1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xác định giá trị ngưỡng và tính khả lặp của phép đo mức di lệch mâm chày ra trước trên khớp gối bình thường người việt nam bằng dụng cụ kt 1000

103 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xác định giá trị ngưỡng và tính khả lặp của phép đo mức di lệch mâm chày ra trước trên khớp gối bình thường người Việt Nam bằng dụng cụ KT - 1000
Tác giả Huỳnh Phương Nguyệt Anh
Người hướng dẫn PGS. TS Bùi Hồng Thiên Khanh
Trường học Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Chấn Thương Chỉnh Hình
Thể loại Luận văn thạc sĩ y học
Năm xuất bản 2019
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 9,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 01.BÌA

  • 02.LỜI CAM ĐOAN

  • 03.MỤC LỤC

  • 04.DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

  • 05.DANH MỤC ĐỐI CHIẾU ANH - VIỆT

  • 06.DANH MỤC CÁC BẢNG

  • 07.DANH MỤC BIỂU ĐỒ

  • 08.DANH MỤC CÁC HÌNH

  • 09.ĐẶT VẤN ĐỀ

  • 10.TỔNG QUAN TÀI LIỆU

  • 11.ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

  • 12.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

  • 13.BÀN LUẬN

  • 14.KẾT LUẬN

  • 15.KIẾN NGHỊ

  • 16.TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • 17.PHỤ LỤC

Nội dung

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thời gian, địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: Tất cả các lần khám được thực hiện trong tháng 5 và 6 năm 2019.

- Địa điểm: tại phòng khám nhận bệnh thuộc khoa Chấn thương Chỉnh hình, Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh cơ sở 1.

Đối tượng nghiên cứu

Dân số mục tiêu là người Việt Nam trưởng thành có khớp gối khoẻ mạnh.

Dân số đại diện sinh viên y khoa trường Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh.

- Tuổi lớn hơn hoặc bằng 18 và nhỏ hơn 30.

- Khớp gối khỏe mạnh bình thường bởi bác sĩ khoa Chấn thương Chỉnh hình của bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh.

- Không có tiền sử đứt dây chằng khớp gối hay chấn thương khớp gối.

- Không mắc bệnh thoái hóa khớp gối, lỏng lẻo đa khớp.

- Hiện tại không mắc các bệnh mãn tính hay bệnh cấp tính bất kỳ nào.

- Chân có những bất thường về giải phẫu hoặc đau khi khám.

- Tiền căn đã từng phẫu thuật vùng gối.

- Những người từ chối không tham gia vào nghiên cứu.

Thiết kế nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu mô tả hàng loạt ca.

Cỡ mẫu và cách chọn mẫu

Cỡ mẫu tối thiểu được tính theo công thức: n = C

C: hằng số liên quan đến sai sót loại I (α = 0,05) và sai sót loại II (β 0,2) là 7.85.

Hệ số ảnh hưởng được sử dụng để đánh giá mức độ tác động của việc đo độ di lệch mâm chày ra trước bằng máy KT - 1000 trong nghiên cứu Việc xác định hệ số này giúp hiểu rõ hơn về mức độ ảnh hưởng của phương pháp đo lường trong nghiên cứu.

Khi ước tính một chỉ số trung bình với sai số định trước δ, nghiên cứu trên nhóm đối tượng có biến liên tục cho phép ước tính hệ số ảnh hưởng bằng công thức ES = (à1 - à0) / δ0 Mục tiêu là đạt được độ chính xác trong khoảng sai số 0.75 mm ở mức 134 N, với khoảng tin cậy 0.95 và độ lệch chuẩn tương tự như trong nghiên cứu của Randall là ± 1.3.

Vậy cỡ mẫu tối thiểu là n = 7.85 / (0.75 / 1.3) 2 = 24.1.

Trong nghiên cứu này chúng tôi quyết định nghiên cứu trên 30 cặp gối khoẻ mạnh.

Chọn mẫu theo phương pháp chủ đích, chọn 30 sinh viên y khoa trường Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh (19–27 tuổi) Trong đó có 15 nam và 15 nữ.

- Gửi thông tin về đề tài nghiên cứu cho sinh viên trường Đ ại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh qua kênh Đoàn Thanh Niên.

- Tiếp nhận đăng ký tự nguyện của sinh viên.

- Tiến hành khám sàng lọc tại khoa Chấn thương Chỉnh hình.

- Thống kê số lượng theo tiêu chí chọn mẫu.

Phương pháp thu thập số liệu

Máy KT - 1000 (được sản xuất bởi công ty MEDmetric, Thành phố San Diego, Bang California, Hoa Kỳ).

2.5.2 Các bước tiến hành nghiên cứu

Lựa chọn đối tượng nghiên cứu.

Thông báo và hỏi ý kiến đối tượng về vấn đề tham gia nghiên cứu.

Đo độ di lệch mâm chày ra trước bằng máy KT - 1000 được thực hiện ở cả hai chân của đối tượng nghiên cứu theo ba giao thức, dựa trên mô hình của Collette và cộng sự [21].

Hình 2.2 Xác định khe khớp gối và đánh dấu

Hình 2.3 Tư thế 2 chân khi đo

Hình 2.4 Lắp máy KT – 1000 và cố định qua 2 đai dán cẳng chân

Hình 2.5 Tiến hành đo độ di lệch mâm chày ra trước với máy KT – 1000

(Nguồn : nhóm nghiên cứu)Mỗi phép đo mức di lệch ra trước của xương chày so với xương đùi (tính bằng mm) được tạo ra với lực 134 N (30 pound).

Chúng tôi ghi lại từng kết quả đo độ di lệch mâm chày cho mỗi đối tượng, sau đó tổng hợp tất cả các giá trị đo được bằng máy KT - 1000 vào bảng để thực hiện thống kê.

Hai bác sĩ đo có kinh nghiệm E1 và E2 đã thực hiện nhiều lần sử dụng

Trong nghiên cứu này, mỗi người tham gia thực hiện ba lần đo liên tiếp trong vòng 10 ngày trên một đối tượng nam 22 tuổi với khớp gối khỏe mạnh Kết quả đo được sử dụng để tính toán độ lệch chuẩn và trung bình cho mỗi bên khớp.

Ngày E Gối phải (giá trị ± SD) (mm) Gối trái (giá trị ± SD) (mm)

Mười bác sĩ đã sử dụng máy KT - 1000 để kiểm tra một người đàn ông 24 tuổi có khớp gối khỏe mạnh Trong số đó, năm bác sĩ (E1 đến E5) đã có kinh nghiệm sử dụng máy KT - 1000, trong khi năm bác sĩ còn lại (E6 đến E10) chưa từng sử dụng thiết bị này.

E Gối phải (giá trị ± SD) (mm) Gối trái (giá trị ± SD) (mm) E1 đến E5

Trong một nghiên cứu, bác sĩ E2, người có kinh nghiệm sử dụng KT - 1000, và bác sĩ E8, không có kinh nghiệm, đã tiến hành kiểm tra trên 30 đối tượng khỏe mạnh Kết quả đo đạc cho thấy sự khác biệt giữa gối phải và gối trái của các đối tượng, với các giá trị được ghi nhận là ± SD (mm).

Mười bác sĩ chuyên khoa chấn thương chỉnh hình đã tham gia vào nghiên cứu này Trước khi tiến hành, tất cả người đo được huấn luyện thông qua một buổi thuyết trình và xem video hướng dẫn sử dụng máy KT.

Trong nghiên cứu về việc sử dụng công cụ KT-1000, các bác sĩ có kinh nghiệm đã thực hiện đo lường trên 30 bệnh nhân trong hơn 3 tháng, trong khi các bác sĩ không có kinh nghiệm chỉ tham gia một buổi thuyết trình và thực hiện quy trình đo trên cả hai bên gối của 3 đối tượng trước khi bắt đầu Tất cả 10 bác sĩ tham gia sẽ được xác nhận về mức độ huấn luyện và kinh nghiệm của họ.

2.5.3 Phương pháp thu thập số liệu

- Thu thập số liệu bằng phương pháp đo trực tiếp và quan sát.

- Sử dụng các bảng thu thập số liệu và bảng tổng hợp số liệu để ghi nhận số liệu.

- Để loại bỏ yếu tố chủ quan làm sai lệch kết quả chúng tôi có những phương pháp sau:

+ Giữa mỗi lần đo đạc, bệnh nhân và thiết bị được kiểm tra để đảm bảo rằng hệ thống được lắp đặt đúng cách.

+ Ba lần đo được thực hiện trên mỗi bên gối, và bệnh nhân được chỉnh lại vị trí chính xác như lúc bắt đầu của mỗi lần đo.

+ Tất cả đối tượng đư ợc đi lại trong phòng và thực hiện năm lần gập duỗi gối giữa mỗi lần đo.

+ Người khám lâm sàng chọn 30 đối tượng không phải là người đo.

+ Đối tượng nghiên cứu không đư ợc biết về kết quả đo của mình sau mỗi lần đo.

- Người đo này được làm mù, không thấy kết quả đo của người đo khác, không thấy bảng kết quả khám lâm sàng của đối tượng.

- Người đo chọn đo gối bên nào trước là ngẫu nhiên.

Các biến số nghiên cứu

- Tuổi: là biến số định lượng, tính theo năm dương lịch.

- Người đo: Định nghĩa: người thực hiện phép đo.

Loại biến số: định tính, có 2 giá trị, có kinh nghiệm hay không có kinh nghiệm.

Cách xác định: xem thông tin trong phiếu thu thập số liệu. Đơn vị: có kinh nghiệm hay không có kinh nghiệm

- Bên chân: Định nghĩa: là phía chân của đối tượng nghiên cứu.

Loại biến số: định tính, có hai giá trị phải và trái.

Cách xác định: xem thông tin trong phiếu thu thập số liệu.

Độ di lệch mâm chày ra trước là giá trị thể hiện mức độ chuyển động của mâm chày ra phía trước so với bánh chè ở một bên gối của tình nguyện viên.

Loại biến số: định lượng.

Kết quả của phép đo bằng máy KT – 1000 được thực hiện ở tư thế gối gập khoảng 25 độ với lực kéo 134N trên một bên gối của tình nguyện viên, được ghi lại bằng đơn vị milimet.

Độ chênh người đo (ΔE) được định nghĩa là giá trị tuyệt đối của hiệu số giữa kết quả đo độ di lệch mâm chày ra trước của hai người đo, thực hiện trên cùng một đối tượng và tại cùng một thời điểm.

Loại biến số: định lượng.

Để xác định giá trị tuyệt đối của hiệu số kết quả đo độ di lệch mâm chày ra trước giữa hai người đo, cần thực hiện trên cùng một đối tượng và tại cùng một thời điểm Đơn vị đo được sử dụng là milimet.

Độ chênh bên – bên (ΔS) được định nghĩa là giá trị tuyệt đối của hiệu số giữa các kết quả đo độ di lệch của mâm chày ra trước trên một cặp gối, được thực hiện tại cùng một thời điểm và bởi cùng một người đo cho cùng một đối tượng.

Loại biến số: định lượng.

Để xác định giá trị tuyệt đối của hiệu số kết quả đo độ di lệch mâm chày ra trước trên một cặp gối, cần thực hiện đo đạc tại cùng một thời điểm và bởi cùng một người Đơn vị đo được sử dụng là milimet.

Tính khả lặp giữa các người đo, hay còn gọi là độ đồng nhất (inter-examiner reproducibility), được xác định thông qua độ chênh lệch (ΔE) giữa các lần đo trên cùng một đối tượng nghiên cứu, bất kể người đo có kinh nghiệm hay không, và trong một hoặc nhiều ngày đo khác nhau.

Tính khả lặp hay độ đồng nhất trong cùng một người đo (intra-examiner reproducibility) được xác định thông qua độ chênh lệch bên – bên (ΔS) trên cùng một đối tượng nghiên cứu, trong một hoặc nhiều ngày đo khác nhau.

Phương pháp phân tích kết quả

Nghiên cứu các phương sai trong các phép đo với giao thức khác nhau được thực hiện thông qua phân tích phương sai (ANOVA) có lặp bằng hiệu chỉnh "Hiệu ứng người đo" thể hiện sự khác biệt trong kết quả giữa hai người đo trên cùng một bên gối sử dụng KT - 1000, trong khi "hiệu ứng bên" phản ánh sự khác biệt giữa hai bên gối của cùng một đối tượng cũng với KT - 1000 Các lần đo được tổ chức để so sánh phương sai thặng dư của các mô hình theo cặp, ví dụ như so sánh giữa KT - 1000 người đo E1 và KT - 1000 người đo E2 nhằm đánh giá "hiệu ứng người đo" trên KT.

Khi so sánh bên phải và bên trái với người đo E1 để đánh giá "hiệu ứng bên", một phân tán thấp của các phép đo cho thấy khả năng lặp lại tốt Phép thử F được áp dụng để xác định mức ý nghĩa thống kê, với ngưỡng đặt ra là P nhỏ hơn 0,05.

Bài nghiên cứu này tập trung vào việc xác định giá trị trung bình và độ lệch chuẩn của độ di lệch mâm chày ra trước và độ chênh bên – bên trên 30 cặp khớp gối khỏe mạnh của người Việt Nam trưởng thành, từ đó phân tích tỷ lệ phân phối độ di lệch này.

Đạo đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu đã được Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh – Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh phê duyệt với mã số 210 / ĐHYD – HĐĐĐ vào ngày 12 tháng 4 năm 2019 Tất cả đối tượng tham gia nghiên cứu đều hoàn toàn tự nguyện và thể hiện sự đồng ý bằng cách ký vào phiếu chấp thuận Họ có quyền từ chối tham gia vào bất kỳ lúc nào nếu mong muốn.

Nghiên cứu này không thực hiện bất kỳ thủ thuật xâm lấn nào trên cơ thể người tham gia, do đó không có nguy cơ nào đối với họ Quy trình tham gia nghiên cứu hoàn toàn không ảnh hưởng đến quyền lợi và lợi ích của người tham gia, và không gây ra bất kỳ bất lợi nào cho họ.

Mọi thông tin của đ ối tượng nghiên cứu chỉ phục vụ mục đích nghiên cứu, được bảo mật.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Độ di lệch mâm chày ra trước trên khớp gối khỏe mạnh của người Việt

Đánh giá độ di lệch mâm chày ra trước trên khớp gối khỏe mạnh được thực hiện bởi bác sĩ chuyên khoa chấn thương chỉnh hình có kinh nghiệm, những người đã sử dụng công cụ KT - 1000 hơn 3 tháng Trước khi tiến hành nghiên cứu, các bác sĩ được huấn luyện thông qua bài thuyết trình và video hướng dẫn sử dụng máy Kết quả khảo sát trên 30 đối tượng người trưởng thành tại Việt Nam cho thấy

3.1.1 Một số đặc điểm của mẫu nghiên cứu

Bảng 3.1 Đặc điểm tuổi của đối tượng nghiên cứu Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Đối tượng nghiên cứu có độ tuổi trung bình là 22,5 ± 2,9 tuổi, với gần một nửa (46,7%) trong số 30 người tham gia thuộc độ tuổi 18-20, 30% ở độ tuổi 21-25 và 23,3% nằm trong nhóm 26-30 tuổi.

Biểu đồ 3.1 Đặc điểm giới tính của đối tượng nghiên cứu (n0)

Nhận xét: 30 người được khảo sát, tỷ lệ giới nam bằng giới nữ (50%).

Bảng 3.2 Tỷ lệ bên chân thuận của đối tượng nghiên cứu Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Hầu hết đ ối tượng thuận chân phải, trong 30 người thì có 24 người (80,0%) thuận chân phải.

Bảng 3.3 Cân nặng và chiều cao trung bình của đối tượng nghiên cứu (n0) Đặc điểm Trung bình Độ lệch chuẩn

Chiều cao trung bình của đối tượng nghiên cứu là 164,4 cm với độ lệch chuẩn 7,5 cm, trong khi cân nặng trung bình đạt 60,5 kg và độ lệch chuẩn là 12,2 kg Chỉ số khối cơ thể (BMI) trung bình là 22,3 kg/m², với độ lệch chuẩn 3,4 kg/m².

Bảng 3 4 Phân loại chỉ số khối cơ thể của đối tượng nghiên cứu Chỉ số khối cơ thể (BMI) Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Có 3 đ ối tượng (tỷ lệ 10%) bị thiếu cân, 21 đ ối tượng (70,0%) có cân nặng bình thường, 5 đối tượng (16,7%) thừa cân và chỉ 1 trường hợp (3,3%) béo phì.

3.1.2 Độ di lệch mâm chày ra trước trên khớp gối khỏe mạnh sử dụng kỹ thuật đo bằng máy KT-1000

Bảng 3.5 Độ di lệch mâm chày ra trước trên khớp gối khỏe mạnh Độ di lệch mâm chày ra trước Chân trái Chân phải Chung p

Nghiên cứu sử dụng kiểm định t-test phương sai đồng nhất để so sánh độ di lệch mâm chày ra trước giữa nam và nữ, cho thấy độ di lệch chung ở cả hai giới là 2,69 ± 1,19 mm, trong đó nam là 2,45 ± 1,14 mm và nữ là 2,94 ± 1,23 mm, nhưng không có sự khác biệt thống kê (p>0,05) Khi phân tích sự khác biệt giữa hai chân, độ di lệch mâm chày ra trước ở chân trái là 2,47 ± 1,19 mm, thấp hơn chân phải 2,91 ± 1,49 mm, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p0,05) Tương tự, ở nữ, độ di lệch bên trái là 2,69 ± 1,27 mm, thấp hơn bên phải 3,19 ± 1,47 mm, cũng không có sự khác biệt thống kê (p>0,05).

Bảng 3.6 Độ di lệch mâm chày ra trước trên khớp gối khỏe mạnh theo tuổi Độ di lệch mâm chày ra trước Chân trái Chân phải Chung p

Kiểm định ANOVA cho thấy độ di lệch mâm chày ra trước chung của hai bên ở nhóm tuổi 21-25 (3,04 ± 1,43 mm) cao hơn nhóm 18-20 (2,61 ± 1,70 mm) và nhóm 26-30 (2,60 ± 1,17 mm), tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Phân tích độ di lệch cụ thể từng bên chân theo nhóm tuổi cho thấy chân phải có độ di lệch cao hơn chân trái ở tất cả các nhóm tuổi, nhưng cũng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p>0,05).

Bảng 3.7 trình bày mối tương quan giữa cân nặng, chiều cao và chỉ số khối cơ thể với độ di lệch mâm chày ra trước trên khớp gối khỏe mạnh Các đặc điểm này có ảnh hưởng đáng kể đến độ di lệch mâm chày ra trước, điều này cho thấy tầm quan trọng của việc duy trì chỉ số khối cơ thể hợp lý để bảo vệ sức khỏe khớp gối.

Chỉ số khối cơ thể (kg/m 2 ) 0,12 0,514

Cân nặng, chiều cao và chỉ số khối cơ thể không có tương quan với độ di lệch mâm chày ra trước trên khớp gối khỏe mạnh (p>0,05).

Đánh giá tính khả lặp độ di lệch mâm chày ra trước trên khớp gối khỏe mạnh sử dụng kỹ thuật đo bằng máy KT-1000

khỏe mạnh sử dụng kỹ thuật đo bằng máy KT-1000

Trong nghiên cứu, không có trường hợp nào phải dừng đo do đau Sự khác biệt giữa hai bên luôn dưới 3 mm, bất kể kinh nghiệm của người đo, cho thấy tất cả các gối đều khỏe mạnh và không có tổn thương dây chằng chéo trước, phù hợp với tiêu chí khám sàng lọc.

3.3.1 Đánh giá độ khả lặp theo giao thức 1

Trên cùng 1 đối tượng có khớp gối khỏe mạnh đo 3 lượt trong 10 ngày,như vậy tổng cộng mỗi người đo 30 lượt, kết quả thu được như sau:

Bảng 3.8 Kết quả 3 lần đo độ di lệch mâm chày ra trước theo giao thức 1

Ngày Người Gối phải (X ± SD) Gối trái (X ± SD)

Biểu đồ 3.2 Sự phân tán kết quả đo độ di lệch mâm chày ra trước bởi người đo E1 theo ngày

To ensure accurate measurements, it is essential to calibrate the equipment using a standard reference The process involves adjusting the fitted values to account for any discrepancies in the readings By doing so, one can achieve precise results that reflect the true performance of the system This calibration is crucial for maintaining consistency and reliability in data collection.

0 1 2 3 4 d o di le ch m a m c h ay ( m ili m e t) 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 1 0 ngay do (ngay) do di lech mam chay phai ra truoc lan1 do boi nguoi E1 Fitted values

Biểu đồ 3.3 Sự phân tán kết quả đo độ di lệch mâm chày bởi người đo E2 theo ngày

0 1 2 3 4 d o di le ch m a m c h ay ( m ili m e t) 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 1 0 ngay do (ngay) do di lech mam chay phai ra truoc lan 1 do boi nguoi E2 Fitted values

0 1 2 3 4 d o di le ch m a m c h ay ( m ili m e t) 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 1 0 ngay do (ngay) do di lech mam chay trai ra truoc lan 1 do boi nguoi E2 Fitted values

Bảng 3.9 Độ chênh giữa 2 người đo có kinh nghiệm

Ngày đo Độ chênh người đo (mm)

Hiệu ứng “người đo” được ghi nhận trong sự phân tán các phép đo với KT-1000, với độ chênh người đo trung bình là 1,30 ± 0,35 mm Phân tích phương sai cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các lần đo trong cùng một đợt giữa hai người đo có kinh nghiệm (p>0,05).

Bảng 3.10 Độ khả lặp theo lần đo và ngày đo ở cả 2 người đo có kinh nghiệm trong giao thức 1

Biến số Độ di lệch (X±SD) KTC 95% ANOVA

A: Phân tích khác biệt theo ngày đo (post hoc test) với phương pháp hiệu chỉnh scheffe B: Phân tích khác biệt theo lần đo (post hoc test) với phương pháp hiệu chỉnh scheffe * p>0,05, ** p 2 mm, 69% bệnh nhân có tổn thương, đồng thời tiêu chí này có độ đặc hiệu 72% ở 30 pounds (134 N), cho thấy độ nhạy cao và tỷ lệ dương tính giả thấp So với các nghiên cứu trước đây về khớp gối khỏe mạnh, độ chênh bên – bên trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi có xu hướng thấp hơn, tương tự như sự khác biệt trong giá trị trung bình độ di lệch mâm chày ra trước giữa các nghiên cứu từ những thập niên 90.

Trong nghiên cứu về can thiệp phẫu thuật, Mark Schurz và các cộng sự đã báo cáo rằng độ di lệch mâm chày ra trước sau khi thực hiện mổ tái tạo có sự khác biệt trung bình là 1,7 mm giữa gối bên lành và bên bệnh, được đo bằng thiết bị KT-2000.

Seiji Watanabe đã báo cáo kết quả độ di lệch mâm chày ra trước khác biệt giữa gối bên lành và bên bệnh, được đo bằng máy KT-1000 trước và sau mổ, lần lượt là 5,3mm và 0,05mm (P < 0.00001) Tác giả Sam K Yasen đã đánh giá mức di lệch ra trước của mâm chày sau mổ, cho thấy sự khác biệt về lỏng gối được đo bằng máy KT-1000.

Độ chênh lệch giữa gối bên lành và bên bệnh không vượt quá 2,4 mm theo nghiên cứu [62] Các giá trị trung bình này có sự khác biệt rõ rệt sau phẫu thuật giữa các nghiên cứu, do đó cần thận trọng khi sử dụng KT - 1000 như một công cụ theo dõi.

Nghiên cứu của Theo Randall Wroble và cộng sự cho thấy độ chênh bên – bên ở mức 134 N là 0.7 với sai số 1.3 mm khi đo 6 đối tượng khỏe mạnh (tuổi từ 23 – 29, 3 nam và 3 nữ) trong 6 ngày liên tiếp Kết quả cho thấy có sự khác biệt thống kê giữa các ngày khi tính riêng độ di lệch mâm chày mỗi bên, nhưng độ chênh bên – bên không có sự khác biệt đáng kể Để đạt kết quả tối ưu, KT-1000 nên ghi nhận độ chênh bên - bên thay vì giá trị đo trên từng gối Cụ thể, tổng độ di lệch trước sau cho gối trái là 9,3 ± 1,5 mm và gối phải là 8,6 ± 2,0 mm (p < 0,01) Sai số chung ở khoảng tin cậy 90% cho gối phải là 1.6 mm, gối trái là 1.4 mm và độ chênh bên - bên là 1,9 mm Mặc dù lý thuyết cho rằng sai số tăng khi đo hai lần, độ chênh bên – bên lại hữu ích hơn vì loại bỏ các yếu tố ảnh hưởng như mức độ thư giãn cơ, lo lắng, trạng thái cảm xúc và chế độ ăn uống Hơn nữa, đo trên một bên gối không phản ánh những thay đổi đồng thời ở bên gối đối diện trong quá trình luyện tập hoặc phục hồi chức năng Do đó, độ chênh bên - bên trong nghiên cứu của Randall thấp hơn so với nghiên cứu của chúng tôi, có thể do cỡ mẫu nhỏ và đo tổng độ di lệch mâm chày.

Wiertsema và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu trên 20 bệnh nhân chẩn đoán đứt dây chằng chéo trước (DCCT) một bên, với thời gian ít nhất 6 tuần Nghiên cứu sử dụng phương pháp khám nghiệm Lachman và đo độ di lệch mâm chày bằng máy KT-1000, thực hiện bởi hai kỹ thuật viên vật lý trị liệu có kinh nghiệm Kết quả cho thấy, với lực kéo 89N, độ di lệch mâm chày trung bình ở gối khỏe mạnh là 7 ± 2,3 mm, trong khi ở gối bị đứt DCCT là 10,45 ± 2,5 mm, với độ chênh lệch bên – bên là 3,75 ± 2,66 mm Sự khác biệt về giá trị độ di lệch mâm chày trong nghiên cứu này so với các nghiên cứu trước đó có thể do mỗi phép đo KT-1000 được thực hiện ba lần và chọn giá trị lớn nhất.

Tính khả lặp độ di lệch mâm chày ra trước trên khớp gối khỏe mạnh sử dụng kỹ thuật đo bằng máy KT-1000

sử dụng kỹ thuật đo bằng máy KT-1000

Nhóm nghiên cứu thực hiện đo trên người có khớp gối khỏe mạnh nhằm đánh giá tính khả thi của máy đo trong lâm sàng tại Việt Nam Đánh giá sẽ dựa trên hai yếu tố chính: tính khả lặp của nghiệm pháp và độ phân tán của giá trị trung bình mức di lệnh ra trước của mâm chày.

Lần lượt tiến hành phân tích kết quả của 3 giao thức, kết quả nghiên cứu như sau:

Kết quả nghiên cứu cho thấy độ di lệch mâm chày ra trước do người đo có kinh nghiệm thực hiện ít phân tán, với độ lệch chuẩn dao động từ 0-0,62 mm qua ba lần đo Hiệu ứng “người đo” được xác định qua sự phân tán của các phép đo sử dụng máy KT-1000, với độ chênh trung bình giữa các người đo là 1,30 ± 0,35 mm cho gối phải và 1,0 ± 0,80 mm cho gối trái Phân tích phương sai cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các lượt đo của hai người đo có kinh nghiệm (p>0,05) Độ chênh bên – bên do người đo E1 là 0,56 ± 0,32 mm và người E2 là 0,41 ± 0,25 mm cũng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p>0,05).

Giao thức này cho thấy rằng việc đo độ di lệch mâm chày ra trước bằng máy KT-1000 có tính khả lặp cao khi được thực hiện bởi người đo có kinh nghiệm trong suốt 10 ngày.

Bảng 4.2 So sánh tính khả lặp bởi giao thức 1 với một số nghiên cứu

134 N Gối trái 2,49 ± 0,09 9,3 ± 1,5 - Độ chênh bên - bên

Nghiên cứu của Randall Wroble và cộng sự cho thấy, một người đo có kinh nghiệm sau 2 năm sử dụng thiết bị KT-1000 đã tiến hành đo 6 đối tượng khỏe mạnh (tuổi từ 23 – 29, gồm 3 nam và 3 nữ) trong 6 ngày liên tiếp Kết quả cho thấy độ di lệch mâm chày trước – sau giữa các lần đo trong cùng một lượt và giữa các lượt đo trong một ngày không có sự khác biệt Tuy nhiên, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các ngày khi tính riêng độ di lệch mâm chày mỗi bên, trong khi độ chênh bên – bên không có sự khác biệt Để đạt được kết quả tối ưu, KT-1000 nên ghi nhận độ chênh bên – bên thay vì giá trị đo được trên từng gối Cụ thể, ở lực 134 N, tổng độ di lệch trước sau cho gối trái là 9,3 ± 1,5 mm và gối phải là 8,6 ± mm Đặc biệt, số đo độ di lệch mâm chày trước sau trên từng gối trong ngày đầu tiên luôn thấp hơn so với các ngày từ 2 đến 6, cho thấy sự điều chỉnh quy trình đo và hiệu ứng học hỏi của người đo Do đó, việc lặp lại phép đo trong ít nhất 2 ngày riêng biệt là cần thiết để tránh hiệu ứng học hỏi.

Nghiên cứu của Theo Collette và cộng sự năm 2012 so sánh kết quả đo độ di lệch mâm chày ra trước giữa máy KT-1000 và máy GNRB trên cùng một đối tượng khỏe mạnh Kết quả cho thấy sự phân tán giữa hai thiết bị, với hiệu ứng người đo được ghi nhận khi sử dụng KT-1000 (p

Ngày đăng: 13/05/2021, 20:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đ ặng Hoàng Anh (2008) Nghiên cứu đi ều trị đứt dây chằng chéo trước khớp gối bằng phẫu thuật nội soi sử dụng gân cơ bán gân và gân cơ thon, Luận án Tiến sỹ Y học, Học viện Quân Y Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu điều trị đứt dây chằng chéo trướckhớp gối bằng phẫu thuật nội soi sử dụng gân cơ bán gân và gân cơ thon
2. Nguyễn Tiến Bình và cộng sự (2003) "Đánh giá kết quả tái tạo dây chằng chéo trước khớp gối bằng gân bánh chè với kỹ thuật nội soi". Tạp chí Y - Dược Việt Nam, 292 (10), 53 - 59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kết quả tái tạo dây chằngchéo trước khớp gối bằng gân bánh chè với kỹ thuật nội soi
3. Vũ Nhất Đ ịnh, Phạm Ngọc Thắng (2018) "Kết quả ứng dụng kỹ thuật "ALL INSIDE" tái tạo dây chằng chéo trước khớp gối". Tạp chí Y - Dược học Quân sự, 5, 100 - 106 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả ứng dụng kỹ thuật "ALL INSIDE" tái tạo dây chằng chéo trước khớp gối
4. Trần Trung Dũng (2011) Nghiên cứu sử dụng mảnh ghép đ ồng loại bảo quản lạnh sâu tạo hình dây chằng chéo trước khớp gối qua nội soi, Luận án tiến sỹ Y học, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sử dụng mảnh ghép đ ồng loại bảoquản lạnh sâu tạo hình dây chằng chéo trước khớp gối qua nội soi
5. Trần Quốc Lâm, Trần Trung Dũng (2018) Nghiên cứu giải phẫu và đ ối chiếu trong phẫu thuật nội soi tái tạo dây chằng chéo trước khớp gối bằng kỹ thuật một bó tất cả bên trong, Luận án Tiến sĩ Y học, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu giải phẫu và đ ốichiếu trong phẫu thuật nội soi tái tạo dây chằng chéo trước khớp gốibằng kỹ thuật một bó tất cả bên trong
6. Lê Mạnh Sơn (2016) Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi tái tạo dây chằng chéo trước hai bó bằng gân cơ bán gân và gân cơ thon tự thân, Luận án Tiến sĩ Y học, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi tái tạo dâychằng chéo trước hai bó bằng gân cơ bán gân và gân cơ thon tự thân
7. Lê Bá Tường, Nguyễn Hữu Tri (2016) "Khảo sát thực trạng béo phì của sinh viên Trường Đại học Cần Thơ". Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, 44c, 9-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát thực trạng béo phì củasinh viên Trường Đại học Cần Thơ
8. Lê Đình Vấn, Nguyễn Quang Bảo Tú (2004) "Nghiên cứu tình trạng thể lực và dinh dưỡng của sinh viên mới vào trường của Đại học Huế". Tạp chí Khoa học Trường Đại học Huế, Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình trạng thểlực và dinh dưỡng của sinh viên mới vào trường của Đại học Huế
10. Amis A., Dawkins G. (1991) "Functional anatomy of the anterior cruciate ligament. Fibre bundle actions related to ligament replacements and injuries". The Journal of bone and joint surgery.British volume, 73 (2), 260-267 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Functional anatomy of the anteriorcruciate ligament. Fibre bundle actions related to ligamentreplacements and injuries
11. Anderson A.F., Lipscomb A.B. (1989) "Preoperative instrumented testing of anterior and posterior knee laxity". The American journal of sports medicine, 17 (3), 387-392 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Preoperative instrumentedtesting of anterior and posterior knee laxity
12. Arneja S., Leith J. (2009) "Validity of the KT-1000 knee ligament arthrometer. ". Journal of Orthopaedic Surgery, 17 (1), 77-79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Validity of the KT-1000 knee ligamentarthrometer
13. Arnoczky S.P. (1983) "Anatomy of the anterior cruciate ligament".Clinical orthopaedics and related research, (172), 19-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anatomy of the anterior cruciate ligament
14. Bach Jr B.R., Warren R.F., Flynn W.M., et al. (1990) "Arthrometric evaluation of knees that have a torn anterior cruciate ligament". J Bone Joint Surg Am, 72 (9), 1299-1306 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Arthrometricevaluation of knees that have a torn anterior cruciate ligament
15. Ballantyne B.T., French A.K., Heimsoth S.L., et al. (1995) "Influence of examiner experience and gender on interrater reliability of KT-1000 arthrometer measurements". Physical therapy, 75 (10), 898-906 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Influenceof examiner experience and gender on interrater reliability of KT-1000arthrometer measurements
16. Benjaminse A., Gokeler A., van der Schans C.P. (2006) "Clinical diagnosis of an anterior cruciate ligament rupture: a meta-analysis".Journal of orthopaedic &amp; sports physical therapy, 36 (5), 267-288 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clinicaldiagnosis of an anterior cruciate ligament rupture: a meta-analysis
17. Benvenuti J.-F., Vallotton J.A., Meystre J.-L., et al. (1998) "Objective assessment of the anterior tibial translation in Lachman test position comparison between three types of measurement". Knee Surgery Sách, tạp chí
Tiêu đề: Objectiveassessment of the anterior tibial translation in Lachman test positioncomparison between three types of measurement
18. Boyer P., Djian P., Christel P., et al. (2004) "Fiabilité de l’arthromètre KT-1000 pour la mesure de la laxité antérieure du genou". Revue de Chirurgie Orthopédique et Réparatrice de l'Appareil Moteur, 90 (8), 757-764 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fiabilité de l’arthromètreKT-1000 pour la mesure de la laxité antérieure du genou
19. Branch T.P., Mayr H.O., Browne J.E., et al. (2010) "Instrumented Examination of Anterior Cruciate Ligament Injuries: Minimizing Flaws of the Manual Clinical Examination". Arthroscopy: The Journal of Arthroscopic &amp; Related Surgery, 26 (7), 997-1004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: InstrumentedExamination of Anterior Cruciate Ligament Injuries: Minimizing Flawsof the Manual Clinical Examination
20. Carsen S., Deakon R.T., Johnson D. (2015) Instrumented Measurement of the Multiple-Ligament-Injured Knee: Arthrometry, Stress Radiography, Rotationometry, and Computer Navigation. IN Fanelli M.D.G.C. (Ed.) Posterior Cruciate Ligament Injuries: A Practical Guide to Management. Springer International Publishing, Cham, 65-73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Posterior Cruciate Ligament Injuries: A PracticalGuide to Management
21. Collette M., Courville J., Forton M., et al. (2012) "Objective evaluation of anterior knee laxity; comparison of the KT-1000 and GNRB®arthrometers". Knee Surgery, Sports Traumatology, Arthroscopy, 20 (11), 2233-2238 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Objective evaluationof anterior knee laxity; comparison of the KT-1000 and GNRB®arthrometers

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w