1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Gánh nặng bệnh tật ở tỉnh đắk lắk năm 2015

197 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 197
Dung lượng 2,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên các nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứuGánh nặng bệnh tật toàn cầu -1990, chủ yếu sử dụng nguồn số liệu thứ cấp từ cácbáo cáo thống kê của ngành y tế trừ nghiên cứu c

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kếtquả nghiên cứu được trình bày trong luận án là hoàn toàn trung thực, khách quan vàchưa từng được công bố ở bất kỳ nơi nào

Tác giả

CHÂU ĐƯƠNG

Trang 4

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

Lời cam đoan i

Mục lục ii

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt iv

Danh mục đối chiếu từ chuyên môn Anh – Việt vi

Danh mục các bảng viii Danh mục các hình, biểu đồ, sơ đồ x

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 4

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

1.1 Khái quát về DALY 5

1.2 Một số khái niệm liên quan 8

1.3 Phương pháp tính DALY 20

1.4 Các nhóm bệnh và chấn thương 30

1.5 Nguồn số liệu 30

1.6 Sơ lược tổng quan về Đắk Lắk 31

1.7 Các nghiên cứu gánh nặng bệnh tật ở nước ngoài 32

1.8 Các nghiên cứu gánh nặng bệnh tật ở trong nước 42

1.9 Nhận xét chung về phương pháp nghiên cứu GBD 45

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 48

2.1 Xác định tỉ lệ hiện mắc bệnh tật của dân số 48

2.2 Xác định tỉ lệ tử vong của dân số 55

2.3 Phương pháp phân tích số liệu bệnh 56

2.4 Tính toán DALY với YLD và YLL 58

2.5 Kiểm soát sai lệch 62

2.6 Tóm tắt quá trình nghiên cứu 64

2.7 Đạo đức trong nghiên cứu 66

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 67

3.1 Tình hình mắc bệnh năm 2015 của người dân Đắk Lắk 67

Trang 5

3.2 Tình hình tử vong năm 2015 của người dân Đắk Lắk 72

3.3 Gánh nặng bệnh tật do tử vong sớm (YLL) năm 2015 ở Đắk Lắk 76

3.4 Gánh nặng do sống với bệnh tật (YLD) năm 2015 ở Đắk Lắk 76

3.5 Tổng gánh nặng bệnh tật và tử vong (DALY) năm 2015 ở Đắk Lắk 77

3.6 Mười nguyên nhân hàng đầu của DALY năm 2015 tại Đắk Lắk 84

Chương 4: BÀN LUẬN 105

4.1 Về đặc tính dân số nghiên cứu 105

4.2 Tình hình mắc bệnh năm 2015 của người dân Đắk Lắk 105

4.3 Tình hình tử vong năm 2015 của người dân Đắk Lắk 110

4.4 Gánh nặng bệnh tật do tử vong sớm (YLL) năm 2015 ở Đắk Lắk 112

4.5 Gánh nặng do sống với bệnh tật (YLD) năm 2015 ở Đắk Lắk 114

4.6 Tổng gánh nặng bệnh tật và tử vong (DALY) năm 2015 ở Đắk Lắk 116

4.7 Phân bố DALY theo nhóm tuổi, giới tính, dân tộc và vùng kinh tế 119

4.8 Mười nguyên nhân hàng đầu của DALY năm 2015 tại Đắk Lắk 124

4.9 Những điểm mạnh và hạn chế của nghiên cứu 135

4.10 Những điểm mới và ứng dụng của nghiên cứu 138

KẾT LUẬN 139

KIẾN NGHỊ 140

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 141

TÀI LIỆU THAM KHẢO 142

Trang 6

NMCT : Nhồi máu cơ tim

RLTĐ : Rối loạn tiền đình

RLTHN : Rối loạn tuần hoàn não

RLTT : Rối loạn tâm thần

TBMMN : Tai biến mạch máu não

TDP : Tổ dân phố

TNGT : Tai nạn giao thong

TTCSSKSS : Trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sảnTTPL : Tâm thần phân liệt

TTYT : Trung tâm y tế

UVSS : Uốn ván sơ sinh

VĐHHT : Viêm đường hô hấp trên

VNNB : Viêm não Nhật Bản

VPQ : Viêm phế quản

Trang 7

Tiếng Anh

COPD : Chronic obstructive pulmonary disease

DALY : Disability Adjusted Life Years

DW : Disability weight

DWNEW : Disability weight new

DWOLD : Disability weight old

EQ5D+ : Euroqol- 5D+ health state descriptions

GBD : Global Burden of Disease

GHE : Global Health Estimate

ICD-9 : International Statistical Classification of Diseases and Related

Health Problems, Ninth RevisionICD-10 : International Statistical Classification of Diseases and Related

Health Problems, Tenth RevisionICIDH : International classification of impairments, disabilities and

handicapsPPS : Probability Propotional to Size

PTO : Person trade-offs

WHO : World Health Organization

YLD : Years of healthy life lost due to disability

YLL : Years of life lost

Trang 8

DANH MỤC ĐỐI CHIẾU

TỪ CHUYÊN MÔN ANH – VIỆT

- Euroqol-5D+ health state descriptions: Bảng mô tả trạng thái sức khỏe theo tiêu

chuẩn Châu Âu (phiên bản đặc biệt)

- International Statistical Classification

of Diseases and Related Health

các vấn đề liên quan đến sức khỏe lần thứ 10

- International classification of

Trang 9

khuyết tật và tàn tật

- Magnitude estimation : Ước tính độ lớn

- Treating like health outcomes as like: Tính công bằng (mọi kết cuộc sức khỏe

đều được xem như nhau)

vong

- Years of healthy life lost due to

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

3.5 Đặc tính dân số xã hội của các trường hợp tử vong ở Đắk Lắk 72

3.9 Số năm sống bị mất do tử vong sớm năm 2015 ở Đắk Lắk 76

3.10 Số năm sống khỏe mạnh bị mất do bệnh tật của người dân

3.12 Phân bố DALY theo nhóm tuổi, giới tính, nhóm dân tộc và

3.14 Mười nguyên nhân hàng đầu của DALY ở nhóm tuổi 0-4 853.15 Mười nguyên nhân hàng đầu của DALY ở nhóm tuổi 5-14 863.16 Mười nguyên nhân hàng đầu của DALY ở nhóm tuổi 15-29 873.17 Mười nguyên nhân hàng đầu của DALY ở nhóm tuổi 30-44 883.18 Mười nguyên nhân hàng đầu của DALY ở nhóm tuổi 45-59 893.19 Mười nguyên nhân hàng đầu của DALY ở nhóm tuổi 60-69 90

Trang 11

3.20 Mười nguyên nhân hàng đầu của DALY ở nhóm tuổi 70-79 913.21 Mười nguyên nhân hàng đầu của DALY ở nhóm tuổi 80+ 923.22

3.25

Mười nguyên nhân hàng đầu của DALY ở nữ giới

Tổng hợp mười nguyên nhân hàng đầu DALY theo giới tính

95963.26 Mười nguyên nhân hàng đầu của DALY ở nhóm dt Kinh 973.27 Mười nguyên nhân hàng đầu của DALY ở nhóm dt Ê đê 983.28

3.29

Mười nguyên nhân hàng đầu của DALY ở nhóm dt khác

Tổng hợp mười nguyên nhân dẫn đầu theo nhóm dân tộc

99100

3.32

3.33

Mười nguyên nhân hàng đầu DALY ở vùng III

Tổng hợp mười nguyên nhân dẫn đầu theo vùng kinh tế xã

hội

103104

Trang 12

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ.

1.1 Biểu đồ so sánh trọng số bệnh tật của GBD và của Hà Lan 111.2 Biểu đồ so sánh trọng số bệnh tật năm 2010 (dwnew) và trọng số

Biểu đồ so sánh trong số bệnh tật của GBD-2010 và GBD-2013

Phân bố DALY của 3 nhóm bệnh chính theo nhóm tuổi

Phân bố DALY của 21 phân nhóm bệnh theo nhóm tuổi

Phân bố DALY của nhóm tuổi theo giới tính

13818283

Sơ đồ

Trang 13

ĐẶT VẤN ĐỀ

Gánh nặng bệnh tật là những tổn thất về sức khỏe, tinh thần, vật chất và xã hội củamột cộng đồng; nó ảnh hưởng đến chất lượng sống của con người và tình hình pháttriển kinh tế xã hội, chứ không đơn thuần là chi phí mà cá nhân, gia đình và xã hộiphải chi trả cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe [22] Trước đây, việc đánh giá gánhnặng bệnh tật chỉ dựa vào các chỉ số như: tỷ lệ hiện mắc, tỷ lệ mới mắc, sốchết/mắc, tỷ lệ tử vong; nhưng các chỉ số này không phản ánh chính xác mức độảnh hưởng cũng như tính nghiêm trọng của từng bệnh lên sức khỏe; đồng thời cácnhà quản lý thường chú ý đến số liệu tử vong, những bệnh nào có tỷ lệ tử vong caođược cho là quan trọng và dành nhiều sự quan tâm [54]

Tuy nhiên, bệnh tật cũng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống và tình hìnhkinh tế xã hội, ví dụ như bệnh rối loạn tâm thần là một bệnh ít gây tử vong, nhưng

nó gây ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sống, tinh thần, vật chất của cá nhân, giađình và xã hội Hơn nữa, trong thế giới hiện đại, các bệnh liên quan đến lối sống và

do thoái hóa đã dần thay thế cho các bệnh nhiễm trùng và trở thành nguyên nhânchính gây nên bệnh tật và tử vong Sự dịch chuyển dịch tễ này diễn ra rất nhanh ởcác nước phát triển, các chỉ số về tử vong hoặc trạng thái sức khỏe đơn thuần khôngphản ánh đầy đủ bức tranh toàn cảnh về sức khỏe của cộng đồng; do đó năm 1991,theo đề nghị của Ngân hàng Thế giới, các nhà khoa học đã đã xây dựng một phươngpháp đo lường cả tác động của tử vong và bệnh tật lên sức khỏe bằng chỉ số “Nămsống hiệu chỉnh theo bệnh tật”, viết tắt là DALY (Disability- Adjusted Life Years),được gọi là phương pháp nghiên cứu Gánh nặng bệnh tật toàn cầu năm 1990(Global Burden of Diseases – 1990 (GBD-1990)) [44]

Năm sống hiệu chỉnh theo bệnh tật đo lường khoảng cách giữa tình trạng sức khỏehiện tại so với tình trạng sức khỏe lý tưởng, nơi mọi người dân sống đến già màkhông bị bệnh tật hoặc chấn thương dựa trên đơn vị thời gian bị mất Một Năm sốnghiệu chỉnh theo bệnh tật tương đương với một năm sống “khỏe mạnh” bị mất [27],[38], [47], [45], [70] Năm sống hiệu chỉnh theo bệnh tật bằng tổng số năm sống bịmất do tử vong sớm (YLL- Years of Life Lost) và số năm sống khỏe mạnh bị mất

Trang 14

do bệnh tật (YLD- Years of healthy life Lost due to Disability) [38], [44] Việc phântích Năm sống hiệu chỉnh theo bệnh tật có thể là một công cụ hữu ích để ước tínhnhững loại bệnh tật và chấn thương nào gây tổn thất nhiều nhất đến sức khoẻ trongmột số dân số nhất định, cũng như lựa chọn ưu tiên cho các mối quan tâm về chínhsách y tế như phân bổ nguồn lực, can thiệp và nghiên cứu; những thông tin này rấtcần thiết cho các nhà hoạch định chính sách [41], [42], [47], [53].

Tại Việt Nam cũng đã có một số nghiên cứu về gánh nặng bệnh tật [1], [6], [7], [8],[12], [15], [16] Tuy nhiên các nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứuGánh nặng bệnh tật toàn cầu -1990, chủ yếu sử dụng nguồn số liệu thứ cấp từ cácbáo cáo thống kê của ngành y tế (trừ nghiên cứu của Lê Vũ Anh [1]) nên khôngphản ảnh đầy đủ thực trạng bệnh tật trong dân số, ví dụ một số bệnh tật không gây

tử vong như mù, điếc, dị tật bẩm sinh và tàn tật không được thống kê; hoặc cáctrường hợp tử vong tại nhà như tử vong sơ sinh, chết già, và đôi khi đuối nước cũngkhông được ghi nhận, phải bổ sung từ nhiều nguồn số liệu khác nhau, do đó có thểgây chồng chéo, không chính xác

Theo ước tính gánh nặng bệnh tật toàn cầu của Tổ chức y tế thế giới (2016) chothấy tổng gánh nặng bệnh tật và tử vong của Việt Nam năm 2015 là 24.962.600DALY, tương đương 26.712,5 DALY/100.000 dân [67] Mười nguyên nhân dẫnđầu năm 2015 ở Việt Nam bao gồm: tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim, tainạn giao thông, đau cổ- thắt lưng, bệnh các cơ quan giác quan, đái tháo đường, ungthư phổi, bệnh về da, dị tật bẩm sinh và trầm cảm [46]

Đắk Lắk là một tỉnh miền núi nằm ở khu vực Tây Nguyên, có 47 dân tộc cùng sinhsống, trong đó dân tộc Kinh chiếm 67%, dân tộc Ê đê chiếm 17%, còn lại là các dântộc khác [19] Đắk Lắk có nền văn hóa đa dạng và phong phú tuy nhiên vẫn cònnhiều hủ tục, tập quán lạc hậu, đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèocòn cao (năm 2015 là 10%) [5]; khả năng tự chăm sóc sức khoẻ còn hạn chế dothiếu kiến thức; cơ hội tiếp cận các dịch vụ y tế còn thấp, do đó đã ảnh hưởng rấtnhiều đến tình hình sức khoẻ và bệnh tật Hơn nữa, cho đến nay việc đánh giá gánhnặng bệnh tật ở Đắk Lắk chủ yếu dựa vào các báo cáo thống kê hàng năm của

Trang 15

ngành y tế [18], chưa có một nghiên cứu nào đi sâu đánh giá gánh nặng bệnh tậtbằng phương pháp Năm sống hiệu chỉnh theo bệnh tật.

Nghiên cứu “Gánh nặng bệnh tật ở tỉnh Đắk Lắk năm 2015” được thực hiện, sửdụng phương pháp nghiên cứu gánh nặng bệnh tật toàn cầu - 2010 của Tổ chức y tếthế giới để trả lời cho câu hỏi: “Tổng gánh nặng bệnh tật và tử vong năm 2015 ởĐắk Lắk là bao nhiêu? Những nguyên nhân hàng đầu nào gây nên gánh nặng bệnhtật và tử vong chính cho người dân tỉnh Đắk Lắk?” Những kết quả của nghiên cứu

sẽ là cơ sở để đề xuất những biện pháp can thiệp nâng cao sức khoẻ, giảm gánhnặng bệnh tật và tử vong cho người dân tỉnh Đắk Lắk

Trang 16

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Xác định số năm sống bị mất do tử vong sớm (YLL) năm 2015 của người dânĐắk Lắk

2 Xác định số năm sống khỏe mạnh bị mất do bệnh tật (YLD) năm 2015 của ngườidân Đắk Lắk

3 Xác định tổng gánh nặng bệnh tật và tử vong (DALY) năm 2015 của tỉnh ĐắkLắk theo nguyên nhân, nhóm tuổi, giới tính, nhóm dân tộc và vùng kinh tế xã hội

4 Xác định mười nguyên nhân dẫn đầu của DALY năm 2015 của người dân ĐắkLắk

Để đạt được những mục tiêu trên, một nội dung đi trước của nghiên cứu là xác định

tỷ lệ hiện mắc bệnh, và tỷ lệ tử vong năm 2015 của dân số Đắk Lắk, phân bố theonguyên nhân, nhóm tuổi, giới tính, dân tộc, và vùng kinh tế xã hội Nội dung này sẽđược trình bày chi tiết ở chương 3 (Đối tượng và phương pháp nghiên cứu) của luậnán

Trang 17

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Khái quát về DALY

Phương pháp dùng chỉ số DALY để đo lường gánh nặng bệnh tật, lần đầutiên được đề cập trong báo cáo phát triển toàn cầu của Ngân hàng thế giới vào năm

1993 [38], [44] Kể từ đó đến nay, phương pháp này được thường xuyên sử dụngtrong các nghiên cứu đánh giá gánh nặng bệnh tật toàn cầu (GBD- Global Burden ofDisease) của Tổ chức y tế thế giới (WHO), đồng thời nó được thực hiện rộng rãi ởnhiều cấp độ và qui mô ở các quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau

DALY là một chỉ số được thiết kế để đánh giá tình trạng sức khỏe và bệnhtật do bởi các bệnh và chấn thương cụ thể [24] Nó cho phép đo lường và so sánh sốnăm sống mất đi do tử vong sớm (YLL) và số năm sống khỏe mạnh mất đi do bệnhtật (YLD) Đồng thời nó cho phép so sánh chi phí- hiệu quả của các chương trìnhcan thiệp y tế khác nhau và so sánh gánh nặng bệnh tật giữa các quốc gia và vùnglãnh thổ khác nhau Đặc biệt theo Gibney, DALY được dùng để xác định các mụctiêu y tế cơ bản, do đó nó được sử dụng như một nguồn thông tin quan trọng trongviệc lựa chọn ưu tiên cho các nghiên cứu can thiệp và phân bổ nguồn lực y tế [32].Một DALY có thể được coi là một năm của cuộc sống “khoẻ mạnh” bị mất do bởibệnh tật hoặc tử vong sớm Giá trị của DALY trên dân số có thể được dùng như mộtphép đo khoảng cách giữa tình trạng sức khoẻ hiện tại và sức khoẻ của một tìnhhuống lý tưởng, nơi mà toàn bộ dân số sống đạt tuổi thọ cao, trong tình trạng khôngbệnh tật [27], [42], [45]

Phương pháp DALY lần đầu tiên được sử dụng để đánh giá gánh nặng bệnhtật toàn cầu năm 1990, do Tổ chức y tế thế giới và Trường Đại học Harvard cùnghợp tác thực hiện theo đề nghị của Ngân hàng thế giới Nghiên cứu ban đầu này đãước tính gánh nặng bệnh tật cho hơn 100 nguyên nhân bệnh và chấn thương đối với

5 nhóm tuổi và hai giới của 8 vùng trên toàn cầu Nó đưa ra một ước tính nhất quán

và toàn diện của tỷ lệ bệnh tật và tử vong theo tuổi, giới tính và vùng địa lý [42].Dựa trên cơ sở dữ liệu mở rộng và thông tin được cung cấp bởi các quốc gia thànhviên, WHO đã cập nhật các ước tính gánh nặng bệnh tật toàn cầu cho các năm 2000

Trang 18

– 2002 – 2004 và được công bố trong các báo cáo sức khỏe toàn cầu hàng năm củaWHO [38] Các ước tính sau này phản ánh sự thay đổi lớn về các phương pháp ướctính tỷ lệ tử vong trong bối cảnh thiếu dữ liệu, cách tiếp cận được cải tiến để giảiquyết các vấn đề về nguyên nhân trong giấy đăng ký tử vong, các chiến lược xâydựng mô hình nguyên nhân tử vong và sử dụng các công cụ cải tiến để đảm bảo tínhnhất quán của các ước tính tỷ lệ tử vong và dịch tễ học [38].

Tuy nhiên phương pháp nghiên cứu Gánh nặng bệnh tật toàn cầu-1990 cómột số hạn chế đó là: việc tính toán DALY phức tạp do phải sử dụng chiết khấu vàtrọng số tuổi; không xử lý vấn đề đồng bệnh tật nên số DALY được ước tính caohơn so với số năm sống khỏe mạnh bị mất thực tế; bộ trọng số bệnh tật được xácđịnh bởi các chuyên gia, không mang tính phổ thông nên không phản ánh đúng thựctrạng sức khỏe bị mất; quan điểm tiếp cận dựa vào số mới mắc, trong khi đa số cácnguồn số liệu có sẵn thường là số hiện mắc [38]

Năm 2007, Bill và Melinda đã tài trợ cho Dự án nghiên cứu GBD-2010, dẫnđầu là Viện đo lường và đánh giá sức khỏe của Trường đại học Washington, với sựhợp tác của nhiều tổ chức như: WHO, Trường đại học Harvard, Johns Hopkins vàTrường đại học Queensland Nghiên cứu này dựa trên sự thẩm định dịch tễ học rộnghơn thông qua mạng lưới khoảng 40 nhóm chuyên gia nghiên cứu, gồm hàng trămcác chuyên gia thuộc các chuyên ngành bệnh tật và chấn thương, bao gồm nhiềungười đang làm việc ở các chương trình của WHO [38] Nghiên cứu GBD-2010 đãphát triển một số phương pháp mới để đánh giá các nguyên nhân tử vong và tổnghợp các dữ liệu dịch tễ học để trình bày các ước tính tỷ lệ mới mắc và tỷ lệ hiện mắcbệnh của 21 vùng trên toàn cầu [38] Đặc biệt, nghiên cứu GBD- 2010 đã ước tínhlại toàn bộ trọng số bệnh tật của 220 trạng thái của 291 nguyên nhân bệnh, chấnthương và 1.160 di chứng của nó theo phương pháp mới được chuẩn hóa [56]

Trong các nghiên cứu trước đây, các tác giả chủ yếu sử dụng phương phápnghiên cứu của GBD-1990, được cải tiến, cập nhật cho phù hợp với điều kiện cụ thểcủa từng địa phương Phương pháp nghiên cứu GBD-2010, cho đến hiện nay chưađược sử dụng nhiều, ưu điểm của phương pháp này so với các phương pháp trướcđây là:

Trang 19

- Sử dụng Bảng sống chuẩn mới của WHO với kỳ vọng sống lúc sinh là 86 tuổi cho

cả nam và nữ để tính toán YLL

- Việc tính toán YLD đơn giản với số hiện mắc của mỗi di chứng nhân với trọng sốbệnh tật tương ứng

- Điều chỉnh cho đồng bệnh tật trong tính toán YLD

- Không sử dụng chiết khấu và trọng số tuổi trong tính toán DALY [38]

Năm 2012, Theo Vos và cộng sự (CS) đã sử dụng phương pháp nghiên cứuGBD-2010 để tiến hành nghiên cứu phân tích hệ thống số năm sống bị mất do bệnhtật (YLD) của 1.160 di chứng của 289 bệnh và chấn thương, so sánh ở 2 thời điểm:1990- 2010 [64] Murray và CS cũng đã sử dụng phương pháp này để đo lườnggánh nặng bệnh tật của 291 bệnh và chấn thương ở 21 vùng trên toàn cầu, có sosánh giữa 2 thời điểm 1990 – 2010 [49]

Năm 2015, Theo Vos và CS đã tiến hành đo lường tỷ lệ hiện mắc, tỷ lệ mớimắc và số năm sống bị mất do bệnh tật của 301 bệnh cấp tính, mãn tính và chấnthương của các quốc gia và vùng lãnh thổ [65]; sau đó Murray tiếp tục đo lườnggánh nặng bệnh tật của 306 bệnh và chấn thương của 188 quốc gia từ năm 1990 –

Trang 20

1.2 Một số khái niệm liên quan

1.2.1 Trọng số bệnh tật

Là sự tổn thất chức năng trên một thang điểm, nơi mà 0 là đại diện cho hoàntoàn khỏe mạnh và 1 là đại diện cho trạng thái tương đương tử vong Hay nói cáchkhác, trọng số bệnh tật là chỉ số phản ánh mức độ trầm trọng của một trạng thái sứckhỏe, nó thay đổi từ 0 (trạng thái hoàn toàn khỏe mạnh) đến 1 (trạng thái tươngđương với tử vong) [38], [51] Trọng số bệnh tật đo lường mức độ “ưu tiên” của xãhội đối với mỗi tình trạng sức khỏe Trọng số này không thể hiện sự trải nghiệmhoặc giá trị xã hội của một người khi sống trong điều kiện sức khỏe đó Nó chỉ đolường sự “ưu tiên” của xã hội đối với tình trạng sức khỏe đó so với tình trạng sứckhỏe “lý tưởng” Ví dụ, trọng số bệnh tật của tình trạng liệt hai chi dưới là 0,57không có nghĩa một người trong tình trạng này là “chết một nửa” hay giá trị xã hộicủa người đó chỉ bằng một nữa của những người khác Nó chỉ có nghĩa xã hội đánhgiá một năm sống với tình trạng mù lòa (0,43) được chấp nhận hơn so với một nămsống với tình trạng liệt hai chi dưới (0,57) và một năm sống với tình trạng liệt haichi dưới được xã hội chấp nhận hơn so với một năm sống liên tục trong tình trạngtrầm cảm nặng (0,76) Nó cũng có nghĩa rằng xã hội chấp nhận một người sống 1năm hoàn toàn khỏe mạnh rồi tử vong hơn là sống 1 năm với tình trạng liệt hai chidưới và sau đó tử vong Bên cạnh đó, xã hội chấp nhận một người sống 3 năm vớitình trạng liệt hai chi dưới rồi tử vong hơn là sống 1 năm hoàn toàn khỏe mạnh rồi

tử vong (3 x [1-0,57] = 1,3 năm sống “khỏe mạnh” lớn hơn 1 năm sống trong tìnhtrạng hoàn toàn khỏe mạnh) [54]

Để so sánh thời gian sống bị mất do bệnh tật với thời gian sống bị mất do tửvong sớm cần phải có một trọng số cho mỗi lớp Trong nghiên cứu ban đầu củaGBD-1990, trọng số của sáu lớp khuyết tật đã được lựa chọn bởi một nhóm cácchuyên gia độc lập, họ không được tham gia vào việc ước tính các tỷ lệ mắc, thờigian hoặc tỷ lệ tử vong của bất kỳ bệnh nào Họ được triệu tập tại Trung tâm kiểmsoát dịch bệnh và lựa chọn trọng số dựa trên cả định nghĩa của từ ngữ và tập hợpcác di chứng bệnh trong mỗi lớp Thực tế, họ đã sử dụng phương pháp ước tính độ

Trang 21

lớn (Magnitude - estimation) để lựa chọn một số từ 0 đến 1 cho mỗi sáu lớp Phiếubình chọn của họ được tính trung bình để tạo ra các trọng số cuối cùng cho mỗi lớp(Bảng 1.1) [41].

Bảng 1.1: Định nghĩa của trọng số khuyết tật “Nguồn: Murray, 1994” [41]

1 Khả năng hạn chế để thực hiện ít nhất một hoạt động một trong

những lĩnh vực sau: giải trí, giáo dục, sinh sản hoặc nghề nghiệp 0,096

2 Khả năng hạn chế để thực hiện hầu hết các hoạt động một trong

những lĩnh vực sau: giải trí, giáo dục, sinh sản hoặc nghề nghiệp 0,220

3

Khả năng hạn chế để thực hiện các hoạt động trong hai hoặcnhiều lĩnh vực sau đây: giải trí, giáo dục, sinh sản hoặc nghềnghiệp

0,400

4 Khả năng hạn chế để thực hiện hầu hết các hoạt động trong tất cả

những lĩnh vực sau: giải trí, giáo dục, sinh sản hoặc nghề nghiệp 0,600

5 Nhu cầu hỗ trợ với các công cụ hoạt động sinh hoạt hàng ngày

như: chuẩn bị bữa ăn, mua sắm hay làm việc nhà 0,810

6 Nhu cầu hỗ trợ với các hoạt động hàng ngày của cuộc sống như

ăn uống, vệ sinh cá nhân hoặc sử dụng nhà vệ sinh 0,920

Năm 1996, để phát triển và cụ thể hóa trọng số của 6 lớp bệnh tật, Murray và

CS đã sử dụng phiên bản đặc biệt của phương pháp PTO (Euroqol- 5D+) để ướctính trọng số cụ thể cho 483 di chứng của 131 nguyên nhân bệnh và chấn thươngbởi một nhóm chuyên gia chăm sóc sức khỏe [43]

Năm 1997, các nhà nghiên cứu Hà Lan (Stouthard và CS) cũng đã sử dụngcùng phương pháp để ước tính trọng số bệnh tật cho 175 giai đoạn bệnh liên quanđến 52 loại bệnh tật đặc thù của các nước Tây Âu nói chung và người Hà Lan nóiriêng [62]

Stouthard và CS tóm tắt trạng thái sức khỏe bằng cách sử dụng bảngEuroqol-5D, trong đó có sáu yếu tố (vận động, tự chăm sóc, hoạt động bình thường,đau đớn, lo âu/trầm cảm, nhận thức), đều có ba cấp độ (không có vấn đề, có một sốvấn đề, nặng hoặc không thể) Chúng được bao gồm các giai đoạn cho tất cả các

Trang 22

trạng thái sức khỏe tương ứng Các mô tả EQ-5D này được trình bày trong bảng1.2.

Bảng 1.2: EuroQol-5D+ mô tả trạng thái sức khỏe “Nguồn: WHO, 2013” [38]

1

123

- Hoạt độngthường ngày

- Đau đớn /khó chịu

- Không đau đớn hoặc khó chịu

- Trung bình

- Cực kỳ đau đớn, khó chịu

5

123

- Lo âu / trầmcảm

- Không lo âu, tuyệt vọng

- Lo âu, tuyệt vọng trung bình

- Cực kỳ lo âu, tuyệt vọng

6

123

Trang 23

Biểu đồ 1.1: Biểu đồ so sánh trọng số bệnh tật của GBD

và trọng số bệnh tật của Hà Lan “Nguồn: WHO, 2001” [27]

Năm 2006, WTO đã cập nhật trọng số bệnh tật của hơn 200 trạng thái bệnhcho các nghiên cứu gánh nặng bệnh tật toàn cầu [66]

Tuy nhiên phương pháp PTO sử dụng trong nghiên cứu GBD đã bị một sốnhà bình luận chỉ trích là vi phạm đạo đức nghiên cứu và nhiều nước Châu Âu đã từchối tham gia Một số nhà phê bình khác thì cho rằng phương pháp tiếp cận củaGBD-1990 để đánh giá các trạng thái sức khỏe chỉ dựa vào phán xét của các chuyêngia y tế hơn là dân số phổ thông hoặc người bệnh nên không mang tính khách quan,

và khuyên nên sử dụng các trọng số mang tính toàn cầu hơn là các trọng số thay đổitheo môi trường văn hóa - xã hội [38]

Năm 2007, Bill và Melinda Gate đã đề nghị phát triển một phương pháp mới

để ước tính lại toàn bộ trọng số cho tất cả các di chứng bệnh tật, gọi là nghiên cứugánh nặng bệnh tật toàn cầu 2010 (GBD- 2010) [38] Nghiên cứu này đã tiến hànhước tính lại các trọng số bệnh tật một cách toàn diện, thông qua một nghiên cứuthực nghiệm qui mô lớn với mục đích chính là khảo sát kết quả từ dân số phổ thông,trong đó, việc đánh giá sự tổn thất sức khỏe được kết hợp với nhiều nguyên nhânbệnh và chấn thương đã được gợi ra thông qua cách tiếp cận mới được chuẩn hóa.Nghiên cứu đã ước tính trọng số cho 1.160 di chứng của 220 trạng thái sức khỏe, sử

Trọng số

Hà Lan

Trọng số GBD

Trang 24

dụng phương pháp so sánh lựa chọn không liên tục cho các cặp trạng thái sức khỏe,được thể hiện bằng một bản mô tả tóm tắt không chuyên môn không quá 30 từ Sốliệu các so sánh bắt cặp được thu thập từ 13.902 đối tượng trong các khảo sát hộ giađình ở 5 nước (Mỹ, Tazania, Peru, Indonesia và Bangladesh), được bổ sung bởi mộtkhảo sát dựa trên trang web mở của 16.328 người [56] Nghiên cứu này thể hiện cho

sự nỗ lực thực nghiệm lớn nhất cho đến nay để đo lường trọng số bệnh tật, Salomoncũng đã kết luận rằng nó là bằng chứng mạnh mẽ của kết quả nhất quán cao từ cácmôi trường văn hóa xã hội khác nhau [38]

So sánh với các trọng số bệnh tật trước đây, thì trọng số bệnh tật năm 2010

có một số trạng thái sức khỏe cao hơn nhiều như: nghiện heroin (0,376 so với0,252), đau thắt lưng cấp tính (0,269 so với 0,061); tuy nhiên một số trạng thái sứckhỏe có trọng số bệnh tật thấp hơn như: vô sinh (0,01 so với 0,18), điếc trung bình

và nặng (0,02-0,03 so với 0,12-0,33), mù (0,20 so với 0,60) và khuyết tật trí tuệtrầm trọng (0,126 so với 0,820) Hệ số tương quan giữa hai phương pháp cho thấykhông có sự đồng nhất, r = 0,61 (Biểu đồ 1.2)

Biểu đồ 1.2: Biểu đồ so sánh trọng số bệnh tật năm 2010 (dwnew) và trọng số

bệnh tật trước đó (dwold) “Nguồn: WHO, 2013” [38]

Tuy nhiên một số nhà nghiên cứu cho rằng trọng số của một số di chứngbệnh tật được rút ra từ trung bình của các trọng số bệnh tật trong nhóm tương đương

sẽ đối mặt với một số câu hỏi về mặt đánh giá Ví dụ như tiểu tiện không tự chủ(0,142) trầm trọng hơn liệt hai chi dưới với điều trị (0,047), một di chứng thường

Trang 25

liên quan đến tiểu tiện không tự chủ Để giải quyết vấn đề này, cần có thêm nhiềunghiên cứu thực nghiệm tinh tế hơn [38].

Năm 2013, Salomon và CS đã ước tính lại toàn bộ trọng số bệnh tật củanghiên cứu GBD-2010 với cùng phương pháp Tác giả tiến hành khảo sát thêm30.660 đối tượng từ 18 đến 65 tuổi tại bốn quốc gia thuộc Châu Âu (Hungary, Ý,

Hà Lan và Thụy Điển) thông qua trang web, với bản mô tả không chuyên môn của

185 trạng thái được giữ nguyên; 30 trạng thái được sửa đổi, bổ sung cho phù hợpvới triệu chứng, mức độ trầm trọng và từ ngữ thích hợp; 20 trạng thái mới được bổsung vào danh mục không có trong nghiên cứu GBD-2010 Kết hợp với số liệu30.230 đối tượng được thu thập từ nghiên cứu GBD-2010, tác giả tiến hành phântích lại và xác định trọng số của 235 trạng thái sức khỏe của 306 nguyên nhân bệnh,chấn thương và 2.337 di chứng của nó So sánh hai bộ trọng số cho thấy có sựtương quan rất cao, hệ số r = 0,992 [55] (Biểu đồ 1.3)

Biểu đồ 1.3: Biểu đồ so sánh trọng số bệnh tật của GBD 2010 và 2013

“Nguồn: Salomon, 2015” [55]

Biểu đồ so sánh DW 2010 và 2013

Trang 26

1.2.2 Chiết khấu

Là một khái niệm thuộc về lĩnh vực kinh tế, trong đó mọi người đều thích lợiích ở hiện tại hơn lợi ích ở tương lai Giá trị của vật dụng hoặc dịch vụ của ngàyhôm nay thì lớn hơn của 1 hoặc 10 năm sau Nếu được lựa chọn 100 đô la từ mộtnguồn thích hợp trong ngày hôm nay hoặc 100 đô la sau một năm thì hầu hết mọingười đều thích nhận 100 đô la ngay ngày hôm nay hơn [41] Tương tự như vậy,một năm sống khỏe mạnh của ngày hôm nay có giá trị lớn hơn một năm sống khỏemạnh của 10 năm sau, và DALY đo lường số năm sống khỏe mạnh mất đi trongtương lai của mỗi trường hợp tử vong hay mỗi trường hợp mới mắc bệnh/chấnthương [42] Việc áp dụng chiết khấu đối với DALY trong tính toán sức khỏe dân

- Tránh được những nghịch lý trong lựa chọn đầu tư cho nghiên cứu hay cho loạitrừ một bệnh nào đó: giả dụ việc đầu tư cho nghiên cứu hoặc cho loại trừ một bệnhnào đó có cơ hội thành công, nếu không áp dụng chiết khấu thì tất cả kinh phí hiệntại sẽ được cho là nên đầu tư vào bệnh đó bởi lợi ích tương lai của việc đầu tư này

là vô hạn [15]

Chiết khấu có tác động rất lớn đến việc ước tính quy mô của kết quả sứckhỏe Chiết khấu làm thay đổi giá trị của các trường hợp tử vong ở các độ tuổi khácnhau Vì vậy, việc lựa chọn tỷ lệ chiết khấu nào để ước tính cho sức khỏe, cho dù là

do yêu cầu về mặt kỹ thuật tính toán, cũng có thể dẫn đến sự phân chia không thểchấp nhận được về mặt đạo đức giữa các thế hệ Do không dễ giải quyết những vấn

Trang 27

đề xung quanh chiết khấu nên nghiên cứu GBD công bố cả 2 kết quả về gánh nặngbệnh tật: có chiết khấu và không có chiết khấu.

Nghiên cứu GBD-1990 áp dụng mức chiết khấu 3% đối với những năm sốngmất đi trong tương lai để ước tính giá trị hiện tại của những năm sống đó Ví dụ, khi

áp dụng chiết khấu 3%, một năm sống khỏe mạnh của 10 năm sau có giá trị thấphơn 24% giá trị của một năm sống khỏe mạnh ở hiện tại [54] Tuy nhiên trongnghiên cứu GBD-2010, các tác giả không sử dụng tỷ lệ chiết khấu vì cho rằngkhông có lý do nào để đánh giá một năm sống khỏe mạnh ít quan trọng hơn chỉ dobởi nó ở trong tương lai, đồng thời với quan điểm tiếp cận theo tỷ lệ hiện mắc, thìYLD được tính như là năm sống bị mất ở hiện tại chứ không phải là ở tương lai, vàcác chuyên gia cũng tư vấn là không nên áp dụng chiết khấu, đặc biệt là trong hoàncảnh DALY đã được xác định rõ ràng là số lượng sức khỏe bị mất hơn là giá trị xãhội của sức khỏe bị mất [38]

1.2.3 Trọng số tuổi

Theo Murray, trong mọi xã hội, vai trò xã hội của mỗi người đều thay đổitheo từng lứa tuổi Trẻ con và người già thường bị phụ thuộc vào phần còn lại của

xã hội về vật chất, tinh thần và sự hỗ trợ về tài chính Các vai trò khác nhau và mức

độ thay đổi theo tuổi có thể được xem xét để xác định giá trị thời gian sống (trọng

số tuổi) ở các nhóm tuổi cụ thể là không bằng nhau Trọng số cao hơn cho một nămsống ở một tuổi cụ thể không có nghĩa là thời gian sống ở lứa tuổi đó quan trọnghơn, mà đó là do bởi các vai trò xã hội, giá trị xã hội ở thời gian đó có thể lớn hơn.Trọng số tuổi được cho là quan trọng hơn ở nhóm tuổi trung niên so với người già

và trẻ em [41] Trọng số tuổi là giá trị được lựa chọn gây nhiều tranh cãi nhất khitính toán DALY, bốn vấn đề tranh cãi chính xung quanh trọng số tuổi là:

+ Xét ở góc độ công bằng, trọng số tuổi là không thể chấp nhận được bởi các nămsống phải có giá trị như nhau;

+ Trọng số tuổi chưa được kiểm chứng trên quần thể dân số lớn;

+ Trọng số tuổi không phản ánh giá trị xã hội;

Trang 28

+ Sử dụng trọng số tuổi chỉ làm phức tạp thêm phương pháp tính toán gánh nặngbệnh tật và làm nó trở nên khó hiểu trong khi kết quả cuối cùng thay đổi rất khôngđáng kể [22], [23].

Hơn nữa, có một số ý kiến cho rằng trọng số tuổi bản thân nó đã mang tínhcông bằng bởi mỗi cá nhân đều có thể sống qua các lứa tuổi khác nhau và nó thựcchất đã phản ánh các ưu tiên được chấp nhận về mặt xã hội Trong nghiên cứuGBD-2010, các tác giả không sử dụng trọng số tuổi [38]

1.2.4 Quan điểm tiếp cận

Dựa theo số mới mắc (incidence) hay số hiện mắc (prevalence): Với thờigian được chọn làm đơn vị đo lường, gánh nặng bệnh tật vẫn sẽ được dựa vào cácchỉ số cơ bản là tỷ lệ mới mắc và tỷ lệ hiện mắc Thời gian mất do tử vong sớmđược tính toán dựa vào tỷ lệ tử vong và thời gian bị mất do tử vong ở mỗi lứa tuổi.Bởi vì tỷ lệ tử vong là tỷ lệ mới mắc, không có chỉ số tỷ lệ tử vong hiện mắc Ngượclại, đối với bệnh tật, số đo tỷ lệ mới mắc và tỷ lệ hiện mắc đều được dùng phổ biến

Có ít nhất hai cách đo lường thời gian sống với bệnh tật, cách thứ nhất là đo lườngdựa vào tỷ lệ hiện mắc điểm của bệnh tật, ước tính tổng thời gian sống với bệnh tậtbằng số hiện mắc nhân với một năm (P x 1/năm) Cách thứ hai là đo lường dựa vào

tỷ lệ mới mắc của bệnh và thời gian trung bình của mỗi bệnh, ước tính tổng thờigian sống với bệnh tật bằng số mới mắc nhân cho thời gian trung bình của bệnh (I xTtb) [41]

Nếu tỷ lệ mới mắc hằng định theo thời gian và cấu trúc tuổi của dân sốkhông thay đổi, thì thời gian mất do bệnh tật tính theo tỷ lệ hiện mắc và tỷ lệ mớimắc là tương đương nhau Tuy nhiên cấu trúc tuổi của hầu hết các dân số khônghằng định và nhiều bệnh tật thay đổi theo thời gian Theo nghiên cứu GBD-2010,quan điểm tiếp cận theo tỷ lệ mới mắc có ba điều bất lợi chính sau đây: thứ nhất, nókhông phản ánh được gánh nặng hiện tại của các di chứng bệnh mà theo tỷ lệ mớimắc thì đã giảm đi đáng kể (ví dụ các di chứng chấn thương); thứ nhì, việc tính toánYLD đòi hỏi phải ước tính cả tỷ lệ mới mắc và thời gian trung bình của di chứngbệnh, trong khi đó với nhiều tình trạng sức khỏe, số liệu được thu thập chủ yếu là số

Trang 29

liệu hiện mắc; thứ ba, theo quan điểm dựa vào tỷ lệ mới mắc, tổng YLD cho mộttình trạng sức khỏe được gán cho các nhóm tuổi mà tình trạng này chỉ là một sự cố(ví dụ tai nạn giao thông), trong khi đó các nhà hoạch định chính sách thường quantâm hơn đến các nhóm tuổi mà việc tổn thất sức khỏe đã xảy ra (di chứng sau tainạn giao thông) Cuối cùng, việc xử lý vấn đề đồng bệnh tật thì đơn giản hơn trongcách tiếp cận dựa vào tỷ lệ hiện mắc so với tỷ lệ mới mắc Với những thuận lợi củaphương pháp tiếp cận dựa vào tỷ lệ hiện mắc, cả WB và WHO đã quyết địnhchuyển qua phương pháp tiếp cận theo tỷ lệ hiện mắc để tính toán YLD [38].

1.2.5 Kỳ vọng sống chuẩn (hay kỳ vọng sống lúc sinh):

Là tuổi thọ trung bình của một dân số Tuổi thọ trung bình thay đổi theo từngquốc gia, dân tộc và vùng lãnh thổ khác nhau

Theo nghiên cứu GBD-1990, kỳ vọng sống được dựa vào kỳ vọng sống caonhất của một cộng đồng được quan sát tại thời điểm đó (năm 1990 phụ nữ Nhật Bảnđạt kỳ vọng sống lúc sinh là 82,5 năm) Cụ thể, nghiên cứu GBD-1990 áp dụng kỳvọng sống chuẩn theo Bảng sống West Level-26, trong đó kỳ vọng sống lúc sinh ở

nữ là 82,5 và ở nam là 80 Một số tác giả khác sử dụng kỳ vọng sống lúc sinh củaquốc gia hoặc của địa phương [15], [27], [69]

Một số chuyên gia tư vấn của WHO cho rằng việc áp dụng kỳ vọng sốngđược quan sát ở hiện tại là không thích hợp, bởi vì tương lai tuổi thọ sẽ khôngngừng được nâng lên Trong thực tế, kỳ vọng sống lúc sinh ở phụ nữ Nhật Bản năm

2013 là 87,1 năm Vì vậy họ đề nghị áp dụng kỳ vọng sống được dự đoán của năm

2050, mà ở đó, kỳ vọng sống lúc sinh ở phụ nữ Nhật Bản và Cộng hòa Triều Tiênđạt 91,9 năm [38]

Đối với nghiên cứu GBD-2010, các tác giả sử dụng kỳ vọng sống chuẩnbằng nhau ở cả hai giới và sử dụng bảng sống dựa vào tỷ lệ tử vong thấp nhất đãđược quan sát tại mỗi nhóm tuổi ở các nước có dân số hơn 5 triệu người Cụ thể,nghiên cứu GBD-2010 sử dụng bảng sống có kỳ vọng sống lúc sinh là 86 năm cho

cả nam và nữ (Bảng 1.3) [38]

Trang 30

tuổi

GBD-1990 có chiết khấu và trọng số tuổi

GBD-1990 không chiết khấu và trọng

số tuổi

2010

GBD-WHO GHE

33.3834.3435.2937.3637.4736.2234.0831.3928.4025.3022.1919.1616.2613.5210.968.606.454.593.091.23

79.9478.8577.7772.8967.9162.9357.9552.9948.0443.1038.2033.2828.6624.0719.6515.5411.878.816.343.82

82.4381.3680.2875.4770.5165.5560.6355.7250.8345.9641.1336.3631.6827.1022.6418.3214.2410.5970563.59

86.0185.6883.6378.7673.7968.8363.8858.9454.0049.0944.2339.4334.7230.1025.5521.1216.7812.859.345.05

91.9391.5589.4184.5279.5374.5469.5764.6059.6354.6749.7344.8139.9235.0730.2525.4920.7716.4312.517.60

Bảng 1 3: Kỳ vọng sống chuẩn trong nghiên cứu GBD

“Nguồn: WHO, 2013” [38]

Trang 31

1.2.6 Đồng bệnh tật (co-morbidity)

Là trường hợp một người mắc nhiều bệnh cùng một lúc, nó có thể được xácđịnh ngay lần đầu thăm khám hoặc có thể mắc một bệnh trước đó chưa khỏi (bệnhmạn tính) lại tiếp tục mắc thêm một bệnh mới khác trên nền bệnh cũ đang mắc.Trong các phiên bản trước đây của báo cáo GBD, YLD được tính toán cho từngnguyên nhân bệnh và chấn thương nhưng không có điều chỉnh cho đồng bệnh tật

Do đó YLD của từng nguyên nhân được cộng lại để có được tổng các YLD cho một

cá nhân Ví dụ, việc ước lượng tỷ lệ hiện mắc của bệnh trầm cảm, các rối loạn do sửdụng chất gây nghiện và các rối loạn lo âu là đồng bệnh tật giữa các tình trạng bệnhnày, nếu không được điều chỉnh thì việc tính toán DALY sẽ lớn gấp đôi hoặc gấp

ba lần ở các cá nhân này Nếu các đồng bệnh tật này được điều chỉnh để đưa vàotính toán, thì DALY sẽ không tăng ở mức cao như vậy Do nhiều người có hơn mộtbệnh hoặc chấn thương, đặc biệt là ở người già, việc cộng YLD của các nguyênnhân, kết quả có thể đánh giá quá cao tổng sức khỏe bị mất, điều này thường xảy rađối với người già, nơi mà tổng YLD có thể tiếp cận hoặc vượt quá 100% của năm-người [38] Theo tư vấn của các chuyên gia nghiên cứu GBD- 2010, các điều chỉnhđược thực hiện cho từng bệnh độc lập để cho tổng YLD của tất cả các nguyên nhânphản ảnh tổng sức khỏe cuối cùng bị mất của mỗi cá nhân Các cá nhân có cùngchức năng sức khỏe bị mất (bệnh tật) thì được xem xét giống như nhau, bất kỳ cóhay không việc mất sức khỏe đó đến từ một hoặc nhiều nguyên nhân đóng góp.Việc điều chỉnh đồng bệnh tật để đưa vào tính toán YLD trong GBD-2010 áp dụngtheo phương pháp trừ lùi, công thức tính YLD cho một người cụ thể như sau:

YLD1+2+…+n = 1- [(1- DW1)*(1- DW2) * ….*(1- DWn)] (1.1)Trong đó, YLD1+2+…+n là YLD của người mắc n bệnh; DW1 là trọng số củabệnh 1; DW2 là trọng số của bệnh 2; và DWn là trọng số của bệnh n [38]

1.2.7 Trọng số (weighting)

Trong các nghiên cứu xác định một tỷ lệ trong dân số, nếu cỡ mẫu được chọn

là toàn bộ dân số thì việc tính tỷ lệ không cần phải bàn cãi; bởi vì nó đã phản ảnh tỷ

lệ thực tế của dân số đó Ví dụ, trong một lớp học có 50 học sinh, số em được tiêm

Trang 32

chủng đầy đủ là 35 em, ta có thể kết luận là tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ của lớp học là70% Tuy nhiên trong thực tế, việc tính toán tỷ lệ trong một dân số quá lớn, có thểnhiều triệu người, thì việc chọn mẫu sẽ được đặt ra vì không thể có đủ nguồn lực đểđưa toàn bộ dân số đó vào nghiên cứu Việc chọn một số đối tượng để nghiên cứu,xác định một tỷ lệ nào đó để suy ra tỷ lệ toàn bộ của dân số đó, đòi hỏi phải tínhtrọng số Bởi vì tỷ lệ của mẫu nghiên cứu không phản ảnh đúng tỷ lệ thật của cả dân

số Ví dụ, trong một nghiên cứu có 4 cụm với dân số khác nhau, tại mỗi cụm chọn

cỡ mẫu là 500, tỷ lệ tiêm chủng cụ thể ở mỗi cụm như sau:

- Cụm 1: Dân số 50.000; cỡ mẫu là 500; p TCđđ (tiêm chủng đầy đủ) = 0,5

Vậy tỷ lệ tiêm chủng thực tế của cả dân số có phải là 65% không ?

Như trên đã nói, tỷ lệ này không phản ảnh đúng tỷ lệ thật của dân số, bởi vì nghiêncứu đã chọn mẫu Muốn tính được tỷ lệ thật của dân số cần phải tính trọng số mẫu,tức là trọng số xác suất chọn mẫu Trọng số xác suất bằng nghịch đảo của tỷ lệ chọnmẫu, cụ thể:

Trang 33

Công thức tổng quát là: DALY = YLL + YLD (1.2)

1.3.1 Đo lường số năm sống bị mất do tử vong sớm (YLL)

Từ khi Dampsey giới thiệu khái niệm đo lường thời gian bị mất do tử vongsớm thay thế cho tỷ lệ tử vong chuẩn hóa theo tuổi hoặc tỷ lệ tử vong thô, đã cónhiều phương pháp đo lường số năm sống bị mất được đề nghị [41] Bởi vì thuậtngữ này đã được dùng để mô tả các số đo thời gian sống bị mất khá khác nhau nên

đã có sự nhầm lẫn đáng kể trong việc sử dụng phương pháp chính xác trong bất kỳnghiên cứu cụ thể nào Có ít nhất bốn phương pháp khác nhau để ước tính thời giansống bị mất do tử vong sớm được đề nghị, mỗi phương pháp đều được định nghĩa

và xem xét những ưu điểm và nhược điểm của nó [41]

1.3.1.1 Phương pháp Số năm sống tiềm tàng bị mất (potential years of life lost):

được ước tính bằng cách xác định giới hạn tiềm tàng của cuộc sống và việc tínhtoán số năm bị mất do mỗi cái chết bằng giới hạn sống tiềm tàng trừ đi tuổi chết.Công thức tính số năm sống tiềm tàng bị mất trong dân số là:

(1.3)

Trong đó dx là số tử vong ở nhóm tuổi x và L là giới hạn sống tiềm tàng [41]

Ví dụ, nhóm tuổi tử vong là 50 (x=50); số tử vong của nhóm tuổi x trong năm là 30(dx = 30); giới hạn sống tiềm tàng của dân số là 70 tuổi (L = 70) Ta có số năm sốngtiềm tàng bị mất của nhóm tuổi 50 trong dân số là: YLL = 30*(70 – 50) = 30*20 =

600 năm

Thời gian sống tiềm tàng thay đổi từ 60 đến 85 tuổi đã được sử dụng tùy theomỗi nơi Việc lựa chọn giá trị giới hạn sống tiềm tàng là tùy ý và việc tranh luậndựa trên căn cứ thống kê Dempsey đề nghị giới hạn sống được lựa chọn là kỳ vọngsống lúc sinh đối với một quần thể xác định; Romeder và McWhinnie cho rằng nămsống tiềm tàng bị mất nên được tính toán dựa trên các trường hợp tử vong trên 1tuổi để tránh ảnh hưởng quá lớn do tử vong trẻ em Những người đề xuất phươngpháp sử dụng năm sống tiềm tàng bị mất cho rằng nó dễ dàng tính toán và công

Trang 34

bằng, mọi trường hợp tử vong ở cùng một nhóm tuổi xác định có đóng góp quantrọng như nhau trong ước tính tổng gánh nặng bệnh tật Nếu giới hạn tiềm tàng cuộcsống được lựa chọn gần với kỳ vọng sống thì kết quả năm sống kỳ vọng bị mấtkhông khác biệt đáng kể đối với nhóm tuổi trẻ, nhưng khác biệt đáng kể ở nhómtuổi già, nếu những trường hợp tử vong trên giới hạn sống tiềm tàng, thì sẽ không

có đóng góp vào ước tính gánh nặng bệnh tật Điều này vi phạm nguyên tắc côngbằng trong tính toán DALY, bởi vì những người này vẫn phải được chăm sóc vàtiêu tốn một nguồn lực đáng kể của xã hội, nhất là đối với các nước phát triển [41]

1.3.1.2 Phương pháp Năm sống thời gian kỳ vọng bị mất (period expected years of life lost): Sử dụng kỳ vọng sống theo địa phương để ước tính thời gian sống bị mất

ở mỗi nhóm tuổi Năm sống bị mất theo thời gian kỳ vọng đã trở thành phươngpháp chuẩn trong nhiều nghiên cứu chi phí – hiệu quả Phương pháp này được xem

là thực tế hơn để ước tính cuộc sống đạt được bằng cách ngăn chặn tử vong và cácnguy cơ nhất định trong một dân số cụ thể Công thức để tính là:

(1.4)

Trong đó, l là nhóm tuổi cuối cùng đạt được của quần thể, dx là số tử vongtrong năm của nhóm tuổi x và ex là kỳ vọng sống bị mất ở nhóm tuổi x

Ví dụ, chọn kỳ vọng sống có thể đạt của quần thể là 80; x = 50 thì kỳ vọng sống bịmất của nhóm tuổi x là 80 – 50 = 30; số tử vong trong năm của nhóm tuổi x là 30

Ta có số năm sống kỳ vọng bị mất của nhóm tuổi 50 trong quần thể là: YLL =30*30 = 900 năm

Bởi vì kỳ vọng sống không thể là 0 ở bất kỳ nhóm tuổi nào, do đó phươngpháp này có ưu điểm là cung cấp một ước tính đầy đủ hơn thời gian sống bị mất do

tử vong ở nhóm tuổi người già Tuy nhiên việc áp dụng phương pháp thời gian sống

kỳ vọng với giá trị khác nhau của kỳ vọng sống theo từng địa phương dẫn chúng tađến kết luận rằng: cái chết của người phụ nữ 40 tuổi ở Rwanda có đóng góp vàotổng gánh nặng bệnh tật ít hơn cái chết của người phụ nữ Pháp, bởi vì kỳ vọng sốngcủa người phụ nữ ở Pháp cao hơn ở Rwanda [41] Cùng một kết cuộc sức khỏe,

Trang 35

gánh nặng bệnh tật ở cộng đồng giàu có sẽ lớn hơn ở cộng đồng người nghèo Điềunày sẽ vi phạm nguyên tắc công bằng, như vậy phương pháp này không được dùng

để ước tính DALY

1.3.1.3 Phương pháp Năm sống đoàn hệ kỳ vọng bị mất (Cohort expected years of life lost): Công thức như sau:

(1.5)

Trong đó, x là nhóm tuổi tử vong; l là nhóm tuổi cuối cùng của đoàn hệ; dx là

số tử vong trong năm của nhóm tuổi x; ec là kỳ vọng sống đoàn hệ được ước tính ởmỗi nhóm tuổi

Ví dụ, nếu kỳ vọng sống của đoàn hệ là 80 tuổi; nhóm tuổi x = 50, kỳ vọngsống được ước tính (ec) của nhóm tuổi x là 80 – 50 = 30; số tử vong (dx) của nhómtuổi 50 trong năm là 30 Vậy số năm sống đoàn hệ kỳ vọng bị mất của nhóm tuổi 50là: YLL = 30*30 = 900 năm

Rõ ràng là kỳ vọng sống đoàn hệ phải được ước tính từ lúc chúng ta chưa thểbiết tỷ lệ tử vong sẽ xảy ra của đoàn hệ ngày hôm nay Tuy nhiên việc ước tính dựatrên mô hình tử vong của quá khứ có khả năng gần thực tế hơn so với thời gian sống

kỳ vọng Sự khác biệt tuyệt đối giữa năm sống đoàn hệ kỳ vọng bị mất và năm sốngthời gian kỳ vọng bị mất sẽ lớn nhất đối với các quần thể có tỷ lệ tử vong cao, nơi

có thể được dự đoán là tỷ lệ tử vong tuyệt đối sẽ giảm đáng kể trong các thập kỷ tới.Tuy có nhiều ưu điểm hơn so với phương pháp thời gian kỳ vọng, nhưng phươngpháp đoàn hệ kỳ vọng vẫn gặp phải nhiều chỉ trích rằng nó không đảm bảo nguyêntắc công bằng, bởi vì kỳ vọng sống đoàn hệ sẽ vẫn khác nhau giữa các cộng đồng[41]

Mặc dù nó không thích hợp để đo lường gánh nặng bệnh tật, nhưng phươngpháp đoàn hệ kỳ vọng là phương pháp hấp dẫn nhất để ước tính lợi ích của các canthiệp trong các phân tích chi phí – hiệu quả [41]

1.3.1.4 Phương pháp Năm sống kỳ vọng chuẩn bị mất (standard ecpected years of life lost): là sự kết hợp những ưu điểm của phương pháp năm sống đoàn hệ kỳ vọng

Trang 36

bị mất đối với tử vong ở người già và tính công bằng tự nhiên của phương phápnăm sống tiềm tàng bị mất Công thức tính như sau:

(1.6)

Trong đó, l là nhóm tuổi cuối cùng của quần thể; x là nhóm tuổi tử vong; dx là số tửvong trong năm của nhóm tuổi x; e* là kỳ vọng sống chuẩn bị mất ở mỗi nhóm tuổidựa trên một số tiêu chuẩn lý tưởng

Ví dụ, kỳ vọng sống chuẩn của quần thể là 86 theo bảng sống chuẩn mới củaWHO; x = 50; kỳ vọng sống chuẩn bị mất ở nhóm tuổi x là 34,72 (bảng 2.3); số tửvong của nhóm tuổi x trong năm là 30 Ta có số năm kỳ vọng sống chuẩn bị mất ởnhóm tuổi 50 là: YLL = 30*34,72 = 1.041,6 năm

Đối với DALY, các tiêu chuẩn được chọn là kỳ vọng sống của quốc gia có

kỳ vọng sống cao nhất được quan sát Năm 1990, kỳ vọng sống lúc sinh ở phụ nữNhật Bản xấp xỉ 82,5 năm [41] Đối với tiêu chuẩn cụ thể của GBD-1990, WHO sửdụng bảng sống West Level- 26, có kỳ vọng sống lúc sinh của phụ nữ là 82,5 vànam giới là 80 Việc sử dụng bảng sống này, mọi trường hợp tử vong đều đóng gópvào tổng gánh nặng bệnh tật, kể cả tử vong sau 82,5 tuổi Tử vong ở cùng nhómtuổi thì có đóng góp bằng nhau vào ước tính tổng gánh nặng bệnh tật Vấn đề liệu

có sự giống nhau giữa kỳ vọng sống chuẩn của nam và nữ hay không là còn đangtranh luận Một số người cho rằng kỳ vọng sống của nam và nữ là bằng nhau, tuynhiên một số người cho rằng, giữa nam và nữ có sự khác biệt sinh học về khả năngsống sót Đối với nghiên cứu GBD-1990, tác giả chọn kỳ vọng sống của nữ là 82,5năm, của nam là 80 năm theo Bảng sống West Level- 26 Tuy nhiên trong nghiêncứu gánh nặng bệnh tật toàn cầu năm 2010, cả WHO và WB đều đề nghị sử dụng

kỳ vọng sống là 86 năm cho cả nam và nữ [38]

Tóm lại, ta có công thức tổng quát để tính số năm sống bị mất do tử vongsớm của một nhóm tuổi là:

Trang 37

Trong đó, Nx là số trường hợp tử vong ở nhóm tuổi x; Lx là kỳ vọng sốngchuẩn bị mất ở nhóm tuổi x.

Ví dụ, với kỳ vọng sống chuẩn được chọn là 86, số tử vong của nhóm tuổi 50trong một năm (Nx) là 30 người; kỳ vọng sống chuẩn bị mất của nhóm tuổi 50 (Lx)

sẽ là 34,72 (bảng 3) Do vậy ta có số năm sống bị mất do tử vong sớm ở nhóm tuổi

ví dụ trên, với r = 0,03; β = 0,04; C = 0,16243; K = 1; L = 34,72; a = 50 Thay vàocông thức ta có:

YLL=(1*0,16243e0,03*50)/(0,03+0,04)2[e-(0,03+0,04)(34,72+50){-(0,03+0,04)(34,72+50)

- 1}-e-(0,03+0,04)*50{-(0,03+0,04)*50 – 1}] + (1-1)/0,03(1-e-0,03*34,72) = 17,45 nămNhư vậy, với 30 người tử vong ở nhóm tuổi 50 thì số DALY bị mất sẽ là: 30*17,45

= 523,5 năm, chỉ bằng một nữa nếu không sử dụng chiết khấu và trọng số tuổi

1.3.2 Đo lường số năm sống bị mất do bệnh tật (YLD)

Đo lường kết quả sức khỏe không gây tử vong (hay đo lường thời gian sống

bị mất do bệnh tật) trong các điều kiện tương ứng với thời gian sống bị mất do tử

Trang 38

vong sớm là chủ đề của nhiều nghiên cứu sâu rộng trong suốt ba thập kỷ Đo lườngbệnh cụ thể như tỷ suất tấn công, tỷ lệ mắc, tỷ suất chết/mắc đã thực hiện từ thế kỷ

19, nhưng các số đo tổng quát hơn về bệnh tật đã trở thành một vấn đề lớn trongnhững năm 1960 [41] Nhiều tác giả đã xây dựng mô hình cho các chỉ số tổng hợpcủa cả tử vong và bệnh tật, mỗi chỉ số đều có sự khác biệt nhưng tất cả đều cùngxác định một loạt các trạng thái sức khỏe khác nhau, từ khỏe mạnh cho đến tử vong,các trọng số phản ánh mức độ nghiêm trọng của các trạng thái sức khỏe này vàtrong một số trường hợp, có khả năng thay đổi từ trạng thái này sang trạng thái kháctheo thời gian [41]

Có ít nhất hai phương pháp để tính thời gian năm sống khỏe mạnh bị mất dobệnh tật (YLD) [41]

+ Cách thứ nhất là phương pháp tiếp cận theo quan điểm dựa vào số hiện mắc điểm,phương pháp này tính thời gian bị mất do sống với bệnh tật bằng cách lấy số hiệnmắc thời điểm của một bệnh (khuyết tật) nhân với trọng số bệnh tật tương ứng, tínhbằng năm

YLDx = Px * DWx * 1 năm (1.10)

Trong đó, Px là số ca hiện mắc thời điểm của bệnh x; DWx là trọng số bệnh tậttương ứng của bệnh x

Ví dụ, số trường hợp mắc bệnh ung thư phổi đã di căn tại thời điểm tháng 12/

2015 tại Đắk Lắk là 20; trọng số bệnh tật của ung thư di căn là 0,451 (phụ lục 2).Như vậy số năm sống khỏe mạnh bị mất do ung thư phổi di căn tại Đắk Lắk năm

2015 là:

YLD = 20*0,451*1năm = 9,02 năm+ Cách thứ hai là phương pháp tiếp cận theo quan điểm mới mắc, phương pháp nàytính thời gian sống khỏe mạnh bị mất do bệnh tật bằng cách lấy số mới mắc bệnhtrong thời gian một năm nhân với trọng số bệnh tật của bệnh tương ứng rồi nhân vớithời gian trung bình của bệnh

YLDx = Ix * DWx * Lx (1.11)Trong đó, Ix là số ca mới mắc trong năm của bệnh x; DWx là trọng số bệnh tậttương ứng và Lx là thời gian mắc bệnh trung bình của bệnh x

Trang 39

Ví dụ trong năm 2015, tại Đắk Lắk có 2.000 trường hợp bị tiêu chảy mức độtrung bình; thời gian mắc bệnh trung bình là 5 ngày; trọng số bệnh tật của tiêu chảytrung bình là 0,188 Như vậy số năm sống khỏe mạnh bị mất do tiêu chảy trung bìnhtại Đắk Lắk là:

YLD = 2000*0,188*5/365 = 5,15 nămNếu sử dụng chiết khấu, ta có công thức như sau:

(1.12)Trong đó, I là số trường hợp mới mắc; DW là trọng số bệnh tật; L là thờigian mắc bệnh trung bình (tính bằng năm); r là tỷ lệ chiết khấu Ví dụ như trên, với

r = 0,03, ta có: YLD = 2000*0,188* (1-e-0,03*0,0137)/0,03 = 5,15 năm

Nếu sử dụng cả chiết khấu và trọng số tuổi, ta có công thức tính cho một cabệnh như sau:

(1.13)Trong đó, a là tuổi mắc bệnh; r là tỷ lệ chiết khấu; C,β,K là hằng số; L là thờigian mắc bệnh trung bình; DW là trọng số bệnh tật

Ví dụ, nếu sử dụng chiết khấu r = 0,03; β = 0,04; C = 0,16243; K = 1; L =0,0137; a = 50, thay vào công thức ta có YLD của một trường hợp tiêu chảy ở tuổi

Trang 40

1.3.3 Công thức tính tổng DALY

DALY là một chỉ số tổng hợp thời gian sống khỏe mạnh bị mất do bệnh tật

và thời gian sống bị mất do tử vong sớm Trong nghiên cứu GBD, thời gian bị mất

do tử vong sớm được tính bằng cách sử dụng năm sống bị mất theo kỳ vọng sốngchuẩn Thời gian sống ở các lứa tuổi khác nhau (trọng số tuổi) đã được sử dụng một

hàm mũ dưới dạng Cxe -βx Dòng thời gian đã được chiết khấu ở mức tỷ lệ r Một

hàm chiết khấu liên tục dưới dạng e -r(x-a) đã được sử dụng, trong đó r là tỷ lệ chiếtkhấu và a là tuổi khởi phát (đầu vào) Trọng số bệnh tật (DW) là số giữa 0 và 1.Thời gian sống được nhân với trọng số bệnh tật để làm cho nó có thể so sánh với sốnăm bị mất do tử vong sớm Một công thức chung cho số DALY bị mất cho một cánhân có thể được phát triển [41]:

(1.14)Giải pháp tích phân xác định từ độ tuổi khởi phát a đến a+L Trong đó L làthời gian của bệnh tật hoặc thời gian bị mất do tử vong sớm, chúng ta có công thứctính DALY cho một cá nhân [41]:

(1.15)Trong đó D là trọng số bệnh tật (hoặc 1 cho tử vong sớm), r là tỷ lệ chiết khấu, C làhằng số trọng số tuổi điều chỉnh; β là tham số từ trọng số tuổi chức năng, a là tuổikhởi phát, và L là thời gian bệnh tật hay thời gian mất do tử vong sớm Công thứcnày có thể được viết thuận tiện trong một ô bảng tính để tạo điều kiện tính toánDALY Trong nghiên cứu GBD-1990, các tác giả sử dụng r bằng 0,03; β bằng 0,04,

và C bằng 0,16243 cho tính toán DALY [41]

Ví dụ, một người phụ nữ bị bệnh trầm cảm ở tuổi 35, sau đó 10 năm thì tửvong Vậy số DALY đã mất của người phụ nữ này gồm hai phần, đó là số DALY bịmất do bệnh trầm cảm và số DALY bị mất do tử vong sớm

Ngày đăng: 13/05/2021, 20:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Vũ Anh (2006) Sử dụng chỉ số DALY trong đo lường và đánh giá gánh nặng một số bệnh tại cơ sở thực nghiệm y tế công cộng tại Chí Linh, Hải Dương, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Trường Đại học y tế công cộng - Hà Nội, tr. 1-4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng chỉ số DALY trong đo lường và đánh giá gánh nặng một số bệnh tại cơ sở thực nghiệm y tế công cộng tại Chí Linh, Hải Dương
Tác giả: Lê Vũ Anh
Nhà XB: Trường Đại học y tế công cộng - Hà Nội
Năm: 2006
2. Bộ Y tế (2018) Niên giám thống kê y tế năm 2015, Nhà xuất bản Y học Hà Nội - 2017, tr. 212-233 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê y tế năm 2015
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học Hà Nội
Năm: 2018
3. Lê Quí Châu, Nguyễn Lân Việt, Nguyễn Đạt Anh, Phạm Quang Vinh (2012) Bệnh học Nội khoa - Tập 1, Nhà xuất bản y học, Hà Nội, tr. 169-226 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh học Nội khoa - Tập 1
Tác giả: Lê Quí Châu, Nguyễn Lân Việt, Nguyễn Đạt Anh, Phạm Quang Vinh
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 2012
6. Đỗ Văn Dũng, Nguyễn Bích Loan (2000) "Nghiên cứu bước đầu số năm sống bị mất ở một số xã miền Nam". Y học TP Hồ Chí Minh, 1 (4), tr. 8-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu bước đầu số năm sống bị mất ở một số xã miền Nam
Tác giả: Đỗ Văn Dũng, Nguyễn Bích Loan
Nhà XB: Y học TP Hồ Chí Minh
Năm: 2000
7. Châu Đương (2014) Gánh nặng bệnh tật và tử vong của đồng bào dân tộc Ê đê huyện CưM’gar- Đắk Lắk năm 2014, Đề tài cấp cơ sở, Sở y tế tỉnh Đắk Lắk, tr.46-47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gánh nặng bệnh tật và tử vong của đồng bào dân tộc Ê đê huyện CưM’gar- Đắk Lắk năm 2014
Tác giả: Châu Đương
Nhà XB: Sở y tế tỉnh Đắk Lắk
Năm: 2014
8. Châu Đương và CS (2012) "Tình hình bệnh nhân Êđê nhập viện điều trị tại Bệnh viện đa khoa huyện CưM’gar- Đaklak trong 5 năm (2006-2010) ". Tạp chí Y Dược học Quân Sự, 37 (2), tr. 117-121 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình bệnh nhân Êđê nhập viện điều trị tại Bệnh viện đa khoa huyện CưM’gar- Đaklak trong 5 năm (2006-2010)
Tác giả: Châu Đương, CS
Nhà XB: Tạp chí Y Dược học Quân Sự
Năm: 2012
9. Phạm Văn Lào (2016) Tỷ lệ tăng huyết áp và các yếu tố nguy cơ tại một số xã phường thị trấn trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, Đề tài cấp cơ sở - Sở Y tế Đắk Lắk Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ lệ tăng huyết áp và các yếu tố nguy cơ tại một số xã phường thị trấn trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
Tác giả: Phạm Văn Lào
Nhà XB: Sở Y tế Đắk Lắk
Năm: 2016
12. Bùi Ngọc Linh, Nguyễn Thị Trang Nhung, Trần Khánh Long, Theo Vos, Ngô Đức Anh, Nguyễn Thanh Hương (2011) "Một số kết quả ban đầu về đo lường gánh nặng bệnh tật ở Việt Nam". Tạp chí y tế công cộng, 20 (20), tr. 4-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả ban đầu về đo lường gánh nặng bệnh tật ở Việt Nam
Tác giả: Bùi Ngọc Linh, Nguyễn Thị Trang Nhung, Trần Khánh Long, Theo Vos, Ngô Đức Anh, Nguyễn Thanh Hương
Nhà XB: Tạp chí y tế công cộng
Năm: 2011
14. Nguyễn Trường Nam - Thongke.info Chọn mẫu trong nghiên cứu, Viện nghiên cứu y xã hội học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chọn mẫu trong nghiên cứu
Tác giả: Nguyễn Trường Nam
Nhà XB: Viện nghiên cứu y xã hội học
16. Nguyễn Thị Trang Nhung, Bùi Thị Tú Quyên, Lê Thị Vui, Phạm Việt Cường, Lê Tự Hoàng (2012) "Gánh nặng bệnh tật do tử vong sớm tại CHILILAB Chí Linh, Hải Dương". Tạp chí y tế công cộng, 24 (24), tr. 4-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gánh nặng bệnh tật do tử vong sớm tại CHILILAB Chí Linh, Hải Dương
Tác giả: Nguyễn Thị Trang Nhung, Bùi Thị Tú Quyên, Lê Thị Vui, Phạm Việt Cường, Lê Tự Hoàng
Nhà XB: Tạp chí y tế công cộng
Năm: 2012
17. Nguyễn Đình Sáng, Nguyễn Hữu Mô, Đỗ Hoàng Dung (2010) Khái niệm về bệnh trong Sinh lý Bệnh học - Phần 2, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr. 5-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm về bệnh trong Sinh lý Bệnh học - Phần 2
Tác giả: Nguyễn Đình Sáng, Nguyễn Hữu Mô, Đỗ Hoàng Dung
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2010
22. Anand S., Hanson K. (1997) "Disability-adjusted life years: a critical review". Journal of Health Economics, 16 (6), pp. 685-702 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Disability-adjusted life years: a critical review
Tác giả: Anand S., Hanson K
Nhà XB: Journal of Health Economics
Năm: 1997
23. Barendregt J. J., Bonneux L., Van der Maas P. J. (1996) "DALYs: the age- weights on balance". Bulletin of the World Health Organization, 74 (4), pp. 439- 443 Sách, tạp chí
Tiêu đề: DALYs: the age- weights on balance
Tác giả: Barendregt J. J., Bonneux L., Van der Maas P. J
Nhà XB: Bulletin of the World Health Organization
Năm: 1996
24. Barker C., Green A. (1996) "Opening the debate on DALYs (disability adjusted life years)". Health policy and planning, 11 (2), pp. 179-183 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Opening the debate on DALYs (disability adjusted life years)
25. Bundhamcharoen K., Odton P., Phulkerd S., Tangcharoensathien V. (2011) "Burden of disease in Thailand: changes in the health gap between 1999 – 2004&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Burden of disease in Thailand: changes in the health gap between 1999 – 2004
Tác giả: Bundhamcharoen K., Odton P., Phulkerd S., Tangcharoensathien V
Năm: 2011
26. Chapman G., Hansen K. S., Jelsma J., et al (2006) "The Burden of Disease in Zimbabwe in 1997 as measured by disability-adjusted life years lost". Tropical medicine & international health, 11 (5), pp. 660-671 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Burden of Disease in Zimbabwe in 1997 as measured by disability-adjusted life years lost
Tác giả: Chapman G., Hansen K. S., Jelsma J., et al
Nhà XB: Tropical medicine & international health
Năm: 2006
27. Colin D. M., Theo Vos T., Christopher E. S., Stephen J. B. (2001) "The burden of disease and injury in Australia". Bulletin of the World Health Organization, 79 (11), pp. 1076-1084 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The burden of disease and injury in Australia
28. Dodhia H., Phillips K. (2008) "Measuring burden of disease in two inner London boroughs using Disability Adjusted Life Years". Journal of public health, 30 (3), pp. 313-321 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Measuring burden of disease in two inner London boroughs using Disability Adjusted Life Years
29. Fox -Rushby J. A., Hanson K. (2001) "Calculating and presenting disability adjusted life years (DALYs) in cost-effectiveness analysis". Health policy and planning, 16 (3), pp. 326-331 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Calculating and presenting disability adjusted life years (DALYs) in cost-effectiveness analysis
Tác giả: Fox-Rushby J. A., Hanson K
Nhà XB: Health policy and planning
Năm: 2001
30. GBD-2016 Brazil collaborators (2018) "Burden of diseases in Brazil, 1990 - 2016 : a systematic subnational analysis for the Global Burden of Disease Study 2016". The Lancet, 392, pp. 760-775 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Burden of diseases in Brazil, 1990 - 2016 : a systematic subnational analysis for the Global Burden of Disease Study 2016

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w