1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thực trạng hệ sinh thái rừng ngập mặn tại xã tam hải, huyện núi thành, tỉnh quảng nam và đề xuất các giải pháp phát triển du lịch bền vững

95 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 3,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐOÀN THỊ THẢO NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG HỆ SINH THÁI RỪNG NGẬP MẶN TẠI XÃ TAM HẢI, HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

ĐOÀN THỊ THẢO

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG HỆ SINH THÁI RỪNG NGẬP MẶN TẠI XÃ TAM HẢI, HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP

PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

ĐÀ NẴNG, NĂM 2017

Trang 2

ĐOÀN THỊ THẢO

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG HỆ SINH THÁI RỪNG NGẬP MẶN TẠI XÃ TAM HẢI, HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP

PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG

Chuyên ngành : Sinh thái học

Mã số : 60.42.01.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS CHU MẠNH TRINH

ĐÀ NẴNG, NĂM 2017

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa

có ai nghiên cứu

Tác giả

Đoàn Thị Thảo

Trang 4

Nhằm thực hiện đề tài theo chương trình đào tạo cao học ngành Sinh thái học, được sự đồng ý của nhà trường và thầy giáo hướng dẫn, bản thân tôi đã thực hiện đề

tài “Nghiên cứu thực trạng hệ sinh thái rừng ngập mặn tại xã Tam Hải, huyện

Núi Thành, tỉnh Quảng Nam và đề xuất các giải pháp phát triển du lịch bền vững”

Bên cạnh cố gắng nỗ lực của chính bản thân mình, đề tài còn được sự giúp đỡ tận tình của người dân sống ở xã Tam Hải, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam, đặc biệt là sự giúp đỡ tận tình của Tiến sĩ Chu Mạnh Trinh, hiện đang công tác tại Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm - người trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ, chia sẻ của các anh chị đồng nghiệp, của các

cơ quan, chính quyền địa phương và sự ủng hộ về mặt tinh thần của gia đình để tôi hoàn thành đề tài

Do thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế nên trong quá trình thực hiện đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót, kính mong quý thầy cô giáo, các cơ quan, bạn

bè đồng nghiệp đóng góp thêm ý kiến để bản thân tôi có thể hoàn thiện hơn trong nghiên cứu khoa học và có nhiều kinh nghiệm hơn trên con đường tiếp theo

Xin chân thành cám ơn!

Đà Nẵng, tháng 05 năm 2017

Đoàn Thị Thảo

Trang 5

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Bố cục đề tài 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 HỆ SINH THÁI RỪNG NGẬP MẶN 4

1.1.1 Sự phân bố của rừng ngập mặn trên thế giới và ở Việt Nam 4

1.1.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự phân bố rừng ngập mặn 5

1.1.3 Vai trò của rừng ngập mặn 6

1.1.4 Tình hình khai thác rừng ngập mặn trên thế giới và ở Việt Nam 8

1.2 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI XÃ TAM HẢI, HUYỆN NÚI THÀNH 12

1.2.1 Đặc điểm tự nhiên xã Tam Hải, huyện Núi Thành 12

1.2.2 Đặc điểm phát triển kinh tế xã hội của xã Tam Hải 18

1.3 DU LỊCH BỀN VỮNG 19

1.3.1 Phát triển bền vững (PTBV) 19

1.3.2 Khái quát lịch sử phát triển du lịch bền vững trên thế giới và ở Việt Nam 20

1.3.3 Nghiên cứu lý luận và thực tiễn phát triển du lịch bền vững trên thế giới và ở Việt Nam 21

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 23

2.2 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 23

2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 23

2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

2.4.1 Cách tiếp cận 23

2.4.2 Các phương pháp nghiên cứu 23

Trang 6

TAM HẢI 30

3.1.1 Thành phần loài thực vật rừng ngập mặn tại các ô tiêu chuẩn 31

3.1.2 Một số đặc trưng về cấu trúc rừng ngập mặn Tam Hải 33

3.2 TÌNH HÌNH KHAI THÁC, SỬ DỤNG HỆ SINH THÁI RỪNG NGẬP MẶN TẠI XÃ TAM HẢI 37

3.2.1 Yếu tố tác động đến rừng ngập mặn Tam Hải 37

3.2.2 Thực trạng kinh tế - xã hội tại xã Tam Hải liên quan đến rừng ngập mặn 41

3.3 CÁC GIẢI PHÁP BẢO TỒN, PHỤC HỒI RỪNG NGẬP MẶN VÀ CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG 44

3.3.1 Giải pháp bảo tồn, phục hồi rừng ngập mặn 44

3.3.2 Các giải pháp phát triển du lịch bền vững 59

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 64 TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (Bản sao)

PHỤ LỤC

Trang 7

NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Trang 8

Số hiệu

3.3 Tần số gặp các loài cây ngập mặn thân gỗ tại các ô tiêu chuẩn 36

3.7 Các đề nghị sinh kế cho người dân đang khai thác trực tiếp từ

Trang 9

Số hiệu

3.1 Rừng ngập mặn Tam Hải xen kẽ trong ao nuôi thủy sản ở thôn Bốn 30

3.11 Biểu đồ nhận thức của người dân về rừng ngập mặn ở Tam Hải 40 3.12 Biểu diễn tỷ lệ các nhóm hoạt động kinh tế - xã hội tại xã Tam Hải 41

3.17 Tỷ lệ các giải pháp phát triển du lịch bền vững tại xã Tam Hải 59

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đa dạng sinh học (ĐDSH) nói chung và các hệ sinh thái (HST) nói riêng là cơ

sở quan trọng đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của các quốc gia Tuy nhiên trong những năm gần đây, trước sự tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu (BĐKH)

và nước biển dâng, rừng ngập mặn đã và đang ngày càng bị ảnh hưởng nghiêm trọng.[ 9] Việt Nam là nước được dự báo sẽ phải chịu ảnh hưởng nặng nề của BĐKH thì vấn đề bảo vệ ĐDSH cần được quan tâm hơn nữa Muốn bảo vệ ĐDSH thì trước hết cần phải bảo vệ HST vì càng nhiều lưới thức ăn thì độ đa dạng của HST càng cao

Hiện nay, nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hoá, thời kỳ đang đẩy mạnh phát triển nền kinh tế, đặc biệt là phát triển nhanh khu vực nông thôn (Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần VIII -1996) Để làm được điều này đòi hỏi chúng ta phải có một chiến lược phát triển đúng đắn, kết hợp với việc khai thác và sử dụng các dạng tài nguyên có hiệu quả, trong đó có diện tích mặt đất Việt Nam nói chung và Quảng Nam nói riêng có nhiều danh lam thắng cảnh, HST đa dạng, tạo điều kiện cho phát triển du lịch Tuy nhiên những lợi thế to lớn đó cùng với lượng khách đến tham quan và lưu trú thuộc loại cao nhất nhì trong các tỉnh miền Trung vẫn không giúp cho ngành du lịch phát triển [18]

Vậy đâu là lời giải cho bài toán vừa phát triển du lịch, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân bản địa, lại vừa bảo tồn, phục hồi, phát triển được HST rừng ngập mặn tại khu vực đó Chúng tôi đã chọn xã Tam Hải, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam làm khu vực nghiên cứu để giải đáp bài toán trên

Nghiên cứu về HST rừng ngập mặn tại Tam Hải không phải là đề tài mới, đã

có nhiều nghiên cứu của tập thể và cá nhân về HST này, nhưng kết hợp giữa bảo tồn, phát triển HST rừng ngập mặn và phát triển du lịch bền vững (DLBV) là vấn đề chưa được tìm hiểu

Tam Hải nằm ở trục giữa nối giữa ba điểm du lịch đang rất phát triển là Hội

Trang 11

An, Cù Lao Chàm và đảo Lý Sơn, với HST được đặc trưng bởi quần xã thực vật rừng ngập mặn Trong tương lai, khi giao thông đường thủy nối liền Cù Lao Chàm -

Lý Sơn thì chắc chắn lượng khách du lịch đến Tam Hải sẽ rất đông [18] Vì thế cần nghiên cứu để tìm ra giải pháp bảo vệ HST rừng ngập mặn tại xã Tam Hải, đồng thời góp phần phát triển du lịch bền vững tại địa phương

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài

“Nghiên cứu thực trạng hệ sinh thái rừng ngập mặn tại xã Tam Hải, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam và đề xuất các giải pháp phát triển du lịch bền vững”

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Đánh giá được thực trạng cũng như các yếu tố tác động đến rừng ngập mặn tại

xã Tam Hải, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam

Đề xuất các giải pháp phát triển du lịch bền vững tại xã Tam Hải, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam góp phần bảo vệ đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường sinh thái trong bối cảnh biến đổi khí hậu cũng như các tác động nhân sinh đến rừng ngập mặn

3 Bố cục đề tài

Đề tài gồm các phần sau:

- Mở đầu

- Chương 1: Tổng quan

Trang 12

- Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

- Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

- Kết luận và kiến nghị

- Tài liệu tham khảo

Trang 13

1.1.1 Sự phân bố của rừng ngập mặn trên thế giới và ở Việt Nam

a Sự phân bố của rừng ngập mặn trên thế giới

Theo ông Achim Steiner, hiện có khoảng 150.000km2 RNM được tìm thấy tại

123 nước trên thế giới.[ 34] Khu vực tập trung RNM lớn nhất trên thế giới là Indonesia chiếm 21%, Brazil có khoảng 9% và Úc là 7%

Dựa vào việc tính toán trên bản đồ bằng công nghệ viễn thám (Spalding và cộng sự, lại thống kê thấy diện tích RNM các vùng trên thế giới là 181.077 km2 và được phân bố theo các vùng tại bảng 1.1 [34]

Bảng 1.1 Diện tích rừng ngập mặn trên thế giới

Trang 14

b Sự phân bố của rừng ngập mặn ở Việt Nam

Nước ta có bờ biển kéo dài 3620 km với khí hậu nhiệt đới gió mùa đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự sinh trưởng, phát triển của CNM Hầu hết các loài CNM phân

bố chủ yếu ở vùng ven biển và ở từng khu vực có những điểm đặc trưng riêng về địa hình, địa mạo nên có sự sai khác nhau về số lượng, thành phần loài CNM

Theo kết quả nghiên cứu (Paul Maurand, 1943; Rollet, 1962; Viện điều tra Quy hoạch rừng, 1982, 1999) về diện tích ĐNM và diện tích RNM được thể hiện ở bảng 1.2:

Bảng 1.2 Diện tích đất ngập mặn và rừng ngập mặn ở Việt Nam

Phân bố các tỉnh Diện tích đất

ngập mặn (ha)

Tỷ lệ (%)

Diện tích rừng ngập mặn (ha)

Tỷ lệ (%) Ven biển Bắc Bộ 122.335 ha 22,60 43.881 33,94

Ven biển Trung Bộ 44.042 ha 8,20 3000 2,32

Ven biển Nam Bộ 373.306 ha 69,20 82.387 63,74

(Nguồn: Paul Maurand, 1943; Rollet, 1962; Viện điều tra Quy hoạch rừng, 1982, 1999)

1.1.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự phân bố rừng ngập mặn

Sự sinh trưởng và phát triển của RMN đều chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố

tự nhiên, nhưng ở một khu vực nào đó thì RNM có thể chịu sự tác động của nhiều nhân tố hoặc có thể chịu ảnh hưởng của một vài nhân tố như nhiệt độ, lượng mưa, chế độ thủy triều… Những nhân tố này có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến

sự phân bố RNM Bên cạnh đó RNM chịu sự ảnh hưởng bởi các môi trường đó là môi trường không khí, môi trường nước và môi trường đất

Nhìn chung, RNM chịu sự chi phối của nhiều nhân tố, vì vậy để hiểu rõ sự phân bố RNM chúng ta cần quan tâm đến những nhân tố ảnh hưởng sau: nhiệt độ không khí, lượng mưa, chế độ gió, ánh sáng, mây, chế độ thủy văn, thể nền, địa hình và nhân tố sinh học Trong đó nhân tố sinh học tác động đến RNM rất lớn Thành phần sinh học trong các bãi lầy cửa sông, ven biển đã góp phần đáng kể trong việc hình thành và phân bố RNM

Nhờ những đặc điểm thích nghi với độ ngập triều sâu, nồng độ muối cao,

Trang 15

chống đỡ tốt với tác động của sóng gió, thủy triều nên các thực vật tiên phong như

cỏ biển, vài loài mắm, bần đã đóng vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện cho

đất ổn định để cho các quần xã CNM đến sau phát triển

Trong các nhân tố sinh thái thì khí hậu, thủy triều, độ mặn và đất đóng vai trò quyết định đến sự sinh trưởng và phân bố của thảm thực vật RNM Các nhân

tố khác góp phần tích cực trong việc phát triển hay hạn chế của kiểu thảm thực vật này

1.1.3 Vai trò của rừng ngập mặn

a Vai trò của rừng ngập mặn đối với tự nhiên

RNM có những vai trò quan trọng đối với tự nhiên như sau:

Chống lại xói mòn, sạt lở:

Theo những nghiên cứu gần đây của các nhà khoa học trong các khu RNM cao, tốc độ của sóng giảm trên 100m khoảng 20% chiều cao của cột sóng (Mazda

và cộng sự, l997.) Một nghiên cứu khác RNM đã chứng minh rằng hình thức

“seawalls "(bức tường), rất hiệu quả so với đê biển bê tông và các cấu trúc vững chắc cho bảo vệ xói mòn bờ biển [36]

Làm đa dạng hóa nguồn sinh vật:

Không những RNM có vai trò rất quan trọng đối với con người mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường tự nhiên Bản thân CNM đã là một trong các dạng tài nguyên thiên nhiên có khả năng tái tạo, song kéo theo nó là sự quần tụ của bao loài sinh vật khác, từ các loài động vật không xương sống kích thước nhỏ đến những loài động vật có xương sống kích thước lớn, từ những loài sống trong nước đến những sinh vật sống trên cạn Điều đó nói lên rằng, RNM không chỉ là nơi cư trú mà còn là nơi cung cấp dinh dưỡng, hỗ trợ cho sự tồn tại và phát triển phong phú của các quần thể sinh vật cửa sông ven biển đồng thời còn là nơi “ương ấp” những

cơ thể non của các loài sinh vật biển, nơi duy trì đa dạng sinh học cho biển [36] Bên cạnh đó, RNM còn góp phần bảo tồn đa dạng sinh học cho biển ven bờ Sinh vật sống trong RNM không những có số lượng loài đông mà trong nội bộ mỗi loài có những biến dị phong phú để thích nghi với những nơi ở khác nhau, nguồn

Trang 16

sống khác nhau và điều kiện sống biến đổi muôn màu Bởi vậy mà RNM là nơi lưu trữ nguồn gen giàu có và giá trị không chỉ cho các HST trên cạn mà cho cả vùng biển ven bờ Riêng các RNM ở Châu Á bước đầu đã thống kê được 1918 loài sinh vật, trong đó vi khuẩn, tảo 100 loài, thực vật 200 loài, động vật không xương sống ở nước 491 loài, côn trùng và nhện 500 loài, động vật có xương sống 520 loài [13] Ngoài ra, RNM còn duy trì nguồn dinh dưỡng giàu có đảm bảo cho sự phát triển của sinh vật ngay trong RNM

Tính đa dạng về thành phần loài, nhất là đa dạng di truyền tạo cho sinh vật của RNM sống ổn định trong môi trường thường xuyên biến động của bãi lầy triều, đồng thời giúp cho chúng tham gia vào bậc dinh dưỡng khác nhau của hệ thống các mắt xích thức ăn, nhằm khai thác tối đa nguồn năng lượng vật chất dưới dạng sản phẩm sơ cấp được phức hợp của cây RNM tạo ra trong quá trình quang hợp

Một trong những chức năng quan trọng của RNM là giữ lại các trầm tích, và

do đó hoạt động trầm tích bị ngưng lại

Các trầm tích RNM có khả năng giữ lại các chất dinh dưỡng Điều này chứng tỏ hàm lượng nitơ và phốt pho được giữ lại trong đất nhờ hệ thống rễ, rễ cũng giúp đỡ trong việc tái chế nitơ, cacbon và lưu huỳnh và hạn chế dòng chảy của nước [31] RNM còn là nơi cư trú cho các loài động vật, nó có vai trò như là vườn ươm, nuôi, sinh sản cho nhiều loài cá Gần 80% sản lượng đánh bắt cá được trực tiếp hoặc gián tiếp phụ thuộc vào RNM và HST ven biển khác trên toàn thế giới [42]

b Vai trò của rừng ngập mặn đối với con người

RNM có vai trò to lớn đối với đời sống con người như:

Cung cấp sản phẩm lâm nghiệp to lớn.Công dụng của các loài thực vật rất đa dạng.Tỷ lệ các loài được sử dụng so với tổng số loài rất lớn Đã từ lâu các loài thực vật này cung cấp cho các vùng ven biển những nhu cầu cấp thiết hàng ngày như gỗ xây nhà, lá lợp nhà, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, chất đốt, thức ăn gia súc…

RNM có giá trị là nơi cung cấp nguồn lương thực và thực phẩm như tôm, cua,

ốc và các sản phẩm từ thực vật… Đại bộ phận những người dân thường sống tập trung ở các khu ven RNM nên đời sống của họ thường phụ thuộc rất nhiều vào

Trang 17

RNM Vì vậy RNM đóng vai trò rất to lớn đối với con người

Cây thân gỗ RNM được sử dụng làm vật liệu làm nhà ở cho người dân và làm củi đốt, nó còn đem lại lợi ích từ việc sử dụng RNM để nuôi trồng thủy sản nên đã mang lại giá trị kinh tế [32] Bên cạnh đó ta có thể thu nhập từ các nguồn khác như : nuôi ong lấy mật, bán cây giống, khai thác măng tre, khai thác gỗ cốp pha từ cây phi lao và số lượng lớn than củi

Trong những năm gần đây RNM là nguồn tài nguyên du lịch sinh thái hết sức quý giá, khách du lịch ngày càng có xu hướng tìm đến tham quan, nghiên cứu các khu RNM, thêm vào đó nguồn lợi ngành du lịch thu được từ HST này cũng tăng lên một cách đáng kể RNM thực sự đã trở thành đối tượng tiềm năng đối với hoạt động khai thác phát triển du lịch nói riêng và đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế -

xã hội nói chung

1.1.4 Tình hình khai thác rừng ngập mặn trên thế giới và ở Việt Nam

a Tình hình khai thác rừng ngập mặn trên thế giới

RNM đã và đang đối mặt với nhiều thách thức như diện tích RNM trên thế giới liên tục suy giảm [43] Trong 5 năm 1990 đến 1995, đã có 13,7 triệu ha rừng bị mất đi (FAO (1997) Rừng mất do các yếu tố thiên nhiên, tác động của con người (nuôi thuỷ sản, nông nghiệp, công nghiệp, du lịch, đô thị hoá…… )

b Tình hình khai thác rừng ngập mặn ở Việt Nam

Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển kéo dài, có điều kiện tự nhiên phù hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của các loài CNM.Tổng diện tích RNM của nước ta

là 400.000 ha [38] Tuy nhiên, trong những năm qua do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan đã tác động vào HST RNM làm cho diện tích RNM của nước ta

Trang 18

1.1.5 Tình hình nghiên cứu rừng ngập mặn trên thế giới và ở Việt Nam

a Tình hình nghiên cứu rừng ngập mặn trên thế giới

Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về RNM, Phan Nguyên Hồng

đã liệt kê hơn 420 công trình nghiên cứu của 12 quốc gia trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương từ năm 1600 đến 1975 [6,7]

Tài liệu đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống đầy đủ về vai trò của RNM

do Odum đưa ra đã phân tích vai trò to lớn của mùn bã phân hủy từ lá cây đước đỏ (Rhizophora mangle) trong chuỗi thức ăn vùng cửa sông ven biển Florida [35] Từ

đó RNM trở thành đối tượng được nhiều nhà khoa học quan tâm Nghiên cứu của Ball ở Florida (Mỹ) đã chỉ ra rằng “cấu trúc mùn bã hữu cơ phụ thuộc rất nhiều vào mắt xích thức ăn trong RNM RNM còn là nơi ươn nuôi ấu trùng cho nhiều loại cá, giáp xác và động vật thân mềm” [26] Ngoài ra, tác giả còn đưa ra được sơ đồ mối quan hệ giữa RNM với các thành phần sinh vật sống Nghiên cứu của Robertson và Blader (1992) đã nhận định “hệ sinh thái RNM có vai trò trong việc duy trì chất lượng môi trường và năng suất đánh bắt trong nghề cá thương mại và thủ công trên thế giới” [24,25,26]

Theo V.J Chapman (1975) có 7 yếu tố sinh thái cơ bản ảnh hưởng đến sự phát triển RNM là: nhiệt độ, thể nền đất bùn, sự bảo vệ, độ mặn, thủy triều, dòng chảy hải lưu, biển nông [25] Tổ chức UNESCO (1979) và FAO (1982) khi nghiên cứu

về rừng và đất RNM cho rằng: hệ sinh thái RNM khu vực này đã và đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi nhiều nguyên nhân khác nhau Trong đó, nguyên nhân chính là do việc khai thác tài nguyên rừng, đất RNM không hợp lý gây ra các biến đổi tiêu cực đối với môi trường đất và nước Các tổ chức này đã khuyến cáo các quốc gia có rừng và đất ngập mặn phải có những biện pháp hữu hiệu để khắc phục tình trạng này bằng các giải pháp như: xây dựng hệ thống chính sách, văn bản pháp luật về quản lý sử dụng đất, RNM và nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật trồng, khoanh nuôi bảo vệ rừng kết hợp với việc xây dựng các mô hình nông lâm ngư kết hợp [26,27,30]

Nhiều công trình công bố kết quả nghiên cứu liên quan đến hệ sinh thái RNM

Trang 19

[35,36] đã được tổng hợp, thống kê và đăng tải trong tuyển tập các báo cáo tại Hội thảo của các dự án thuộc khu vực Châu Á – Thái Bình Dương Trong đó, có một số công trình công bố có liên quan đến các lĩnh vực: cấu trúc quần xã và khu hệ động thực vật và các thảm thực vật phân bố trong vùng RNM, năng suất mạng lưới thức

ăn và dòng năng lượng, chu trình dinh dưỡng trong hệ sinh thái RNM, mối liên quan giữa RNM và các hệ sinh thái, các quần xã động vật đáy, quần xã biển khơi, quần xã sinh vật vùng triều và đề xuất phương hướng quản lý RNM ở các quốc gia Khu vực châu Á và Đông Nam Á là nơi có diện tích đất ngập nước lớn của thế giới Do mật độ dân cư cao, các cộng đồng dân cư nơi đây phụ thuộc rất nhiều vào tài nguyên đất ngập nước Vì thế, đất ngập nước của khu vực này đang phải đối mặt với tình trạng suy thoái nghiêm trọng và một số vùng đất ngập nước có nguy cơ bị xóa sổ Hiện nay, các nghiên cứu về đất ngập nước tại khu vực châu Á và Đông Nam Á chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực: xác định loại hình và sự phân bố của đất ngập nước, đa dạng sinh học của các vùng đất ngập nước, nghiên cứu mối đe dọa, những ảnh hưởng, tác động hiện nay và yêu cầu về bảo vệ đất ngập nước Hướng nghiên cứu này đã thu hút nhiều tổ chức quốc tế như Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN), chương trình môi trường của Liên hiệp quốc (UNEP), Quỹ động vật hoang dã thế giới (WWF), các tổ chức phi chính phủ (NGO) Trong đó quan trọng nhất là vai trò của IUCN vì đây là tổ chức trực tiếp hỗ trợ về tài chính và là cơ quan phối hợp kết nối các hoạt động với các tổ chức khác trong việc bảo vệ và nghiên cứu đất ngập nước trên thế giới [36]

b Tình hình nghiên cứu rừng ngập mặn ở Việt Nam

Theo Phan Nguyên Hồng [6,7,8,9,10,31,32,33], năm 1945 có 47 tài liệu liên quan đến thảm thực vật ngập mặn, điển hình như một số công trình: rừng ngập mặn mũi Cà Mau (C.Moquillon,1950), thảm thực vật bờ biển bùn cát ở bán đảo Cam Ranh (J.P.Barry, L.C.Kiệt, V.V.Cương, 1961)

Công trình nghiên cứu có hệ thống về RNM đầu tiên ở Việt Nam là của Vũ Văn Cương (1964) (ghi theo Phan Nguyên Hồng) [9,10,31,32] về các quần xã thực vật ở rừng Sát thuộc vùng Sài Gòn – Vũng Tàu Tác giả đã chia thực vật ở đây

Trang 20

thành hai nhóm: nhóm thực vật nước mặn và nhóm thực vật nước lợ

Lê Công Khanh (1986) (ghi theo Phan Nguyên Hồng [8,9,10,31] mô tả các đặc điểm sinh học để phân biệt các chi, các họ cây có trong RNM Tác giả đã xếp

57 loài CNM vào 4 nhóm dựa vào tính chất ngập nước và độ mặn của nước

Phùng Trung Ngân và Châu Quang Hiền (1987) đã đề cập đến 7 kiểu thảm thực vật ngập mặn ở Việt Nam: rừng mắm hoặc bần đơn thuần, rừng đước đơn thuần, rừng dừa nước, rừng hỗn hợp vùng triều bình thường, rừng vẹt – giá vùng đất cao, rừng chà là – ráng đại và trảng thoái hóa (ghi theo Phan Nguyên Hồng [8,9,10,31]

Phan Nguyên Hồng (1999) đã đề cập đến vấn đề phân bố, sinh thái, sinh lý, sinh khối RNM Việt Nam [9,10] Số loài CNM ở miền Bắc Việt Nam ít hơn và có kích thước cây bé hơn ở miền Nam vì có nhiệt độ thấp trong mùa đông

Theo Thái Văn Trừng, có 3 nhóm nhân tố sinh thái phát sinh RNM: thứ nhất là tính chất lý hóa của đất, thứ hai là cường độ và thời gian ngập của thủy triều, thứ ba

là độ mặn của nước [17]

Năm 1989, Việt Nam tham gia công ước Ramsar, trên cơ sở các văn bản công ước, các tài liệu khoa học trong nước và quốc tế về những vấn đề có liên quan đến đất ngập nước đã được tập hợp lại, xác định những nội dung “nghiên cứu về đất ngập nước” một cách chính thức ở Việt Nam” [4]

Năm 2003, Việt Nam cũng đã có những cố gắng trong công tác nghiên cứu, quản lý và bảo tồn đất ngập nước như: “Chương trình bảo tồn đất ngập nước quốc gia”, Nghị định 109/2003/NĐ-CP ngày 23 tháng 9 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước, Quyết định số 192/2003/QĐ-TTg ngày 17 tháng 9 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam đến năm 2010,

Năm 2005, Cục Bảo vệ môi trường đã báo cáo về nghiên cứu “tổng quan hiện trạng đất ngập nước Việt Nam sau 15 năm thực hiện công ước Ramsar” [3]

Năm 2006, Cục bảo vệ môi trường đã báo cáo về nghiên cứu “chương trình

Trang 21

bảo tồn đa dạng sinh học vùng đất ngập nước sông Mê Kông: hệ thống phân loại đất ngập nước” do tác giả Hoàng Văn Thắng, Lê Diên Dực thực hiện [3]

Những năm gần đây, các hoạt động nghiên cứu về đất ngập nước ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào các vấn đề: vai trò môi trường của các hệ sinh thái đất ngập nước ở Việt Nam đối với đa dạng sinh học trong bối cảnh biến đổi khí hậu (tổng cục môi trường, 2012) nhằm có những định hướng chiến lược về bảo tồn, sử dụng, quản

lý và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước trong tương lai

Nhìn chung, những nghiên cứu trên là định hướng cơ bản cho mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm tiến đến xây dựng các giải pháp phát triển du lịch bền vững tại khu vực nghiên cứu

1.2 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI XÃ TAM HẢI, HUYỆN NÚI THÀNH

1.2.1 Đặc điểm tự nhiên xã Tam Hải, huyện Núi Thành

a Vị trí địa lý

Tam Hải là một xã đảo được bao bọc bởi bốn bề sông nước, nằm về phía Đông của huyện Núi Thành, cách trung tâm hành chính huyện Núi Thành khoảng 12 km Tổng diện tích tự nhiên của xã là 1.560,7 ha với 7 thôn Trong đó có 5 thôn đất liền

và 2 thôn ốc đảo

Ranh giới xã đảo Tam Hải:

Phía Đông giáp biển Đông;

Phía Nam giáp sông Trường Giang;

Phía Tây giáp xã Tam Hòa;

Phía Bắc giáp biển Đông

Hiện nay tại địa phương chưa có bản đồ cụ thể về vị trí địa lý Vì vậy, để có cơ

sở cho việc xác định vị trí địa lý của xã Tam Hải thì chúng tôi lựa chọn công cụ bản

đồ trong phương pháp PRA, dựa trên việc hồi cứu số liệu tại phòng địa chính của

xã, và phỏng vấn lấy ý kiến của người dân trong vùng nên chúng tôi đã phác hoạ bản đồ này Công cụ bản đồ đó được thể hiện ở hình 1.1 như sau:

Trang 22

Hình 1.1a Bản đồ xã Tam Hải nhìn từ vệ tinh

Trang 23

Hình1.1b Bản đồ xã Tam Hải – Núi Thành – Quảng Nam

BẾN PHÀ

XÃ TAM GIANG

BIỂN ĐÔNG

Trường họcNhà cửa

Uỷ ban nhân dân Xã Tam HảiĐường xá

Ranh giới các thôn trong xã

Ranh giới các xã

Trạm y tế Xã Tam Hải

Trang 24

a Địa hình

Xung quanh bao bọc bởi biển Đông và sông Trường Giang, cao độ tự nhiên trung bình là 4,20m, cao nhất là 38,40m tại núi Bàn Than và thấp nhất là 0,15m

b Địa chất

Khu vực nghiên cứu có hai hệ địa tầng:

Hệ tầng đá biến chất Cambri sớm và hệ tầng đá phun trào bazan và đá trầm tích núi lửa Pliocen – Pleixtocen hạ (Theo bản đồ Địa chất Việt Nam, Phần lục địa,

tỉ lệ 1:500.000 do Trần Đức Lương, Nguyễn Xuân Bao, chủ biên, 1986)

c Khí hậu

Mang đặc điểm chung của khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, các chỉ số khí hậu thời tiết rất phù hợp cho sinh trưởng và phát triển của các loại cây trồng, vật nuôi; tuy nhiên lượng mưa, lượng nhiệt phân bố không đồng đều theo mùa gây ảnh hưởng rất lớn đến việc bố trí mùa vụ và sinh hoạt của nhân dân, cụ thể như sau:

* Nhiệt độ

Nhiệt độ trung bình năm tại khu vực khoảng 27,60C, cao nhất là tháng VII với nhiệt độ trung bình tháng lên đến 31,60C và thấp nhất là tháng XII, nhiệt độ trung bình tháng chỉ 22,80C Mùa nóng bắt đầu từ tháng IV và kết thúc vào tháng VIII.Vào những ngày có gió Tây Nam khô nóng (VI đến tháng VIII), nhiệt độ không khí tăng cao.Mùa lạnh kéo dài từ cuối tháng XII năm trước đến tháng III năm sau.Biên độ nhiệt ngày lớn nhất vào mùa nóng và nhỏ nhất vào mùa lạnh.Trị số biên

độ nhiệt ngày lớn nhất vào tháng IV, có khi tới 1000C

* Số giờ nắng

Tổng số giờ nắng trong năm là 2203 giờ, tập trung từ tháng II đến tháng VIII hằng năm Tháng có nắng ít nhất là tháng X, XI, XII và tháng có nhiều nắng nhất là tháng V, VI, VII, XIII Tháng có độ ẩm cao nhất là tháng XII (độ ẩm tương đối 90%).Tháng có độ ẩm thấp nhất là tháng VII (độ ẩm tương đối 76%)

* Chế độ mưa

Mùa mưa kéo dài từ tháng IX đến tháng XII, tháng X có lượng mưa cao nhất (720 mm) Tổng lượng mưa trung bình năm 2531,5 mm Số ngày mưa trung bình

Trang 25

trong năm là 140 ngày, lượng mưa tháng X và tháng XI chiếm đếm 50,4% lượng mưa cả năm

Mùa khô kéo dài từ tháng I đến tháng VIII, lượng mưa thấp nhất là vào tháng III (trung bình 38 mm).Tổng lượng mưa vào mùa khô chỉ chiếm 30 đến 35% lượng mưa năm Trong mùa khô vào các tháng V, tháng VI thường có những đợt mưa tiểu mãn, bổ sung lượng nước đáng kể cho mùa khô

Bảng 1.3 Các yếu tố đặc trưng cho chế độ khí hậu ở huyện Núi Thành

(Nguồn: báo cáo quy hoạch chi tiết vùng nuôi tôm huyện Núi Thành- tỉnh Quảng

Nam năm 2010)

Tháng

Số giờ nắng (giờ)

Nhiệt độ

TB (0C)

Nhiệt độ tối cao TB(0C)

Nhiệt độ tối thấp TB(0C)

Lượng mưa TB (mm)

Độ ẩm

TB (%)

Trang 26

Lượng mưaTB (mm) Số giờ nắng (giờ) Độ ẩm TB (%) Nhiệt độ TB (độ C)

Hình 1.2 Đặc trưng của chế độ khí hậu ở huyện Núi Thành

(Nguồn: báo cáo quy hoạch chi tiết vùng nuôi tôm huyện Núi Thành- tỉnh

Quảng Nam năm 2010)

* Chế độ gió

Chế độ gió ở Tam Hải phân thành 2 mùa rõ rệt:

- Mùa gió Tây Nam: Hoạt động từ tháng III đến tháng VII, có năm mùa gió Tây Nam bắt đầu sớm hơn và kết thúc muộn hơn bình thường Hướng gió thịnh hành là Tây, Tây Nam

- Mùa gió Đông Bắc: Hoạt động từ tháng X đến tháng II năm sau, có khi kéo dài đến tháng III nhưng ổn định nhất là từ tháng XII đến tháng II năm sau Hướng gió thịnh hành là Bắc và Tây Bắc

Ngoài ra, xen giữa hai hướng gió thịnh hành trên là gió Đông, Đông Nam Còn tùy theo địa hình mà gió phân bố thêm một số hướng khác nhưng tần suất không lớn Tốc độ gió trung bình năm ở khu vực trung bình từ 1,6 – 2,0 m/s, gió lớn thường xuất hiện trong bão, áp thấp nhiệt đới hoặc khi có gió lốc

Ở đây có các kiểu thời tiết đặc biệt là giông, bão, sương mù gây khó khăn cho người dân và sự sinh trưởng, phát triển của động, thực vật

Trang 27

thường lên, đến trưa thì vơi dần và chiều lại lớn lên lại

Theo độ lớn triều, có thể phân biệt thành:

- Triều nhỏ với độ lớn dưới 2m;

- Triều trung bình khoảng 2 – 3m;

- Triều lớn với độ lớn trên 3m

Hình 1.3 Biểu đồ về chế độ thủy văn ở xã Tam Hải

1.2.2 Đặc điểm phát triển kinh tế xã hội của xã Tam Hải

Xã Tam Hải có diện tích 15,03 km2, dân số là 8125 người, mật độ dân số đạt

500 người/km2 [18] Cuộc sống người dân ở xã đảo này chủ yếu dựa vào biển, tập trung vào các ngành nghề đánh bắt và kinh doanh đồ biển là chính Vị trí địa lý và phương tiện đi lại còn khá hạn chế nên khả năng phát triển kinh tế còn nhiều khó khăn Hiện nay người dân trong xã còn phải dùng phà để di chuyển giữa đảo và đất liền, vì thế mà tiềm năng về kinh tế và du lịch còn ít được biết đến Nơi đây có nét văn hóa sống bình dị, người dân mến khách, thân thiện và nhiệt tình đã để lại sự lưu luyến cho du khách mỗi khi đến đây Ngoài khó khăn về khía cạnh kinh tế, Tam Hải còn thiếu nơi xử lý rác, gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường khu vực này

Xã Tam Hải có các loại hình hoạt động kinh tế bao gồm khai thác thủy sản ven bờ và xa bờ, nuôi trồng thủy sản, trồng trọt (trồng rừng và trồng các loại cây ăn quả, cây cảnh có giá trị cao) và chăn nuôi gia súc với quy mô nhỏ, tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ Các công trình phúc lợi và cơ sở hạ tầng được xây dựng Toàn xã có 01 trạm y tế, 01 trường mẫu giáo, 01 trường tiểu học và 01 trường

Trang 28

THCS, 01 điểm bưu điện văn hóa Hệ thống giao thông đường bộ được bê tông hóa 100% và có 01 phà thép, 03 phà nhỏ được phục vụ cho việc đi lại các vùng lân cận Thông tin liên lạc cũng ngày càng được cải thiện, phát triển hiện đại, cung cấp kịp thời tin tức, thông tin, sách báo cho nhu cầu về đời sống tinh thần cho người dân địa phương

Đất Tam Hải chủ yếu là đất cát trứng bạc màu, được bồi tích bởi quá trình rửa chảy, xói lở, bồi lắng của các dòng hải lưu, tổng diện tích đất tự nhiên là 1.560,7 ha, trong đó: Diện tích đất nông nghiệp: 87,65 ha; Diện tích đất lâm nghiệp: 212,7 ha; Diện tích mặt nước: 829,3 ha; Diện tích đang phát triển du lịch: 9,07 ha; Diện tích nuôi trồng thủy sản: 138 ha; Diện tích đất chưa sử dụng: 283,98 ha [30]

Xã đảo Tam Hải có ngư trường lớn, nhiều loại thủy hải sản quý hiếm có giá trị kinh tế cao như: tôm hùm, mực, cá ngừ đại dương, nghêu, sò, ốc các loại, rong biển, rau câu,

Toàn xã có 21,4 km đường giao thông, bao gồm đường xã, đường thôn, giao thông nông thôn cụ thể như sau: Trục đường xã có 7,4 km đã bê tông hóa đạt tiêu chuẩn; trục đường thôn xóm dài 14 km, rộng trung bình 2 – 4m, đã được bê tông hóa 11km, còn 3km chưa bê tông hóa nhưng đã được cứng hóa bằng đá cấp phối, đạt 78,57%

1.3 DU LỊCH BỀN VỮNG

1.3.1 Phát triển bền vững (PTBV)

PTBV được hình thành trong sự hòa nhập, đan xen và thỏa hiệp của 03 hệ thống tương tác là hệ tự nhiên, hệ kinh tế và hệ văn hóa xã hội [1]

Theo quan điểm này, PTBV là sự tương tác qua lại và phụ thuộc lẫn nhau của

03 hệ thống nói trên Như vậy, PTBV không cho phép con người vì sự ưu tiên phát triển của hệ này mà gây ra sự suy thoái, tàn phá đối với hệ khác

Trang 29

Phát triển bền vững

Hình 1.4 Quan niệm về phát triển bền vững

1.3.2 Khái quát lịch sử phát triển du lịch bền vững trên thế giới và ở Việt Nam

Du lịch bền vững (DLBV) khởi đầu ở các nước đang phát triển vào cuối những năm 60 của thế kỷ XX Quần đảo Galapagos là nơi bắt đầu tổ chức DLBV và

ở khu vực Đông Phi, mặc dù nhiều lĩnh vực của du lịch thám hiểm như săn bắt không đủ tiêu chuẩn là DLBV Trong những năm 60 và 70 của thế kỷ XX, DLBV còn là hiện tượng xa lạ, chỉ mới bắt đầu xuất hiện là từ vựng phổ thông Từ sau năm

1990, trên thế giới loại hình DLBV dần phát triển ở một số quốc gia như : Australia, Thái Lan, Ấn Độ, Trung Quốc, Pháp, Thụy Điển, Đan Mạch, … Đến cuối những năm 90 thế kỷ XX, DLBV phát triển mạnh và nổi bật ở các khu vực châu Phi, châu

Mỹ, …

Ở Việt Nam, từ sau năm 1975, nhà nước chưa có điều kiện để tổ chức du lịch Đến những năm 90 thế kỷ XX, loại hình DLBV ở Việt Nam mới bắt đầu được nhen nhóm ở một số tỉnh, thành như : thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Huế, Quảng Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Nha Trang, Bình Thuận,… Dù mới bắt đầu, song loại hình DLBV luôn được quan tâm chú ý, nhiều nơi đã có quy hoạch mở rộng loại hình này

Tuy nhiên, vì nhiều nguyên nhân khác nhau, đến nay, các sản phẩm DLBV đích thực ở Việt Nam chưa có, mà mới chỉ là loại hình du lịch thiên nhiên mang màu sắc của du lich sinh thái Hiện nay, DLBV trong phạm vi cả nước nói chung

Hệ tự nhiên

Trang 30

còn đang trong giai đoạn phát triển đầu tiên Các hoạt động mang tính tự phát, chưa

có sản phẩm và đối tượng phục vụ, sự đầu tư quảng bá, nghiên cứu thị trường và công nghệ phục vụ cho DLBV còn nhiều hạn chế

1.3.3 Nghiên cứu lý luận và thực tiễn phát triển du lịch bền vững trên thế giới và ở Việt Nam

DLBV là khái niệm mới xuất hiện trên cơ sở cải tiến, nâng cấp và hoàn thiện khái niệm du lịch của những năm 90 của thế kỷ XX Theo Hội đồng du lịch và Lữ hành Thế giới (WTTC), 1996 thì “DLBV là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại của

du khách và vùng du lịch mà vẫn đảm bảo khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ

du lịch tương lai” Khái niệm này chỉ ra rằng một hoạt động du lịch ở hiện tại không được xâm phạm đến lợi ích của thế hệ tương lai và phải luôn tôn trọng đảm bảo duy trì hoạt động ấy một cách liên tục và lâu dài

DLBV đòi hỏi các cấp và đơn vị kinh doanh du lịch quản lý tất cả các dạng tài nguyên du lịch theo một cách nào đó để một mặt đáp ứng được các nhu cầu kinh tế,

xã hội và thẩm mỹ, mặt khác vẫn duy trì được bản sắc văn hóa, các quá trình sinh thái cơ bản, sự đa dạng sinh học và các hệ sinh thái đảm bảo theo sự sống

Tại Việt Nam, phát triển bền vững được thể hiện trong chỉ thị 36/CT-BCT của

Bộ Chính trị, Ban chấp hành trung ương Đảng ngày 25 tháng 6 năm 1998 : mục tiêu

và các quan điểm cơ bản cho phát triển bền vững chủ yếu dựa vào hoạt động bảo vệ môi trường, bảo vệ môi trường sinh thái, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên như một cấu thành không thể tách rời của phát triển bền vững

Theo quan điểm của Tổng cục Du lịch Việt Nam, phát triển du lịch phải được định hướng và quản lý theo phương châm : kết hợp hài hòa nhu cầu của hiện tại và tương lai trên cả hai góc độ sản xuất và tiêu dùng du lịch, khai thác, sử dụng và phát triển tài nguyên du lịch tự nhiên, chú trọng bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị của tài nguyên du lịch nhân văn, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, tránh hiện đại hóa làm biến dạng môi trường, cảnh quan di tích, xây dựng và giữ gìn môi trường xã hội lành mạnh, đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, đặc biệt là ở các đô thị du lịch và các điểm tham quan du lịch

Trang 31

Theo Hội đồng khoa học, Tổng cục Du lịch, 2005, 12 mục tiêu trong chương trình của DLBV bao gồm (không xếp theo thứ tự ưu tiên): Hiệu quả kinh tế; sự phồn thịnh cho địa phương; chất lượng việc làm; sông bằng xã hội; sự thỏa mãn của khách du lịch; khả năng kiểm soát của địa phương; an sinh cộng đồng; đa dạng văn hóa; thống nhất về tự nhiên; đa dạng sinh học; hiệu quả của các nguồn lực và môi trường trong lành

Trang 32

CHƯƠNG 2

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Hệ sinh thái rừng ngập mặn tại xã đảo Tam Hải, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam

Người dân sinh sống, người khai thác và kinh doanh các sản phẩm từ rừng ngập mặn, cán bộ quản lý, đại diện chính quyền địa phương

2.2 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

Xã đảo Tam Hải, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam

2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Đánh giá thực trạng hệ sinh thái rừng ngập mặn tại xã Tam Hải

Tìm hiểu, điều tra về các loại hình kinh tế, loại hình khai thác hệ sinh thái rừng ngập mặn, các công trình giao thông, công trình xây dựng tại xã Tam Hải

Đề xuất các giải pháp phát triển du lịch bền vững tại xã Tam Hải

2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.4.1 Cách tiếp cận

Đề tài đã chọn 3 cách cơ bản để tiếp cận để giải quyết vấn đề: tài liệu, thực địa, cộng đồng

2.4.2 Các phương pháp nghiên cứu

a Phương pháp thu thập dữ liệu

*Thu thập dữ liệu thứ cấp: được thu thập qua các tài liệu, các báo cáo khoa

học, các công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến RNM và quá trình khai thác, sử dụng cũng như những tác động đến HST RNM tại xã Tam Hải (tại phần danh mục tài liệu tham khảo)

*Thu thập dữ liệu sơ cấp:

Dữ liệu sơ cấp là các thông tin, số liệu thu thập được trong quá trình triển khai nghiên cứu, đi thực tế, thu thập thông tin, số liệu từ cộng đồng địa phương, các cán

Trang 33

bộ quản lý của chính quyền địa phương và các ban ngành liên quan tại Tam Hải, cụ thể:

Đề tài đã chọn các phương pháp thu thập khác nhau để thu thập nguồn “tri thức địa phương”

* Điều tra bằng bảng hỏi (phiếu điều tra)

Bảng hỏi được sử dụng để thu thập thông tin, tri thức địa phương

Quy mô mẫu khảo sát trong điều tra được áp dụng theo công thức sau:

N

n =

1 + N e2 (Nguồn: Nancy J Helen F Clair E, 2004, trích bởi Chu Mạnh Trinh, 2012) N: số thành viên tham gia khai thác trực tiếp hoặc là những người có liên quan đến việc khai thác, sử dụng và quản lý RNM

e: là độ sai số, độ sai số được tính bằng % của sai số của số gốc Như vậy e có thể diễn biến từ 10%, 20%, 30%, 40%

Đề tài sử dụng 02 mẫu phiếu điều tra cho hai nhóm đối tượng khác nhau:

- Phiếu điều tra 1: tham vấn các đối tượng khai thác trực tiếp RNM, số lượng

phiếu điều tra được tính toán:

n1 = 90/(1+90*(0.1)2)=47,3 (Đề tài sử dụng 47 phiếu)

- Phiếu điều tra 2: thu thập tri thức địa phương về kinh tế, văn hóa, xã hội, du

lịch tại xã Tam Hải Số lượng phiếu điều tra được tính toán:

n2 = 46/(1+46*(0.1)2)=31.5 (Đề tài sử dụng 32 phiếu)

* Phỏng vấn sâu: đề tài chọn các nông dân, người buôn bán, làm dịch vụ có

kinh nghiệm, thâm niên nghề nghiệp và có hiểu biết sâu về các đối tượng nghiên cứu và lãnh đạo các tổ chức có liên quan để phỏng vấn sâu, thảo luận các vấn đề có liên quan

Trang 34

- Ông Phan Mạnh - Thôn Bốn

- Ông Huỳnh Anh - Thôn Sáu

- Bà Phan Thị Ri - Thôn Bốn

Các chuyên gia, lãnh đạo địa phương:

- Ông Nguyễn Ngọc Thọ - Chủ tịch UBND xã Tam Hải

- Ông Nguyễn Tấn Hùng - Phó ban nông nghiệp xã Tam Hải

- Ông Nguyễn Văn Dương - Chuyên viên văn xã xã Tam Hải

b Phương pháp khảo sát thực địa

Đi bộ dọc theo tuyến từ thôn Bốn sang thôn Sáu để đánh giá cảnh quan HST RNM, dùng phương pháp quan sát, ghi chép

Đi bộ dọc theo các tuyến đường của xã, vào nhà dân để khảo sát tình hình kinh

tế - xã hội tại xã Tam Hải

Hình 1.5 Bản đồ bố trí các ô tiêu chuẩn tại khu vực nghiên cứu

Trang 35

Hình 1.6 Nghiên cứu thực địa rừng ngập mặn Tam Hải

* Hình dạng ÔTC

Ô nghiên cứu hình vuông Hình dạng ô tiêu chuẩn là ô vuông Ô tiêu chuẩn (ÔTC) được lấy với kích thước 100 m2 (10m x 10m), việc đếm cây được thực hiện trong từng ÔTC Khối lượng khảo sát được thực hiện theo Quyết định số 06/2005/QĐ-BNN ngày 21 tháng 01 năm 2005 của Bộ NN & PTNT về việc ban hành quy định nghiệm thu trồng rừng, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng, chăm sóc rừng trồng, bảo vệ rừng, khoanh nuôi phục hồi rừng tự nhiên và Quyết định số 59/2007/QĐ-BNN ngày 19 tháng 6 năm 2007 của Bộ NN & PTNT về sửa đổi, bổ sung một số điều của quy định nghiệm thu trồng rừng, nghiệm thu trồng rừng, khoanh nuôi xúc tiền tái sinh rừng, chăm sóc rừng trồng, bảo vệ rừng, khoanh nuôi phục hồi rừng tự nhiên Số ÔTC tối thiếu được quy định như sau:

Diện tích lô < 3 ha: 10 ô

Diện tích lô > 3 – 4 ha: 15 ô

Diện tích lô > 4 – 5 ha: 20 ô

Như vậy, với diện tích rừng ngập mặn của xã Tam Hải, huyện Núi Thành,

Trang 36

tỉnh Quảng Nam khoảng hơn 20 ha được bố trí 20 ÔTC tại hai thôn: thôn Bốn và thôn Sáu

* Diện tích (kích thước) ÔTC

Ở mỗi thôn chọn 10 ÔTC, các ÔTC được bố trí dọc theo tuyến từ mép nước mặn đi vào phía trong

Kích thước mỗi ÔTC là 100m2 (10m x 10m)

Kết hợp điều tra theo tuyến và điều tra ÔTC để thu thập các số liệu sau:

- Thành phần loài

- Mật độ: đếm số cây trong mỗi ÔTC rồi tính ra số cây/ha

- Tần số gặp được tính theo công thức của Nguyễn Nghĩa Thìn: tần số gặp (%) = (số ô tìm thấy loài/tổng số ô nghiên cứu) x 100

* Phương pháp đánh giá độ đa dạng loài

- Chỉ số đa dạng sinh học

H’ =

Trong đó: H’ – chỉ số đa dạng sinh học hay chỉ số Shannon – Weiner,

ni – số lượng cá thể của loài thứ i

N – tổng số số lượng cá thể của tất cả các loài trên hiện trường

Trang 37

Nguyên tắc tiến hành của phương pháp PRA trước khi đi điều tra thu thập thông tin,

số liệu là cần xác định rõ các vấn đề thu thập là gì, thông tin cần thu thập, sử dụng phương pháp gì để tiến hành và ai cung cấp thông tin đó Áp dụng phương pháp PRA người nghiên cứu có thể hệ thống được các vấn đề nghiên cứu rõ ràng khi triển khai các mục tiêu nghiên cứu trên nguyên tắc tiết kiệm được thời gian và chi phí Phương pháp PRA gồm nhiều công cụ khác nhau, tùy theo từng mục tiêu nghiên cứu mà ta lựa chọn để sử dụng

Các cộng tác viên là những người dân trong tại xã Tam Hải

Công cụ: sử dụng phỏng vấn dùng câu hỏi mở phỏng vấn bán cấu trúc và xây dựng phiếu điều tra (Phiếu điều tra và phiếu phỏng vấn ở phụ lục)

Đối tượng: người dân ở xã Tam Hải, chủ yếu ở thôn Bốn và thôn Sáu, người khai thác và kinh doanh các sản phẩm từ RNM, cán bộ quản lý, đại diện chính quyền địa phương

Thực hiện 04 cuộc phỏng vấn từ tháng 4 – 8/2016, số người được phỏng vấn

là 80 người (danh dách người dân được phỏng vấn tại phụ lục)

d Phương pháp chuyên gia

Trao đổi thông tin với các chuyện gia để kiểm chứng và hiệu chỉnh thông tin

e Phương pháp mô hình DPSIR

Mô hình DPSIR là mô hình mô tả mối quan hệ tương hỗ giữa:

- Động lực trực tiếp hoặc gián tiếp (D - Driving forces ): Ví dụ: sự gia tăng dân số,xây nhà, làm đường,…

- Áp lực do con người gây ra (P- Pressures): Ví dụ: khai thác quá mức, khai thác hủy diệt Các quy trình đang đóng vai trò như thế nào?

- Hiện trạng tài nguyên (S -State of the Environment ): tình trạng tốt, cạn kiệt,…của các tài nguyên.Vấn đề đang diễn biến như thế nào?

- Tác động (I- Impacts) của sự thay đổi hiện trạng tài nguyên: Ví dụ: tác động lên HST, kinh tế, sự phát triển Các tác động đang diễn biến như thế nào?

- Phản hồi (R- Response) từ cộng đồng, xã hội với những tác động không mong muốn: Ví dụ: Các hoạt động của cộng đồng nhằm bảo vệ RNM tính hiệu

Trang 38

quả của các đáp ứng,

f Phương pháp xác định cây vấn đề

Phương pháp phân tích vấn đề được thực hiện qua việc xây dựng cây vấn đề

Sở dĩ gọi là “cây vấn đề” bởi vấn đề đã nhận diện (còn gọi là vấn đề cốt lõi) được phân tích dưới hình thức của một cái “cây” Cây vấn đề minh họa cấu trúc của vấn

đề cốt lõi và các “nguyên nhân”, “hậu quả” của nó Phần rễ cây minh họa các nguyên nhân và phần cành cây minh họa các hậu quả Một vấn đề được thể hiện trong cây vấn đề là một trong các nguyên nhân của vấn đề đặt ở tầng trên cũng như

là hậu quả của vấn đề được đặt ở tầng dưới Các nguyên nhân và hậu quả được xác định qua việc trả lời cặp câu hỏi - trả lời: “Tại sao - Vì” cho mỗi vấn đề trong cây vấn đề Như vậy, một cây vấn đề sẽ có các vấn đề được sắp xếp theo trật tự trên dưới và gắn bó với nhau theo trình tự logic hết sức chặt chẽ nhằm mục đích xác lập một cái nhìn tổng thể về vấn đề thông qua liên kết các vấn đề với nhau thành “cây vấn đề”

Sau khi sử dụng mô hình DPSIR để xác định hiện trạng, tác động, áp lực và đối ứng của các vấn đề trong thực trạng RNM Tam Hải, tôi bố trí các vấn đề vào cây vấn đề xác định nguyên nhân và hậu quả của các vấn đề một cách logic

Trang 39

CHƯƠNG 3

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1 THÀNH PHẦN LOÀI VÀ MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG RỪNG NGẬP MẶN TAM HẢI

Để đánh giá được thành phần loài thực vật và một số đặc trưng phân bố rừng ngập mặn Tam Hải, chúng tôi đã tiến hành khảo sát thực địa, nghiên cứu tài liệu kết hợp điều tra trong cộng đồng Kết quả được thể hiện như sau:

Rừng ngập mặn xã Tam Hải phân bố chủ yếu tại hai thôn: thôn Bốn và thôn Sáu Theo quan sát, RNM ở Tam Hải phân bố thành từng dải rừng nhỏ hẹp dọc theo vùng triều ven bờ đầm hoặc rải rác trên các bờ bao và trong ao, đìa nuôi thủy sản ở thôn Bốn và thôn Sáu

Hình 3.1 Rừng ngập mặn Tam Hải xen kẽ trong ao nuôi thủy sản ở thôn Bốn

Trang 40

3.1.1 Thành phần loài thực vật rừng ngập mặn tại các ô tiêu chuẩn

Ở 20 ÔTC tại thôn Bốn và thôn Sáu, chúng tôi phân định được 7 loài thực vật ngập mặn như sau:

Bảng 3.1 Danh lục các loài thực vật ngập mặn tại xã Tam Hải

Nam Tên khoa

Qua bảng 3.1 ta thấy, hệ thực vật ngập mặn ở xã Tam Hải gồm 7 loài, 6 họ thực vật Trong đó có 6 loài thực vật ngập mặn chính thức, 1 loài thực vật tham gia vào RNM

So với 78 loài CNM đã được công bố ở Việt Nam (Phan Nguyen Hong & Hoang Thi San, 1999) và thành phần loài CNM ở một số đầm ven biển Nam Trung bộ như đầm Đề Gi (22 loài), đầm Thị Nại (29 loài), đầm Thủy Triều và vịnh Cam Ranh (20 loài), (Nguyễn Xuân Hòa, 2009a, 2009b, 2010; Nguyễn Xuân Hòa và cs., 2010) đã cho thấy thành phần loài CNM ở Tam Hải khá ít

Như vậy, hệ thực vật ngập mặn ở khu vực nghiên cứu có tính đa dạng về thành phần loài không cao, đặc trưng cho hệ thực vật ngập mặn ở miền Trung Trung Bộ

Ngày đăng: 13/05/2021, 16:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Huy Bá (2003), Du lịch sinh thái, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch sinh thái
Tác giả: Lê Huy Bá
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2003
2. Báo cáo: Quy hoạch chi tiết vùng nuôi tôm huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam, 2010, phòng nông nghiệp – nông thôn huyện Núi Thành Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch chi tiết vùng nuôi tôm huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam, 2010
3. Đề tài Nghiên cứu xây dựng mô hình phát triển du lịch sinh thái theo hướng phát triển bền vững vùng Tây Bắc, mã số KHCN-TB, 09X/13-18. Đề tài được tài trợ bởi Chương trình khoa học và công nghệ phục vụ phát triển bền vững vùng Tây Bắc, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng mô hình phát triển du lịch sinh thái theo hướng phát triển bền vững vùng Tây Bắc
4. Trần Minh Cả (2009), Định hướng phát triển bền vững tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2010 – 2020, UBND tỉnh Quảng Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng phát triển bền vững tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2010 – 2020
Tác giả: Trần Minh Cả
Năm: 2009
5. Nguyễn Viết Cách (2011), Quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên và Môi trường đất ngập nước ven biển, Nhà xuất bản Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên và Môi trường đất ngập nước ven biển
Tác giả: Nguyễn Viết Cách
Nhà XB: Nhà xuất bản Hà Nội
Năm: 2011
6. Cục bảo vệ Môi trường (2006), Thu thập và hệ thống hóa thông tin tư liệu về nghiên cứu và quản lý vùng đất ngập nước hiện có ở Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thu thập và hệ thống hóa thông tin tư liệu về nghiên cứu và quản lý vùng đất ngập nước hiện có ở Việt Nam
Tác giả: Cục bảo vệ Môi trường
Năm: 2006
7. Lê Diên Dực (1989), Kiểm kê đất ngập nước Việt Nam, Trung Tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.Xưởng in Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm kê đất ngập nước Việt Nam
Tác giả: Lê Diên Dực
Năm: 1989
9. Nguyễn Xuân Hòa, Hoàng Thị Lan, Nguyễn Xuân Trường (2010), hiện trạng hệ sinh thái rừng ngập mặn ở vùng ven biển Nam Trung Bộ (từ Đà Nẵng đến Ninh Thuận), tuyển tập nghiên cứu biển XVII Sách, tạp chí
Tiêu đề: hiện trạng hệ sinh thái rừng ngập mặn ở vùng ven biển Nam Trung Bộ (từ Đà Nẵng đến Ninh Thuận
Tác giả: Nguyễn Xuân Hòa, Hoàng Thị Lan, Nguyễn Xuân Trường
Năm: 2010
10. Phan Nguyên Hồng, Nguyễn Hoàng Trí, Hoàng Thị Sản và Trần Văn Ba (1995), Rừng ngập mặn dễ trồng mà nhiều lợi, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rừng ngập mặn dễ trồng mà nhiều lợi
Tác giả: Phan Nguyên Hồng, Nguyễn Hoàng Trí, Hoàng Thị Sản và Trần Văn Ba
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1995
11. Phan Nguyên Hồng, Phan Ngọc Ánh và J. Brands (1996), Kỷ yếu Hội thảo quốc gia về Mối quan hệ giữa phục hồi hệ sinh thái rừng ngập mặn và nuôi trồng hải sản ven biển Việt Nam. TP. Huế, 31/10-02/11/1996.CRES/ACMANG. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo quốc gia về Mối quan hệ giữa phục hồi hệ sinh thái rừng ngập mặn và nuôi trồng hải sản ven biển Việt Nam
Tác giả: Phan Nguyên Hồng, Phan Ngọc Ánh và J. Brands
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1996
12. Phan Nguyên Hồng và cs (1997), Báo cáo đánh giá các thiệt hại của chiến tranh hóa học lên rừng ngập mặn Việt Nam. Đề tài nhánh thuộc đề tài:“Đánh giá các thiệt hại của chiến tranh hóa học lên thiên nhiên” do Trung tâm tư vấn bảo vệ môi trường và chuyển giao công nghệ chỉ trì Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đánh giá các thiệt hại của chiến tranh hóa học lên thiên nhiên”
Tác giả: Phan Nguyên Hồng và cs
Năm: 1997
13. Phan Nguyên Hồng, và cộng sự (1999), Rừng ngập mặn Việt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rừng ngập mặn Việt Nam
Tác giả: Phan Nguyên Hồng, và cộng sự
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1999
15. Phan Kế Lộc (1985), Thử vận dụng bản phân loại của UNESCO để xây dựng khung phân loại thảm thực vật Việt Nam, Tạp chí Sinh học số 4 (7), trang: 1 - 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử vận dụng bản phân loại của UNESCO để xây dựng khung phân loại thảm thực vật Việt Nam
Tác giả: Phan Kế Lộc
Năm: 1985
16. Phan Kế Lộc (1998), Tính đa dạng của hệ thực vật Việt Nam, Kết quả kiểm kê thành phần loài, Tạp chí Di truyền học và ứng dụng, số 2, 10 - 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính đa dạng của hệ thực vật Việt Nam, Kết quả kiểm kê thành phần loài
Tác giả: Phan Kế Lộc
Năm: 1998
17. Phạm Trung Lương, Cơ sở khoa học phát triển du lịch sinh thái Việt Nam, Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài khoa học cấp ngành, Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, Hà Nội, 1999, tr.29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học phát triển du lịch sinh thái Việt Nam
19. Vũ Trung Tạng (2003), Quản lý đa dạng sinh học và nguồn lợi sinh vật của vùng cửa sông thuộc châu thổ Bắc bộ cho sự phát triển bền vững (lấy cửa Bà Lạt làm ví dụ), Tạp chí Sinh học, N 25(2a), Hà Nội, 12-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý đa dạng sinh học và nguồn lợi sinh vật của vùng cửa sông thuộc châu thổ Bắc bộ cho sự phát triển bền vững (lấy cửa Bà Lạt làm ví dụ)
Tác giả: Vũ Trung Tạng
Năm: 2003
20. Chu Mạnh Trinh (2011), Đồng quản lý tài nguyên và môi trường tại Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm, Tạp chí Khoa học và công nghệ biển T11 (2011), 2, trang 79-95 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng quản lý tài nguyên và môi trường tại Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm
Tác giả: Chu Mạnh Trinh (2011), Đồng quản lý tài nguyên và môi trường tại Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm, Tạp chí Khoa học và công nghệ biển T11
Năm: 2011
21. Chu Mạnh Trinh, Phạm Văn Hiệp (2015), Đồng quản lý rác thải sinh hoạt góp phần thúc đẩy tăng trưởng xanh tại địa phương và khu vực. Bài học kinh nghiệm từ trường hợp thành phố Hội An, Quảng Nam, BQL Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm, Hội An, Quảng Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng quản lý rác thải sinh hoạt góp phần thúc đẩy tăng trưởng xanh tại địa phương và khu vực
Tác giả: Chu Mạnh Trinh, Phạm Văn Hiệp
Năm: 2015
22. Chu Mạnh Trinh, Hứa Chiến Thắng (2012), Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm – một mô hình thành công về quản lý theo cách tiếp cận hệ sinh thái, dựa vào cộng đồng, BQL Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm, Hội An, Quảng Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm – một mô hình thành công về quản lý theo cách tiếp cận hệ sinh thái, dựa vào cộng đồng
Tác giả: Chu Mạnh Trinh, Hứa Chiến Thắng
Năm: 2012
23. Thái Văn Trừng (1978), Thảm thực vật rừng Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thảm thực vật rừng Việt Nam
Tác giả: Thái Văn Trừng
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1978

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w