Bài viết tập trung phân tích, đánh giá những thành tựu và tồn tại, thách thức có tính cấp bách đã và đang đặt ra của chính sách công cả trên phương diện khoa học và thực tiễn vận hành của nó ở Việt Nam.
Trang 1CHÍNH SÁCH CÔNG Ở VIỆT NAM: THÀNH TỰU VÀ MỘT SỐ
VẤN ĐỀ ĐẶT RA
Bùi Nghĩa * , Nguyễn Thị Hoa ** , Nguyễn Hữu Hoàng ***
TÓM TẮT
Bài viết tập trung phân tích, đánh giá những thành tựu và tồn tại, thách thức có tính cấp bách
đã và đang đặt ra của chính sách công cả trên phương diện khoa học và thực tiễn vận hành của nó
ở Việt Nam Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số định hướng để tiếp tục phát triển ngành khoa học chính sách công đầy tiềm năng, phát huy vai trò to lớn của nó trong quá trình quản lý, kiến tạo phát triển quốc gia, địa phương.
Từ khóa: Chính sách công, thành tựu, Việt Nam, vấn đề cấp bách
PUBLIC POLICY IN VIETNAM: ACHIEVEMENTS AND SOME ISSUES PUT
IN THE DEVELOPMENT ORIENTATION FOR THE NEXT TIME
Abstract: This paper focus on anylizing, appreciatiing the basic echievements and threats also
some problems in the past and now of the public policy that are both science aspect and the its reality movement in Vietnam From that, the paper gives some solutions to encourage the empowerful this science and the role of this in the management proccess and creates the development of the nation, local authorities.
Key words: Public policy, achievement, Vietnam, urgency problems.
1 Vũ Cao Đàm (2011), Giáo trình Khoa học chính sách, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, HN, tr.11
2 Nguyễn Hữu Hải (2014), Chính sách công - Những vấn đề cơ bản, Nxb CTQG-ST, HN, tr.7
1 LƯỢC SỬ CHÍNH SÁCH CÔNG,
KHOA HỌC CHÍNH SÁCH CÔNG VIỆT
NAM
Theo dòng chảy lịch sử, sự xuất hiện của
chính sách công với tư cách là công cụ, phương
thức hoạt động phục vụ giới chính trị giải quyết
các vấn đề của quốc gia đã xuất hiện cùng với
nền dân chủ Hi Lạp Ở góc độ khoa học, chính
sách công là một ngành khoa học, tuy có tuổi
đời khá trẻ so với nhiều ngành khoa học khác
như triết học, chính trị học, xã hội học,… song
chính sách công đã có lịch sử tương đối sáng tỏ Các nhà nghiên cứu và nhiều tài liệu trên thế giới đều thống nhất cho rằng, chính sách công được nhìn nhận với tư cách là ngành khoa học sau thế chiến thứ II (1945) Khi ấy, ngành khoa học này mới ở giai đoạn “pre-paradigamic science”1 (“phôi thai”, “bất định”) và phát triển mạnh chủ yếu ở Bắc Mỹ và châu Âu với mục tiêu nghiên cứu mối quan hệ giữa nhà nước và công dân2 Năm 1951, tác phẩm “The Policy Orientation, the policy science: Recent
Trang 2Development in scope and method”1 của Daniel
Lerner và Harold D Lasswell được xuất bản đã
đánh dấu bước trưởng thành mới khi khoa học
chính sách chính thức tách khỏi nhiều ngành
khoa học khác như chính trị, hành chính công,
tâm lí học, luật học, xã hội học,… trở thành
ngành khoa học thực thụ
Ở Việt Nam, cùng với dòng chảy lịch sử
1 Trong tác phẩm “The Policy Orientation, the policy science: Recent Development in scope and method” (Daniel Lerner, H.D Lasswell, 1951) đã chỉ ra 03 đặc trưng của khoa học chính sách bấy giờ là: (i) định hướng vấn đề cần giải quyết, (ii) đa ngành; (iii) quy chuẩn giá trị và phương pháp nghiên cứu chủ yếu của ngành khoa học này - “phương pháp xem xét những gì nhà nước thực sự làm cho xã hội”
2 Theo Việt Nam sử lược (Trần Trọng Kim, 2005:17), lịch sử nước ta tính từ thời họ Hồng Bàng gắn với nhà
nước Văn Lang (2879 - 258 TCN) đến nay đã hơn 4000 năm
3 Sách viết có đoạn: “Hùng Vương thứ 8 có đám giặc gọi là giặc Ân, hùng mạnh lắm, không ai đánh nổi Vua mới sai sứ đi rao trong nước để tìm người tài giỏi ra đánh giặc giúp nước” (Theo Trần Trọng Kim, 2005:20).
dựng và giữ nước hơn 4000 năm2, chính sách công với tên gọi, trình độ nhận thức và phát triển
có khác nhau, dù được sử dụng như đối sách, công cụ, phương thức khách nhau để thực hiện
sự nghiệp trị quốc, phát triển xã hội hay trở thành ngành khoa học ứng dụng đều có lịch sử của mình qua 02 giai đoạn chính với 04 nấc thang phát triển
cụ thể được mô tả bằng sơ đồ sau
Biểu đồ: Lược sử chính sách công ở Việt Nam từ thời kỳ thượng cổ đến nay
(Nguồn: Nghiên cứu của tác giả)
93
thành mới khi khoa học chính sách chính thức tách khỏi nhiều ngành khoa học khác như chính
cụ, phương thức khách nhau để thực hiện sự nghiệp trị ốc, phát triển xã hội hay trở thành
ngành khoa học ứng dụng đều có lịch sử của mình qua 02 giai đoạn chính với 04 nấc thang phát
triển cụ thể được mô tả bằng sơ đồ sau
Biểu đồ: Lược sử chính sách công ở Việt Nam từ thời kỳ thượng cổ đến nay
(Nguồn: Nghiên cứu của tác giả)
Nhìn tổng thể, lịch sử chính sách công nước ta có thể khái quát ở hai giai đoạn sau:
kéo dài từ nhà nước đầu tiên Văn Lang (2879 - 258 TCN), Âu Lạc (257 - 207 TCN) của nước ta
Trong giai đoạn này, nhận thức về chính sách công (theo cách gọi ngày nay) của ông cha từ
Điều này biểu hiệ ở chính sách, cách thức xây dựng tổ chức bộ máy chính quyền thời kỳ sơ khai
và bảo vệ bờ cõi của nhà nước Văn Lang, Âu Lạc; qua các giai thoại từ ững câu chuyện truyề
1 Trong tác phẩm “The Policy Orientation, the policy science: Recent Development in scope and method”
(Daniel Lerner, H.D Lasswell, 1951) đã chỉ ra 03 đặc trưng của khoa học chính sách bấy giờ là: (i) đị
hướng vấn đề cần giải quyết, (ii) đa ngành; (iii) quy chuẩn giá trị và phương pháp nghiên cứu chủ yế
của ngành khoa học này - “phương pháp xem xét những gì nhà nước thực sự làm cho xã hộ
2Theo Việt Nam sử lượ (Trần Trọng Kim, 2005:17), lịch sử nước ta tính từ thời họ Hồng Bàng gắn với
nhà nước Văn Lang (2879 - 258 TCN) đến nay đã hơn 4000 năm.
Thượng cổ Bắc thuộc
Phong kiến, thuộc địa
Xây dựng chế độ mới, cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và thực hiện đồng bộ công cuộc
Đổi mới
939 1858 1945 1975 1986
207 TCN
GIAI ĐOẠN 1: Chính sách công tồn tại với tư cách là hoạt
động thực tiễn, công cụ thực hiện mục tiêu chính trị (đến khoảng những năm 70 thế kỷ XX)
GIAI ĐOẠN 2: Chính sách công
vừa tồn tại với tư cách (1) hoạt động thực tiễn, công cụ thực hiện mục tiêu chính trị vừa (2)
ngành khoa học non trẻ (từ sau những năm 70 của thế kỷ XX đến nay)
Nh ững năm 70 thế kỷ XX
Nhìn tổng thể, lịch sử chính sách công
nước ta có thể khái quát ở hai giai đoạn sau:
Giai đoạn 1: Đây là thời kỳ “khai thiên lập
quốc” mà sử sách gọi là thời đại “thượng cổ”
kéo dài từ nhà nước đầu tiên Văn Lang (2879 -
258 TCN), Âu Lạc (257 - 207 TCN) của nước ta
đến những năm 70 của thế kỷ XX (khi nhà nước
phong kiến tập quyền cuối cùng trong lịch sử
sụp đổ, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thắng lợi, lập
ra nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà (năm
1945), tiếp tục sự nghiệp kháng chiến, kiến
quốc, xây dựng nước Việt Nam thống nhất)
Trong giai đoạn này, nhận thức về chính
sách công (theo cách gọi ngày nay) của ông cha
từ chất phác, chưa rành rẽ “chưa thể chỉ mặt đặt tên” và tường tận bước đầu được hình thành, phát triển, được ứng dụng trên thực tế phục vụ công việc trị quốc, an dân và xây dựng chế độ mới Điều này biểu hiện ở chính sách, cách thức xây dựng tổ chức bộ máy chính quyền thời kỳ sơ khai và bảo vệ bờ cõi của nhà nước Văn Lang,
Âu Lạc; qua các giai thoại từ những câu chuyện truyền thuyết như vua Hùng thứ 6 dụng chính sách chiêu hiền đãi sĩ tìm nhân tài đánh giặc Ân (truyền thuyết Thánh Gióng), chính sách bảo vệ chủ quyền quốc gia từ xa, chủ động (qua câu chuyện Thục Phán An Dương Vương xây thành
Cổ Loa3),… Đồng thời, “chính sách” bấy giờ còn được biểu hiện là các kế sách, sách lược trị
Trang 3quốc an dân của lãnh tụ, anh hùng, hào kiệt khởi
xướng phong trào khởi nghĩa đánh giặc phương
Bắc thời kỳ Bắc thuộc, của các bậc minh quân
ở các triều đại phong kiến Việt Nam như Tiền
Lý, Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hậu Lê,
Nguyễn,… Đặc biệt, đến đầu thế kỷ XX, đó là
đường hướng, cách thức xây dựng, giác ngộ, tập
hợp và tổ chức lực lượng toàn dân thực hiện cuộc
cách mạng vô sản do Đảng Cộng sản Việt Nam
lãnh đạo để đánh Pháp, đuổi Nhật, xoá bỏ chế
độ phong kiến, giành quyền độc lập, tự chủ, xây
dựng chế độ mới Các chính sách ấy được biểu
hiện đầy đủ, trọn vẹn trong Cương lĩnh chính
trị đầu tiên 2/1930, Luận cương tháng 10/1930,
đường lối kháng chiến kiến quốc, Tuyên ngôn
độc lập năm 1945, Hiến pháp năm 1946, Hiến
pháp năm 19591,
Giai đoạn 2: Đây là thời kỳ phát triển song
hành giữa thực tiễn vận động của chính sách
công và mầm móng về nền khoa học chính sách
công đã bắt đầu xuất hiện Khoa học chính sách
công của nước ta đi muộn hơn thế giới khoảng
20 năm, đồng thời, được đánh dấu trở thành
ngành khoa học “phôi thai” khoảng những năm
70 của thế kỷ XX Khi ấy, các khái niệm như
“phúc lợi xí nghiệp”, “an toàn xã hội”, “bảo đảm
xã hội”,… xuất hiện ngày càng nhiều trong công
chúng, thông qua một số bài thông tin khoa học
xã hội, sách dịch,… đã thúc đẩy sự quan tâm của
giới nghiên cứu Đặc biệt, tại Đại hội Đảng lần
thứ VI (12/1986), lần đầu tiên thuật ngữ “chính
1 Trong Chánh cương vắn tắt 1930 của Đảng Cộng
sản Việt Nam được xem như Cương lĩnh chính trị
đầu tiên của Đảng do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo
đã nhắc đến chính sách xuyên suốt - sợi chỉ đỏ của
cách mạng Việt Nam “chủ trương làm tư sản dân
quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã
hội cộng sản”, ghi rõ có 3 chính sách trên phương
diện xã hội, 4 chính sách phương diện chính trị và
6 chính sách trên phương diện kinh tế Quyết sách,
chính sách, chiến thuật và thắng lợi của cách mạng
Việt Nam (1930 - đến năm 70 của thế kỷ XX) suy
cho cùng là hiện thực hoá “sợi chỉ đỏ xuyên suốt”
của cách mạng Việt Nam được nêu trong Cương
lĩnh (theo Vũ Như Khôi, 2010:26)
sách xã hội” xuất hiện trong văn kiện, làm tiêu
đề cho một phần riêng biệt Sự kiện này đánh dấu nấc thang mới trong nhận thức của Đảng
và Nhà nước về vị trí, vai trò cấp thiết chính sách công, nghiên cứu chính sách công và cũng
là thời điểm đánh dấu thời kỳ “khởi động” cho
sự phát triển sôi động, mạnh mẽ của khoa học chính sách công ở nước ta cho những giai đoạn tiếp theo2
2 THÀNH TỰU TRONG NGHIÊN CỨU VÀ VẬN HÀNH CHÍNH SÁCH CÔNG Ở VIỆT NAM HƠN 30 NĂM QUA
2.1 Thành tựu về mặt khoa học và học thuật
Để công nhận một lĩnh vực nghiên cứu trở thành ngành khoa học phải dựa trên 03 trụ cột then chốt: (1) Đối tượng nghiên cứu, (2)
Hệ thống lý luận khoa học và (3) Phương pháp nghiên cứu có tính điển hình Do vậy, khoa học chính sách công cũng được xem xét, đánh giá trên 3 trụ cột ấy:
a) Về đối tượng nghiên cứu
Lịch sử khoa học chính sách công trên thế giới và ở Việt Nam không quá dài Tuy vậy, đối tượng của ngành khoa học này cũng dần được phác lộ và khẳng định một cách thống nhất, qua
đó dần khẳng định được tính “tự chủ” trong nghiên cứu so với các ngành khoa học khác có liên quan như chính trị học, xã hội học, triết học hay quản lý công,…
Ở bình diện chung, giới nghiên cứu đều tán đồng khi cho rằng, đối tượng nghiên cứu của khoa học chính sách công là một hệ thống biện pháp được thể chế hoá bởi nhà nước nhằm thực hiện mục tiêu nào đó trong chiến lược phát triển xã hội3 Tiếp thu quan điểm chung của thế giới, ở Việt Nam, gần nửa thế kỷ nghiên cứu về ngành
2 Tham khảo bài giảng: “Chính sách xã hội” (Bùi Thế Cường, 2018).
3 Điểm qua quan điểm về chính sách công của các học giả hàng đầu và tiên phong về chính sách công trên thế giới như: Thomas Dye (1972), James Anderson (1984), William N.Dunm, Peter Aucoin,
B Guy Peter,…
Trang 4khoa học này, một mặt các học giả thống nhất
cho rằng đối tượng nghiên cứu ngành khoa học
này chính là hệ thống quyết định của Nhà nước
ban hành, gồm mục tiêu và giải pháp chính
sách nhằm giải quyết các vấn đề của đời sống
xã hội, hướng đến thúc đẩy xã hội phát triển,
thịnh vượng Mặc khác, nhiều chuyên gia cũng
có căn cứ khi cho rằng đối tượng nghiên cứu
khoa học chính sách công ở nước ta rộng hơn
so với đối tượng nghiên cứu ở bình diện chung,
bởi lẽ, chúng ta quan niệm rằng, chính sách
công không chỉ là sản phẩm chính trị của nhà
nước mà hơn nữa có thể là “của các chủ thể
dàng bắt gặp trong các quyển giáo trình tài liệu
chuyên khảo về chính sách công có tính “gối
đầu giường” ở nhiều cơ sở đào tạo có truyền
thống đi đầu trong nghiên cứu, đào tạo khoa
học chính sách công như Học viện Hành chính
quốc gia, Học viện Khoa học xã hội (Viện Hàn
lâm khoa học xã hội Việt Nam), Đại học Khoa
học xã hội và Nhân văn, Học viện Chính sách
và Phát triển,… Nhận thức chưa thống nhất này
đang dẫn đến sự tranh luận khoa học rất sôi nổi,
cần thiết trên các diễn đàn về chính sách công
tại Việt Nam hiện nay
Từ việc xác định thống nhất đối tượng
nghiên cứu của khoa học chính sách công, các
nhà nghiên cứu ở nước ta đã tạm phân chia các
lĩnh vực, khu biệt các nội dung nghiên cứu của
ngành khoa học này ở các nhóm sau:
Nhóm 1: Những vấn đề lý luận chung về
khoa học chính sách công Trong nhóm này, các
nội dung được nghiên cứu ở mức độ sơ lược hay
chuyên sâu tuỳ theo cách tiếp cận của các nhà
nghiên cứu Tuy vậy, vẫn có điểm chung là:
- Vai trò của chính sách với tư cách là công
cụ lãnh đạo, quản lý công đối với phát triển xã hội
- Nội hàm của chính sách công (hoặc có
thể xem xét trong tương quan với chính sách tư)
1 Trần Văn Huấn, Nguyễn Hữu Hoàng (2018), Khoa
học lãnh đạo: Hỏi và đáp, Nxb Đại học quốc gia
TP Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh, tr 212.
- Cấu trúc và phương thức, nguyên tắc vận hành của chính sách công
- Chu trình chính sách công
- Môi trường và các yếu tố tác động của chính sách công
- Phân tích chính sách công
Hay một vài vấn đề chuyên biệt, có liên quan như thể chế chính sách công, kiến tạo xã hội của chính sách công, chính sách công và chính trị, chính sách công và xã hội học, năng lực chính sách công hay mạng lưới phân tích chính sách công,…
Nhóm 2: Những phân tích, đánh giá chính
sách công chuyên ngành
Ở Việt Nam, gần 10 năm trở lại đây, việc ứng dụng tri thức chung của khoa học chính sách công vào nghiên cứu chính sách công ở nhiều chuyên ngành, lĩnh vực cụ thể ngày càng phổ biến Điều này không chỉ phản ánh thông qua luận án, luận văn của học viên chuyên ngành,
hệ thống bài báo khoa học, kỷ yếu hội thảo, xuất bản sách,… mà còn thể hiện ở việc phân chia các lĩnh vực nghiên cứu thực tiễn chính sách công chuyên ngành như chính sách xã hội (chính sách giáo dục - đào tạo, chính sách lao động - việc làm, chính sách đối với người có công, chính sách bảo hiễm xã hội,…), chính sách kinh tế, chính sách văn hoá, chính sách môi trường, chính sách khoa học công nghệ, thậm chí là sự khởi xướng cho ngành khoa học mới gắn kết giữa xã hội học và khoa học chính sách công
ở Việt Nam - “xã hội học chính sách công”…
Đây được xem là nỗ lực lớn của giới nghiên cứu chính sách công ở Việt Nam
b) Hệ thống lý luận khoa học
Ngành khoa học nào cũng cần trang bị cho mình hệ thống lý luận khoa học tiếp cận (khái niệm, định nghĩa, phạm trù, lý thuyết, mô hình nghiên cứu,…) Dù có mối quan hệ gần gũi với nhiều ngành khoa học khác, song hiện nay, khoa học chính sách công ở thế giới và Việt Nam vẫn đang từng bước hoàn thiện hệ thống lí thuyết riêng cho mình Hệ thống lý thuyết phổ quát của
Trang 5ngành khoa học này có thể kể đến như “chính
sách công”, “chu trình chính sách công”, “cấu
trúc chính sách công”, các tri thức về đặc điểm
(bản chất), vai trò, nguyên tắc, phân loại,…
Ở Việt Nam, thời gian gần đây, nhiều nhà
nghiên cứu đã nỗ lực để kế thừa và phát kiến
nhằm làm rõ các vấn đề thuộc về hệ thống lí
thuyết của chính sách công gắn với thực tiễn của
đời sống chính sách tại Việt Nam Chẳng hạn,
luận bàn về nội hàm từ “công” trong chính sách
công từ thực tiễn Việt Nam, vai trò lãnh đạo
của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với chu trình
chính sách công, chủ thể chính sách công ở Việt
Nam hiện nay, so sánh chu trình chính sách và
quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật
hiện hành ở nước ta, tính “xã hội” trong chính
sách công, “đạo đức” của chính sách công,
“tham nhũng” chính sách công ở Việt Nam,…
Các kết quả nghiên cứu này không những làm
phong phú, sâu sắc tri thức phổ quát về khoa
học chính sách công nói chung mà còn gián
tiếp khẳng định sự vươn lên khẳng định vị thế,
đóng góp của ngành khoa học chính sách công
ở Việt Nam
Tuy vậy, hệ thống lí luận khoa học chính
sách công Việt Nam cũng như trên thế giới đang
đứng trước thách thức: (1) thiếu hệ thống lý
thuyết tiếp cận chính sách công, (2) thiếu mô
hình nghiên cứu chính về sách công Ngoài các
khái niệm, định nghĩa, phạm trù như đã trình
bày ở trên, sự thiếu vắng hai yếu tố vừa kể có
thể xem là thách thức rất lớn trong nghiên cứu
về khoa học chính sách công ở Việt Nam Bởi
lẽ, một ngành khoa học không có hệ thống lí
thuyết đặc thù, mô hình nghiên cứu tiêu biểu,…
thì hoặc không thể có căn cứ thuyết phục luận
giải các hiện tượng, vấn đề của ngành khoa học
mình hoặc không thể trừu tượng hoặc khái quát
hoá một cách có hệ thống các vấn đề thực tiễn
phong phú, mênh mông mà ngành khoa học
mình đang hướng đến Hiện nay, về phương
diện tiếp cận lý thuyết chính sách công (và chính
sách xã hội), thế giới có 03 lý thuyết phổ quát
là: Lý thuyết đại diện (representational theory,
lý thuyết tái hiện, tượng trưng, điển hình) của Wilensky và Lebeaux (1965), Lý thuyết giải thích/ hay phân tích (explanatory or analytical theory) của Anne Schneider và Hellen Ingram (1993) và Lý thuyết chuẩn tắc (normative theory, lý thuyết chuẩn mực, quy chuẩn, quy phạm) Taylor - Gooby và Dale (1981) Các mô hình về chính sách công có thể nhắc đến như
mô hình công về chính sách xã hội của Richard Titmuss (nhà nghiên cứu quản trị xã hội người Anh)1 hay Mô hình chức năng về chính sách xã hội, Mô hình chính sách xã hội phát triển, mô hình giới tinh hoa, mô hình định chế, mô hình duy lí, mô hình tiệm tiến, mô hình lựa chọn công, mô hình lí thuyết trò chơi,…2
Mặc dù vậy, theo tác giả, sự “thiếu” ở đây vừa hiểu là thiếu vắng các công trình nghiên cứu cũng như sự ít quan tâm (nếu không nói là
ít, hoặc không đề cập, bàn luận hoặc vận dụng trong thực tiễn vận hành chính sách công) về vấn đề này
c) Phương pháp nghiên cứu chính sách
Ở mỗi ngành khoa học, phương pháp nghiên cứu rất quan trọng, là cách thức để đạt mục tiêu trong nghiên cứu và khám phát đối tượng, lĩnh vực nghiên cứu của mình Chính sách công ra đời trong bối cảnh các phương
1 Tham khảo: Lê Ngọc Hùng (2016), Khoa học chính
sách xã hội và thực tiễn Việt Nam, bài đăng trên
Tạp chí Cộng sản online, truy cập:
http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/ Nghiencuu-Traodoi/2016/38808/Khoa-hoc-chinh-sach-xa-hoi-va-thuc-tien-Viet-Nam.aspx
- Lê Ngọc Hùng (2017), Khoa học chính sách xã
hội: Mô hình tiếp cận lý thuyết và thực tiễn Việt Nam, bài đăng trên Tạp chí lý luận chính trị online,
truy cập:
http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/nguyen- cuu-ly-luan/item/1855-khoa-hoc-chinh-sach-xa- hoi-mo-hinh-tiep-can-ly-thuyet-va-thuc-tien-viet-nam.html
2 Bùi Thế Cường (2017), Bài giảng: Các mô hình
chính sách công, ngày 23/7/2017 tại Học viện
Khoa học xã hội.
Trang 6pháp nghiên cứu thực nghiệm của nhiều ngành
khoa học khác có bước phát triển mạnh mẽ (tạm
gọi là thời kỳ “hậu nghiệm”) và có nhiều công
cụ hơn giúp chúng ta có thể lượng hoá, hoặc
thực chứng các thông tin thu thập trong quá
trình nghiên cứu, giúp gia tăng độ chính xác,
tin cậy của kết quả nghiên cứu Vì vậy, khoa
học chính sách công đã có cơ hội lĩnh hội,
kế thừa và đúc kết phương pháp nghiên cứu
cho ngành khoa học của chính mình Hiện
nay, quan điểm của các nhà khoa học đều
cho rằng, chính sách công sử dụng phương
pháp nghiên cứu khoa học liên ngành thậm
chí là xuyên ngành (bởi trước hết nó là ngành
khoa học liên ngành cao), có kế thừa ưu điểm
của các phương pháp nghiên cứu “khoa học
hậu nghiệm” ở các ngành khác như phương
pháp thực nghiệm xã hội (điều tra xã hội
học, quan sát, phỏng vấn sâu,…), phương
pháp diễn ngôn - phương pháp nghiên cứu
ngôn ngữ học, phương pháp kiến tạo, phương
pháp định lượng, phương pháp định tính,…
Với thành tựu khoa học công nghệ, nhất là
công nghệ máy tính, thống kê học,… khoa
học chính sách đã dần được trang bị, tiếp cận
và chiếm lĩnh các công cụ thu thập thông tin
hiện đại như công cụ SPSS, công cụ phân tích
tiên lượng R - Mardown và một số phần mềm
chuyên dụng khác,…
Ở Việt Nam, khoa học chính sách công
ở nước ta nhìn chung chưa vận dụng tích cực,
phổ biến các phương pháp nghiên cứu và công
cụ thu thập thông tin hiện đại vừa kể trên
Thẳng thắng thừa nhận, phần đa các công trình
nghiên cứu khoa học chuyên ngành chính sách
công chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu
định tính với công cụ thu thập thông tin truyền
thống như đọc tài liệu, phân tích, so sánh, diễn
dịch, quy nạp,… (tác giả không có ý đánh giá,
phê bình hay chỉ trích vịệc sử dụng các phương
pháp này), đồng thời, rất hạn chế hay dè dặt
sử dụng phương pháp nghiên cứu mới, công
cụ mới để lượng hoá các kết quả nghiên cứu,
gia tăng độ thuyết phục, thực chứng đối với đọc giả Tuy vậy, vừa qua, nhiều luận án tiến sĩ chính sách công, công trình khoa học về chính sách cấp tỉnh, bộ, đề tài nhà nước, dự án nghiên cứu lớn đã dần ứng dụng, sử dụng có hiệu quả phương pháp mới, công cụ hiện đại trong thu thập, phân tích dữ liệu nghiên cứu Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 tạo ra “big data”,
“big science”,… và trước đòi hỏi mới của thực tiễn xã hội, phản biện xã hội ngày càng cao, giới nghiên cứu và nhà chức trách nhất thiết phải đổi mới toàn diện, trong đó có việc cách tân phương pháp, công cụ nghiên cứu
d) Ngoài ra, hệ thống tư liệu, tài liệu viết, dịch thuật và nỗ lực công bố, giảng dạy
Việc nghiên cứu, cho ra đời nhiều sản phẩm khoa học có giá trị về chính sách công của nước
ta thời gian qua đã giúp cải biến đáng kể nhận thức xã hội, phục vụ trực tiếp sự nghiệp đổi mới của quốc gia Những thành tựu này có thể hiện đánh giá trên các khía cạnh như:
Một là, công tác đào tạo nguồn lực chính
sách công ở Việt Nam ngày càng được quan tâm mở rộng, đáp ứng nhu cầu xã hội ngày càng tăng Qua khảo sát một số cơ sở đào tạo, kết quả cho thấy nhiều cơ sở đào tạo
đã được cấp, mở mã ngành đào tạo đại học, cao học, nghiên cứu sinh về chính sách công như Học viện Hành chính quốc gia (đại học quản lý nhà nước, chuyên ngành chính sách công), Học viện Báo chí và Tuyên truyền (đại học chính trị chuyên ngành chính sách công), Đại học quốc gia Hà Nội, Thành phố
Hồ Chí Minh, Đại học Fulbright Việt Nam (thạc sĩ chính sách công chuyên ngành phân tích chính sách và chuyên ngành lãnh đạo và quản lý), Học viện Chính sách và Phát triển, Đại học Kinh tế (thạc sĩ chính sách công và phát triển), Đại học Bách khoa, Đặc biệt, nhiều cơ sở đào tạo của Đảng đã từng bước lồng ghép một số môn, chuyên đề, kiến thức
và kỹ năng về chính sách công nhằm đào tạo
lý luận chính trị trung, cao cấp cho cán bộ,
Trang 7đảng viên, cán bộ chiến lược trong hệ thống
chính trị 1 Từ đây, đội ngũ các nhà khoa học,
chuyên gia và nhà hoạt động thực tiễn trong lĩnh
vực chính sách công tiếp tục sự nghiệp nghiên
cứu, giảng dạy tại các cơ sở đào tạo; trong các
cơ quan tham mưu chính sách, cơ quan quản lý
nhà nước các cấp, Hoạt động của họ đã góp
phần đưa tri thức khoa học chính sách công vào
thực tiễn lãnh đạo, quản lý và hoạch định chính
sách công các cấp một cách có hiệu quả, khoa
học hơn
Hai là, so với khoảng 10 năm trước, tài liệu
được nghiên cứu, chuyển dịch, công trình nghiên
cứu dạng đề tài khoa học các cấp, bài báo khoa
học,… về lĩnh vực chính sách công, ứng dụng tri
thức chính sách công,… ngày càng phong phú,
sâu sắc với nhiều tác giả uy tín, tên tuổi2
1 Tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, trong
chương trình Cao cấp Lý luận chính trị có chuyên
đề Chính sách công (thuộc môn Khoa học lãnh
đạo), Chính sách xã hội (thuộc môn Xã hội học
trong lãnh đạo, quản lý) Ngoài ra, một số chuyên
đề về bồi dưỡng dự nguồn cán bộ lãnh đạo, quản
lý/ cập nhật kiến thức đối tượng 3 cấp tỉnh, chuyên
đề bồi dượng dự nguồn cán bộ quy hoạch Ban
Chấp hành Trung ương Đảng,… đều đề cập đến
chính sách công trong thực tiễn lãnh đạo, quản lý.
2 Minh chứng cho sự nỗ lực này như sau: Viện Chính
trị học (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh)
dịch thành công Quyển “Lựa chọn công - một cách
tiếp cận nghiên cứu chính sách công” (2006), sách
tham khảo “Chính sách công” của Học viện Chính
sách và Phát triển (2014), giáo trình “Khoa học chính
sách” (2011) của Vũ Cao Đàm (Đại học Khoa học
xã hội và Nhân văn), giáo trình “Đại cương về chính
sách công” (2014) của Học viện Hành chính quốc
gia, sách dịch “Lựa chọn công - lược khảo” (2017)
của dịch giả Phạm Nguyên Trường, tài liệu “Kỹ năng
phân tích và hoạch định chính sách” (2011) theo
yêu cầu của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội do Trường
ĐHKHXH và NV thực hiện, sách “Chính sách công
– Những vấn đề cơ bản” (2014) của Nguyễn Hữu
Hải, sách “Tổng quan về chính sách công” (2018)
của Đỗ Phú Hải, sách “Chính sách công – lý luận và
thực tiễn” (2019) của Cao Quốc Hoàng và Nguyễn
Đỗ Kiên, sách “Phân tích, đánh giá chính sách công
– Lý luận và thực tiễn” (2019) của Cao Quốc Hoàng
và Nguyễn Thị Lan Phương,…
2.2 Thành tựu về việc vận hành chính sách như công cụ cơ bản trong lãnh đạo, quản lý quốc gia, địa phương
Lịch sử chính sách công của nước ta trải dài theo lịch sử đất nước Đóng góp của khoa học chính sách công chính ở biểu hiện ở tính hiệu quả, hiệu lực trong quá trình vận hành, dẫn dắt sự phát triển của xã hội bằng hệ thống chính sách quốc gia, địa phương Thành tựu của khoa học chính sách công ở giác độ thực tiễn suy cho cùng là sự chuyển biến về “chất” của diện mạo đất nước Bài viết chỉ đánh giá thành tựu này trong hơn 30 năm trở lại đây khi khoa học chính sách công không chỉ cho thấy sự trưởng thành vượt bậc về mặt nhận thức luận, khoa học mà còn đóng góp đáng kể cho công cuộc đổi mới toàn diện và hội nhập quốc tế của đất nước
Trước hết, khoa học chính sách công giúp trang bị tri thức trong việc xây dựng hệ thống chính sách quốc gia (cả về số lượng và cải tiến
mới, nước ta đã ba lần sửa đổi và ban hành Hiến pháp, ban hành số lượng chính sách, pháp lệnh gấp 8 lần so với 41 năm trước đó (từ 2/9/1945 đến 30/2/1986, nước ta ban hành 63 luật, pháp lệnh; từ ngày 01/1/1987 đến ngày 30/12/2013, nước ta đã ban hành được 483 luật, pháp lệnh) Trong 10 năm gần đây (từ tháng 5/2005 đến tháng 6/2015), Quốc hội đã thông qua 238 luật
và pháp lệnh (30 pháp lệnh, 208 luật) Trong đó gồm 40 chính sách chính trị như về quyền con người, quyền công dân,…; 66 chính sách trong lĩnh vực kinh tế; 74 chính sách trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, khoa học công nghệ, y tế, thể thao, du lịch, dân tộc tôn giáo, dân số gia đình ;
42 chính sách trong lĩnh vực pháp luật về an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội,… Đặc biệt, nhiệm kỳ khóa XIII, Quốc hội đã thông qua
3 Từ năm 2005, Đảng ta đã có Nghị quyết số 48-NQ/
TW của Bộ Chính trị về “Chiến lược xây dựng
và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020” Với 6 định
hướng lớn, Nghị quyết số 48-NQ/TW đã xác định phải xây dựng toàn diện hệ thống pháp luật.
Trang 8Hiến pháp 2013 và hàng loạt bộ luật để thể chế
hóa Hiến pháp 2013 đã tạo cơ sở pháp lý hình
thành và thúc đẩy việc hoàn thiện thể chế kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và định
ra hàng loạt chính sách tiến bộ, nhân văn và thúc
đẩy sự đổi mới, phát triển thịnh vượng đất nước
trong giai đoạn mới Về chất lượng: hệ thống
chính sách quốc gia được ban hành có nội dung
khá phong phú, điều chỉnh các lĩnh vực khác
nhau của đời sống xã hội, đáp ứng những vấn đề
bức xúc của đời sống xã hội, phản ánh đòi hỏi
của thực tiễn cuộc sống, phù hợp với thực tiễn
của đất nước và tiếp thu có chọn lọc các giá trị
tiến bộ của nhân loại Tổng thể, các chính sách
đã ban hành đáp ứng các đòi hỏi của cuộc sống,
nhất là kịp thời bổ sung, hoàn thiện các chính
sách đã ban hành nhưng không phù hợp với sự
vận động và phát triển của thực tiễn (chẳng hạn,
trong số 55 chính sách đã được Quốc hội khoá
XII ban hành có gần một nửa là dùng để sửa đổi
bổ sung các chính sách hiện hành)1
Thứ hai, thông qua vận dụng tri thức về
thực thi chính sách công, quá trình thực hiện
chính sách quốc gia, địa phương đã đem lại
những thành tựu toàn diện, có tính lịch sử trên
các lĩnh vực đời sống xã hội Sau hơn 30 năm
đổi mới, Việt Nam đã trở thành nước đang phát
triển có thu nhập trung bình; đang đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc
tế Kinh tế tăng trưởng khá2, nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước
hình thành, phát triển Văn hóa - xã hội có bước
phát triển, công tác xóa đói giảm nghèo đạt
được những thành tựu quan trọng, sớm đạt được
nhiều chỉ tiêu phát triển thiên niên kỷ của Liên
hợp quốc, được quốc tế đánh giá cao; diện mạo
đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay
đổi Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an
ninh được tăng cường Dân chủ xã hội chủ nghĩa
1 Trần Ngọc Đường (2015), Nhìn lại những thành
tựu của Quốc hội Việt Nam trong 10 năm từ 2005
đến 2015, tr 15, trích Hội thảo khoa học “Quốc
hội Việt Nam: 70 năm hình thành và phát triển” tổ
chức tại Hà Nội, ngày 08/12/2015.
2 Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam: Năm 2019, tốc
độ GDP Việt Nam đạt: 7.02%.
được phát huy và ngày càng mở rộng Đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường Công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền và cả hệ thống chính trị được đẩy mạnh Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên Quan hệ đối ngoại được mở rộng và ngày càng đi vào chiều sâu Quan hệ với các nước láng giềng và các nước trong ASEAN được củng cố Đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với tất cả các nước lớn, quan trọng trên thế giới Chủ động, tích cực tham gia các công việc chung của cộng đồng quốc tế, các diễn đàn, tổ chức khu vực và quốc
tế, nâng cao vị thế của đất nước3 Thành tựu kể trên có đóng góp rất quan trọng của khoa học chính sách công, của công cụ chính sách công trong điều hành, quản lý vĩ mô quốc gia, chính quyền địa phương
Thứ ba, tri thức khoa học về đánh giá, hoàn thiện chính sách công đã trang bị cho các chủ thể chính sách công trong các cơ quan có thẩm quyền phương pháp, công cụ, quy trình, cách thức đánh giá và hoàn thiện chính sách, bám sát biến đổi và sự vận động của xã hội mới Việc đánh giá chính sách thông qua gia tăng phản biện
xã hội, trưng cầu ý kiến, qua hình thức dân chủ (trực tiếp, gián tiếp) cùng với việc sử dụng công
cụ điều tra dư luận xã hội, khảo sát, kết hợp thực hiện dự án nghiên cứu, điều tra quốc tế về các vấn đề chính sách bức thiết,… đã cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách hiện trạng chính sách công ở Việt Nam khá chân thực, khách quan, có độ tin cậy và đủ luận chứng để thuyết phục cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh chính sách, ban hành chính sách mới,… phù hợp với biến đổi và nhu cầu, tình hình mới của xã hội4
3 Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, HN,
tr 66
4 Chẳng hạn, chính sách thích ứng cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, chính sách hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách an sinh xã hội, chính sách giảm nghèo đa chiều, chính sách cải cách bộ máy nhà nước, chính sách đổi mới mô hình tăng trường kinh tế, chính sách dân số và phát triển, chính sách quản lý đất đai,…
Trang 93 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẤP BÁCH VÀ ĐỊNH
HƯỚNG ĐỐI VỚI CHÍNH SÁCH CÔNG Ở
VIỆT NAM THỜI GIAN TỚI
3.1 Bối cảnh và những vấn đề đặt ra
Chính sách công nhìn ở góc độ khoa học và
thực tiễn đang tồn tại, vận hành trong môi trường
chính sách với nhiều biến đổi nhanh chóng, to
lớn Trong đó, các biến đổi này vừa tạo ra thời cơ,
cơ hội song cũng đan cài thách thức:
Đối với thực tiễn vận động của chính sách
công ở Việt Nam:
Một là, quá trình toàn cầu hoá và hội nhập
quốc tế giúp gia tăng sẻ chia tri thức và học hỏi
về khoa học chính sách công, nhất là các vấn
đề Việt Nam còn “thiếu” và “yếu” Tuy nhiên,
quá trình này cũng đặt ra những áp lực lớn trong
viêc cải cách và đổi mới mạnh mẽ, thực chất về
tính hiệu lực, hiệu quả trong bản thân hệ thống
chính sách công cũng như việc nghiên cứu (lý
thuyết, mô hình, công cụ, phương pháp), cho
đến công bố kết quả nghiên cứu khoa học chính
sách công sao cho bắt kịp, “gần”, hoặc “tiệm
cận” với chuẩn mực, thông lệ của quốc tế Bên
cạnh đó, hội nhập và toàn cầu hoá kéo theo vấn
đề nan giải của chính sách công là sự lệ thuộc
chính sách, độ “mở”, tính “thích nghi cao” của
hệ thống chính sách quốc gia trước thế giới đang
hỗn độn và khó đoán định như ngày nay
Hai là, sự tác động, chi phối mạnh mẽ của
cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (cách
mạng 4.0) đã đặt ra cho nhân loại và Việt Nam
nhiều vấn đề chính sách mới, thậm chí chưa có
tiền lệ trong lịch sử, đặt ra yêu cầu khoa học
chính sách công phải nghiên cứu Có thể kể đến
là vấn đề về lao động - việc làm (khi thay thế
bằng trí tuệ nhân tạo (AI), chiến tranh huỷ diệt
bằng sức mạnh của AI chống lại loài người, đạo
đức và truyền thống (hôn nhân giữa người và
AI), thách thức chính trị (AI tranh chức trong hệ
thống chính quyền), sự phục thuộc của nhân loại
vào công nghệ, an ninh mạng, chiên tranh mạng,
kinh tế số, Ở góc độ đối với khoa học chính
sách công, cách mạng 4.0 đặt các nghiên cứu
chính sách công phải khai thác và sử dụng hệ dữ liệu khổng lồ “big data” (dữ liệu tính bằng hàng chục, thậm chí hàng trăm Petabyte, hàng triệu,
tỉ thông tin dạng hình ảnh, con số, bảng biểu,…) bằng các nghiên cứu khổng lồ “big science”, tiến hành trên quy mô rộng, … thì các công cụ, software thông thường hiện tại đang tỏ ra kém hiệu quả
Ba là, nhận thức về vị trí, tầm quan trọng
của tri thức khoa học chính sách công và sự cần thiết của công cụ chính sách công của các chủ thể có thẩm quyền cũng như xã hội tuy có cải thiện nhưng còn quá đơn giản, thậm chí lệch lạc Bên cạnh đó, những thách thức, tồn tại và cả căn bệnh trầm kha trong chính sách công ở nước ta chưa được khắc phục, có lúc còn trầm trọng như hiện tượng “tư bản thân hữu” trong chính sách công, “tham nhũng chính sách”, “nhóm lợi ích trong chính sách”, trách nhiệm giải trình trong chính sách công và phản biện chính sách còn yếu,…1
Đối với góc độ khoa học chính sách công
ở Việt Nam: Việc nghiên cứu và nhận thức về
chính sách công dưới giác độ khoa học ở nước ta mới chỉ tương đối đầy đủ trong khoảng 20 - 30 năm trở lại đây Hiện nay, khoa học chính sách công nước nhà vẫn đang đứng trước nhiều thách thức với nhiều câu hỏi lớn mang tính định hướng
và thúc đẩy nghiên cứu được đặt ra, chẳng hạn: Câu hỏi 1: Liệu có chính sách kiểu/ loại nào ngoài chính sách công (chính sách nhà nước) và chính sách tư (chính sách của tư nhân) không? Câu hỏi 2: Ai là chủ thể thực sự của chính sách công ở Việt Nam hiện nay? Ai là chủ thể thực sự của quá trình hoạch định chính sách công ở nước ta?
Câu hỏi 3: Cơ chế Đảng thể hiện vai trò lãnh đạo của mình đối với chu trình chính sách, đời sống chính sách biểu hiện cụ thể ra sao? Câu hỏi 4: Nội hàm từ “công” trong chính sách công hiểu thế nào là đầy đủ và tận cùng?
1 Tham khảo: Đỗ Phú Hải (2018), Tổng quan về
chính sách công, Nxb CTQG-ST, HN, tr 216.
Trang 10Câu hỏi 5: Đạo đức trong chính sách công
là gì?
Câu hỏi 6: Mô hình và hệ lí thuyết của
khoa học chính sách công Việt Nam là gì?
Câu hỏi 7: Phương pháp nghiên cứu đặc
thù, điển hình của khoa học chính sách công
hiện nay?
Câu hỏi 8: Quy trình ban hành văn bản quy
phạm pháp luật và quy trình chính sách ở nước
vận hành thế nào?
3.2 Định hướng, giải pháp chủ yếu đối
với chính sách công nước ta thời gian tới
Thứ nhất, cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư
duy của các chủ thể có quyền chi phối, tác động
đến chính sách công
Đất nước ta đang trong kỷ nguyên “số hóa”
4.0 với nhiều thời cơ và thách thức mới đan xen
Trong bối cảnh như hiện nay, Đảng và Nhà nước
cần nỗ lực đổi mới quan điểm, tư duy tiếp cận
chính sách quốc gia theo hướng cởi mở, linh hoạt,
kiến tạo và lấy lợi ích nhân dân, quốc gia là trục
xoay chính của phát triển bền vững đất nước, là
mục tiêu của chính sách Điều này đòi hỏi đường
lối, chủ trương, quyết sách chính trị khi đổi mới
thiết nghĩ phải nên dựa trên sự kết hợp hài hòa của
04 trụ cột trong “tư duy chính sách”:
- Tư duy khoa học đòi hỏi chủ thể dẫn dắt
chính sách công phải coi trọng chân lí, quy luật
trong toàn bộ chu trình chính sách; tiếp cận vấn đề
dựa trên hệ thống các phương pháp, lý thuyết, mô
hình chính sách hợp lí, đúng đắn
- Tư duy thực tiễn yêu cầu chủ thể có vai trò
lãnh đạo chính sách cần coi trọng thực tiễn, chú
trọng khám phá, phát hiện vấn đề chính sách từ
thực tiễn, dự báo diễn biến đời sống xã hội, đời
sống chính sách trong thực tiễn làm tiền đề xây
dựng, tiếp tục hoàn thiện, bổ sung chính sách mới
cho đất nước ở từng giai đoạn phát triển
- Tư duy biện chứng suy cho cùng trong toàn
bộ quá trình dẫn dắt chính sách công, cần hết sức
lưu ý, thận trọng để nhận diện về mối quan hệ
hữu cơ, nhân - quả của các chính sách với nhau,
giữa các giai đoạn trong chu trình chính sách với
nhau, nhằm giúp hình thành tư duy tổng thể, toàn diện, bao quát trong lãnh đạo, định hướng
hệ thống chính sách vĩ mô quốc gia, vùng, địa phương đồng thời tránh tư duy chính sách kiểu cục bộ, địa phương, cát cứ
- Tư duy phát triển (kiến tạo phát triển) có
vai trò đặc biệt quan trọng trong vai trò lãnh đạo
của Đảng đối với chu trình chính sách công Nó
yêu cầu, nhìn trước, dự đoán triển vọng lạc quan của chính sách trong tương lai để vượt qua các rào cản, khó khăn trong chu trình chính sách nếu vấp phải (tuy nhiên, tránh lạc quan “tếu”); đồng thời, xác định động lực, mục tiêu cuối cùng và cao nhất của mọi chính sách chính là sự phát triển, thịnh vượng quốc gia và kiến tạo sự phát triển của xã hội
Thứ hai, hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng đối với chu trình chính sách công
Các phương thức này được ví như sợi dây
truyền dẫn của sức mạnh của mọi ý chí, đường
lối, quyết sách chính trị của Đảng nhờ đó mà hiện thực hóa trong chính sách công mà đi đến đời sống thực tiễn của xã hội Do vậy, nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng đối với chính sách công nhất thiết không thể bỏ qua việc xây dựng, củng cố phương thức lãnh đạo của Đảng,
cụ thể là:
(i) Hoàn thiện cơ chế thể chế hóa vai trò lãnh đạo của Đảng đối với chính sách công Hiện tại,
dù vai trò lãnh đạo của Đảng đã được hiến định, song cơ chế thể chế hóa vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, xã hội nói chung và đối với
chu trình chính sách công nói riêng vẫn chưa hoàn
thiện, còn quá chung chung, “đại khái” Điều này tất yếu dẫn đến tính tùy tiện, tha hóa quyền lực chính trị và vô kỷ luật trong thực thi vai trò lãnh đạo chính sách công trong tương lai Nếu có thể khái quát hóa toàn bộ quá trình hình thành chính sách công từ khi các vấn đề chính sách còn nằm trong tuyên ngôn chính trị, quan điểm, đường hướng, quyết sách chính trị cho đến khi chúng được thể chế hóa thông qua hệ thống pháp luật
để chuyển tải linh hồn chính sách vào đời sống