Nối tiếp nội dung phần 1 tài liệu NATO trong thời kỳ chiến tranh Lạnh 1949 - 1991, phần 2 giới thiệu tới người đọc các nội dung: NATO với chiến lược quân sự mới của Mỹ và việc tăng cường chạy đua vũ trang, NATO trong xu thế hòa hoãn và sự tan rã của trật tự thế giới hai cực. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.
Trang 1sự và phòng thủ vững chắc, không những bảo vệ được
mình và các đồng minh của mình mà còn là lực lượng đối
trọng đáng kể đối với NATO và Mỹ Tất cả các nhân tố
trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển mạnh
mẽ của phong trào cách mạng giải phóng dân tộc, cho
thắng lợi của chiến tranh cách mạng ở nhiều nước trên
thế giới và làm phá sản chiến lược "Trả đũa ồ ạt", buộc
Mỹ phải thay bằng chiến lược "Phản ứng linh hoạt" vào
những năm 60 của thế kỷ XX
Chương ba
NATO với chiến lược quân sự mới của mỹ
và việc tăng cường chạy đua vũ trang
(1961-1970)
1 Chiến lược quân sự mới của Mỹ và NATO
Những năm 60 của thế kỷ XX chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ chưa từng thấy của phong trào cách mạng thế giới Phong trào giải phóng dân tộc phát triển sâu, rộng ở các nước á, Phi và Mỹ Latinh đã đánh bại hoàn toàn chủ nghĩa thực dân cũ và hệ thống thuộc địa của chúng Nếu như năm 1939, hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc chiếm tới 60% diện tích lãnh thổ toàn thế giới với trên 1,5
tỉ dân thì tới năm 1967 chỉ còn 3,4% đất đai và 35 triệu người (chủ yếu ở miền Nam châu Phi)
Bên cạnh thắng lợi to lớn của phong trào giải phóng dân tộc, Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa cũng không ngừng lớn mạnh và thu được những thành tựu nhất định; Liên Xô vươn lên trở thành cường quốc công nghiệp đứng thứ hai trên thế giới, sau Mỹ, làm cho Mỹ mất ưu thế đối với Liên Xô trong nhiều lĩnh vực kỹ thuật quân sự, kể cả trong lĩnh vực tên lửa hạt nhân Hệ thống xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu, như dư luận Mỹ và phương Tây thừa nhận, có khả năng gây nên những tổn thất đáng
Trang 2kể cho Tây Âu và Mỹ trong trường hợp xảy ra chiến tranh
Tình hình đó buộc NATO phải thay đổi chiến lược quân sự
"Trả đũa ồ ạt" bằng chiến lược "Phản ứng linh hoạt"
Trên thực tế, từ năm 1957, Mỹ đã có ý định điều chỉnh
chiến lược của NATO khi đề xuất một phương án mới cho
chiến lược "Phản ứng linh hoạt" với tên gọi "Ngăn đe từng
bước" Kỳ họp tháng 12 năm 1957 của Hội đồng NATO,
diễn ra tại Pa-ri, đã thông qua những kiến nghị mới của
Mỹ về việc điều chỉnh chiến lược của Khối Tại kỳ họp này,
các toan tính chiến lược của NATO vẫn không tách rời
quan điểm về sự cần thiết phải tăng cường sức mạnh quân
sự và chuẩn bị chiến tranh hạt nhân của Tổ chức Hiệp ước
Bắc Đại Tây Dương Song, theo chiến lược "Ngăn đe từng
bước", trong giai đoạn đầu xung đột vũ trang, các nước
NATO sẽ sử dụng vũ khí hạt nhân chiến thuật Chính điều
này đã buộc phần lớn các nước Tây Âu phải tăng cường
mạnh mẽ lực lượng vũ trang của mình ủy ban quân sự
NATO đã ra chỉ lệnh "MC-70" yêu cầu đến năm 1964 các
nước Tây Âu phải xây dựng được 30 sư đoàn sẵn sàng
chiến đấu có trang bị vũ khí hạt nhân; nhiệm vụ hàng đầu
của Cộng hòa liên bang Đức là phải giữ vai trò quan trọng
trong việc củng cố cụm lực lượng NATO ở Trung Âu, nâng
cao đáng kể khả năng tiến công của nó bằng cách đẩy
nhanh việc xây dựng quân đội và trang bị cho quân đội của
mình các phương tiện sử dụng vũ khí hạt nhân chiến
thuật Chiến lược quân sự mới của Mỹ, chiến lược "Phản
ứng linh hoạt", mà sau này trở thành chiến lược quân sự
của NATO, được Nhà Trắng và Lầu Năm Góc hoàn chỉnh
vào đầu những năm 60, khi J F Ken-nơ-đi lên cầm quyền
Thực chất của chiến lược này được J F Ken-nơ-đi giải
thích rõ trong bức thông điệp gửi Quốc hội Mỹ ngày 28 tháng 3 năm 1961: "Chiến lược của Mỹ phải vừa mềm dẻo, vừa kiên quyết; phải chuẩn bị và sẵn sàng tiến hành bất
kỳ một loại chiến tranh nào, chiến tranh thế giới hay chiến tranh cục bộ, chiến tranh hạt nhân hay chiến tranh thông thường…"1 Ngày 16 tháng 6 năm 1962, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ G Mắc Na-ma-ra giải thích nguyên nhân thay
đổi chiến lược quân sự của Mỹ là do chiến lược cũ đã trở nên lỗi thời và lãnh thổ Mỹ nằm trong tầm bắn của tên lửa hạt nhân Liên Xô; do đó Mỹ phải từ bỏ chiến lược cũ và tìm kiếm các phương án chiến tranh sao cho không vượt qua ngưỡng chiến tranh hạt nhân tổng lực Rõ ràng, không bao giờ Mỹ muốn lãnh thổ nước mình trở thành bãi chiến trường và luôn tìm mọi cách để thực hiện điều đó trong khi vẫn đạt được mục tiêu "ngăn đe" Liên Xô
Chiến lược "Phản ứng linh hoạt" đòi hỏi việc sử dụng sức mạnh quân sự của Mỹ và NATO phải căn cứ vào chiến trường cụ thể và tình hình thế giới Nó không loại trừ việc sử dụng vũ khí hạt nhân, thậm chí không loại trừ chiến tranh hạt nhân tổng lực; chính vì vậy, chiến lược quân sự mới của NATO tiềm ẩn nguy cơ bất kỳ một cuộc xung đột vũ trang nào cũng có thể trở thành xung
đột hạt nhân và là động lực thúc đẩy các nước NATO chuẩn bị chiến tranh hạt nhân chống lại các nước xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, chiến lược "Phản ứng linh hoạt"
đòi hỏi khi quyết định sử dụng một loại hình chiến tranh nào để thực hiện chiến lược toàn cầu cũng phải tính đến tương quan lực lượng và cần có sự kiềm chế nhất định
1 Chính sách liên minh quân sự của chủ nghĩa đế quốc, Sđd, tr 250
Trang 3Xuất phát từ quan điểm đó, vai trò của "Chiến tranh đặc
biệt" và "Chiến tranh cục bộ" được đề cao trong cuộc
chiến chống lại các nước xã hội chủ nghĩa, đàn áp phong
trào công nhân và phong trào giải phóng dân tộc ở
những khu vực khác nhau trên thế giới bởi theo các tác
giả của chiến lược "Phản ứng linh hoạt", các cuộc "Chiến
tranh đặc biệt" và "Chiến tranh cục bộ" có thể giúp chủ
nghĩa đế quốc đạt được những mục tiêu nhất định trong
toàn bộ các mục tiêu toàn cầu
Từ những quan điểm chiến lược quân sự mới của Mỹ và
NATO có thể thấy thay đổi lớn nhất trong chiến lược
"Phản ứng linh hoạt" so với chiến lược "Trả đũa ồ ạt" là
chuyển hướng chiến lược từ chuẩn bị chiến tranh tổng lực
để uy hiếp và tiến công ồ ạt vào đối phương bằng vũ khí
hạt nhân là chính sang sẵn sàng "phản ứng lại mọi hình
thức có thể bằng sức mạnh" một cách linh hoạt để giành
thắng lợi, từ chiến tranh hạn chế với các cấp độ khác nhau
đến chiến tranh tổng lực, phù hợp với thực tế tương quan
lực lượng hạt nhân Xô - Mỹ và đối phó với phong trào giải
phóng dân tộc đang phát triển mạnh Các biện pháp quân
sự cơ bản để thực hiện chiến lược "Phản ứng linh hoạt" là
hoàn thiện khả năng "hủy diệt chắc chắn", "bảo vệ tốt" lực
lượng hạt nhân chiến lược, nòng cốt là tên lửa hạt nhân,
sẵn sàng uy hiếp và chống lại các đòn tiến công hạt nhân
của đối phương, tăng cường khả năng phản ứng linh hoạt
của Mỹ và NATO chống lại các cuộc chiến tranh giải
phóng, chiến tranh cách mạng, tăng cường viện trợ kinh tế
và quân sự cho các nước đồng minh và tay sai để họ có thể
tự chiến đấu trong những cuộc chiến tranh hạn chế và đàn
áp phong trào cách mạng tại chỗ
Theo đuổi chiến lược "Phản ứng linh hoạt", chính quyền Ken-nơ-đi một mặt tiếp tục tăng cường lực lượng hạt nhân, đặc biệt là lực lượng hạt nhân chiến lược, mặt khác gấp rút phát triển lực lượng vũ trang thông thường Tổng số quân Mỹ đã tăng từ 2,5 triệu quân năm 1961 lên 3,5 triệu vào năm 1968, riêng Lục quân tăng từ 0,86 triệu lên 1,57 triệu1 Trong chính sách đồng minh, vào đầu những năm 60 của thế kỷ XX, khi miền Nam Việt Nam trở thành điểm nóng trong chiến lược "Phản ứng linh hoạt", Mỹ một mặt tiếp tục duy trì và củng cố các hệ thống liên minh quân sự, thắt chặt quan hệ với các nước đồng minh đã có ở châu
Âu và Mỹ Latinh; mặt khác tập trung mọi nỗ lực nhằm phát triển và mở rộng đồng minh ở khu vực Đông á và
Đông Nam á Trong chiến lược của mình, Mỹ muốn biến Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Đài Loan, Thái Lan, Phi-líp-pin và một số nước khác trong khu vực thành những pháo đài vững chắc, những "hàng không mẫu hạm không thể bị đánh chìm" để từ đó họ có thể đối phó và giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh Việt Nam Mắc-xoen Tay-lo, cha đẻ của chiến lược "Phản ứng linh hoạt" khẳng định: "Nếu chương trình của Mỹ
ở Nam Việt Nam thành công thì sẽ ổn định được tình hình ở toàn bộ khu vực Đông Nam á, còn nếu thất bại thì sẽ có ảnh hưởng to lớn đến những thành quả của
Mỹ, không chỉ ở châu á mà còn cả ở châu Phi và Mỹ Latinh" Với mục tiêu ổn định tình hình ở toàn bộ khu vực Đông á và Đông Nam á, trong vòng gần 10 năm,
1 Nguyễn Anh Dũng, Về chiến lược quân sự toàn cầu…, Sđd, tr 27
Trang 4từ năm 1963 đến năm 1973, Mỹ đã dành hơn 80% viện
trợ quân sự nước ngoài cho khu vực này Đông á và
Đông Nam á cũng đã thu hút hơn 60 vạn trong tổng số
một triệu quân Mỹ ở nước ngoài1
Lực lượng quân Mỹ triển khai tại các nước đồng minh
thời kỳ 1961-1970 2
Khu vực châu Âu Khu vực châu á -TBD Khu vực Mỹ Latinh
Tây Đức 224.300 Nhật Bản 48.000 Pa-na-ma 9.300
Anh 20.100 Hàn Quốc 40.500 Pu-éc-tô Ri-cô 3.800
I-ta-li-a 11.400 Gu-am 8.700 Goa-ta-na-mo 2.800
Tây Ban Nha 9.200 Phi-líp-pin 16.000 Tổng cộng 15.900
Hà Lan 2.200 Nam Việt Nam 500.000 I-ran 1.100
Bồ Đào Nha 1.400 Tổng cộng 640.700 Ca-na-đa 700
Mặc dù đã đầu tư lực lượng và phương tiện đến mức
tối đa, song chiến lược "Phản ứng linh hoạt" của Mỹ đã
bị thất bại hoàn toàn Bằng chứng là tại Việt Nam,
trong vòng 4 năm, kể từ năm 1961 đến năm 1965, tức
là từ khi Ken-nơ-đi phát động "Chiến tranh đặc biệt"
cho tới khi cuộc chiến tranh Việt Nam phát triển tới
đỉnh cao và bị phá sản, chiến lược quân sự toàn cầu
1 Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ sau Chiến tranh lạnh (Sách tham
khảo), Sđd, tr 328
2 Mỹ và NATO - Nguồn gốc của mọi hiểm hoạ chiến tranh (bản tiếng
Nga), Nxb Quân sự, Mát-xcơ-va, 1979, tr 25
của Mỹ đã bị giáng một đòn chí mạng Ba chỗ dựa của cuộc chiến tranh này là ngụy quân, ngụy quyền và hệ thống "ấp chiến lược" đều từng bước bị vô hiệu hoá
Đến tháng 4 năm 1965, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn quyết
định chuyển cuộc chiến tranh từ "Chiến tranh đặc biệt" sang hình thức "Chiến tranh cục bộ" Mặc dù đã huy động tối đa lực lượng và phương tiện để mở các chiến dịch càn quét quy mô lớn chưa từng thấy nhưng cả bốn mục tiêu cơ bản của cuộc chiến tranh này là tiêu diệt chủ lực của Quân giải phóng, bình định nông thôn và vùng ven đô thị miền Nam, ổn định hàng ngũ ngụy quyền và bóp nghẹt sự chi viện từ miền Bắc vào miền Nam Việt Nam, đều không thực hiện được Đòn nặng nề nhất giáng vào Nhà Trắng và Lầu Năm Góc cũng như chiến lược "Phản ứng linh hoạt" của Mỹ là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968 trên toàn chiến trường miền Nam Việt Nam Sau thất bại này, Mỹ buộc phải xuống thang chiến tranh, chấm dứt việc ném bom, bắn phá miền Bắc và giảm dần sự tham chiến của quân viễn chinh Mỹ ở miền Nam Việt Nam Ngoài thất bại nặng nề trong cuộc chiến tranh tại Việt Nam, đế quốc Mỹ và các đồng minh còn chịu nhiều thất bại khác ở nhiều nơi trên thế giới
Tại châu Phi, trong vòng 10 năm, từ năm 1960 đến năm 1970, đã có thêm hàng loạt nước giành được độc lập
và quyền làm chủ về chính trị ở những mức độ khác nhau Thắng lợi của nhân dân các nước châu Phi trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc là biểu hiện đầy đủ nhất về sự thức tỉnh của tuyệt đại đa số các dân tộc, bộ lạc, của tất cả các tầng lớp xã hội ở châu lục Đó là sự thức tỉnh chưa
Trang 5từng có trong lịch sử châu Phi, nó chứng minh "loài người
đang ở trong thời đại mà nhân dân tất cả các nước đều đã
thức tỉnh về vai trò của mình và một hòn đảo nhỏ cũng
đứng lên giành độc lập"1 Trong số các nước châu Phi giành
được thắng lợi trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc,
tiêu biểu là thắng lợi hoàn toàn của nhân dân An-giê-ri
trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp
Thắng lợi đó báo hiệu sự sụp đổ hoàn toàn và không thể
tránh khỏi của hệ thống chủ nghĩa thực dân cũ trên toàn
lục địa châu Phi Ngay sau khi giành được độc lập (năm
1962), An-giê-ri đã tuyên bố đi lên chủ nghĩa xã hội Sau
đó, hàng loạt nước như Ê-ti-ô-pi-a, Mô-dăm-bích,
ăng-gô-la, Công-gô, Bê-nanh cũng chọn con đường đưa đất nước
đi lên chủ nghĩa xã hội, biến cả châu Phi thành một mắt
xích quan trọng trong hệ thống chủ nghĩa xã hội trên toàn
thế giới, làm cho cán cân lực lượng nghiêng hẳn về các lực
lượng tiến bộ và yêu chuộng hoà bình trên thế giới
Cũng giống như ở châu Phi, trên lục địa châu Mỹ
Latinh, chiến thắng Hi-rôn tháng 4 năm 1961 của quân và
dân Cu Ba tiêu diệt gọn đội quân đánh thuê của Mỹ trong
vòng 72 giờ không chỉ làm thất bại âm mưu lật đổ chính
quyền cách mạng Cu Ba, xoá bỏ thành quả cách mạng mà
nhân dân Cu Ba đã giành được trước đây và biến Cu Ba
thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ mà còn cổ vũ mạnh mẽ
phong trào đấu tranh vũ trang của quần chúng nhân dân
chống các chính phủ tay sai thân Mỹ ở Vê-nê-zuê-la,
1 Trường Đảng cao cấp Nguyễn ái Quốc - Khoa Phong trào cộng sản
và công nhân quốc tế, Phong trào cộng sản, công nhân quốc tế và phong
trào giải phóng dân tộc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1986, tr 188
Cô-lôm-bi-a Sau thắng lợi này, Cu Ba bắt đầu thực hiện nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội Ngoài thắng lợi của cách mạng Cu Ba có tính chất tiêu biểu, vào những năm 60 của thế kỷ XX, ở Mỹ Latinh còn nhiều cuộc đấu tranh khác diễn ra ở Cô-lôm-bi-a, Vê-nê-zuê-la, Bra-xin , làm lung lay toàn bộ "sân sau" của Mỹ
Trong khi Mỹ đang ngày một sa lầy trong cuộc chiến tranh hao người, tốn của ở Việt Nam thì đối tượng tác chiến chủ yếu của Mỹ trên thế giới là Liên Xô lại ngày càng phát triển mạnh mẽ về mọi mặt, đặc biệt là về tiềm lực quân sự Liên Xô đã phóng thử thành công tàu vũ trụ
có người điều khiển; thử thành công các tên lửa vượt đại châu; sản xuất được các tàu ngầm nguyên tử trang bị tên lửa chiến lược mang đầu đạn hạt nhân; chế tạo thành công các loại máy bay ném bom chiến lược, máy bay tiêm kích, cường kích hiện đại Cũng trong thời gian này, một sự kiện làm cho cán cân quân sự nghiêng hẳn về phe các nước xã hội chủ nghĩa, đó là việc Trung Quốc chế tạo và thử thành công bom nguyên tử vào tháng 10 năm 1964, tiếp đó đến tháng 6 năm 1967 họ lại thử thành công bom khinh khí
Chiến tranh xâm lược của Mỹ tại Việt Nam cũng là vận hội để các nước tư bản chủ nghĩa Tây Âu từng bước khôi phục được tiềm lực kinh tế của mình, dần dần trở thành
đối thủ cạnh tranh kinh tế với Mỹ Trên cơ sở có tiềm lực kinh tế ngày càng mạnh, những nước đó bắt đầu thi hành
đường lối chính trị độc lập và ít phụ thuộc vào Mỹ hơn, họ muốn có vai trò độc lập trên vũ đài quốc tế Nước Pháp là một trường hợp điển hình Tháng 3 năm 1966, bất chấp sự phản đối của Mỹ, Pháp tuyên bố rút ra khỏi ủy ban quân
Trang 6sự NATO với lý do muốn giữ vững độc lập trong các vấn đề
chiến lược Tiếp đó, tháng 8 năm 1966, Tổng thống Pháp
Đờ Gôn kêu gọi Mỹ nhanh chóng rút quân khỏi Việt Nam
Những "động thái" của Pháp cùng với sự phản đối mạnh
mẽ của nhân dân nhiều nước Tây Âu đòi Mỹ phải rút các
căn cứ quân sự của Mỹ đóng trên đất nước họ, chứng tỏ các
chính sách hiếu chiến của Mỹ chừng nào đã không còn "mê
hoặc" được các nước đồng minh, thậm chí là đồng minh
thân cận nhất Còn ở ngay tại nước Mỹ, cuộc chiến tranh
Việt Nam đã làm nội bộ giới cầm quyền nước này ngày
càng trở nên lục đục, chia rẽ đến cao độ; phong trào quần
chúng phản đối chiến tranh xâm lược Việt Nam ngày càng
phát triển rầm rộ ở nhiều nơi trên toàn nước Mỹ Tất cả
những điều ấy đã đẩy chiến lược "Phản ứng linh hoạt" của
Mỹ đến chỗ phá sản hoàn toàn, buộc Mỹ phải thay bằng
chiến lược "Ngăn đe thực tế"
Như vậy, trong khoảng 10 năm, từ năm 1960 đến năm
1970, với âm mưu bá chủ thế giới, đế quốc Mỹ đã liên tiếp
đưa ra và thực hiện hai chiến lược quân sự toàn cầu phản
cách mạng, đó là chiến lược "Phản ứng linh hoạt" của
Ken-nơ-đi và Giôn-xơn, chiến lược "Ngăn đe thực tế" dưới
thời Giôn-xơn, Pho và Ca-tơ Trong việc triển khai các
chiến lược quân sự toàn cầu, Nhà Trắng và Lầu Năm Góc
luôn coi sức mạnh của vũ khí hạt nhân và đồng minh là
hai chỗ dựa cơ bản để thực hiện các tham vọng của mình
Trong quan hệ với các nước đồng minh, Mỹ luôn lấy công
cụ viện trợ kinh tế và viện trợ quân sự để lôi kéo và cột
chặt các nước này Chỉ trong vòng hơn 20 năm kể từ sau
Chiến tranh thế giới thứ hai, với hàng trăm tỉ đô la viện
trợ, Mỹ đã xây dựng được hệ thống các liên minh quân sự
dày đặc trên khắp các châu lục, lôi kéo được hàng chục nước tham gia vào vòng xoáy chạy đua vũ trang và tiến hành chiến tranh xâm lược của Mỹ
Cùng với việc thay đổi chiến lược quân sự, NATO cũng
được củng cố và điều chỉnh về mặt tổ chức cho phù hợp với tình hình mới
2 Tổ chức của NATO trong chiến lược quân sự mới
Trong những năm 60 của thế kỷ XX, về cơ bản, tổ chức của NATO không thay đổi nhiều so với những năm 50 của thế kỷ XX Tuy nhiên, để đối phó với những ưu thế về vũ khí hạt nhân chiến lược của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa cũng như với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa và phong trào giải phóng dân tộc ở khắp các châu lục, NATO đã buộc phải có những thay đổi trong cơ cấu lực lượng và tổ chức
Năm 1962, theo đề nghị của Mỹ, NATO đã thành lập lực lượng cơ động (NAMF) gồm 3.500 sĩ quan và binh sĩ,
được biên chế thành 4 tiểu đoàn, 1 tiểu đoàn ở Na-uy, 1 tiểu đoàn ở I-ta-li-a, 1 tiểu đoàn ở Bỉ và tiểu đoàn dự bị ở Anh Cũng trong năm 1962, NATO thành lập Bộ tư lệnh lực lượng Không quân chiến thuật và chiến lược (STAIF)
Đầu năm 1964, tại kỳ họp thường niên Hội đồng Bắc Đại Tây Dương, NATO quyết định thành lập thêm Bộ tư lệnh lực lượng Hạt nhân chiến lược tại châu Âu (SNF), có trụ sở
đóng tại Anh và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ tư lệnh tối cao lực lượng đồng minh NATO tại châu Âu
Những năm sau đó, để đáp ứng với những đòi hỏi của tình hình mới, NATO còn thành lập thêm nhiều ủy ban,
Trang 7hội đồng chuyên trách khác như ủy ban Mắc Na-ma-ra
(thành lập năm 1965), có nhiệm vụ nghiên cứu và phát
triển mạng lưới thông tin liên lạc tương thích với các loại
vũ khí và chiến tranh hạt nhân trong tương lai; ủy ban về
các vấn đề phòng thủ hạt nhân (NDAC), thành lập ngày 7
tháng 10 năm 1966, trực thuộc ủy ban này có các tiểu ban
cấp dưới ở 12 nước thành viên NATO (trừ Pháp, Ai-xơ-len
và Lúc-xăm-bua); Hội đồng kế hoạch hạt nhân (NPG),
thành lập đầu năm 1967, bao gồm 4 nước thành viên
thường trực Hội đồng NATO là Mỹ, Anh, Cộng hoà liên
bang Đức, I-ta-li-a và 3 nước thành viên không thường trực
được bầu trong nhiệm kỳ 18 tháng Hội đồng kế hoạch hạt
nhân có nhiệm vụ nghiên cứu và hoạch định các chính
sách có liên quan tới kế hoạch phát triển và triển khai các
loại tên lửa đạn đạo ở châu Âu; việc sử dụng vũ khí hạt
nhân chiến thuật và cải thiện mối quan hệ với những nước
được NATO triển khai các loại vũ khí kể trên
Tháng 11 năm 1968, NATO còn thành lập thêm Bộ tư
lệnh lực lượng Không quân hải quân khu vực Địa Trung
Hải (MARAIRMED), bao gồm 3 nước là Anh, Mỹ và I-ta-li-a
Nhiệm vụ của Bộ tư lệnh lực lượng Không quân hải quân
khu vực Địa Trung Hải là hỗ trợ và phối hợp tác chiến với
lực lượng Hải quân NATO tại khu vực Địa Trung Hải
Về lực lượng Lục quân, theo thống kê của Viện nghiên
cứu chiến lược Luân Đôn, trong những năm 60, do sự phát
triển mạnh mẽ của phong trào giải phóng dân tộc ở các
nước thứ ba, đặc biệt là phải đối mặt với các cuộc Chiến
tranh cục bộ nổ ra ở nhiều nơi trên thế giới, lực lượng Lục
quân NATO đã phát triển nhanh chóng Đến cuối năm
1968, tổng quân số lực lượng Lục quân NATO đã lên tới
6.500.000 người, trong đó chủ yếu tập trung ở khu vực châu Âu và Bắc Mỹ1 Việc NATO tập trung hầu hết lực lượng Lục quân của mình tại hai khu vực này xuất phát từ
hai nguyên nhân: thứ nhất, họ tiếp tục theo đuổi chiến
lược "Thanh kiếm và lá chắn" được đề ra từ những năm 50, nghĩa là tiếp tục bao vây Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, tạo điều kiện thuận lợi để lực lượng Mỹ và các nước đồng minh rảnh tay đàn áp phong trào giải phóng dân tộc và đối phó với các cuộc Chiến tranh cục bộ ở các
nước thứ ba; thứ hai, là để thực hiện học thuyết "Hai cuộc
chiến tranh rưỡi" của Mỹ, trong đó châu Âu được coi là một cuộc chiến tranh lớn, một cuộc chiến tranh khác ở châu á
và nửa cuộc chiến tranh còn lại là phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và nửa phụ thuộc
Việc NATO mở rộng cơ cấu tổ chức và tăng cường lực lượng không chỉ kéo theo sự tăng nhanh về chi phí quân sự của toàn Khối mà còn của từng nước thành viên Năm
1968, chi phí quân sự của NATO đã đạt tới hơn 104 triệu
đô la, cao hơn gấp 5 lần so với năm 1949 và gấp hơn hai lần so với chi phí của khối Vác-sa-va2 Chi phí quân sự của các nước thành viên vì thế cũng không ngừng gia tăng
Bảng tổng kết sau đây cho thấy điều đó
Chi phí quân sự của các nước thành viên NATO từ 1961 đến1968 3 (Đơn vị tính: triệu, theo đơn vị tiền tệ của mỗi nước)
Tên nước Đơn vị tiền tệ 1961 1962 1963 1964 1965 1966 1967 1968
Bỉ Frăng 19,5 21 22 24,8 25 26,3 28,4 30,8
1, 2, 3 NATO - Threat to World Peace, Opc, Sđd, p 55, 57
Trang 8Trong tổ chức của NATO thời kỳ này nổi lên vấn đề
Pháp rút khỏi ủy ban quân sự Bắc Đại Tây Dương Cũng
giống như việc kết nạp Cộng hoà liên bang Đức vào NATO
năm 1955, việc Pháp tuyên bố rút khỏi ủy ban quân sự
NATO tháng 3 năm 1966 đã tác động không nhỏ tới cơ cấu
tổ chức cũng như hoạt động của tổ chức này
Trong bức thư gửi Tổng thống Mỹ L Giôn-xơn ngày 7
tháng 3 năm 1966, Tổng thống Pháp Sác-lơ Đờ Gôn giải
thích: "…việc Pháp rút khỏi ủy ban quân sự NATO không
phải xuất phát từ những mâu thuẫn về quyền lợi, càng
không phải vì Pháp không muốn bảo vệ nền an ninh châu
Âu mà do Pháp muốn bảo vệ toàn vẹn chủ quyền của nước
mình, nơi các đơn vị quân đội và lực lượng không quân
NATO (chủ yếu là các đơn vị quân Mỹ) đang hiện diện" Tiếp đó, trong cuộc họp báo ngày 21 tháng 2 năm 1966, Tổng thống Sác-lơ Đờ Gôn tuyên bố: "mục đích của việc thành lập NATO là nhằm bảo vệ hoà bình và an ninh ở châu Âu nói riêng và trên thế giới nói chung" Tuy nhiên, trong hơn 10 năm tồn tại, trong khi các nước thành viên châu Âu luôn
"tuân thủ nghiêm chỉnh" mục tiêu trên, thì Mỹ lại là nước đã
và đang tham gia hoặc trực tiếp tiến hành nhiều cuộc chiến tranh ở nhiều nơi trên thế giới như ở Triều Tiên, Cu Ba, đặc biệt là cuộc chiến tranh tại Việt Nam2
Sau tuyên bố của Tổng thống Sác-lơ Đờ Gôn, tháng 4 năm 1966, một số cơ quan và Tổng hành dinh NATO lần lượt di dời khỏi nước Pháp; Bộ tư lệnh tối cao lực lượng vũ trang thống nhất NATO được chuyển về thành phố Cas-tô (ngoại ô Thủ đô Brúc-xen, Bỉ); Bộ tư lệnh lực lượng NATO tại Trung Âu chuyển về Hà Lan; Học viện quốc phòng NATO chuyển về Rô-ma (Thủ đô I-ta-li-a) Mặc dù Pháp không yêu cầu Hội đồng NATO phải di dời khỏi Pa-ri, nhưng tháng 5 năm 1966, cơ quan này đã chuyển về vùng ngoại ô Brúc-xen
Cùng với việc di chuyển một số cơ quan NATO khỏi nước Pháp, ngày 1 tháng 4 năm 1966, toàn bộ quân đội nước ngoài gồm hơn 70.000 quân nhân Mỹ, 1.000 quân nhân I-ta-li-a, cùng các sở chỉ huy, căn cứ hậu cần, kho tàng, bến bãi và hơn 770.000 tấn trang, thiết bị quân sự cũng lần lượt được di dời từ Pháp đến thành phố Stut-gát (Cộng hoà liên bang Đức) Sau khi các cơ quan và đơn vị quân đội NATO rút khỏi nước Pháp, nước này được quyền
1, 2 NATO - Threat to World Peace, Opc, p 108, 110
Trang 9tiếp quản toàn bộ cơ sở vật chất của các đơn vị NATO cùng
46 sân bay quân sự được xây dựng từ những năm 50 của
thế kỷ XX theo Chương trình phát triển lực lượng NATO
Đối với Pháp, mặc dù tới tận ngày 1 tháng 10 năm 1966,
nước này mới chính thức kết thúc mọi hoạt động trong ủy
ban quân sự NATO, nhưng ngay từ tháng 2 năm 1966,
Pháp đã chấm dứt các khoản đóng góp cho NATO; bao gồm
các khoản chi trả cho việc duy tu, bảo dưỡng cơ sở hạ tầng
của NATO tại Pháp, khoảng 12% trong tổng số 35 triệu đô
la mà các nước thành viên phải đóng góp hàng năm cho
NATO Tuy vậy, Pháp vẫn đóng góp và chia sẻ tài chính
cho một số cơ quan, tổ chức của NATO như: Trung tâm
nghiên cứu kỹ thuật NATO tại Ha-gơ; Trung tâm nghiên
cứu và ứng dụng kỹ thuật chống tàu ngầm tại La Spe-zi-a
(I-ta-li-a) và Hệ thống phòng không và cảnh báo sớm tên
lửa đạn đạo NADGE Cùng với việc chấm dứt các khoản
đóng góp, tháng 6 năm 1966, Pháp ban hành quy định mới
nhằm kiểm soát các chuyến bay của NATO trên không
phận nước Pháp Theo quy định này, tất cả các chuyến bay
của NATO qua không phận Pháp phải được sự cho phép
của cơ quan kiểm soát không lưu Pháp, nếu không phải
đóng thuế theo quy định của Luật hàng không quốc tế
Cùng với các biện pháp kể trên, ngày 1 tháng 7 năm 1966,
hơn 70.000 sĩ quan và binh sĩ Pháp đang làm nhiệm vụ tại
Cộng hoà liên bang Đức được lệnh lên đường về nước,
ngoài ra còn có hơn 1.600 sĩ quan và binh sĩ khác đang làm
việc tại Bộ tư lệnh tối cao lực lượng đồng minh NATO tại
châu Âu; Bộ tư lệnh lực lượng đồng minh NATO tại Trung
Âu và Học viện Quốc phòng NATO cũng lần lượt rút khỏi
các nhiệm sở
Đề cập nguyên nhân dẫn tới việc Pháp quyết định rút khỏi ủy ban quân sự NATO, nhiều nhà phân tích chính trị cho rằng, vào thập kỷ 60 thế kỷ XX, dưới sự lãnh đạo của Sác-lơ Đờ Gôn, nước Pháp đang dần lấy lại vị thế của mình
ở châu Âu và muốn thoát khỏi sự lệ thuộc vào Mỹ Điều đó
được chứng minh qua những con số và sự kiện trên các lĩnh vực kinh tế và đối ngoại
Trên lĩnh vực kinh tế, trong thời gian từ năm 1960 đến năm 1970, tốc độ phát triển của nền kinh tế Pháp tương
đối nhanh, tổng giá trị sản xuất trong nước đã tăng lên 5,6%, vượt qua thời kỳ những năm từ 1950 đến 1960 là 4,8% Các ngành công nghiệp truyền thống như dệt, khai thác than có phần suy thoái, nhưng các ngành công nghiệp mới lại phát triển rất nhanh Giá trị sản xuất của công nghiệp cơ khí năm 1950 là hơn 10 tỉ frăng đã tăng lên 183 tỉ frăng vào năm 1963, tăng gấp 16,5 lần Công nghệ sản xuất xe hơi phát triển rất nhanh vào cuối thập kỷ 60, đầu thập kỷ 70 Năm 1970, Pháp đã sản xuất 270.000 xe hơi, tăng hơn 8 lần so với những năm 50 của thế kỷ XX Ngành công nghiệp hàng không của Pháp đứng hàng thứ ba trên thế giới Đến năm 1970, GDP của Pháp đạt 140,9 tỉ đô la, vượt qua nước Anh, Nhật Bản và Cộng hòa liên bang Đức
và đứng hàng thứ tư trong thế giới tư bản chủ nghĩa
Đi đôi với việc sản xuất phát triển, nguồn dự trữ vàng
và ngoại tệ của Pháp cũng gia tăng Năm 1958, Pháp có nguồn dự trữ là 1 tỉ 500 triệu đô la Đến năm 1965 con số này đã lên tới 5 tỉ 210 triệu đô la Nhờ có sự tăng trưởng kinh tế và dự trữ ngoại tệ ở mức cao, ngày 12 tháng 12 năm
1965, Bộ trưởng Tài chính Pháp tuyên bố rút khỏi chế độ bản vị hối đoái vàng để khôi phục trở lại chế độ kim bản vị
Trang 10cho đồng frăng Nền kinh tế Pháp đã dần dần thoát khỏi
sự phụ thuộc vào Mỹ1
Trên lĩnh vực đối ngoại, vào thập kỷ 60, Đờ Gôn thực thi
chính sách đối ngoại độc lập và tự chủ, ông kiên trì phát triển
lực lượng hạt nhân của Pháp và kiên quyết không tham gia
vào các điều ước cấm thử và phổ biến vũ khí hạt nhân Tháng 2
năm 1960, Pháp thử thành công bom nguyên tử và trở thành
cường quốc hạt nhân Năm 1963, Đờ Gôn dứt khoát bác bỏ lời
yêu cầu của Ken-nơ-đi là Pháp nên bỏ kế hoạch xây dựng lực
lượng hạt nhân độc lập Ông còn chủ trương xây dựng liên
minh "Pháp - Cộng hoà liên bang Đức" nhằm lấy đó làm nền
tảng cho một châu Âu thống nhất Đờ Gôn công khai tuyên bố
sự hợp tác giữa Pháp và Đức sẽ là nhân tố chủ yếu cho an
ninh châu Âu, đồng thời đó cũng là sức mạnh để phá vỡ sự bá
quyền của Mỹ trong Liên minh Bắc Đại Tây Dương Với chủ
trương trên, từ những năm đầu thập kỷ 60, Pháp và Cộng hòa
liên bang Đức đã ký hàng loạt hiệp định, hiệp ước, quy định
nguyên thủ và đại diện của hai quốc gia sẽ có các cuộc họp
định kỳ để điều chỉnh chính sách của hai bên và tham vấn
những vấn đề có liên quan đến sự hợp tác và thống nhất châu
Âu Đờ Gôn kiên quyết bác bỏ xu hướng đi theo Mỹ trong mọi
trường hợp
Bên cạnh việc củng cố mối quan hệ với Cộng hòa liên bang
Đức, Pháp còn chủ trương mở rộng quan hệ với các nước xã hội
chủ nghĩa Tháng 3 năm 1960, Đờ Gôn mời Tổng Bí thứ Ban
Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô Khru-sốp sang
thăm Pháp Trong cuộc hội đàm, hai bên đã đề ra ba chính
1 Từ Thiên Tân - Lương Chí Minh, Lịch sử thế giới thời đương đại
1945-2000, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 2002, tr 256
sách nổi tiếng là Hoà hoãn, Hiểu nhau và Hợp tác cùng ý tưởng về xây dựng một châu Âu từ Đại Tây Dương đến U-ran Tiếp đó, tháng 6 năm 1966, Đờ Gôn sang thăm Liên Xô và đã
ký với Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô Bờ-rê-giơ-nép Hiệp định mậu dịch, văn hoá và hiệp định hợp tác thăm dò không gian và kỹ thuật, đồng thời quyết định đặt đường "dây nóng" Pa-ri - Mát-xcơ-va Tháng 1 năm 1964, Pháp là một nước lớn phương Tây đầu tiên đặt quan hệ ngoại giao cấp đại sứ với Trung Quốc Những năm sau đó, quan hệ ngoại giao giữa Pháp với các nước Đông Âu cũng dần được thiết lập và mở rộng Như vậy, rõ ràng chính sách ngoại giao độc lập của Đờ Gôn không chỉ nâng cao vị thế của nước Pháp trên trường quốc tế thời kỳ sau Chiến tranh thế giới thứ hai mà còn là một trong những nguyên nhân chủ yếu khiến Pháp quyết định rút khỏi ủy ban quân sự NATO - một tổ chức đang bị Mỹ thao túng
Tiên lượng được những tác động tiêu cực của việc Pháp rút ra khỏi ủy ban quân sự NATO đối với sự ổn định của toàn Khối, ngày 18 tháng 3 năm 1966, theo đề nghị của
Mỹ, 14 nước thành viên còn lại của NATO đã nhóm họp tại Brúc-xen và ra Tuyên bố chung, trong đó nhấn mạnh:
"…Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương nói chung và ủy ban quân sự nói riêng thành lập trên cơ sở đồng thuận và vì một mục đích chung là đảm bảo hoà bình và an ninh châu Âu Trong suốt hơn 15 năm tồn tại, NATO đã thực sự trở thành công cụ hữu hiệu cho các mục tiêu đó Đây là một tổ chức chưa từng có trong lịch sử, những nỗ lực và sự
đóng góp của các nước thành viên trong thời gian qua là rất to lớn Chúng ta khẳng định NATO là thực sự cần thiết
đối với châu Âu và nó sẽ tiếp tục tồn tại, không một tổ chức song phương hay đa phương nào có thể thay thế được"1
1 NATO - Threat to World Peace, Opc, Sđd, p 116
Trang 11Sau Tuyên bố chung của NATO, ngày 22 tháng 3
năm 1966, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn đã gửi bức thư thứ hai
cho Tổng thống Pháp Sác-lơ Đờ Gôn, trong đó vừa đề nghị
Pháp xem xét lại quyết định của mình, vừa yêu cầu Pháp
giải thích tính hợp lệ của quyết định đó Nhiều nước thành
viên khác của NATO như Cộng hoà liên bang Đức, Anh,
Bỉ, Ca-na-đa sau đó cũng có các cuộc thương lượng và
thoả thuận riêng với Pháp Tuy nhiên, tất cả các nỗ lực của
họ đã không đem lại kết quả mong muốn Ngày 1 tháng 10
năm 1966, Pháp chính thức kết thúc mọi hoạt động của
mình trong ủy ban quân sự NATO Trên thực tế, NATO
chỉ còn lại 14 nước thành viên
Điều gì đã khiến Mỹ và NATO quyết tâm thuyết phục,
kể cả gây áp lực nhằm buộc Pháp phải ở lại NATO? Phải
chăng đó là những đóng góp hay vai trò quá lớn của Pháp
trong tổ chức này trong suốt hơn 15 năm qua?
Trong Tuyên bố chung ngày 18 tháng 3 năm 1966, mặc
dù cả NATO và Mỹ đều ngầm khẳng định: "NATO sẽ tiếp
tục tồn tại, bất chấp sự ra đi của Pháp" Tuy nhiên, sau các
cuộc họp khẩn cấp của Hội đồng NATO, nhiều nhà phân
tích chiến lược và chính trị NATO đã cảnh báo: "Việc Pháp
rút ra khỏi Hội đồng quân sự NATO sẽ tạo nên một sự rạn
nứt rất lớn, mặt trận chung chống các nước xã hội chủ
nghĩa và phong trào giải phóng dân tộc của NATO sẽ bị
phân liệt thành hai khuynh hướng trái ngược nhau Các
hoạt động quân sự của NATO ở chiến trường Bắc và Trung
Âu sẽ bị cô lập khỏi chiến trường Nam Âu bởi một vành
đai các nước trung lập gồm áo, Thụy Sỹ và Pháp Trong
trường hợp xảy ra chiến tranh hoặc xung đột, các nước
trung lập này sẽ không tham gia về phía NATO Lúc đó,
NATO hoặc là phải đối mặt với vô vàn khó khăn, từ việc triển khai quân đến việc đảm bảo hậu cần, giao thông liên lạc , hoặc là phải vi phạm các nguyên tắc về vành đai trung lập và chấp nhận những sự chỉ trích, lên án của dư luận thế giới"1 Như vậy, rõ ràng vị trí chiến lược của Pháp tại châu Âu là nguyên nhân chủ yếu khiến Mỹ và NATO quyết tâm thuyết phục, kể cả gây áp lực nhằm buộc Pháp phải ở lại NATO chứ không phải những đóng góp hay vai trò quá lớn của nước này
Đúng như nhận định của các nhà phân tích chính trị và các chiến lược gia NATO, sau khi Pháp tuyên bố rút khỏi
ủy ban quân sự, NATO đã bị chia rẽ sâu sắc Một số nước
có khuynh hướng theo Pháp giảm dần những đóng góp cả
về tài chính lẫn nhân lực cho Khối, số khác có thái độ chống NATO rõ rệt Tháng 4 năm 1966, nhân cơ hội Pháp tuyên bố rút khỏi ủy ban quân sự NATO, Đảng Liên minh trung tâm, một đảng đang có ảnh hưởng rất lớn tại Hy Lạp
đã phát động phong trào chống NATO trong toàn quốc
Đảng này đã nhận được sự ủng hộ rộng rãi không chỉ của các tầng lớp nhân dân mà còn của cả các quan chức trong Chính phủ Ngày 12 tháng 4 năm 1966, Bộ trưởng Ngoại giao Hy Lạp Tri-ri-mo-kốt chính thức tuyên bố: Hy Lạp muốn tiếp tục duy trì và phát triển mối quan hệ tốt với Pháp Ông còn yêu cầu NATO nên cải thiện và sửa đổi nội dung Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương cho phù hợp với tình hình mới Cũng tại Hy Lạp, đầu năm 1967, ông Pa-pan-
đrê-u, Chủ tịch Đảng Liên minh trung tâm, đã công khai chỉ trích và phê phán thái độ của NATO đối với vấn đề đảo
1 NATO - Threat to World Peace, Opc, Sđd, p 119
Trang 12Síp ông cho rằng, trong cuộc chiến tại đảo Síp cuối
năm 1963 giữa cộng đồng người Síp gốc Hy Lạp và cộng
đồng người Síp gốc Thổ Nhĩ Kỳ, NATO đã đứng về phía
người Thổ Khĩ Kỳ để dàn xếp chiến tranh Vì vậy, nó đã
trở thành một trong những nguyên nhân khiến hòn đảo
này luôn chìm ngập trong các cuộc xung đột sắc tộc Trong
cuộc trả lời phỏng vấn phóng viên báo Au-gon của Síp, ông
Pa-pan-đrê-u còn công khai tuyên bố: Đảng Liên minh
trung tâm thừa nhận vai trò thành viên của Hy Lạp trong
NATO, nhưng không thừa nhận Hy Lạp trở thành một
vùng đất chiếm đóng của NATO, v.v
Cũng giống như ở Hy Lạp, tại Thổ Nhĩ Kỳ, vào cuối
thập kỷ 60, làn sóng bất bình của dân chúng đối với NATO
ngày càng dâng cao Họ phản đối vị thế bất bình đẳng giữa
các nước thành viên NATO, đặc biệt là giữa Mỹ và các
nước thành viên còn lại, trong đó có Thổ Nhĩ Kỳ Họ cho
rằng, "NATO là công cụ chủ yếu phục vụ cho các quyền lợi
của Mỹ, đó là chiếc cầu hợp thức để Mỹ mở rộng ảnh
hưởng sang bên kia bờ Đại Tây Dương "1 Mặc dù không
có những động thái kiểu cực đoan như Pháp, nhưng Chính
phủ Thổ Nhĩ Kỳ cũng đã ngấm ngầm ủng hộ quyết định ra
đi của Pháp Họ tỏ ra nghi ngờ đối với chính sách "Phòng
thủ tập thể" và "an ninh chung" của NATO tại châu Âu
Vào thời điểm sau khi Pháp rút khỏi ủy ban quân sự
NATO, nhiều quan chức cấp cao trong Chính phủ Thổ Nhĩ
Kỳ đã tự chất vấn và trả lời nhiều chất vấn của các tầng
lớp nhân dân Thổ Nhĩ Kỳ như: Tại sao Thổ Nhĩ Kỳ không
được sử dụng lực lượng của mình trong thành phần NATO
1 The NATO Story, Manhattan Publishing Company, New York, 1969, p 76
để bảo vệ quyền lợi tối thượng của đất nước, trong khi đó, khi cần, Mỹ có thể dùng nhiều chiêu thức để tự do sử dụng nó? Tại sao Mỹ có thể tự sử dụng các căn cứ quân sự và không quân trên đất Thổ Nhĩ Kỳ để tiến hành các hoạt
động khiêu khích chống Liên Xô mà không cần phải thông báo và được sự chấp thuận của phía Thổ Nhĩ Kỳ?
Ngoài ra, Chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ còn đưa ra hàng loạt yêu cầu buộc Mỹ và Hội đồng NATO phải xem xét và điều chỉnh lại như đề nghị Mỹ sửa đổi các hiệp ước song phương giữa Mỹ và Thổ Nhĩ Kỳ đã ký kết trước đây; yêu cầu NATO chấp thuận để Thổ Nhĩ Kỳ thành lập ủy ban kiểm soát các hoạt động quân sự của Mỹ trên lãnh thổ, lãnh hải và không phận Thổ Nhĩ Kỳ; cho phép Thổ Nhĩ Kỳ giảm số quân trong lực lượng NATO; chấp thuận cho Thổ Nhĩ Kỳ được quyền tham gia hoặc không tham gia vào một số hoạt động, tổ chức của NATO như không tham gia vào lực lượng hạt nhân đa quốc gia trong khuôn khổ NATO; không tham gia vào "lực lượng phản ứng nhanh" của NATO tại khu vực biển Địa Trung Hải; cho phép Thổ Nhĩ Kỳ tham gia sâu, rộng hơn vào việc hoạch định các chính sách và chiến lược lớn của NATO; các sĩ quan cấp cao Thổ Nhĩ Kỳ trong lực lượng NATO phải
được cất nhắc và giữ những trọng trách cao hơn trong các tổ chức lớn của NATO như Hội đồng Bắc Đại Tây Dương, ủy ban quân sự, ủy ban phòng thủ NATO,
ảnh hưởng của việc Pháp rút ra khỏi ủy ban quân sự NATO còn lan sang nhiều nước khác như Ca-na-đa, Cộng hoà liên bang Đức, Bỉ, Lúc-xăm-bua, I-ta-li-a là những
đồng minh thân cận của Mỹ và là thành viên tích cực của NATO Sau tuyên bố của Pháp, Chính phủ Ca-na-đa quyết
định xem xét lại chích sách đối ngoại của mình; giảm số
Trang 13quân Ca-na-đa đang làm nhiệm vụ tại Cộng hoà liên bang
Đức; giảm mức đóng góp tài chính hàng năm cho NATO
Phát biểu tại Hội nghị các bộ trưởng quốc phòng NATO
tháng 2 năm 1967, Bộ trưởng Quốc phòng Ca-na-đa tuyên
bố: "Việc Ca-na-đa đưa ra các quyết định trên là nhằm bảo
vệ quyền lợi chính đáng của họ… và đã đến lúc Ca-na-đa
đặt quyền lợi an ninh và quốc phòng quốc gia lên trên các
quyền lợi khác"1
Tóm lại, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các phong
trào cách mạng, đặc biệt là phong trào cách mạng xã hội
chủ nghĩa và phong trào giải phóng dân tộc, việc Pháp rút
khỏi ủy ban quân sự NATO không chỉ tạo nên những thay
đổi to lớn trong tổ chức và hoạt động của NATO, mà còn là
nguyên nhân tạo nên sự rạn nứt và bất đồng sâu sắc trong
nội bộ của Khối kéo dài trong nhiều năm Hành động của
Pháp và những hệ lụy của nó cũng đã phản ánh đúng bản
chất và quy luật xung đột quyền lợi của các nước tư bản,
tính chất phi nghĩa của các khối, các liên minh chính trị -
quân sự mà chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ đã
dựng lên trong những thập kỷ 50 và 60 của thế kỷ trước;
đồng thời nó cũng chứng minh tính đúng đắn và những
thắng lợi tất yếu của các phong trào cách mạng tiến bộ của
các tầng lớp nhân dân yêu chuộng hoà bình và công lý trên
toàn thế giới
3 NATO tăng cường chạy đua vũ trang
Năm 1961, Mỹ đưa ra chiến lược "Phản ứng linh hoạt"
thay cho chiến lược "Trả đũa ồ ạt" Các tác giả của chiến
1 NATO - Threat to World Peace, Opc, p 122
lược quân sự toàn cầu phản cách mạng này cho rằng, vì đã mất đi ưu thế về vũ khí nguyên tử, nên khả năng tiến hành một cuộc "Chiến tranh hạt nhân tổng lực" là hoàn toàn không có lợi cho Mỹ Vì vậy, họ cần phải tập trung phát triển một loại hình chiến tranh mới, đó là "Chiến tranh hạn chế" Các nhà chiến lược quân sự Mỹ cho rằng
đây là loại chiến tranh vừa không gây nguy hiểm vì tránh
được đụng độ với các nước lớn trong phe xã hội chủ nghĩa, vừa có thể dễ dàng giành thắng lợi vì Mỹ có thể tạo ra được
ưu thế trong từng cuộc chiến tranh cụ thể mà mình lựa chọn Theo các chiến lược gia đó, "Chiến tranh hạn chế" bao gồm hai hình thức, căn cứ vào việc sử dụng lực lượng
chiến lược: thứ nhất, là hình thức "Chiến tranh đặc biệt",
trong đó dùng quân ngụy làm lực lượng chiến lược chủ yếu,
quân Mỹ giữ vai trò cố vấn chỉ huy; thứ hai, là hình thức
"Chiến tranh cục bộ", trong đó dùng quân viễn chinh Mỹ làm lực lượng nòng cốt Các chiến lược gia quân sự nước
Mỹ coi "Chiến tranh hạn chế" với hai hình thức chiến tranh trên là "mũi tiến công sắc bén" vào những nơi "xung yếu nhất" đối với "thế giới tự do"
Theo đuổi chiến lược này, chính quyền Mỹ một mặt tiếp tục tăng cường lực lượng hạt nhân, đặc biệt là lực lượng hạt nhân chiến lược, mặt khác gấp rút triển khai lực lượng vũ trang thông thường Về lực lượng hạt nhân chiến lược, vào những năm đầu thập kỷ 60 của thế kỷ XX, Mỹ tập trung sản xuất và triển khai hàng loạt vũ khí mới như tên lửa Ti-tan ("Titan"), tên lửa Mi-nut-men ("Minutman") 1 và 2 Đến năm
1968, số tên lửa Ti-tan của Mỹ đã lên tới 54 chiếc, số tên lửa Mi-nut-men 1 và 2 lên tới 1000 chiếc Cùng với việc tăng số lượng tên lửa Pô-la-rít ("Pollaris") trang bị cho các tàu ngầm
Trang 14nguyên tử từ 80 chiếc năm 1961 lên 656 chiếc vào năm 1968,
Mỹ đã chuẩn bị đưa vào thử nghiệm và triển khai tên lửa
Pô-xây-đơn ("Poceidon") cho các tàu ngầm nguyên tử Các loại
máy bay ném bom, máy bay chiến đấu kiểu cũ cũng dần được
thay thế bằng các loại máy bay hiện đại như máy bay B.47,
máy bay B.52 … Ngoài ra, Mỹ cũng bắt đầu triển khai hệ
thống phòng không bằng các loại tên lửa chống tên lửa đạn
đạo Lực lượng hạt nhân chiến thuật được xây dựng từ
những năm 50 cho đến nay vẫn được tiếp tục duy trì và được
bổ sung thêm một số tên lửa chiến thuật mới Về lực lượng
vũ trang thông thường, tất cả các quân chủng đều được tăng
cường Tổng quân số từ 2,5 triệu năm 1961 lên tới 3,5 triệu
vào 1968, riêng lục quân từ 0,86 triệu lên tới 1,75 triệu Số
lính Mỹ đóng tại các căn cứ quân sự nước ngoài là 1 triệu
Những thay đổi trong các chiến lược quân sự toàn cầu
của Mỹ cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các phong
trào cách mạng trên thế giới đã có tác động không nhỏ và
trực tiếp đến hoạt động của NATO Nhìn chung, trong
những năm từ 1960 đến 1970, hoạt động của NATO vẫn
tập trung trên một số hướng chủ yếu là tập trung sản xuất
và triển khai các loại vũ khí mới ở các nước thành viên
NATO châu Âu nhằm ngăn chặn Liên Xô và các nước xã
hội chủ nghĩa Đông âu; tăng cường lực lượng vũ trang và
các loại vũ khí thông thường nhằm tiến hành các cuộc
"Chiến tranh hạn chế"; ủng hộ hoặc tham gia trực tiếp vào
việc đàn áp phong trào giải phóng dân tộc, các cuộc đấu
tranh đòi độc lập dân tộc của nhiều nước trên thế giới, đặc
biệt là ở các nước thế giới thứ ba; tìm các biện pháp nhằm
củng cố nội bộ NATO kể từ khi Pháp quyết định rút ra
khỏi ủy ban quân sự NATO
Thực thi chiến lược "Phản ứng linh hoạt", trong thập kỷ
60, Mỹ đã tiêu tốn hàng tỉ đô la đầu tư cho việc nghiên cứu, sản xuất và triển khai các loại vũ khí chiến thuật và chiến lược mới
Một số loại vũ khí chiến thuật, chiến lược mới do Mỹ sản xuất
trong những năm 60 của thế kỷ XX 1
Tên các loại vũ khí Ngày đưa vào
sử dụng
Tính năng, tác dụng và một số thông số kĩ thuật cơ bản
Tàu ngầm nguyên tử
"E Alen" 22-11-1960
Nặng 6.900 tấn, được trang bị 16 tên lửa mang đầu đạn hạt nhân có tầm bắn 2.400km
Tên lửa "Minutman 1" 1-2-1961 Tên lửa đa tầng dùng nhiên liệu
rắn, mang 1 đầu đạn hạt nhân có tầm bắn trên 5.500km
Tàu sân bay
"Constelation"
27-10-1961 Tàu có lượng choán nước 60.100
tấn, kích thước: 326,9 x 39,6 x 11,4m, tốc độ 35 hải lí/giờ, được trang bị 80 - 90 máy bay chiến đấu các loại và hai hệ thống tên lửa phòng không với khoảng 40 quả tên lửa
Tàu sân bay nguyên tử
"Interpris"
25-1-1961 Chạy bằng năng lượng hạt nhân
Kích thước: 242,3 x 40,5 x 11,9 m Tốc độ 33 hải lí/giờ Quân số trên tàu khoảng 4.800 người, được trang bị khoảng 90 máy bay chiến
đấu các loại, hệ thống phòng không, v.v…
1 Tổng hợp theo: Thế giới thế kỉ XX - Những sự kiện quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2003; Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam,
Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004
Trang 15Tàu khu trục "J Stran" 1963 Dài 133,2m, rộng 14,3m, tốc độ 31
hải lí/giờ được trang bị 3 hệ thống tên lửa, 5 dàn ngư lôi
Tên lửa đạn đạo
"Pershing 1"
1964 Tên lửa hai tầng, động cơ nhiên
liệu rắn, mang đầu đạn hạt nhân
từ 60-400ktn, cự li phóng 2.500km
740-Tên lửa "Patriot" 1965 Tên lửa một tầng nguyên liệu rắn,
dài 5,18m, đường kính 0,41m, khối lượng 700kg, điều khiển bằng vô
tuyến, có khả năng tiêu diệt mục tiêu ở cự li 3-160km, cao từ 0,06- 24,24km
Tên lửa "Jupiter" 1964 Tầm hoạt động 3.500km
Tên lửa "Pollaris 1965 Tầm hoạt động 2.400km
Máy bay B-58 1966 Tầm hoạt động 4.500 dặm, có khả
năng mang bom hạt nhân, bom thông thường Được trang bị hệ thống phòng không hiện đại
Máy bay F-111 1967 Dài 22,4m, cao 5,22m, tầm hoạt
động 2.100km Có thể mang 8.250kg vũ khí (gồm tên lửa đất
đối không, bom thường, bom hạt nhân, bom có điều khiển, v.v…)
Song song với việc sản xuất các loại vũ khí mới, vào
đầu những năm 60 của thế kỷ XX, Mỹ cũng đã thoả thuận
được với nhiều nước thành viên NATO về kế hoạch triển
khai các loại vũ khí trên lãnh thổ châu Âu Tháng 11 năm
1962, theo đề nghị của Mỹ, các nước Anh, Cộng hòa liên
bang Đức, I-ta-li-a, Bỉ, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ đã đồng ý cho
Mỹ triển khai gần 200 tên lửa Pô-la-rít trên lãnh thổ
nước mình Tiếp đó, trong các năm từ 1963-1965, Mỹ đã triển khai hàng loạt tên lửa Mi-nut-men 1 và 2, tên lửa Pa-tờ-ri-ốt ("Patriot") trên lãnh thổ các nước thành viên NATO, tạo nên một vòng vây nhiều tầng bao quanh Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu
Cùng với kế hoạch triển khai các loại tên lửa do Mỹ chế tạo, năm 1962, nhiều nước thành viên NATO và Mỹ đã tham gia vào "Dự án xây dựng lực lượng hạt nhân đa quốc gia" Theo đó, trong thời gian từ 3 tới 4 năm, Mỹ cam kết
sẽ chuyển giao công nghệ sản xuất các loại tên lửa hiện
đại, kể cả tên lửa mang đầu đạn hạt nhân cho các nước thành viên NATO Các nước thành viên NATO có trách nhiệm phải đóng góp tài chính cho dự án trên Cụ thể: Mỹ
đóng góp 35%; Cộng hòa liên bang Đức 32%; Anh 10%; Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ khoảng 3,5%; các nước còn lại đóng góp
từ 6-8% Với kế hoạch trên, trong vòng hơn 5 năm (từ năm
1962 đến năm 1968), nhiều nước thành viên NATO đã làm chủ công nghệ sản xuất các loại tên lửa hạt nhân và tên lửa đạn đạo, các cuộc chạy đua vũ trang cũng vì thế mà trở nên khốc liệt hơn Cả châu Âu đã bị biến thành kho vũ khí hạt nhân và đang đứng trước nguy cơ của một cuộc chiến tranh hạt nhân thực sự
Bên cạnh việc tập trung nguồn nhân lực và vật lực cho việc phát triển các loại vũ khí chiến thuật và chiến lược, trong những năm 60 của thế kỷ XX, NATO còn tập trung phát triển lực lượng vũ trang thông thường Theo thống kê chưa đầy đủ, tính đến năm 1968, tổng quân số trong lực lượng vũ trang các nước thành viên NATO đã lên tới hơn 6,8 triệu quân, nhiều hơn những năm đầu mới thành lập
là 2,3 triệu quân Quân số trong cơ cấu lực lượng vũ trang
Trang 16thống nhất NATO cũng đã lên tới 1,125 triệu quân, bao
gồm 54 sư đoàn, 10.000 xe tăng các loại, 11.000 khẩu pháo,
250 bệ phóng tên lửa chiến thuật và chiến lược, 5.200 máy
bay chiến đấu1
Một hoạt động khác cũng được coi là trọng tâm
trong hoạt động của NATO vào những năm 60 của thế
kỷ XX là ủng hộ hoặc trực tiếp tham gia vào các cuộc
chiến tranh, xung đột vũ trang, đảo chính lật đổ…
nhằm đàn áp các cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc,
thay đổi chế độ tại nhiều nước trên thế giới Bảng thống
kê sau đây cho thấy điều đó
Các nước thành viên NATO tham gia vào một số cuộc chiến tranh,
nội chiến, xung đột vũ trang và đảo chính điển hình diễn ra
từ năm 1961 đến năm 1970 2
Tên các cuộc chiến tranh,
nội chiến, xung đột
vũ trang và đảo chính
Các nước tham gia Thời gian
Cuộc đổ bộ lên bãi biển
Hi-rôn (Cu Ba)
Mỹ hậu thuẫn 4-1961
Xung đột vũ trang
Pháp - Tuy-ni-di
Đảo chính quân sự tại Nam
Triều Tiên
Mỹ hậu thuẫn 5-1961
1 Chính sách liên minh quân sự của chủ nghĩa đế quốc, Sđd, tr 228
2 Tổng hợp theo: Thế giới thế kỉ XX - Những sự kiện quân sự, Sđd
Tên các cuộc chiến tranh, nội chiến, xung đột
vũ trang và đảo chính
Các nước tham gia Thời gian
Mỹ tiến hành phong toả
biển Ca-ri-bê (Cu Ba)
Xung đột vũ trang Ma-lai-xi-a - In-đô-nê-xi-a
Chiến tranh Việt Nam Mỹ, một số nước thành
viên khác của NATO như Tây
Đức, Anh, Pháp, Thổ Nhĩ Kỳ, I-ta-li-a, v.v… ủng hộ
1954-1975
Xung đột vũ trang tại Kê-ni-a Anh 1-1964
Đảo chính quân sự tại Lào Mỹ hậu thuẫn 4-1964 Chiến tranh tại đảo Síp Thổ Nhĩ Kỳ, Anh, Mỹ 8-1964 Chiến tranh tại Mô-dăm-
Trang 17Anh can thiệp vào nội
chiến tại Y-ê-men
Trong số các cuộc chiến tranh, xung đột vũ trang có sự
tham gia của các nước thành viên NATO, trước hết phải kể
đến cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam
Sau thắng lợi của nhân dân Việt Nam trong cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp, Mỹ coi Việt Nam là con
đê, là thành lũy ngăn cản họ thực hiện tham vọng bá
quyền ở khu vực châu á - Thái Bình Dương, bởi đây là nơi
đang diễn ra cuộc cách mạng giải phóng dân tộc triệt để
mà ảnh hưởng của nó đang vượt ra ngoài phạm vi Đông
Dương Vì Việt Nam là tiền đồn của chủ nghĩa xã hội, là
ngọn cờ tiêu biểu cho sự kết hợp các trào lưu cách mạng
của thời đại, cho xu thế phát triển của phong trào giải
phóng dân tộc, nên đế quốc Mỹ muốn thôn tính miền Nam
Việt Nam, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu
mới và căn cứ quân sự của Mỹ, lập phòng tuyến ngăn chặn
chủ nghĩa xã hội lan xuống Đông Nam châu á
Thực hiện các mưu đồ trên, khi tiến hành chiến tranh
xâm lược Việt Nam, Mỹ đã huy động tối đa các tiềm lực
cho cuộc chiến So với các cuộc chiến tranh lớn mà Mỹ đã
từng tham chiến trước đây như Chiến tranh thế giới thứ
nhất (1914-1918), Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945) hay chiến tranh Triều Tiên (1950-1953) thì cuộc chiến tranh Việt Nam vượt lên cả về thời gian, chi phí và tổn thất sinh mạng Trong cuộc chiến tranh này, đế quốc Mỹ
đã phải tiêu tốn tới 676 tỉ đô la (tính từ năm 1954 đến năm 1975) So với cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất là 25 tỉ, Chiến tranh thế giới thứ hai là 341 tỉ và cuộc chiến tranh Triều Tiên là 54 tỉ1, thì đây quả là một con số không nhỏ
và nằm ngoài cả dự kiến ban đầu của chính quyền Mỹ Trong 9 năm trực tiếp tham chiến tại Việt Nam (từ năm
1964 đến năm 1973), Mỹ phải chi bình quân mỗi ngày cho
cỗ máy chiến tranh hơn 80 triệu đô la, tiền thuế ở Mỹ vì thế cũng tăng gấp 3 lần so với trước chiến tranh Về sinh mạng, trong 9 năm đó, có khoảng hơn 58 nghìn binh sĩ Mỹ thiệt mạng, cao hơn gấp nhiều lần so với các cuộc chiến tranh trước đó
Mặc dù đã cố gắng đến mức tối đa, nhưng mọi nỗ lực của Mỹ vẫn bị thất bại, làm tiêu tan âm mưu áp đặt chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở Việt Nam, góp phần làm phá sản các chiến lược quân sự toàn cầu mà Mỹ đã thực hiện trên thế giới trong vòng gần 30 năm qua, làm suy giảm đáng kể "uy tín" và "thế thượng phong" của
Mỹ Sau thất bại tại Việt Nam, Bộ trưởng Quốc phòng
Mỹ lúc bấy giờ Sơ-le-xinh-giơ đã nhận xét: " cuộc rút lui lịch sử khỏi Việt Nam của một đại cường quốc như
Mỹ không thể không gây ảnh hưởng có hại cho địa vị của Mỹ trên thế giới Sau thất bại đó, chính sách đối
1 Ban tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ chính trị, Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975 - thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2000, tr 496
Trang 18ngoại và tham vọng bá quyền của Mỹ ở châu á đã tan
biến, và sự xói mòn đang tiếp tục Uy tín của Mỹ đối với
đồng minh và bạn bè ở châu á và châu Âu hiện nay chỉ
là một con số không Đó là di sản cay đắng nhất trong
lịch sử nước Mỹ"1
Ngoài các hoạt động kể trên, vào những năm 60 của thế
kỷ XX, sau hàng loạt sự kiện quan trọng diễn ra trên thế
giới như cuộc khủng hoảng Béc-lin năm 1961, khủng
hoảng tên lửa ở Cu Ba năm 1962 và việc Pháp rút ra khỏi
ủy ban quân sự NATO năm 1966… NATO đã buộc phải
nhìn lại chính sách của chính mình, đồng thời tìm các biện
pháp nhằm củng cố khối đoàn kết nội bộ của toàn Khối
Tháng 10 năm 1966, theo sáng kiến của Bộ trưởng Ngoại
giao Bỉ Pi-e Hác-men, Hội đồng NATO đã quyết định
thành lập ủy ban đặc biệt ủy ban này có nhiệm vụ tư vấn
và tìm các giải pháp để củng cố liên minh Sau hơn một
năm đi vào hoạt động, tháng 12 năm 1967, ủy ban đặc biệt
đã đưa ra kế hoạch "Củng cố và phát triển NATO trong
tình hình mới", với hai nội dung chủ yếu:
Về mặt đối ngoại, tiếp tục theo đuổi mục tiêu chiến
lược chống Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa; tích cực
triển khai các hoạt động chống phá, lôi kéo một số nước
Đông Âu đang có tư tưởng và lập trường "lừng chừng",
nhằm không ngừng mở rộng NATO về phía Đông Điển
hình trong hoạt động này là việc Mỹ hậu thuẫn cho lực
lượng chống đối chủ nghĩa xã hội ở Tiệp Khắc tiến hành
các vụ bạo loạn, âm mưu làm tan rã Đảng Cộng sản và chế
1 Vietnam Syndrome and the impact on U.S Foreign Policy, New
và rút ra khỏi Hiệp ước Vác-xa-va… Bên cạnh đó, kế hoạch
"Củng cố và phát triển NATO trong tình hình mới" còn kêu
gọi các nước thành viên tập trung mọi nỗ lực để thống nhất hai nước Đức; khuyến khích các nước thành viên NATO
mở rộng hợp tác song phương và đa phương với các nước thành viên khối SEATO, ANZUS, CENTO; phát triển và
mở rộng các căn cứ quân sự sang khu vực châu á - Thái Bình Dương
Về mặt đối nội, NATO thực hiện chương trình "Hoà
giải" Mục tiêu chủ yếu là tập trung giải quyết các bất
đồng về biên giới, lãnh thổ cũng như những bất đồng về chính trị còn tồn tại trong các nước thành viên NATO kể
từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai Thực hiện chương trình trên, ngày 26 tháng 2 năm 1969, theo sáng kiến của
Mỹ, Hội đồng NATO đã thống nhất đi đến quyết định
thành lập ủy ban tư vấn chính trị NATO Nhiệm vụ và
mục tiêu của ủy ban này là: tổ chức Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao các nước thành viên NATO 6 tháng một lần, nhằm thảo luận và giải quyết những bất đồng còn tồn tại
và những bất đồng mới nảy sinh, trước khi đưa các vấn đề
ra Hội đồng NATO; thành lập nhóm tư vấn chính trị đặc biệt để tìm giải pháp giải quyết các bất đồng, đồng thời làm nhiệm vụ hoà giải trong trường hợp bất đồng "leo thang"; thành lập khung pháp lý để giải quyết các bất
đồng, kêu gọi các bên nên giải quyết các tồn đọng bằng giải pháp ngoại giao; kêu gọi các nước là thành viên lớn của
Trang 19NATO như Mỹ, Anh, Đức, I-ta-li-a thành lập Quỹ hỗ trợ
nhằm trợ giúp các nước thành viên khác như Đan Mạch,
Na-uy, Hy Lạp Ngoài ra, ủy ban đặc biệt còn kêu gọi các
nước thành viên phải sử dụng các biện pháp cứng rắn, kể
cả các biện pháp quân sự, để trấn áp các phần tử mà họ
cho là có tư tưởng ly khai khỏi NATO và thân Pháp trong
chính phủ các nước
Thực hiện kế hoạch "Củng cố và phát triển NATO trong
tình hình mới" của ủy ban đặc biệt, trong những năm 60
của thế kỷ XX, các nước thành viên NATO, đặc biệt là Mỹ,
tiếp tục duy trì, củng cố và mở rộng các liên minh quân sự
của mình và các nước đồng minh, cốt lõi của hệ thống này là
khối NATO với một mạng lưới dày đặc các căn cứ quân sự
trên lãnh thổ các nước Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp, Tây Âu Trong
thời kỳ này, một khu vực quân sự trọng yếu nữa đang
phình to và thu hút hơn 60 vạn trên tổng số gần 1 triệu
quân Mỹ ở nước ngoài, đó là vùng Đông Nam á và Tây Thái
Bình Dương Mỹ cố gắng biến Nhật Bản, Nam Triều Tiên,
Đài Loan, Thái Lan, Nam Việt Nam, Phi-líp-pin và một số
quần đảo khác ở đây thành những "hàng không mẫu hạm
không thể bị đánh chìm", trong đó các đảo ô-ki-na-oa,
Gu-am, Ha-oai là những nơi được triển khai các căn cứ hạt
nhân chiến lược của Mỹ và NATO
Cùng với các hoạt động kể trên, trong những năm 60
của thế kỷ XX, nhằm giúp đỡ các nước NATO thực hiện
công cuộc trấn áp các phần tử li khai trong chính phủ các
nước đồng minh; các nhân viên của Cục Tình báo Trung
ương Mỹ CIA đã thâm nhập vào bộ máy chính phủ của
nhiều nước Đông Âu, hậu thuẫn và giúp đỡ các lực lượng
đối lập tiến hành các cuộc đảo chính, lật đổ các chính phủ
hợp hiến và có tư tưởng thân Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Trong số các cuộc đảo chính đó, trước hết phải
kể đến cuộc đảo chính quân sự tại Hy Lạp
Ngày 21 tháng 4 năm 1967, được sự hậu thuẫn của
Mỹ, Đại tá Pa-pa-đô-pau-lớt, một nhân vật thân Mỹ, có tư tưởng cực đoan và chống cộng quyết liệt đã tiến hành cuộc
đảo chính quân sự Chỉ trong vài giờ, lực lượng đảo chính
đã đánh chiếm được toà nhà Quốc hội, bắt toàn bộ nội các chính phủ, buộc vua Hy Lạp Công-xtăng-tin phải ký sắc lệnh hủy bỏ Hiến pháp, cấm Đảng Cộng sản hoạt động Ngay sau khi đảo chính thành công, ông Pa-pa-đô-pau-lớt
ra lệnh bắt giam tất cả các thành viên chính phủ bị tình nghi là có mối quan hệ với Liên Xô, tiến hành thanh trừng lực lượng cánh tả có tư tưởng chống Mỹ và đòi rút ra khỏi NATO Theo các nhà phân tích chính trị phương Tây, cuộc
đảo chính quân sự tại Hy Lạp đã cùng một lúc thực hiện
được hai mục tiêu: thứ nhất, loại bỏ được lực lượng cánh tả
thân Liên Xô và chống NATO trong Chính phủ Hy Lạp;
thứ hai, đó là đòn cảnh báo đối với các lực lượng chống đối
và đòi li khai khỏi NATO tại một số nước thành viên khác như Đan Mạnh, Na-uy, Bỉ, I-ta-li-a,
Ngoài các cuộc đảo chính tại các nước thành viên NATO, trong những năm 60 của thế kỷ XX, Mỹ và các nước phương Tây còn ủng hộ và giật dây cho các thế lực phản động bản xứ tiến hành hàng chục cuộc đảo chính quân sự, lật đổ các chính phủ tiến bộ ở nhiều nước châu á, châu Phi và Mỹ Latinh Mặc dù đã dùng nhiều biện pháp nhằm củng cố khối đoàn kết trong nội bộ NATO, nhưng do bản chất hiếu chiến và phản động của chủ nghĩa đế quốc nói chung, các khối chính trị - quân sự do Mỹ dựng lên nói riêng, từ giữa những năm 60,
Trang 20đặc biệt là từ sau khi Pháp rút khỏi ủy ban quân sự NATO,
phong trào phản đối và đòi rút khỏi NATO của các nước
thành viên NATO tại châu Âu đã phát triển rầm rộ và thu
hút được sự tham gia của hàng triệu người dân
Mở đầu là các cuộc tuần hành, biểu tình của hơn
100.000 người dân Thủ đô Cộng hoà dân chủ Đức, diễn ra
từ ngày 18 đến ngày 20 tháng 2 năm 1964 Những người
biểu tình đòi Chính phủ Đức không cho Mỹ triển khai các
loại vũ khí hạt nhân trên lãnh thổ nước mình; không cho
Quân đội Đức tham gia lực lượng hạt nhân đa quốc gia của
NATO và yêu cầu rút toàn bộ các đơn vị đồn trú NATO ra
khỏi lãnh thổ Cộng hoà liên bang Đức Phong trào tuần
hành, biểu tình cũng diễn ra ở Bon và ngay sau đó đã lan
ra nhiều thành phố khác của Cộng hoà liên bang Đức, buộc
chính phủ nước này phải có những nhượng bộ
Cũng như ở Đức, tháng 1 năm 1965, tại Thủ đô
Am-xtéc-đam Hà Lan đã diễn ra cuộc biểu tình được coi là
lớn nhất tại nước này kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ
hai Chỉ trong hai ngày, lực lượng cánh tả, những người
cộng sản và hàng trăm học giả Hà Lan đã kêu gọi hàng
chục nghìn người xuống đường biểu tình, đòi chính phủ
phải rút toàn bộ binh sĩ của Hà Lan ra khỏi lực lượng
NATO tại châu Âu, yêu cầu chính phủ phải độc lập hơn
trong chính sách ngoại giao và quốc phòng; chấm dứt tình
trạng thù địch, chống phá Liên Xô và các nước xã hội chủ
nghĩa; cho phép người dân có quyền được thăm viếng thân
nhân của họ tại các nước xã hội chủ nghĩa…
Tình hình tương tự cũng đã diễn ra tại Anh Tháng 6
năm 1966, hàng nghìn sinh viên thuộc các trường đại học
lớn ở Thủ đô Luân Đôn và các vùng phụ cận đã xuống
đường biểu tình, đòi chính phủ thực hiện cam kết giải trừ
vũ khí hạt nhân trên lãnh thổ nước Anh; yêu cầu Chính phủ Anh chấm dứt các khoản đóng góp được lấy từ thuế của nhân dân Anh để chi trả cho các hoạt động của NATO Cuộc biểu tình ngay sau đó đã thu hút được sự tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân nhân, đội ngũ trí thức và các nhà khoa học Anh
Trước sức ép của các cuộc biểu tình, Chính phủ Anh đã phải nhượng bộ bằng cách đưa ra hàng loạt cam kết như rút bớt quân Anh ra khỏi lực lượng NATO tại châu Âu; hạn chế số quân Anh tham gia vào các cuộc chiến tranh và xung đột vũ trang tại các nước; Chính phủ Anh sẽ có các cuộc tiếp xúc và tư vấn với chính phủ các nước thành viên NATO, đặc biệt là Mỹ, để thuyết phục họ ngồi vào bàn
đàm phán với Chính phủ Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác nhằm giảm bớt sự căng thẳng trong quan hệ
Đông - Tây Phong trào biểu tình phản đối chính sách phản động và hiếu chiến của NATO cũng đã lan sang nhiều nước khác như Bỉ, Na-uy, Hà Lan, Mỹ
Như vậy, sau hơn 20 năm tồn tại, do bản chất hiếu chiến và phi nghĩa, NATO đã bộc lộ hàng loạt mâu thuẫn khó dung hoà Những mâu thuẫn ấy cùng với sự phát triển như vũ bão của các trào lưu cách mạng tiến bộ và những thay đổi to lớn của tình hình chính trị trên thế giới đã buộc NATO phải có những thay đổi cả về chiến lược phát triển
và hoạt động trong tương lai
Vào những năm 50 của thế kỷ XX, châu Âu bị chia tách làm đôi Các quốc gia Tây Âu liên minh với Mỹ; các quốc gia Đông Âu hợp tác với Liên Xô Toàn bộ châu Âu lúc đó hình thành một cục diện đối đầu Do sự đối đầu trong
Trang 21Chiến tranh lạnh giữa Mỹ và Liên Xô ngày càng căng
thẳng nên Mỹ càng tích cực lung lạc các nước Tây Âu, biến
Tây Âu thành lá chắn và căn cứ tiến công Liên Xô cũng
như các nước Đông Âu Vì là những nước yếu đang bị kẹp
giữa hai siêu cường, các nước Tây Âu bắt buộc phải dựa
vào Mỹ để tìm con đường tồn tại và phát triển Họ hy vọng
nhờ vào sự viện trợ của Mỹ để khôi phục kinh tế, nhờ vào
sức mạnh quân sự của Mỹ để cân bằng với Liên Xô, ổn
định tình hình tại châu Âu
Từ giữa thập kỷ 60, tình hình đã thay đổi Các nước
Tây Âu từng bước phục hồi được nền kinh tế và có xu
hướng muốn liên kết với nhau để chấn hưng châu Âu và
cải thiện địa vị của họ trên trường quốc tế Mối quan hệ
giữa Mỹ và Tây Âu vì thế cũng đã bắt đầu thay đổi Theo
đà phát triển của ý thức liên kết và thực lực tăng trưởng
kinh tế, giữa các nước Tây Âu và Mỹ bắt đầu xuất hiện
những mâu thuẫn khó dung hoà Chiến tranh mậu dịch,
chiến tranh đầu tư, chiến tranh tiền tệ ngày càng trở nên
gay gắt, khuynh hướng tự cường và độc lập với Mỹ ngày
càng phát triển tại Tây Âu
Sự thay đổi trong mối quan hệ giữa Tây Âu và Liên Xô
cũng là nhân tố quan trọng tác động trực tiếp đến mọi mặt
hoạt của NATO Sau các cuộc thăm viếng "xé rào" của Đờ
Gôn tới Liên Xô trong những năm đầu thập kỷ 60, Cộng
hoà liên bang Đức cũng điều chỉnh mối quan hệ của họ với
Mát-xcơ-va Các quan chức Đức, cả trong chính quyền lẫn
bên ngoài, đều nhận thấy rằng, nếu tiếp tục duy trì chính
sách nghiêng về Mỹ thì tình hình ở Đức sẽ ngày càng gặp
nhiều khó khăn; bởi lẽ, nước Đức sẽ không thoát khỏi sự lệ
thuộc ngày càng sâu vào Mỹ; thứ nữa, Cộng hoà dân chủ
Đức đã được nhiều quốc gia thừa nhận, tình trạng hai nước Đức coi như đã cố định, vì vậy muốn giải quyết vấn
đề nước Đức, Cộng hoà liên bang Đức không còn cách nào khác là phải cải thiện mối quan hệ với Liên Xô Từ yêu cầu phát triển kinh tế, người Đức cũng mong muốn mở được cánh cửa vào thị trường Liên Xô và Đông Âu Do vậy, vào cuối những năm 60 của thế kỷ XX, với tư cách là "người khổng lồ kinh tế", Đức đã đã đưa ra cái gọi là "chính sách phương Đông" và cải thiện mối quan hệ với Liên Xô và các nước Đông Âu
Việc hai nước lớn là Pháp và Cộng hoà liên bang Đức tiến hành chính sách đối thoại và hoà hoãn với Liên Xô và Đông
Âu đã phá vỡ "hàng rào ngăn cản" giữa Đông và Tây được xây dựng từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, làm cho các mối quan hệ ở châu Âu dần được cải thiện Các quốc gia Tây
Âu khác cũng nhận thấy chính sách hoà hoãn với Liên Xô là phù hợp với quyền lợi của họ, vì vậy nhiều nước bắt đầu đi theo chính sách hoà hoãn của Pháp và "chính sách phương
Đông" của Cộng hoà liên bang Đức, bất chấp những lời chỉ trích, cảnh báo và thậm chí là đe doạ từ Mỹ
Về phía Liên Xô, mặc dù vào thập kỷ 60, nước này đã
đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên nhiều lĩnh vực,
đặc biệt là trong lĩnh vực quân sự; tuy nhiên, do phải tập trung đối phó với những hiểm hoạ từ phía Mỹ và các nước phương Tây, Liên Xô đã huy động một số lượng lớn nhân lực và vật lực cho việc xây dựng lực lượng vũ trang Trong một thời gian dài, nền kinh tế Liên Xô không được đầu tư thoả đáng do thiếu vốn; các thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến cũng ít được du nhập vào Các yếu tố trên
đã khiến nền kinh tế Liên Xô dần tụt hậu so với Mỹ Đứng
Trang 22trước thực tiễn đặt ra, các nhà lãnh đạo Liên Xô lúc bấy
giờ cũng nhận thấy rằng, muốn đuổi kịp Mỹ về mặt kinh
tế và duy trì được ưu thế quân sự vượt trội thì phải có sự
hoà hoãn với các nước phương Tây
Như vậy, do những thay đổi khách quan và chủ quan
của tình hình chính trị thế giới, đặc biệt là những thay đổi
to lớn trong chính sách đối ngoại của Mỹ, Liên Xô và các
nước phương Tây, vào thập kỷ 60 của thế kỷ XX, bên cạnh
việc tiếp tục leo thang chiến tranh và chạy đua vũ trang,
xu thế hoà hoãn bắt đầu trở thành xu thế nổi bật của
NATO trong những thập niên tiếp theo
Chương bốn
NATO trong xu thế hoà hoãn
và sự tan rã của trật tự thế giới hai cực
(1971-1991)
1 Thế cân bằng sức mạnh trên trường quốc tế và các quan điểm chiến lược quân sự toàn cầu của Mỹ
Cuối những năm 60, đầu những năm 70 của thế kỷ XX, chiến lược chống chủ nghĩa xã hội của Mỹ và các nước phương Tây đã bị giáng những đòn mạnh mẽ bởi sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới với một loạt các nước thuộc địa và phụ thuộc giành được độc lập, đặc biệt là những thành tựu của chủ nghĩa xã hội Trong khi đó, chủ nghĩa tư bản ngày càng khủng hoảng sâu sắc cả về kinh tế, chính trị, quân sự Thực tế đó đã tạo nên thế cân bằng tương đối về sức mạnh quân sự giữa Liên Xô và Mỹ nói riêng, giữa Tổ chức Hiệp ước Vác-xa-va và NATO nói chung
Sự hợp tác phát triển toàn diện giữa các nước xã hội chủ nghĩa trong Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) đã góp phần thúc đẩy sự phát triển vững chắc và làm nổi bật địa
vị của các nước xã hội chủ nghĩa Nước Cộng hoà dân chủ
Đức, sau ba mươi năm xây dựng chế độ mới, đã đạt mức sản xuất công nghiệp bằng cả nước Đức cũ, trở thành nước công nghiệp đứng hàng thứ 6 ở châu Âu Tiệp Khắc đến
Trang 23những năm 70 đã xếp vào hàng các nước công nghiệp trên
thế giới với sản lượng công nghiệp chiếm 1,75% tổng sản
lượng công nghiệp toàn thế giới (năm 1970) Đến nửa đầu
những năm 80, với hơn 10% dân số và 19% diện tích thế
giới, khối SEV đã sản xuất được 35% sản lượng công
nghiệp thế giới, 25% sản lượng nông nghiệp, vượt khối
Cộng đồng châu Âu của (EC) các nước tư bản về sản xuất
than, hơi đốt, gang ghép, vải len Về khoa học kỹ thuật,
các nước trong khối SEV chiếm 1/3 số lượng cán bộ khoa
học thế giới và cứ 5 phát minh về kỹ thuật và công nghệ
trên thế giới thì có một phát minh là của các nước trong
khối SEV1
Trong quá trình phát triển của mình, hệ thống xã hội
chủ nghĩa đã có những đóng góp to lớn đối với quá trình
đấu tranh vì các mục tiêu nóng bỏng của thời đại từ sau
Chiến tranh thế giới thứ hai, đó là hoà bình, an ninh và
phát triển Hệ thống xã hội chủ nghĩa đứng vững và phát
triển đã trở thành chỗ dựa vững chắc cho nhân dân các
nước á, Phi, Mỹ Latinh trong cuộc đấu tranh giành và bảo
vệ độc lập dân tộc Sau khi giành độc lập, một số nước đã
lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, theo mô hình
Liên Xô Đến năm 1979, đã có 64 nước dân tộc chủ nghĩa
ký hiệp định hợp tác kinh tế, khoa học - kỹ thuật với Liên
Xô Từ năm 1960 đến năm 1977, số thiết bị do Liên Xô
cung cấp cho các nước đó tăng lên 9 lần Với sự giúp đỡ của
Liên Xô, các nước đang phát triển đã xây dựng được 1.843
công trình các loại, trong đó có những công trình có ý
1 Hoàng Văn Hiển, Nguyễn Viết Thảo, Quan hệ quốc tế từ 1945-1995,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr 58
nghĩa then chốt đối với nền kinh tế quốc dân Riêng Cộng hoà ấn Độ, với sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô, trong khu vực kinh tế nhà nước đã sản xuất được 1/3 sản lượng thép, 80% thiết bị công nghiệp luyện kim, 60% thiết bị điện tử, 50% sản lượng dầu mỏ Những con số trên đây cho thấy,
sự giúp đỡ của Liên Xô đối với các nước thuộc "Thế giới thứ ba" là vô cùng to lớn; đồng thời cũng chứng tỏ uy tín và
ảnh hưởng sâu, rộng của Liên Xô trên trường quốc tế Đó
1978, nhân dân áp-ga-ni-xtan tiến hành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ thắng lợi, thiết lập chế độ cộng hoà dân chủ; tháng 2 năm 1979, các lực lượng dân chủ yêu nước I-ran đứng lên khởi nghĩa ở Thủ đô Tê-hê-ran, lật đổ chế
độ quân chủ chuyên chế, thành lập Chính phủ cách mạng lâm thời; đến tháng 4, tuyên bố thành lập nước Cộng hoà hồi giáo I-ran
ở lục địa châu Phi, từ năm 1969 đến năm 1975 có thêm
11 nước giành được độc lập; trong đó tiêu biểu nhất là cuộc cách mạng lật đổ chế độ quân chủ chuyên chế ở Ê-ti-ô-pi-a năm 1974, các cuộc kháng chiến chống thực dân Bồ Đào Nha của nhân dân các nước Ghi-nê Bít-xao, Cap-ve, Mô-dăm-bích và Ăng-gô-la những năm 1974-1975
Trang 24Tại Mỹ Latinh, tháng 9 năm 1977, Mỹ buộc phải ký với
Chính phủ Pa-na-ma hai hiệp định về kênh đào, chấp
nhận trong vòng 10 năm Mỹ trao trả xong toàn bộ chủ
quyền kênh đào Pa-na-ma cho chính phủ nước này Tháng 3
năm 1979, các lực lượng dân chủ, yêu nước ở Grê-na-đa lật
đổ chế độ độc tài thân Mỹ, thành lập Chính phủ cách
mạng nhân dân với đường lối chính trị đối nội và đối ngoại
tiến bộ Tháng 7 năm 1979, Mặt trận dân tộc giải phóng
Xan-đi-nô, sau nhiều năm lãnh đạo nhân dân Ni-ca-ra-goa
tiến hành chiến tranh cách mạng, đã lật đổ chính phủ
thân Mỹ, thiết lập Chính phủ cách mạng của các lực lượng
yêu nước
ở bên trong các nước NATO, phong trào phản đối chính
sách bành trướng của Mỹ và các chính phủ thân Mỹ đã
đẩy mâu thuẫn nội bộ NATO lên cao Mâu thuẫn này lên
đến đỉnh điểm vào năm 1974, khi Hy Lạp, một nước thành
viên nằm trên địa bàn chiến lược xung yếu ở Địa Trung
Hải, tuyên bố không tham gia tổ chức quân sự của Khối
Năm 1975, do cuộc khủng hoảng chính trị và áp lực của
phong trào quần chúng, chính phủ quân sự ở đây buộc
phải tuyên bố từ chức, chế độ cộng hoà được thiết lập Tiếp
đó, tháng 9 năm 1976, tại Cộng hoà Síp, lực lượng dân chủ
ở đây cũng đã giành được thắng lợi trong cuộc bầu cử Quốc
hội ở một số nước tư bản phương Tây khác, phong trào
đấu tranh của các lực lượng cánh tả và lực lượng dân chủ
cũng có bước phát triển mới Cuộc cách mạng ở Bồ Đào
Nha năm 1974 cho thấy uy tín của Đảng Cộng sản ở nước
này ngày càng tăng Năm 1976, những người cộng sản đã
giành được nhiều vị trí trong chính phủ các nước I-ta-li-a
và Pháp Việc những người cộng sản tham gia Chính phủ
liên hiệp ở một số nước tư bản phát triển ở châu Âu trong thời gian này đã khiến nhiều nhà phân tích chính trị gọi
đây là thời kỳ "chủ nghĩa cộng sản châu Âu" Cho đến cuối những năm 80 của thế kỷ XX, ở Tây Âu có 22 đảng cộng sản và công nhân; ở châu Mỹ Latinh và vùng Ca-ri-bê,
Đảng Cộng sản tồn tại ở 26 nước (kể cả Cu Ba); ở châu á, ngoài các nước xã hội chủ nghĩa, có khoảng 20 đảng cộng sản; châu Phi có 10 đảng cộng sản hoạt động
Nhìn chung, trong giai đoạn này, các lực lượng cách mạng, bao gồm chủ nghĩa xã hội hiện thực, phong trào giải phóng dân tộc và độc lập dân tộc, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, phong trào đấu tranh vì hoà bình, chống chiến tranh và nguy cơ chiến tranh là những nhân
tố đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của quan hệ quốc tế, góp phần làm thay đổi cán cân so sánh lực lượng
có lợi cho hệ thống xã hội chủ nghĩa và tạo nên bước chuyển từ xu thế đối đầu trong những năm 60 sang giảm căng thẳng trên thế giới những năm 70 của thế kỷ trước Toàn bộ tình hình trên đây khiến Ních-xơn vừa lên cầm quyền đã phải bắt đầu nói về chính sách "hoà dịu", thừa nhận thế cân bằng lực lượng hạt nhân chiến lược Mỹ - Xô;
đồng thời tìm cách cải thiện mối quan hệ với Trung Quốc
Đối với các nước đồng minh, đầu những năm 70, Mỹ chủ trương đẩy đồng minh lên tuyến thứ nhất, Mỹ rút về tuyến hai Cơ sở của quan hệ chính trị - quân sự mới giữa Mỹ và các nước đồng minh đầu những năm 70 của thế kỷ XX là
"Học thuyết Ních-xơn"
Để điều chỉnh các quan hệ cho phù hợp với chính sách liên minh quân sự mới của mình, Ních-xơn thay quan điểm thế giới hai cực bằng quan điểm thế giới đa cực Theo Ních-xơn,
Trang 25trên thế giới vào thời điểm này tồn tại 5 thế lực chính: Mỹ,
Liên Xô, Tây Âu, Nhật Bản, Trung Quốc; trong đó Mỹ thực
hiện chính sách "thế cân bằng nước lớn"1 Lúc này, chỉ tiêu
chuẩn bị chiến tranh của Quân đội Mỹ từ "hai cuộc chiến
tranh rưỡi" giảm xuống còn "một cuộc chiến tranh rưỡi",
tức là chỉ còn chuẩn bị chiến tranh lớn giữa châu Âu
(NATO) với quân đội các nước thuộc khối Vác-xa-va,
đồng thời tham gia một số cuộc chiến tranh nhỏ ở các
khu vực khác
Nội dung chính của Học thuyết Ních-xơn gồm ba bộ
phận cấu thành:
1 Chia sẻ trách nhiệm - Mỹ tiếp tục viện trợ quân sự
và kinh tế cho các nước đồng minh, còn các nước đồng
minh phải thực hiện nghĩa vụ của mình trong khu vực
2 Xây dựng sức mạnh - Mỹ gánh chịu phần chủ yếu về
lực lượng hạt nhân chiến lược, nhưng các nước đồng minh
phải cùng Mỹ chung sức gánh vác việc xây dựng lực lượng
tác chiến trên các khu vực chiến trường
3 Thương lượng - Mỹ thương lượng với các nước đồng
minh thành lập những liên minh khu vực, thương lượng
giải quyết xung đột xảy ra giữa các nước thứ ba, thương
lượng với Liên Xô về việc hạn chế sự phát triển vũ khí
chiến lược 2
Trên cơ sở Học thuyết Ních-xơn, Mỹ đề ra chiến lược
quân sự toàn cầu mới mang tên "Ngăn đe thực tế" thay cho
chiến lược "Phản ứng linh hoạt" Nội dung chủ yếu của
1 Lý Thực Cốc, Mỹ thay đổi chiến lược toàn cầu, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 1996, tr 47
2 Nguyễn Anh Dũng, Sđd
chiến lược "Ngăn đe thực tế" là thay chủ trương "Can thiệp quân sự vào bất cứ lúc nào, tại bất cứ nơi đâu bằng "Phản ứng có lựa chọn, có mức độ"; nhấn mạnh việc "chia sẻ trách nhiệm" của các đồng minh và các nước thân Mỹ; thận trọng khi đưa lực lượng chiến đấu trên bộ của Mỹ vào các cuộc can thiệp quân sự Trách nhiệm cụ thể được Mỹ xác định như sau: chiến tranh tổng lực hạt nhân do Mỹ
đảm nhiệm; chiến tranh hạt nhân khu vực do Mỹ và những đồng minh có khả năng hạt nhân cùng chia sẻ trách nhiệm, trong đó Mỹ giữ vai trò chính yếu; chiến tranh thông thường khu vực (ví dụ như một cuộc chiến tranh lớn tại châu Âu) do Mỹ và các nước đồng minh cùng đảm nhiệm; chiến tranh dưới mức khu vực hoặc Chiến tranh cục bộ sẽ do nước sở tại trực tiếp đảm nhiệm Mỹ sẽ giúp đỡ bằng viện trợ quân sự và kinh tế; khi cần thiết và thích hợp, có thể Mỹ sẽ chi viện hậu cần, yểm trợ chiến đấu bằng Không quân, Hải quân và trong trường hợp đặc biệt, sự giúp đỡ đó có thể bao gồm cả viện trợ bằng lực lượng chiến đấu trên bộ
Nếu như theo Học thuyết Ních-xơn, nguyên tắc cơ bản trong chính sách liên minh là sự "hợp tác" giữa Mỹ với các nước đồng minh được xây dựng chủ yếu bằng các biện pháp mang tính chất quân sự thì quan điểm "ba bên" vào nửa cuối những năm 70 của thế kỷ XX mở ra sự hợp tác chặt chẽ hơn trong các lĩnh vực đối ngoại, kinh tế và quân
sự cùng chiến lược tổng hợp trên cơ sở quyền lợi chung giữa các cường quốc phương Tây
Quan điểm "ba bên" hình thành từ năm 1973, đến năm
1976 được J Ca-tơ khái quát thành chính sách đối ngoại trong thời kỳ cầm quyền của mình như sau: "Đã đến lúc
Trang 26cần có sự hợp tác giữa Bắc Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản Ba
khu vực của chúng ta cùng có lợi ích chung về kinh tế,
chính trị và an ninh Điều này tất yếu dẫn đến sự thống
nhất và hiểu biết lẫn nhau đang ngày càng rõ nét "1
Quan điểm của J Ca-tơ đã bổ sung thêm cho Học thuyết
Ních-xơn về tính chất phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước tư
bản phương Tây, phản ánh quá trình nhất thể hoá về
đường lối quân sự, cơ cấu kinh tế và xã hội trong hệ thống
các nước tư bản chủ nghĩa những năm cuối thập kỷ 70 của
thế kỷ XX
Tuy nhiên, sau khi bước vào Nhà Trắng, R Ri-gân đã đưa
ra chiến lược mới, đối lập hoàn toàn với quan điểm của
Ních-xơn và J Ca-tơ Ri-gân áp dụng một chính sách cứng rắn,
chống đối toàn diện đối với Liên Xô; chủ trương thực hiện
"hoà bình thông qua sức mạnh" và tiến tới giành "ưu thế
quân sự", tăng nhanh ngân sách quân sự, đẩy mạnh chạy
đua vũ trang trở lại Ngày 23 tháng 11 năm 1980, Chủ tịch
mới của ủy ban quân lực Thượng nghị viện Mỹ Giôn Tao-ơ
tuyên bố: "Sức mạnh quân sự là nền tảng phải được dùng
làm chỗ dựa cho những cố gắng của chúng ta nhằm duy trì
sự phát triển một cách ổn định và sự phồn vinh về kinh tế
của chúng ta " Về các mục tiêu chủ yếu của chính sách đối
ngoại quân sự Mỹ, Tao-ơ nói rõ, cần xây dựng một lực lượng
quân sự hùng mạnh; cần củng cố các liên minh quân sự, thắt
chặt các mối quan hệ về quân sự và kinh tế giữa Mỹ và các
nước đồng minh bởi vì "trong những năm gần đây, chúng ta
đã nhận thấy có một sự xói mòn nghiêm trọng trong niềm
tin của các nước đồng minh với nước Mỹ"2
1 Chính sách liên minh quân sự của chủ nghĩa đế quốc, Sđd, tr 333
2 Nguyễn Anh Dũng, Sđd, tr 48
Nhằm giành lại ưu thế quân sự, khôi phục vai trò lãnh
đạo thế giới, chính quyền Ri-gân đã đề ra chiến lược quân
sự toàn cầu mới mang tên "Đối đầu trực tiếp" thay thế chiến lược "Ngăn đe thực tế", lấy đó làm cơ sở để hoạch
định việc xây dựng, bố trí và sử dụng các lực lượng quân
sự Mỹ trong hai thập kỷ 80 và 90 của thế kỷ XX
Bản thân tên gọi chiến lược quân sự toàn cầu "Đối đầu trực tiếp" đã nói lên đầy đủ nội dung của nó, đó là chủ trương đối đầu với Liên Xô ở quy mô toàn cầu và khu vực, tăng cường sức mạnh quân sự của Mỹ
Để thực hiện chiến lược "Đối đầu trực tiếp", Mỹ ưu tiên phát triển lực lượng hạt nhân chiến lược, củng cố và tăng cường lực lượng thông thường nhằm nâng cao khả năng thực hiện các phương án tác chiến của lực lượng vũ trang, từ đánh đòn hạt nhân hạn chế vào các mục tiêu riêng lẻ đến giáng đòn hạt nhân ồ ạt vào các mục tiêu trên lãnh thổ Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác;
đồng thời sẵn sàng cùng đồng minh tiến hành chiến tranh bằng vũ khí thông thường trên mọi chiến trường
để giành lại thế giới
Xương sống của chiến lược "Đối đầu trực tiếp" là chương trình Sáng kiến phòng thủ chiến lược (Strategic Defence Initiative - SDI, trong sách báo Việt Nam còn có tên gọi khác là Chiến tranh giữa các vì sao), một chương trình nhằm thiết lập trong vũ trụ và trên mặt đất hệ thống thiết bị kỹ thuật cao, có quy mô bao quát toàn cầu để khống chế, kiểm soát, tiêu diệt mọi loại vũ khí hạt nhân chiến lược của đối phương, trước hết là của Liên Xô; đồng thời giành quyền giáng trả đối phương những đòn hạt nhân chiến lược, thực hiện mục tiêu "giành bá chủ vũ trụ
Trang 27để giành ưu thế về hạt nhân" SDI dự kiến được thực hiện
trong 20 năm với chi phí hàng trăm tỉ đô la
Trước tình hình Mỹ và các nước đồng minh của Mỹ,
nhất là đồng minh NATO, ra sức chạy đua vũ trang, trực
tiếp đe doạ nền an ninh của Liên Xô và các nước xã hội chủ
nghĩa, đe doạ nền hoà bình thế giới, một mặt, Liên Xô tăng
cường lực lượng quân sự, đặc biệt là lực lượng hạt nhân,
sẵn sàng đánh bại mọi hành động quân sự phiêu lưu của
đối phương; mặt khác chủ trương tiếp tục cuộc đấu tranh
đòi giải trừ quân bị, đòi hạn chế vũ khí tiến công chiến
lược, hạn chế các vụ thử hạt nhân ngầm dưới đất, hạn chế
hệ thống phòng chống tên lửa Ngày 15 tháng 1 năm 1986,
Liên Xô đưa ra chương trình tổng thể nhằm thủ tiêu từng
bước vũ khí hạt nhân cùng các loại vũ khí giết người hàng
loạt khác cho đến năm 2000 và chương trình cắt giảm cơ
bản vũ khí thông thường và lực lượng vũ trang Sáng kiến
của Liên Xô đã được các lực lượng yêu chuộng hoà bình và
dân chủ tiến bộ trên toàn thế giới ủng hộ mạnh mẽ
Những sáng kiến hoà bình đầy tinh thần xây dựng do
Liên Xô đưa ra cùng với sức ép của dư luận trong nước
và quốc tế, Mỹ buộc phải ngồi vào bàn đàm phán với
Liên Xô trước khi đi đến kí kết các hiệp ước cụ thể Năm
1985, tại cuộc họp cấp cao Xô - Mỹ diễn ra ở Giơ-ne-vơ,
Tổng thống Mỹ Ri-gân phải chấp nhận nguyên tắc: Mỹ
và Liên Xô trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng không cho
phép để bùng nổ chiến tranh hạt nhân Ngày 8 tháng 12
năm 1987, Hiệp ước Xô - Mỹ về việc loại bỏ tên lửa tầm
trung và tầm ngắn (Hiệp ước INF), được chính thức ký
kết tại Oa-sinh-tơn Sau sự kiện này, hai nước Mỹ và
Liên Xô đã thoả thuận cùng giảm một bước quan trọng
cuộc chạy đua vũ trang, từng bước chấm dứt cục diện
"Chiến tranh lạnh", cùng hợp tác giải quyết các vụ tranh chấp và xung đột quốc tế Kết quả này góp phần làm hoà dịu tình hình thế giới và có tác dụng củng cố hoà bình,
an ninh của các dân tộc
Tuy nhiên, cũng vào thời điểm này, ở các nước xã hội chủ nghĩa, sau bốn thập niên đấu tranh không mệt mỏi cho nền hoà bình thế giới và đã đạt được những thành tựu nhất định trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, đã bắt đầu bộc lộ những hiện tượng trì trệ, tiêu cực do cơ chế hành chính quan liêu, bao cấp tồn tại quá lâu và do sự tha hoá của một bộ phận cán bộ, đảng viên có chức, có quyền
Điều đó đã dẫn đến tình trạng khủng hoảng, bắt đầu từ năm 1974 ở Hung-ga-ri, rồi hàng loạt các nước Đông Âu và Liên Xô vào cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX Kết quả là ở Liên Xô và các nước Đông Âu, các lực lượng chống chủ nghĩa xã hội đoạt được chính quyền từ tay Đảng Cộng sản và công nhân, hướng đất nước phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa và tình hình kinh tế, chính trị
ở đó diễn biến hết sức phức tạp
Trước sự biến đổi dữ dội ở Liên Xô và Đông Âu, sau khi
đắc cử Tổng thống Mỹ (năm 1989), Bu-sơ đưa ra chiến lược mới "Vượt trên ngăn chặn"; theo đó, Mỹ và NATO sẽ đẩy mạnh "diễn biến hoà bình" đối với Đông Âu, ra sức "làm cho Liên Xô hoà nhập với xã hội quốc tế" Có thể nói, chiến lược "Vượt trên ngăn chặn" là sự kế thừa và phát triển chiến lược "Ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản" mà Mỹ đã theo
đuổi từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai Về tổng thể, ý nghĩa chủ yếu của chiến lược này là dựa vào sức mạnh kinh tế và ảnh hưởng chính trị của Mỹ và các nước phương
Trang 28Tây để triển khai cuộc cạnh tranh lâu dài với Liên Xô và
các nước xã hội chủ nghĩa, sử dụng đan xen cùng một lúc
Trong khi ở Liên Xô và các nước Đông Âu đang diễn ra
những biến đổi hết sức mau lẹ, tháng 12 năm 1989, tại đảo
Man-ta đã diễn ra cuộc gặp không chính thức giữa Tổng Bí
thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô
M Goóc-ba-chốp và Tổng thống Mỹ G Bu-sơ Hai bên
tuyên bố từ nay Liên Xô và Mỹ không coi nhau là kẻ thù,
đồng thời thoả thuận cắt giảm vũ khí hạt nhân chiến lược
và tăng cường hợp tác với nhau để giải quyết các vấn đề
quốc tế
Quan hệ Đông - Tây từ đây thực sự chuyển từ thế đối
đầu sang đối thoại, hợp tác để giải quyết các vấn đề quốc
tế, những tranh chấp, xung đột vũ trang giữa hai khối ở
các khu vực trên thế giới Tuy nhiên, cũng trong thời gian
này, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và sau đó là Liên
Xô, sụp đổ, dẫn đến việc khối quân sự Vác-xa-va tuyên bố
tự giải tán (kể từ ngày 1 tháng 7 năm 1991) và khối SEV
ngừng hoạt động (từ ngày 28 tháng 6 năm 1991) Các sự
kiện trên tất yếu đưa đến hệ quả "trật tự hai cực Y-an-ta"
được tạo lập từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đã thực sự
bị phá vỡ Chiến tranh lạnh kết thúc, cuộc đối đầu kéo dài
hơn 4 thập niên giữa hai siêu cường Xô - Mỹ đứng đầu hai
khối đối địch đã chấm dứt
2 Chiến lược quân sự của NATO và chính sách liên minh của các nước Tây Âu
Những biến đổi của tình hình thế giới và sự thay đổi các chiến lược quân sự của Mỹ từ đầu những năm 70 đến
đầu những năm 90 thế kỷ XX đã tác động mạnh mẽ đến chính sách liên minh của các nước NATO ở Tây Âu cũng như tổ chức và hoạt động của Khối
Đầu những năm 70 của thế kỷ XX, việc ổn định và đổi mới chính sách đối nội, đối ngoại, cơ cấu lại tổ chức và lực lượng là những vấn đề then chốt mà Mỹ và các thành viên trong Khối hết sức lưu tâm, đặc biệt là sau khi Mỹ buộc phải rút khỏi Đông Dương
Việc điều chỉnh tổ chức và hoạt động của NATO từ đầu những năm 70 của thế kỷ XX được thực hiện theo Điều lệ dã chiến mới của Mỹ "FM100-5" Xuất phát từ quan điểm cho rằng, lực lượng vũ trang Mỹ chuẩn bị cho cuộc chiến tranh trước hết là ở châu Âu để chống các nước khối Vác-xa-va, chính quyền J Ca-tơ cũng như các tổng thống Mỹ sau này luôn coi việc củng cố NATO là cốt lõi trong chính sách đối ngoại của Mỹ Quan điểm này được sự đồng tình ủng hộ của các nước đồng minh Tây Âu có ảnh hưởng lớn trong NATO như Cộng hoà liên bang Đức và Anh Các nước này không chỉ xác định mối quan hệ chính trị - quân
sự với Mỹ là cơ bản mà còn muốn tiếp tục mở rộng hơn nữa, đồng thời tìm mọi cách để làm sống lại tư tưởng "chủ nghĩa Đại Tây Dương" như một hành động thống nhất và hợp tác giữa các nước NATO
Năm 1973, Mỹ đưa ra bản dự thảo "Hợp tác Đại Tây Dương" mới, trong đó muốn thể hiện mình như một người
Trang 29bảo vệ chủ nghĩa tư bản trên quy mô toàn cầu và khẳng
định sự phụ thuộc của khu vực Tây Âu vào Mỹ, nhưng
phải đến tháng 7 năm 1974, "Tuyên bố về quan hệ Đại Tây
Dương" mới được các nước thành viên NATO phê chuẩn
Sự thỏa hiệp này đã khởi động quá trình ổn định tương đối
của NATO, đồng thời tạo điều kiện cho Mỹ tăng cường sự
hiện diện về quân sự ở châu Âu Tuy nhiên, giữa các nước
thành viên NATO châu Âu cũng dần dần bộc lộ xu hướng
đổi mới nhằm tăng cường hơn nữa sự hợp tác trong khuôn
khổ nội bộ khu vực
Vào giữa những năm 70 của thế kỷ XX, việc củng cố các
quan hệ về chính trị, kinh tế và nhất là về quân sự giữa
các nước thành viên luôn được các nước NATO đặc biệt
quan tâm Tại Hội nghị cấp cao NATO tiến hành vào các
năm 1974, 1975 ở Brúc-xen, năm 1977 ở Luân Đôn và năm
1978 ở Oa-sinh-tơn, Mỹ và các nước NATO ở châu Âu đặc
biệt quan tâm đến những liên kết chính trị và chiến lược
của Khối Cuộc họp năm 1975 đã tập trung thảo luận và
thông qua những nguyên tắc bắt buộc đối với các thành
viên về các vấn đề chiến lược và đối ngoại quân sự của
NATO trong nửa cuối những năm 70; đồng thời tại hội
nghị này, các nước NATO cũng bước đầu phác thảo chiến
lược phối hợp nỗ lực chống lại các nước xã hội chủ nghĩa
Bước phát triển mới của Khối này trong việc chống lại các
nước xã hội chủ nghĩa được thể hiện qua kết quả Hội nghị
cấp cao NATO diễn ra tại Oa-sinh-tơn, tháng 5 năm 1978,
với việc thông qua văn kiện "Nghiên cứu Đông - Tây"; việc
bàn về quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa trong những
năm 80 của thế kỷ XX, về kế hoạch tăng cường phòng thủ
của Khối trong 15 năm tới
Nét đặc trưng đối với sự phát triển của NATO trong những năm 70-80 của thế kỷ XX là tiếp tục cuộc chạy đua vũ trang và tích cực chuẩn bị chiến tranh nhằm chống lại các biện pháp mang tính xây dựng do Liên Xô và khối Vác-xa-va
đề xuất như hạn chế vũ khí hạt nhân, tiến tới chấm dứt chạy
đua vũ trang, giảm tình hình căng thẳng trên thế giới
Đầu năm 1979, Hội nghị "Quản trị 4 bên" giữa nguyên thủ các nước Mỹ, Pháp, Anh, Cộng hoà liên bang Đức đã thảo luận về tình hình căng thẳng chính trị ở một số khu vực trên thế giới và vai trò của NATO đối với những vấn đề này Lãnh đạo của NATO lập luận rằng, giảm căng thẳng chính trị và tăng cường chính sách liên minh quân sự không đối lập nhau mà chúng luôn tạo điều kiện cho nhau Theo họ, các nước tư bản phương Tây chỉ có thể giảm căng thẳng chính trị trên cơ sở hợp tác liên minh quân sự Tổng thư ký NATO J Lăn-xơ nhấn mạnh, cần phải củng cố NATO thành "tổ chức phòng thủ" và đây chính là "công cụ
để phối hợp với chính sách đối ngoại trong tương lai gần"1 Một sự điều chỉnh nữa mang tính chất chiến lược của NATO trong thời gian này là chủ trương tích cực sử dụng một cách hiệu quả các hiệp ước và các thỏa thuận song phương, đa phương để củng cố hệ thống của Khối Vấn đề này được đặt ra bởi Mỹ có đại diện trong 4 khối quân sự (không kể SEATO) với hơn 40 thành viên và có quan hệ quân sự - chính trị song phương với 92 nước Các nước NATO khác cũng có các hợp tác tương tự Tháng 7 năm
1977, Tổng thống Mỹ J Ca-tơ tuyên bố, Mỹ phải xây dựng
"bức tranh thế giới mới bằng những mối quan hệ toàn cầu,
1 Chính sách khối quân sự của chủ nghĩa đế quốc, Sđd, tr 345
Trang 30khu vực và song phương"; trong đó, Mỹ đặc biệt quan tâm
"củng cố hợp tác" với các nước châu Phi, châu á và Mỹ
Latinh1 bởi đây là thị trường xuất khẩu vũ khí đầy tiềm
năng của Mỹ Nếu như vào những năm 60 của thế kỷ XX,
vũ khí của Mỹ chủ yếu được xuất sang các nước NATO ở
Tây Âu, Nhật và Ôx-trây-li-a thì đến những năm 70 của thế
kỷ XX đã chuyển sang các nước đang phát triển, trong đó
nhiều nhất là các nước Trung Đông Trong 10 năm
(1969-1978), xuất khẩu vũ khí của Mỹ tăng hơn 60%, riêng năm
1978 đạt tổng giá trị 13,7 tỉ đô la; Anh và Pháp tăng tương
ứng 3,6 và 6,0 lần; Cộng hòa liên bang Đức xuất khẩu các
loại vũ khí cho 54 nước với tổng trị giá 6,7 tỉ mác
Một xu hướng đổi mới của NATO trong thời kỳ này là
phối hợp sự hiện diện quân sự của các cường quốc ở hầu
khắp các khu vực bằng các căn cứ Không quân, Hải quân
và các liên binh đoàn chiến dịch của Hải quân
Sự đổi mới này nhằm thực hiện "Học thuyết Thái Bình
Dương" của Mỹ, đồng thời duy trì các nhân tố ảnh hưởng
quân sự của Pháp và Anh ở ấn Độ Dương và Đại Tây
Dương Việc thực hiện chính sách này được thúc đẩy bởi sự
phát triển không ngừng của kỹ thuật quân sự, trước hết là
hệ thống vũ khí chiến lược cũng như các phương tiện tác
chiến điện tử Với sự liên kết này, Mỹ tiếp tục duy trì
ngoài lãnh thổ nước mình một số lượng lớn căn cứ quân sự
Đến giữa những năm 70 của thế kỷ XX, Mỹ có 429 căn cứ
quân sự lớn và 2.297 căn cứ bổ trợ ở 40 nước với hơn nửa
triệu quân Nhằm đảm bảo cho hệ thống căn cứ quân sự
của Mỹ và NATO có khả năng khống chế toàn cầu, sau khi
1 USIS - Bulletin, 1977, 23 May
buộc phải rút khỏi lục địa châu á, Mỹ phối hợp với Pháp
và Anh bắt đầu xây dựng các căn cứ quân sự trên các
đảo ở ấn Độ Dương Việc tăng cường vai trò các căn cứ quân sự vừa tạo điều kiện chống lại xu hướng ly khai, vừa nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu của các lực lượng vũ trang trong Khối
Tuy nhiên, trong thời gian này, hệ thống khối chính trị - quân sự của Mỹ bị tổn thất nặng nề với sự giải thể của khối quân sự Đông Nam á (SEATO, năm 1977) và khối quân sự Trung tâm (CENTO, năm 1979) Mỹ chỉ còn lại khối quân sự Thái Bình Dương (ANZUS), khối quân sự Liên Mỹ (RIO) và khối NATO Do vậy, để lấp những khoảng trống do sự giải tán các khối trên để lại, Mỹ và các nước đồng minh buộc phải xây dựng các căn cứ quân sự cấp chiến lược và chiến dịch - chiến thuật trên phạm vi toàn cầu, nhất là ở khu vực châu á - Thái Bình Dương Các căn cứ này có mối liên hệ khá chặt chẽ với các khối quân
sự ANZUS và ANZUK Đi đôi với mở rộng hệ thống các căn
cứ quân sự là việc tăng cường khả năng cơ động chiến lược, chủ yếu là bằng cách xác lập "cầu hàng không" giữa Mỹ và Tây Âu để bảo đảm nhanh chóng tăng cường lực lượng NATO khi can thiệp vào các cuộc xung đột vũ trang trong
và ngoài lãnh thổ của các nước này
Trong quan hệ Đông - Tây, từ đầu thập kỷ 70, Mỹ và Liên Xô đã có những bước đi cụ thể nhằm làm giảm tình hình căng thẳng Tuy nhiên, trong cách nhìn nhận của NATO, giảm căng thẳng chỉ là một hiện tượng tạm thời Với quan điểm đó, thực chất, họ vẫn muốn tiếp tục thực hiện chính sách "Dựa trên sức mạnh" và chỉ thay đổi học thuyết chính trị và chiến lược quân sự một cách hình thức
Trang 31Bằng chứng là từ những năm 60 của thế kỷ XX, Z
Brê-din-xki đã đề ra "Lý thuyết phục hồi chủ nghĩa tư bản ở các
nước xã hội chủ nghĩa" Theo lý thuyết này, nhiệm vụ hàng
đầu của Mỹ và NATO là tập trung chia rẽ các nước xã hội
chủ nghĩa để tiêu diệt từng nước một Để thực hiện mục
tiêu đó, Mỹ và NATO cần "từng bước mở cửa để phương
Đông đón nhận ảnh hưởng của phương Tây" và đến một
giai đoạn nhất định của quá trình "giảm căng thẳng" sẽ
làm suy yếu một cách hiệu quả nhất "sự thống trị của Liên
Xô đối với Đông Âu"1, chứ không phải ngay lập tức tấn
công vào đối thủ mạnh nhất
Từ năm 1967, NATO chính thức thông qua chiến lược
"Phản ứng linh hoạt" như một chiến lược quân sự của Khối
trong bước phát triển mới Trong những năm tiếp theo, nội
dung của chiến lược này được bổ sung thêm các luận điểm
của "Học thuyết Ních-xơn", các quan điểm chính sách đối
ngoại của chính quyền Mỹ và của chính phủ nhiều nước
Tây Âu
Trong những năm 70 của thế kỷ XX, giới lãnh đạo các
nước NATO đã xác định những hướng chính trong chính
sách đối ngoại của NATO những năm 70 - 80 của thế kỷ XX
là: thừa nhận một phần các đường biên giới và thực thể
chính trị hình thành sau Chiến tranh thế giới thứ hai; tích
cực kích động "các xu hướng dân tộc, ly khai" nhằm phân hoá
cộng đồng các nước xã hội chủ nghĩa; phá hoại phong trào
cộng sản và công nhân ở các nước tư bản; cô lập các nước xã
hội chủ nghĩa và phong trào cộng sản với phong trào giải
1 Chính sách khối quân sự của chủ nghĩa đế quốc , Sđd, tr 355
phóng dân tộc, phong trào đấu tranh chống đế quốc của các lực lượng yêu chuộng hoà bình và tiến bộ xã hội
Theo quan điểm này, lãnh đạo NATO bắt đầu tập trung vào các hoạt động chính trị của Khối xung quanh các vấn
đề như phá hoại chính sách "Chung sống hoà bình" của các nước xã hội chủ nghĩa bằng thủ đoạn ngoại giao phối hợp với các biện pháp kinh tế và tư tưởng; gây căng thẳng và tạo tình thế khủng hoảng không chỉ ở châu Âu mà cả ở châu á, châu Phi và Mỹ Latinh; đồng thời tăng cường "can thiệp hoà bình" vào công việc nội bộ của các nước xã hội chủ nghĩa Theo ý đồ của các chiến lược gia NATO, những biện pháp đó sẽ dẫn đến "sự tiêu hoá bên trong" của chủ nghĩa xã hội, biến nó thành "hệ thống đa cực" và cuối cùng
sẽ trở lại với con đường tư bản chủ nghĩa
Các thủ đoạn chống phá các nước xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng được Mỹ và NATO thực hiện dưới nhiều chiêu bài như "tự do trao đổi thông tin", mở rộng "tiếp xúc cá nhân", hợp tác văn hoá và kinh tế, "bảo vệ nhân quyền" Cuộc họp thượng đỉnh của NATO tháng 12 năm 1978 đã tập trung nhấn mạnh ý nghĩa của "cuộc đấu tranh vì quyền con người", coi đó như một bộ phận chiến lược dài hạn của Khối và dự tính sẽ mở rộng cuộc đấu tranh này trên phạm vi toàn cầu
Trong quá trình đàm phán về các vấn đề giảm căng thẳng trên thế giới, chấm dứt chạy đua vũ trang, giảm quân số , Hội đồng NATO đã bác bỏ kiến nghị của Hội nghị Bu-ca-rét (năm 1976) và Mát-xcơ-va (năm 1978) của các nước Tổ chức Hiệp ước Vác-xa-va về giảm nguy cơ hạt nhân và đối đầu giữa hai khối Theo đuổi chủ trương tiếp tục chạy đua vũ trang và triển khai chiến lược quân sự mới
Trang 32của NATO, giới lãnh đạo của Khối đã đưa ra khái niệm
mới gọi là "Chiến lược kép" Tổng thanh tra Quân đội Cộng
hoà liên bang Đức, Tướng H Vút đã khái quát chiến lược
trên bằng công thức: "răn đe + giảm căng thẳng = an
ninh"1 Ông ta cho rằng, NATO không phải ưu tiên cho
việc giảm căng thẳng chính trị mà phải tăng cường sức
mạnh quân sự, rằng các khía cạnh quân sự phải đứng ở vị
trí hàng đầu trong chiến lược phát triển của Khối này
Cuộc họp thượng đỉnh của khối NATO năm 1977 tại
Luân Đôn đã chính thức thông qua khái niệm "Chiến lược
kép"; sau đó, các nhà lãnh đạo NATO tại kỳ họp năm 1978,
diễn ra ở Oa-sinh-tơn, đã cụ thể hoá chiến lược này để
thích ứng với những diễn biến mới trên trường quốc tế,
nhất là trong những năm tiếp theo của thập kỷ 80 Cơ sở
của chiến lược mới của NATO là học thuyết chính trị - đối
ngoại mới của Mỹ với phương châm "đối đầu và giảm căng
thẳng"; kết hợp giữa tăng cường sức mạnh với đối thoại và
các hình thức đối ngoại mềm dẻo khác nhằm tiếp tục
khẳng định vị trí bá quyền của Mỹ và các nước phương
Tây; đồng thời làm suy yếu các nước xã hội chủ nghĩa
Như vậy, chiến lược mới của NATO vẫn mang tính chất
chống chủ nghĩa xã hội như trước đây; tiếp tục thực hiện
chính sách "Dựa trên sức mạnh", gia tăng tiềm lực quân
sự, can thiệp vào công việc nội bộ của các nước xã hội chủ
nghĩa trên quy mô rộng lớn; cố gắng chia rẽ sự thống nhất
của cộng đồng xã hội chủ nghĩa và tiến tới xóa bỏ chế độ xã
hội chủ nghĩa; không ngừng mở rộng phạm vi ảnh hưởng
1 Chính sách liên minh quân sự của chủ nghĩa đế quốc, Sđd, tr 357
của khối NATO trên quy mô toàn cầu Điều đó đã vượt xa những giới hạn ghi trong Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương Năm 1971, khi Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ M Lây-đơ tuyên bố đưa ra chiến lược quân sự "Ngăn đe thực tế", Nhà Trắng và Lầu Năm Góc đã dự kiến động viên rộng rãi hơn nữa sức mạnh quân sự của các nước tư bản để đảm bảo chuyển từ phòng thủ sang tiến công trong điều kiện thay
đổi so sánh lực lượng và giảm căng thẳng trên thế giới Khác với các quan điểm chiến lược trước đây của Mỹ, chiến lược "Ngăn đe thực tế" dự kiến không chỉ sử dụng tiềm lực quân sự của Mỹ mà còn phải sử dụng ở mức độ nhiều hơn nguồn lực của các nước đồng minh Chiến lược này dự kiến
sẽ tiến hành 4 loại chiến tranh khác nhau:
1 Có thể bất ngờ gây chiến tranh hạt nhân bằng cách leo thang chiến tranh hạn chế giữa liên minh các quốc gia
có chế độ chính trị - xã hội đối lập;
2 Chiến tranh hạt nhân hạn chế có thể do các cường quốc châu Âu tiến hành trước tiên ở châu Âu trong trường hợp các lực lượng vũ trang của họ có khả năng hoàn thành nhiệm vụ đặt ra bằng cách sử dụng vũ khí thông thường;
3 Chiến tranh thông thường, dự kiến kết hợp giữa tiến công và phòng ngự trên các chiến trường khác nhau nhằm giành thế chủ động chiến lược;
4 Chiến tranh cục bộ, chủ yếu phải do các nước đồng minh Mỹ ở từng khu vực thực hiện
Theo quan điểm của giới lãnh đạo NATO, đối với châu
Âu, khả năng có thể xảy ra nhiều nhất là chiến tranh hạt nhân; do đó vị trí trọng tâm trong chiến lược "Ngăn đe thực tế" là chuẩn bị chiến tranh hạt nhân chống Liên Xô
và các nước Đông Âu Xuất phát từ quan điểm đó, NATO
Trang 33ráo riết tăng cường nghiên cứu vấn đề sử dụng vũ khí
hạt nhân trong "Chiến tranh hạt nhân hạn chế" cũng
như sử dụng các đòn hạt nhân "phô trương" như một nấc
thang cao nhất của chiến tranh sử dụng vũ khí thông
thường
Việc đề cao vai trò chủ đạo của khối NATO và các chiến
trường Trung, Bắc, Nam Âu cũng như ở Đại Tây Dương đã
tạo được mối quan hệ chặt chẽ giữa chiến lược mới của Mỹ
với chiến lược quân sự của NATO Trong các văn kiện của
NATO thời kỳ này, chẳng hạn như bản báo cáo "AD-70" về
vấn đề phát triển lực lượng vũ trang của Khối trong những
năm 70, thường nhấn mạnh tư tưởng cho rằng, chiến lược
của Khối là chiến lược "Phản ứng linh hoạt", đồng thời đưa
ra quy trình tiếp tục đổi mới các nguyên tắc chiến lược
quân sự của NATO nhằm gắn chặt hơn nữa chiến lược
quân sự với học thuyết chính trị đối ngoại và sử dụng rộng
rãi những thành tựu tiến bộ của khoa học - kỹ thuật trong
lĩnh vực quân sự Dần dần, chiến lược "Ngăn đe thực tế" đã
ngày càng tác động mạnh đến chiến lược "Phản ứng linh
hoạt" áp dụng trong NATO và làm cho chiến lược của Khối
có nhiều thay đổi
Một thay đổi chiến lược mang tính đột phá đối với
NATO trong giai đoạn này là sự điều chỉnh cả nội dung lẫn
mối quan hệ giữa các loại hình chiến tranh và các phương
án leo thang chiến tranh Do tạo được sự cân bằng tương
đối về lực lượng hạt nhân chiến lược, các cuộc chiến tranh
"khu vực" và "hạn chế" trở nên có ý nghĩa quan trọng Tính
độc lập tương đối của các loại hình chiến tranh, trước hết
là chiến tranh thông thường và chiến tranh hạt nhân hạn
chế, đã được khẳng định, nhưng không loại trừ khả năng
phát triển chiến tranh thông thường thành chiến tranh hạt nhân Chỉ lệnh năm 1977 của Bộ trưởng Quốc phòng các nước NATO về xây dựng lực lượng vũ trang của Khối giai đoạn 1979-1984 yêu cầu "các lực lượng vũ trang tương ứng của NATO" phải thực hiện chiến lược "Ngăn đe thực tế" trên quan điểm "tiền duyên", nghĩa là sử dụng vũ khí hạt nhân ngay từ đầu chiến tranh Trên thực tế, từ năm 1975, chỉ lệnh của các Bộ trưởng Quốc phòng NATO đã nhấn mạnh về mối quan hệ chặt chẽ giữa các lực lượng hạt nhân chiến lược và thông thường tạo thành một kiểu "bộ ba tia chớp"1, trong đó tính độc lập tương đối của mỗi nhân tố cấu thành bộ ba vẫn tiếp tục tăng lên Bên cạnh đó, NATO ngày càng quan tâm hơn đến vấn đề tiến hành chiến tranh trên biển và sử dụng Hải quân trong tất cả các loại hình chiến tranh cũng như vấn đề tổ chức hiệp đồng giữa Hải quân với Không quân và Lục quân
Theo thoả thuận giữa Mỹ và các thành viên khác của NATO, Nhóm Kế hoạch hạt nhân cần tiếp tục nghiên cứu các vấn đề về nguyên tắc sử dụng vũ khí hạt nhân chiến thuật; nâng cao hoặc hạ thấp mức độ sử dụng hay ngừng
sử dụng vũ khí hạt nhân; xoá bỏ ranh giới giữa sử dụng vũ khí thông thường và sử dụng vũ khí hạt nhân Phát triển tư duy đó, tháng 11 năm 1976, cựu Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang NATO ở Trung Âu, Tướng về hưu K Snen
đề xuất yêu cầu coi các đầu đạn hạt nhân loại nhỏ là "vũ khí thông thường" và việc quyết định sử dụng nó như thế nào nên giao cho các chỉ huy tương ứng của NATO Đề xuất này đã được lãnh đạo NATO chấp nhận và theo ý
1 Chính sách liên minh quân sự của chủ nghĩa đế quốc, Sđd, tr 362
Trang 34tưởng đó, NATO đã cải tiến được 7.200 đầu đạn hạt nhân
loại nhỏ của Mỹ đang bảo quản ở Tây Âu1
Từ nửa cuối thập kỷ 70, trong chiến lược phát triển của
mình, NATO ngày càng nhấn mạnh khả năng áp dụng
chiến tranh thông thường Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ
D Răm-spheo trong một báo cáo trình bày trước Quốc hội
năm 1976 đã nhấn mạnh, đối với NATO, "phương án phi
hạt nhân là hoàn toàn hiện thực" và cần xác định khả
năng chiến tranh thông thường kéo dài ở châu Âu Báo cáo
cũng chỉ rõ: "Mặc dù chúng ta hy vọng rằng xung đột sẽ
mang tính chất nhanh chóng và quyết liệt, song cũng phải
thấy rõ rằng, chúng ta không chỉ cần duy trì lực lượng vũ
trang ở Trung Âu mà còn sẵn sàng củng cố cho hướng Bắc
và Nam của NATO"2
Bộ Tổng tham mưu quân đội các nước thành viên
NATO lớn nhất ở châu Âu, đặc biệt là Cộng hoà liên bang
Đức và Anh, cũng chỉ ra khả năng tiến hành "Chiến tranh
thông thường" tổng lực ở châu Âu Quan điểm này được
đưa ra trên cơ sở "bước nhảy vọt về kỹ thuật" trong lĩnh
vực vũ khí thông thường, bước nhảy mà nhờ đó, theo cựu
Bộ trưởng Quốc phòng Cộng hoà liên bang Đức, vũ khí mới
của phương Tây sẽ có sức công phá không thua kém vũ khí
nguyên tử
Trong những năm 70 - 80 của thế kỷ XX, trong giới
lãnh đạo NATO ngày càng phổ biến quan điểm cho rằng,
do bước ngoặt bất ngờ của các sự kiện, quá trình giảm căng
thẳng chính trị sẽ được thay bằng sự căng thẳng quân sự
và điều đó sẽ dẫn đến chiến tranh ở châu Âu Chính cách
1, 2 Chính sách liên minh quân sự của chủ nghĩa đế quốc, Sđd, tr 363
đặt vấn đề này là cơ sở để xác định nội dung cho hàng loạt các cuộc tập trận của NATO ở châu Âu từ nửa cuối những năm 70 cho đến cuối những năm 80 của thế kỷ XX Lãnh
đạo NATO muốn bảo đảm ưu thế cho mình khi nổ ra chiến tranh thông thường; do vậy, hàng năm Khối này đều tổ chức các cuộc tập trận tham mưu và thực binh theo các phương án phù hợp với ý đồ chiến lược của NATO Chẳng hạn, các cuộc tập trận mang tên "Otum Fordj-1977" đã nghiên cứu các phương án tiến hành "Chiến tranh thông thường" và không sử dụng vũ khí hạt nhân, kiểm tra sự vận hành của hệ thống chỉ huy, nghiên cứu biện pháp liên kết các lực lượng vũ trang NATO nhằm phấn đấu đạt trình
độ chuẩn hoá cao về vũ khí và trang bị Ngoài mục đích nghiên cứu, các cuộc tập trận của NATO diễn ra liên tiếp (trung bình 3-5 lần/1 năm) với quy mô lớn còn mang tính chất phô trương sức mạnh quân sự và do đó, cản trở quá trình giảm căng thẳng và giải trừ quân bị
Ngoài các cuộc tập trận binh chủng hợp thành, các nước NATO còn tiến hành một số cuộc tập trận quân chủng độc lập Trong cuộc tập trận của Không quân, giới chức quân
sự NATO đã nghiên cứu nhiều vấn đề cấp bách như tổ chức phòng không của các nước trong Khối; phương thức tiến hành các chiến dịch đường không độc lập nhằm phá hủy các trung tâm chính trị và kinh tế của đối phương; vấn
đề cơ động đường không, tổ chức hiệp đồng giữa lực lượng Không quân các nước trong Khối Các cuộc tập trận của Hải quân thường nghiên cứu các vấn đề chuyển trạng thái các hạm đội từ thời bình sang thời chiến; triển khai tác chiến các lực lượng đột kích chủ yếu; động viên quân dự bị
và thực hành các chiến dịch độc lập đầu tiên; thực hành đổ
Trang 35bộ đường biển, chiến đấu trên các tuyến đường biển, các
phương án phòng thủ và bảo vệ công trình cầu cảng, hiệp
đồng giữa các hạm đội
Một số cuộc tập trận tham mưu và thực binh
của quân đội NATO trong những năm 70 1
Mật danh Năm tiến hành Nội dung diễn tập
"Sapeks" 1970-1978 Diễn tập Bộ chỉ huy tối cao NATO ở
"Refojer" * 1970-1971,
1973 (mùa
đông và mùa thu); 1974-
1979 (mùa
đông)
Vận chuyển quân Mỹ bằng đường không, kết thúc diễn tập chiến thuật ở Cộng hòa liên bang Đức
"Cold Fir" * 1974-1978 Diễn tập Không quân giành quyền chủ
động trên không và chi viện Lục quân
1 Chính sách liên minh quân sự của chủ nghĩa đế quốc, Sđd, tr 384
"Don Patrol" * 1970-1978 Diễn tập chiến dịch và chiến thuật ở khu
vực Địa Trung Hải về hoạt động của Hải quân đổ bộ đường biển
"Open Geyt"
(năm 1975 là
"Lokd Geyt"
1975-1978 Tập trận của Hải quân có Không quân
tham gia đánh mục tiêu trên biển và mặt
đất
"Bold Geym" 1974-1978 Cơ động các binh đoàn phóng lôi ở biển
Bắc và biển Ban-tích với sự tham gia của không quân trinh sát của Hải quân
(Từ 1975, các cuộc tập trận này được tiến hành trong khuôn khổ của seri "Otum Fordj-1977")
Bằng cách đổi mới chiến lược "Phản ứng linh hoạt", lãnh đạo NATO đã tìm kiếm được những khả năng mới để
sử dụng sức mạnh quân sự một cách hiệu quả hơn nhằm
đạt các mục tiêu chính trị đối ngoại của Khối Trong khi
đổi mới chiến lược, lãnh đạo NATO có tính đến các yếu tố như sự phát triển về kỹ thuật quân sự, kinh nghiệm cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam, cuộc chiến tranh
ả-rập - Ix-ra-en lần thứ tư ở Trung Đông, cuộc chiến ở Li-băng , qua đó tìm cách giảm thiểu hậu quả nguy hiểm của vấn về sử dụng vũ khí hạt nhân đối với Mỹ và các nước
đồng minh Điều đó cho thấy, sự điều chỉnh về chiến lược cũng như các bước đi thực tế của NATO đều nhằm làm cho chiến lược "Phản ứng linh hoạt" trở nên "mềm hơn" so với trước đây
Trong quá trình bàn luận về đổi mới chiến lược NATO, tiếng nói của các thành viên châu Âu ngày càng có trọng lượng hơn Chẳng hạn, Nhóm châu Âu của NATO đã đặt vấn đề "Âu hoá" một số nguyên tắc trong chiến lược quân
Trang 36sự mà các cơ quan của Liên minh phương Tây trong nhiều
năm cũng đã nghiên cứu Quá trình đổi mới chiến lược "Phản
ứng linh hoạt" của NATO trong giai đoạn này đã đem lại một
xung lực mới để tăng cường sức mạnh của Khối Giới lãnh
đạo NATO muốn nâng cao tối đa sức đột kích và khả năng
chiến đấu của lực lượng vũ trang trong Khối Đối với quá
trình giảm căng thẳng, họ tiếp tục khẳng định sự bảo đảm
duy nhất để duy trì hoà bình trên thế giới không phải là "giải
trừ quân bị" mà là hoàn thiện "hệ thống răn đe" Sự theo
đuổi chính sách này cuối cùng sẽ dẫn đến cuộc chạy đua vũ
trang mới và tăng đối đầu quân sự
Trong những năm 80 của thế kỷ XX, cùng với sự thay
đổi chiến lược quân sự toàn cầu của Mỹ, chiến lược của
NATO cũng được điều chỉnh với những khuynh hướng cơ
bản sau:
Một là, giữ nguyên mục tiêu chiến lược toàn cầu của
Mỹ, thống nhất quan điểm chiến lược trong Khối là tiếp
tục chống các nước xã hội chủ nghĩa, xoay ngược xu thế
của phong trào cách mạng thế giới
Hai là, quân sự vẫn là yếu tố chủ yếu trong đường lối
chung của Khối Bên cạnh các biện pháp cô lập chính trị,
bao vây kinh tế, phá hoại tư tưởng, chống các lực lượng
tiến bộ, phải đồng thời duy trì áp lực quân sự ở những nơi
có lợi và nếu có điều kiện sẽ không ngần ngại sử dụng trực
tiếp lực lượng vũ trang Vì vậy, thái độ cơ bản của giới lãnh
đạo NATO về giải trừ quân bị là đồng ý kiểm soát vũ
trang, giảm trang bị ở những khu vực bất lợi cho Khối
nhưng tiếp tục chạy đua vũ trang trong các khu vực có lợi
Ba là, mở rộng khu vực hoạt động của các lực lượng vũ
trang NATO trong phạm vi châu Âu; áp dụng chiến lược
chiến tranh chớp nhoáng bằng phương tiện hiện đại; duy trì và củng cố liên minh các lực lượng hạt nhân chiến lược, chiến dịch - chiến thuật giữa Mỹ - Anh - Pháp và các lực lượng phi hạt nhân của các nước NATO
Trên cơ sở các quan điểm trên, giới lãnh đạo NATO đề
ra kế hoạch mới nhằm đẩy mạnh khả năng tác chiến của lực lượng vũ trang NATO theo hai hướng: Không theo đuổi kiểu chiến tranh hủy diệt lẫn nhau bằng hạt nhân mà cố giành khả năng giáng đòn hạt nhân hủy diệt đầu tiên Nội dung của hướng này là tăng cường hiện đại hoá bộ phận vũ khí hạt nhân chiến lược, chiến dịch - chiến thuật của Mỹ, phát triển và hoàn thiện lực lượng hạt nhân của Anh và Pháp, xây dựng hệ thống tên lửa cho đến khi tạo ra được
hệ thống tên lửa toàn diện từ vũ trụ Với hướng thứ nhất,
Mỹ và các nước đồng minh NATO chủ trương tăng cường sức đột kích bằng cách đánh đòn vũ khí thông thường của Lục quân và Không quân Hướng đi chủ yếu là đưa vào ứng dụng các công nghệ then chốt sao cho chỉ bằng vũ khí thông thường vẫn có thể tiêu diệt được các mục tiêu chiến lược mà trước đây phải có vũ khí hạt nhân mới thực hiện
được Bên cạnh đó, NATO vẫn tiếp tục cuộc chạy đua vũ trang cả trên lĩnh vực vũ khí hạt nhân lẫn vũ khí thông thường, bao gồm:
1 Công khai "đe doạ hạt nhân"; dựa trên tiềm lực hạt nhân của Mỹ, Anh, Pháp để hiện đại hoá và xây dựng lực lượng hạt nhân của NATO; chuẩn bị xây dựng lực lượng hạt nhân của Cộng hoà liên bang Đức và các nước thành viên khác
2 Chống việc cắt giảm vũ khí hạt nhân chiến lược và tên lửa đạn đạo tầm trung
Trang 373 ủng hộ quan điểm của Mỹ về vũ trang trên vũ trụ,
xúc tiến chương trình SDI
4 Tiếp tục tăng cường chạy đua trên lĩnh vực vũ khí
thông thường Tất cả các nước NATO đều phải xây dựng
chương trình hiện đại hoá toàn diện lực lượng vũ trang của
mình
5 Tăng cường hợp tác chiến lược quân sự giữa Tây Âu
và Mỹ; cố gắng làm cho quan điểm của Anh, Pháp và Cộng
hoà liên bang Đức về các vấn đề chính trị - quân sự và
chiến lược xích lại gần nhau
Cuối thập kỷ 80 - đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, trước
những biến động mạnh mẽ và mau lẹ ở Liên Xô và Đông Âu,
giới lãnh đạo NATO đã tổ chức một số hội nghị đánh giá tình
hình và vạch ra chính sách mới nhằm "thích ứng với tình
hình mới" Tuy nhiên, tại Hội nghị cấp cao Luân Đôn
(tháng 7 năm 1990), giữa các thành viên NATO đã bộc lộ
nhiều mâu thuẫn trong khi vạch ra chính sách mới của Khối
này, đặc biệt đối với những thay đổi trong chiến lược "Phản
ứng linh hoạt" Các nước Tây Âu thấy cần phải xem xét lại
vai trò của Mỹ và cái ô hạt nhân của Mỹ ở khu vực này
Về phía Mỹ, Tổng thống G Bu-sơ xác định: Mỹ "vẫn là
cường quốc số một ở châu Âu với nghĩa rộng nhất" và "cơ sở
cho sự cam kết hoà bình của Mỹ ở châu Âu đã và sẽ tiếp
tục là NATO" Mỹ vẫn chứng tỏ sự thống trị của mình đối
với liên minh này ở châu Âu cho dù nơi đó không còn có sự
đối kháng Do vậy, NATO không những không bị giải thể
mà "phải được duy trì, phát triển, mở rộng hơn nữa",
"NATO phải là nền tảng đối với an ninh và hợp tác của
một châu Âu mới"
Trên cơ sở những quan điểm trên, tại cuộc họp thượng
đỉnh lần thứ 13 diễn ra tại Rô-ma (hai ngày 7 và 8 tháng 11 năm 1991), lãnh đạo NATO đã vạch ra chiến lược phát triển của Khối sau thời kỳ chiến tranh lạnh và thảo luận việc thiết lập thể chế hợp tác với Liên Xô và các nước Đông
Âu, đồng thời từng bước tăng cường mở rộng NATO sang hướng Đông
3 Cơ cấu tổ chức lực lượng và chương trình hiện đại hoá
vũ khí trang bị của NATO
Cơ cấu tổ chức lực lượng của NATO trong hai thập kỷ cuối thế kỷ XX tương đối ổn định, ít có sự xáo trộn Xuất phát từ chiến lược quân sự của Mỹ và của khối NATO, việc xây dựng các lực lượng hải, lục, không quân được xác định phải đáp ứng yêu cầu giải quyết nhiệm vụ chiến đấu một cách cơ động, linh hoạt trong mọi tình huống, ở mọi nơi trên trái đất; bất ngờ sử dụng các phương tiện sát thương khác nhau, kể cả vũ khí chiến lược Lãnh đạo Khối đặc biệt quan tâm đến việc tăng cường phát triển lực lượng Hải quân, Phòng không - không quân, vấn đề tổ chức chỉ huy, xây dựng chiến trường, xây dựng cơ sở hạ tầng và hiện đại hoá vũ khí trang bị
Về cơ cấu lực lượng vũ trang, lãnh đạo NATO chủ trương tiếp tục hoàn thiện và tìm cách sử dụng triệt để tiềm năng hiện có Từ năm 1974, Mỹ chuyển hẳn sang chế
độ bổ sung lực lượng bằng lính đánh thuê chuyên nghiệp Các nước NATO khác có xu hướng kết hợp tuyển quân với lính đánh thuê, trong đó tỉ trọng lính đánh thuê ngày càng tăng
Trang 38Quân số lực lượng vũ trang các nước thành viên NATO
Từ năm 1980, khối NATO thường xuyên duy trì một lực
lượng quân thường trực rất lớn
1 Tổng hợp theo: The Military Balance 1972/1973, 1974/1975,
1977/1978, 1978/1979; London 1972, 1974, 1977, 1978, 1979; Air Force
Magazine, 1979, December, p 134
Khu vực 1980 1985 1986 1987 1988
NATO thuộc châu Âu
sự Cộng hoà liên bang Đức ngày càng đòi hỏi phải được giữ các vị trí then chốt trong NATO Mùa thu năm
1977, NATO biên chế thêm một Phó tổng tư lệnh tối cao tại châu Âu cho đại diện Đức, do Phó tổng thống Đức Smiu-klơ đảm nhiệm
Trang 39Cùng với việc tăng cường lực lượng vũ trang NATO ở
châu Âu, trước hết là Trung Âu, Mỹ vẫn tiếp tục sự hiện
diện quân sự của mình ở Tây Âu Từ năm 1976, Mỹ bắt
đầu thành lập Quân đoàn 3 thuộc Tập đoàn quân dã chiến
số 7 đóng ở Tây Âu Đến tháng 1 năm 1979, ở châu Âu có
329.700 quân Mỹ, trong đó ở Tây Đức là 234.300, Anh:
22.000, I-ta-li-a: 12.100, Tây Ban Nha: 8.800, Thổ Nhĩ Kỳ:
4.800, Ai-xơ-len: 2.800, Hà Lan: 2.200, Bỉ: 2.000, Bồ Đào
Nha: 1.400, các nước châu Âu khác: 800 quân; trong thành
phần Hạm đội 6 Mỹ có 34.800 quân1 ở Cộng hoà liên bang
Đức, ngoài quân Mỹ còn có quân Anh, Pháp, Bỉ, Hà Lan và
Ca-na-đa Tổng số quân đội nước ngoài trên lãnh thổ Đức
lên tới 378.900 quân Đến năm 1982 tăng thêm 3 sư đoàn
Mỹ ở châu Âu Ngoài ra, khả năng vận chuyển nguồn lực
từ Mỹ và Ca-na-đa vào châu Âu cũng được tăng cường, chỉ
trong vòng 2 tuần có thể tăng gấp đôi số lượng Lục quân
và gấp ba lần quân số Không quân chiến thuật
Các lực lượng vũ trang Mỹ, Anh, I-ta-li-a, Thổ Nhĩ Kỳ
trong cụm chiến lược phía nam châu Âu là cụm đứng thứ
hai về quân số trong các cụm lực lượng NATO ở châu Âu
Lực lượng chiến đấu chính là Hạm đội 6 Mỹ được trang bị
lại bằng những tàu chiến và máy bay hiện đại Hàng
không mẫu hạm nguyên tử mới và lớn nhất là "Nimitz"
của Mỹ cũng được trang bị cho hạm đội này Năm 1976,
Anh rút lực lượng Hải quân khỏi Địa Trung Hải, nhưng
cũng năm này, Pháp lại chuyển cả hai cụm hàng không
mẫu hạm từ Đại Tây Dương sang Địa Trung Hải làm cho
tiềm lực quân sự của các nước Tây Âu ở khu vực này tăng
1 U.S News and World report, 25 December 1978/ 1 January 1979
lên đáng kể Tuy nhiên, việc Hy Lạp rút ra khỏi NATO đã làm yếu đi hướng Nam của Khối Do vậy, lãnh đạo Khối phải nỗ lực củng cố các quan hệ chính trị với Bồ Đào Nha
và Tây Ban Nha, tìm cách lôi kéo Tây Ban Nha tham gia NATO Sau khi CENTO tan rã, Thổ Nhĩ Kỳ có ý nghĩa mới
về chất đối với NATO như một tiền đồn ở hướng đông nam của Khối
Bên cạnh việc phát triển lực lượng vũ trang chung, trong giai đoạn này, lãnh đạo Khối hết sức quan tâm đến việc tăng cường phát triển lực lượng Hải quân và Phòng không - không quân
Nhằm tăng cường sức mạnh của Hải quân, tháng 5 năm
1973, ủy ban quân sự NATO quyết định thành lập thêm cụm lực lượng mới gọi là "Lực lượng Hải quân thường trực ở khu vực vịnh Măng-sơ", Bộ tư lệnh đóng ở Os-ten Thành phần gồm các lực lượng nhẹ của Hải quân Hà Lan, Anh, Bỉ
là hạt nhân của hải quân NATO ở biển Măng-sơ và biển Bắc Cũng trên cơ sở đó, "Hạm đội Bắc Hải" đã được hình thành
Đối với lực lượng Hải quân từng nước, việc trang bị các tàu chiến mới, cải tiến trang bị lại các tàu cũ và loại bỏ các tàu đã lỗi thời được giới lãnh đạo NATO đặc biệt quan tâm Trong lực lượng Hải quân các nước NATO, Hải quân
Mỹ và Hải quân Anh được đánh giá là hiện đại nhất, đóng vai trò quan trọng trong chiến lược quân sự của Khối
Để tăng cường phát triển lực lượng Phòng không - không quân, tháng 6 năm 1974, Bộ tư lệnh Không quân thống nhất của NATO ở Trung Âu được thành lập, gồm Tập đoàn không quân chiến thuật số 2 và số 4 Bộ tư lệnh Không quân thống nhất ra đời nhằm mục đích chỉ đạo chặt chẽ hơn toàn bộ lực lượng Không quân nằm ở khu vực giữa
Trang 40biển Bắc Hải và dãy núi An-pơ, bảo đảm việc sử dụng các
lực lượng Không quân một cách hiệu quả hơn Vấn đề hoàn
thiện hệ thống chỉ huy lực lượng vũ trang nói chung và lực
lượng Không quân, phòng không nói riêng cũng được đặc
biệt chú ý trong kế hoạch quân sự của NATO Theo quan
điểm của khối NATO, cần tập trung sự chỉ đạo, điều hành
lực lượng Không quân và phòng không vào một người chỉ
huy và một cơ quan chỉ huy thống nhất
Vào đầu những năm 80, trong thành phần lực lượng vũ
trang của tất cả các nước thành viên trong Khối ở châu Âu
đều tổ chức các tập đoàn Không quân mạnh Lãnh đạo các
tập đoàn quân này là các bộ chỉ huy Không quân thống
nhất (OBBC) Để sử dụng lực lượng và phương tiện phòng
không có hiệu quả hơn, khu vực phòng không được chia
thành Phòng không chi khu và tiểu khu Những tổ chức
Phòng không này còn đóng vai trò là đại diện của lực lượng
Không quân khối NATO Vì thế, Bộ chỉ huy Không quân
chiến thuật số 2 và số 4 (OTK-2, 4) đồng thời cũng là Bộ
chỉ huy của các lực lượng Phòng không khu vực tương ứng
Trong thành phần Bộ chỉ huy Không quân chiến thuật
thống nhất có các binh đoàn và binh đội Không quân,
phòng không của các nước thành viên được tổ chức trong
một tổ chức thống nhất và làm nhiệm vụ phù hợp với các
kế hoạch tác chiến của các liên binh đoàn này Ví dụ, trong
cơ cấu Bộ chỉ huy Không quân chiến thuật thống nhất của
NATO ở châu Âu có Sư đoàn yểm trợ không quân chiến
thuật số 3 và Sư đoàn phòng không số 4 của Bộ chỉ huy
Không quân chiến thuật Cộng hoà liên bang Đức, Bỉ, Hà
Lan; Bộ chỉ huy Không quân Anh, Cộng hoà liên bang
Đức, Liên đội không quân tiêm kích chiến thuật 32 của
Không quân Mỹ đều làm nhiệm cụ chủ yếu là phòng không Trong Bộ chỉ huy Không quân chiến thuật thống nhất trên, các tập đoàn Không quân số 3, 17, Sư đoàn yểm trợ hàng không số 1, Sư đoàn phòng không số 2 của Mỹ, Bộ chỉ huy Không quân chiến thuật Cộng hoà liên bang Đức
và Tập đoàn Không quân Ca-na-đa được đánh giá cao trong quá trình hoàn thiện cơ cấu chỉ huy thống nhất của lực lượng Không quân, phòng không NATO
Để nâng cao hiệu quả ứng phó với các tình huống khủng hoảng, lãnh đạo NATO rất quan tâm đến việc hoàn thiện hệ thống chỉ huy, tổ chức trinh sát Điều này được thể hiện bằng việc đưa các sĩ quan có kinh nghiệm, chủ yếu là của Mỹ, Anh và Đức vào các cơ quan lãnh đạo, chỉ huy quân sự của Khối; thường xuyên đổi mới, hiện đại hoá các cơ quan và phương tiện chỉ huy thông tin, trinh sát cũng như phối hợp hoạt động với các cơ quan tình báo thông qua cơ quan đặc biệt của Tổng thư ký NATO Thành phần của cơ quan này gồm những người đứng đầu ngành cơ mật của các nước thành viên NATO, Trưởng phòng Tình báo quân sự thuộc Bộ tham mưu thống nhất và Trưởng ban trao đổi thông tin thuộc Nhóm Kế hoạch hạt nhân Cơ quan tham mưu và các cấp lãnh đạo khác của NATO thường xuyên tích cực tham gia diễn tập xử trí các tình huống như "tình huống khủng hoảng" và "bất ngờ tuyên chiến trong điều kiện giảm căng thẳng chính trị" hoặc "tình hình quốc tế nhanh chóng trở nên phức tạp" Trong các cuộc diễn tập tham mưu chỉ huy "Untaks", các cấp lãnh đạo NATO tập hiệp đồng giữa lãnh đạo dân sự với quân sự Từ năm 1978 trở đi, trong Khối quy định 4 cấp trực thuộc của lực lượng vũ trang gồm: các đơn vị trực