1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thành phần loài, phân bố của cá bống và mùa vụ sinh sản của loài cá bống cát glossogobius giuris (hamilton, 1822) ở vùng hạ lưu sông thu bồn, tỉnh quảng nam

92 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu thành phần loài, phân bố của cá bống và mùa vụ sinh sản của loài cá bống cát (Glossogobius Giuris) ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam
Tác giả Trần Thị Phương Thảo
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Văn Long
Trường học Đại Học Đà Nẵng
Chuyên ngành Sinh thái học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 27,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vũ Thị Phương Anh và Võ Văn Phú 2010 trong nghiên cứu về thành phần loài cá ở hệ thống sông Thu Bồn – Vu Gia tỉnh Quảng Nam đã xác định được 197 loài, 121 giống, 48 họ thuộc 15 bộ cá khá

Trang 1

- -

TRẦN THỊ PHƯƠNG THẢO

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI, PHÂN BỐ CỦA

CÁ BỐNG VÀ MÙA VỤ SINH SẢN CỦA

LOÀI CÁ BỐNG CÁT (GLOSSOGOBIUS GIURIS)

Ở VÙNG HẠ LƯU SÔNG THU BỒN, TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Đà Nẵng – Năm 2017

Trang 2

- -

TRẦN THỊ PHƯƠNG THẢO

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI, PHÂN BỐ CỦA

CÁ BỐNG VÀ MÙA VỤ SINH SẢN CỦA

LOÀI CÁ BỐNG CÁT (GLOSSOGOBIUS GIURIS)

Ở VÙNG HẠ LƯU SÔNG THU BỒN, TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành: Sinh thái học

Mã số: 60.42.01.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Long

Đà Nẵng – Năm 2017

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Văn Long Các số liệu và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong một công trình nào khác

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1.Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3.Ý nghĩa của đề tài 3

4.Bố cục của đề tài 4

CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI 5

1.2.TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở VIỆT NAM 6

1.3.KHU VỰC HẠ LƯU SÔNG THU BỒN 9

1.4.SƠ LƯỢC ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 10

1.4.1 Vị trí địa lý 10

1.4.2 Đặc điểm khí hậu 10

1.4.3 Điều kiện thủy văn 12

1.4.4.Đặc điểm môi trường nước 13

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 15

2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 15

2.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 15

2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15

2.4.1 Khảo sát ngoài thực địa 15

2.4.2 Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm 20

2.4.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 23

Trang 5

THUỘC HỌ CÁ BỐNG 24

3.1.1 Thành phần loài và phân bố 24

3.1.2 Mô tả đặc điểm hình thái 28

3.2 PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA THÀNH PHẦN LOÀI VỚI CÁC YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG CƠ BẢN 38

3.3 ĐẶC ĐIỂM MÙA VỤ SINH SẢN CỦA CÁ BỐNG CÁT 40

3.3.1 Đặc điểm tuyến sinh dục của cá bống cát 40

3.3.2 Sự biến động các giai đoạn thành thục sinh dục 43

3.3.3 Hệ số thành thục sinh dục (GSI) 46

3.3.4 Sức sinh sản 47

3.4 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG BỀN VỮNG NGUỒN LỢI 48

3.4.1 Đánh giá hiện trạng khai thác và quản lý hiện nay 48

3.4.2 Đề xuất 50

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54

1 KẾT LUẬN 54

2 KIẾN NGHỊ 55

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 56 PHỤ LỤC

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)

Trang 6

Số hiệu Tên bảng Trang

3.1 Thành phần loài cá bống vùng hạ lưu sông Thu Bồn 25

Trang 7

Số hiệu Tên hình Trang

1.1 Biểu đồ nhiệt độ trung bình ở Hội An [39] 11 1.2 Biểu đồ lƣợng mƣa trung bình ở Hội An [39] 11

Trang 8

bống

3.17 GĐTT của tế bào trứng (Vật kính 10) 43

3.18 Tỷ lệ các GĐTT của buồng trứng cá bống cát ở vùng hạ

3.19 Tỷ lệ các GĐTT của buồng tinh cá bống cát ở vùng hạ

3.20 Tỷ lệ buồng trứng cá bống cát giai đoạn IV tại 3 khu vực

3.21 Tỷ lệ buồng tinh cá bống cát giai đoạn III & IV tại 3 khu

3.22 Hệ số thành thục sinh dục GIS (%) của cá bống cát 47

3.23 Tương quan giữa sức sinh sản tuyệt đối và khối lượng cơ

3.24 Lờ (lồng) – Nghề chủ đạo khai thác cá bống 49

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quảng Nam là một tỉnh có nhiều sông, trong đó sông Thu Bồn có lưu vực lớn nhất, đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa dòng chảy, cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp cũng như dân sinh và đặc biệt là ngư trường khai thác các loài thuỷ sản Các tư liệu nghiên cứu gần đây cho thấy vùng hạ lưu sông Thu Bồn có sự hiện diện của một số loại sinh cư (habitats) đặc trưng (thảm cỏ biển, rừng dừa nước và vùng đáy mềm), nơi tập trung của nhiều nhóm đối tượng nguồn lợi thủy sản có giá trị, góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội của địa phương thông qua việc duy trì sinh kế và và tạo nguồn thu nhập đáng kể cho cộng đồng [2],[10] Tuy nhiên, dưới áp lực phát triển của kinh tế-xã hội trong thời gian qua, tài nguyên đa dạng sinh học nói riêng và môi trường nói chung đang phải đối mặt với hàng loại các tác động bất lợi như khai thác quá mức nguồn lợi thủy sản, diện tích các sinh cư bị thu hẹp và giảm chất lượng, ô nhiễm do hoạt động nông nghiệp, chất thải công nghiệp và sinh hoạt,…và điều này góp phần làm cho nguồn lợi thuỷ sản ngày càng suy giảm Trong những năm qua, đã có một số nghiên cứu về khu hệ cá ở hệ thống sông Thu Bồn – Vu Gia, tuy nhiên chủ yếu tập trung vào việc xác định thành phần loài cá Vũ Thị Phương Anh và Võ Văn Phú (2010) trong nghiên cứu về thành phần loài cá ở hệ thống sông Thu Bồn – Vu Gia tỉnh Quảng Nam đã xác định được 197 loài, 121 giống, 48 họ thuộc 15 bộ cá khác nhau, trong đó họ

cá bống trắng Gobiidae (8 loài) và họ cá bống đen Eleotridae (7 loài) là những

họ cá chiếm ưu thế về loài Một nghiên cứu khác của Nguyen Quoc Nghi (2008) về giảm thiểu tác động của con người và nâng cao chất lượng đối với

hệ sinh thái rừng ngập mặn còn sót lại ở khu vực miền Trung Việt Nam (Thành phố Hội An) đã ghi nhận 19 loài thuộc 9 họ cá, trong đó họ cá Bống (Gobiidae) có số loài nhiều nhất (5 loài)

Trang 10

Kết quả tham vấn tại 6 xã/phường vào tháng 11/2015 trong khuôn khổ

của Dự án “Điều tra và đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng bền vững đối với tài nguyên đa dạng sinh học ở Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm – Hội An” do TS Nguyễn Văn Long chủ trì cho thấy nguồn lợi cá bống đóng

vai trò khá quan trọng cả về sản lượng và thu nhập trong hoạt động nghề cá ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn với trên 13 loại cá bống khác nhau theo tên gọi của địa phương (cá bống thệ, cá bống thệ quát, cá bống mú đen, cá bống tượng, cá bống găm, cá bống găm hồ, cá bống cát, cá bống mè, cá bống cầu, cá bống say, cá bống đen, cá bống mủ, cá bống hoa), trong đó cá bống găm có kích thước lớn và có giá bán cao nhất (80 – 150 ngàn/kg tùy theo kích thước) Thông tin tham vấn từ cộng đồng bước đầu cũng cho thấy nguồn lợi cá bống nói riêng và nguồn lợi thủy sản đang ngày càng bị suy giảm mạnh theo thời gian do tác động của nhiều yếu tố, trong đó chủ yếu là khai thác hủy diệt và quá mức, phá hủy sinh cư, ô nhiễm,…

Có thể nhận thấy rằng mặc dù đã có một vài nghiên cứu liên quan đến nguồn lợi thủy sản ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn, tuy nhiên các kết quả nói trên chỉ mới dừng lại ở việc xác định thành phần loài của một số nhóm nguồn lợi

mà chưa có những nghiên cứu sâu hơn về những vấn đề liên quan đến sinh học, sinh sản và sinh thái nguồn lợi, đặc biệt là cá bống Theo quan sát trong thành nguồn lợi cá bống khai thác, một số loài có tên gọi khác nhau nhưng lại có đặc điểm hình thái ngoài khá giống nhau và có khả năng cùng 1 loài Bên cạnh đó, nguồn lợi của một số loài cá bống có giá trị cao đang và sẽ trở thành những đối tượng đặc sản quan trọng ở khu vực này bị khai thác cạn kiệt, tuy nhiên chưa

có những nghiên cứu về đặc điểm sinh học và sinh thái làm cơ sở cho việc ứng dụng vào sản xuất giống phục vụ cho phát triển nuôi trồng nhằm tạo sinh kế cho cộng đồng cũng như phục hồi và tái tạo nguồn lợi tự nhiên

Trang 11

Với ý nghĩa trên, việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu thành phần loài,

phân bố của cá bống và mùa vụ sinh sản của loài cá bống cát

Glossogobius giuris (Hamilton, 1822) ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn, tỉnh

Quảng Nam” sẽ góp phần bổ sung nguồn tư liệu về đa dạng sinh học và nâng

cao hiểu biết về các đặc trưng cơ bản của quần xã cá bống làm cơ sở cho việc bảo tồn, khai thác hợp lý, phát triển nuôi trồng và phục hồi nguồn lợi này ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn trong thời gian sắp đến

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Góp phần bổ sung tư liệu về đa dạng sinh học làm cơ sở cho việc bảo tồn

và sử dụng bền vững tài nguyên ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn nói riêng và khu

dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm-Hội An nói chung

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Cung cấp một số dẫn liệu về đặc điểm thành phần loài và phân bố của quần xã cá bống trong mối quan hệ với các yếu tố môi trường cơ bản

- Bước đầu tìm hiểu mùa vụ sinh sản của loài cá bống cát

Glossogobius giuris (Hamilton, 1822) làm cơ sở định hướng phát triển nuôi

trồng tạo sinh kế cho cộng đồng và phục hồi nguồn lợi này trong tương lai

3 Ý nghĩa của đề tài

- Ý nghĩa khoa học: kết quả đề tài sẽ góp phần bổ sung nguồn tư liệu

và nâng cao những hiểu biết cơ bản về một số đặc trưng sinh học và sinh thái của nguồn lợi cá bống có giá trị nhưng chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều

- Ý nghĩa thực tiễn: Những giải pháp đề xuất của đề tài sẽ là cơ sở để các nhà quản lý tham khảo trong việc định hướng xây dựng những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả bảo tồn, phục hồi và sử dụng bền vững tài nguyên ở khu vực này

Trang 12

4 Bố cục của đề tài: Bao gồm 3 chương

- Chương 1: Tổng quan tài liệu Ở phần này tóm lượt lại một số công trình nghiên cứu về cá bống trên thế giới, tại Việt Nam và cụ thể tại khu vực nghiên cứu Bên cạnh đó, mô tả thêm một vài thông tin chung về điều kiện tự nhiên tại khu vực nghiên cứu;

- Chương 2: Đối tượng, nội dung, phạm vi và phương pháp nghiên cứu Phần này mô tả cụ thể đối tượng và phạm vi nghiên cứu, nội dung nghiên cứu

và từng phương pháp sử dụng trong quá trình nghiên cứu từ thực địa cho đến phòng thí nghiệm;

- Chương 3: Kết quả và bàn luận Phần này trình bày những kết quả đã nghiên cứu được trong quá trình thực hiện đề tài gồm mô tả thành phần loài

và đặc điểm của từng loài, phân tích mối quan hệ giữa thành phần loài cá bống với các yếu tố môi trường, đánh giá một số đặc điểm sinh sản của cá

bống cát Glossogobius giuris và đề xuất giải pháp khai thác và sử dụng bền

vững nguồn lợi tại khu vực nghiên cứu

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1.TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI

Về thành phần loài, trên thế giới bộ phụ cá bống Gobioidei hiện có 1.930 loài, trong đó họ cá bống trắng Gobiidae có nhiều loài nhất với 1.624 loài [36].Theo Herre (1953) đã công bố danh mục cá biển Philipin, trong đó có

221 loài cá bống Theo Fowler (1978) đã đưa ra danh mục 936 loài cá biển Malaysia, trong đó có 87 loài cá bống Theo Rainboth (1996) thì ở Campuchia

đã định danh được 6 giống, 6 loài thuộc họ Eleotridae và 34 giống, 50 loài thuộc họ Gobiidae sống trên dòng sông Mê Kông đoạn chảy qua quốc gia này Ở Lào, theo Kattelat (2001) đã định danh được 16 loài, 6 giống thuộc họ Gobiidae Ở Singapore, theo Larson và cs (2005) có 120 loài cá bống Ở Úc,

bộ phụ cá bống Gobioidei có khoảng 40 giống và 150 loài, đa số chúng có kích thước nhỏ và trung bình [27]

Việc nghiên cứu về sự ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đến sự phân

bố thành phần loài cá cũng đã được các nhà khoa học quan tâm, đặc biệt là đối với các loài cá có sự đa dạng về loài và sự thích nghi môi trường rộng như cá bống Theo một nghiên cứu của Syms và Jones (2004) về cấu trúc môi trường sống, sự xáo trộn và thành phần các loài cá bống trong vùng rạn đã ghi nhận được sự ảnh hưởng của các yếu tố môi trường (độ sâu, địa hình, thành phần bùn đất) đến sự đa dạng thành phần loài cá bống trong vùng rạn Trong nghiên cứu này, tác giả chỉ tập trung vào 10 loài cá bống phổ biến thuộc 7 giống: Amblyeleotris, Cryptocentrus, Ctenogobiops, Vanderhorstia, Amblygobius, Oplopomus và Valenciennea

Các nghiên cứu về sinh học sinh sản của cá bống trên thế giới gồm: Sự

phát triển tuyến sinh dục của cá bống cát Gobius minutus Pallas, 1770 ở vùng

cửa sông Ythan, Scotland của tác giả Healey (1971); Mô hình của tuyến sinh

Trang 14

dục trưởng thành của cá bống Aphia minuta của tác giả Caputo và cs (2000) Chu kỳ sinh sản và phát triển tuyến sinh dục của loài cá bống tròn (Neogobius melanostomus Pallas, 1811) ở vịnh Gdansk của tác giả Tomczak và Sapota

(2006); Khả năng sinh sản và phát triển tuyển sinh dục của loài cá bống

Bathygobius soporator (Valenciennes, 1837) ở vùng cửa sông Cross, Nigeria

của tác giả Eyo và cs (2013)

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở VIỆT NAM

Tại Việt Nam, các nghiên cứu về họ cá bống còn khá hạn chế, chủ yếu là những ghi nhận về thành phần loài Các công trình nghiên cứu tiêu biểu về khu hệ cá có thể kể đến là Dẫn liệu sơ bộ ngư giới Ngòi thia (Đào Văn Tiến

và Mai Đình Yên, 1958); Điều tra nguồn lợi sinh vật Hồ Tây (Đào Văn Tiến

và cs., 1961); Sơ bộ điều tra thành phần, nguồn gốc và phân bố của chủng quần cá sông Hồng (Mai Đình Yên, 1962); Kết quả điều tra nguồn lợi cá sông Thao (Hoàng Duy Hiệp và Nguyễn Văn Hảo, 1964); Sơ bộ điều tra nguồn lợi

cá sông Mã (Đoàn Lệ Hoa và Phạm Văn Doãn, 1971);… Ở miền Nam cũng

có một số công trình nghiên cứu của cán bộ khoa học người Việt Nam và người nước ngoài thực hiện như: Trần Ngọc Lợi và Nguyễn Cháu (1964), Fourmanoir (1965), Yamamura (1966), Nguyễn Viết Trương và Trần Tuý Hoa (1972), Taki (1975),…

Năm 1978, trong công trình nghiên cứu “Định loại cá nước ngọt các tỉnh phía Bắc Việt Nam”, tác giả đã tìm thấy 201 loài cá ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam với 10 loài cá bống nằm trong bộ cá vược Perciformes, thuộc 2 họ (Mai Đình Yên, 1978)

Trong quyển “Định loại các loài cá nước ngọt ở Nam bộ” của Mai Đình Yên và cs (1992), nhóm nghiên cứu đã tìm ra trong bộ phụ cá bống Gobioidei có 5 họ, 19 giống và 25 loài Trong đó, họ cá bống đen Eleotridae

có 3 giống với 4 loài, họ cá bống trắng Gobiidae có 10 giống với 14 loài, họ

Trang 15

cá bống kèo Apocrypteidae có 3 giống với 3 loài, họ cá rễ cau Gobioidae có 2 giống với 3 loài

Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) thì ở Đồng bằng sông Cửu Long đã tìm và định danh được trong bộ phụ Gobioidei có 5 họ, 13 giống và 15 loài Trong đó họ cá bống đen Eleotridae có 3 giống với 4 loài;

họ cá bống trắng Gobiidae có 4 giống với 5 loài; họ Periophthalmidae có 1 giống với 1 loài; họ Apocrypteidae có 3 giống với 3 loài; họ Gobiodidae có 2 giống với 2 loài

Nguyễn Nhật Thi (2000) đã phân loại được 4 họ, 5 phân họ, 54 giống và

92 loài cá bống biển Việt Nam Tác giả cũng đã nghiên cứu các chỉ tiêu về hình thái, đặc điểm sinh học – sinh thái, sự phân bố, giá trị kinh tế của các loài cá bống biển

Nguyễn Văn Hảo (2005) trong công trình nghiên cứu “Cá nước ngọt Việt Nam” đã nghiên cứu, phân loại được 3 họ của phân bộ cá bống Gobioidei gồm họ cá bống đen ống tròn Odontobutididae, họ cá bống đen Eleotridae, họ cá bống trắng Gobiidae

Cá bống trắng Gobiidae là nhóm cá rộng muối và ăn động vật nhỏ nên chúng cũng là các loài có giá trị kinh tế cao góp phần đáng kể vào sản lượng khai thác và thu nhập của người dân vùng đầm Ô Loan, tỉnh Bình Định (Võ Văn Phú, 2003)

Nguyễn Hồng Nhung và Nguyễn Hữu Dực (2005) công bố kết quả nghiên cứu về thành phần loài cá nội địa ở Cà Mau cho thấy cá bống có 2 họ

là cá bống đen và cá bống trắng với 4 phân họ và 27 loài Trong đó, họ cá bống đen có 7 loài và họ cá bống trắng có 4 phân họ gồm 20 loài

Trong công trình nghiên cứu cá nước ngọt Việt Nam của Nguyễn Văn Hảo (2005) đã phân được 3 họ của phân bộ cá bống Gobioidei đó là: họ cá

Trang 16

bống đen ống tròn Odonbobutididae, họ cá bống đen Eleotridae và họ cá bống trắng Gobiidae

Nguyễn Thị Phi Loan (2005) đã phát hiện 9 loài cá bống phân bố ở đầm nước lợ Ô Loan, tỉnh Phú Yên

Theo Tổng Xuân Tám và Nguyễn Hữu Dực (2005), trên tuyến sông Sài Gòn có 12 loài thuộc 2 họ cá bống trắng và cá bống đen phân bố Qua quá trình định danh, tác giả đã xác định được 3 loài thuộc cá bống đen là: cá bống

cầu (Butis butis); cá bống tượng (Oxyeleotris marmotatus); cá bống dừa (Oxyeleotris siamensis) và 9 loài cá bống trắng: cá bống mấu mắt (Glossogobius biocellatus); cá bống cát trắng (G sparisipapillus); cá bống chấm gáy (G pasciato-punctatus); cá bống cát tối (G giuris); cá bống trứng (Pseudgobiopsis oligaetis); cá bống mít (Stigmatogoius sadnundio); cá thòi lòi (Periphthalmondon schloseri)

Ở địa bàn xã Bình Khánh huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh, Trần Trọng Khâm (2006) đã xác định được 13 loài cá bống

Theo Nguyễn Thị Hoa (2008), thành phần loài cá tự nhiên thuộc lưu vực sông Đà huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu chỉ xuất hiện loài cá bống khe

(Rhinogobius brunneus) và cá bống đá (R giuriny) thuộc họ cá bống trắng

Lê Thị Ngọc Thanh (2010) khi nghiên cứu ở Bạc Liêu, Sóc Trăng cho thấy có 10 loài cá bống có giá trị kinh tế thuộc họ Gobiidae, Eleotridae, Apocrypteidae phân bố, trong đó 2 loài có sản lượng và giá trị kinh tế cao là

cá bống cát và cá bống dừa

Cùng với những nghiên cứu về khu hệ cá, các nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái của một số loài cá bống có giá trị kinh tế ngày càng được chú trọng Có thể kể một số nghiên cứu như: Nghiên cứu đặc điểm sinh học

của cá bống tượng (Oxyeleotrix marmorata) ở các thủy vực nước ngọt tỉnh

Tiền Giang (Nguyễn Thị Tố Uyên, 2009); Một số loài cá bống (họ Gobiidae

Trang 17

và Eleotridae) và một số đặc điểm sinh học cá bống cát (G giuris) phân bố ở

Cần Thơ (Tô Thị Mỹ Hoàng và cs., 2012); Một số đặc điểm sinh sản của cá

bống cát Glossogobius giuris (Hamilton, 1822) ở thành phố Cần Thơ (Phạm

Thị Mỹ Xuân và Trần Đắc Định, 2013); Một số đặc điểm sinh học sinh sản

của cá bống cát (Glossogobius aureus Akihito & Meguro, 1975) phân bố ở

vùng ven biển tỉnh Bến Tre (Nguyễn Minh Tuấn và cs., 2014); Một số đặc

điểm sinh học sinh sản của cá bống trứng (Eleotris melanosoma) phân bố dọc

theo sông Hậu (Võ Thành Toàn và Trần Đắc Định, 2014)

1.3 KHU VỰC HẠ LƯU SÔNG THU BỒN

Vùng hạ lưu sông Thu Bồn là một vùng đất ngập nước, có nhiều cồn bãi với các hệ sinh thái đa dạng, được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới vào năm 2009 Do đó, nguồn lợi thủy sản tại khu vực này rất

đa dạng và phong phú

Nguyen Quoc Nghi (2008) trong nghiên cứu về giảm thiểu tác động của con người và nâng cao chất lượng đối với hệ sinh thái rừng ngập mặn còn sót lại ở khu vực miền Trung Việt Nam (Thành phố Hội An) đã ghi nhận 19 loài thuộc 9 họ cá, trong đó họ cá bống (Gobiidae) có số loài nhiều nhất (5 loài) Theo nghiên cứu của Le Thi Thu Thao và Nguyen Phi Uy Vu (2009) về thành phần loài cá ở vùng đất ngập nước ven biển tỉnh Quảng Nam đã xác định được 128 loài, 91 giống với 54 họ thuộc 16 bộ cá khác nhau Trong đó

bộ cá chiếm ưu thế về loài là họ cá bống trắng Gobiidae (11 loài)

Vũ Thị Phương Anh và Võ Văn Phú (2010) trong nghiên cứu về thành phần loài cá ở hệ thống sông Thu Bồn – Vu Gia tỉnh Quảng Nam đã xác định được 197 loài, 121 giống, 48 họ thuộc 15 bộ cá khác nhau, trong đó họ cá bống trắng Gobiidae có 8 loài và họ cá bống đen Eleotridae có 7 loài là những

họ cá chiếm ưu thế về loài

Trang 18

Theo Nguyen Thanh Nam và cs (2012) đã xác định được 110 loài, 90 giống, 62 họ thuộc 16 bộ cá khác nhau, trong đó có 1 loài thuộc họ cá bống đen Eleotridae và 2 loài thuộc họ cá bống trắng Gobiidae trong nghiên cứu về thành phần loài cá vùng cửa sông Cửa Đại, hệ thống sông Vu Gia – Thu Bồn tỉnh Quảng Nam

Một nghiên cứu mới đây về khu hệ cá cửa sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam của Nguyễn Thị Tường Vi và cs (2015) đã ghi nhận được 139 loài, 110 giống, 63 họ thuộc 17 bộ cá khác nhau, trong đó họ cá bống trắng Gobiidae cũng chiếm ưu thế về loài (12 loài) chiếm 8,6% tổng số loài cá

1.4 SƠ LƯỢC ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU

1.4.1 Vị trí địa lý

Vùng hạ lưu sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam là hợp lưu của các con sông lớn nhỏ trên địa bàn nối từ dãy Trường Sơn hùng vĩ đổ ra cửa biển, gồm các sông Đế Võng, Trường Giang và Thu Bồn Cuối hạ lưu là cửa biển Cửa Đại giáp Biển Đông, phía Tây giáp huyện Điện Bàn, phía Nam giáp huyện

Duy Xuyên

1.4.2 Đặc điểm khí hậu

Vùng hạ lưu sông Thu Bồn chủ yếu nằm trong địa phận thành phố Hội

An, do đó đặc điểm các yếu tố thời tiết giống như của thành phố Hội An là mang tính chất khí hậu ven biển miền Trung, nóng ẩm, mưa nhiều và mưa theo mùa, có nền nhiệt độ cao, nắng nhiều, ít chịu ảnh hưởng của gió đông [37]

a Nhiệt độ

Hội An không có mùa đông lạnh Mùa khô từ khoảng tháng 2 đến tháng

8, mùa mưa kéo dài từ tháng 9 đến tháng 1 năm sau Nhiệt độ không khí trung bình ở Hội An là 26,30C; cao nhất:380C vào tháng 8 và thấp nhất: 14,70C vào tháng 3

Trang 19

Hình 1.1 Biểu đồ nhiệt độ trung bình ở Hội An [39]

b Độ ẩm và bốc hơi

Độ ẩm tương đối trung bình năm: 83%, mùa khô 75% và mùa mưa 85% Khí hậu Hội An có đặc điểm nóng ẩm, có hai mùa rõ rệt: mùa mưa bão và

mùa nắng nóng kết hợp thêm tính chất khí hậu duyên hải miền Trung

Lượng bốc hơi trung bình hằng năm tại Hội An là 2.107 mm/năm Trong

đó, lượng bốc hơi tháng nhiều nhất là 241 mm và ít nhất là 119 mm

c Lượng mưa, bão

Tổng lượng mưa bình quân 2.249,4 mm/năm, cao nhất vào tháng 10 và 11 (644,9-491,3 mm/tháng), thấp nhất vào các tháng 2, 3, 4 (25,1-43,6 mm/tháng)

Hình 1.2 Biểu đồ lượng mưa trung bình ở Hội An [39]

Trang 20

Bão ở Hội An thường xuất hiện vào các tháng 9, 10, 11 hằng năm; các cơn bão thường kéo theo những trận mưa lớn gây lũ lụt toàn khu vực

d Số giờ nắng

Bình quân số giờ nắng trong năm tại Hội An là 2.156,2 giờ, trung bình từ

234 – 277 giờ/tháng Tháng 5 và tháng 6 là hai tháng có số giờ chiếu nắng nhiều nhất trong năm, ngược lại tháng 11 và tháng 1 là hai tháng ít nhất Trung bình số giờ nắng hàng tháng dao động từ 69 – 165 giờ/tháng

e Gió

Hướng gió thịnh hành vào mùa hè là hướng Đông, trong khi vào mùa đông là hướng Bắc và Tây Bắc Tốc độ gió trung bình là 3,3 m/s,mạnh nhất đạt 40 m/s

Chế độ gió có 2 mùa rõ rệt: Gió mùa hè từ tháng 4 đến tháng 9, gió mùa đông từ tháng 9 đến tháng 4 năm sau

1.4.3 Điều kiện thủy văn

Hội An là vùng cửa sông- ven biển, nơi hội tụ của các con sông lớn của

xứ Quảng: Nguồn Thu Bồn - Vu Gia được hình thành bởi hai dòng sông Thu Bồn và Vu Gia hợp lại và thường gọi bằng cái tên chung là sông Thu Bồn Hệ thống này gồm 78 con sông có chiều dài từ 10 km trở lên Phía ngọn Thu Bồn

có các nhánh sông Tranh (bắt nguồn từ dãy núi Ngọc Linh hùng vĩ), sông Khang (cũng gọi là Chang, gồm hai nhánh chính là sông Tiên và sông Trạm), sông Trường (bắt nguồn từ dãy núi Glê Lang) Phía ngọn Vu Gia có các nhánh sông Bung, sông Cái, sông Con (hoặc sông Côn)…vv Toàn bộ hệ thống Thu Bồn – Vu Gia có chiều dài từ nguồn ra đến biển khoảng 200 km với lưu vực khoảng 8.850 km2 [13]

Phần hạ lưu của sông Thu Bồn bắt đầu từ Bến Giá chảy qua cầu Câu Lâu tới Cửa Đại dài 16 km Trước khi đổ ra biển qua Cửa Đại, đoạn cuối của sông Thu Bồn do sự tác động của thủy triều và phù sa bồi lấp, phân thành nhiều nhánh phụ, tách ra rồi nhập lại

Trang 21

Đoạn sông Thu Bồn chảy qua Hội An được gọi là sông Cái hoặc sông Hội An có chiều dài 8,5 km, chiều rộng 120 – 240 m, diện tích lưu vực 3.510

km2 Một nhánh nhỏ của sông Hội An tách dòng lượn sát vào Phố Hội thường gọi là sông Hoài Như vậy, thành phố Hội An nẳm ở hạ lưu sông Thu Bồn, thông với biển qua Cửa Đại cho nên bị chi phối bởi chế độ thủy văn sông Thu Bồn và biển Lưu lượng nước bình quân của sông Hội An (hạ lưu sông Thu Bồn) là 232 m3/giây, lưu lượng lũ bình quân 5.430 m3/giây, lưu lượng kiệt từ

40 60 m3/giây Mực nước lũ tại sông Hội An bình quân +2,48m, năm Bình Thìn (1964) mực nước lũ của sông lên đến +3,40m, năm 1998 là +2,99m và năm 1999 là +3,21m [37]

Chế độ mực nước sông Thu Bồn phụ thuộc vào chế độ thủy triều lên xuống ngày hai lần (bán nhật triều); giữa kỳ nước cường và nước kém biên độ triều chênh lệch không đáng kể (triều max= 1,40m, triều min= 0,00m), biên

độ dao động của thủy triều trung bình 0,06m Về mùa khô, do nước sông xuống thấp, nước biển thâm nhập sâu vào lục địa gây nên tình trạng nhiễm mặn (trung bình 12%)[37]

1.4.4 Đặc điểm môi trường nước

Theo không gian, vào cả 2 mùa mưa và khô, giá trị độ trong suốt, pH,

độ muối tăng dần từ hạ lưu sông Thu Bồn tới vùng chuyển tiếp và Cù Lao Chàm trong khi nồng độ chất lơ lửng, các muối dinh dưỡng (amoni, nitrit,

và nhất là silicate) và nhất là mật độ vi sinh vật giảm dần Vào mùa mưa trị BOD5 và DO có xu thế giảm dần từ khu vực hạ lưu sông Thu Bồn tới vùng chuyển tiếp và Cù Lao Chàm nhưng giá trị BOD5 lại có xu thế gia tăng vào mùa khô [15]

Trong khu vực hạ lưu sông Thu Bồn: giá trị của các thông số cơ bản (độ trong suốt, pH, nhiệt-muối) đều cao hơn vào mùa khô trong khi nồng

độ vật lơ lửng biến đổi ngược lại Nồng độ muối dinh dưỡng amoni,

Trang 22

phosphat và Zn cũng cao hơn vào mùa khô trong khi nồng độ silicate, vi sinh vật biến đổi ngược lại Không có sự khác biệt về giá trị/nồng độ DO, BOD5, nitrit và nitrat, dầu mỡ giữa 2 mùa Vào mùa khô, nước mặn xâm nhập lên tất cả các trạm khảo sát trong khu vực hạ lưu sông Thu Bồn tại cả

2 tầng, nhất là tầng đáy với giá trị độ muối tại trạm 1 (khu vực Thanh Hà)

là 0,3%o tại cả 2 tầng [15]

Trang 23

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHẠM VI

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Các loài cá thuộc nhóm cá bống và đặc điểm môi trường sống của chúng

ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn, Hội An, Quảng Nam

2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Xác định thành phần loài và mô tả đặc điểm hình thái của các loài thuộc nhóm cá bống ở khu vực nghiên cứu;

- Phân tích mối quan hệ giữa đặc điểm phân bố thành phần loài cá bống với một số yếu tố môi trường và sinh cư cơ bản (nhiệt độ, độ mặn, pH, DO, rong-cỏ nước ngọt, dừa nước-cỏ biển, bùn-cát, cát-bùn);

- Đánh giá một số đặc điểm sinh sản (đặc điểm tuyến sinh dục, sự biến động các giai đoạn thŕnh thục của tuyến sinh dục, hệ số thành thục, sức sinh

sản) của loài cá bống cát Glossogobius giuris (Hamilton, 1822);

- Đề xuất các giải pháp khai thác và sử dụng bền vững nguồn lợi

2.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu được tiến hành tại vùng hạ lưu sông Thu Bồn, Hội An, Quảng Nam thuộc Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm – Hội An Thời gian nghiên cứu từ tháng 12/2015 đến tháng 11/2016

2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.4.1 Khảo sát ngoài thực địa

a Thu mẫu xác định thành phần loài

Tổ chức thu mẫu vào 2 đợt đại diện cho mùa mưa (tháng 12/2015) và mùa khô (tháng 6/2016) tại 3 khu vực đặc trưng cho sự thay đổi về phông (gradient) độ mặn từ nơi có độ mặn thấp (khu vực Thanh Hà), độ mặn trung bình (khu vực Cẩm Nam) và độ mặn cao (khu vực Cẩm Thanh) dọc theo hệ thống sông Thu Bồn

Trang 24

Tại mỗi khu vực, tiến hành thu mẫu trên 3 ghe khai thác bằng nghề lờ (lồng) là loại nghề khai thác chủ đạo cá bống ở khu vực nghiên cứu Các trạm khảo sát được xác định bằng định vị cầm tay GPS Đối với từng loài, tiến hành thu 5 mẫu có kích thước khác nhau để phục vụ cho công tác phân loại và

đo chiều dài của toàn bộ số mẫu cá khai thác được theo từng ghe Ngoài ra, đề tài cũng kết hợp với thu mẫu bổ sung thành phần loài tại các chợ cá địa phương (chợ Hội An, chợ Viên Giác) vào buổi sáng sớm khi cá vừa được vận chuyển đến chợ

Mẫu sau khi thu xong cho vào bị nilon có gắn nhãn ghi chú các thông tin

cơ bản về nguồn gốc mẫu và bảo quản trong thùng xốp lạnh có chứa đá nhằm giữ cho mẫu được tươi và nguyên vẹn trong quá trình vận chuyển Tiếp theo, tiến hành rửa sạch mẫu, đo kích thước cố định các vây bằng dung dịch formaline và chụp hình khi mẫu còn tươi Sau đó, cố định mẫu trong dung dịch formaline 10% và chuyển về phòng thí nghiệm của Phòng Nguồn lợi thuỷ sinh vật biển, Viện Hải dương học để định loại

Bảng 2.1 Tọa độ các trạm thu mẫu

Trang 25

Hình 2.1 Sơ đồ vị trí các trạm thu mẫu

b Đo đạc các yếu tố môi trường và đánh giá đặc điểm sinh cư

Tại mỗi trạm đặt lờ thu mẫu cá khai thác, tiến hành đo một số yếu tố môi trường cơ bản như nhiệt độ, độ mặn, pH, DO ở tầng đáy bằng máy đo nhanh vào mùa mưa (tháng 12/2015) và mùa khô (tháng 6/2016)

Việc đánh giá đặc điểm sinh cư (habitats) tại mỗi trạm thu mẫu được tiến hành đồng thời sau khi đo các yếu tố môi trường thông qua tham vấn ý kiến của ngư dân khai thác kết hợp với lặn quan sát trực tiếp nền đáy Các thành phần sinh cư chính được đánh giá gồm cát-bùn, bùn-cát, rong và cỏ nước ngọt, dừa nước và cỏ biển (rong lá hẹ)

Trang 26

Hình 2.2 Thiết bị đo môi trường nước

a Máy đo pH, nhiệt độ; b Máy đo DO;c Máy đo độ mặn;

d Gàu lấy nước tầng đáy

c Thu mẫu đánh giá đặc điểm sinh sản của cá bống cát

Việc thu mẫu cũng được thực hiện tại 3 khu vực: độ mặn thấp (Thanh Hà), trung bình (Cẩm Nam) và độ mặn cao (Cẩm Thanh) của hệ thống sông Thu Bồn từ tháng 1/2016 đến tháng 11/2016 Tại mỗi khu vực, hàng tháng thu ngẫu nhiên 30 cá thể có kích thước khác nhau của loài cá bống cát vào các sau trăng tròn Tổng cộng mỗi tháng có 90 mẫu cá được thu và phân tích

Mẫu cá sau khi thu xong được rửa sạch, đo kích thước, giải phẩu để quan sát hình thái tuyến sinh dục và cân trọng lượng (sau khi loại bỏ nội quan) Đánh giá phát triển của tuyến sinh được thực hiện qua quan sát trực tiếp theo thang đánh giá mức độ thành thục sinh dục của Nikolsky (1963) đồng thời kết hợp với tiêu bản mô học theo từng giai đoạn, mỗi giai đoạn lấy 3 mẫu để làm tiêu bản

Trang 27

Bậc thang phát triển tuyến sinh dục ở cá (Nikolsky, 1963)

- Giai đoạn I: cá thể non, chưa chín muối sinh dục Tuyến sinh dục chưa phát triển, nằm sát vào phía trong của vách cơ thể và là những dải dài hẹp, mắt thường không thể xác định được đực cái

- Giai đoạn II: tuyến sinh dục có kích thước rất nhỏ, trong suốt và gần như không màu; có thể phân biệt được noãn sào (buồng trứng) hay tinh sào (buồng tinh) vì noãn sào có mạch máu tương đối lớn chạy dọc và có những tia nhỏ chạy về các lườn bên Ở cá cái, trong noãn sào có các hạt trứng nhỏ, mắt thường không thể nhìn thấy được Khi quan sát noãn sào dưới kính lúp thì có thể phân biệt được từng trứng một Chúng trong và hầu như không màu

- Giai đoạn III: giai đoạn chín, khối lượng tuyến sinh dục tăng lên rất nhanh Ở cá cái, mắt thường có thế trông thấy những hạt trứng nhỏ, đục hơi xám Nếu cắt ngang buồng trứng và nạo nó bằng đầu kéo để lấy ra những hạt trứng riêng rẽ thì trứng khó tách ra khỏi những vách ngăn bên trong của noãn sào và luôn kết thành từng chùm gồm một vài hạt Ở cá đực, khi ấn vào tinh sào không thấy sẹ lỏng chảy ra Khi cắt ngang tinh sào, các mép của nó không tròn mà lại sắc cạnh và thấy có sẹ màu trắng trong

- Giai đoạn IV: giai đoạn chín muồi, trứng và sẹ đang chín, tuyến sinh dục có khối lượng lớn nhất Ở cá cái, hạt trứng lớn, trong suốt Khi cắt buồng trứng và nạo bằng kéo, trứng rời ra từng cái một Ở cá đực, tinh sào màu trắng, chứa đầy sẹ Khi ấn mạnh vào bụng cá có sẹ chảy ra màu trắng sữa Nếu cắt ngang tinh sào, các mép của nó tròn lại ngay và chỗ cắt có dịch nhờn chảy ra

- Giai đoạn V: giai đoạn đẻ, trứng và sẹ chín đến nỗi khi ấn nhẹ lên bụng

cá, nó liền chảy ra ngay, không phải từng giọt mà từng tia Nếu cầm ngược cá lên và lắc nhẹ thì trứng và sẹ chảy ra tự do Khối lượng tuyến sinh dục từ đầu đến cuối giai đoạn đẻ giảm đi rất nhanh

Trang 28

- Giai đoạn VI: giai đoạn đẻ xong, các sản phẩm sinh dục hết sạch và lỗ sinh dục phồng lên, tuyến sinh dục trong dạng túi mềm nhão Ở cá cái, trong buồng trứng thường có những trứng nhỏ sót lại; còn ở cá đực, trong buồng tinh có những tinh tử sót lại

2.4.2 Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm

a Phân tích và định loại mẫu

Mẫu thành phần loài sau khi cố định trong formaline 10% được rửa qua bằng nước lạnh, sau đó cố định trong cồn 80o để phân tích và lưu trữ lâu dài

Quá trình phân loại cá được thực hiện trên kính lúp và kính hiển vi theo phương pháp phân tích so sánh hình thái dựa theo các tài liệu phân loại của Nguyễn Nhật Thi (2000) và cơ sở dữ liệu cá thế giới (Fishbase)

Định loại đến cấp độ họ: các họ cá khác nhau thường có những đặc điểm rất sai khác về hình thái và số lượng gai cứng vây lưng, có thể dễ dàng nhận biết bằng trực quan Một số đặc điểm hình thái để phân biệt họ cá bống là thân hình nhỏ và vừa, dẹp bên hoặc hơi tròn, thân phủ vảy hoặc không phủ vảy Có 02 vây lưng riêng biệt hoặc liền làm một Hai vây bụng rất gần nhau hoặc hợp với nhau có dạng đĩa hút, các tia vây phía ngoài ngắn hơn các tia vây phía trong [9]

Định loại đến cấp độ giống và loài: để tiến hành định loại một cá thể chính xác đến cấp độ giống và loài thường sử dụng các khóa định loại, trong

đó có hai nhóm chính

- Nhóm chỉ tiêu hình thái dựa vào trực quan: gồm có các đặc điểm về hình dạng cơ thể (dẹp bên, thuôn dài, ), hình dạng và đặc điểm các vây, đặc điểm phần đầu và miệng, các đặc điểm nổi bật về màu sắc, hoa văn trên

cơ thể

Trang 29

- Nhóm chỉ tiêu hình thái cần đo đếm: bao gồm số gai mềm của vây lưng (D: Dorsal fin), vây ngực (P: Pectoral fin), vây hậu môn (A: Anal fin), vây đuôi (C: Caudal fin) Hình dạng và số lượng vảy Các số đo về chiều dài toàn thân (Total length L[t]), chiều dài thân (Standard length L[s]), chiều dài đầu (Head length), chiều cao thân (Body depth) và đường kính mắt (Diameter of eye)

- Sơ đồ hình thái và thuật ngữ được chủ thích cụ thể trong Hình 2.3

Hình 2.3 Sơ đồ hình thái và thuật ngữ [9]

1 Chiều dài toàn thân; 2 Chiều dài thân; 3 Chiều dài đầu; 4 Chiều cao thân; 5 Đường kính mắt

D: Vây lưng; P: Vây ngực; A: Vây hậu môn; C: Vây đuôi; V: Vây bụng

b Xác định các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục

Mẫu ở các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục được mang đi cắt mô

tế bào theo phương pháp của Drury và Wallington (1967), Kierman (1990), sau đó dùng kính hiển vi ACCU-SCOPE có vật kính 4X và 10X, sử dụng phần mềm MICROCOPE kết nối giữa kính hiển vi và máy vi tính để phân tích và chụp hình các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục

Trang 30

Hình 2.4 Kính hiển vi ACCU-SCOPE và phần mềm chụp ảnh

MICROCOPE

Xác định hệ số thành thục (GSI) theo công thức:

GSI (%) = GW * 100/Wn (1)

Trong đó: GW: Khối lƣợng tuyến sinh dục (g);

Wn: Khối lƣợng cơ thể không nội quan (g)

c Xác định sức sinh sản

Sức sinh sản đƣợc xác định bằng cách chọn những cá thể cá bống có buồng trứng ở giai đoạn IV, cân xác định khối lƣợng cơ thể cá, khối lƣợng buồng trứng, khối lƣợng mẫu trứng đại diện và đếm số trứng trong một mẫu trứng đại diện Trong đó, mẫu trứng đại diện đƣợc lấy tại 3 vị trí là phần đầu, phần giữa và phần cuối của buồng trứng Sức sinh sản của cá đƣợc tính theo công thức:

Sức sinh sản tuyệt đối (F) đƣợc tính theo công thức của Banegal (1967):

Trang 31

Sức sinh sản tương đối (FA) được tínhtheo công thức của Hardisty (1964):

F A = F/W (3)

Trong đó: F là sức sinh sản tuyệt đối

W là trọng lượng thân cá (g)

2.4.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

- Tất cả các số liệu đo đạc và phân tích được thống kê bằng phần mềm Microsoft OfficeExcel 2007

- Xử lý hình ảnh bằng phần mềm photoshop CS5 và ImageJ

- Phân tích mối tương quan giữa thành phần loài với các yếu tố môi trường và đặc điểm sinh cư được thực hiện bởi phép phân tích mối tương quan (Canonical Correspondence Analysis – CCA) theo hướng dẫn của Ter Braak (1986) trên phần mềm Past v.3

Trang 32

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 3.1 THÀNH PHẦN LOÀI VÀ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI CÁC LOÀI THUỘC HỌ CÁ BỐNG

3.1.1 Thành phần loài và phân bố

Kết quả phân tích từ bộ mẫu thu được vào mùa mưa (tháng 12/2015) và mùa khô (tháng 6/2016) đã xác định được 14 loài thuộc 8 giống của 2 họ cá bống đen Eleotridae và họ cá bống trắng Gobiidae phân bố dọc vùng hạ lưu sông Thu Bồn, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam So với những nghiên cứu trước đây của Vũ Thị Phương Anh và Võ Văn Phú (2010), Nguyen Thanh Nam (2012) và Nguyễn Thị Tường Vi và cs (2015), kết quả nghiên cứu đã bổ sung thêm 4 loài cho khu vực này, trong đó họ cá bống đen có 1 loài

(Oxyeleotris urophthalmus) và họ cá bống trắng có 3 loài (Exyrias puntang, Glossogobius fasciato-punctatus và Oligolepis acutipennis)

So sánh theo không gian cho thấy khu vực Cẩm Thanh có số lượng loài phân bố cao nhất (12 loài) so với 10 loài được ghi nhận ở khu vực Thanh Hà

và 6 loài tại khu vực Cẩm Nam (Bảng 3.1).Trong 14 loài cá bống phát hiện

được tại khu vực nghiên cứu, có 2 loài Eleotris oxycephala và Glossogobius giuris hầu như xuất hiện ở cả 3 khu vực nghiên cứu Theo fishbase, 2 loài cá

này có sự thích nghi môi trường rất rộng, có thể sống được trong cả môi trường nước ngọt, mặn và lợ Ngược lại, một số loài rất hiếm gặp và chỉ được

phát hiện 1 lần trong khu vực nghiên cứu như: Eleotris fusca, E melanosoma, Acentrogobius nebulosus, Exyrias puntang, Oligolepis acutipennis và Glossogobius aureus

Theo kết quả phân tích từ bộ mẫu thu được vào 2 mùa cho thấy số lượng loài trong mùa mưa ở cả 3 khu vực đều cao hơn so với mùa khô, đặc biệt ở Cẩm Thanh (11 loài so với 4 loài) và Thanh Hà (8 loài so với 5 loài) Vào

Trang 33

mùa khô, số lượng loài ghi nhận được tại 3 khu vực tương đương nhau (4-5 loài), tuy nhiên có sự khác nhau về tính chất thành phần loài

Bảng 3.1 Thành phần loài cá bống vùng hạ lưu sông Thu Bồn

K: mùa khô; M: mùa mưa

Cẩm Thanh

K M K M K M

Họ Eleotridae

Trang 34

*: Loài bổ sung từ nghiên cứu này

Kết quả phân tích cũng cho thấy có sự khác biệt về phân bố thành phần

loài giữa các khu vực theo mùa trong đó các loài Eleotris fusca, E melanosoma, Acentrogobius nebulosus và Glossogobius aureus chỉ xuất hiện

ở khu vực Cẩm Thanh vào mùa mưa Đây là nhóm các loài thường hay sống ở

vùng cửa sông ngập mặn [36]; loài Exyrias puntang chỉ xuất hiện ở khu vực Thanh Hà vào mùa mưa; loài Oligolepis acutipennis chỉ xuất hiện ở khu vực

Thanh Hà vào mùa khô

So sánh với nghiên cứu của Vũ Thị Phương Anh và Võ Văn Phú (2010)

về thành phần loài cá ở hệ thống sông Thu Bồn – Vu Gia, tỉnh Quảng Nam cho thấy có sự tương đương về số lượng loài (15 và 14 loài) nhưng lại khác nhau rất lớn về thành phần loài cá bống giữa hai nghiên cứu do khác nhau về quy mô nghiên cứu Nghiên cứu của Vũ Thị Phương Anh và Võ Văn Phú có quy mô rất lớn, việc thu mẫu thành phần loài được thực hiện trên toàn bộ hệ thống sông Thu Bồn – Vu Gia, trong khi nghiên cứu của chúng tôi chỉ tập trung vào vùng hạ lưu sông Thu Bồn Cả 2 nghiên cứu đều ghi nhận sự xuất

hiện của 5 loài thuộc họ cá bống đen Eleotridae (Eleotris fusca, E melasoma,

E oxycephala, Butis butis và Oxyeleotris marmorata) và 2 loài thuộc họ cá bống trắng Gobiidae (Acentrogobius caninus và Glossogobius giuris)

Trang 35

So sánh với nghiên cứu của Nguyen Thanh Nam (2012) về thành phần loài cá tại vùng cửa sông Cửa Đại thuộc hệ thống sông Vu Gia – Thu Bồn, Quảng Nam cho thấy số lượng loài cá bống trong nghiên cứu này rất ít (3 loài) do chỉ tập trung vào khu vực vùng cửa sông Cửa Đại (Cẩm Thanh) và tác giả chỉ thực hiện thu mẫu một đợt vào mùa khô tháng 6/2011 Tuy nhiên,

trong 3 loài mà nghiên cứu này phát hiện được thì chỉ có loài Butis butis (họ

cá bống đen Eleotridae) là trùng với nghiên cứu của chúng tôi, còn 2 loài thuộc họ Gobiidae thì khác biệt hoàn toàn Theo tra cứu trên fishbase cho

thấy, loài cá bống Valencienea wardii (Playfair, 1867) hoàn toàn sống ở biển,

trong các vùng rạn có độ sâu từ 5 – 20m, là loài cực kỳ hiếm; còn loài

Parachaeturichthys polynema (Bleeker, 1853) cũng là loài sống ở biển trong

các vùng nước sâu và rất hiếm khi vào vùng cửa sông Do đó, 2 loài nói trên

đã không được phát hiện trong khu vực nghiên cứu của luận văn tập trung ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn

So với một nghiên cứu gần đây nhất của Nguyễn Thị Tường Vi và cs (2015) về khu hệ cá cửa sông Thu Bồn cho thấy có sự khác nhau rất lớn về thành phần loài giữa hai nghiên cứu Đối với họ cá bống đen Eleotridae,

nghiên cứu của chúng tôi đã bổ sung thêm 4 loài so với 2 loài Butis butis

và Eleotris fusca mà công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Tường Vi và

cs (2015) đã ghi nhận Đối với họ cá bống trắng Gobiidae, cả hai nghiên

cứu đều ghi nhận sự xuất hiện của 5 loài cá bống tại khu vực (A.caninus, A nebulosus, G aureus, G giuris, O tentacularis), tuy nhiên ở nghiên cứu của Nguyễn Thị Tường Vi và cs (2015) đã ghi nhận thêm 7 loài khác (A cyanomos, Bathygobius cocosensis, O lonchotus, O ophthalmonema, O papuensis, Periophthalmus modestus, Trypauchen vagina) trong khi nghiên cứu của chúng tôi chỉ ghi nhận thêm 3 loài (E puntang, G fasciato- punctatus, O acutipennis) Sự sai khác này có thể do phương pháp và địa

Trang 36

điểm thu mẫu Ở nghiên cứu của Nguyễn Thị Tường Vi và cs (2015), thời gian thu mẫu chủ yếu tập trung vào mùa khô từ tháng 1 – 5/2013 và tập trung thu mẫu tại vùng cửa sông gồm các khu vực Cẩm Nam, Cẩm Thanh, Cửa Đại Đối với nghiên cứu của chúng tôi, việc thu mẫu được thực hiện thêm vào mùa mưa và mở rộng đến phường Thanh Hà nơi đầu vùng hạ lưu sông Thu Bồn, tuy nhiên lại không thu mẫu tại Cửa Đại – nơi sông Cổ Cò chảy vào

3.1.2 Mô tả đặc điểm hình thái

a Butis butis (Hamilton, 1822)

Tên thường gọi: Cá bống cấu

Tên địa phương: Cá bống cát, cá bống cầu

Mô tả:D VI, I 7-9; A I.7-8; P 17-20; V I.5; C 17-20 Thân dài, dẹp bên, phủ vảy Đầu dài, dẹp bằng Mõm dài nhọn, hàm dưới dài hơn hàm trên Miệng rộng Mắt hơi lồi cao Hai vây bụng cách xa nhau Vây đuôi tương đối lớn, viền sau tròn Cơ thể có màu nâu đậm Hầu hết các vảy bên thân có 1 chấm màu trắng đục ở đầu vảy, tạo thành các hàng chấm dọc theo hàng vảy, riêng các vảy nằm ở nửa thân phía dưới bụng có chấm màu cam Vây đuôi màu xám đậm, có nhiều vân ngang màu nâu (mũi tên trong hình 3.1) Vây ngực màu trắng nhạt, gốc vây có một chấm đen lớn ở giữa hai chấm trắng nhỏ

Kích thước mẫu: L[s] = 72 - 75mm

Khu vực phân bố: Hồng Triều – Duy Xuyên, Cẩm Nam

Hình 3.1 Butis butis

Trang 37

b Eleotris fusca (Forster, 1801)

Tên thường gọi: Cá bống đen

Tên địa phương: Cá bống đen rong

Mô tả: D VI, I.8-9; A I.8-9; P 17-18; C 14-15; V 7 Thân dài, phần trước hơi tròn, phần sau dẹp bên, toàn thân có màu đen, phủ vảy (mũi tên hình 3.2) Đầu ngắn, tròn, má phình Mõm ngắn, rộng, hơi cong lên Miệng rất chếch, hàm dưới dài hơn hàm trên Vây bụng rời Vây lưng thứ hai và vây hậu môn đối xứng Vây đuôi ngắn, mép sau hơi tròn, có màu nâu sẫm đến đen Các vây còn lại có màu nâu nhạt, trên các vây có các chấm đen tạo thành những tia sọc ngang

Kích thước mẫu: L[s] = 86 - 90 mm

Khu vực phân bố: Cẩm Thanh

Hình 3.2 Eleotris fusca

c Eleotris melanosoma Bleeker, 1852

Tên thường gọi: Cá bống đen mêla

Tên địa phương: Cá bống mủ

Mô tả: D VI, I 8; A I.8-10; P 15-17; C 19; V 7 Thân dài, nửa trước hình trụ tròn, nửa sau dẹp bên Thân màu xám đậm, phủ vảy Đầu nhọn, dẹp bằng Mõm nhọn, hàm dưới nhô dài Vây bụng rời, hơi ngắn Vây ngực và vây đuôi

Trang 38

tù Trên vây lưng và vây hậu môn có những sọc ngang màu đen Gốc vây đuôi

có màu sậm hơn đuôi vây Các vây có màu vàng nhạt, nhạt hơn màu của thân Kích thước mẫu: L[s] = 83 - 89 mm

Khu vực phân bố: Cẩm Thanh

Hình 3.3 Eleotris melanosoma

d Eleotris oxycephala Temminck et Schlegel, 1845

Tên thường gọi: Cá bống đen oxi

Tên địa phương: Cá bống mú đen

Mô tả: D VI, I.8-9; A I.8-9; P 16-17; C 19; V 6 Thân dài, phần trước hình trụ, phần sau dẹp bên, có màu nâu đậm, phủ vảy Phần sau thân có màu nâu sậm hơn phần trước thân Đầu ngắn nhọn Mõm nhọn, hơi hếch, hàm dưới nhô ra Vây bụng rời Vây đuôi tù tròn Vây ngực tù, lớn

Kích thước mẫu: L[s] = 93 - 95 mm

Khu vực phân bố: Cẩm Nam

Trang 39

Hình 3.4 Eleotris oxycephala

e Oxyeleotris marmorata (Bleeker, 1852)

Tên thường gọi: Cá bống tượng

Tên địa phương: Cá bống tượng

Mô tả: D VI, I.9-10; A I.7; P 18; C 19; V 5 Thân dài, phần trước hình trụ, phần sau dẹp bên, có màu nâu đậm, phủ vảy, có nhiều đốm hoa văn vằn vằn đặc trưng trên thân (mũi tên hình 3.5) Đầu ngắn dẹt Mõm nhọn, hàm dưới hơi nhô ra Vây bụng rời Trên các vây cũng có những đốm hoa văn màu nâu đậm hoặc đen

Kích thước mẫu: L[s] = 93 - 95 mm

Khu vực phân bố: Thanh Hà

Hình 3.5 Oxyeleotris marmorata

f Oxyeleotris urophthalmus (Bleeker, 1851)

Tên thường gọi: Cá bống dừa

Tên địa phương: Cá bống dừa

Mô tả:D VI, I.10; A I.10-11; P 17-19; V 5 Thân có màu nâu vàng, phủ vảy, phần trước dẹp bằng, phần sau dẹp bên Đầu dẹp bên, rộng, to Miệng rộng Mõm tù hướng lên Mắt tròn, nhỏ, lệch về phía lưng của đầu Hai vây bụng tách rời nhau Vây đuôi tròn, gốc vây đuôi phát triển, có một chấm đen nằm ở gốc vây đuôi Các vây có màu nhạt hơn thân

Trang 40

Kích thước mẫu: L[s] = 85 – 102 mm

Khu vực phân bố: Thanh Hà, Cẩm Nam, Cẩm Thanh

Hình 3.6 Oxyeleotris urophthalmus

g Acentrogobius caninus (Cuvier et Valenciennes, 1837)

Tên thường gọi: Cá bống tro, chấm

Tên địa phương: Cá bống hoa

Mô tả: D VI, I.9-10; A I.10; P 18; C 15; V 5 Thân dài, phần trước hơi tròn, phần sau dẹp bên, có màu vàng nhạt, phủ vảy Đầu tù, phần má phình rộng Mõm ngắn, mút mõm tròn Mắt tương đối to và cao, nằm ở sát mặt lưng của đầu, khoảng cách hai mắt nhỏ Vây bụng liền hợp thành dạng đĩa tròn Vây đuôi tròn rộng Phía trên gốc vây ngực có 1 chấm lớn màu xanh lam Bên thân

có 5 chấm đen lớn, trên lườn có 5 chấm đen xen kẽ với các chấm đen ở thân Kích thước mẫu: L[s] = 75 - 77 mm

Khu vực phân bố: Cẩm Thanh

Ngày đăng: 13/05/2021, 16:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm