1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến việc khai thác và nuôi trồng thủy sản ở huyện đức phổ, tỉnh quảng ngãi, định hướng và giải pháp phát triển

65 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 869,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA ĐỊA LÍ NGUYỄN THỊ YẾN TRÂM PHÂN TÍCH ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC KHAI THÁC VÀ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN Ở HUYỆN ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA ĐỊA LÍ

NGUYỄN THỊ YẾN TRÂM

PHÂN TÍCH ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC KHAI THÁC VÀ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

Ở HUYỆN ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI,

ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN

CHUYÊN NGÀNH: SƯ PHẠM ĐỊA LÍ

KHÓA 13 (2013-2017)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

ĐÀ NẴNG, NĂM 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA ĐỊA LÍ

NGUYỄN THỊ YẾN TRÂM

PHÂN TÍCH ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC KHAI THÁC VÀ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

Ở HUYỆN ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI,

ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN

CHUYÊN NGÀNH: SƯ PHẠM ĐỊA LÍ

KHÓA 13 (2013-2017)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: Th.S NGUYỄN THỊ DIỆU

ĐÀ NẴNG, NĂM 2017

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Giới hạn nghiên cứu 2

4 Lịch sử nghiên cứu đề tài 2

5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 3

6 Bố cục của đề tài 5

NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 6

1.1 Cơ sở lí luận chung 6

1.1.1 Vai trò của ngành thủy sản 6

1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến ngành thủy sản 8

1.1.2.1 Các nhân tố tự nhiên 8

1.1.2.2 Các nhân tố kinh tế - xã hội 12

1.2 Hiện trạng phát triển ngành thủy sản tỉnh Quảng Ngãi 13

1.2.1 Hiện trạng khai thác thủy sản 13

1.2.2 Hiện trạng nuôi trồng thủy sản 15

1.3 Khái quát các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Đức Phổ 17

1.3.1 Điều kiện tự nhiên 20

1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 21

1.3.2.1 Điều kiện kinh tế 21

1.3.2.2 Điều kiện xã hội 24

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH CÁC ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHAI THÁC VÀ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN Ở HUYỆN ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI 27

2.1 Các điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến việc khai thác và nuôi trồng thủy sản ở huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi 27

Trang 4

2.1.1 Vị trí địa lý 27

2.1.2 Khí hậu 28

2.1.3 Thủy hải văn 32

2.1.4 Địa hình 36

2.2 Phân tích điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến việc khai thác và nuôi trồng thủy sản ở huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi 36

2.2.1 Thuận lợi 36

2.2.2 Khó khăn 38

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH THỦY SẢN HUYỆN ĐỨC PHỔ - QUẢNG NGÃI 39

3.1 Hiện trạng khai thác và nuôi trồng thủy sản ở huyện Đức Phổ- Quảng Ngãi 39

3.3.1 Hiện trạng khai thác thủy sản 39

3.3.2 Hiện trạng nuôi trồng thủy sản 41

3.2 Một số khó khăn trong việc khai thác và nuôi trồng thủy sản hiện nay ở huyện Đức Phổ - Quảng Ngãi 45

3.2.1 Đối với khai thác thủy sản 45

3.2.2 Đối với nuôi trồng thủy sản 46

3.3 Định hướng và giải pháp phát triển ngành thủy sản huyện Đức Phổ - Quảng Ngãi 46

3.3.1 Định hướng 46

3.3.2 Giải pháp 48

3.3.2.1 Giải pháp các ngành cụ thể 48

3.3.2.2 Giải pháp quy hoạch và chính sách 50

3.3.2.3 Giải pháp khoa học công nghệ và khuyến ngư 51

3.3.2.4 Giải pháp thị trường 51

3.3.2.5 Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực 51

3.3.2.6 Giải pháp về vốn 51

3.3.2.7 Giải pháp khai thác, nuôi trồng gắn với chế biến thủy sản 52

Trang 5

3.3.2.8 Giải pháp quản lý môi trường 52

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54

1 Kết luận 54

2 Kiến nghị 55

TÀI LIỆU THAM KHẢO 56 PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

1.1 Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản 10

1.2 Sản lượng khai thác thủy hải sản phân theo huyệngiai đoạn

1.3 Năng suất nuôi trồng thủy sản Quảng Ngãi năm 2016 17

1.4 Tình hình một số cây trồng chủ yếu của huyện Đức Phổ năm

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH

1.1 Biểu đồ biến động số lượng tàu thuyền tỉnh Quảng Ngãi từ

2.1 Bản đồ phân vùng khí hậu tỉnh Quảng Ngãi 29

2.4 Sơ đồ phân bố nuôi tôm thẻ chân trắng trên cát và vùng triều 37

3.1 Sản lượng thủy sản khai thác và nuôi trồng ở huyện Đức Phổ

Trang 8

Trên con đường 4 năm học tập, gắn bó với mái trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, được

sự dạy dỗ của thầy cô, sự giúp đỡ của bạn bè cùng với sự nỗ lực của bản thân đã giúp em hoàn thành tốt con đường học tập tại giảng đường và thu nhận được khối kiến thức về chuyên môn cho bản thân Tuy không phải là quá lớn nhưng cũng đủ để giúp em tiến những bước xa hơn trên chặng đường sắp tới

Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng nói chung, quý thầy cô giáo khoa Địa lý nói riêng và đặc biệt em xin gởi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo Nguyễn Thị Diệu

đã không ngại khó khăn, tận tình giúp đỡ, chỉ bảo Đồng thời, em cũng xin cảm ơn đến các Phòng, Ban, Ngành đã tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành khóa luận này

Em xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, tháng 04 năm 2017

Sinh viên

Nguyễn Thị Yến Trâm

LỜI CẢM ƠN

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam là quốc gia Đông Nam Á được thiên nhiên ưu đãi cho nhiều điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển thủy sản Với vùng biển rộng, bờ biển dài 3200km trải dài suốt 13 vĩ độ Bắc Nam tạo nên sự khác nhau rõ rệt về vùng khí hậu, thời tiết, chế độ thủy học,…Ven bờ có nhiều đảo, vũng vịnh và hàng ngàn sông, suối, đầm phá, nên Việt Nam có các hệ sinh thái vùng nước mặn, ngọt, lợ phong phú, đa dạng và giá trị cao Ngành thủy sản nước ta có thể phát triển mạnh

ở các lĩnh vực như khai thác, nuôi trồng và hậu cần dịch vụ Thủy sản được xem là một nghề truyền thống, gắn bó với các cộng đồng dân cư ở các vùng nông thôn, ven biển

Bên cạnh đó, nền kinh tế nước ta hiện nay đang có những bước phát triển mới, chuyển dần sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Việc gia nhập các tổ chức trên thế giới và khu vực như ASEAN, WTO,… đã tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho các sản phẩm thủy sản của Việt Nam cũng dễ dàng thâm nhập vào thị trường các nước khác

Chính vì vậy, trong những năm gần đây, ngành thủy sản đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của nước ta Ngành thủy sản không những đáp ứng cho hoạt động thương mại trong nước, tạo công ăn việc làm cho hàng triệu lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo, mà còn đáp ứng cho xuất khẩu Hằng năm, xuất khẩu thủy sản đem lại cho ngân sách nhà nước khoản thu rất lớn

Huyện Đức Phổ là một huyện biển của tỉnh Quảng Ngãi với đường bờ biển dài trên 40 km chiếm khoảng 1/3 chiều dài bờ biển của tỉnh với 06 xã ven biển, ngư trường khai thác trên 3,000km2, có 02 cửa biển là Mỹ Á và Sa Huỳnh Vì vậy mặc

dù huyện phát triển tương đối nhiều ngành gồm cả công nghiệp, nông nghiệp, dịch

vụ nhưng với những lợi thế trên thì thủy sản vẫn là thế mạnh của nơi đây, góp phần trong việc phát triển ngành thủy sản của cả nước Việc tìm hiểu, phân tích, đánh giá các điều kiện tự nhiên để phát triển ngành đóng vai trò vô cùng quan trọng nhằm

Trang 10

mục đích phát triển kinh tế, nâng cao đời sống người dân, tạo bộ mặt cho huyện trong thời đại mới và thực hiện cuộc vận động ngư dân vương khơi bám biển để đánh dấu chủ quyền lãnh thổ trên biển Đông của Nhà nước

Để tìm hiểu sâu hơn, em đã chọn đề tài “Phân tích điều kiện tự nhiên ảnh

hưởng đến việc khai thác và nuôi trồng thủy sản ở huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi Định hướng và giải pháp phát triển” để làm khóa luận tốt nghiệp của mình

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Phân tích các điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến việc khai thác và nuôi trồng thủy sản ở huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi Từ đó, đề xuất định hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cũng như số lượng nguồn lợi thủy sản góp phần đưa ngành thủy sản trở thành một trong những ngành kinh tế trọng điểm của huyện

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện đề tài cần phải tập trung nghiên cứu, làm rõ các vấn đề sau: + Tìm hiểu những vấn đề lý luận về ngành thủy sản

+ Phân tích các điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến việc khai thác và nuôi trồng thủy sản ở huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi

+ Tình hình khai thác và nuôi trồng thủy sản trên địa bàn huyện và xác định phương hướng phát triển trong thời gian tới

+ Đề xuất định hướng và giải pháp góp phần nâng cao chất lượng cũng như sản lượng nguồn lợi thủy sản

3 Giới hạn nghiên cứu

3.1 Giới hạn về nội dung

Phân tích các điều kiện tự nhiên cho việc khai thác và nuôi trồng thủy sản của huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi Tình hình khai thác và nuôi trồng thủy sản

3.2 Giới hạn về lãnh thổ: Trên địa bàn huyện Đức Phổ

4 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều sách báo, chuyên mục, đề tài,… viết về ngành thủy sản Việt Nam như:

Trang 11

- Giáo trình tiếng anh chuyên ngành thủy sản của PGS.TS Nguyễn Anh Tuấn,

TS Lê Thanh Hùng, PGS.TS Nguyễn Phương Thanh

- Nguyên lý và kĩ thuật sản xuất tôm càng xanh của PGS.TS Nguyễn Phương Thanh, TS Trần Ngọc Hải, TS Trần Thị Thanh Hiền, PGS.TS Marynwwilder

- Nghiên cứu công nghệ xây dựng mô hình nuôi trồng kết hợp nhiều đối tượng hải sản theo hướng phát triển bền vững của Th.S Thái Ngọc Chiến, KS Nguyễn Thiếu Khánh

- Phân tích đánh giá các điều kiện tự nhiên và môi trường phục vụ nuôi trồng thủy hải sản trên các dải cát ven biển Quảng Bình

- Tìm hiểu các nguồn lực phát triển ngành thủy sản ở huyện Diễn Châu - Nghệ

An Định hướng và giải pháp phát triển

- Văn bản về điều kiện sản xuất, kinh doanh một số ngành nghề thủy sản

5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

5.1 Quan điểm nghiên cứu

5.1.1 Quan điểm hệ thống

Quan điểm này giúp xem xét đối tượng một cách toàn diện, nhiều mặt, nhiều mối quan hệ khác nhau, trong trạng thái vận động và phát triển, việc phân tích những điều kiện nhất định để tìm ra bản chất và quy luật vận động của đối tượng Ngành thủy sản là một bộ phận và đóng vai trò quan trọng trong toàn bộ hoạt động của nền sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu cần đặt nó trong hệ thống các mối quan hệ tự nhiên với các hoạt động kinh tế khác

5.1.2 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh

Khai thác và nuôi trồng thủy sản không chỉ phục vụ cho sự phát triển trong hiện tại mà còn trong tương lai Bất kỳ một hệ thống tự nhiên nào đều có nguồn gốc, phát sinh, phát triển, các biến động về tình hình thủy sản nhằm thấy được những quy luật phát triển trong quá khứ và hiện tại, đồng thời dự báo được định hướng, khả năng khai thác nuôi trồng trong tương lai

5.1.3 Quan điểm tổng hợp

Khai thác và nuôi trồng thủy sản chịu ảnh hưởng sâu sắc của nhiều yếu tố tự nhiên, các yếu tố này không tác động riêng lẻ mà tác động trong mối quan hệ hữu

Trang 12

cơ với nhau Do đó, khi nghiên cứu các điều kiện tự nhiên phải đặt các yếu tố đó trong mối quan hệ chung

5.1.4 Quan điểm kinh tế sinh thái

Mỗi loài thủy sản có yêu cầu sinh thái riêng Vì vậy việc nuôi trồng thủy sản phải phù hợp với các điều kiện sinh thái Trên cơ sở đó, xác định đối tượng nuôi và mùa vụ nuôi hợp lý

Ngoài ra, định hướng phát triển ngành thủy sản phải định hướng trong mối quan hệ giữa môi trường tự nhiên đồng thời đảm bảo giữ gìn, bảo vệ môi trường sinh thái, phát triển bền vững

5.2 Phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu

Sau khi nghiên cứu tìm hiểu thực địa, để có những đánh giá chính xác cụ thể

và khách quan cần phải tiến hành thu thập các số liệu cũng như các thông tin liên quan đến nội dung nghiên cứu Những thông tin tổng hợp này được lưu trữ khá đầy

đủ ở các phòng nông nghiệp, phòng thủy sản, phòng kinh tế Từ đó, bằng các phương pháp khác nhau để thống kê và xử lý thông tin một cách khoa học để trở thành những thông tin, tài liệu phục vụ cho đề tài

5.2.2 Phương pháp quan sát và kiểm nghiệm thực địa

Để hoàn thành đề tài cũng như đạt được các mục tiêu của đề tài cần phải tiến hành phương pháp thực địa để quan sát, tìm hiểu, nghiên cứu thực tế những hoạt động của ngành thủy sản huyện Đức Phổ Tiến hành thực địa khảo sát, quan sát, thực nghiệm ở một số địa phương như: Phổ Thạnh, Phổ Vinh, Phổ Châu,… và một

số cơ sở chế biến trên địa bàn huyện

5.2.3 Phương pháp bản đồ - biểu đồ

Phương pháp này nhằm mô hình hóa các kiến thức, các thông tin giúp ta dễ dàng tìm hiểu không gian, thời gian của đối tượng nghiên cứu Phương pháp này còn xác định được một cách rõ ràng, khoa học mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng cần nghiên cứu

Trang 13

5.2.4 Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp

Đây là phương pháp nhận thức đặc biệt giúp ta nắm vững bản chất của từng đơn vị kiến thức và toàn bộ vấn đề nghiên cứu Đồng thời thấy được mối quan hệ tác động tương hỗ giữa chúng, từ đó có thể hiểu đầy đủ, toàn diện, sâu sắc vấn đề

6 Bố cục của đề tài

Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2 Phân tích các điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến khai thác và nuôi trồng thủy sản ở huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi

Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển ngành thủy sản huyện Đức Phổ

- Quảng Ngãi

Trang 14

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Cơ sở lí luận chung

1.1.1 Vai trò của ngành thủy sản

Thủy sản cũng như các ngành kinh tế khác đều có vị trí và vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội, đời sống con người, được thể hiện ở:

a Cung cấp nguồn thực phẩm cho nhu cầu hàng ngày của con người và thức

ăn cho chăn nuôi

Các loại thủy sản bao gồm cả nước ngọt, nước mặn, nước lợ tham gia vào bữa

ăn hàng ngày của con người và vật nuôi với vai trò là nguồn thực phẩm có giá trị cao về dinh dưỡng Các chất đạm có từ cá, tôm, cua… dễ tiêu hóa, không gây béo phì, nhất là cung cấp các nguyên tố vi lượng có từ biển như: iot, canxi, sắt… rất dễ hấp thụ và có lợi cho sức khỏe con người Nhiều loại có giá trị lớn cả về kinh tế lẫn chất lượng và là đặc sản chữa bệnh

Hiện nay, tại Việt Nam có 50% sản lượng đánh bắt hải sản ở vùng biển Bắc

Bộ, Trung Bộ và 40% sản lượng đánh bắt ở vùng biển Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ được dùng làm thực phẩm Nuôi trồng thủy sản phát triển rộng khắp, từ các đồng bằng đến trung du miền núi, tất cả các ao hồ nhỏ đều được sử dụng triệt để cho các hoạt động ngành thủy sản

Tuy nhiên, so sánh với mức cung cấp và tiêu thụ sản phẩm thủy sản tại các nước Đông Nam Á thì mức tiêu thụ sản phẩm thủy sản của nước ta còn thấp, chỉ sử dụng 50% các loại thủy sản (tăng từ 13.5kg năm 1995 đến 19 kg hiện nay) và chiếm hớn 30% nguồn cung cấp đạm động vật cho người Việt Nam

Bên cạnh việc cung cấp dinh dưỡng cho người thì thủy sản còn là thức ăn cho chăn nuôi Các sản phẩm từ khai thác thủy sản, phụ phẩm hay phế phẩm từ ngành công nghiệp chế biến thủy sản chính là nguồn thức ăn quan trọng cho vật nuôi như gia súc, gia cầm góp phần thúc đẩy chăn nuôi, tăng nguồn thu nhập

Trang 15

b Cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến lương thực, tạo nguồn hàng xuất khẩu

Ngành thủy sản phát triển cung cấp nguồn nguyên liệu phong phú cho ngành công nghiệp chế biến thực phẩm với các sản phẩm đông lạnh, công nghiệp chế biến dược phẩm hay thủ công mỹ nghệ cũng mang lại giá trị lớn Điều đó vừa nói lên lợi thế trong giai đoạn hiện nay, vừa nói lên sự chuyển đổi tính chất của hoạt động thủy sản đang diễn ra từ ngành sản xuất mang nặng tính chất nông nghiệp sang ngành sản xuất kinh doanh mang tính công nghiệp Ngành thủy sản phát triển còn góp phần thức đẩy các ngành kinh tế khác như: công nghiệp đóng tàu, công nghiệp

cơ khí - chế tạo máy để cung cấp tàu thuyền, máy móc, thiết bị cho ngành

Cùng với việc cung cấp cho công nghiệp chế biến thì thủy sản cung mang lại giá trị lớn khi là mặt hàng xuất khẩu tiềm năng Xuất khẩu thủy sản có tốc độ tăng trưởng tương đương với tốc độ tăng trưởng trong xuất khẩu của các ngành công nghiệp, dịch vụ và xây dựng Nếu so sánh với các ngành kinh tế khác thì hiện nay, ngành thủy sản vẫn chiếm tỉ lệ nhỏ, công nghệ phát triển chưa cao, tuy nhiên với giá trị xuất khẩu có xu hướng ngày càng tăng trong những năm qua thì ngành đã khẳng định những thế mạnh, vai trò, vị trí của mình trong xuất khẩu

c Đóng góp vào tổng sản phẩm cả nước, tạo việc làm cho người dân

Theo số liệu thống kê năm 2015, GDP của toàn quốc đạt 2,875,856 tỷ đồng, tăng gấp 1.25 lần so với năm 2011 Trong đó GDP thủy sản đạt 91,185 tỷ đồng, chiếm 19.25% GDP toàn ngành nông, lâm và thủy sản và chiếm 3.17% tổng GDP toàn quốc Thủy sản đóng góp 0,09% điểm phần trăm vào tăng trưởng kinh tế, tính bình quân giai đoạn 2011 - 2015 GDP thủy sản tăng trưởng 4.64%/năm, đóng góp 0.21% vào tăng trưởng ngành nông, lâm và thủy sản nói riêng và toàn quốc nói chung

Tuy ngành thủy sản chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu GDP, song ngành đã góp phần quan trọng trong việc ổn định kinh tế xã hội cũng như công ăn việc làm cho người dân

Năm 2016, dân số Việt Nam hơn 90 triệu người, số người trong độ tuổi lao động chiếm tỉ lệ lớn, vì vậy phát triển thủy sản có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết việc làm, tăng thêm thu nhập cho người dân

Trang 16

Do tính chất đặc thù của ngành thủy sản là chịu ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên, vì vậy thu nhập của người lao động phụ thuộc vào kết quả sản xuất và hiệu quả Lao động nuôi trồng thủy sản thường có thu nhập cao hơn so với lao động đánh bắt thủy sản Bên cạnh đó, việc phát triển, áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật cũng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động ngành thủy sản và sự bố trí cơ cấu lao động trong ngành, từng bước chuyển dịch cơ cấu ngành theo hướng hàng hóa

*Phát triển thủy sản đảm bảo chủ quyền quốc gia, đảm bảo an ninh quốc phòng ở vùng sâu, vùng xa, nhất là vùng hải đảo

Ngành thủy sản luôn giữ vai trò quan trọng trong bảo vệ an ninh, chủ quyền trên biển, ổn định xã hội và phát triển các vùng biển, hải đảo, góp phần thực hiện chiến lược quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân Năm 1997, Thủ tướng đã ký quyết định số 393/TTg phê duyệt Chương trình vay vốn tín dụng đầu tư đóng tàu khai thác hải sản xa bờ Việc gia tăng đội tàu lớn đánh bắt xa bờ không chỉ khai thác các tiềm năng mới, cung cấp nguyên liệu cho chế biến mà còn góp phần bảo vệ an ninh quốc phòng trên các vùng biển nước ta

Tính đến nay, rất nhiều cảng cá quan trọng đã được xây dựng theo chương trình Biển đông hải đảo, cụ thể: Cô Tô (Quảng Ninh), Bạch Long Vĩ và Cát Bà (Hải Phòng), Hòn Mê (Thanh Hóa), Cồn Cỏ (Quảng Trị), Lý Sơn (Quảng Ngãi), Phú Quí (Bình Thuận), Côn Đảo (Bà Rịa - Vũng Tàu), Hòn Khoai (Cà Mau), Phú Quốc (Kiên Giang) Hệ thống cảng cá này sẽ được hoàn thiện đồng bộ để phục vụ sản xuất nghề cá và góp phần bảo vệ chủ quyền an ninh vùng biển của Tổ quốc

1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến ngành thủy sản

Trang 17

Việt Nam nằm trên bán đảo Đông Dương, 3 mặt giáp biển với đường bờ biển dài 3260km và vùng biển rộng khoảng 1 triệu km2, ven bờ có rất nhiều đầm, phá, nhiều khu vực kín gió… thuận lợi cho việc khai thác và nuôi trồng thủy sản, phát triển tổng hợp kinh tế biển Tuy nhiên, ngoài thuận lợi còn có những khó khăn nhất định nên cần có biện pháp phòng chống hiệu quả

b Khí hậu

Là ngành phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, ngành thủy sản không thể tránh khỏi tác động của yếu tố khí hậu Khí hậu với những yếu tố nhiệt độ, lượng mưa, chế độ gió và các yếu tố như bão, lũ lụt, hạn hán… có ảnh hưởng lớn đến ngành thủy sản

- Nhiệt độ là yếu tố sinh thái quan trọng trong hệ sinh thái biển, phạm vi dao động nhiệt độ nước thường nhỏ hơn so với nhiệt độ không khí Nhiệt độ ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống các vật nuôi như hô hấp, tiêu thụ và đồng hóa thức ăn, khả năng miễn nhiễm bệnh tật, sự sinh trưởng…

- Chế độ gió: ảnh hưởng đến hoạt động khai thác, đánh bắt thủy sản Tùy vào các mùa gió khác nhau sẽ có mùa thủy sản với trữ lượng cũng như thành phần loài khác nhau Tần suất và cấp độ gió cũng ảnh hưởng lớn cho việc đánh bắt, gió lớn sẽ ảnh hưởng tới hoạt động ra khơi đánh bắt

- Số giờ nắng và độ ẩm không khí là hai yếu tố ảnh hưởng tới sự sinh trưởng

và phát triển của thủy sản trong quá trình nuôi trồng

Chịu sự chi phối của khí hậu nhiệt đới gió mùa, ở mỗi miền nước ta lại có những đặc trưng khác nhau về điều kiện khí hậu để nuôi trồng thủy sản với nhiều loại hình và loài khác nhau

- Miền Bắc: Nhiệt độ không khí trung bình 22.50C - 23.50C, lượng mưa trung bình từ 1500 - 2400mm, tổng số giờ nắng từ 1650 - 1750 giờ/năm Mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 8 và là vùng chịu ảnh hưởng lớn của bão và bão xuất hiện sớm trong cả nước Vùng biển khu vực này thuộc nhật triều với biên độ 3.2 - 3.6m

- Miền Trung: Nhiệt độ trung bình từ 25.50C - 27.50C, tổng số giờ nắng từ

2300 - 3000 giờ/năm Mưa tập trung vào cuối tháng 9 đến tháng 11 Chế độ thủy triều gồm nhật triều và bán nhật triều, có nhiều đầm, phá thích hợp nuôi thủy sản

Trang 18

- Miền Nam: Khí hậu mang tính chất cận xích đạo, nhiệt độ trung bình 22,6027.60C, tổng số giờ nắng trên 2000 giờ/năm Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa trung bình từ 1400 - 2400mm, vùng biển khu vực này thuộc bán nhật triều với biên độ 2.5 - 3m

C-c Mạng lưới thủy văn

Thủy, hải văn là nhân tố tác động lớn đến sự phát triển của thủy sản, cả những hoạt động khai thác và nuôi trồng đều chịu tác động của thủy văn Hệ thống sông ngòi càng dày đặc, chiều dài bờ biển càng lớn thì càng tạo điều kiện thuận lợi cho ngành thủy sản phát triển và ngược lại

Việt Nam có tiềm năng để phát triển nuôi trồng thủy sản ở khắp mọi nơi trên

cả nước mạng lưới sông ngòi, ao, hồ dày đặc là điều kiện để phát triển ngành thủy sản cả về nuôi trồng và đánh bắt Ở nước ta, mạng lưới sông ngòi dày đặc: 2630 con sông với dộ dài 10 km trở lên, chảy trên nhiều vùng đồng bằng, cùng hệ thống ao đầm, các ô trũng nhiều lợi thế để phát triển thủy sản nước ngọt và nước lợ

Bảng 1.1 Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản

Đơn vị: Nghìn ha

Năm 2005 2008 2014 TỔNG SỐ 952.6 1052.6 1056.3

Diện tích nước mặn, lợ 661.0 713.8 744.2

Diện tích nước ngọt 291.6 338.8 312.1

(Nguồn: “Tổng cục thống kê Việt Nam”)

Cả nước có khoảng 1,898.3 nghìn ha diện tích mặt nước có khả năng nuôi trồng thủy sản, trong đó diện tích nước ngọt là 933.2 nghìn ha; nước mặn, lợ là 965.0 nghìn ha Đưa vào sử dụng 1,052.6 nghìn ha và đang có xu hướng tăng lên

Từ năm 2004 - 2008, tiềm năng về mặt nước nuôi trồng thủy sản rất lớn và tăng liên tục, năm 2004 là 920.1 nghìn ha, năm 2008 tăng lên 1052.6 nghìn ha Diện tích nước mặn, lợ tăng đến năm 2008 là 642.3 nghìn ha; nước ngọt năm 2008 tăng diện tích sử dụng lên 338.8 nghìn ha

Trang 19

Như vậy, cho thấy tiềm năng phát triển nuôi trồng thủy sản của nước ta rất lớn Đặc biệt ở vùng đồng bằng sông Cửu Long có nhiều rừng ngập mặn rất thuận lợi cho việc nuôi tôm, các ô trũng để thả cá, nuôi các loại đặc sản Trên các sông, hồ

có điều kiện nuôi cá bè

d Nguồn lợi giống thủy sản

Qua thống kê cho thấy biển Việt Nam có tổng số 2,038 loài cá, trong đó có trên 110 loài có giá trị kinh tế, 40 - 50 loài có sản lượng đánh bắt cao Tổng trữ lượng cá trên biển Đông là 2.769.041 tấn, trong đó cá nổi chiếm 62.8%, cá tầng đáy 37.2% Có 19 loài cá voi, 225 loài tôm, 663 loài rong tảo biển, 55 loài mực, 5 loài rùa, 21 loài rắn biển Ngoài ra còn có nhiều loài hải sản quý giá như bào ngư, trai ngọc, sò huyết, san hô đỏ… Trữ lượng nguồn lợi hải sản ước tính khoảng 3.0 đến 3.5 triệu tấn, khả năng khai thác 1.4 đến 1.5 triệu tấn Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, vùng biển Việt Nam có năng suất sinh học tương đối cao

Có đến 225 loài tôm thuộc 11 họ tôm biển, số loài có giá trị kinh tế chiếm đến 50%, đa số sống trong các vùng biển nông tới độ sâu 50m, rất thuận lợi cho việc đánh bắt Khai thác tôm ở biển Việt Nam khoảng 55 - 70 nghìn tấn/năm, chủ yếu ở vùng biển Nam Bộ chiếm tới 80% tổng sản lượng khai thác của cả nước

Ngoài ra có khoảng 55 loài mực thuộc 4 họ, trong đó 2 họ mực ống và mực nang chiếm đa số, 7 loài bạch tuộc và các loài vật biển khác

Việt Nam có 2 khu hệ cá nước ngọt Khu hệ cá miền Bắc thuộc hệ ngư lai Hoa Nam - Trung Quốc với 240 loài, phần lớn là những loài cá ăn thực vật, tiếp đến là các loài cá ăn tạp, ăn mùn bã hữu cơ, có ít loại ăn động vật Khu hệ cá miền Nam thuộc hệ ngư lai Ấn Độ - Malaysia với 225 loài, số lượng ăn động vật chiếm ưu thế,

số loài ăn thực vật ít hơn

Trong tổng số 495 loài cá, có khoảng 50 loài có giá trị kinh tế cao, đó là những loài cá nuôi hoặc khai thác trong tự nhiên có sản lượng lớn Ngoài ra, thủy vực nước ngọt còn có nhiều loài thủy sản khác như nhóm giáp xác nhất là tôm càng xanh, các loài nhuyễn thể như trai, ốc, rùa,

Trang 20

1.1.2.2 Các nhân tố kinh tế - xã hội

a Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước

Trong Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã chỉ rõ: “Phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản, đổi mới

cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo hướng CNH - HĐH” Với đường lối chỉ đạo này đã có một sức ảnh hưởng rất lớn đến ngành thủy sản, đó là nâng cao sự phát triển ngành thủy sản trong nền nông nghiệp toàn diện

Các chính sách điều hành kinh tế vĩ mô của nhà nước nhằm phát triển nông - lâm - ngư nghiệp và kinh tế nông thôn cùng với hệ thống pháp luật sẽ tạo môi trường kinh doanh thuận lợi và kích thích người sản xuất hoạt động theo định hướng của nhà nước Hệ thống các chính sách bao gồm: chính sách khuyến ngư, chính sách tín dụng ngân hàng, chính sách đầu tư cho cơ sở hạ tầng, chính sách hỗ trợ giá xăng dầu, chính sách giá cả, chính sách xóa đói giảm nghèo…

b Dân cư và nguồn lao động

Dân cư và nguồn lao động là 2 nhân tố tác động tương đối lớn đến việc phát triển đánh bắt nuôi trồng thủy sản Nguồn lao động vừa tạo ra của cải vật chất, vừa là nguồn tiêu thụ các sản phẩm đó Nói cách khác, dân cư và nguồn lao động tạo ra quy luật cung cầu và điều tiết mối quan hệ này Hiện nay ngành thủy sản thu hút hơn 4 triệu lao động, sức lao động cũng như trình độ lao động của họ đóng góp vào sự phát triển (nhanh, chậm, bền vững, không bền vững, liên tục, không liên tục) của ngành thủy sản từ đó tạo tiền đề tăng năng suất lao động đưa lại hiệu quả kinh tế cao

Tuy nhiên, trên thực tế, nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu phát triển thủy sản do trình độ thấp, thiếu kinh nghiệm, thiếu kiến thức về đánh bắt, nuôi trồng và chế biến Đa số nông dân và ngư dân chưa được tập huấn, đào tạo chuyên môn sâu, doanh nhân chưa có trình độ và bằng cấp chuyên môn, kỹ thuật cần thiết… nên chưa đáp ứng tốt nhu cầu thực tế

Ngoài ra, truyền thống, phong tục tập quán cũng như thói quen ăn uống của dân cư cũng ảnh hưởng tới ngành thủy sản

Trang 21

d Thị trường tiêu thụ

Thị trường có ý nghĩa điều tiết mạnh mẽ đối với các ngành kinh tế nói chung

và sự hình thành và phát triển của ngành thủy sản nói riêng Đặc biệt là sự mở rộng của thị trường đã đưa ngành thủy sản trở thành ngành sản xuất hàng hóa hiệu quả Dân số càng đông thì nhu cầu ngày càng tăng lên kéo theo đó là các nhu cầu

về các mặt hàng thủy sản cũng tăng lên đáng kể, không chỉ thế chất lượng cuộc sống của người dân cũng ảnh hưởng đến sản xuất thủy sản và sự biến động thị trường cũng ảnh hưởng đến hoạt động của ngành Hiện nay ngành thủy sản nước ta không chỉ mở rộng thị trường trong nước mà còn xâm nhập vào thị trường thế giới như: EU, Nhật Bản, Mỹ… đây sẽ là môi trường thuận lợi cho ngành thủy sản trong nước phát triển toàn diện

1.2 Hiện trạng phát triển ngành thủy sản tỉnh Quảng Ngãi

1.2.1 Hiện trạng khai thác thủy sản

- Quảng Ngãi là tỉnh ven biển Việt Nam, có cơ cấu nghề đa dạng nhưng chủ yếu vẫn tập trung ở các nghề: lưới kéo, lưới vây, lưới rê, nghề câu, nghề lặn, nghề pha xúc…

- Tổng số tàu thuyền khai thác của tỉnh năm 2016 là 4399 chiếc với tổng công suất 538,432 mã lực (cv), tốc độ tăng trưởng trung bình là 26%/năm Bình quân công suất tàu thuyền máy đạt 95.8 cv/chiếc

Trang 22

- Thời kỳ 2013 - 2016, sản lượng khai thác thủy sản tăng khá nhanh do được đầu tư đóng mới, cải hoán, tăng công suất tàu thuyền và thay đổi cơ cấu nghề nghiệp phù hợp cũng như cơ sở vật chất, dịch vụ hậu cần phục vụ cho khai thác được xây dựng thêm

Hình 1.1: Biểu đồ biến động số lượng tàu thuyền tỉnh Quảng Ngãi

từ năm 2013 đến 2016

Triển khai thực hiện nghị định số 59/2005/NĐ-CP, thông tư 02/2006/TT-BTS, Quyết định số 375/QĐ-TTg ngày 01/3/2013 của thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt đề án tổ chức lại sản xuất trong khai thác thủy sản, giai đoạn 2013 đến 2016

cơ cấu đội tàu thuyền của tỉnh có chuyển biến tích cực, số lượng tàu thuyền của tỉnh ngày càng tăng nhanh về số lượng, kích thước và công suất máy, nhóm tàu có công suất lớn (từ 90cv trở lên) phát triển nhanh từ 60.5% vào năm năm 2013 (2546/4205 chiếc) lên 72.1% vào cuối năm 2016 (3170/4399 chiếc) trong tổng số tàu thuyền của tỉnh (từ 20CV trở lên), qua đó phản ánh sự chuyển dịch đúng hướng

về cơ cấu tàu thuyền khai thác

Năm 2015, sản lượng khai thác thủy hải sản của tỉnh đạt 167,735 tấn, Đức Phổ

là huyện có sản lượng khai thác thủy sản cao nhất toàn tỉnh, sau đó là Bình Sơn và

Lý Sơn, thấp nhất là huyện Tây Trà

Trang 23

Bảng 1.2: Sản lượng khai thác thủy hải sản phân theo huyện

Huyện Mộ Đức 4,597 4,238 2,274 3,767 4,395 Huyện Đức Phổ 41,033 45,149 49,136 51,564 53,604

Huyện Lý Sơn 12,863 14,185 14,339 15,950 20,193

(Nguồn: Chi cục thống kê Tỉnh Quảng Ngãi)

Trong thành phần sản lượng khai thác thủy sản của tỉnh kể cả hải sản lẫn thủy sản nước ngọt, lợ thì cá luôn chiếm tỷ lệ cao nhất trên 76.5%, tiếp đến là các loài hải sản khác như mực, giáp xác…

1.2.2 Hiện trạng nuôi trồng thủy sản

- Trong những năm qua, diện tích nuôi trồng thủy sản tỉnh Quảng Ngãi có chiều hướng tăng nhanh nhưng tốc độ tăng trưởng không cao

Diện tích nuôi trồng thủy sản 6 tháng đầu năm 2016 đạt 1,314 ha, giảm 2% với cùng kỳ năm 2015, trong đó: diện tích nuôi thủy sản nước lợ đạt 426.2 ha, giảm 11.6% (tôm nuôi 380 ha, giảm 14%, thủy sản khác 46,7 ha, tăng 17%) Diện tích nuôi thủy sản nước ngọt đạt 888 ha, tăng 3%

Trang 24

Sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 3,103 tấn, tăng 2.7% so với cùng kỳ năm 2015, trong đó, thủy sản nước lợ đạt 2,281 tấn, tăng 4% (tôm nuôi đạt 1,972 tấn, giảm 1.7%, thủy sản khác đạt 309 tấn, tăng 67%); thuỷ sản nước ngọt đạt 578 tấn, giảm 30.4%; Nuôi thủy sản biển tiếp tục phát triển khá với các đối tượng nuôi như: tôm hùm, cá bớp, cá mú, ước tính sản lượng thủy sản nuôi biển các loại đạt

244 tấn, tăng 126.7% so với cùng kỳ năm 2015

+ Đối với nước lợ, mặn: chủ yếu là nuôi tôm, chiếm tỉ trọng lớn nhất trong nghề thủy sản nói chung, mang lại hiệu quả kinh tế khá cao, góp phần quan trọng trong việc xóa đói giảm nghèo, chuyển dịch cơ cấu kinh tế thủy sản ở vùng nông thôn ven biển

Nuôi trên đất cát: Quảng Ngãi được coi là một trong những địa phương đi đầu nuôi tôm trên cát từ năm 2000, năm 2016 có 420 ha diện tích nuôi thủy sản

Nuôi trên bãi triều ven sông: diện tích nuôi trồng ngày càng tăng từ 558 ha năm 2010 lên 890 ha năm 2016

Nuôi tôm có xu hướng giảm dần do một số diện tích bị mất đi do sự phát triển của khu kinh tế Dung Quất, một số diện tích chuyển sang làm muối và hơn 100 ha

hồ bị ô nhiễm thường xuyên xảy ra dịch bệnh, bị thua lỗ và giá thức ăn tăng cao Nuôi hải sản khác: chủ yếu là cá chẽm và cua xanh với diện tích nuôi năm

2016 khoảng 30 ha

+ Đối với nuôi nước ngọt: diện tích khoảng 3,820 ha, nuôi ở hồ chứa theo hình thức quảng canh và thu hoạch theo hình thức quảng canh và thu hoạch theo hình thức “đánh tỉa, thả bù” Thủy sản nước ngọt chủ yếu được nuôi với quy mô nhỏ lẻ, không tập trung, chủ yếu được nuôi ở các hộ gia đình để cải thiện bữa ăn và cung cấp nguồn thực phẩm cho địa phương, do đó hiệu quả kinh tế không cao Đối tượng nuôi chủ yếu là cá lóc, cá trắm cỏ, cá mè, cá chép, cá trôi, cá rô phi, cá bống tượng, baba và cá chình

- Về năng suất: Quảng Ngãi có năng suất thủy sản ngày càng tăng, tốc độ tăng trưởng đối với tôm chân trắng nuôi vùng triều ven sông, đầm phá tăng 3.3%/năm và vùng cát 10.24%/năm

Trang 25

Bảng 1.3: Năng suất nuôi trồng thủy sản Quảng Ngãi năm 2016

Đơn vị: tấn/ha/năm

Tôm chân trắng Tôm sú

Trên cát Vùng triều Thủy sản nước ngọt

(Nguồn: “Sở NN & PTNT Quảng Ngãi)

Trong năm 2016 phần lớn các hộ nuôi chấp hành tương đối tốt lịch thời vụ so với những năm trước, chỉ có 11,7 ha (43 hộ) thả nuôi trước lịch thời vụ (Đức Phổ 4.9 ha, Mộ Đức 5.5 ha, Tp Quảng Ngãi 0.1 ha, Bình Sơn 1.5 ha) chiếm 9.2% diện tích thả nuôi tại thời điểm kiểm tra Tuy nhiên, do môi trường vùng nuôi những năm qua bị ô nhiễm chưa được xử lý triệt để, mầm bệnh vẫn còn tiềm ẩn, ý thức bảo vệ môi trường vùng nuôi của người dân vẫn chưa được cải thiện, chất lượng con giống chưa được kiểm soát tốt nên tình hình bệnh trên tôm nuôi vẫn xảy ra và lây lan phức tạp, trong 6 tháng đầu năm toàn tỉnh có 57 ha tôm nuôi bị bệnh, chiếm và xuất hiện

ở 11 xã, 4 huyện, thành phố (Bình Sơn 8 ha, Mộ Đức 2.5 ha, Đức Phổ 40 ha, Tp Quảng Ngãi 6.5 ha) với các loại bệnh chính là hoại tử gan tụy cấp tính, đốm trắng, phân trắng và bệnh do môi trường

1.3 Khái quát các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Đức Phổ

Đức Phổ là một huyện đồng bằng, nằm về phía Đông Nam tỉnh Quảng Ngãi, nằm trên tuyến đường quốc lộ 1A, đướng sắt thống nhất Bắc - Nam và đường Hồ Chí Minh

Về tọa độ: Đức Phổ nằm ở vị trí 14081’B và 108096’Đ

Phía Đông giáp Biển Đông, phía Bắc giáp huyện Mộ Đức, phía Tây Bắc giáp huyện Nghĩa Hành, phía Tây giáp huyện Ba Tơ, phía Nam giáp huyện Hoài Nhơn tỉnh Bình Định

Tính đến tháng 6 năm 2015, huyện Đức Phổ có 37,276 ha diện tích tự nhiên và 146,183 nhân khẩu với 15 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm: Thị trấn Đức Phổ, Phổ Hòa, Phổ Minh, Phổ Vinh, Phổ Ninh, Phổ Quang, Phổ Văn, Phổ Châu, Phổ Thạnh, Phổ Khánh, Phổ Cường, Phổ Nhơn, Phổ Phong, Phổ Thuận, Phổ An

Trang 26

Theo thống kê, Đức Phổ có 06 đơn vị hành chính phân bố dọc biển, bao gồm: Phổ An, Phổ Quang, Phổ Vinh, Phổ Khánh, Phổ Thạnh, Phổ Châu với tổng diện tích tự nhiên là 150.05 km2

Qua đó thấy được vị trí của huyện Đức Phổ là vị trí thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế, mở rộng quan hệ với các xã cũng như tỉnh khác Đây là điều kiện quan trọng cho việc phát triển kinh tế - xã hội nói chung và thủy sản huyện Đức Phổ nói riêng

Trang 27

Vị trí huyện Đức Phổ trong tỉnh Quảng Ngãi

Trang 28

1.3.1 Điều kiện tự nhiên

a Địa hình

Huyện Đức Phổ có địa hình phức tạp, đa dạng, bị chia cắt mạnh, núi và đồng bằng xen kẽ, một số nhánh núi của dãy Trường Sơn chạy ra tận bờ biển Có 3 dạng địa hình:

- Vùng bắc và nam sông Trà Câu có địa hình tương đối bằng phẳng, là vùng trọng điểm sản xuất lúa

- Vùng nam sông Trà Câu đến núi Dâu có núi và đồng bằng xen kẽ, có nhiều sông, suối, địa hình phức tạp, chia cắt mạnh, độ dốc giảm từ tây sang đông, thường

bị ngập úng vào mùa mưa

- Vùng nam núi Dâu đến đèo Bình Đê chủ yếu là đồi núi và có một số dãy núi chạy ra suốt bờ biển, có một đồng bằng nhỏ hẹp nằm cạnh các suối và xen kẽ với núi

Về đồi núi: trên địa bàn Đức Phổ rải rác các đồi núi như núi Dâu, núi Cửa, núi Giàng, núi Bé, núi Diêm, núi Khỉ, núi Giàng Thượng, núi Giàng Hạ, núi Chà Phun, núi Làng…

Trên địa phận các xã Phổ Phong, Phổ Thuận, Phổ Văn, Phổ An, Phổ Quang có đồng bằng tương đối rộng, là vùng trọng điểm sản xuất lúa của Đức Phổ Vùng đất nam sông Trà Câu và từ núi Dâu đến đèo Bình Đê chỉ có đồng bằng nhỏ hẹp, bị chia cắt, không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp

Đức Phổ có bờ biển dài trên 40 km, có 2 cửa biển Mỹ Á và Sa Huỳnh Ở dọc ven biển phía đông nam Đức Phổ có hai đầm lớn là đầm Lâm Bình và đầm An Khê

1 năm sau

Trang 29

c Thủy văn

Lớn nhất là sông Trà Câu, số còn lại là sông suối nhỏ bắt nguồn từ huyện Ba

Tơ chảy về với đặc điểm chung là diện tích lưu vực hẹp, sông nhỏ, lòng dốc

d Tài nguyên khác

- Tài nguyên đất: theo số liệu thống kê, hiện nay toàn huyện có 12,261.3 ha diện tích đất nông nghiệp, chiếm 33% diện tích tự nhiên Trong đó: diện tích đất trồng lúa có 5,752.9 ha (chiếm 46.9%), đất trồng hoa màu và cây công nghiệp hằng năm có 3,508.4 ha (chiếm 28.6%), đất trồng rau đậu có 2,197 ha (chiếm 17.9%), đất trồng các loại cây lâu năm có 711.9 ha (chiếm 5.8%), đất có mặt nước dùng trong nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản có 950 ha (chiếm 10.8%), trong đó chuyên nuôi trồng thủy sản có 120 ha

Đất lâm nghiệp toàn huyện có 6,853.9 ha, chiếm 18% diện tích đất tự nhiên Trong đó, đất rừng tự nhiên có 1,977.8 ha (chiếm 28.8%), đất rừng trồng có 4,876.1

ha (chiếm 71.2%)

Đất cát ven biển toàn huyện có 538 ha, chiếm 1% diện tích đất tự nhiên

- Tài nguyên khoáng sản: Đức Phổ có các loại đá chẻ, đất sét, mỏ đá Granit, sa khoáng, cao lanh là những nguồn nguyên liệu quý để phát triển ngành nghề, tạo điều kiện phát triển kinh tế

1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

1.3.2.1 Điều kiện kinh tế

a Các ngành kinh tế

Đức Phổ xuất phát từ kinh tế nông ngư lạc hậu, song có điều kiện để phát triển khá toàn diện Tốc độ tăng trưởng kinh tế khá nhanh, nhưng nông, lâm, ngư nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng khá cao Các ngành kinh tế cơ bản như công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ ngày càng phát triển, nhưng vẫn chưa chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế Đức Phổ dịch chuyển theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng, thương mại - dịch vụ, giảm tỷ trọng nông - ngư - lâm nghiệp Tỷ trọng ngành nông - lâm - ngư năm 2015 đạt 39.6% Ngành công nghiệp - xây dựng năm

2015 đạt 49.5%

Trang 30

Năm 2015 Tổng giá trị sản xuất toàn huyện đạt 7,356.9 tỷ đồng, tăng trưởng 18.7% Trong đó:

+ Nông lâm thủy sản đạt 803.4 tỷ đồng (chiếm 10.9%)

+ Công nghiệp xây dựng đạt 3,638.5 tỷ đồng (chiếm 49.5%)

+ Thương mại dịch vụ đạt 2,915 tỷ đồng (chiếm 39.6%)

Thu nhập bình quân đầu người năm 2015 ước đạt 50 triệu đồng/người

- Nông nghiệp: Năm 2015, sản lượng lương thực có hạt của Đức Phổ đạt 60,506 tấn, trong đó: thóc đạt 58,770 tấn; ngô đạt 1,736 tấn Bình quân lương thực đầu người đạt 409 kg/người/năm

Bảng 1.4 Tình hình một số cây trồng chủ yếu của huyện Đức Phổ năm 2015 Loại cây Lúa Ngô Sắn Mía Lạc Đậu Rau Diện tích (Ha) 10,221 327 1,300 827 370 25 677

Năng suất (Tạ/ha) 57.5 53.1 170 461.4 17.7 12.6 185.1

Sản lượng (Tấn) 58,770 1,736 22,100 38,158 656 32 12,540 Trong chăn nuôi, năm 2015 Đức Phổ có đàn trâu 1,270 con, đàn bò 30,370 con, lợn 16,745 con Trâu nuôi nhiều nhất ở xã Phổ Cường (635 con), các xã Phổ Văn, Phổ Thuận, Phổ Phong (đều trên 100 con); bò nuôi nhiều ở các xã Phổ Khánh (3,578 con), Phổ Phong (2,850 con), Phổ Thuận (2,765 con); lợn nuôi nhiều nhất ở các xã Phổ Ninh (6,700 con), Phổ Văn (6,530 con), Phổ Khánh (6,460 con), Phổ Thạnh (5,570 con)

- Lâm nghiệp: tổng diện tích rừng hiện có 16,734 ha, lâm nghiệp được chú trọng và ngày càng phát triển tốc độ trồng rừng, như phủ xanh đất trống đồi núi trọc được đẩy mạnh, đặc biệt là rừng phòng hộ ven biển và các dự án trồng rừng đã và đang được triển khai có kế hoạch Năm 2015, diện tích rừng tự nhiên là 1,346 ha Diện tích rừng trồng mới là 15,388 ha Dự án trồng rừng KFW6 được triển khai Quản lý bảo vệ 560 ha, khoanh nuôi tái sinh rừng 900 ha và trồng mới rừng tập trung 600 ha Sản lượng gỗ rừng trồng khai thác cả năm là 36,800 m3, độ che phủ rừng là 21%

Trang 31

- Ngư nghiệp: Năm 2015, Đức Phổ có tổng sản lượng thủy sản đạt 57,139 tấn Sản lượng khai thác đạt 53,604 tấn, trong đó xã Phổ Thạnh và Phổ Quang là 2 xã có sản lượng cao nhất Ngành nuôi trồng thủy sản ở Đức Phổ cũng nổi trội trong toàn tỉnh Quảng Ngãi, sản lượng nuôi trồng đạt 3,537 tấn, việc nuôi cá lồng ở các hồ, đầm ở các xã có hiệu quả Các xã nuôi thủy sản mạnh nhất là Phổ Quang (diện tích

60 2ha tôm, sản lượng 489.4 tấn), Phổ Khánh 91.7 ha (có 31.7 ha tôm, sản lượng 280.7 tấn), Phổ Vinh, Phổ An, Phổ Minh, Phổ Hòa, Phổ Thạnh Thủy sản là một ngành kinh tế mũi nhọn của Đức Phổ Đức Phổ luôn đứng đầu về sản lượng thủy sản so với các huyện khác, có số tàu thuyền cao nhất

- Diêm nghiệp: Sa Huỳnh là nơi sản xuất muối lớn nhất ở Quảng Ngãi Hiện nay, Đức Phổ có 116 ha ruộng muối, có khả năng sản xuất từ 9 - 15 nghìn tấn/năm Năm 2015, đạt 9,500 tấn

- Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp: Đức Phổ có nhiều cụm công nghiệp, làng nghề, như làng muối Sa Huỳnh, khu công nghiệp Phổ Phong, cụm công nghiệp

Sa Huỳnh, cụm công nghiệp Đồng Làng Nghề thủ công cổ truyền đã có từ xưa ở Đức Phổ như: nghề dệt ở Thạch Bi (Sa Huỳnh); nghề gốm ở Thanh Hiếu, Chỉ Trung; nghề mộc, nghề đan võng ở Hội An, Mỹ Thuận; nghề bạc bịt tháp, chén khay đĩa ở Chỉ Trung Ở vùng biển có các nghề: làm cá khô, tôm khô, mực khô, nước mắm, đan lưới, đánh nhợ ở Sa Huỳnh Ngoài ra còn có các nghề như: nghề nấu đường thủ công, nghề làm bún, làm bánh tráng Ngày nay có nhiều nghề công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp như: sản xuất vật liệu xây dựng, gạch ngói, đá chẻ, đá hoa, đóng và sửa chữa tàu thuyền Tiểu thủ công nghiệp phát triển các làng nghề: làm chổi đót ở Phổ Phong, Phổ Thuận, Phổ Văn; làm gốm ở Phổ Khánh Ở xã Phổ Phong đã hình thành khu công nghiệp: có nhà máy đường có công suất trên 1,000 tấn/ngày, nhà máy gạch ngói sản xuất 14 triệu viên/năm

b Cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật

- Hệ thống giao thông: Đức Phổ có đường Quốc lộ 1 chạy qua dọc theo chiều dài của huyện; có Quốc lộ 24 nối từ Quốc lộ 1 lên tỉnh Kon Tum chạy qua huyện ở khu vực xã Phổ Phong; có đường sắt Bắc - Nam song song với Quốc lộ 1 Xưa kia,

Trang 32

các phương tiện giao thông đường thủy có sông Trà Câu thông thương miền xuôi với miền ngược, tuy nhiên hiện nay vì lòng sông cạn nên khá hạn chế Có hai cửa biển Mỹ Á và Sa Huỳnh là đấu mối giao thông đường thủy quan trọng, đồng thời là

tụ điểm của nghề cá

Hiện nay, Đức Phổ đang thực hiện bêtông hóa giao thông nông thôn Năm

2004, cơ bản hoàn thành thi công 18 tuyến đường ở các xã với tổng chiều dài 17.9 km Đường huyện đã nhựa cứng được 51.6 km, đường xã được nhựa cứng hóa 33.06 km Về kiên cố hóa kênh mương, năm 2004 xây dựng 6 tuyến kênh với chiều dài 6,231 km, góp phần phục vụ cho việc phát triển sản xuất của nhân dân trong huyện

- Thông tin liên lạc: cùng với tốc độ phát triển khoa học công nghệ toàn cầu, ngành thông tin liên lạc đã phát triển nhanh chóng với kỹ thuật công nghệ tiên tiến, hiện đại Hiện nay bưu điện huyện có 1 bưu cục trung tâm, 2 bưu cục cấp III,

có 12 điểm bưu điện văn hóa xã, 3 đại lý đa dịch vụ và hơn 70 đại lý điện thoại được phân bố tại các vùng nông thôn Tính đến năm 2014, số máy điện thoại cố định trên mạng đã có 10,296 máy, số máy điện thoại di động 1,230 máy Tổng doanh thu của Bưu cục Đức Phổ là 2,150 triệu đồng (phần lớn là thu từ dịch vụ điện chính) Các dịch vụ bưu chính viễn thông đa dạng và tiện ích của mạng internet đã đáp ứng ngày càng cao nhu cầu sử dụng của cán bộ và nhân dân địa phương, góp phần quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí và thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước

1.3.2.2 Điều kiện xã hội

a Dân cư

Địa bàn huyện Đức Phổ từng có lớp cư dân cổ là chủ nhân của nền Văn hóa Sa Huỳnh Lớp cư dân này sống ở ven biển bằng nghề chài lưới và một số ít làm ruộng Tiếp theo cư dân Văn hóa Sa Huỳnh, huyện Đức Phổ còn có cư dân Chămpa

Huyện Đức Phổ có dân số, mật độ dân số trung bình so với các huyện đồng bằng của tỉnh Quảng Ngãi, cụ thể:

Ngày đăng: 13/05/2021, 16:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w