán, ảnh hưởng đến chất lượng và quan hệ tín dụng của ngân hàng thương mại Một số ngân hàng có tỷ lệ trích lập dự phòng đột biến trong giai đoạn này là VCB (2008) với 1.92%, BIDV (2009) với 1.83%, trong khi đó có một số ngân hàng lại trích lập dự phòng tương đối thấp, như NHTMCP Sài Gòn Hà Nội (2007) với 0.065% hay NHTMCP Đông Nam Á (2007) với 0.175% Điều đó cho thấy thực tế có nơi tuân thủ việc phân loại nhóm nợ, trích lập đúng tỷ lệ dự phòng rủi ro, trái phiếu (theo Thông tư 02 và 09 của NHNN), tuy nhiên cũng có một phần lớn nợ xấu bị các tổ chức tín dụng che giấu, chưa phân loại đúng theo quy định của pháp luật Nợ xấu gia tăng có nghĩa là tổ chức tín dụng phải trích lập nhiều dự phòng rủi ro hơn, từ đó ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh và cổ tức Đó là lý do tổ chức tín dụng tìm cách né tránh chấp hành các quy định phân loại
nợ và che giấu nợ xấu
Như trường hợp ngân hàng TMCP ACB, sau khủng hoảng vụ án Bầu Kiên và Huyền Như đã hé lộ khối nợ xấu, nợ quá hạn khổng lồ Năm 2012, nợ xấu của ACB bất ngờ tăng mạnh lên 2,571 tỷ đồng, chiếm 0.85% tổng tài sản trong khi những năm trước đó, nợ xấu chỉ là 917 tỷ (2011), 292 tỷ (2010)… và tỷ lệ nợ xấu trên tổng tài sản chỉ dao động từ 0.2-0.3% Đến năm 2013, nợ xấu của ACB lại tiếp tục tăng lên 3,242 tỷ đồng, riêng nợ nhóm 5 tăng gấp đôi lên 2,122 tỷ đồng, tuy nhiên tổng
dự phòng trích lập rủi ro cho khoản nợ xấu này chỉ là 1,548 tỷ đồng, trong khi chỉ riêng nợ nhóm 5 đã phải trích lập dự phòng 100%
3.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến dự phòng rủi ro tín dụng tại các NHTMCP Việt Nam
Các yếu tố được phân tích trong bài có ảnh hưởng đến dự phòng rủi ro tín dụng tại các NHTMCP Việt Nam bao gồm: hệ số rủi ro tín dụng, tỷ lệ nợ xấu trên tổng tài sản ngân hàng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản, tăng trưởng tín dụng, quy
mô ngân hàng, thu nhập trước thuế và dự phòng, tăng trưởng GDP, luận văn sử dụng giá trị trung bình của các chỉ số thu thập
Trang 38Nguồn: Dữ liệu báo cáo tài chính của 18 NHTMCP
Hình 3.3 Biểu diễn mối tương quan giữa hệ số rủi ro tín dụng với dự phòng rủi ro tín dụng của 18 NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2007-2015
Nguồn: Dữ liệu báo cáo tài chính của 18 NHTMCP
Hình 3.3 mô tả mối quan hệ giữa hệ số rủi ro tín dụng và dự phòng rủi ro tín dụng của 18 NHTMCP Việt Nam Dư nợ tín dụng trung bình của 18 NHTMCP Việt Nam chiếm tỷ trọng lớn trong danh mục tài sản, chiếm khoảng 50-65% tổng tài sản của NHTMCP, cho nên thu nhập từ tín dụng vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng
53.95 53.32 55.83 52.51 50.61 54.83 57.47 57.88
62.36 0.780
1.093 0.966 0.845 0.780
0.883 0.891 0.851
0.817
0.000 0.200 0.400 0.600 0.800 1.000 1.200
LLR (%)
Trang 39thu nhập của các ngân hàng, khoản mục cho vay chiếm tỷ trọng càng cao thì càng
có nguy cơ cao gây rủi ro thanh khoản cho ngân hàng
Hệ số rủi ro tín dụng qua các năm biến động tăng giảm liên tục, và sự biến động của nó khi so sánh với sự biến động của dự phòng rủi ro tín dụng không có sự tương quan rõ ràng Năm 2007-2009, dự phòng rủi ro tín dụng có mối quan hệ ngược chiều với hệ số rủi ro tín dụng, năm 2008 khi hệ số rủi ro tín dụng giảm còn 53.32% thì dự phòng rủi ro tín dụng lại tăng lên rất cao 1.093% (cao nhất trong giai đoạn 2007-2015), nó cũng tương tự cho giai đoạn 2014-2015, giai đoạn còn lại 2009-2014 dự phòng rủi ro tín dụng lại có mối quan hệ cùng chiều với hệ số rủi ro tín dụng
Như vậy sự tương quan giữa hệ số rủi ro tín dụng và dự phòng rủi ro tín dụng
là không mạnh, dự phòng rủi ro tín dụng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác
26.57 0.780
1.093 0.966
0.845 0.780
0.883 0.891
0.851 0.817
0.000 0.200 0.400 0.600 0.800 1.000 1.200
Trang 40Hình 3.4 mô tả tương quan giữa tăng trưởng tín dụng và dự phòng rủi to tín dụng giai đoạn 2007 – 2015 Tốc độ tăng trưởng tín dụng bình quân của giai đoạn này khá cao, đạt xấp xỉ 27% Theo biểu đồ, năm 2007 là năm có tốc độ tăng trưởng tín dụng cao nhất với tỷ lệ 58.28% Sự tăng mạnh về vốn đầu tư vào năm này dẫn tới tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt mức cao, hậu quả là tỷ lệ lạm phát, tốc
độ tăng giá tiêu dùng vào năm này tăng vọt Nhằm hạn chế đà tăng giá vào thời điểm này, NHNN đã đề ra một số giải pháp: tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, thu tiền đồng
về qua các nghiệp vụ thị trường mở… Chính vì vậy tăng trưởng tín dụng năm 2008
đã giảm lại chỉ còn 15.54% Một nguyên nhân khác làm cho tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2008 giảm là do ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính ở
Mỹ và lan rộng trên thế giới với một loạt định chế tài chính lớn sụp đổ Triển vọng xấu về nền kinh tế trong tương lai khiến cho các doanh nghiệp thu hẹp hoạt động sản xuất, các nhà đầu tư e ngại, các ngân hàng với nỗi lo về nợ xấu nên cho doanh nghiệp vay với điều kiện khó khăn hơn, bên cạnh đó cũng tích cực thu hồi các khoản nợ Vào thời điểm này, các NHTMCP Việt Nam bên cạnh phải chịu sự chi phối của các chính sách kinh tế từ Chính phủ và NHNN thì cũng phải đối phó với nhiều khó khăn từ thực trạng của nền kinh tế
Sang năm 2009, tốc độ tăng trưởng tín dụng đã được cải thiện đáng kể, tăng gấp 2.7 lần so với năm trước Sự cải thiện này là cũng nhờ vào sự điều hành chính sách tiền tệ mở rộng của NHNN nhằm hỗ trợ thanh khoản cho các tổ chức tín dụng
Tốc độ tăng trưởng tín dụng sau khi có dấu hiệu cải thiện vào năm 2009 thì sang năm 2010 nó lại bắt đầu giảm nhẹ, và giảm liên tục cho những năm kế tiếp Mặc dù tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2010 có giảm nhẹ so với năm 2009, tuy nhiên với tỷ lệ 36.09% thì chỉ số này cũng tương đối khả quan khi mà mục tiêu chính sách tiền tệ năm 2010 của NHNN đặt ra khá thận trọng Đến năm 2011 thì tăng trưởng tín dụng chỉ còn 16.52%, giảm một nửa so với năm trước đó Nguyên nhân của sự sụt giảm trầm trọng tăng trưởng tín dụng giai đoạn này là do lãi suất cho vay duy trì ở mức cao Bên cạnh đó, việc NHNN siết trần lãi suất huy động