Nội dung bài viết trình bày nét đẹp của người có văn hoá được biểu hiện ở nhiều mặt, trong đó phải kể đến sự ăn uống. Việc ăn để duy trì sự sống và làm việc là rất quan trọng có thực mới vực được đạo. Người xưa coi trọng kẻ sĩ nên xếp những người có học lên hàng đầu, nhưng khi hết gạo ăn thì bị tụt hạng: Nhất sĩ nhì nông/ Hết gạo chạy rông/ Nhất nông, nhì sĩ. Mời các bạn cùng tham khảo.
Trang 1Số 1+2 (195+196)-2012 ngôn ngữ & đời sống 85
Ngôn ngữ và văn hoá
Ngày tết bàn thêm về chuyện ăn qua tục ngữ, ca dao qua tục ngữ, ca dao qua tục ngữ, ca dao
Lê xuân
(Cần Thơ) Nột đẹp của người cú văn hoỏ được biểu hiện ở
nhiều mặt, trong đú phải kể đến sự ăn uống Vỡ
thế, ụng cha ta đó nõng việc ăn uống lờn thành nột
văn minh ẩm thực Cố nhà văn Nguyễn Tuõn là
một trong những người rất coi trọng cỏi sự “văn
minh” ấy, nờn thưởng thức mún nào ụng cũng tỏ
ra “khỏc người”, tuy cú hơi cầu kỡ, pha một chỳt
“ngụng” xen lẫn chất tài hoa, tài tử Cỏc cụ xưa
luụn răn dạy con chỏu Ăn trụng nồi, ngồi trụng
hướng , hoặc Học ăn, học núi, học gúi, học mở…
Và cũng khụng ớt lời phờ phỏn những kẻ phàm ăn
tục uống Bờn li rượu xuõn, ta hóy ngẫm nghĩ cỏi
hay của ca dao, tục ngữ, thành ngữ núi về chuyện
ăn này
Việc ăn để duy trỡ sự sống và làm việc là rất
quan trọng cú thực mới vực được đạo Người xưa
coi trọng kẻ sĩ nờn xếp những người cú học lờn
hàng đầu, nhưng khi hết gạo ăn thỡ bị tụt hạng:
Nhất sĩ nhỡ nụng/ Hết gạo chạy rụng/ Nhất nụng,
nhỡ sĩ Bỏc Hồ sinh thời chỉ cú một ham muốn tột
bậc là Đồng bào ta ai cũng cú cơm ăn, ỏo mặc, ai
cũng được học hành Lũng hiếu thảo với cha mẹ
của người con cũng được biểu hiện ở sự nhường
cơm nuụi mẹ lỳc khú khăn đúi kộm:
Đúi lũng ăn hột chà là
Để cơm nuụi mẹ, mẹ già yếu răng
Tỡnh yờu thắm thiết, nhớ thương da diết của
đụi trai gỏi đến mức họ chẳng muốn ăn:
Lờn đồi hỏi một quả sim
Ăn nửa, bỏ nửa đi tỡm người thương
Trong cảnh nghốo, vợ chồng vẫn hạnh phỳc
đầm ấm bờn nhau, thật đỏng yờu:
Rõu tụm nấu với ruột bầu
Chồng chan vợ hỳp, gật đầu khen ngon
Và người mẹ từ bao đời nay đó dành tất cả
những miếng ngon, miếng ngọt cho đứa con thơ
của mỡnh, qua hồi tưởng của người con:
Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa
Miệng nhai cơm bỳng, lưỡi lừa cỏ xương
Đối xử tốt với nhau, tục ngữ cú cõu ăn ở như
bỏt nước đầy Những người cú tấm lũng chờ đợi,
kiờn trỡ chịu đựng, nhờ vả người khỏc, cú cỏc cõu:
ăn gởi nằm nhờ, ăn giú năm mưa hay ăn giú nằm
sương, ăn tuyết nằm sương Chỉ những người ăn ở
lương thiện, để phỳc đức cho con chỏu cú cõu ăn
hiền ở lành. Chỉ sự ăn uống thanh đạm, trong
sạch, cú cõu: Ăn chay niệm Phật, Ăn Bắc mặc
Kinh Chỉ sự cụng bằng cú cõu ăn cho đều, kờu
cho sũng, ăn cho đều, tiờu cho sũng, hay ăn cho đều chia cho soạn Những người ăn ớt, nhỏ nhẹ, hay lo, cú cỏc cõu: Ăn hương ăn hoa, ăn như mốo,
ăn lấy hơi lấy hướng, ăn chả bừ dớnh răng, ăn bữa
hụm lo bữa mai, vừa ăn vừa nghĩ…
Tuy vậy, cũng khụng ớt những người quỏ coi
trọng miếng ăn Họ quan niệm Một miếng giữa
làng bằng một sàng xú bếp , tranh nhau ăn trờn
ngồi trốc khi tới đỏm đụng việc làng việc xó, hay
ở đỏm hiếu, hỉ… Họ biết là Ăn cỗ đi trước, lội
nước theo sau, luụn dành phần lợi cho mỡnh, cũn những gỡ bất lợi đó cú người khỏc đi trước dọn đường, hứng chịu Trong mõm cỗ của một vị quan hay bậc tiờn chỉ ở một làng nào đú ngày xưa mà thiếu đi một bộ phận của con heo, hay con gà là cú chuyện đũi hỏi, hạch sỏch hoặc cói vó ngay Bọn chỏnh tổng, lớ trưởng, cường hào nhiều khi tranh
ăn mà xớch mớch hắt rượu, thức ăn, quăng đĩa chộn
vào mặt nhau Miếng ăn quỏ khẩu thành tàn (qua miệng là hết), nú là miếng nhục đỳng cả nghĩa đen
và nghĩa búng (nhục: từ Hỏn cú nghĩa là thịt- danh
từ, nhục: theo tiếng Nụm, nghĩa búng là nhục nhó-
tớnh từ)
Chỉ hạng người tham ăn cú cỏc cõu tục ngữ,
thành ngữ: ăn như thần trựng, ăn như thợ đấu (thợ
đào ao, đắp nền nhà ăn rất khoẻ), ăn như rồng
cuốn, ăn thủng nồi trụi rế, ăn như hổ đúi, ăn như gấu ăn, ăn như kẻ cướp, ăn ngập đầu ngập mũi,
Trang 2ngôn ngữ & đời sống số 1+2 (195+196)-2012
86
ăn như tằm ăn dõu, miệng ăn nỳi lở (khẩu thực
băng sơn) Vợ chồng tờn địa chủ tham ăn lại hay
nghĩ ra nhiều việc bắt con ở làm, đó cú bài ca dao:
Chỳa trai là chỳa hay lo
Đờm nằm cắt việc tra cho mà làm
Chỳa gỏi là chỳa ăn tham
Đồng quà tấm bỏnh đỳt ngang trong buồng
Ăn thỡ chết nứt, chết trương
Chẳng nhớ thằng ở, chẳng thương con đũi…
Chỉ loại người ăn bẩn (ăn dơ), ăn hại cú cỏc
cõu: ăn xú mú niờu, ăn tro bọ trấu, ăn sống nuốt
tươi, ăn hoang phỏ hoại, ăn chú cả lụng, ăn hồng
cả hột…
Một số cõu thành ngữ, tục ngữ mà từ ăn được
hiểu theo nghĩa phỏi sinh (nghĩa búng) như: Chỉ
sự lười biếng cú: ăn bơ làm biếng hay
Ăn thỡ chọn những miếng ngon
Làm thỡ chọn việc cỏn con mà làm
Chỉ cảnh sống khụng nhà cửa, khổ sở cú cõu
ăn bờ ở bụi Chỉ sự ăn cắp hay xà xẻo từng li từng
tớ cú cõu ăn bớt ăn xộn Chỉ hành động vụ ơn bạc
nghĩa cú ăn cỏ bỏ lờ hay ăn cỏ bỏ đăng Chỉ sự
hoang phớ, khụng biết tiết kiệm cú cõu ăn cả tiờu
rộng, hoặc ăn thừa bỏ mứa Chỉ kẻ ăn của người
này nhưng lại đi lo cho người khỏc, làm những
việc khụng đõu, cú cõu: ăn cõy tỏo rào cõy xoan,
hay ăn cơm nhà vỏc tự và hàng tổng hoặc ăn cơm
nhà vỏc ngà voi…
Núi về sự sống lộn xộn trai gỏi, khụng phõn
biệt tài sản, cú cõu: ăn chung ở đụng Tuổi trẻ
chưa biết lo nghĩ xa cú cõu ăn chưa no lo chưa tới
Chỉ sự chờ đợi lõu ngày cú cõu ăn chực nằm chờ
Những người nghốo khổ, thiếu thốn cú cõu ăn đúi
mặc rỏch Chung sống với nhau suốt đời cú cõu
ăn đời ở kiếp Phờ phỏn hạng người hay đặt
chuyện để hại kẻ khỏc cú cỏc cõu: ăn đơm núi đặt,
ăn gian núi dối, ăn gan uống mỏu Hạng người
dối trỏ, ngồi lờ buụn chuyện cú cõu ăn hơn núi
kộm, ăn khụng ngồi rồi Chỉ sự lo lắng khụng yờn
tõm cú cõu ăn khụng ngon, ngủ khụng yờn Loại
người khụng biết tớnh toỏn, ăn tiờu bừa bói, sống
lạc hậu cú cỏc cõu ăn bừa tiờu càn, ăn lụng ở lỗ
Chỉ người cú cuộc sống yờn ổn, khụng phải lo
nghĩ gỡ cú cõu ăn ngon ngủ yờn Những kẻ đũi hỏi
quỏ đỏng, khụng biết điều cú cõu ăn mày đũi xụi
gấc Chỉ sự trả đũa, khụng chịu lộp vế cú cõu ăn
miếng trả miếng Chỉ sự tằn tiờn, tiết kiệm cú cõu
ăn nhịn để dành Chỉ sự hồ đồ trong núi năng cú cõu ăn ốc núi mũ Ăn ở với nhau xớch mớch được
vớ ăn ở như chú với mốo Nhiễm phải tớnh xấu cú cõu ăn phải đũa Hạng người núi lớn, ăn khoẻ cú cõu ăn súng núi giú Chỉ hạng người hay bịa đặt, thờm bớt cú cõu ăn thừa núi thiếu Hạng người
sung sướng, nhàn hạ, hưởng nhiều lợi lộc cú cõu
ăn trắng mặc trơn, ăn vàng ăn bạc Loại người
sống bừa bộn, tạm bợ, chỉ thấy cỏi trước mắt, cú
cõu ăn vương bỏ vói, ăn xổi ở thỡ, ăn ốc núi mũ, ăn
lụng ở lỗ…
Nhà thơ Tỳ Xương trong bài Ngày xuõn cú
mỉa mai bọn người phàm ăn tục uống, hay khoe
mẽ, bọn chỳng non kộm về thơ văn nhưng khi thịt xụi vào là tuụn ra bao loại thơ dởm:
í hẳn thịt xụi lốn chặt dạ Cho nờn con tự mới thũi ra Thơ mà đến mức để cho xụi thịt đẩy ra từ trong bụng, thỡ chẳng thơm tho gỡ, thật đỏng cười và khinh bỉ
Trong đối nhõn xử thế, ụng cha ta rất chỳ ý tới
sự cụng bằng, đó cú cõu ăn cho đều, tiờu cho sũng
Ở đời ai cũng cần ăn, nhưng ăn như thế nào cho lịch sự, cho đẹp là điều mà ta cần suy ngẫm, để thể
hiện là người cú văn húa, chứ khụng thể ăn xú mú
niờu, ăn tục núi phột (núi lỏo, núi dúc)
Xưa cũng như nay, xó hội nào, dõn tộc nào,
nước nào cũng vậy khụng thiếu gỡ những kẻ “ăn
dơ tanh rỡnh” (Nguyễn Đỡnh Chiểu), luụn lấy sự
ăn đặt lờn hàng đầu, làm lẽ sống Bởi thế cú rất
nhiều kẻ ăn đỳt lút, nhận hối lộ, tham ụ tài sản, tiền bạc của nhà nước và nhõn dõn, rồi vào tự, để
“Ngàn năm bia miệng vẫn cũn trơ trơ” Xó hội ta
rất quan tõm đến trẻ em và người già, nờn những
gỡ ngon nhất, đẹp nhất cần dành cho hai đối tượng này Bỏc Hồ đó viết:
Trẻ em như bỳp trờn cành
Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan Nhà thơ Tố Hữu cũng đó ngợi ca tấm lũng của Bỏc đối với cụ già và trẻ thơ:
Tự do cho mỗi đời nụ lệ
Sữa để em thơ, lụa tặng già Tết đến Xuõn về, bờn li rượu, chộn trà, miếng
bỏnh, ta bàn thờm về chuyện ăn, õu cũng là nhắc
nhau giữ gỡn một nột đẹp của bản sắc văn hoỏ dõn
tộc trong văn minh ẩm thực
(Ban Biên tập nhận bài ngày 08-12-2011)