Trước tình hình đó một vấn đề được đặt ra và cần được nghiên cứu là giải pháp nào cho việc nâng cao chất lượng dịch vụ của hợp tác xã ngoài sự đổi mới cơ chế quản lý phù hợp với cơ chế,
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
HUYỆN HOẰNG HÓA, TỈNH THANH HÓA
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Những kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực, của tôi, không vi phạm bất cứ điều gì trong luật sở hữu trí tuệ và pháp luật Việt Nam Nếu sai, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật
Hà Nội , ngày tháng năm 2018
Tác giả
Trang 3Sự giúp đỡ của Lãnh đạo Ủy ban nhân dân huyện Hoằng Hóa và gia đình, bạn bè đã luôn quan tâm, động viên và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
2.1 Mục tiêu tổng quát 3
2.2 Mục tiêu cụ thể 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
4 Nội dung nghiên cứu 4
5 Kết cấu của luận văn 4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ CỦA CÁC HỢP TÁC XÃ DỊCH VỤ NÔNG NGHIỆP 5 1.1 Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng dịch vụ của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp 5
1.1.1 Những lý luận chung về hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp 5
1.1.2 Nâng cao chất lượng dịch vụ của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp 11
1.1.3 Yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp 17
1.2 Cơ sở thực tiễn về nâng cao chất lượng dịch vụ của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp 20
Trang 51.2.1 Kinh nghiệm của các nước trên thế giới và ở Việt Nam về nâng cao
chất lượng dịch vụ của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp 20
1.2.2 Bài học kinh nghiệm cho huyện Hoằng Hóa 33
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Hoằng Hóa 35
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 35
2.1.2 Đặc điểm kinh tế-xã hội 41
2.2 Phương pháp nghiên cứu 46
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 46
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 46
2.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 47
2.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá sử dụng trong luận văn 48
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 49
3.1 Thực trạng chất lượng dịch vụ của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp huyện Hoằng Hóa 49
3.1.1 Khái quát tình hình các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp huyện Hoằng Hóa 49
3.1.2 Thực trạng chất lượng dịch vụ của các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp huyện Hoằng Hóa 62
3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa 72
3.2.1 Cở sở vật chất và nguồn vốn 72
3.2.2 Trình độ của cán bộ HTX 74
3.2.3 Nhu cầu về sử dụng dịch vụ của xã viên 76
3.2.4 Chủ trương, chính sách 79
3.3 Đánh giá chung về chất lượng dịch vụ của các HTX trên huyện 80
3.3.1 Những mặt đạt được 80
Trang 63.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 81 3.4 Các giải pháp nâng cao chất lƣợng dịch vụ của các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa 82 3.4.1 Căn cứ đề xuất giải pháp 82 3.4.2 Một số giải pháp nâng cao chất lƣợng dịch vụ của các hợp tác xã dịch
vụ nông nghiệp huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa 84 3.4.3 Kiến nghị 91 KẾT LUẬN 94 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC PHIẾU ĐIỀU TRA
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Thiệu Hóa năm 2017 45
Bảng 2.2 Giá trị sản xuất theo ngành kinh tế của huyện 45
Bảng 3.1 Số lượng HTX và xã viên trên địa bàn huyện 49
Bảng 3.2 Trình độ cán bộ quản lý HTX của huyện Hoằng Hóa 51
Bảng 3.3 Mức độ đảm nhiệm dịch vụ theo loại hình dịch vụ của các HTX 53
Bảng 3.4 Tình hình tài sản vốn quỹ các HTX DVNN huyện Hoằng Hóa 59
Bảng 3.5 Kết quả hoạt động kinh doanh theo loại dịch vụ của HTXDVNN 61 Bảng 3.6 Đánh giá của xã viên về giá cả dịch vụ HTX cung ứng 63
Bảng 3.7 Đánh giá phong cách, thái độ phục vụ của HTX 65
Bảng 3.8 Đánh giá về thời gian cung cấp dịch vụ của HTX 67
Bảng 3.9 Đánh giá về mức độ đầy đủ của dịch vụ HTX 70
Bảng 3.10 Bảng tính tỷ lệ ý kiến đánh giá chất lượng về cở sở vật chất của HTX 73
Bảng 3.11 Đánh giá vốn ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ của HTX 74
Bảng 3.12 Trình độ cán bộ quản lý cán bộ HTX điều tra 75
Bảng 3.13 Tổng hợp ý kiến đánh giá sự cần thiết về các dịch vụ của HTX từ xã viên, nông dân 78
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Trên thế giới, mặc dù mỗi nước có chế độ chính trị khác nhau nhưng đều coi HTX là một mô hình giúp hộ gia đình nông dân nói riêng, người nghèo nói chung liên kết lại với nhau để trụ vững trong nền kinh tế thị trường, đồng thời đây là một hiệp thương khách quan do nhu cầu liên kết cùng có lợi của những người sản xuất hàng hóa Tuy bước đi, hình thức giữa các nước có khác nhau nhưng chung quy lại là Chính phủ các quốc gia đều mong muốn tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, thúc đẩy HTX phát triển Hợp tác xã nông nghiệp là loại hình tổ chức kinh tế đã tồn tại trên một thế kỷ và phát triển
ở hầu hết các nước trên thế giới Tại nhiều nước, phong trào hợp tác xã phát triển rất mạnh, có những đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng kinh tế và góp phần đáng kể vào việc tạo ra sự ổn định, công bằng xã hội
Các hình thức hợp tác xã cũng đã ra đời từ rất sớm ở nước ta Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, điển hình có hợp tác xã Dân Chủ ở Thái Nguyên, cách nay đã gần 60 năm Quá trình phát triển kinh tế hợp tác xã trải qua các giai đoạn cách mạng đã có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Bước vào thời kỳ đổi mới, từ năm 1986 đến cuối những năm 90 của thế kỷ XX, do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là chuyển đổi cơ chế quản lý, thay đổi cơ cấu tổ chức quản lý của hệ thống hợp tác xã, những yếu kém, khuyết tật và bất cập của mô hình cũ trong điều kiện mới nên khu vực hợp tác xã đã lâm vào một cuộc khủng hoảng sâu sắc, nhiều hợp tác xã tan rã Đến tháng 12/1996, trước khi thực hiện Luật hợp tác xã, cả nước chỉ còn lại 17.462 hợp tác xã (so với trên 79.000 hợp tác xã thời điểm trước năm 1986) Trong đó, giảm nhiều nhất là các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, hợp tác xã tín dụng,
số hợp tác xã mua bán còn lại không đáng kể
Trang 10Vào năm 1996 khi Luật HTX ra đời, với hệ thống hành lang pháp lý rõ ràng hơn trước, đã làm cho bản chất HTX thay đổi theo hướng tích cực, nhờ
đó tạo điều kiện cho các HTX ngày càng phát triển Hiện nay ở nước ta hầu hết các HTX đã được chuyển đổi, đổi mới cơ chế quản lý theo luật, hệ thống các Thông tư, Nghị định, Luật HTX 2012 và các chính sách phát triển HTX
đã từng bước đi vào cuộc sống, những HTX điển hình tiên tiến hiện nay là minh chứng quan trọng về mô hình HTX kiểu mới phù hợp trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa là một huyện đồng bằng dân số hầu hết là làm nông nghiệp, tính đến hết năm 2016 trên địa bàn có 27 HTX dịch
vụ nông nghiệp Trong những năm qua các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp với phương thức hoạt động kinh doanh dịch vụ nông nghiệp thiết yếu như: dịch vụ thủy nông, dịch vụ khuyến nông, dịch vụ bảo vệ thực vật, dịch vụ thú
y, dịch vụ làm đất, dịch vụ điện, dịch vụ cung ứng giống, vật tư nông nghiệp với mục tiêu phục vụ cho xã viên HTX chứ không phải là lợi nhuận Tuy nhiên trong quá trình phục vụ, chất lượng dịch vụ chưa đảm bảo với với yêu cầu ngày càng cao trong sản xuất nông nghiệp Trước tình hình đó một vấn đề được đặt ra và cần được nghiên cứu là giải pháp nào cho việc nâng cao chất lượng dịch vụ của hợp tác xã ngoài sự đổi mới cơ chế quản lý phù hợp với cơ chế, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế để làm định hướng cho việc phát triển mô hình hợp tác xã trên địa bàn huyện Hoằng Hóa nói riêng và của tỉnh Thanh Hóa nói chung được tốt và đồng bộ hơn Từ lý luận và thực tiễn đó; tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: ―Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa‖
Trang 112 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở đánh giá thực trạng, chất lượng dịch vụ của hợp tác xã dịch
vụ nông nghiệp, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
- Hoạt động dịch vụ của các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp
- Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động dịch vụ cho xã viên của các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp
3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Phạm vi về nội dung:
Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp và đánh giá của xã viên về chất lượng dịch vụ của các hợp tác xã dịch
vụ nông nghiệp của huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa
* Phạm vi về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Trang 12* Phạm vi về thời gian:
- Thu thập số liệu thứ cấp từ năm 2015 đến năm 2017
- Thu thập số liệu sơ cấp từ 11/2017 đến 4/2018
4 Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao chất lượng dịch vụ của hợp tác
xã dịch vụ nông nghiệp
- Thực trạng chất lượng dịch vụ của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa
- Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa
- Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa
5 Kết cấu của luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao chất lượng dịch vụ của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp
Chương 2: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ CỦA CÁC HỢP TÁC XÃ DỊCH VỤ NÔNG NGHIỆP 1.1 Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng dịch vụ của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp
1.1.1 Những lý luận chung về hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp
Theo Luật hợp tác xã (2012), hợp tác xã là một tổ chức kinh tế tập thể
do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật này để phát huy sức mạnh của tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất tinh thần, góp phần phát triển kinh tế- xã hội của đất nước (Luật hợp tác xã, 2012) Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân,
tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều
lệ, vốn tích luỹ và nguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy định của pháp luật (Luật hợp tác xã, 2012)
Theo định nghĩa của Liên minh HTX quốc tế: HTX là một tổ chức chính trị của những người tự nguyện liên hiệp lại để đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng chung của họ về kinh tế, xã hội và văn hoá thông qua một xí nghiệp cùng sở hữu và quản lý dân chủ‖ Định nghĩa này còn được hiểu như
Trang 14sau: ―HTX dựa trên ý nghĩa tự cứu mình, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng, công bằng và đoàn kết, theo truyền thống của những người sáng lập ra HTX, các xã viên HTX tin tưởng vào ý nghĩa đạo đức về tính trung thực, cởi mở, trách nhiệm xã hội và quan tâm chăm sóc người khác
Hợp tác xã nông nghiệp (HTX NN) là một trong các hình thức cụ thể của kinh tế HTX trong nông nghiệp, là tổ chức kinh tế của những người nông dân có cùng nhu cầu và nguyện vọng, tự nguyện liên kết lại để phối hợp giúp nhau phát triển kinh tế hoặc đáp ứng nhu cầu về đời sống của mỗi thành viên, tổ chức và hoạt động theo các nguyên tắc pháp lệnh quy định, có tư cách pháp nhân
Như vậy, hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp là tổ chức kinh tế nông nghiệp được tách hẳn để làm chức năng dịch vụ nông nghiệp, nó hoạt động theo Luật HTX, là một hoại hình HTX kiểu mới Hoạt động của HTXDVNN bao gồm: Dịch vụ các yếu tố đầu vào, đầu ra, dịch vụ các khâu cho sản xuất nông nghiệp, các HTXDVNN được tổ chức với mục đích phục vụ cho sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân, nó không hoạt động nhằm mục đích lợi nhuận Mô hình HTXDVNN ở nước ta chủ yếu được phân thành ba hình thức: Dịch vụ chuyên khâu, dịch vụ chuyên ngành và dịch vụ tổng hợp
- HTXDVNN chuyên khâu: HTX có nội dung hoạt động tập trung ở từng khâu công việc trong quá trình sản xuất và phục vụ cho sản xuất hoặc từng lĩnh vực trong quá trình tái sản xuất Ví dụ: HTX tín dụng, HTX mua bán, HTX chuyên dịch vụ về tưới tiêu
- HTXDVNN tổng hợp: HTX này đảm nhiệm nhiều khâu dịch vụ cho sản xuất nông nghiệp Tùy thuộc vào đặc điểm, điều kiện, trình độ sản xuất và tập quán ở từng vùng, từng địa phương mà nhu cầu của nông hộ đối với từng loại hình dịch vụ có khác nhau Ở khu vực đồng bằng thì chủ yếu là trồng lúa nước thì HTX có thể thực hiện các khâu dịch vụ sau: cung ứng giống, vật tư, tưới tiêu, bảo vệ thực vật, bảo vệ sản xuất còn đối với những vùng có mức
Trang 15bình quân ruộng đất và mức độ cơ giới hóa cao, nông hộ cần thêm khâu dịch vụ làm đất, thu hoạch và sửa chữa cơ khí, vận chuyển sản phẩm đến nơi tiêu thụ
- HTXDVNN chuyên ngành: HTX này được hình thành từ nhu cầu của các hộ xã viên cùng sản xuất kinh doanh một loại hàng hóa tập trung, hoặc cùng làm một nghề giống nhau HTX thực hiện các khâu dịch vụ của kinh tế
hộ như chọn giống, cung ứng vật tư, trao đổi hướng dẫn kỹ thuật, dịch vụ, vận chuyển và tiêu thụsản phẩm, đại diện các hộ thành viên quan hệ với cơ sở chế biến nông sản
1.1.1.2 Vai trò của hợp tác xã trong phát triển sản xuất nông nghiệp
HTX có vai trò to lớn trong việc thúc đẩy phát triển sản xuất kinh tế hộ nông dân từ đó thúc đẩy nền nông nghiệp phát triển, đặc biệt HTX DVNN với mục tiêu cơ bản là làm dịch vụ nông nghiệp nhằm hỗ trợ cho kinh tế hộ phát triển góp phần quan trọng trong thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ nguồn nông nghiệp tự cấp tự túc sang sản xuất theo hướng hàng hóa;
Nhờ có hoạt động dịch vụ của HTX các yếu tố đầu vào và các khâu dịch vụ cho hoạt động sản xuất nông nghiệp được cung cấp kịp thời đầy đủ và đảm bảo chất lượng Từ đó nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nông dân, từng bước xây dựng nông thôn mới theo hướng CNH-HĐH Cùng với việc đảm bảo thực hiện tốt một số khâu dịch vụ nhằm hỗ trợ sản xuất của nông dân, các hoạt động dịch vụ của HTX còn góp phần ngăn chặn những tiêu cực do tác động của cơ chế thị trường mang lại, bằng cách cung cấp thông tin kịp thời tới người dân dịch vụ đầu vào và đầu ra Bên cạnh đó tạo điều kiện cho nông dân thực hiện những chính sách xã hội, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật,
cơ sở hạ tầng chung, tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn;
Thông qua hoạt động dịch vụ, vai trò điều tiết sản xuất của HTX được thực hiện, sản xuất của hộ nông dân được thực hiện theo hướng tập trung tạo
Trang 16điều kiện hình thành các vùng sản xuất tập trung chuyên môn hóa Đòi hỏi sản xuất của hộ nông dân phải thực hiện thống nhất trên từng cánh đồng về chủng loại giống, về thời vụ gieo trồng và chăm sóc
HTX còn là nơi tiếp nhận những phần hỗ trợ của nhà nước về sản xuất nông nghiệp cho nông dân Vì vậy, hoạt động của HTX có vai trò là cầu nối giữa Nhà nước với hộ nông dân một cách có hiệu quả Trong một số trường hợp khi có nhiều tổ chức tham gia hoạt động dịch vụ cho hộ nông dân thì hoạt động của HTX là đối trọng buộc các đối tượng phải phục vụ tốt cho nông dân
Trong Đại hội Đảng IX, đường lối phát triển kinh tế hợp tác và HTX đã được xác định rõ ràng hơn: Kinh tế Nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân, Kinh tế tập thể phát triển với nhiều hình thức hợp tác đa dạng, trong đó HTX là nòng cốt
1.1.1.3 Đặc trưng của HTX và hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp
* Đặc trưng của HTX
Từ những quy định trong Luật HTX năm 2012 và các Nghị Quyết dưới Luật hướng dẫn triển khai Luật HTX có thể rút ra một số đặc trưng cơ bản về HTX kiểu mới như sau:
Thứ nhất, HTX là tổ chức kinh tế tự chủ của những người lao động có nhu cầu, lợi tích chung tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo luật định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên, nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất kinh doanh và cải thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước HTX có tư cách pháp nhân, có tổ chức chặt chẽ, hạch toán động lập, tự chịu trách nhiệm
về các hoạt động của mình và được đối xử bình đẳng như các thành phần kinh
tế khác;
Thứ hai, về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của HTX: Khi hoạt động, các HTX phải tuân thủ theo 5 nguyên tắc cơ bản là: tự nguyện gia nhập và rút
Trang 17khỏi HTX theo quy định của điều lệ HTX; quản lý dân chủ và bình đẳng; mỗi
xã viên có quyền ngang nhau trong biểu quyết; tự chịu trách nhiệm và cùng
có lợi; chia lãi bảo đảm kết hợp lợi ích của xã viên với sự phát triển của HTX, của cộng đồng và do đại bộ phận xã viên quyết định Luật HTX năm 2012 khẳng định: HTX hoạt động nhƣ một loại hình doanh nghiệp;
Thứ ba, quan hệ sở hữu và phân phối trong HTX: Khi gia nhập HTX mỗi xã viên buộc phải góp vốn theo quy định của điều lệ, vốn góp có thể nhiều hơn mức tối thiểu, nhƣng không đƣợc quá 30% tổng số vốn điều lệ của HTX Cùng với vốn góp của xã viên, vốn hoạt động của HTX còn bao gồm vốn đƣợc tích lũy trong quá trình hoạt động và các nguồn khác nhƣ: giá trị tài sản đƣợc cho, biếu, tặng Phần vốn góp của xã viên thuộc sở hữu của từng xã viên Các nguồn vốn khác thuộc sở hữu chung của HTX, quyền sử dụng toàn
bộ tài sản thuộc về HTX;
Thứ tƣ, xã viên HTX: xã viên HTX có thể là cá nhân hoặc hộ gia đình hoặc pháp nhân, mỗi xã viên có thể đồng thời là xã viên của nhiều HTX, không phân biệt ngành nghề, địa giới hành chính Mỗi xã viên đều bình đằng
về quyền lợi và nghĩa vụ Mỗi xã viên có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ theo quy định của điều lệ nhƣ: góp vốn vào HTX và chia sẻ mọi rủi ro của HTX theo mức vốn đóng góp thực hiện cam kết kinh tế với HTX;
Thứ năm, quan hệ giữa HTX và xã viên: quan hệ giữa các xã viên đƣợc xây dựng chủ yếu trên cơ sở quan hệ kinh tế Nó đƣợc xác lập từ nhu cầu phát triển sản xuất, tăng thu nhập của các thành viên HTX HTX tôn trọng quyền độc lập, tự chủ kinh tế của xã viên Trong HTX nông nghiệp, xã viên là hộ, trang trại gia đình, hoặc đại diện hộ, đó là những đơn vị kinh tế tự chủ tham gia vào HTX với trách nhiệm, nghĩa vụ và lợi ích theo điều lệ quy định Sự hình thành và phát triển HTX nông nghiệp không phá vỡ tính độc lập, tự chủ của kinh tế hộ trang trại gia đình, nó có tác dụng tạo điều kiện phát triển, tăng
Trang 18thu nhập cho kinh tế của hộ xã viên Trên cơ sở đó thúc đẩy sự phát triển của kinh tế HTX;
Thứ sáu, điều kiện thành lập, hoạt động và giải thể HTX: khi thành lập HTX phải có Điều lệ, Phương án sản xuất kinh doanh cụ thể có tính khả thi, được Đại hội xã viên thông qua và cơ quan chức năng phê duyệt Trong trường hợp giải thể tự nguyện theo nghị quyết của đại hội xã viên hoặc bị buộc phải giải thể theo quyết định của pháp luật HTX phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với cơ quan có thẩm quyền Đại hội xã viên hoặc đại hội đại biểu xã viên có quyền quyết định cao nhất đối với mọi hoạt động của HTX HTX có quyền thiết lập quan hệ hợp tác với các HTX khác ở trong nước và nước ngoài, tham gia tổ chức liên minh HTX Việt Nam theo quy định của pháp luật Thứ bảy, HTX là một tổ chức kinh tế do các thành viên có nhu cầu tự nguyện lập ra, nó không phải là một tổ chức xã hội HTX hoạt động theo quy định của pháp luật trước hết vì mục tiêu kinh tế HTX chỉ chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ xã hội đối với các xã viên của chính HTX, không thể biến HTX thành tổ chức xã hội hoặc bắt buộc HTX làm nhiệm vụ như một tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị của địa phương
Chính phủ thống nhất thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với HTX trong phạm vi cả nước theo các nội dung sau: xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển HTX, ban hành điều lệ mẫu cho các loại hình HTX, ban hành chính sách ưu đãi, hỗ trợ điều kiện hoạt động cho HTX, liên minh các HTX quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cá bộ, ngành, các cấp chính quyền đối với HTX thực hiện chức năng thanh tra, kiểm soát theo quy định của pháp luật
* Đặc trưng của HTXDVNN
- Những đặc trưng cơ bản của HTXDVNN gắn liền với những đặc điểm của các hoạt động dịch vụ nông nghiệp
Trang 19- HTXDVNN ra đời và phát triển gắn với quá trình phát triển của đời sống nhân dân, phục vụ nhu cầu của nhân dân Hoạt động dịch vụ của HTX DVNN phát triển nhằm hỗ trợ kinh tế hộ phát triển HTXDVNN thực hiện những hoạt động mà hộ xã viên không thể làm hoặc làm nhưng không có hiệu quả Đó là những hộ xã viên nhỏ lẻ, tài chính yếu không đủ sức mạnh cạnh tranh trên thị trường;
- Hoạt động dịch vụ của HTXDVNN cũng như các hoạt động kinh tế khác đều chịu sự cạnh tranh khốc liệt của cơ chế thị trường, cạnh tranh về vốn,
về thị phần, về nguồn hàng…Vì vậy HTXDVNN có hoạt động dịch vụ hiệu quả cần phải nắm bắt rõ quy luật của thị trường, tiếp cận được với thị trường, nhạy bén với sự thay đổi của thị trường;
- HTXDVNN còn chịu tác động sâu sắc của mô hình kinh tế Trước đây trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp việc tổ chức các hoạt động dịch vụ của HTX được thể hiện bằng các chỉ tiêu pháp lệnh của Nhà nước Ngày nay trong cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, việc tổ chức hoạt động dịch vụ của các HTX đã xác định được phương hướng sản xuất, kinh doanh, các hình thức hoạt động dịch vụ trong các HTX đa dạng, phong phú Tùy từng nơi và từng địa phương mà các HTXDVNN có hình thức hoạt động dịch vụ khác nhau
1.1.2 Nâng cao chất lượng dịch vụ của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp
1.1.2.1 Khái niệm về chất lượng dịch vụ
Theo quan điểm hướng về khách hàng, chất lượng DV đồng nghĩa với việc đáp ứng mong đợi của khách hàng, thoả mãn nhu cầu của khách hàng
Do vậy, chất lượng được xác định bởi khách hàng, như khách hàng mong muốn Do nhu cầu của khách hàng thì đa dạng, cho nên chất lượng cũng sẽ có nhiều cấp độ tuỳ theo đối tượng khách hàng
Trang 20Chất lượng DV là do khách hàng quyết định Như vậy, chất lượng là phạm trù mang tính chủ quan, tuỳ thuộc vào nhu cầu, mong đợi của khách hàng
Do vậy, cùng một mức chất lượng DV nhưng các khách hàng khác nhau sẽ có cảm nhận khác nhau, và ngay cả cùng một khách hàng cũng có cảm nhận khác nhau ở các giai đoạn khác nhau
Đối với ngành DV, chất lượng phụ thuộc nhiều vào nhân viên cung cấp
DV, do vậy khó đảm bảo tính ổn định Đồng thời, chất lượng mà khách hàng cảm nhận phụ thuộc nhiều vào yếu tố ngoại vi: Môi trường, phương tiện thiết
bị, phục vụ, thái độ của nhân viên phục vụ
1.1.2.2 Đặc điểm chất lượng dịch vụ của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp
Do dịch vụ là một loại sản phẩm đặc biệt, thường là vô hình cho nên chất lượng dịch vụ có đặc điểm riêng của nó khác chất lượng sản phẩm thông thường
Một trong những đặc điểm nổi bật cần quan tâm đó là sự ổn định của chất lượng dịch vụ, sự ổn định xác định mức độ lặp lại của việc cung cấp dịch
vụ hay tại các địa điểm khác nhau cùng cung cấp một loại dịch vụ Nó bao hàm việc đạt được sự đồng bộ trong việc cung cấp hay thực hiện của tất cả các khía cạnh về thời gian, địa điểm, tình huống và người cung cấp dịch vụ
Sự ổn định không có nghĩa là không phục vụ theo yêu cầu cá nhân của khách hàng
- Sự ổn định về địa điểm: Cho dù các chi nhánh, cửa hàng đại lý có quy
mô lớn hay nhỏ đặt ở đâu không phải là yếu tố quyết định tính hiệu suất cuối cùng và chất lượng dịch vụ Đây là đòi hỏi phải có sự cung cấp chất lượng sản phẩm như nhau ở các chi nhánh đại lý doanh nghiệp ở bất kỳ đâu
- Sự ổn định về sản phẩm phục vụ: Khía cạnh tiếp theo của khả năng biến động chất lượng dịch vụ đó là chính bản thân sản phẩm nghĩa là có một sản phẩm được phục vụ tốt với chất lượng tốt ổn định Vì vậy muốn nâng cao
Trang 21chất lượng dịch vụ thì cần phải giảm khả năng biến động cho chất lượng sản phẩm và việc kiểm soát đòi hỏi phải xây dựng trên cơ sở nào đó
- Sự ổn định về người phục vụ: Sự biến động về dịch vụ bị quyết định chủ yếu do người phục vụ và người được phục vụ (khách hàng) Do vậy nó là nguyên nhân giải thích tại sao không thể quản lý, kiểm soát và tiêu chuẩn hoá được dịch vụ như sản phẩm chế tạo
Nhìn chung thì khách hàng quen biết thường được đối xử tốt hơn và nhanh hơn những khách hàng mới và ít đến, những khách hàng lớn thì được đối xử, quan tâm phục vụ tốt hơn những khách hàng nhỏ Nhiều khi điều đó tưởng là hợp lý nhưng đó cũng là một nguyên nhân dẫn đến một hiện tượng mất khách hàng đây cũng là một điều mà các dịch vụ ở Việt Nam nên quan tâm và sửa đổi
Dịch vụ nông nghiệp được hiểu là điều kiện, yếu tố cần thiết, cần có cho quá trình sản xuất kinh doanh một loại sản phẩm nào đó trong nông nghiệp mà người sản xuất không sẵn có, không làm được hoặc làm không có hiệu quả và họ phải tiếp nhận các điều kiện, yếu tố đó từ bên ngoài bằng các cách thức khác nhau như: mua, bán, trao đổi, thuê, nhờ
- Hoạt động dịch vụ nông nghiệp là hoạt động nhằm cung cấp, trao đổi, tiếp nhận và sử dụng các dịch vụ giữa người sản xuất nông nghiệp và người cung cấp dịch vụ theo một phương thức nhất định nào đó
- Dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp là loại hoạt động có tính chất bao cấp đối với người sản xuất nông nghiệp ở một chừng mực nhất định Hoạt động dịch
vụ nông nghiệp có những đặc điểm sau:
+ Tính thời vụ: do sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ nên các hoạt động dịch vụ nông nghiệp cũng sẽ mang tính thời vụ;
+ Được cung ứng từ nhiều nguồn khác nhau và mang tính cạnh tranh cao;
Trang 22+ Tính có thể tự dịch vụ: Bản thân ngành nông nghiệp đã mang đặc điểm của tính tự phục vụ, tức là sử dụng những gì mà ngành sẵn có để phục
vụ cho các quá trình sản xuất tiếp theo;
+ Hoạt động nông nghiệp chỉ có hiệu quả cao khi được thực hiện đồng thời và trên phạm vi rộng lớn;
- Nâng cao chất lượng dịch vụ của HTXDVNN là cơ hội để tăng được lợi nhuận từ đó làm cơ sở để tích luỹ vốn và tiếp tục đầu tư tái sản xuất mở rộng, góp phần cải thiện thu nhập của người lao động
- Nâng cao chất lượng dịch vụ của các đơn vị kinh tế là quá trình tất yếu của sự phát triển xã hội, tuy nhiên ở các vị thế và chủ thể khác nhau thì có mục đích khác nhau Đối với HTXDVNN là quá trình tăng lợi nhuận, đối với người sử dụng dịch vụ của HTX thì tăng hiệu quả; chính là khi họ nâng cao được độ thoả dụng khi sử dụng dịch vụ Như vậy chất lượng dịch vụ của HTXDVNN có ý nghĩa rất quan trọng làm nâng cao thu nhập cho cộng đồng,
từ đó thúc đẩy sự phát triển của kinh tế nông hộ, cải thiện, nâng cao chất lượng đời sống dân cư nông thôn, góp phần quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi công cuộc CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn
Trang 231.1.2.4 Nội dung nâng cao chất lượng dịch vụ của các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp
* Nâng cao chất lượng, trình độ bộ máy quản lý điều hành hợp tác xã
Nâng cao chất lượng, trình độ bộ máy quản lý điều hành HTX: là công việc thường xuyên, trong bất cứ một HTX nào dù có cơ sở vật chất kỹ thuật phong phú và hiện đại đến mấy, nhưng đội ngũ lao động lại tỏ ra yếu kém thì cũng không thể đáp ứng được yêu cầu của khách hàng, cũng như không thể nâng cao chất lượng dịch vụ được Nhằm nâng cao năng lực của cán bộ HTXDVNN cần thực hiện những nhiệm vụ như: tổ chức quy hoạch phát triển cán bộ HTXDVNN, bố trí, sắp xếp các chức danh quản lý của HTXDVNN hợp lý; chú trọng đến công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ; nâng cao trách nhiệm của cán bộ HTXDVNN Ngoài ra, cán bộ phải hiểu biết, đồng cảm và chia sẻ với các hộ nông dân
* Cải thiện các mối quan hệ trong và ngoài hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp
Hàng năm HTX kết hợp với các cơ quan quản lý nhà nước cấp trên tổ chức đoàn thăm quan, học tập kinh nghiệm của các HTX điển hình trong và ngoài tỉnh; tổ chức các cuộc hội thảo, giao lưu kinh nghiệm hoạt động giữa các HTXDV và giữa cán bộ HTX với xã viên để tạo điều kiện cho HTX có cơ hội tiếp xúc với những mô hình phát triển kinh tế mới Bên cạnh đó, quan tâm đến việc hỗ trợ tổ chức các hoạt động văn hóa thể thao nhằm tăng cường mối quan hệ giữa các HTX nhằm tăng cường cơ hội hợp tác, liên kết với các HTX khác trong và ngoài huyện
* Nâng cao chất lượng, kế hoạch hoạt động các dịch vụ của các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp: dịch vụ thủy nông, dịch vụ khuyên nông, dịch vụ thú y, dịch vụ bảo vệ thực vật, dịch vụ làm đất, dịch vụ cung ứng vật tư
+ Dịch vụ thủy nông và bảo vệ sản xuất: là dịch vụ tưới tiêu và bảo vệ đồn điền trong sản xuất nông nghiệp, hàng vụ hàng năm phải đảm bảo mức độ,
Trang 24thái độ phục vụ theo đúng thời gian sinh trưởng và phát triển của cây trồng để đảm bảo sự hài lòng của mỗi người dân khi được sử dụng dịch vụ mà họ phải đóng phí
+ Dịch vụ bảo vệ thực vật: là dịch vụ dự thính, dự báo tình hình sâu bệnh trên đồng ruộng Dịch vụ này phải đảm bảo tính chính xác để có biện pháp phòng trừ kịp thời tránh tổn thất cho nhân dân
+ Dịch vụ khuyến nông: mục đích chính của dịch vụ này là hỗ trợ đào tạo, tập huấn chuyển giao những tiến bộ khoa học kỹ thuật cho bà con nông dân góp phần nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi mang lại hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp
+ Dịch vụ thú y: mức độ thực hiện việc cung ứng thuốc thú y để cho công tác chữa trị và tiêm phòng gia súc, gia cầm cho hộ xã viên
+ Dịch vụ làm đất: khả năng phục vụ có đáp ứng yêu cầu thời vụ của sản xuất nông nghiệp để tạo lên sự yên tâm của nông dân trong quá trình sử dụng dich vụ
+ Dịch vụ cung ứng vật tư nông nghiệp: nhu cầu, khả năng đáp ứng vật
tư nông nghiệp cho xã viên HTX
+ Dịch vụ cung ứng, sản xuất giống: nhu cầu, khả năng đáp ứng vật tư nông nghiệp cho xã viên HTX
+ Dịch vụ tiêu thụ nông sản: mức độ tiêu thụ sản phẩm đầu ra của bà con nông dân
Nội dung, phương hướng hoạt động các khâu dịch vụ phải phù hợp với thực tiễn của các hợp tác xã, chủ trương chính sách của Đảng và Pháp luật của Nhà nước Để làm được những việc đó thì các HTX cần nâng cao độ tin cậy đối với xã viên bằng cách cung cấp các dịch vụ cho nông hộ đảm bảo đúng số lượng, chủng loại và thời gian Ngoài ra, cung ứng các dịch vụ cho các nông
hộ phải có nguồn gốc rõ ràng chất lượng các loại vật tư sản phẩm, thuốc bảo
Trang 25vệ thực vật hoặc giống cây trồng khi đưa xuống cho xã viên phải có sự kiểm định chất lượng của cán bộ HTXDVNN hoặc của các cơ quan tổ chức đảm bảo tính pháp lý và thông tin về chất lượng sản phẩm cho người dân khi sử dụng các sản phẩm đó Từ những nội dung trên tiến hành phân tích, đánh giá chất lượng dịch vụ, đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ trong HTXDVNN
1.1.3 Yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp
1.1.3.1 Yếu tố bên trong
- Phương pháp, trình độ tổ chức quản lý và tổ chức sản xuất của HTX: trình độ cán bộ quản lý của HTXDVNN có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của HTXDVNN, nhất là trong điều kiện cơ chế thị trường như hiện nay đòi hỏi các HTXDVNN phải có đội ngũ cán bộ giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có năng lực quản lý, có bản lĩnh chính trị Khi trình độ cán bộ quản lý HTXDVNN yếu kém sẽ dẫn đến lúng túng trong công tác điều hành công việc, dẫn đến chất lượng dịch vụ thấp và ngược lại Qua thực tế cho thấy, những HTXDVNN làm ăn hiệu quả đều có đội ngũ quản lý, đặc biệt người đứng đầu
là Chủ nhiệm HTX là người có năng lực Những người Chủ nhiệm có năng lực thường xác định được hướng sản xuất, kinh doanh dịch vụ hợp lý, biết khắc phục khó khăn về vốn, thị trường, biết cách liên doanh, liên kết
- Con người, lực lượng lao động trong HTX DVNN: ta phải xét trên cả hai mặt số lượng và chất lượng Số lượng lao động và chất lượng lao động phải cân đối với nhau, như vậy công việc mới hoàn thành đúng thời hạn và có chất lượng Việc bố trí sử dụng lao động hợp lý sẽ phát huy được tối đa năng suất lao động và từ đó gián tiếp tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của các HTXDVNN
Trang 26- Khả năng về công nghệ, máy móc thiết bị của HTXDVNN: hệ thống trang thiết bị, cơ sở hạ tầng có vai trò quan trọng đối với hoạt động dịch vụ của các HTX Đây là nhóm nhân tố cần thiết đảm bảo cho hoạt động dịch vụ của HTX được diễn ra bình thường và có hiệu quả Nếu cơ sở vật chất kỹ thuật của HTXDVNN nào thấp kém thì kéo theo là chất lượng dịch vụ sẽ kém từ đó gây mất niềm tin của xã viên vào HTX, ngược lại nếu đầy đủ và hiện đại sẽ tạo điều kiện cho HTX nâng cao năng xuất lao động đồng thời nâng cao được chất lượng dịch vụ và từ đó hiệu quả hoạt động dịch vụ sẽ được nâng cao
- Về vốn của HTXDVNN nó là nhân tố không thể thiếu và có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hoạt động của các HTXDVNN Vốn lớn thể hiện tiềm lực kinh tế, khả năng hoạt động dịch vụ của HTX Nếu HTXDVNN nào có lượng vốn đủ đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động dịch vụ, đầu tư trang thiết
bị hiện đại, mở rộng các loại hình dịch vụ sẽ nâng cao được hiệu quả HTX
và ngược lại Bên cạnh số lượng vốn, vấn đề sử dụng vốn cũng là nhân tố ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả hoạt động của HTX, bởi lẽ nếu có lượng vốn lớn mà sử dụng không hợp lý sẽ gây ra lãng phí, làm cạn kiệt nguồn vốn
- Quy mô hoạt động của HTXDVNN: quy mô hoạt động được thể hiện
ở nhiều góc độ khác nhau: Có thể là quy mô về số lượng các loại hình dịch vụ, nếu các loại hình dịch vụ nhiều và phù hợp một mặt nó sẽ giảm thiểu tính rủi
ro, một mặt nó sẽ giúp HTXDVNN có nhiều nguồn thu hơn và hiệu quả dịch
vụ sẽ cao hơn; ngoài ra quy mô hoạt động có thể là quy mô về lượng xã viên tham gia, quy mô về vốn, diện tích đất đai, Các nhân tố trên đều có ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển nói chung và ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của HTXDVNN nói riêng
1.1.3.2 Yếu tố bên ngoài
- Yếu tố tự nhiên: Các hoạt động dịch vụ của HTX DVNN gắn liền với đặc điểm sản xuất nông nghiệp, các yếu tố tự nhiên không những chi phối cả quá
Trang 27trình sản xuất nông nghiệp mà còn ảnh hưởng tới hoạt động dịch vụ của HTX Ở mỗi địa phương, mỗi vùng kinh tế - xã hội khác nhau, hoạt động dịch vụ của các HTX cũng khác nhau, các yếu tố tự nhiên và tính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp cũng tạo nên tính thời vụ trong các hoạt động dịch vụ của HTX DVNN,
sự phong phú về hình thức hoạt động đa dạng về loại hình dịch vụ… là yếu tố khách quan có ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động dịch vụ của HTX
- Yếu tố kinh tế - xã hội: HTX là sản phẩm khách quan của quá trình phát triển kinh tế, kinh tế càng phát triển, kinh tế hàng hóa càng cao thì nhiều yếu tố của quá trình sản xuất, phạm vi một hộ sẽ không đảm đương được Điều đó đòi hỏi hoạt động dịch vụ của HTX phải phát triển để giải quyết được
sự khó khăn thiếu hụt đó của nông dân Thông qua hoạt động dịch vụ của mình các HTX đã nâng cao lợi ích về mặt kinh tế, xã hội cho hộ xã viên, giúp cho hộ xã viên phát triển Sự phát triển lớn mạnh của hộ xã viên có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động dịch vụ của HTX
- Yếu tố văn hóa truyền thống: Truyền thống văn hóa Việt Nam luôn trân trọng và đề cao tính cộng đồng làng xã, tạo ra những ràng buộc thân tộc
tự nhiên, mọi người sống tương thân, tương ái, giúp đỡ lẫn nhau trong quá trình sản xuất và đời sống Chính truyền thống này là cơ sở giúp cho các HTX hình thành những hoạt động dịch vụ phù hợp với đặc điểm văn hóa truyền thống từng vùng Tuy nhiên, nhân tố này cũng chứa đựng nhiều mặt tiêu cực như gia trưởng, ghen ghét, lệ làng… đã làm hạn chế đến hoạt động dịch vụ của HTX
- Yếu tố khoa học - kỹ thuật: Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, sự lớn mạnh của kinh tế hộ, quá trình chuyển giao khoa học - kỹ thuật cho nông thôn, nông nghiệp càng ngày càng được đẩy mạnh Quá trình này nhanh hay chậm ảnh hưởng trực tiếp đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của ngành nông nghiệp cũng
Trang 28như cơ cấu kinh tế nông thôn, phân công lại lao động trong nông nghiệp, từ đây đòi hỏi hoạt động dịch vụ của HTX cần phải phát triển cho phù hợp
- Yếu tố liên quan đến chủ chương, chính sách: Đây là nhóm nhân tố thuộc về sự giúp đỡ, tạo điều kiện của Đảng, Nhà nước và các tổ chức xã hội
Sự tác động của nhóm nhân tố này được thực hiện chủ yếu thông qua hệ thống chính sách vĩ mô và quá trình chỉ đạo thực hiện của bộ máy Nhà nước
từ Trung ương đến cơ sở Những chính sách đó là nhân tố quan trọng và tác động đến quá trình hình thành và triển cũng như hiệu quả hoạt động của HTX nói chung và HTXDVNN nói riêng
1.2 Cơ sở thực tiễn về nâng cao chất lượng dịch vụ của hợp tác xã dịch
vụ nông nghiệp
1.2.1 Kinh nghiệm của các nước trên thế giới và ở Việt Nam về nâng cao chất lượng dịch vụ của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp
1.2.1.1 Kinh nghiệm của các nước trên thế giới
* Kinh nghiệm của Nhật Bản
Ở đất nước Nhật Bản các HTX nông nghiệp được tổ chức theo ba cấp: Liên đoàn toàn quốc HTX nông nghiệp; Liên đoàn HTX nông nghiệp tỉnh; HTX nông nghiệp cơ sở Các HTX nông nghiệp cơ sở gồm hai loại: đơn chức năng và đa chức năng Các HTX nông nghiệp đa chức năng chịu trách nhiệm đối với nông dân trên tất cả các lĩnh vực dịch vụ như cung cấp nông cụ, tín dụng, mặt hàng, giúp nông dân chế biến, tiêu thụ sản phẩm và bảo hiểm cho hoạt động của nông dân
Có thể thấy ưu nhược điểm của HTX nông nghiệp Nhật Bản qua phân tích cơ chế quản lý và chức năng hoạt động của chúng Các HTX nông nghiệp
đa chức năng của Nhật bản thường đảm đương các nhiệm vụ sau:
Cung cấp dịch vụ hướng dẫn nhằm giáo dục, hướng dẫn nông dân trồng trọt, chăn nuôi có năng suất, hiệu quả cao cũng như giúp họ hoàn thiện kỹ
Trang 29năng quản lý hoạt động sản xuất Thông qua các cố vấn của mình, các HTX nông nghiệp đã giúp nông dân trong việc lựa chọn chương trình phát triển nông nghiệp theo khu vực; lập chương trình sản xuất cho nông dân; thống nhất trong nông dân sử dụng nông cụ và kỹ thuật sản xuất tiên tiến,… Các tổ chức Liên hiệp tỉnh và Trung ương thường quan tâm đào tạo bồi dưỡng cố vấn cho HTX nông nghiệp cơ sở
Hợp tác xã cung ứng hàng hoá cho xã viên theo đơn đặt hàng và theo giá thống nhất và hợp lý Các HTX đã đạt đến trình độ cung cấp cho mọi xã viên trên toàn quốc hàng hoá theo giá cả như nhau, nhờ đó giúp cho những người ở các vùng xa xôi có thể có được hàng hoá mà không chịu cước phí quá đắt Hàng tiêu dùng không cần đặt hàng theo kế hoạch trước Thông thường các HTX nhận đơn đặt hàng của xã viên, tổng hợp và đặt cho liên đoàn HTX tỉnh, sau đó tỉnh đặt cho liên đoàn HTX toàn quốc Đôi khi liên đoàn HTX nông nghiệp tỉnh hoặc HTX nông nghiệp cơ sở đặt hàng trực tiếp cho doanh nghiệp sản xuất Nhìn chung các liên đoàn HTX nông nghiệp tỉnh và Trung ương không phải là cấp quản lý thuần tuý mà là các tổ chức kinh tế, các trung tâm phân phối và tiêu thụ hàng hoá
Hợp tác xã nông nghiệp còn sở hữu các phương tiện sản xuất nông nghiệp và chế biến nông sản để tạo điều kiện giúp nông dân sử dụng các phương tiện này hiệu quả nhất, hạn chế sự chi phối của tư nhân Đồng thời còn là diễn đàn để nông dân kiến nghị Chính phủ các chính sách hợp lý cũng như tương trợ lẫn nhau giữa các HTX và địa phương Ngoài ra, các HTX nông nghiệp Nhật Bản còn tiến hành các nhiệm vụ giáo dục xã viên về tinh thần HTX thông qua các tờ báo, phát thanh, hội nghị, đào tạo, tham quan ở cả
ba cấp HTX nông nghiệp cơ sở, tỉnh và Trung ương
Trang 30* Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Ở Hàn Quốc sau cuộc nội chiến năm 1961 nhận thấy vai trò sống còn của lực lượng nông dân với phát triển kinh tế và chính trị của HTX nên Liên đoàn HTX DVNN Quốc Gia (NACF) đã được thành lập trên cơ sở hai tổ chức độc lập là ngân hàng nông nghiệp và tổ chức HTXDVNN cũ
Hầu hết các HTX DVNN tại Hàn Quốc là các HTX DVNN đa chức năng hoạt động trên 4 lĩnh vực chính là: cung cấp tín dụng, cung cấp phân bón, cung cấp hóa chất nông nghiệp và các dịch vụ bảo hiểm
Kinh nghiệm tiêu thụ nông sản phẩm của HTXNN Hàn Quốc: Dưới tác động của các vòng đàm phán WTO về nông nghiệp, ngành nông nghiệp Hàn Quốc phải đối mặt với thách thức khó khăn nhất từ trước tới nay Các HTX nông nghiệp của Hàn Quốc rất chú trọng đến việc nâng cao hàm lượng giá trị gia tăng cho sản phẩm để cạnh tranh với các sản phẩm nhập khẩu Số lượng nhà máy chế biến nông sản tăng từ 9 (năm 1988) lên 153 (năm 1998) nhà máy chế biến nông sản hiện đại với qui mô lớn trên toàn quốc và Khoa công nghệ thực phẩm đã được thành lập tại trường đại học HTXNN Hàn Quốc vào năm
1991 để đào tạo các chuyên gia trong lĩnh vực chế biến nông sản cho các HTX Trong đó có 14 nhà máy chế biến rau, 13 nhà máy làm dưa kim chi (món đặc sản nổi tiếng của Hàn Quốc), 12 nhà máy chế biến gạo, 12 nhà máy chế biến nước uống, 11 nhà máy chế biến đậu tương, 10 nhà máy chế biến chè
và 8 nhà máy chế biến ớt Tổng doanh thu qua các hoạt động chế biến năm
1998 đạt 174 triệu USD Với công nghệ hiện đại, sản phẩm có phong cách riêng nên thị trường của NACF đã mở rộng ra nhiều quốc gia, phục vụ món
ăn kim chi, đồ uống, gạo, rau, hoa quả, sâm, cho các hãng hàng không quốc
tế như hàng Hàng không Quốc gia Hàn Quốc, Hàng không châu á…
Kinh nghiệm tiếp thị hàng nông sản của HTXNN Hàn Quốc: Để chuẩn
bị đối phó với sự xâm nhập thị trường Hàn Quốc của các đối thủ cạnh tranh
Trang 31ngoại quốc và để củng cố hoạt động TTSP của HTX, NACF đã tập trung phát triển hoạt động TTSP Mở rộng thị trường nông sản là một nhiệm vụ chính của các HTXNN Hàn Quốc Trong NACF có Trung tâm bán buôn và phân phối nông sản chịu trách nhiệm nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản
và bảo vệ thị trường Với mục tiêu đưa sản phẩm của HTX đến với người tiêu dùng, các kênh tiếp thị được tổ chức tại các trung tâm tiêu dùng quan trọng
Hệ thống này bao gồm các tổ hợp thương mại, kho tàng hiện đại, cửa hàng bán buôn, bán lẻ, chợ nông dân NACF đã tổ chức hệ thống tiêu thụ gồm 99 trung tâm bán buôn nông sản, và 12 ―Câu lạc bộ Hanaro‖ (cửa hàng giảm giá lưu kho cho các thành viên), và 2.206 ―Hanaro Mart‖ (siêu thị cho những người không phải là xã viên) và các tổ hợp tiếp thị nông sản Mô hình này đã giảm chi phí tiếp thị đơn lẻ, của các thành viên, mặt khác các thành viên bán sản phẩm ổn định với mức giá có lợi Năm 1997, NACF đổi mới phương thức bán sản phẩm đến tay người tiêu dùng bằng cách xây dựng 8 tổ hợp phân phối hàng ở Xê-Un và các thành phố lớn trên toàn quốc với vốn dầu tư lên tới 302
tỷ won, nhiều tổ hợp hoạt động có hiệu quả Các tổ hợp này liên kết với các nhà phân phối khác cùng với công nghệ phân loại, sơ chế, bảo quản, bao gói
Cơ chế tái phân phối lợi nhuận cho quỹ hỗ trợ vận tải hàng hóa của HTX đã làm tăng giá trị nông sản hàng hóa của hợp tác xã, tăng tỷ trọng hàng hóa của HTX chiếm đến 70% doanh số bán hàng nông sản của NACF NACF chú trọng các nhu cầu cá biệt của khách hàng là người nước ngoài, nhu cầu trong các ngày lễ, nhu cầu của chính nông dân mỗi vùng, mở ra các kênh tiêu thụ hướng dẫn sản xuất, phân loại sản phẩm, chuẩn bị hàng kịp thời vụ Bên cạnh đó, tháng 7/1990, NACF đã thành lập Công ty Trách nhiệm hữu hạn HTXNN Hàn Quốc như là một công ty con của NACF và mở Trung tâm buôn bán hàng nông sản tại NewYork, Hoa Kỳ và tại Fukuoka, Nhật Bản Doanh số nông sản của hệ thống HTXNN Hàn Quốc năm 1998 đạt tới 9,3 tỷ USD, trong đó 70% từ các HTX cơ sở Do gắn chặt với người sản xuất, công tác
Trang 32kinh doanh nông sản của NACF chẳng những đáp ứng nhu cầu sống còn về tiêu thụ nông sản cho nông dân mà còn cho phép nông dân sản xuất theo đúng yêu cầu của thị trường, giảm tối thiểu chi phí lưu thông hao hụt mất mát, do
đó, hiện nay, Liên đoàn quản lý một hệ thống HTX kinh doanh nông sản lớn nhất và cạnh tranh mạnh nhất, nắm giữ 40% thị phần buôn bán nông sản trên thị trường Hàn Quốc
* Kinh nghiệm của Thái Lan
Thái Lan thì thành lập Liên đoàn HTX Thái Lan là tổ chức HTX cấp cao quốc gia, thực hiện chức năng đại diện, hỗ trợ, giáo dục và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các HTX và xã viên theo luật định Cùng với sự phát triển mạnh của các HTX tiêu dùng, các loại hình HTX nông nghiệp, công nghiệp cũng được phát triển và trở thành một trong những yếu tố quan trọng trong việc phát triển kinh tế của đất nước cũng như giữ vững ổn định xã hội Năm
2005, Thái Lan có 5.611 HTX các loại với gần 8 triệu xã viên, trong đó có 3.370 HTX nông nghiệp với hơn 4 triệu xã viên; 100 HTX đất đai với hơn
147 nghìn xã viên; 76 HTX thủy sản với hơn 13 nghìn xã viên; 1.296 HTX tín dụng với hơn 2 triệu xã viên; 400 HTX dịch vụ với hơn 146 nghìn xã viên
Trong thời kỳ hiện nay, Thái Lan có một số mô hình HTX tiêu biểu: HTX nông nghiệp và HTX tín dụng HTX Nông nghiệp được thành lập nhằm đáp ứng nhu cầu của xã viên trong các lĩnh vực: Vay vốn, gửi tiền tiết kiệm
và tiền ký quỹ, tiêu thụ sản phẩm, tiếp thị, hỗ trợ phát triển nông nghiệp và các dịch vụ khác Thông qua sự trợ giúp của Chính phủ, Ngân hàng Nông nghiệp và HTX Nông nghiệp, xã viên được vay vốn với lãi suất thấp với thời hạn ưu đãi thích hợpcho việc kinh doanh hoặc sản xuất của họ Hiện nay, số HTX tham gia hoạt động kinh doanh này chiếm khoảng 39%
Hoạt động của HTX tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu của xã viên về các lĩnh vực: Khuyến khích gửi tiền tiết kiệm của các xã viên; Góp cổ phần; Cung cấp các dịch vụ vốn vay cho xã viên
Trang 33Để tạo điều kiện cho khu vực HTX phát triển và khuyến khích xuất khẩu, Chính phủ Thái Lan đã ban hành nhiều chính sách thiết thực như chính sách giá, tín dụng nhằm khuyến khích nông dân phát triển sản xuất Mục tiêu của chính sách giá cả là: Đảm bảo chi phí đầu vào hợp lý để có giá bán ổn định cho người tiêu dùng, đồng thời góp phần làm ổn định giá nông sản tại thị trường trong nước, giữ giá trong nước thấp hơn giá thị trường thế giới, khuyến khích xuất khẩu Với chính sách tín dụng, các xã viên có thể vay tín dụng từ các HTX Nông nghiệp, các cơ quan chính phủ, các ngân hàng thương mại để đầu tư vào sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất phục vụ cho nông nghiệp Trong giai đoạn 2002-2004, Chính phủ đã dành 134 tỷ Bạt để cải thiện và phát triển HTX, bao gồm phát triển sản phẩm mới, giống công nghệ sinh học,
mở rộng tưới tiêu Ngân hàng các HTX Nông nghiệp và nông thôn Thái Lan
đã dành 2 tỷ Bạt để khuyến khích xã viên các HTX sản xuất-kinh doanh Ngoài ra, Chính phủ đã thành lập Bộ Nông nghiệp và HTX, trong đó có 2 vụ chuyên trách về HTX là Vụ phát triển HTX và Vụ kiểm toán HTX Vụ phát triển HTX đóng vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ các HTX thực hiện các hoạt động kinh doanh, nhằm đạt được các mục tiêu do các HTX đề ra; Vụ kiểm toán HTX thực hiện chức năng kiểm toán HTX và hướng dẫn nghiệp vụ
kế toán trong công tác quản lý tài chính, kế toán HTX Hàng năm, Liên đoàn HTX Thái Lan tổ chức hội nghị toàn thể với sự tham gia của các đại diện từ các loại hình HTX trong cả nước và đại diện các cơ quan của Chính phủ liên quan đến tổ chức HTX Sự hỗ trợ, giúp đỡ của Chính phủ Thái Lan thực sự có hiệu quả trong việc hoạch định các chính sách đối với phát triển khu vực HTX
1.2.1.2 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước
* Khái quát quá trình hình thành và phát triển hợp tác xã nông nghiệp
ở Việt Nam
- Thời kỳ trước năm 1973
Trang 34Đây là thời kỳ hình hành và phát triển hợp tác xã Trong tháng 8/1955 tại hội nghị ban chấp hành Trung ương (khoá II) Đảng ta chủ trương xây dựng thí điểm một số hợp tác xã nông nghiệp lấy đó là cơ sở thực tiễn để định hướng công việc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp Cuối năm
1955 có 6 hợp tác xã nông nghiệp được xây dựng thí điểm ở Phú Thọ, Thái Nguyên, Thanh Hoá Năm 1956 có 16 hợp tác xã thí điểm đến tháng 10 năm1957 có 42 hợp tác xã thí điểm Đồng thời với việc xây dựng thí điểm hợp tác xã nông nghiệp từ tháng 7 năm 1956 theo Chỉ thị 15 CT/TW của Ban
Bí thư các địa phương
Bắt đầu xây dựng hợp tác xã tín dụng, đầu năm 1975 ở Miền Bắc đã có trên 230 cơ sở đến cuối năm Đảng chủ trương tạm dừng xây dựng hợp tác xã tín dụng để củng cố
Quán triệt những quan điểm của hội nghị TW V (tháng 7 năm 1962) phong trào hợp tác xã đã có những chuyển biến rõ nhất là hợp tác xã bậc cao
và qui mô lớn tăng lên Vào năm 1958 sau cải cách ruộng đất ở nông thôn một
số tỉnh Nam Định, Thanh Hoá, Ninh Bình theo qui luật tất yếu của sản xuất đã xuất hiện sự phân hoá giàu nghèo Xuất phát từ nhận thức muốn xoá bỏ tận gốc chế độ bóc lột, chặn đứng con đường phát triển tự phát của chủ nghĩa tư bản ở nông thôn, muốn có cơ sở để tiến hành công nghiệp hoá, xã hội chủ nghĩa, muốn củng cố khối liên minh công nông trong thời kỳ lịch sử mới
Đảng ta trên cơ sở vận dụng kinh nghiệm của các nước xã hội chủ nghĩa đã tiến hành hợp tác hoá nông nghiệp trên toàn Miền Bắc, quan điểm chỉ đạo của đảng ta lúc này đối với phong trào hợp tác hoá là thận trọng tiến hành từng bước từ thấp đến cao Chủ trương và quyết tâm của Đảng quán triệt vào thực tiễn cuộc vận động hợp tác hoá nông nghiệp được triển khai đều khắp và trở thành một phong trào rộng lớn Với sự quan tâm chỉ đạo và sự đầu tư của Đảng Nhà nước đã tiếp tục thúc đẩy phong trào hợp tác hoá tiếp
Trang 35tục phát triển Đến năm 1965 phong trào hợp tác hoá đã thu được 90,5% số hộ nông dân Miền Bắc trong đó có trên 80% số hộ tham gia các hợp tác xã bậc cao ở miền núi gần 805 số hộ nông dân đi theo con đường làm ăn tập thể
Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước thì phong trào hợp tác xã nông nghiệp Miền Bắc tiếp tục được củng cố và phát triển Một mặt các hợp tác xã nông nghiệp đã phát huy được vai trò tích cực trong sự nghệp củng cố hậu phương chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến Mặt khác do sự dữ dội của chiến tranh, hợp tác xã ngày càng bộc lộ những mặt bất hợp lý của nó Ngay sau khi đế quốc Mỹ tuyên bố chấm dứt chiến tranh phá hoại Miền Bắc lần thứ nhất, Đảng và Nhà nước tập trung khắc phục tình trạng mất dân chủ trong các hợp tác xã nông nghiệp Tháng 04 năm 1969 điều lệ hợp tác xã bậc cao được ban hành Ngày 15 tháng 03 năm 1970 Bộ chính trị đã ra Nghị quyết:
―phát huy dân chủ, tăng cường chế độ làm chủ tập thể của xã viên ở nông thôn, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, phát triển nông nghiệp toàn diện vững chắc Đặc điểm cơ bản của thời kỳ này là qui mô hợp tác xã nhỏ, khép kín trong từng thôn xóm Tư liệu sản xuất kể cả ruộng đất, lao động quĩ vốn… do vậy hợp tác
xã thống nhất quản lý, vai trò của hợp tác xã trong thời kỳ này là tập trung dân chủ công khai mọi hoạt động của hợp tác xã Kinh tế hộ phụ thuộc vào kinh tế hợp tác xã nhưng thu nhập của hộ lại từ kinh tế phụ gia đình ‖
- Thời kỳ 1973-1980
Đây là thời kỳ tổ chức lại sản xuất, ở giai đoạn này mô hình tập thể hoá nông nghiệp đã được đẩy cao hoàn chỉnh nhất Đến năm 1975 có 97% số hộ nông dân vào hợp tác xã, trong đó 88% tham gia vào hợp tác xã bậc cao, sau khi Miền Nam hoàn toàn giải phóng cũng bắt đầu thực hiện hợp tác hoá, sau khi áp dụng mô hình hợp tác hoá, tập thể hoá địa bàn phía nam, trên sự va đập của các quan hệ kinh tế xã hội, đặc thù đã sớm bộc lộ những yếu tố phi lý, vô hiệu hoá của nó Nhìn chung trong thời kỳ này sự khủng hoảng không chỉ
Trang 36diễn ra trong các hợp tác xã nông nghiệp mà nó ảnh hưởng tới toàn bộ nền kinh tế quốc dân Thực tiến khắc nghiệt đòi hỏi nông nghiệp phải tìm một hướng đổi mới
- Thời kỳ 1981-1988
Trước những thực tiễn khắc nghiệt đó, Chỉ thị của Trung ương ra đời
đã trở thành một giải pháp tình thế có hiệu quả đáp ứng được nguyện vọng, quyền lợi của nông dân, khơi dậy sinh khí mới trong nông thôn nông nghiệp
và gợi mở hướng đi mới để tìm cách đổi mới cơ chế quản lý trong nông nghiệp Chỉ thị số 100 chính thức quyết định chủ trương thực hiện chế độ khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động Trong giai đoạn này xuất hiện hình thức khoán gọn, khoán chui ở một số địa phương Lúc này kinh tế nông nghiệp ở nông thôn đã phát huy tác dụng những yếu kém, mâu thuẫn, do đó để thúc đẩy sản xuất phát triển, ngày 05/04/1988 Nghị quyết 10 của Bộ chính trị ra đời đánh dấu mốc quan trọng đối với nông nghiệp nông thôn Việt Nam
xã viên với hợp tác xã chuyển nền nông nghiệp tự sản xuất tập trung bao cấp,
tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường
Các hợp tác xã đã chuyển chủ thể sản xuất kinh doanh tư liệu sản xuất cho hộ xã viên, tiếp nhận và chuyển giao khoa học kỹ thuật, công nghệ đến hộ
xã viên tổ chức quản lý và làm dịch vụ các khâu cần phải hợp tác mà từng hộ không làm được hoặc làm không hiệu quả
Trang 37- Giai đoạn từ khi Luật HTX có hiệu lực 1997 đến nay
Luật HTX năm 1996 nhằm luật pháp hóa các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, tạo môi trường pháp lý thuận lợi kinh tế hợp tác và HTX phát triển trong cơ chế mới Lần đầu tiên chúng ta có một bộ luật HTX hoàn chỉnh và phát huy đầy đủ vai trò quan trọng của kinh tế hợp tác, tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của HTX trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN
Để triển khai thi hành luật, Chính phủ đã ban hành một hệ thống văn bản dưới luật gồm 9 Nghị định về việc chuyển đổi và đăng ký kinh doanh các HTX, liên hợp HTX: chính sách khuyến khích và phát triển HTX; tổ chức quản lý Nhà nước với các HTX và Điều lệ mẫu HTX trong các ngành kinh tế Khi Luật HTX, các chính sách của Nhà nước ban hành, hầu hết các HTX trong cả nước đều thực hiện chuyển đổi cơ chế quản lý của HTX cũ sang hoạt động theo luật Đồng thời với việc ban hành Luật HTX sửa đổi năm 2003 thì hoạt động của HTX đã dẫn tới sự giải thể của một loạt HTX cũ hoạt động không hiệu quả và cũng khá nhiều HTX mới được thành lập
* Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước
- Kinh nghiệm của Vĩnh Phúc
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc nhiều mô hình hợp tác xã kiểu mới được chuyển đổi theo Luật Hợp tác xã năm 2012 đã vận hành mang lại hiệu quả kinh tế thiết thực, góp phần nâng cao thu nhập cho xã viên và tạo sự liên kết theo chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc có hơn 600 hợp tác xã; trong đó, có 345 hợp tác xã đã thực hiện chuyển đổi theo Luật hợp tác xã năm 2012 Doanh thu bình quân của một hợp tác xã là 770 triệu đồng/năm, lợi nhuận bình quân 124 triệu đồng, thu nhập bình quân của lao động thường xuyên trong hợp tác xã là
35 triệu đồng/năm
Trang 38Theo ông Nguyễn Xuân Diệp Phó Giám đốc Liên minh Hợp tác xã tỉnh Vĩnh Phúc cho biết, trong thời gian qua, tỉnh Vĩnh Phúc luôn chú trọng xây dựng phát triển các loại mô hình sản xuất theo hướng hàng hóa, phát triển các sản phẩm chủ lực theo thế mạnh của địa phương nhằm dịch chuyển cơ cấu kinh tế, nâng cao thu nhập, góp phần hoàn thành các chỉ tiêu xây dựng nông thôn mới
Những mô hình hợp tác kiểu mới đã bước đầu đã mang lại hiệu quả kinh tế cao Đó là những mô hình, điển hình với cách làm hay, có phương pháp quản lý và sản xuất kinh doanh tốt cần tiếp tục nhân rộng và phát triển
Cũng theo ông Diệp, để khu vực kinh tế tập thể ngày càng phát triển, thời gian tới, Liên minh Hợp tác xã tỉnh Vĩnh Phúc sẽ tiến hành xây dựng kế hoạch hướng dẫn thành viên hợp tác xã chủ động đổi ruộng để tạo thửa lớn liền khoảnh đối với các thành viên trong hợp tác xã có gắn với chương trình dồn thửa đổi ruộng mà tỉnh đang chỉ đạo triển khai thực hiện
Đồng thời, hướng dẫn các hợp tác xã thực hiện việc thuê lại đất của nhân dân để mở rộng sản xuất tập trung, có khả năng áp dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ, tạo sản phẩm cùng loại có tính hàng hoá nhằm tăng tính cạnh tranh cho sản phẩm nông nghiệp
- Kinh nghiệm của huyện Lệ Thủy, Quảng Bình
Hiện nay, toàn huyện Lệ Thủy có 110 hợp tác xã (HTX), trong đó, 63 HTX nông nghiệp, dịch vụ Thời gian qua, một số HTX nông nghiệp, dịch vụ đã huy động được nhiều nguồn vốn đầu tư, mua sắm tư liệu sản xuất hiện đại, đưa tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào phục vụ sản xuất, bước đầu mang lại hiệu quả
Nổi bật là HTX sản xuất kinh doanh dịch vụ Mỹ Lộc Thượng (An Thủy); HTX dịch vụ nông nghiệp Mỹ Hòa (Sơn Thủy), HTX dịch vụ nông nghiệp Bình Minh (Dương Thủy) Nhìn chung, các hợp tác xã nông nghiệp
đã đổi mới công tác quản lý, điều hành, trình độ cán bộ quản lý được nâng
Trang 39cao và xác định đúng hướng hoạt động, tổ chức thêm ngành nghề mới, chủ động hơn trong cơ chế thị trường, nhờ đó, hiệu suất sản xuất, kinh doanh ngày càng tăng
Qua hoạt động sản xuất, kinh doanh, các thành viên và người dân đều thấy được sự cần thiết và lợi ích khi tham gia hợp tác xã Với mục tiêu giúp
đỡ, tương trợ nhau trong sản xuất, HTX khắc phục một số yếu kém của kinh
tế hộ, như: thiếu vốn, thiếu công cụ, kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất, đồng thời góp phần hạ giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh trên thị trường
Các HTX nông nghiệp cũng chủ động trong việc tìm nguồn vật tư nông nghiệp chất lượng, góp phần làm lợi cho xã viên Qua đó, các HTX góp phần thúc đẩy kinh tế nông nghiệp phát triển, tạo ra chuỗi giá trị nông sản sạch cung cấp cho các thị trường lớn, nâng cao thu nhập, ổn định cuộc sống người dân Với sự nỗ lực cao của các thành viên, nhiều HTX đã tạo dựng tên tuổi và giúp xã viên, nông dân trong vùng có thu nhập khá hơn, đời sống ngày càng được nâng cao
Hiện nay, chất lượng hoạt động của các HTX nông nghiệp bắt đầu chuyển biến mạnh từ năm 2015 và đặc biệt là năm 2017 Theo đó, số HTX tham gia liên kết và tiêu thụ sản phẩm cũng tăng Các sản phẩm đã hướng đến
an toàn về chất lượng và đáp ứng các tiêu chuẩn để thâm nhập các thị trường lớn hơn Được biết, từ đầu năm đến nay, doanh thu từ các HTX nông nghiệp đạt gần 67 tỷ đồng, lợi nhuận đạt 3,9 tỷ đồng
- Kinh nghiệm của TP Hồ Chí Minh
TP Hồ Chí Minh có 41 hợp tác xã (HTX) nông nghiệp đang hoạt động, với 2.235 thành viên; tổng số vốn điều lệ hơn 257 tỷ đồng Cùng với các thành phần kinh tế khác, HTX nông nghiệp đã và đang đóng góp tích cực trong phát triển kinh tế nông nghiệp của thành phố
Những năm gần đây, giá trị sản xuất nông nghiệp của thành phố liên tục tăng; năm 2013 đạt 14.634 tỷ đồng; năm 2014 đạt 15.330 tỷ đồng; năm 2015
Trang 40đạt hơn 18 nghìn tỷ đồng và đến năm 2016, giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp của thành phố đạt hơn 19.685 tỷ đồng Đây là kết quả khả quan của quá trình chuyển đổi cơ cấu theo hướng phát triển nông nghiệp đô thị; nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng giá trị sản xuất hàng hóa trên một đơn vị diện tích, góp phần nâng cao thu nhập, đời sống của nông dân Để đạt được kết quả này
có phần đóng góp tích cực của mô hình HTX nông nghiệp Tuy nhiên, nhìn tổng thể, giá trị sản xuất của các HTX nông nghiệp thời gian qua còn khá khiêm tốn Cụ thể, năm 2013, giá trị sản xuất của các HTX nông nghiệp là 241,1 tỷ đồng; năm 2014 là 265 tỷ đồng; đến năm 2016, đạt 327 tỷ đồng
Một trong những nguyên nhân làm cho tỷ trọng đóng góp của kinh tế HTX thấp là do còn khá nhiều HTX hoạt động chưa hoặc không hiệu quả Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong số 41 HTX nông nghiệp đang hoạt động, chỉ có 24 HTX làm ăn hiệu quả, 15 HTX chưa hiệu quả; hai HTX hoạt động không hiệu quả Để HTX hoạt động hiệu quả, trước hết, việc thành lập HTX phải xuất phát từ nhu cầu liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm của các thành viên; Hội đồng quản trị phải gắn bó, đoàn kết, có trình độ hiểu biết thị trường, biết chủ động nghiên cứu, tìm hiểu thị trường, tìm kiếm đối tác làm ăn; có khả năng tổ chức, điều hành sản xuất, kinh doanh; chủ động đề ra phương án sản xuất, kinh doanh phù hợp; công khai, minh bạch trong các mặt hoạt động, nhất là minh bạch thu, chi, tài chính Ngược lại những HTX khi thành lập mà không có sự thống nhất trong phương án sản xuất, kinh doanh; phương án sản xuất, kinh doanh không phù hợp; trình độ, năng lực của Hội đồng quản trị yếu kém sẽ không phát huy được nội lực, không chủ động tìm kiếm thị trường, đối tác dẫn đến hiệu quả hoạt động thấp, thậm chí hoạt động không hiệu quả
Hoạt động của các HTX nông nghiệp ở thành phố những năm qua cho thấy, mô hình kinh tế hợp tác có nhiều ưu điểm vượt trội so với làm ăn riêng