1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu luận văn Các Nhân Tố Tác Động Đến Lựa Chọn Chính Sách Kế Toán

126 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các nhân tố tác động đến lựa chọn chính sách kế toán ảnh hưởng đến lợi nhuận doanh nghiệp tại thành phố Cần Thơ
Tác giả Trần Quốc Dũng
Người hướng dẫn PGS.TS. Hà Xuân Thạch
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kế toán
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2017
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 2,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu tổng hợp về các nhân tố tác động đến sự lựa chọn chính sách kế toán ảnh hưởng đến lợi nhuận doanh nghiệp .... Nghiên cứu tổng hợp về các nhân tố tác động đến sự lựa chọn chín

Trang 1

a BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRẦN QUỐC DŨNG

CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN LỰA CHỌN CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN ẢNH HƯỞNG ĐẾN LỢI NHUẬN DOANH NGHIỆP TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh - Năm 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRẦN QUỐC DŨNG

CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN LỰA CHỌN CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN ẢNH HƯỞNG ĐẾN LỢI NHUẬN DOANH NGHIỆP TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Chuyên ngành: Kế toán

Mã số: 60340301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS HÀ XUÂN THẠCH

TP Hồ Chí Minh - Năm 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tác giả Các số liệu trong luận văn là trung thực Những kết quả của luận văn chưa từng được ai công

bố trong bất kỳ công trình nào khác

Nếu có bất kỳ vấn đề gì, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Trần Quốc Dũng

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG BÌA PHỤ

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH VẼ

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề nghiên cứu Error! Bookmark not defined 2 Mục tiêu nghiên cứu 2

2.1 Mục tiêu chung 2

2.2 Mục tiêu cụ thể 2

2.3 Câu hỏi nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Đóng góp của luận văn 3

6 Kết cấu của luận văn 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 5

1.1 Các nghiên cứu trên thế giới 5

1.1.1 Nghiên cứu về các nhân tố tác động đến sự lựa chọn chính sách kế toán nói chung 5

1.1.2 Nghiên cứu tổng hợp về các nhân tố tác động đến sự lựa chọn chính sách kế toán ảnh hưởng đến lợi nhuận doanh nghiệp 8

1.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam 11

1.2.1 Nghiên cứu về các nhân tố tác động đến sự lựa chọn chính sách kế toán nói chung 11

1.2.2 Nghiên cứu tổng hợp về các nhân tố tác động đến sự lựa chọn chính sách kế toán ảnh hưởng đến lợi nhuận doanh nghiệp 13

1.3 Nhận xét và định hướng nghiên cứu 14

1.3.1 Nhận xét các nghiên cứu trong và ngoài nước 14

1.3.2 Định hướng nghiên cứu 14

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 15

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 16

2.1 Cơ sở lý thuyết về chính sách kế toán 16

2.1.1 Tổng quan về chính sách kế toán 16

2.1.1.1 Khái niệm về chính sách kế toán 16

2.1.1.2 Vai trò của chính sách kế toán 17

Trang 5

2.1.1.3 Mục tiêu của chính sách kế toán 17

2.1.1.4 Tác động việc sử dụng chính sách kế toán đến hành vi quản trị lợi nhuận 18

2.1.2 Các văn bản quy định liên quan đến CSKT hiện hành tại Việt Nam 18

2.2 Nội dung các chính sách kế toán ảnh hưởng đến lợi nhuận 19

2.2.1 Chính sách kế toán về hàng tồn kho 19

2.2.2 Chính sách kế toán về tài sản cố định hữu hình 20

2.2.3 Chính sách kế toán về tài sản cố định vô hình 21

2.2.4 Chính sách kế toán về phúc lợi cho người lao động 21

2.2.5 Chính sách kế toán về chứng khoán khả mại 22

2.2.6 Chính sách kế toán về lợi thế thương mại (goodwill) 22

2.2.7 Chính sách kế toán về thuê tài sản 22

2.2.8 Chính sách kế toán về bất động sản đầu tư 23

2.2.9 Chính sách kế toán về chi phí nghiên cứu và phát triển 23

2.3 Lý thuyết nền 24

2.3.1 Lý thuyết ủy nhiệm 24

2.3.2 Lý thuyết thông tin bất cân xứng 26

2.3.3 Lý thuyết thông tin hữu ích 27

2.4 Các nhân tố tác động đến việc lựa chọn CSKT ảnh hưởng đến lợi nhuận 28 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 30

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

3.1 Khung nghiên cứu luận văn 31

3.2 Thiết kế nghiên cứu 33

3.2.1 Phương pháp nghiên cứu 33

3.2.2 Phương pháp nghiên cứu định tính 35

3.2.2.1 Quy trình nghiên cứu định tính 35

3.2.2.2 Phát triển giả thuyết nghiên cứu 36

3.2.3 Phương pháp nghiên cứu định lượng 42

3.2.3.1 Quy trình nghiên cứu định lượng 42

3.2.3.2 Thu thập dữ liệu thứ cấp 43

3.2.3.3 Phân tích mô hình hồi quy (MLR) 44

TÓM TẮT CHƯƠNG 3 46

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 47

4.1 Thực trạng lựa chọn chính sách kế toán tại các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trên địa bàn thành phố Cần Thơ 47

4.1.1 Đặc điểm các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh tại Cần Thơ 47

4.1.2 Thực trạng lựa chọn chính sách kế toán của các doanh nghiệp 48

4.2 Kết quả nghiên cứu định tính 50

4.3 Kết quả nghiên cứu đinh lượng 51

4.3.1 Thống kê mô tả 51

Trang 6

4.3.1.1 Đánh giá về việc lựa chọn chính sách kế toán ảnh hưởng đến lợi nhuận

tại các doanh nghiệp 51

4.3.1.2 Đánh giá các biến độc lập 54

4.3.2 Kết quả hồi quy đa biến về lựa chọn chính sách kế toán ảnh hưởng đến lợi nhuận trên địa bàn thành phố Cần Thơ 56

4.3.2.1 Ma trận hệ số tương quan 56

4.3.2.2 Kiểm định phương sai 57

4.3.2.3 Kiểm định mức độ phù hợp của mô hình 58

4.3.2.4 Kiểm định các khuyết tật của mô hình 59

4.3.2.5 Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu 60

4.4 Bàn luận về kết quả nghiên cứu 62

4.4.1 Bàn luận về thực trạng lựa chọn chính sách kế toán tại các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trên địa bàn thành phố Cần Thơ 62

4.4.2 Bàn luận về tác động của từng nhân tố đến sự lựa chọn chính sách kế toán 62

TÓM TẮT CHƯƠNG 4 65

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 66

5.1 Kết luận 66

5.2 Kiến nghị một số chính sách liên quan đến lựa chọn chính sách kế toán nhằm nâng cao chất lượng BCTC của doanh nghiệp 66

5.2.1 Kiến nghị về nhân tố Quy mô doanh nghiệp 67

5.2.2 Kiến nghị về nhân tố Hợp đồng nợ 67

5.2.3 Kiến nghị về nhân tố Thuế 69

5.3 Hạn chế của đề tài 69

5.4 Hướng nghiên cứu tiếp theo 70

TÓM TẮT CHƯƠNG 5 70 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BCTC Báo cáo tài chính BTC Bộ Tài Chính CSKT Chính sách kế toán

DN Doanh nghiệp IAS International Accounting Standards

(chuẩn mực kế toán quốc tế) IFRS International Financial Reporting

Standards (chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế)

NĐT Nhà đầu tư VAS Chuẩn mực kế toán Việt Nam

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Các nhân tố tác động đến sự lựa chọn chính sách kế toán ảnh hưởng đến lợi

nhuận 28

Bảng 3.1 Phân loại các chính sách kế toán ảnh hưởng đến chiến lược lợi nhuận 42

Bảng 3.2 Bảng mô tả tóm tắt mẫu nghiên cứu 44

Bảng 3.3 Bảng tổng hợp các nhân tố khảo sát trong mô hình hồi quy 45

Bảng 4.1 Bảng tổng hợp câu trả lời của chuyên gia 50

Bảng 4.2 Bảng thống kê mô tả biến phụ thuộc lựa chọn chính sách kế toán 51

Bảng 4.3 Bảng phân loại mức độ lựa chọn chính sách kế toán theo hướng tăng lợi nhuận 52

Bảng 4.4 Bảng phân loại sự lựa chọn chính sách kế toán theo hướng tăng lợi nhuận theo từng loại 53

Bảng 4.5 Bảng thống kê mô tả các biến độc lập 54

Bảng 4.6 Ma trận hệ số tương quan 56

Bảng 4.7 Bảng tóm tắt kết quả kiểm định phương sai 58

Bảng 4.8 Bảng tóm tắt kết quả kiểm định sự phù hợp của mô hình nghiên cứu 59

Bảng 4.9 Bảng tóm tắt kết quả kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến 60

Bảng 4.10 Bảng tóm tắt kết quả mô hình hồi quy tuyến tính bội 61

Trang 9

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 3.1 Khung nghiên cứu của luận văn 32

Hình 3.2 Mô hình nghiên cứu dự kiến 34

Hình 3.3 Quy trình nghiên cứu định tính 35

Hình 3.4 Quy trình nghiên cứu định lượng 42

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Chính sách kế toán là một trong những chính sách quan trọng của doanh nghiệp, đây là những nguyên tắc, cơ sở và các phương pháp kế toán cụ thể được doanh nghiệp

áp dụng trong quá trình lập và trình bày báo cáo tài chính Chính sách kế toán sử dụng cho mỗi doanh nghiệp được chuẩn mực kế toán cho phép lựa chọn phù hợp với đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp đó Với mỗi chính sách kế toán được chọn thì thông tin trình bày trên báo cáo tài chính sẽ khác nhau, chính điều này dẫn đến việc nhà quản trị lựa chọn những chính sách kế toán khác nhau để phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau: né tránh thuế, thu hút vốn đầu tư mới, kỳ vọng làm tăng lợi nhuận…

Vì thế, có nhiều động cơ thôi thúc các nhà quản trị điều chỉnh lợi nhuận mà các đối tượng sử dụng thông tin không thể nhận ra, một trong số đó là khi thuế thu nhập doanh nghiệp đang có xu hướng giảm trong những năm gần đây Điều này càng có

cơ hội thúc đẩy các nhà quản trị thực hiện quản trị lợi nhuận để tiết kiệm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp Vì vậy, việc cần tiến hành tìm hiểu xem các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn chính sách kế toán có liên quan đến lợi nhuận trở nên vô cùng cấp thiết

Qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu về sách, báo, internet và các tài liệu tham khảo khác, tác giả nhận thấy hiện nay, các nghiên cứu về các nhân tố lựa chọn chính sách kế toán đã được tiến hành ở nhiều quốc gia, tuy nhiên tại Việt Nam, đây vẫn là hướng nghiên cứu còn rất mới, có một số nghiên cứu trước đã đề cập đến vấn đề này, song chỉ dừng lại ở việc đưa ra các mô hình ở khía cạnh lý thuyết để chỉ ra các doanh nghiệp có xu hướng vận dụng chính sách kế toán để điều chỉnh lợi nhuận nhưng chưa kiểm nghiệm mô hình này bằng số liệu thực tế

Nhằm tìm kiếm những kết quả thực nghiệm về vấn đề này, tác giả đã thực hiện

luận văn nghiên cứu về “Các nhân tố tác động đến lựa chọn chính sách kế toán ảnh

hưởng đến lợi nhuận doanh nghiệp tại thành phố Cần Thơ”

Trang 11

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.3 Câu hỏi nghiên cứu

Nhằm làm rõ mục tiêu nghiên cứu của luận văn, tác giả đặt ra một số câu hỏi nghiên cứu sau:

Câu hỏi 1: Thực trạng chính sách kế toán của các các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trên địa bàn thành phố Cần Thơ?

Câu hỏi 2: Các nhân tố nào tác động đến việc lựa chọn chính sách kế toán ảnh hưởng đến lợi nhuận của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trên địa bàn TP Cần Thơ hiện nay?

Câu hỏi 3: Mức độ tác động của các nhân tố đến việc lựa chọn chính sách kế toán ảnh hưởng đến lợi nhuận đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trên địa bàn TP Cần Thơ hiện nay?

Trang 12

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là chính sách kế toán và các nhân tố tác động đến sự lựa chọn CSKT ảnh hưởng đến lợi nhuận của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp giữa nghiên cứu định tính

và nghiên cứu định lượng

Phương pháp định tính thực hiện phương pháp phỏng vấn chuyên gia nhằm đánh giá thực trạng lựa chọn chính sách kế toán hiện nay

Đồng thời, thông qua phỏng vấn chuyên gia để tác giả kiểm định lại các thang

đo định lượng trong bảng tính cho mô hình hồi quy của phương pháp nghiên cứu định lượng

Phương pháp nghiên cứu định lượng xác định tác động các nhân tố đến lựa chọn CSKT thông qua phương trình hồi quy bội (MLR), từ đó làm cơ sở để đề ra các kiến nghị phù hợp sự lựa chọn chính sách kế toán của doanh nghiệp

5 Đóng góp của luận văn

Luận văn góp phần đánh giá thực trạng việc lựa chọn chính sách kế toán của các doanh nghiệp hiện nay

Trang 13

Luận văn cung cấp bằng chứng thực nghiệm về các nhân tố tác động đến sự lựa chọn CSKT ảnh hưởng đến lợi nhuận của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh tại TP.Cần Thơ hiện nay

Luận văn đề xuất kiến nghị với doanh nghiệp và các bên liên quan dựa trên các nhân tố tác động đến lựa chọn CSKT ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp nhằm cải thiện chất lượng BCTC của doanh nghiệp

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và tài liệu tham khảo, phụ lục kèm theo thì nội dung chính của luận văn bao gồm 5 chương chính như sau:

Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu trước

Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC

Các nghiên cứu về các nhân tố tác động đến sự lựa chọn CSKT ảnh hưởng đến lợi nhuận không phải là đề tài mới xuất hiện trong thời gian gần đây, dòng nghiên cứu này đã được phát triển từ trước thập niên 1980 với sự đóng góp của R.L Watts, J.L Zimmerman và nhiều nhà nghiên cứu khác tạo nên toàn cảnh tổng quan nghiên cứu vô cùng phong phú và đa dạng Trong chương 1, tác giả trình bày một số nghiên cứu đã được thực hiện bởi các tác giả trên thế giới và tại Việt Nam, trên cơ sở đó tác giả nhận xét và xác định hướng nghiên cứu của mình

1.1 Các nghiên cứu trên thế giới

1.1.1 Nghiên cứu về các nhân tố tác động đến sự lựa chọn chính sách kế toán nói chung

+ Nghiên cứu của Watts và Zimmerman (1990): Positive Accounting Theory: A Ten Year Perspective

Trong nghiên cứu của mình, Watts và Zimmerman (1990) đã tiến hành xem xét lại các nghiên cứu lý thuyết kế toán thực chứng trong những năm 1980 và cũng đề xuất một số biện pháp nhằm cải thiện nghiên cứu thực chứng trong lựa chọn kế toán

Để ra một quyết định hoặc có một kết quả kinh tế, nhà quản lý thường kết hợp nhiều lựa chọn kế toán cùng lúc với nhau, tuy nhiên nhiều dòng nghiên cứu tại thời điểm này chỉ quan tâm đến một lựa chọn kế toán tại một thời điểm, nghiên cứu này

đã chỉ trích về tính hiệu quả của dòng nghiên cứu này Bên cạnh đó, tác giả cũng nhấn mạnh về tầm quan trọng của sự kết hợp giữa lý thuyết và điều tra thực nghiệm

Để giải thích cho mối tương quan thuận, nghịch khi lựa chọn chính sách kế toán, nghiên cứu đề ra ba giả thuyết dùng để giải thích gồm có: giả thuyết kế hoạch tiền thưởng (bonus plan hypothesis), giả thuyết nợ/vốn chủ sở hữu (debt/equity hypothesis) và giả thuyết chi phí chính trị (political cost hypothesis) trên cơ sở người quản lý là một người theo chủ nghĩa cơ hội và lý thuyết hợp đồng Trong đó, giả thuyết kế hoạch tiền thưởng cho rằng khi doanh nghiệp trả tiền thưởng dựa trên lợi nhuận thì nhà quản lý sẽ có động cơ để sử dụng các phương pháp kế toán làm tăng lợi nhuận kỳ báo cáo, nhằm tăng giá trị các khoản tiền thưởng nhận được Giả thuyết

Trang 15

nợ trên vốn chủ sở hữu cho rằng nếu tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp càng cao thì nhà quản lý có nhiều khả năng sử dụng các phương pháp kế toán làm tăng lợi nhuận để tránh vi phạm những hạn chế trong cam kết vay vốn Giả thuyết chi phí chính trị thì giả định các doanh nghiệp lớn có nhiều khả năng lựa chọn CSKT nhằm làm giảm lợi nhuận báo cáo hơn là các doanh nghiệp vừa và nhỏ để giảm thiểu chi phí chính trị (chi phí chính trị là chi phí doanh nghiệp phải chịu thông qua một hành vi mang tính chính trị)

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng hai giả thuyết gồm giả thuyết nợ/vốn chủ sở hữu và giả thuyết chi phí chính trị được ủng hộ, còn giả thuyết kế hoạch tiền thưởng thì không được ủng hộ Ví dụ, trong trường hợp doanh nghiệp không đạt được mức tối thiểu để có tiền thưởng, nhà quản lý lúc này lại có xu hướng làm giảm lợi nhuận năm nay để chuyển sang năm sau Ba giả thuyết từ nghiên cứu của Watts và Zimmerman cũng làm cơ sở cho các nghiên cứu sau này, dựa vào đó để phát triển thêm nhằm dự đoán các tình huống thực nghiệm khác nhau

+ Nghiên cứu Charles P Cullinan (1999): International Trade and Accounting Policy Choice: Theory and Canadian Evidence

Nghiên cứu của Charles nghiên cứu về ảnh hưởng của một nhân tố mới ảnh hưởng đến việc chọn chính sách kế toán là hoạt động trao đổi quốc tế Tác giả đặt ra giả thuyết rằng hoạt động trao đổi quốc tế có thể khiến doanh nghiệp thực hiện việc lựa chọn CSKT theo hướng làm tăng lợi nhuận Cụ thể, tác giả đặt ra hai giả thuyết: thứ nhất, doanh nghiệp xuất khẩu có nhiều khả năng lựa chọn CSKT làm tăng lợi nhuận hơn doanh nghiệp không xuất khẩu; giả thuyết còn lại là doanh nghiệp nhập khẩu nhiều khả năng sẽ lựa chọn CSKT làm tăng lợi nhuận hơn doanh nghiệp không nhập khẩu Số liệu của nghiên cứu được thu thập từ 291 doanh nghiệp về sự lựa chọn phương pháp trích khấu hao của doanh nghiệp tại Canada

Kết quả nghiên cứu cho thấy doanh nghiệp nhập khẩu thường lựa chọn CSKT theo hướng lợi nhuận ngày càng tăng so với doanh nghiệp không có nhập khẩu, xuất khẩu thì lại không có ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT Tuy nhiên, nghiên cứu vẫn

có một số hạn chế nhất định, hạn chế này liên quan khả năng khái quát và về dữ liệu

Trang 16

có sẵn, và kết quả nghiên cứu chỉ được giới hạn trong phạm vi các doanh nghiệp lớn

và thương mại công khai

+ Nghiên cứu của Christos Tzovas (2006): Factors influencing a firm’s accounting policy decisions when tax accounting and financial accounting coincide

Năm 2006, Christos Tzovas đã công bố nghiên cứu về các nhân tố tác động đến

sự lựa chọn CSKT của các doanh nghiệp khi kế toán thuế và kế toán tài chính trùng nhau tại Hy Lạp Mẫu dữ liệu được thu thập thông qua một cuộc khảo sát các nhà quản lý tài chính của 200 doanh nghiệp lớn nhất ở Hy Lạp

Kết quả nghiên cứu cho thấy sự lựa chọn CSKT chịu ảnh hưởng bởi nhận thức các bên liên quan, mục tiêu lợi nhuận, mục tiêu tối thiểu hóa nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp Tuy nhiên, có sự mâu thuẫn giữa các mục tiêu này, cụ thể, doanh nghiệp đặt mục tiêu giảm thuế phải nộp, tuy nhiên khi áp dụng có thể làm phát sinh các khoản chi phí ngoài thuế khác, các chi phí này làm doanh nghiệp đi lệch với mục tiêu giảm thuế ban đầu (ví dụ về các bên liên quan sẽ có đánh giá không tốt khi lợi nhuận của doanh nghiệp trên BCTC sụt giảm dù điều này làm giảm chi phí thuế phải nộp, điều này sẽ ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của doanh nghiệp khi dẫn đến chi phí tiếp cận vốn vay gia tăng).Kết quả nghiên cứu này cũng có thể áp dụng cho những doanh nghiệp hoạt động trong các quốc gia có môi trường tương tự như Hy Lạp (doanh nghiệp tại Hy Lạp có đặc trưng là sở hữu tập trung), ngoài ra, những phát hiện của nghiên cứu này có thể tạo điều kiện cho các chuyên gia tiến hành phân tích tài chính quốc tế, đồng thời góp phần vào việc giải thích các quyết định kế toán của những doanh nghiệp ở Hy Lạp

Bên cạnh kết quả nghiên cứu, tắc giả cũng nêu lên những mặt hạn chế của nghiên cứu của mình do mẫu phản hồi của nghiên cứu tương đối ít nên không loại trừ khả năng có hiện tượng thiên lệch

+ Nghiên cứu của Colin R.Dey và cộng sự (2007): Determinants of Accouning Choices in Egypt The Journal of Applied Accounting Research

Trang 17

Nghiên cứu của Colin R.Dey và cộng sự tiến hành được tiến hành tại Ai Cập, tác giả muốn tìm kiếm nhân tố tác động đến sự lựa chọn kế toán Nghiên cứu kế thừa các giả thuyết của nghiên cứu do Watts và Zimmerman (1990), bên cạnh ba giả thuyết

đã được Watts và Zimmerman đề ra, nhóm tác giả tiến hành xem xét thêm một giả thuyết mới là giả thuyết thuế Dữ liệu của nghiên cứu được thu thập từ 320 công ty tại Ai Cập về phương pháp lựa chọn khấu hao

Kết quả nghiên cứu ủng hộ giả thuyết tiền thưởng, giả thuyết nợ và giả thuyết thuế Cụ thể, sự tồn tại của kế hoạch tiền thưởng khuyến khích nhà quản lý sử dụng các phương pháp kế toán như phương pháp kế toán khấu hao, phương pháp xác định giá trị hàng tồn kho làm tăng lợi nhuận kế toán mà không làm tăng các khoản thanh toán (nghĩa vụ) thuế

Tuy nhiên bên cạnh kết quả đã làm được, nghiên cứu cũng có những hạn chế từ

dữ liệu thu thập, đồng thời nghiên cứu cũng khẳng định có tồn tại những lý do khác cho sự lựa chọn CSKT mà tác giả không đề cập đến trong nghiên cứu này

1.1.2 Nghiên cứu tổng hợp về các nhân tố tác động đến sự lựa chọn chính sách kế toán ảnh hưởng đến lợi nhuận doanh nghiệp

+ Nghiên cứu của Tatsuo Inoue và Wayne B Thomas (1996): The Choice

of Accounting Policy in Japan

Năm 1996, Tatsuo Inoue và Wayne B Thomas đã tiến hành nghiên cứu về sự lựa chọn chính sách kế toán tại Nhật Bản Nghiên cứu nhằm xác định các yếu tố có khả năng ảnh hưởng đến sự lựa chọn các chính sách kế toán nhà quản lý Nhật Bản Nghiên cứu kế thừa các nhân tố dựa trên mô hình của Watts và Zimmerman, tuy nhiên

do điều kiện kinh tế Nhật Bản khác biệt nên nhóm tác giả đã đề xuất một số nhân tố mới để khảo sát Dữ liệu nghiên cứu được từ 1.489 doanh nghiệp Nhật Bản

Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô công ty, giả thuyết nợ / vốn chủ sở hữu có ảnh hưởng đáng kể đến việc lựa chọn CSKT, kể cả với tập đoàn kinh tế Thuế có tác động đáng kể vào sự lựa chọn CSKT của nhà quản lý vì những mối quan hệ chặt chẽ giữa thuế của Nhật Bản và hệ thống báo cáo tài chính Chi phí chính trị nước ngoài, khả năng tài chính trong hoạt động nội bộ cũng được xem là các nhân tố tác động đến

Trang 18

việc lựa chọn CSKT của nhà quản lý Kết quả cũng cho thấy tại Nhật Bản thì giả thuyết tiền thưởng lại không được hỗ trợ Nghiên cứu cũng làm phong phú hơn về các nghiên cứu lựa chọn chính sách kế toán tại một quốc gia riêng biệt

+ Nghiên cứu của Szilveszter Fekete và cộng sự (2010): Explaining Accounting Policy Choices of SME’s: An Empirical Research on the Evaluation Methods

Năm 2010, Szilveszter và cộng sự đã tiến hành thực hiện một cuộc nghiên cứu điều tra các nhân tố tác động đến sự lựa chọn CSKT (cụ thể là phương pháp kế toán) của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Rumani Nghiên cứu này đã tập hợp khá đầy đủ các nhân tố tác động đến sự lựa chọn CSKT của doanh nghiệp vừa và nhỏ đã được khám phá trước đó Bên cạnh đó, nhằm thực hiện mục tiêu nghiên cứu của mình, nhóm tác giả đã tìm một số mô hình mẫu từ trong các quyết định lựa chọn phương pháp kế toán và xác định các nhân tố chính tác động đến các quyết định đó Dữ liệu nghiên cứu được lấy từ bảng tổng hợp nhân tố đã nghiên cứu của Bosnyák (2003) tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Hungary (láng giềng của Rumani) và có sự điều chỉnh

Dữ liệu được thu thập thông qua khảo sát yêu cầu người trả lời chỉ ra mức độ mà mỗi nhân tố được liệt kê trong bảng câu hỏi ảnh hưởng đến sự lựa chọn phương pháp kế toán của doanh nghiệp

Kết quả nghiên cứu về phân tích nhân tố khám phá cho thấy sáu nhân tố tác động đến sự lựa chọn CSKT ở Rumani là nhân tố “thông tin”, “thuế”, “hình ảnh cho bên thứ ba”, “hình ảnh cho cổ đông”, “kinh tế”, “trung thực và hợp lý” Trong đó nhân tố “thông tin” chủ yếu thể hiện nhu cầu thông tin của người sử dụng thông tin như nhà quản lý, chủ sở hữu, nhà nước … có tác động mạnh nhất đến sự lựa chọn phương pháp kế toán, tiếp theo là nhân tố “thuế”, các nhân tố còn lại tác động yếu Nhân tố phản ánh trung thực và hợp lý lại có tác động yếu nhất trong việc ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn CSKT trong khi về mặt lý thuyết, doanh nghiệp lựa chọn những phương pháp kế toán để lập BCTC phản ánh trung thực và hợp lý tình hình tài chính, tình hình hoạt động của doanh nghiệp

Trang 19

+ Nghiên cứu của Waweru, Nelson M., Prot Ntui, Ponsian, Mangena, Musa (2011): Determinants of different accounting methods choice in Tanzania: A positive accounting theory approach

Nhóm tác giả đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm về sự lựa chọn chính sách

kế toán ở Tanzania nhằm tìm ra những nhân tố tác động đến sự lựa chọn này Nhóm tác giả đã tiến hành tổng quan các nghiên cứu trước từ giai đoạn 1980 đến hiện tại và thực trạng tại Tanzania để đưa ra mô hình nghiên cứu Mô hình nghiên cứu gồm biến phụ thuộc là lựa chọn chiến lược lợi nhuận Biến độc lập gồm các biến quy mô công

ty, đòn bẩy, thâm dụng lao động, pha loãng quyền sở hữu, tài chính nội bộ và tỷ trọng giám đốc không điều hành Biến phụ thuộc được đo lường bằng tỷ lệ những lựa chọn chính sách kế toán làm tăng lợi nhuận trên 11 chính sách kế toán được xem xét Dữ liệu nghiên cứu được nhóm tác giả lấy từ báo cáo tài chính thường niên của 15 doanh nghiệp niêm yết trên DSE trong 4 năm với tổng số mẫu là 60 Kết quả nghiên cứu tìm

ra các nhân tố tác động quan trọng gồm quy mô doanh nghiệp, tài chính nội bộ, tỷ trọng của giám đốc không điều hành và thâm dụng lao động Kết quả nghiên cứu này trái ngược với các nghiên cứu trước khi quy mô công ty và tài chính nội bộ có quan

hệ cùng chiều với chiến lược lợi nhuận Nghiên cứu chứng minh về mặt thống kê rằng có một liên kết mạnh mẽ giữa sự lựa chọn các phương pháp kế toán và chiến lược lợi nhuận Tuy nhiên, nhóm tác giả cũng nêu ra một số hạn chế trong nghiên cứu như mẫu nhỏ để có thể kết luận cho tổng thế, một số nhân tố chưa được xem xét đưa vào mô hình… và cũng đề xuất mở rộng mô hình nghiên cứu cũng như phạm vi thu thập mẫu trong những nghiên cứu tiếp theo

+ Nghiên cứu của Mohamed Ahmed Shaheen (2012): The choice of accounting policy in developing countries: Case of the state of Kuwait (An empirical investigation of the validity of the positive theory)

Năm 2012, Mohamed đã tiến hành nghiên cứu về các nhân tố tác động đến sự lựa chọn chính sách kế toán tại các nước đang phát triển, cụ thể là Kuwait Nghiên cứu này kế thừa các công trình nghiên cứu trước về các nhân tố tác động đến lựa chọn chính sách kế toán, trên cơ sở đó, tác giả đưa ra 5 nhân tố gây ảnh hưởng đến việc lựa

Trang 20

chọn CSKT của nhà quản lý tại các quốc gia đang phát triển bao gồm: “quy mô công ty”, “xu hướng lợi nhuận”, “hợp đồng nợ”, “vốn sở hữu của nhà nước” và “thâm dụng vốn” Tác giả đã tiến hành khảo sát 38 doanh nghiệp tại Kuwait để tìm ra mối liên hệ giữa các nhân tố đến việc lựa chọn CSKT

Kết quả của nghiên cứu cho thấy các yếu tố trên đều có cùng hướng tác động tương tự như các nghiên cứu tại quốc gia phát triển, trong đó thâm dụng vốn là yếu

tố tác động nhiều nhất đến việc lựa chọn CSKT Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra giới hạn là số lượng mẫu ít, R2 thấp và có thể một số yếu tố khác ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán không được đưa vào mô hình

1.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam

1.2.1 Nghiên cứu về các nhân tố tác động đến sự lựa chọn chính sách kế toán nói chung

+ Nghiên cứu của Phạm Thị Bích Vân (2012): Nghiên cứu ảnh hưởng của thuế đến sự lựa chọn chính sách kế toán của các doanh nghiệp

Trong luận văn của mình, Phạm Thị Bích Vân (2012) đã phân tích về ảnh hưởng của nhân tố “thuế TNDN” đến sự lựa chọn CSKT của các doanh nghiệp trên địa bàn

TP Đà Nẵng Dựa trên mô hình đánh giá chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp, tác giả đã nêu ra được những điểm tương đồng và khác biệt giữa mục tiêu kế toán và mục tiêu thuế, qua đó đánh giá ảnh hưởng của nhân tố “thuế TNDN” đến sự lựa chọn CSKT của doanh nghiệp Qua kết quả nghiên cứu của mình, tác giả đã kết luận về BCTC của doanh nghiệp ưu tiên cung cấp thông tin cho cơ quan thuế và bản thân doanh nghiệp hơn các bên khác Bên cạnh đó, sự lựa chọn CSKT của doanh nghiệp khi lập BCTC có cùng quy mô đa phần giống nhau trên địa bàn TP Đà Nẵng Giải thích vấn đề này, tác giả giải thích do quy mô, số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu do tư nhân sở hữu nên thông tin BCTC chủ yếu cung cấp cho chủ doanh nghiệp, ngoài ra, nhằm tiết kiệm chi phí tiền lương nên các chủ doanh nghiệp thường có xu hướng tuyển dụng kế toán viên có trình độ trung bình và kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ, trong doanh nghiệp vừa và nhỏ thường có hệ thống sổ sách thuế và nội bộ cùng tồn tại (BCTC đa phần phục vụ chủ yếu cho việc

Trang 21

lập báo cáo thuế nên được lập theo các văn bản pháp luật quy định về thuế với mục tiêu tối thiểu hóa số thuế TNDN phải nộp cho nhà nước chứ BCTC không cung cấp được thông tin thật sự hữu ích cho các bên liên quan khác), từ đó dẫn đến công tác kế toán thực tế có hiệu quả không cao, thông tin cung cấp không kịp thời cho các bên liên quan, Kết quả nghiên cứu là một bằng chứng thực nghiệm về sự ảnh hưởng của nhân tố “thuế TNDN”, tuy nhiên, nghiên cứu cũng có hạn chế là chỉ khảo số một nhân

tố, và nhân tố “thuế TNDN” không phải là nhân tố duy nhất ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT của doanh nghiệp

+ Nghiên cứu của Phạm Thị Bích Vân (2013): Các cách đo lường sự trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận

Trong nghiên cứu này, tác giả đã nghiên cứu các cách đo lường sự trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận trên BCTC giúp cho nhà đầu tư lựa chọn danh mục cổ phiếu tránh nguy cơ mất vốn đồng thời giúp các nhà hoạch định chính sách nắm bắt tình hình quản trị lợi nhuận của doanh nghiệp niêm yết để ban hành các giải pháp bảo vệ nhà đầu tư vào thị trường chứng khoán Việt Nam Nghiên cứu cũng đã đưa ra một

số nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của doanh nghiệp là “hợp đồng thù lao” (chính sách thưởng của doanh nghiệp đối với nhà quản lý), “san bằng lợi nhuận giữa các kỳ kế toán để đảm bảo xu hướng lợi nhuận bền vững trong dài hạn” (hoạch định tài chính dài hạn), “tránh vi phạm hợp đồng đi vay” (các điều khoản hạn chế trong hợp đồng tín dụng), “để phát hành cổ phiếu ra công chúng”, “đáp ứng sự kỳ vọng của giới phân tích thị trường”, “thay đổi nhà quản lý” văn hóa quản lý trong doanh nghiệp) Ngoài ra, một số thủ thuật liên quan đến lựa chọn CSKT để quản trị lợi nhuận như lựa chọn phương pháp kế toán, vận dụng phương pháp kế toán, lựa chọn thời điểm vận dụng phương pháp kế toán và ước tính các khoản chi phí - doanh thu, lựa chọn thời điểm đầu tư hay thanh lý TSCĐ cũng được nghiên cứu đề cập đến Nghiên cứu cũng đưa ra được mô hình đo lường sự trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận để các bên liên quan (nhà đầu tư tiềm năng, cổ đông, chủ nợ, nhà phân tích, cơ quan quản lý nhà nước ) có thể đánh giá được tình hình hoạt động của doanh nghiệp và đưa ra quyết định kinh tế tốt nhất Bên cạnh đó, nghiên cứu có một số mặt hạn chế, nghiên

Trang 22

cứu thuộc chuyên ngành tài chính nên chỉ đi sâu vào các nhân tố gây nên tình trạng bất cân xứng thông tin về mặt tài chính, các nhân tố có tác dụng giảm bớt tình trạng này như đặc điểm nguồn lực của doanh nghiệp, ý kiến của kiểm toán viên, ý kiến của thanh tra thuế, yêu cầu phản ánh trung thực và hợp lý… không được nghiên cứu xem xét và đề cập tới

1.2.2 Nghiên cứu tổng hợp về các nhân tố tác động đến sự lựa chọn chính sách kế toán ảnh hưởng đến lợi nhuận doanh nghiệp

+ Nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Hồng và Nguyễn Thị Kim Oanh (2014): Các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay

Trong nghiên cứu của mình, nhóm tác giả tìm kiếm các nhân tố ảnh hưởng đến

sự lựa chọn CSKT dựa trên ảnh hưởng kinh tế mà các chính sách này mang lại Ảnh hưởng kinh tế ở đây được hiểu là một sự thay đổi trong CSKT sẽ làm thay đổi cách thức tính toán, do đó sẽ làm thay đổi các chỉ số kinh tế Nghiên cứu này phần nào hệ thống lại các nghiên cứu đã có về vấn đề xác định và đo lường tác động của các nhân

tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT, tác giả kế thừa kết quả của các nghiên cứu trước như nghiên cứu của Watts và Zimmerman (1990) , Cloyd và cộng sự (1996), Steven Young (1998), Steven và Laurie S Swinney(2004), Christos Tzovas (2006), từ đó, nhóm tác giả đưa ra một số các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT là “chi phí thuế TNDN”, “mức vay nợ”, “khả năng vi phạm hợp đồng vay nợ”, “chính sách thưởng dành cho nhà quản trị”, “tình trạng niêm yết”, “sự ổn định giữa các mức lợi nhuận”, “mức độ sử dụng các hợp đồng liên quan các chỉ tiêu kế toán” Sau đó, nhóm tác giả xây dựng bảng câu hỏi nhằm khảo sát mức độ tán thành của hai nhóm đối tượng: kế toán viên và kiểm toán viên đối với từng nhân tố được đưa ra Tiếp theo, nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả để tìm ra các nhân tố có giá trị trung bình cao (được hiểu là các đối tượng khảo sát đánh giá là có tác động đáng kể) như:

“chi phí thuế TNDN”, “mức vay nợ”, “tình trạng niêm yết”, “sự ổn định giữa các mức lợi nhuận” Sau đó, các tác giả sử dụng T-test để kiểm định sự khác biệt trong quan điểm về các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của hai nhóm đối tượng khảo

Trang 23

sát và đề xuất một số kiến nghị để cải thiện chất lượng BCTC Tuy nhiên, nghiên cứu vẫn chưa đưa ra được mô hình các mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của doanh nghiệp, đây cũng chính là hạn chế của nghiên cứu này

1.3 Nhận xét và định hướng nghiên cứu

1.3.1 Nhận xét các nghiên cứu trong và ngoài nước

- Nghiên cứu ngoài nước:

Các nghiên cứu về việc lựa chọn CSKT ảnh hưởng đến lợi nhuận doanh nghiệp

đã được thực hiện từ lâu và trên nhiều quốc gia khác nhau Mỗi công trình nghiên cứu đã tìm được các nhân tố có ảnh hưởng riêng đến việc lựa chọn CSKT Tuy nhiên,

do sự khác biệt về đặc điểm nền kinh tế, hệ thống pháp luật của quốc gia được nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu của mỗi đề tài các nhân tố được nghiên cứu không hoàn toàn giống nhau Chính vì điều này, tác giả sẽ phải tìm kiếm mô hình phù hợp với mục tiêu nghiên cứu và đặc điểm nền kinh tế mà chưa được kiểm định ở Việt Nam

cụ thể là trên địa bàn thành phố Cần Thơ

- Nghiên cứu trong nước:

Đến thời điểm này, đa phần các nghiên cứu tại Việt Nam vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu về phân tích mối quan hệ và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố lên sự lựa chọn chính sách kế toán một cách đầy đủ Chính điều này, mảng nghiên cứu về các yếu tố về ảnh hưởng đến sự lựa chọn chính sách kế toán dù trên thế giới

đã phát triển từ lâu nhưng tại Việt Nam vẫn còn rất nhiều hạn chế

Bên cạnh các nghiên cứu đã nêu trên và dựa vào bảng thống kê các nghiên cứu của Colin R.Dey và cộng sự (2007), tác giả tổng hợp lên bảng thống kê các nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn chính sách kế toán tại Phụ lục 01

1.3.2 Định hướng nghiên cứu

Sau khi xét một số công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế, tác giả nhận thấy tại Việt Nam, mảng nghiên cứu về các chính sách ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT ảnh hưởng đến lợi nhuận vẫn chưa có nhiều, đặc biệt là rất ít nghiên cứu thuộc chuyên ngành kế toán, nếu có thì các nghiên cứu chỉ sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính mà chưa sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng Các nghiên cứu

Trang 24

trong nước chủ yếu thuộc chuyên ngành tài chính đi sâu vào phân tích để từ đó nhằm quản lý lợi nhuận tốt hơn Vì vậy, bằng cách kế thừa những công trình nghiên cứu trước đó có kết hợp với việc tìm hiểu thực trạng lựa chọn CSKT ảnh hưởng đến lợi nhuận dưới góc độ kế toán, tác giả thực hiện nghiên cứu nhằm tìm ra các nhân tố tác động đến sự lựa chọn CSKT ảnh hưởng đến lợi nhuận doanh nghiệp của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trên địa bàn thành phố Cần Thơ

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Nghiên cứu về các nhân tố tác động đến việc lựa chọn CSKT đã được thực hiện tại nhiều quốc gia khác nhau từ những năm 90 đến nay Tuy nhiên, tại Việt Nam hiện mảng nghiên cứu này vẫn còn rất nhiều hạn chế Nhằm làm rõ thêm thực trạng về các nhân tố tác động đến sự lựa chọn CSKT ở Việt Nam, tác giả sẽ thực hiện nghiên cứu

về nhân tố tác động đến sự lựa chọn CSKT ảnh hưởng đến lợi nhuận của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh tại TP Cần Thơ

Trang 25

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Cơ sở lý thuyết về chính sách kế toán

2.1.1 Tổng quan về chính sách kế toán

2.1.1.1 Khái niệm về chính sách kế toán

Theo chuẩn mực kế toán quốc tế số 8 (IAS 8) và chuẩn mực kế toán Việt Nam

số 29 (VAS 29), chính sách kế toán là các nguyên tắc, cơ sở và phương pháp kế toán

cụ thể được doanh nghiệp áp dụng trong việc lập và trình bày BCTC

Trong chuẩn mực kế toán quy định doanh nghiệp áp dụng CSKT được quy định trong chuẩn mực kế toán, bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng được phép lựa chọn CSKT phù hợp với đặc điểm của đơn vị mình Theo các nội dung liên quan đến chính sách

kế toán quy định trong chuẩn mực kế toán quốc tế và Viêt Nam, chính sách kế toán gồm một số nội dung chính như sau:

Thứ nhất, CSKT là những nguyên tắc chung mà tất cả mọi doanh nghiệp phải

áp dụng như: cơ sở dồn tích, nguyên tắc thận trọng, nguyên tắc phù hợp, nguyên tắc giá gốc…

Thứ hai, CSKT là những lựa chọn về phương pháp kế toán trong khuôn khổ phạm vi từng chuẩn mực cho phép, tùy thuộc vào đặc điểm của giao dịch, điều kiện

và khả năng vận dụng của từng doanh nghiệp như: phương pháp tính giá hàng tồn kho, phương pháp khấu hao tài sản cố định…

Thứ ba, CSKT là những phương pháp mà doanh nghiệp tự xây dựng và phát triển do bản thân chuẩn mực không thể bao quát hết mọi vấn đề trong thực tiễn

Có thể thấy rằng tính bắt buộc của chính sách kế toán thể hiện rõ ở phần đầu tiên nhưng hai thành phần sau lại thể hiện tính linh hoạt của kế toán, gắn liền với đặc thù quản lý của từng doanh nghiệp và tác động trực tiếp đến lợi ích các bên có liên quan như ngân hàng, nhà đầu tư, chủ nợ,… Do đó, tác giả nghiên cứu các nhân tố tác động đến sự lựa chọn CSKT ảnh hưởng đến lợi nhuận doanh nghiệp sẽ đi vào khảo sát các nhân tố tác động đến sự lựa chọn CSKT cụ thể là những phương pháp kế toán của doanh nghiệp

Trang 26

2.1.1.2 Vai trò của chính sách kế toán

Theo chuẩn mực kế toán quốc tế và chuẩn mực kế toán Việt Nam, có thể tổng hợp vai trò chính sách kế toán như sau:

+ Đối tượng bên trong doanh nghiệp

Đối với nhân viên kế toán, CSKT được sử dụng để ghi nhận nghiệp vụ kinh tế phát sinh, xử lý số liệu nội dung liên quan đến nội dung kinh tế của nghiệp vụ theo quy định hiện hành, đảm bảo doanh nghiệp tuân thủ chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán hiện hành Ngoài ra, nhân viên kế toán sẽ tham mưu, đề xuất CSKT phù hợp với nhà quản trị để giúp nhà quản trị lựa chọn CSKT đúng với mục tiêu của doanh nghiệp Đối với nhà quản lý doanh nghiệp, CSKT là công cụ nhằm tạo ra ngôn ngữ kinh doanh mà họ sử dụng để trao đổi với các bên liên quan như cơ quan thuế, kiểm toán, ngân hàng, chủ nợ, chủ sở hữu, cổ đông, v…v…

Đối với chủ sở hữu, cổ đông của doanh nghiệp, CSKT là công cụ để xem xét và

so sánh kết quả hoạt động của doanh nghiệp mà nhà quản lý báo cáo

+ Đối tượng bên ngoài doanh nghiệp

Đối với tổ chức kiểm toán độc lập, CSKT là cơ sở để phân tích và kiểm tra số liệu của kiểm toán viên Bên cạnh đó, dựa trên CSKT của doanh nghiệp, Kiểm toán đưa ra kiến dựa trên cơ sở CSKT và nhận xét cho bên thứ ba sử dụng thông tin BCTC

để ra quyết định kinh tế

Đối với cơ quan thuế, CSKT là cơ sở để tính toán, công cụ kiểm tra, giám sát thông tin công bố trên BCTC nhằm phát hiện và ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về tài chính, kế toán

Đối với nhà đầu tư tiềm năng, ngân hàng, tổ chức tín dụng, dựa vào CSKT của từng doanh nghiệp để các nhà đầu tư, ngân hàng… so sánh số liệu trên BCTC của các doanh nghiệp với nhau, dựa và đó để làm cơ sở để ra những quyết định đầu tư, cho vay…

2.1.1.3 Mục tiêu của chính sách kế toán

Theo Popa (2011), mục tiêu của CSKT là nhằm tạo ra cơ sở để phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp dưới góc nhìn trung thực và hợp lý

Trang 27

Mục tiêu của chính sách kế toán nhằm đảm bảo thông tin kế toán trên báo cáo tài chính thỏa mãn 06 yêu cầu đặc điểm về thông tin kế toán: đầy đủ, khách quan, kịp thời, trung thực, dễ hiểu và có thể so sánh được Từ đó, đáp ứng được tính hữu ích cho người sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính

2.1.1.4 Tác động việc sử dụng chính sách kế toán đến hành vi quản trị lợi nhuận

Theo nghiên cứu của Mariana Gurău (2014), có nhiều góc nhìn khác nhau về tình hình tài chính của doanh nghiệp, vì vậy tùy vào từng trường hợp cụ thể mà sẽ có mục tiêu CSKT tương ứng Có ba nhóm CSKT tồn tại với những mục tiêu khác nhau như sau:

[1] CSKT nhằm mục tiêu điều chỉnh lợi nhuận Theo mục tiêu này, các doanh nghiệp sẽ có động cơ mạnh liên quan đến việc lựa chọn CSKT theo hướng điều chỉnh chi phí trong báo cáo thu nhập để đạt được mục tiêu quản trị lợi nhuận của nhà quản trị

[2] CSKT nhằm mục tiêu bảo toàn vốn bằng cách giảm thiểu chi phí để ổn định doanh nghiệp trong nguyên tắc hoạt động liên tục cùng với sự phát triển kinh doanh Theo chỉ tiêu này thì các doanh nghiệp sẽ lựa chọn CSKT có thể san bằng lợi nhuận giữa các kỳ kế toán để đảm bảo xu hướng lợi nhuận bền vững trong dài hạn (đảm bảo hoạch định tài chính dài hạn)

[3] CSKT nhằm mục tiêu phù hợp với việc tuân thủ các quy định của luật thuế Khi theo mục tiêu này, các doanh nghiệp sẽ lựa chọn CSKT sao cho trong toàn chu

kỳ sống của doanh nghiệp, số thuế thu nhập (thu nhập doanh nghiệp và thu nhập cá nhân của chủ doanh nghiệp/cổ đông) phải đóng là thấp nhất

Trong nghiên cứu này, tác giả chỉ nghiên cứu đến các nhân tố tác động đến lựa chọn chính sách kế toán ảnh hưởng đến lợi nhuận

2.1.2 Các văn bản quy định liên quan đến CSKT hiện hành tại Việt Nam

Hiện nay, xuất phát từ yêu cầu và trách nhiệm thực tế đối với các bên liên quan lẫn đến sự tồn tại của nhiều văn bản pháp luật liên quan đến CSKT tại Việt Nam

Trang 28

Dưới đây là bảng tổng hợp các văn bản do tác giả tìm hiểu theo thứ tự từ mới nhất đến cũ nhất còn hiệu lực nhằm mục đích hệ thống lại cơ sở pháp lý tạo điều kiện thuận lợi cho các nghiên cứu về sau

[1] Thông tư 53/200/2016/TT-BTC ngày 21/03/2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 200/2014/TT-BTC

[2] Thông tư số 75/2015/TT-BTC ngày 18/05/2015 sửa đổi Điều 128 Thông tư 200/2014/TT-BTC

[3] Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 thay thế chế độ kế toán doanh nghiệp theo Quyết định số 15/2006 QĐ-BTC

[4] Thông tư số 138/2011/TT-BTC ngày 04/10/2011 sửa đổi bổ sung Quyết định

số 48/2006/QĐ-BTC

[5] Thông tư số 210/2009/TT-BTC ngày 06/11/2009 hướng dẫn áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế về trình bày BCTC và thuyết minh thông tin đối với công cụ tài chính

[6] Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VSA)

[7] Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS)

2.2 Nội dung các chính sách kế toán ảnh hưởng đến lợi nhuận

2.2.1 Chính sách kế toán về hàng tồn kho

+ Theo chuẩn mực kế toán quốc tế

Chính sách kế toán này được trình bày trong chuẩn mực kế toán quốc tế số 2 (IAS 2) Cụ thể, chuẩn mực kế toán quốc tế số 2 quy định và hướng dẫn các nguyên tắc và phương pháp kế toán hàng tồn kho, gồm: xác định giá trị và kế toán hàng tồn kho vào chi phí; ghi giảm giá hàng tồn kho cho phù hợp với giá trị thuần có thể thực hiện được và phương pháp tính giá trị hàng tồn kho làm cơ sở ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính Đối với hàng tồn kho, IAS 2 nêu một số chính sách kế toán mà doanh nghiệp có thể lựa chọn về phương pháp đánh giá hàng xuất kho như: phương pháp thực tế đích danh, phương pháp bình quân gia quyền, phương pháp nhập trước xuất trước, phương pháp nhập sau xuất trước (phương pháp này đã bị loại trừ trong

Trang 29

lần sửa đổi tháng 12/2003) Bên cạnh đó IAS 2 cũng quy định về đối tượng cũng như trình bày phương pháp lập dự phòng giảm giá đối với hàng tồn kho

+ Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam

Chính sách hàng tồn kho đã được trình bày trong chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 02 Nội dung chuẩn mực VAS 02 có một số điểm tương đồng với IAS 02 nhưng cũng có một số điểm khác biệt đối với đặc thù của Việt Nam Cụ thể, đối với chính sách kế toán về hàng tồn kho mà doanh nghiệp có thể sử dụng, VAS 02 cũng có các phương pháp đánh giá hàng xuất kho tương tự IAS 2: phương pháp thực tế đích danh, phương pháp bình quân gia quyền, phương pháp nhập trước xuất trước, phương pháp nhập sau xuất trước (phương pháp này đã bị loại bỏ trong thông tư 200 do bộ tài chính ban hành vào 12/2014) Nhìn chung, chính sách kế toán về hàng tồn kho quy định trong chuẩn mực kế toán Việt Nam tương đối tương đồng với chuẩn mực kế toán quốc tế

2.2.2 Chính sách kế toán về tài sản cố định hữu hình

+ Theo chuẩn mực kế toán quốc tế

Chuẩn mực kế toán quốc tế về tài sản cố định (IAS 16) quy định về cách ghi nhận, xác định giá trị ban đầu của tài sản cố định, xử lý chênh lệch đánh giá lại, ghi giảm giá trị tài sản… Khi áp dụng chuẩn mực kế toán về tài sản cố định, các doanh nghiệp có thể lựa chọn các chính sách kế toán khác nhau khi tính khấu hao, cụ thể trong chuẩn mực có đề cập đến phương pháp theo đường thẳng, phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần và phương pháp khấu hao theo số lượng sản phẩm

Theo chuẩn mực kế toán quốc tế, IAS 16 cho phép hai cách kế toán ghi giá trị sau ghi nhận ban đầu theo giá gốc theo mô hình giá gốc hoặc đánh giá lại theo giá trị hợp lý (fair value) theo mô hình đánh giá lại tài sản

+ Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam

Chính sách kế toán về tài sản cố định được quy định trong chuẩn mực kế toán Việt Nam số 03 (VAS 03) Về nội dung, chuẩn mực kế toán số 03 có nhiều khác biệt đối với chuẩn mực kế toán quốc tế về tài sản cố định IAS 16 Tuy nhiên, xét về chính sách kế toán mà các doanh nghiệp có thể sử dụng thì chuẩn mực Việt Nam và chuẩn

Trang 30

mực kế toán quốc tế tương đối tương đồng Cụ thể, về chính sách khấu hao thì chuẩn mực kế toán Việt Nam trình bày 03 phương pháp khấu hao tương tự với IAS 16 bao gồm: phương pháp theo đường thẳng, phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần và phương pháp khấu hao theo số lượng sản phẩm Theo phương pháp khấu hao đường thẳng, số khấu hao hàng năm không thay đổi trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của tài sản Theo phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần, số khấu hao hàng năm giảm dần trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của tài sản Phương pháp khấu hao theo số lượng sản phẩm dựa trên tổng số đơn vị sản phẩm ước tính tài sản có thể tạo ra Phương pháp khấu hao do doanh nghiệp xác định để áp dụng cho từng TSCĐ hữu hình phải được thực hiện nhất quán, trừ khi có sự thay đổi trong cách thức sử dụng tài sản đó

Đối với giá trị sau ghi nhận ban đầu, VAS 03 chỉ cho phép ghi nhận theo giá gốc

2.2.3 Chính sách kế toán về tài sản cố định vô hình

+ Theo chuẩn mực kế toán quốc tế

Chinh sách kế toán về tài sản vô hình được đề cập tại chuẩn mực kế toán quốc

tế số 38 (IAS 38) Tương tự với tài sản cố định hữu hình IAS 38 cho phép hai cách

kế toán ghi giá trị sau ghi nhận ban đầu bằng giá gốc theo mô hình giá gốc hoặc đánh giá lại theo giá trị hợp lý (fair value) theo mô hình đánh giá lại tài sản

+ Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam

Chuẩn mực kế toán số 04 (VAS 04) có quy định về chính sách kế toán đối với tài sản vô hình Hiện tại, Đối với giá trị sau ghi nhận ban đầu, VAS 04 chỉ cho phép ghi nhận theo giá gốc

2.2.4 Chính sách kế toán về phúc lợi cho người lao động

+ Theo chuẩn mực kế toán quốc tế

Chuẩn mực kế toán quốc tế có quy định về phúc lợi phải trả người lao động trong trường hợp thôi việc, hưu trí… được quy định trong chuẩn mực kế toán quốc

tế số 19 (IAS 19) Đối với chính sách kế toán với IAS 19, doanh nghiệp có thể lựa chọn thiết lập một khoản dự phòng được ghi nhận khoản chi phí vào các quỹ để hỗ

Trang 31

trợ cho lợi ích của người lao động Đối với trợ cấp hưu trí dành cho người lao động, doanh nghiệp có thể hạch toán một lần hoặc phân bổ dần vào chi phí hàng năm

+ Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam

Tại Việt Nam, hiện tại không có chuẩn mực kế toán quy định về phúc lợi cho người lao động so với chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS 19) Nhìn chung, chi phí phúc lợi cho người lao động được ghi nhận khi doanh nghiệp phát sinh nghĩa vụ thanh toán các khoản này

2.2.5 Chính sách kế toán về chứng khoán khả mại

+ Theo chuẩn mực kế toán quốc tế

Theo chuẩn mực kế toán quốc tế, chứng khoán khả mại có thể được doanh nghiệp lựa chọn ghi nhận trong sổ sách kế toán theo hai hình thức: giá trị hợp lý hoặc giá gốc

+ Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam

Đối với chính sách kế toán đối với chứng khoán khả mại tại Việt Nam, các doanh nghiệp chỉ được hạch toán theo phương pháp giá gốc

2.2.6 Chính sách kế toán về lợi thế thương mại (goodwill)

+ Theo chuẩn mực kế toán quốc tế

Lợi thế thương mại được trình bày trong chuẩn mực kế toán quốc tế số 38 (IAS 38) và sau này được cập nhật trong IFRS 3 Chính sách kế toán về lợi thế thương mại tương tự với tài sản vô hình về ghi nhận giá trị sau ghi nhận ban đầu theo mô hình giá gốc hoặc theo mô hình đánh giá lại tài sản

+ Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam

Chính sách kế toán về lợi thế thương mại được trình bày chung trong chuẩn mực

kế toán số 4 về tài sản vô hình và hiện đối với xác định giá trị sau khi ghi nhận ban đầu, VAS 04 chỉ cho phép ghi nhận theo giá gốc

2.2.7 Chính sách kế toán về thuê tài sản

+ Theo chuẩn mực kế toán quốc tế

Chính sách kế toán về thuê tài sản được quy định tại chuẩn mực kế toán quốc tế

số 17 (IAS 17) Cụ thể, trong chuẩn mực này, các doanh nghiệp có thể lựa chọn 2

Trang 32

phương pháp để phân bổ số tiền phải trả hàng kỳ: phương pháp tính toán bảo hiểm (Actuarial method) và phương pháp sum of digit

+ Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam

Chuẩn mực kế toán số 6 (VAS 6) quy định và hướng dẫn các nguyên tắc và phương pháp kế toán đối với bên thuê và bên cho thuê tài sản, bao gồm thuê tài chính

và thuê hoạt động, làm cơ sở ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính Tuy nhiên, chuẩn mực kế toán này không trình bày về các phương pháp kế toán sử dụng để phân bổ chi phí vay vào chi phí trong kỳ

2.2.8 Chính sách kế toán về bất động sản đầu tư

+ Theo chuẩn mực kế toán quốc tế

Chuẩn mực kế toán quốc tế số 40 (IAS 40) áp dụng cho kế toán cho bất động sản (đất và / hoặc các tòa nhà) dùng để cho thuê hoặc chờ tăng giá Chính sách kế toán về bất động sản đầu tư sau khi ghi nhận ban đầu áp dụng theo chuẩn mực kế toán quốc tế được đo lường theo mô hình giá gốc hoặc mô hình chi phí hợp lý

+ Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam

Chính sách kế toán về bất động sản đầu tư được quy định tại chuẩn mực kế toán

số 5 (VAS 5) Trong đó, đối với việc đo lường xác định giá trị sau khi ghi nhận bạn đầu, chuẩn mực chỉ cho phép áp dụng theo mô hình giá gốc để xác định theo nguyên giá, số khấu hao luỹ kế và giá trị còn lại

2.2.9 Chính sách kế toán về chi phí nghiên cứu và phát triển

+ Theo chuẩn mực kế toán quốc tế

Chính sách kế toán về chi phí nghiên cứu và phát triển được quy định trong IAS

38 với phương pháp ghi nhận chi phí trong quá trình nghiên cứu và phát triển: ghi trực tiếp vào chi phí hoặc vốn hóa chi phí để ghi nhận như một tài sản vô hình

+ Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam

Chính sách kế toán về nghiên cứu và phát triển được quy định trong chuẩn mực

kế toán Việt Nam số 04 Việc ghi nhận chi phí trong giai đoạn nghiên cứu và phát triển của chuẩn mực kế toán Việt Nam tương đối tương đồng so với chuẩn mực kế toán quốc tế về tài sản cố định

Trang 33

2.3 Lý thuyết nền

Để giải thích cho các nhân tố được lựa chọn nghiên cứu trong phạm vi luận văn này, tác giả đã sử dụng một số sau: lý thuyết ủy nhiệm (lý thuyết người đại diện), lý thuyết thông tin bất cân xứng và lý thuyết thông tin hữu ích

2.3.1 Lý thuyết ủy nhiệm

+ Nội dung lý thuyết

Lý thuyết được phát triển bởi Jensen và Meckling (1976), lý thuyết này nghiên cứu các mối quan hệ mâu thuẫn đại diện bên trong và mâu thuẫn đại diện bên ngoài doanh nghiệp Mâu thuẫn bên trong tồn tại ở các doanh nghiệp mà chủ sở hữu doanh nghiệp không phải là nhà quản lý Người chủ sở hữu mong muốn vốn đầu tư bỏ ra được sử dụng tốt nhất và có hiệu quả nhưng ngược lại nhà quản lý là người có quyền điều hành có thể dùng quyền điều hành của mình để đạt được những mục đích riêng

có lợi cho bản thân mà lợi ích đó có thể mâu thuẫn với lợi ích của chủ sở hữu Trong mâu thuẫn này, BCTC là một công cụ để đánh giá kết quả hoạt động của doanh nghiệp, vì vậy việc lựa chọn CSKT để lập BCTC bị ảnh hưởng bởi các nhân tố như quy định và yêu cầu thông tin riêng biệt của nhà quản lý (do nhà quản lý yêu cầu để hướng đến mục tiêu mà nhà quản lý mong muốn ví dụ như đạt được chính sách khen thưởng của doanh nghiệp hay kết quả điều hành của mình được công nhận) hoặc quy định và yêu cầu thông tin riêng biệt của cổ đông, chủ sở hữu (do cổ đông, chủ sở hữu yêu cầu để hướng đến mục tiêu mà họ mong muốn trong từng thời kỳ), những thông tin cung cấp cho cổ đông, chủ sở hữu phải trên những CSKT nhất định, mục đích tạo

ra hình ảnh tốt đẹp của doanh nghiệp cho các cổ đông hiện tại và cả nhân tố lợi nhuận phân chia cho cổ đông, chủ sở hữu và nhà quản lý tương ứng với kết quả hoạt động của doanh nghiệp

Mâu thuẫn bên ngoài là mâu thuẫn giữa bản thân doanh nghiệp, chủ sở hữu, cổ đông, nhà quản lý với các bên liên quan khác như nhà đầu tư, cổ đông tiềm năng, chủ

nợ, ngân hàng và các tổ chức tín ụng, cơ quan công quyền bắt nguồn từ việc bất cân xứng thông tin về doanh nghiệp Để nắm rõ về các mâu thuẫn bên ngoài tác giả phân chia các bên liên quan thành những nhóm nhỏ Nhóm đầu tiên là nhà đầu tư, cổ đông

Trang 34

tiềm năng, chủ nợ, ngân hàng và các tổ chức tín dụng, theo Myers và Majluf (1984) việc bất cân xứng thông tin ảnh hưởng lớn quyết định đầu tư và tài trợ của doanh nghiệp Người chủ sở hữu, nhà quản lý mong muốn có thể tiếp cận được nguồn vốn

từ bên ngoài dễ dàng thuận lợi thì phải sáng tạo nên hình ảnh tốt đẹp của doanh nghiệp cho các cổ đông tiềm năng thông qua BCTC có được sự chấp thuận, đồng của kiểm toán viên để chứng minh cho nhà đầu tư, cổ đông tiềm năng, chủ nợ, ngân hàng và các tổ chức tín dụng thấy tính khả thi, tính hiệu quả, khả năng hoàn vốn và lãi đúng hạn của doanh nghiệp Trong thực tế khả năng tài chính của doanh nghiệp không phải lúc nào cũng tốt trong khi các hợp đồng tín dụng thường có các điều khoản hạn chế như kiểm soát việc chia cổ tức, kiểm soát hoạt động đầu tư, yêu cầu thông tin để giám sát tình hình hoạt động doanh nghiệp … người quản lý sẽ lựa chọn CSKT phản ánh tốt nhất những đặc điểm nguồn lực của doanh nghiệp (yếu tố sản xuất) để giảm thiểu các xung đột về lợi ích với các bên có liên quan, để tăng cường hiệu quả trong quan

hệ với nhà đầu tư, nhưng về phía bên cung ứng vốn để đảm bảo phản ánh trung thực

và hợp lý tình hình hoạt động của doanh nghiệp thì doanh nghiệp phải xem xét lựa chọn CSKT trên cơ sở khoa học hiện nay về CSKT hoặc thông tin về CSKT của công

ty đối thủ hoặc công ty tương đồng với doanh nghiệp Nhóm thứ hai là cơ quan công quyền như cơ quan thuế Ở phương diện CSKT, người bên trong doanh nghiệp thường hiểu rõ ràng việc lựa chọn CSKT và ảnh hưởng của CSKT đến kết quả hoạt động kinh doanh của DN, việc sử dụng linh hoạt các CSKT giúp cho doanh nghiệp tận dụng các chính sách ưu đãi về thuế, các chương trình hỗ trợ tháo gỡ kinh tế khó khăn do đó tối thiểu hóa số thuế phải nộp cho nhà nước, tối thiểu thuế TNDN và các loại thuế khác (ngoài thuế TNDN) , chi phí tài chính và các khoản đóng góp liên quan đến thu nhập của cổ đông chủ sở hữu có ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT Bất cân xứng thông tin trong trường hợp này có thể gây ra những ảnh hưởng tiêu cực như gây thất thoát ngân sách nhà nước, do đó, lựa chọn CSKT của doanh nghiệp cũng phải được sự chấp thuận, đồng ý của thanh tra thuế

+ Vận dụng lý thuyết vào nội dung nghiên cứu

Trang 35

Lý thuyết ủy nhiệm nêu ra vấn đề về người đại diện và ông chủ, làm thế nào để nười đại diện làm việc cho lợi ích của ông chủ khi họ có lợi thế về thông tin và lợi ích khác với ông chủ Trong các công ty cổ phần, giám đốc công ty thường là người được thuê hoặc là những cổ đông nắm giữ cổ phần ít Vì vậy, các nhà quản lý này thường tìm cách ra quyết định có lợi cho bản thân hơn là lợi ích công ty Thông qua

lý thuyết ủy nhiệm, lợi ích khác nhau của người quản lý và người chủ doanh nghiệp cũng là một yếu tố quan trọng khi xem xét đến các nhân tố tác động đến việc lựa chọn CSKT ảnh hưởng đến lợi nhuận, tiêu biểu là các nhân tố tài chính nội bộ, nhân tố quy

mô doanh nghiệp, nhân tố tỷ lệ sở hữu của nhà nước…

2.3.2 Lý thuyết thông tin bất cân xứng

+ Nội dung lý thuyết

Có nhiều nghiên cứu liên quan đến lý thuyết thông tin bất cân xứng

G.A Akerlof là người đầu tiên giới thiệu về lý thuyết thông tin bất cân xứng

vào những năm 1970 Thông tin bất cân xứng xảy ra khi một bên giao dịch có ít thông tin hơn bên đối tác hoặc có thông tin nhưng thông tin không chính xác Điều này khiến cho bên có ít thông tin hơn có những quyết định không chính xác khi thực hiện giao dịch đồng thời bên có nhiều thông tin hơn cũng sẽ có những hành vi gây bất lợi cho bên kia khi thực hiện nghĩa vụ giao dịch Hai hệ quả phổ biến nhất do thông tin bất cân xứng gây ra là lựa chọn bất lợi và tâm lý ỷ lại

Lựa chọn bất lợi là hành động xảy ra trước khi ký kết hợp đồng trong kinh doanh

hay tham gia vào quan hệ pháp luật nào đó bên có nhiều thông tin có thể gây tổn hại cho bên ít thông tin hơn Đối với nhà đầu tư, điều họ quan tâm là lợi nhuận, đối với ngân hàng là khả năng trả nợ… Vì vậy, nếu lợi nhuận hoặc khả năng trả nợ không được cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác thì khả năng nhà đầu tư hoặc ngân hàng đưa ra một lựa chọn sai lầm sẽ gia tăng

Tâm lý ỷ lại là hành động của bên có nhiều thông tin hơn thực hiện sau khi ký

kết hợp đồng có thể gây tổn hại cho bên có ít thông tin hơn Với các hợp đồng vay ngân hàng hay bảo hiểm thì tâm lý ỷ lại phát sinh từ phía người đi vay hay đi mua

Trang 36

bảo hiểm Họ sử dụng tiền vay không đúng mục đích hay do đã được bảo hiểm nên

họ sẽ bất cẩn hơn so với trước khi mua bảo hiểm

+ Vận dụng lý thuyết vào nội dung nghiên cứu

Thông qua lý thuyết thông tin bất cân xứng, có thể thấy các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp thường không có đầy đủ thông tin bằng các đối tượng bên trong doanh nghiệp Thông tin bất cân xứng bao gồm bất cân xứng về khối lượng thông tin, chất lượng thông tin và tính kịp thời của thông tin Điều này cũng góp phần ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT của doanh nghiệp như nhân tố hợp đồng nợ, nhân tố thuế, nhân tố tỷ lệ sỡ hữu của nhà nước, nhân tố quy mô doanh nghiệp

2.3.3 Lý thuyết thông tin hữu ích

+ Nội dung lý thuyết

Theo lý thuyết thông tin hữu ích ra đời vào những năm 1960, theo lý thuyết này thông tin tài chính được thiết lập dựa trên các giả thiết: Luôn tồn tại sự mất cân đối thông tin giữa người lập BCTC và người sử dụng thông tin; Việc đáp ứng thông tin của người sử dụng thông qua những bên có lợi ích liên quan đến tình hình tài chính của doanh nghiệp; Tính hữu ích của thông tin cần được đánh giá trong mối tương quan lợi ích – chi phí khi thực hiện công việc kế toán Lý thuyết thông tin hữu ích hướng đến thông tin hữu ích cho người sử dụng hơn là việc tuân thủ các quy định của pháp luật

+ Vận dụng lý thuyết vào nội dung nghiên cứu

Thông qua lý thuyết thì BCTC phải cung cấp các thông tin có ích cho người đọc Việc lựa chọn CSKT của doanh nghiệp sẽ làm thay đổi đến kết quả của BCTC ảnh hưởng đến thông tin cung cấp cho người sử dụng, điều này là một yếu tố quan trọng để xem xét các nhân tố tác động đến việc lựa chọn CSKT ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp như nhân tố: thuế, nhân tố thâm dụng vốn, nhân tố thâm dụng lao động,…

Trang 37

2.4 Các nhân tố tác động đến việc lựa chọn CSKT ảnh hưởng đến lợi nhuận

Trên cơ sở tìm hiểu và kế thừa từ kết quả những nghiên cứu trước về các nhân

tố tác động đến sự lựa chọn chính sách kế toán ảnh hưởng đến lợi nhuận doanh nghiệp, tác giả kế thừa các nhân tố tác động đến sự lựa chọn chính sách kế toán gồm có:

Bảng 2.1: Các nhân tố tác động đến sự lựa chọn chính sách kế toán

ảnh hưởng đến lợi nhuận

Quy mô doanh nghiệp Size

Inoue, T and Thomas, W B (1996);

Waweru, Nelson M., Ponsian Prot Ntui, and Musa Mangena (2011); Shaheen, Mohamed Ahmed (2012)

Inoue, T and Thomas, W B (1996);

Shaheen, Mohamed Ahmed (2012)

Tài chính nội bộ Internal

Intensity

Craycraft, C., S Sedo and D

Gotlob (1998);

Shaheen, Mohamed Ahmed (2012)

* Nhân tố quy mô doanh nghiệp:

Theo các nghiên cứu của Hagerman, Robert L và Zmijewski, Mark E (1979); Watts và Zimmerman (1990); Inoue, T and Thomas, W B (1996); nhân tố này có tác động ngược chiều với sự lựa chọn chính sách kế toán ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp Tuy nhiên theo các nghiên cứu của các tác giả Charles P Cullinan

Trang 38

(1999); Waweru, Nelson M., Prot Ntui, Ponsian, Mangena, Musa (2011) thì nhân tố này có tác động cùng chiều với sự lựa chọn chính sách kế toán ảnh hưởng đến lợi nhuận

* Nhân tố hợp đồng nợ

Nhân tố hợp đồng nợ được khảo sát trong các nghiên cứu của Tatsuo Inoue và Wayne B Thomas (1996); Charles P Cullinan (1999); Colin R.Dey và cộng sự (2007); Waweru, Nelson M., Prot Ntui, Ponsian, Mangena, Musa (2011); Mohamed Ahmed Shaheen (2012) Nhân tố này có tác động cùng chiều với sự lựa chọn chính sách kế toán ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp theo kết quả nghiên cứu của Tatsuo Inoue và Wayne B Thomas (1996); Colin R.Dey và cộng sự (2007) Ba nghiên cứu còn lại không tìm được mối liên hệ đáng kể giữa hợp đồng nợ và lựa chọn chính sách kế toán ảnh hưởng đến lợi nhuận

* Nhân tố tài chính nội bộ

Nhân tố tài chính nội bộ được đề cập đến trong các nghiên cứu thực nghiệm tại Nhật Bản do Tatsuo Inoue và Wayne B Thomas (1996) thực hiện Thụy Sĩ do Missonier (2004) và Tarzania do Waweru, Nelson M., Prot Ntui, Ponsian, Mangena, Musa (2011) thực hiện Tuy nhiên, kết quả về nhân tố này trái ngược nhau khi kết quả nghiên cứu tại Nhật Bản cho rằng nhân tố tài chính nội bộ có mối quan hệ ngược chiều với sự lựa chọn chiến lược lợi nhuận còn nghiên cứu tại Tarzania và Thụy Sĩ cho kết quả ngược lại

* Nhân tố Thuế

Các nghiên cứu thực nghiệm từ các nghiên cứu trước đều cho kết quả nhân tố Thuế có tác động ngược chiều đến sự lựa chọn chính sách kế toán ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp, điển hình là các nghiên cứu của Tatsuo Inoue và Wayne B Thomas (1996), Colin R.Dey và cộng sự (2007)…

Trang 39

Ahmed Shaheen nhân tố này được xem là có tác động ngược chiều với sự lựa chọn chính sách kế toán, còn nghiên cứu của Colin R.Dey và cộng sự không tìm ra mối liên hệ giữa nhân tố này và sự lựa chọn chính sách kế toán của doanh nghiệp

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Trong chương 2, luận văn trình bày cơ sở lý thuyết, khái niệm về CSKT cũng như vai trò, mục tiêu của nó trong việc lập BCTC, luận văn cũng trình bày các chính sách kế toán có ảnh hưởng đến lợi nhuận theo chuẩn mực kế toán quốc tế và Việt Nam; Bên cạnh đó, luận văn cũng trình bày lý thuyết ủy nhiệm (lý thuyết người đại diện), lý thuyết thông tin bất cân xứng và lý thuyết thông tin hữu ích để giải thích cho các nhân tố tác động đến sự lựa chọn CSKT để giúp cho người đọc hiểu được một cách đầy đủ, chính xác, làm rõ hơn vấn đề mà luận văn nghiên cứu Cũng trong phần cuối chương này, tác giả xác định các nhân tố mà luận văn sẽ kế thừa từ các nghiên cứu trước, trên cơ sở đó, tác giả sẽ tiến hành thiết kế nghiên cứu ở chương sau

Trang 40

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Khung nghiên cứu luận văn

Khung nghiên cứu được tác giả thể hiện tại sơ đồ 3.1:

Ngày đăng: 13/05/2021, 22:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bosnyák, J., 2003. Számviteli értékelési eljárások hatása a vállalkozások vagyoni, jửvedelmi ộs pộnzỹgyi helyzetộre [The effect of evaluation methods on the financial position, performance and cash flows of entites]. Doctoral thesis.Budapest Corvinus University. Hungary Sách, tạp chí
Tiêu đề: Számviteli értékelési eljárások hatása a vállalkozások vagyoni, jửvedelmi ộs pộnzỹgyi helyzetộre [The effect of evaluation methods on the financial position, performance and cash flows of entites]
2. Charles P. Cullinan, 1999. International Trade and Accounting Policy Choice: Theory and Canadian Evidence. Accouting Journal Articles, pp.14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Accouting Journal Articles
3. Christie, A.A. (1990), Aggregation of test statistics: an evaluation of the evidence on contracting and size hypotheses. Journal of Accounting and Economics, Vol. 12, Issues 1–3, pp. 15-36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Accounting and Economics
Tác giả: Christie, A.A
Năm: 1990
4. Christos Tzovas, 2006. Factors influencing a firm’s accounting policy decisions when tax accounting and financial accounting coincide. Managerial Auditing Journal, Vol. 21 No. 4, pp. 372-386 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Managerial Auditing Journal
5. Cloyd, B.C., Pratt, J. and Stock, T, 1996. The use of financial accounting choice to support aggressive tax positions: public and private firms. Journal of Accounting Research, Vol. 34 No. 1, pp. 23-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Accounting Research
6. Colin.R. Dey, John R. Grinyer, C.Donald Sinclair and Hana El-Habashy, 2007. Determinants of Accouning Choices in Egypt. The Journal of Applied Accounting Research, Vol. 8, pp.48-92 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Journal of Applied Accounting Research
7. Easton, P.D., Eddey, P.H. and Trevor, H.S. (1993), An investigation of revaluation of tangible long-lived assets. Journal of Accounting Research, Vol. 31 (Supplement), pp. 1-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Accounting Research, Vol. 31 (Supplement)
Tác giả: Easton, P.D., Eddey, P.H. and Trevor, H.S
Năm: 1993
8. Inoue, T. and Thomas, W. B.,1996. The Choice of Accounting Policy In Japan. Journal of International Financial Management & Accounting, Vol 7: pp 1–23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of International Financial Management & Accounting
9. Jensen, M.C., Meckling, W.H., 1976. Theory of the firm: managerial behavior, agency costs, and ownership structure. Journal of Financial Economics, 3, pp.305–360 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Financial Economics
10. Mariana Gurău, 2014. Three types of accounting policies reflected in financial statements: case study for Romania. Global Economic Observer, vol. 2, issue 1, pp.209-221 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Global Economic Observer
11. Missonier-Piera, F. (2004), Economic Determinants of Multiple Accounting Method Choices in a Swiss Context. Journal of International Financial Management & Accounting, vol 15: pp 118–144 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of International Financial Management & Accounting
Tác giả: Missonier-Piera, F
Năm: 2004
12. Myers S.C và Majluf. N, 1984. Corporate financing and Investment decisions when firms have information that investors do not have. Journal of Financial Economics, pp.13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Financial Economics
13. Popa, A. F. (2011). Contabilitatea şi fiscalitatea rezultatului ợntreprinderii. CECCAR-Corpul Experţilor Contabili şi Contabililor Autorizaţi din România, page 72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Contabilitatea şi fiscalitatea rezultatului ợntreprinderii
Tác giả: Popa, A. F
Năm: 2011
15. Shaheen, Mohamed Ahmed. "The choice of accounting policy in developing countries: Case of the state of Kuwait (An empirical investigation of the validity of the positive theory)." Available at SSRN 1983417 (2012) Sách, tạp chí
Tiêu đề: The choice of accounting policy in developing countries: Case of the state of Kuwait (An empirical investigation of the validity of the positive theory)
16. Steven C. Hall and Laurie S. Swinney, 2004. Accounting Policy Changes and Debt Contracts. Management Research News, pp. 34-48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Management Research News
17. Steven Young, 1998. The Determinants of Managerial Accounting Policy Choice: Further Evidence for the UK. Accounting and Business Research, Vol. 28 No. 2, pp. 131-143 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Accounting and Business Research
18. Szilveszter Fekete, 2010. Explaining Accounting Policy Choices of SME’s: An Empirical Research on the Evaluation Methods. European Research Studies, Volume XIII, Issue (1), pp. 33-48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: European Research Studies
21. Watts, R. L. and Zimmerman, J. L., 1990. Positive Accounting Theory: A Ten Year Perspective. The Accounting Review, Vol. 65 No. 1, pp. 131-156 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Accounting Review
22. Waweru, N.M., Gelinas, P. and Uliana, E. (2009), Executive compensation schemes in the banking industry: a comparative study between a developed country and an emerging economy. Academy of Accounting, and Finance Studies Journal, Vol. 13 No. 1, pp. 13-28.Tài liệu tiếng Việt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Academy of Accounting, and Finance Studies Journal
Tác giả: Waweru, N.M., Gelinas, P. and Uliana, E
Năm: 2009
1. Bộ Tài Chính, 2003. Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21 "Trình bày báo cáo tài chính”. Quyết định Số 234/2003/QĐ-BTC Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trình bày báo cáo tài chính

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w