Nếu hoạt động chính khóa nhằm hình thành chủ yếu cho học sinh kiến thức về môi trường và bảo vệ môi trường thì các hoạt động ngoài giờ lên lớp giáo dục môi trường không chỉ giúp mở rộng
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
Đề tài:
THIẾT KẾ MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP VỀ NỘI DUNG GIÁO DỤC MÔI
TRƯỜNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
Sinh viên thực hiện : Vũ Thị Thùy Dương
Giáo viên hướng dẫn : Th.S Nguyễn Phan Lâm Quyên
Trang 2Đà Nẵng, tháng 5 năm 2017
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 2
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài ……… 2
2.1 Ở nước ngoài 2
2.2 Ở Việt Nam 3
3 Mục tiêu nghiên cứu 5
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu: 5
4.1 Khách thể nghiên cứu 5
4.2 Đối tượng nghiên cứu 5
5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu: 5
5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu: 5
5.2 Phạm vi nghiên cứu: 6
6 Phương pháp nghiên cứu: 6
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: 6
6.2 Phương pháp điều tra bằng anket: 6
6.3 Phương pháp thực nghiệm: 6
6.4 Phương pháp thống kê toán học 6
7 Cấu trúc đề tài 6
PHẦN NỘI DUNG 6
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 7
1.1 Cơ sở lí luận 7
1.1.1 Các khái niệm cơ bản 7
1.1.1.1 Môi trường 7
1.1.1.2 Bảo vệ môi trường 8
1.1.1.3 Giáo dục môi trường 9
1.1.1.4 Hoạt động ngoài giờ lên lớp 10
1.1.2 Một số vấn đề về giáo dục môi trường trong trường Tiểu học 11
1.1.2.1 Vai trò, vị trí của giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học 11
1.1.2.2 Mục tiêu giáo dục bảo vệ môi trường trong trường tiểu học 11
1.1.2.3 Một số nội dung về giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học ở Việt Nam 12
Trang 31.1.2.4 Một số quan điểm về việc xây dựng nội dung giáo dục môi trường cho học
sinh tiểu học 14
1.1.3 Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở Tiểu học 14
1.1.3.1 Vai trò của hoạt động ngoài giờ lên lớp ở trường Tiểu học 14
1.1.3.2 Các nhiệm vụ của hoạt động ngoài giờ lên lớp 15
1.1.3.3 Những nội dung của hoạt động ngoài giờ lên lớp ở trường tiểu học 16
1.1.3.4 Các hình thức tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp ở tiểu học 18
1.1.4 Đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học 18
1.1.4.1 Đặc điểm nhận thức 18
1.1.4.2 Đặc điểm nhân cách 20
1.2 Cơ sở thực tiễn 21
1.2.1 Thực trạng nhận thức và hành vi của học sinh tiểu học đối với môi trường và bảo vệ môi trường 21
1.2.1.1 Mục đích điều tra 21
1.2.1.2 Đối tượng điều tra 21
1.2.1.3 Phương pháp điều tra 22
1.2.1.4 Nội dung điều tra 22
1.2.1.5 Kết quả điều tra 22
1.2.2 Thực trạng việc tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp nhằm GDMT cho học sinh tại trường thực nghiệm 28
1.2.2.1 Mục đích điều tra 28
1.2.2.2 Đối tượng điều tra 28
1.2.2.3 Phương pháp điều tra 28
1.2.2.4 Nội dung điều tra 28
1.2.2.5 Kết quả điều tra 28
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 36
CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP CÓ NỘI DUNG GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 37
2.1 Các nguyên tắc của việc thiết kế hoạt động NGLL nhằm GDMT 37
2.1.1 Nguyên tắc về tính mục đích, tính kế hoạch 37
2.1.2 Nguyên tắc về tính tự nguyện, tự giác tham gia hoạt động 38
2.1.3 Nguyên tắc tính đến đặc điểm lứa tuổi và tính cá biệt của học sinh 38
Trang 42.1.4 Nguyên tắc kết hợp sự lãnh đạo sư phạm của thầy với tính tích cực, độc lập và
sáng tạo của học sinh 39
2.2 Quy trình tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp 39
2.3 Thiết kế một số hình thức tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp nhằm giáo dục môi trường cho học sinh 40
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 56
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 57
3.1 Mục đích, ý nghĩa của thực nghiệm sư phạm 57
3.2 Nội dung và kế hoạch thực nghiệm 57
3.2.1 Đối tượng thực nghiệm 57
3.2.2 Nội dung thực nghiệm 57
3.2.3 Thời gian thực nghiệm 57
3.2.4 Địa điểm thực nghiệm 58
3.3 Kết quả thực nghiệm và đánh giá kết quả 58
3.3.1 Kết quả của bài kiểm tra 58
3.3.2.Kết quả kiểm tra về thái độ trước và sau khi thực nghiệm 60
3.3.3 Kết quả kiểm tra hành vi của học sinh trước và sau khi thực nghiệm 63
3.3.4 Kết luận chung về kết quả thực nghiệm: 65
3.4 Kết quả khảo nghiệm một số thiết HĐGDNGLL có nôi dung GDMT cho HS đã thiết kế 66
3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 66
3.4.2 Đối tượng khảo nghiệm 66
3.4.3 Nội dung khảo nghiệm 66
3.4.4 Phương pháp khảo nghiệm 66
3.4.5 Kết quả khảo nghiệm 66
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 68
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69
1 Kết luận 69
2 Kiến nghị 70
2.1 Đối với nhà trường 70
2.2 Đối với giáo viên tiểu học 70
2.3 Đối với gia đình và xã hội 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
Trang 5PHỤ LỤC 73
LỜI CẢM ƠN
Qua khóa luận này, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo khoa Giáo dục Tiểu học – Trường Đại học Sư Phạm Đà Nẵng đã tận tình giảng dạy, chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong những năm học vừa qua, trang bị cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm trong việc thực hiện đề tài cũng như trong cuộc sống
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến cô giáo viên hướng dẫn: Thạc sĩ Nguyễn Phan Lâm Quyên đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu và các cán bộ giáo viên trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi thuộc quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã cung cấp tài liệu và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành tốt khóa luận
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng do thời gian có hạn, trình độ, kỹ năng của bản thân còn nhiều hạn chế nên chắc chắn đề tài này không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Rất mong được sự đóng góp, chỉ bảo, bổ sung thêm của quý thầy cô
Xin chân thành cảm ơn
Đà Nẵng, tháng 4 năm 2017
Sinh viên thực hiện
Vũ Thị Thùy Dương
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Kết quả bài kiểm tra
Bảng 1.2 Kết quả điều tra thái độ của HS với MT hiện nay
Bảng 1.3 Kết quả điều tra hành vi của HS với MT hiện nay
Bảng 2.1 Nhận thức của giáo viên về chất lượng MT xung quanh Bảng 2.2 Hình thức GDMT mà GV thường xuyên sử dụng
Bảng 2.3 Tác dụng của HĐNGLL nhằm GDMT cho HS
Bảng 2.4 Một số thông tin về vấn đề tổ chức HĐNGLL nhằm GDMT Bảng 2.5 Những thuận lợi của giáo viên khi tổ chức các HĐNGLL
nhằm GDMT trong dạy học ở Tiểu học Bảng 2.6 Những khó khăn của giáo viên khi tổ chức các HĐNGLL
nhằm GDMT trong dạy học ở Tiểu học Bảng 3.1 Kết quả bài kiểm tra của HS trước và sau khi thực nghiệm Bảng 3.2 Kết quả kiểm tra về thái độ của HS với MT trước và sau khi
thực nghiệm Bảng 3.3 Kết quả kiểm tra về hành vi của HS với MT trước và sau
khi thực nghiệm Bảng 3.4 Mức độ khả thi của một số thiết kế HĐNGLL nhằm GDMT
đã xây dựng
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1 Kết quả bài kiểm tra của HS lớp 4/5
Biểu đồ 1.2 Kết quả bài kiểm tra của HS lớp 4/6
Biểu đồ 1.3 Kết quả điều tra thái độ của HS với MT hiện nay
Biểu đồ 1.4 Kết quả điều tra hành vi của HS với MT hiện nay
Biểu đồ 2.1 Hình thức GDMT mà GV thường xuyên sử dụng
Biểu đồ 2.2 Tác dụng của HĐNGLL nhằm GDMT cho HS
Biểu đồ 2.3 Những thuận lợi và khó khăn của giáo viên khi tổ chức các
HĐNGLL nhằm GDMT trong dạy học ở Tiểu học Biểu đồ 3.1 Kết quả bài kiểm tra của HS trước và sau khi thực nghiệm
của lớp 4/5 Biểu đồ 3.2 Kết quả bài kiểm tra của HS trước và sau khi thực nghiệm
của lớp 4/6 Biểu đồ 3.3 Kết quả kiểm tra về thái độ của HS với MT trước và sau khi
thực nghiệm của lớp Biểu đồ 3.4 Kết quả kiểm tra về hành vi của HS với MT trước và sau
khi thực nghiệm
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề môi trường trong những năm gần đây nổi lên như một trong những mối quan tâm hàng đầu của nhân loại Cùng với sự phát triển kinh tế ồ ạt, dưới sự tác động của khoa học - kĩ thuật, sự gia tăng dân số quá nhanh, con người đã khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên, tàn phá môi trường, gây nên những tác động nặng nề đến môi trường trên nhiều phương diện Có thể nói môi trường hiện nay đang lâm vào khủng hoảng với quy mô toàn cầu và trở thành nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống và
sự tồn vong của loài người
Giáo dục môi trường có thể tiến hành thông qua nhiều cấp học khác nhau, song giáo dục môi trường ở Tiểu học chiếm một vị trí quan trọng, vì bậc học tiểu học là bậc học nền tảng, giáo dục và đào tạo ra những chủ nhân tương lai của đất nước Họ phải được giáo dục một cách có hệ thống về tư tưởng, thái độ, tình cảm ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường Bên cạnh đó, giáo dục nhận thức cho học sinh tiểu học dễ dàng hơn, vì các em còn đang là những tờ giấy trắng Việc giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học vừa đạt lợi ích trước mắt, vừa có lợi ích lâu dài, vì vậy mà việc làm này được xem là có tác dụng rộng lớn, sâu sắc và bền vững nhất
Chương trình sách giáo khoa ở bậc Tiểu học đã đưa nhiều nội dung giáo dục bảo
vệ môi trường vào các môn học Giáo dục môi trường ở Tiểu học hiện nay được xúc tiến thông qua hai con đường: con đường trực tiếp thông qua giảng dạy các môn văn hóa và con đường gián tiếp thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp, hai hoạt động này liên kết với nhau nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường Nếu hoạt động chính khóa nhằm hình thành chủ yếu cho học sinh kiến thức về môi trường và bảo vệ môi trường thì các hoạt động ngoài giờ lên lớp giáo dục môi trường không chỉ giúp mở rộng kiến thức mà còn giúp học sinh hình thành kỹ năng, thái độ và hành vi bảo vệ môi trường Nó huy động sự tham gia của nhiều học sinh, đòi hỏi học sinh phải vận dụng những kiến thức đã học, linh hoạt giải quyết vấn đề Có thể xem hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa giáo dục môi trường là một trong những biện pháp tốt nhất
để hình thành ở học sinh ý thức, thái độ, tình cảm và hành vi bảo vệ môi trường Việt Nam hôm nay và ngày mai
Trang 12Việc nâng cao hiểu biết tự nhiên, xã hội và các vấn đề về môi trường thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp chính là biện pháp hiệu quả để kích thích khả năng nghiên cứu, suy luận, và óc sáng tạo của học sinh Tuy nhiên, những tài liệu nghiên cứu về hoạt động ngoài giờ lên lớp về giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học chưa nhiều, phần lớn chỉ dừng lại ở lí thuyết chung, như thế sẽ không phát huy được hết tác dụng của các hoạt động ngoài giờ lên lớp trong việc giáo dục môi trường
Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Thiết kế một số hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp về nội dung giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học”
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài
2.1 Ở nước ngoài
Thuật ngữ GDMT được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1948, trong hội nghị liên hiệp quốc tế về BVMT và tài nguyên thiên nhiên ở Paris Kể từ đó GDMT đã được nhiều quốc gia, các tổ chức, các nhà khoa học trên thế giới quan tâm
Tại hội thảo quốc tế về GDMT ở Belgrade (Nam Tư) tháng 10 năm 1975, chương trình GDMT quốc tế (EEF) đã đưa ra nghị định khung và tuyên bố về nguyên tắc hướng dẫn GDMT Từ sau hội thảo Belgrade, chương trình GDMT quốc tế bắt đầu được triển khai và có khoảng hơn 60 quốc gia trên thế giới đã đưa GDMT vào trường học
Ở các quốc gia trên thế giới như Anh, Pháp, Mỹ… trong hệ thống các trường trung học phổ thông thì GDMT được tiến hành một cách hiệu quả GDMT được xem
là nội dung quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân Ở Mỹ, liên đoàn quốc gia bảo vệ cuộc sống hoang dã (NFW) đã tiến hành giảng dạy 33 bài về môi trường ngay ở các trường tiểu học Ở pháp chương trình hành động GDMT được đưa vào trường tiểu học và trung học Ở Anh, GDMT được xác định là một môn học khoảng vài ba thập kỷ gần đây, còn ở Ba Lan kiến thức về môi trường và BVMT được trang bị từ lớp một trong các môn học chủ yếu như: Địa Lí, Sinh học, Văn học, Mỹ Thuật Thậm chí còn
có những tiết học riêng về GDMT
Ở các quốc gia Châu Á như: Thái Lan, Indonesia, Brunei… GDMT cũng được đưa vào trường học một cách có hệ thống Các nước khác trong khu vực như: Malaysia, Philipin, cũng đã tiến hành lồng ghép GDMT vào các môn học như Sinh, Địa, Hóa, Lý…
Trang 13Tóm lại, ở hầu hết các quốc gia trên thế giới đã đưa GDMT vào trong trường học theo những cách khác nhau, có thể là dựa vào các môn học, lồng ghép với các môn học khác hay thực hiện bằng cách kết hợp giữa giáo dục với các tổ chức xã hội Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của các nước cho thấy, nếu chỉ tham gia ở trên lớp là chưa đủ, GDMT sẽ hiệu quả hơn thông qua các hoạt động bên ngoài, đặc biệt là các HĐNG
xử lý vi phạm với mức xử phạt song song với các hành vi vi phạm Luật ra đời đem lại rất nhiều ý nghĩa trong cuộc sống Bên cạnh đó, có nhiều tác giả đã có những đề tài, công trình nghiên cứu về BVMT như:
- Trong cuốn sách “Đạo đức môi trường ở nước ta - Lý luận và thực tiễn” do GS.TS Vũ Dũng, Viện trưởng Viện Tâm lý học, tổng biên tập Tạp chí Tâm lý học viết
đã trình bày về các vấn đề cơ bản sau: Phần thứ nhất “Một số vấn đề lý luận cơ bản về đạo đức môi trường”, trong phần này tác giả trình bày một số khái niệm (đạo đức, đạo đức môi trường, các tiêu chí đánh giá đạo đức môi trường ) Đây là vấn đề lý luận còn khá mới mẻ ở nước ta hiện nay Phần thứ hai “Kinh nghiệm bảo vệ môi trường ở một số nước nhìn từ góc độ đạo đức môi trường”, trong phần này cuốn sách phân tích kinh nghiệm bảo vệ môi trường của một số quốc gia, chỉ ra những khía cạnh đạo đức của những hoạt động bảo vệ môi trường này Đây là những kinh nghiệm quý chúng ta
có thể học tập Đây là cuốn sách đầu tiên phân tích về đạo đức môi trường ở nước ta
một cách hệ thống từ lý luận đến thực tiễn Nó có thể góp phần vào việc giáo dục và hình thành đạo đức môi trường ở nước ta hiện nay
- Tài liệu “Môi trường và giáo dục môi trường” do Lê Văn Khoa chủ biên được Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam phát hành với nội dung: các vấn đề chung về khoa học môi trường, sinh thái quyển và các kiểu hệ sinh thái chính, tác động của con người
Trang 14đối với môi trường, giới thiệu một số văn bản liên quan đến chính sách môi trường và hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường
Ở nước ta có nhiều công trình nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau của HĐNGLL như vai trò, hình thức tổ chức, biện pháp tổ chức trong nhà trường và ngoài nhà trường Trong sự nghiệp đổi mới giáo dục, HĐGDNGLL được chính thức đưa vào trong chương trình giáo dục với yêu cầu bắt buộc và thống nhất dưới sự chỉ đạo của
Bộ Giáo dục và Đào tạo Để triển khai chương trình và sách GV “Hoạt động ngoài giờ lên lớp”, nhiều tác giả nghiên cứu đã đề cập đến nhiều lĩnh vực khác nhau của HĐNGLL:
- Trong sách “Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp” Hà Nhật Thăng đã nêu lên mục tiêu, nội dung, chương trình, phương tiện, trang thiết bị của việc tổ chức HĐNGLL, hướng dẫn cụ thể việc thực hiện các chủ điểm giáo dục, cũng như đánh giá kết quả tổ chức hoạt động này
- Tài liệu “Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường tiểu học của tác giả Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Dục Quang, Đỗ Trọng Văn” đã đề cập đến vấn đề đổi mới nội
dung, phương pháp và hình thức tổ chức HĐNGLL… giáo dục quốc tế cho học sinh qua HĐNGLL
- Góp phần đổi mới công tác đào tạo và bồi dưỡng giáo viên tiểu học, Dự án phát triển giáo viên tiểu học đã biên soạn các Modun nhằm bồi dưỡng năng lực tổ chức
hoạt động cho giáo viên, trong đó có tiểu Modun “Thực hành tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp” đã trình bày rõ những vấn đề về HĐNGLL và cách thức tổ
chức một hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, đây là tài liệu được biên soạn theo phương pháp mới và rất hữu ích cho các giáo viên Tiểu học
- Trong tài liệu “ Hoạt động ngoài giờ lên lớp có nội dung thân thiện với môi trường”, tác giả Ngô Thị Tuyên đã đi sâu vào nghiên cứu các modun dạy học nhằm
giáo dục môi trường cho HS Nội dung của 50 modun này nói về các phương pháp xây dựng trường học xanh, sạch, đẹp; xây dựng lối sống lành mạnh, tiết kiệm, chia sẻ, tương thân, tương ái; tìm hiểu về môi trường thiên nhiên và môi trường thiên nhiên và mối quan hệ giữa các sinh vật trong hệ sinh thái; giữ gìn và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và xây dựng tình yêu động vật, thực vật, môi trường thiên nhiên
Đối với bậc Tiểu học, có nhiều công trình nghiên cứu đáng chú ý nghiên cứu về mục tiêu, nội dung và các phương pháp nhằm nâng cao chất lượng GDMT cho học
Trang 15sinh tiểu học Trong đó đáng chú ý đến tài liệu “Modun TH 43 giáo dục bảo vệ môi trường qua các môn học ở tiểu học” của tác giả Nguyễn Thị Hường đã nghiên cứu rất
đầy đủ về nội dung và địa chỉ tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong các môn học
ở tiểu học như Tiếng việt, Đạo đức, TNXH, Khoa học, Lịch sử và địa lí
Trong tài liệu “ Hướng dẫn tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho HS lớp 5” của các tác giả Lưu Thu Thùy (chủ biên), Lê Thị Tuyết Mai, Ngô
Quang Quế, Bùi Sỹ Tụng đã trình bày rất rõ về một số vấn đề chung như: đặc điểm lứa tuổi học sinh, mục tiêu chương trình học, các nội dung và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh lớp 5 và quy trình để tổ chức một hoạt động ngoài giờ lên lớp
Như vậy các nghiên cứu trên đã đưa ra những vấn đề cơ bản của GDMT và HĐNGLL trong nhà trường, góp phần thay đổi hành vi và nhận thức của HS hiện nay Tuy nhiên, các công trình này chưa đi sâu vào việc thiết kế một số HĐNGLL cụ thể, nhất là trong tình hình hiện nay Mặc dù vậy, các công trình nghiên cứu trên là nguồn tài liệu tham khảo bổ ích, giúp tôi về cơ sở lý luận, những định hướng cũng như gợi ý
để xây dựng và thực hiện đề tài của mình
3 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, tôi thiết kế một số hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp nhằm giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu: Quá trình giáo dục môi trường cho học sinh Tiểu
học
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Giáo dục môi trường qua hình thức tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh Tiểu học
5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thức tiễn của vấn đề giáo dục môi trường và tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp nhằm giáo dục môi trường
- Thiết kế một số hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp có nội dung giáo dục môi trường
Trang 16-Thực nghiệm một số hình thức tổ chức các hoạt động ngoài giờ nhằm đánh giá tính khả thi, hiệu quả của các hình thức
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Thiết kế các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp có nội dung giáo dục môi trường là chủ yếu
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Tham khảo một số tài liệu về môi
trường, giáo dục môi trường, các tài liệu về tâm lí học và các hoạt động bàn về việc tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp Việc nghiên cứu các tài liệu này giúp tôi có căn
cứ để xác định được các khả năng, tiêu chí để lựa chọn các hình thức tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp phù hợp
6.2 Phương pháp điều tra bằng anket: Chúng tôi sử dụng phiếu trưng cầu ý
kiến trên cả giáo viên và học sinh nhằm tìm hiểu:
- Nhận thức của giáo viên và học sinh về môi trường và bảo vệ môi trường
- Tìm hiểu thực trạng vấn đề tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ cho học sinh tiểu học
6.3 Phương pháp thực nghiệm: Nhằm kiểm tra tính đúng đắn của mục đích đã
đề ra, kiểm định tính khả thi và hiệu quả của các hình thức hoạt động ngoài giờ đã thiết kế
6.4 Phương pháp thống kê toán học: Nhằm phân tích, xử lí các số liệu thu
được khi điều tra và thực nghiệm
7 Cấu trúc đề tài
Phần mở đầu
Phần nội dung: Gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Thiết kế một số HĐNGLL có nội dung GDMT cho HSTH
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Phần kết luận và kiến nghị
Trang 17PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Trong các nghiên cứu về môi trường người ta quan tâm nhiều đến thuật ngữ “Môi trường sống” Theo Caude A Villee et all, 1989, thì “Môi trường sống
là một phần môi trường mà trong đó một sinh vật hay một quần thể sinh vật sinh sống (Dự án quốc gia VIE/95/041, 1998) Đối với con người, môi trường quan trọng nhất là “Môi trường sống của con người” hay còn gọi là “Môi trường con người” [4] Theo định nghĩa của UNESCO (năm 1981) thì: “Môi trường con người bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra trong đó con người sống và bằng lao động của mình, khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thoả mãn những nhu cầu của con người” [4] Qua các khái niệm trên chúng ta có thể nhận thấy MT sống của con người là một hệ thống rất phức tạp và đa dạng, bao gồm môi trường tự nhiên, môi trường nhân tạo và môi trường kinh tế - xã hội Chúng có quan hệ chặt chẽ, gắn bó hài hoà với nhau Đặc biệt là sau hội nghị Môi trường và phát triển của Liên Hợp Quốc tại Rio De Janero (Braxin) năm 1992, khái niệm môi trường được mở rộng hơn, đó là khái niệm “Môi trường bền vững” Khái niệm này nhấn mạnh đến việc giải quyết những mâu thuẫn giữa sự phát triển kinh tế,
xã hội mà không ảnh hưởng đến môi trường sống của con người, tạo sự hài hoà lâu dài và bền vững giữa sự phát triển sản xuất và bảo vệ môi trường Các khái niệm về MT rất phong phú và đa đạng Tuy nhiên, trong phạm vi
Trang 18đề tài này, thuật ngữ “Môi trường” được hiểu theo khái niệm MT tương đối rõ ràng và đầy đủ trong “Luật bảo vệ môi trường” của nước ta ban hành tháng 1
năm 1994 như sau: “Môi trường bao gồm toàn bộ các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống vật chất, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên” (Điều 1) [19]
1.1.1.2 Bảo vệ môi trường
F.Ănghen đã nói “Bản thân con người là sản phẩm của tự nhiên, con người tồn tại trong môi trường tự nhiên và cùng phát triển với môi trường tự nhiên đó” Do đó, BVMT là yêu cầu cấp thiết của con người, cho con người và vì con người
Thuật ngữ “Bảo vệ môi trường” mới chỉ được xuất hiện trong những năm đầu của thế kỉ XX Lần đầu tiên khái niệm này chỉ được dừng lại ở mức độ là
“bảo vệ tự nhiên” và được giải thích là “ý muốn chung hướng tới sự bảo tồn những di sản của thiên nhiên và việc chăm sóc chúng….” Về sau, nội dung của khái niệm này được mở rộng và cụ thể hoá thêm BVTN không chỉ là bảo tồn những đối tượng hiếm, đặc biệt của tự nhiên để chúng khỏi bị tiêu diệt và tuyệt chủng, mà còn là việc sử dụng một cách hợp lí các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường khỏi bị ô nhiễm, làm giàu thêm các nguồn tài nguyên, gìn giữ
và bảo tồn phong cảnh, các di tích văn hoá - lịch sử…và khái niệm “Bảo vệ
tự nhiên”được thay thế bằng khái niệm “Bảo vệ môi trường”
Khái niệm “Bảo vệ môi trường” được luật “Bảo vệ môi trường” của Việt
Nam, 1993, ghi rõ : “Bảo vệ môi trường là những hoạt động giữ gìn cho môi trường trong lành, sạch đẹp, cải thiện môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục những hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường, khai thác, sử dụng hợp lí và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên”
Như vậy, BVMT không hạn chế quá trình phát triển kinh tế - xã hội mà chính là đảm bảo hiệu quả kinh tế - xã hội cao hơn, đồng thời bảo vệ được chất lượng cuộc sống của mỗi chúng ta Ngược lại, chúng ta phải phát triển kinh tế xã hội
mà không tàn phá, huỷ hoại môi trường thiên nhiên, không giảm thiểu tiềm năng tương lai, bảo vệ môi trường sống và nâng cao không ngừng chất lượng cuộc sống [19]
Trang 191.1.1.3 Giáo dục môi trường
Hai từ “giáo dục” và “môi trường” được chính thức kết hợp với nhau lần đầu tiên vào khoảng giữa những năm 1960 Khái niệm giáo dục môi trường (GDMT) được hình thành ở nước Anh là nhờ ở Sir Patrick Geddes, một giáo sư thực vật học người Scotland Ông đã chỉ ra mối liên hệ quan trọng giữa chất lượng môi trường với chất lượng giáo dục vào khoảng năm 1982
Năm 1972, Hội nghị toàn cầu lần thứ nhất về Môi trường nhân văn được tổ chức
ở Stockholm (Thuỵ Điển) và khái niệm GDMT chính thức ra đời, góp phần giúp con người nhận thức rõ được tác động của mình đối với môi trường Đến tháng 10/1975, IEEP tổ chức hội thảo quốc tế về GDMT tại Belgrade đưa ra nghị định khung và tuyên
bố về mục tiêu và nguyên tắc hướng dẫn GDMT
Năm 1975, Martin bắt đầu cố gắng thay đổi một số hiểu biết về môi trường Trong định nghĩa của ông, chủ yếu nhấn mạnh đến khía cạnh chính trị trong GDMT, cũng như đến đạo lý và giá trị Trên bình diện quốc tế, thuật ngữ “giáo dục môi trường” đã được sử dụng ở Stockholm năm 1972 tại Hội nghị toàn cầu lần thứ nhất về Môi trường nhân văn Nhưng chỉ đến Hội nghị ở Belgrade nó mới được định nghĩa trên quy mô toàn cầu Kể từ đó, cộng đồng quốc tế thừa nhận định nghĩa về GDMT là
“quá trình nhằm phát triển một cộng đồng dân cư có nhận thức rõ ràng và quan tâm đến toàn bộ môi trường cùng những vấn đề liên quan, có kiến thức, kỹ năng, động cơ
và cam kết để có thể làm việc độc lập hoặc hợp tác với người khác nhằm tìm ra giải pháp cho những vấn đề hiện có và phòng chống những vấn đề có thể xảy ra trong tương lai”
Một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử phát triển định nghĩa GDMT là Hội nghị quốc tế về GDMT trong Chương trình học đường do IUCN/UNESCO tổ chức tại
Nevada, Mỹ năm 1970 Hội nghị này đã thông qua định nghĩa sau về GDMT: “Là quá trình thừa nhận giá trị và làm rõ khái niệm để xây dựng những kỹ năng và thái độ cần thiết giúp hiểu biết và đánh giá đúng mối tương quan giữa con người với nền văn hóa
và môi trường lý sinh xung quanh mình GDMT cũng tạo cơ hội cho việc thực hành để
ra quyết định và tự hình thành quy tắc ứng xử trước những vấn đề liên quan đến chất lượng môi trường”
Trang 20Năm 1992, Hội nghị Thượng đỉnh về Trái đất được tổ chức ở Rio de Janeiro, Brazil Tại Hội nghị này, vấn đề GDMT được nhấn mạnh và đưa vào chương trình Nghị sự 21: đưa khái niệm về môi trường và phát triển vào tất cả các chương trình giáo dục, xây dựng các chương trình đào tạo cho học sinh và sinh viên
Điều quan trọng là cần nhận thấy, rằng trong tất cả những định nghĩa khác nhau này, có một số điểm cơ bản chung có tính cố hữu
Thứ nhất, GDMT là một một quá trình diễn ra trong một khoảng thời gian ngắn,
ở nhiều địa điểm khác nhau, thông qua những kinh nghiệm khác nhau và bằng những
phương thức khác nhau; Thứ hai, rằng GDMT nhằm thay đổi hành vi; Thứ ba, rằng khung cảnh học tập là bản thân môi trường và những vấn đề có trong thực tế; Thứ tư,
rằng GDMT bao gồm giải quyết vấn đề và ra quyết định về cách sống Nói một cách gián tiếp, nhờ tập trung vào phát triển kỹ năng, những định nghĩa này muốn nói rằng việc học phải tập trung người học và lấy hành động làm cơ sở Như vậy có thể hiểu được rằng:
“GDMT là một quá trình phát triển những tình huống dạy/học hữu ích giúp người dạy và người học tham gia giải quyết những vấn đề môi trường có ảnh hưởng đến họ và tìm ra những câu trả lời dẫn đến một lối sống có trách nhiệm, được thông tin đầy đủ”
1.1.1.4 Hoạt động ngoài giờ lên lớp
Theo lí luận giáo dục hiện đại, hoạt động được coi là phương tiện giáo dục quan trọng nhất Do đó, để hình thành nhân cách cho người được giáo dục học sinh, cần tổ chức các loại hình hoạt động khác nhau cho các em (học tập,lao động, vui chơi, hoạt động xã hội, hoạt động tập thể) Một số tác giả nghiên cứu về HĐNGLL đã đưa ra khái niệm này như sau:
- Theo chương trình trung học cơ sở do Bộ giáo dục và Đào tạo biên soạn : “Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học của các môn học ở trên lớp Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là sự tiếp nối hoạt động dạy – học trên lớp, là con đường gắn lí thuyết với thực tiễn, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức với hành động của học sinh” [tr99, 3]
- Theo nghiên cứu của Đặng Vũ Hoạt : “Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là việc tổ chức giáo dục thông qua hoạt động thực tiễn của học sinh về khoa học-kĩ thuật, lao động công ích, hoạt động xã hội, hoạt động nhân đạo, văn hóa văn nghệ, thẩm mĩ,
Trang 21thể dục thể thao, vui chơi giải trí, v v để giúp các em hình thành và phát triển nhân cách (đạo đức, năng lực, sở trường…) [tr7, 8]
Với những cách hiểu như vậy ta có thể đi đến phát biểu khái niệm về
HĐGDNGLL như sau: “HĐNGLL là hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các môn học ở tiểu học, nối tiếp, thống nhất hữu cơ với hoạt động giáo dục trong giờ học trên lớp, là cầu nối giữa công tác giảng dạy trên lớp với công tác giáo dục HS ngoài lớp ở trường tiểu học thông qua các hoạt động học tập, lao động, sinh hoạt tập thể, vui chơi giải trí, góp phần giáo dục toàn diện, hình thành và phát triển nhân cách cho HSTH” [6]
Như vậy, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là hoạt động giáo dục được tổ chức ngoài thời gian học tập trên lớp Đây là một trong hai hoạt động giáo dục cơ bản, được thực hiện một cách có tổ chức, có mục đích theo kế hoạch của nhà trường; là hoạt động tiếp nối và thống nhất hữu cơ với hoạt động học tập trên lớp, nhằm góp phần hình thành và phát triển nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo, đáp ứng những yêu cầu đa dạng của xã hội đối với thế hệ trẻ
1.1.2 Một số vấn đề về giáo dục môi trường trong trường Tiểu học
1.1.2.1 Vai trò, vị trí của giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học
Tiểu học là bậc học cơ bản, là cơ sở ban đầu hết sức quan trọng cho việc đào tạo các em trở thành công dân tốt cho đất nước Mục đích quan trọng của giáo dục môi trường không chỉ làm cho các em hiểu rõ tầm quan trọng của bảo vệ môi trường mà quan trọng là phải hình thành thói quen, hành vi ứng xử văn minh, thân thiện với môi trường Nếu ở cấp học này các em chưa hình thành được tình yêu thiên nhiên, sống hòa đồng với thiên nhiên, quan tâm tới thế giới xung quanh, có thói quen sống ngăn nắp, vệ sinh thì ở các cấp sau khó có thể bù đắp được Vì vậy, nội dung và cách thức bảo vệ môi trường trong trường tiểu học mang tính quyết định đối với việc hình thành những phẩm chất đó Thêm vào đó, số lượng học sinh tiểu học rất đông chiếm khoảng gần 10% dân số Con số này sẽ nhân lên nhiều lần nếu các em biết và thực hiện được tuyên truyền về BVMT trong cộng đồng, tiến tới tương lai có cả một thế hệ biết bảo vệ môi trường
1.1.2.2 Mục tiêu giáo dục bảo vệ môi trường trong trường tiểu học
Giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học nhằm:
Trang 22- Làm cho học sinh bước đầu biết và hiểu: Các thành phần môi trường gồm đất, nước, không khí, ánh sáng, động vật, thực vật và quan hệ giữa chúng; mối quan hệ giữa con người và các thành phần môi trường; ô nhiễm môi trường; biện pháp bảo vệ môi trường xung quanh (nhà ở, trường, lớp học, thôn xóm, bản làng, phố phường, )
- Học sinh bước đầu có khả năng: Tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường phù hợp với lứa tuổi (trồng, chăm sóc cây, làm cho môi trường xanh - sạch - đẹp), sống hòa hợp, gần gũi, thân thiện với tự nhiên Sống tiết kiệm, ngăn nắp, vệ sinh, chia sẻ, hợp tác Yêu quý thiên nhiên, gia đình, trường lớp, đất nước Thân thiện với môi trường, quan tâm đến môi trường xung quanh [4]
1.1.2.3 Một số nội dung về giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học ở Việt Nam
Trong chương trình Tiểu học hoạt động ngoài giờ lên lớp được quy định mỗi tuần ít nhất 1 tiết Nội dung GDMT có thể được lồng ghép vào những buổi sinh hoạt lớp, sinh hoạt Đội… Căn cứ vào những chủ đề chung cho toàn bộ bậc học, chương trình giáo dục bảo vệ môi trường được quy định cho các khối lớp theo hai mức độ: Các lớp 1,2,3 và các lớp 4,5 Đối với HSTH nói chung, yêu cầu cơ bản cần đạt ở độ tuổi này là:
- Nhận biết, biết mộ số đặc điểm cơ bản về vai trò của cây cối, con vật, các hiện tượng thiên nhiên, một số danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử
- Bước đầu hình thành và phát triển những kỹ năng quan sát, nhật xét, nên thắc mắc, đặt câu hỏi
- Biết cách biểu đạt hiểu biết của mình về những sự vật, hiện tượng đơn giản trong tự nhiên
- Biết làm những việc đơn giản thiết thực để bảo vệ môi trường tại trường, lớp, gia đình, cộng đồng
- Hình thành và phát triển ý thức, hành vi bảo vệ cây cối, con vật có ích, yêu thiên nhiên, trường học, nhà ở, cộng đồng Có ý thức thực hiện quy tắc giữ vệ sinh cho bản thân, gia đình, cộng đồng, không nghịch phá các công trình công cộng Giáo dục bảo vệ môi trường qua hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh Tiểu học gồm có các chủ đề sau:
+ Ngôi nhà của em: Nhà trường sạch sẽ, gọn gàng, ngăn nắp có ảnh hưởng tốt đến sức khỏe con người Vì vậy, các em phải biết thường xuyên tự giác giữ gìn nhà
Trang 23cửa sạch sẽ, gọn gàng, giữ gìn và sử dụng cẩn thận các đồ dùng gia đình, trồng và chăm sóc cây, con vật nuôi trong gia đình
+ Mái trường thân yêu của em: Các em cần biết những điều nên làm và không nên làm trong bảo vệ giữ gìn môi trường, yêu quý giữ gìn bảo vệ môi trường nhà trường, thực hiện quy định bảo vệ cảnh quan môi trường, tích cực tham gia các hoạt động giữ gìn trường lớp xanh - sạch - đẹp
+ Em yêu quê hương: Cảm nhận được vẻ đẹp nơi mình sinh sống, biết một số nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường tại cộng đồng, yêu quý và có ý thức giữ gìn, bảo
vệ môi trường, tham gia vào các hoạt động giữ gìn bảo vệ môi trường tại cộng đồng + Môi trường sống của em: Củng có kiến thức qua các môn học về các thành phần cơ bản của môi trường xung quanh như đất, nước, không khí, ánh sáng, động vật, thực vật Một số biểu hiện về ô nhiễm môi trường, nhận biết cảnh quan môi trường xung quanh, có những việc làm đơn giản thiết thực để giữ gìn và bảo vệ môi trường xung quanh
+ Em yêu thiên nhiên: Con người sinh sống trong thiên nhiên và là một bộ phận của thiên nhiên, phá hoại thiên nhiên, môi trường tự nhiên xung quanh sẽ gây tác hại đối với cuộc sống con người Vì vậy, các em cần biết cảm nhận, yêu quý vẻ đẹp của thiên nhiên, bảo vệ thiên nhiên, tham gia trồng và chăm sóc cây xanh, chăm sóc yêu quý những con vật nuôi
+ Vì sao môi trường bị ô nhiễm: Nhận biết và chỉ ra một số nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường đến con người và các sinh vật khác, thực hiện những hành động cụ thể để tránh làm ô nhiễm môi trường
+ Tiết kiệm trong tiêu dùng: Biết tiết kiệm và góp phần bảo vệ môi trường, quý trọng các đồ dùng, tài sản thiên nhiên, sản phẩm lao động, tiết kiệm sử dụng hợp lý các
đồ dùng trong sinh hoạt, học tập, biết phân loại tận dụng phế thải
GDMT là một nội dung giáo dục trong trường Tiểu học Do đó, đặc thù GDMT
có thể sử dụng nhiều phương pháp dạy học đa dạng như thảo luận nhóm, trò chơi, phương pháp dự án, đóng vai, đồng thời GDMT còn sử dụng các phương pháp dạy học đặc thù của các môn học
Trang 241.1.2.4 Một số quan điểm về việc xây dựng nội dung giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học
Quá trình xây dựng nội dung GDMT cho học sinh tiểu học được dựa trên các quan điểm sau:
a) Nội dung GDMT cho học sinh tiểu học nhằm hình thành và giáo dục cho trẻ đồng
bộ cả ba mặt: kiến thức, kĩ năng và thái độ đối với MT
Khi biên soạn nội dung GDMT cần phải xuất phát từ nhu cầu, kinh nghiệm của các em, trên cơ sở những gì các em đã biết, những gì các em muốn biết và những gì các em cần biết Nội dung GDMT không chỉ cung cấp những hiểu biết về MT xung quanh mà điều quan trọng là phải hình thành được những kĩ năng BVMT, giáo dục cho học sinh ý thức, thái độ tôn trọng, quý mến trong việc BVMT
b) Nội dung GDMT được xây dựng theo quan điểm tích hợp
Các nội dung GDMT được biên soạn lồng ghép với các nội dung của chương trình chăm sóc - giáo dục học sinh theo quan điểm đổi mới, tránh không làm nặng thêm chương trình đã có Không xây dựng thành một chương trình GDMT riêng
Khi biên soạn phải lấy bản thân học sinh làm xuất phát điểm để xem xét nó trong các mối quan hệ: học sinh với thế giới động - thực vật, học sinh với tài nguyên, học sinh với các hiện tượng thiên nhiên; với văn hóa ứng xử và học sinh với các quan hệ
xã hội khác
c) Quá trình thực hiện các nội dung GDMT cho học sinh tiểu học được thực hiện thông qua các hoạt động khác nhau:
Hoạt động vui chơi (chơi trò chơi đóng vai người làm vườn, hay công nhân công
ty môi trường đô thị ); qua các hoạt động lao động đơn giản (chăm sóc cây cối, con vật, dọn vệ sinh lớp học ) và thông qua các chương trình học tập, đặc biệt là qua việc
sử dụng một cách hợp lý góc thiên nhiên và những điều kiện vốn có ở địa phương vào việc GDMT
d) Nội dung GDMT cho học sinh tiểu học phải thể hiện được tính đặc thù về nhận thức, tình cảm và hành động của các em với việc BVMT
1.1.3 Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở Tiểu học
1.1.3.1 Vai trò của hoạt động ngoài giờ lên lớp ở trường Tiểu học
HĐGDNGLL ở trường tiểu học là hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các môn học chính khóa ở tiểu học, nối tiếp thống nhất hữu cơ với hoạt động giáo dục
Trang 25trong giờ học trên lớp; là cầu nối giữa công tác giảng dạy trên lớp với công tác giáo dục HS ngoài lớp HĐGDNGLL ở trường tiểu học có những vai trò sau:
- Là nơi thể nghiệm, vận dụng và củng cố tri thức trên lớp
- Là dịp, cơ hội để học sinh tự bộc lộ nhân cách toàn vẹn, từ đó tự khẳng định vị trí của mình
- Là môi trường nuôi dưỡng và phát triển tính chủ thể cho học sinh : chủ động, tích cực,độc lập và sáng tạo
- Là dịp tốt để thu hút cả ba lực lượng giáo dục cùng tham gia giáo dục
1.1.3.2 Các nhiệm vụ của hoạt động ngoài giờ lên lớp
Khi đề cập đến mục tiêu GDTH, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã khẳng định rằng : “Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho
sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở” (Trích Mục tiêu giáo dục tiểu học: Theo Nghị định số 43/ 2001/ QĐ – BGD – ĐT ngày 9 –11 – 2001 của
Bộ Giáo Dục và Đào tạo) [2] Để đạt được mục tiêu chung HĐGDNGLL ở trường
tiểu học cũng tập trung thực hiện hiệu quả ba nhiệm vụ:
- Giáo dục ý thức: Tổ chức HĐGDNGLL giúp HS củng cố tri thức các môn học
trên lớp đồng thời bổ sung thêm những tri thức mới về tự nhiên, xã hội, con người trong bài học trên lớp chưa có điều kiện để mở rộng, phát triển Từ những hình thức
đa dạng của HĐGDNGLL các em có nhiều cơ hội tiếp xúc với khoa học công nghệ mới, những tri thức mới trong hoạt động lao động, xã hội, kinh tế… Có điều kiện tìm hiểu khám phá các phát minh mới, các thành quả lao động sáng tạo, những nét văn hóa độc đáo của dân tộc và các nước trên thế giới
- Giáo dục thái độ: Là thành phần cơ bản của ý thức con người nói chung và
HSTH nói riêng, ý thức được luyện rèn trong hoạt động, thông qua HĐGDNGLL bộc lộ sở trường, năng lực, hứng thú của các em đồng thời thể hiện lòng tự tin, sự tôn trọng bạn bè, mọi người, tôn trọng quy định, chuẩn mực đạo đức để tạo nên nhân cách toàn diện trong các em, những tình cảm đẹp được nảy sinh Thông qua cử chỉ, hành động, ứng xử trong giao tiếp, thể hiện tự nhiên, sự thân thiện,
sẻ chia, đồng cảm, sự kính trọng, biết ơn
- Giáo dục hành vi, thói quen: hành vi của HS được hình thành như kỹ
năng, thực hiện các công việc lao động đơn giản, kỹ năng sáng tạo nghệ thuật
Trang 26thông qua việc thể hiện các bài hát, đọc thơ, kể chuyện… Kỹ năng tham gia các hoạt động tập thể thông qua trò chơi, diễn tiểu phẩm, đóng kịch, kỹ năng tổ chức những hoạt động chung, kỹ năng tự quản trong sinh hoạt tập thể, biết phối hợp cùng thực hiện, kỹ năng giao tiếp hình thành, nâng cao ý thức tự tin, chủ động, HS dựa vào những kỹ năng, hành vi này để rèn luyện kỹ xảo, thói quen đạo đức bền vững
1.1.3.3 Những nội dung của hoạt động ngoài giờ lên lớp ở trường tiểu học
– Phản ánh cuộc sống học tập, sinh hoạt và rèn luyện của học sinh tiểu học ở nhà trường, gia đình và xã hội
- Thông tin cập nhật trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội phù hợp với nhận thức của học sinh tiểu học
- Tạo cơ hội để học sinh tiểu học phát triển các khả năng của mình trong các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Những nội dung của HĐGDNGLL trong trường tiểu học được thể hiện ở các loại hình hoạt động sau đây :
Hoạt động văn hóa - nghệ thuật
Đây là một loại hình hoạt động quan trọng, không thể thiếu được trong sinh hoạt tập thể của trẻ em, nhất là học sinh ở bậc tiểu học Hoạt động này bao gồm nhiều thể loại khác nhau : Hát, múa, thơ ca, kịch ngắn, kịch câm, tấu vui, độc tấu, nhạc cụ, thi kể chuyện, vẽ…
- Tập một bài hát, điệu múa
- Trình diễn một chương trình văn nghệ
- Thi văn nghệ giữa các tổ học sinh
- Tổ chức vẽ tự do hoặc vẽ theo chủ đề
Hoạt động vui chơi giải trí, thể dục thể thao
- Vui chơi giải trí là nhu cầu thiết yếu của trẻ, đồng thời là quyền lợi của các
em Nó là một loại hoạt động có ý nghĩa giáo dục to lớn đối với học sinh ở trường tiểu học
- Hoạt động này làm thoã mãn về tinh thần cho trẻ em sau những giờ học căng thẳng
- Góp phần rèn luyện một số phẩm chất : Tính tổ chức, kỉ luật, nâng cao tinh thần trách nhiệm, tinh thần đoàn kết, lòng nhân ái…
Trang 27- Một số trò chơi :
+ Đứng ngồi theo lệnh (rèn khả năng tập trung)
+ Nhóm ba, nhóm bảy (rèn phản xạ nhanh, tinh thần tập thể)
+ Tập tầm vông (rèn khả năng phán đoán)
+ Chi chi chành chành (rèn phản xạ nhanh, khả năng tập trung)
+ Sáng tối (rèn phản xạ nhanh, khả năng quan sát, hài hước và cố định động tác…)
+ Chuyền bóng tiếp sức (rèn sự khéo léo, nhanh nhẹn và sự phối hợp)
Hoạt động xã hội
- Bước đầu đưa các em vào các hoạt động xã hội để giúp các em nâng cao hiểu biết về con người, đất nước, xã hội nhằm giáo dục tình cảm đối với quê hương đất nước, con người v.v…
- Các hình thức hoạt động: Tham gia công tác từ thiện, quỹ nhi đồng, đóng góp ủng hộ cho nạn nhân chất độc màu da cam, làm vệ sinh sạch đẹp môi trường v.v…
Hoạt động lao động công ích
- Là một loại hình đặc trưng của HĐGDNGLL Thông qua lao động công ích
sẽ giúp trẻ gắn với đời sống xã hội
- Lao động công ích góp phần làm cho trẻ hiểu thêm về giá trị của lao động,
từ đó giúp trẻ có ý thức lao động lành mạnh
- Lao động công ích giúp trẻ vận dụng kiến thức vào đời sống như: Trực nhật, vệ sinh lớp học, sân trường, làm đẹp bồn hoa, cây cảnh cho đẹp trường lớp
Hoạt động tiếp cận khoa học - kĩ thuật
- Là hoạt động giúp các em tiếp cận được những thành tựu khoa học - công nghệ tiên tiến Điều đó sẽ tạo cho các em sự say mê, tìm tòi, kích thích các em học tập tốt hơn
- Những hoạt động này có thể là sưu tầm những bài toán vui, tham gia sinh hoạt câu lạc bộ khoa học, hội vui khoa học, tìm hiểu các danh nhân, các nhà bác học…
Trang 281.1.3.4 Các hình thức tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp ở tiểu học
Có rất nhiều hình thức tổ chức HĐGDNGLL và mỗi hình thức đều có những đặc điểm và lợi thế riêng, những lợi thế đó đã tạo nên hứng thú cho các em HS Ở các trường tiểu học thường có 3 loại hình thức tổ chức giáo dục cơ bản là:
- Sinh hoạt theo chủ điểm
- Tiết chào cờ
- Tiết sinh hoạt lớp
Ngoài ra, các hoạt động tổ chức giáo dục ngoài giờ lên lớp rất đa dạng và phong phú, hình thức tuỳ thuộc vào điều kiện tổ chức của các trường như:
- Ngoại khóa về các vấn đề thời sự xã hội
1.1.4 Đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học
Tri giác của HSTH thường gắn với hành động, hoạt động thực tiễn Với các em tri giác sự vật có nghĩa là phải làm cái gì đó với sự vật: cầm, nắm, sờ vào sự vật đó Tính xúc cảm thể hiện rõ trong tri giác của HSTH Những dấu hiệu, đặc điểm nào của sự vật gây cho các em cảm xúc thì được các em tri giác trước hết Vì vậy những cái trực quan, rực rỡ, sinh động được các em tri giác tốt hơn
Trang 29Tri giác không gian thời gian của HS tiểu học còn hạn chế, trẻ gặp khó khăn khi phải tri giác một sự vật quá to hoặc quá nhỏ Các em khó hình dung được những khoảng thời gian như ngày xửa ngày xưa, kỷ nguyên, thế kỉ
Chính vì vậy việc tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp với các phương tiện trực quan sẽ giúp tăng cường khả năng quan sát của trẻ
b Tư duy
Sự phát triển tư duy của HSTH trải qua 2 giai đoạn:
Giai đoạn thứ nhất (lớp 1, lớp 2): Ở giai đoạn này tư duy trực quan vẫn chiếm
ưu thế Việc học tập của trẻ chủ yếu dựa trên việc phân tích, so sánh, đối chiếu dựa trên các đối tượng và hình ảnh trực quan cụ thể Tư duy của trẻ ở lứa tuổi này vẫn còn
bị cái tổng thể chi phối Tư duy phân tích bắt đầu hình thành nhưng còn yếu nên các biểu tượng được hình thành ở trẻ chưa thật chính xác và vững chắc Trẻ có thể bị nhầm lẫn, sai sót trong khi lĩnh hội các âm, vần, các quy tắc ngữ pháp đơn giản Phán đoán, suy luận của các em thường dựa theo một chiều, dựa vào một dấu hiệu duy nhất Trong tư duy, việc phân loại, phân hạng của các em thường dựa vào những dấu hiệu bề ngoài tác động mạnh mẽ đến các giác quan như màu sắc, hình dạng, kích thước,…
Giai đoạn thứ hai (lớp 3 đến lớp 5): Trong giai đoạn này cùng với sự phát triển của hoạt động học tập, tư duy của các em dần chuyển sang trừu tượng và khái quát hơn Cụ thể là việc các em đã biết tính nhẩm trong đầu, khi học bài có thể không đọc
to thành tiếng, các hành động phân tích, tổng hợp của các em đã phát triển và dựa vào nhiệm vụ học tập đề ra, đồng thời khi khái quát các em đã biết dựa vào dấu hiệu bản chất chung của một loại đối tượng để khái quát thành định nghĩa, quy luật chứ không dựa trên đặc điểm riêng biệt của sự vật, hiện tượng Bên cạnh đó, trong phán đoán, suy luận các em đã biết một sự vật có thể diễn biến theo nhiều hình thức, một hiện tượng xảy ra có thể do nhiều nguyên nhân Các em đã có khả năng đưa ra những căn cứ lập luận cho những phán đoán của mình Tuy nhiên phần lớn những khái quát và phán đoán của HSTH còn dựa vào những dấu hiệu được tri giác một cách cụ thể Tuy nhiên các em còn gặp nhiều khó khăn khi xác định và hiểu mối quan hệ nhân quả Các em xác định mối quan hệ từ nguyên nhân đến kết quả dễ dàng hơn là mối quan hệ từ kết quả đến nguyên nhân
Với những đặc điểm trên, việc xây dựng HĐNGLL lớp phải chú trọng đến hình thức và phương pháp tổ chức phù hợp mới đem lại hiệu quả cao trong dạy học
Trang 30c Chú ý
Chú ý có chủ định của HS còn yếu Khả năng điều chỉnh chú ý một cách có ý chí chưa mạnh Sự chú ý của HS còn đòi hỏi một động cơ gần thúc đẩy, đặc biệt là đầu cấp Chú ý không chủ định phát triển mạnh ở HSTH, vì vậy việc sử dụng mô hình, biểu đồ, tranh vẽ, sự vật thật với màu sắc rực rỡ dễ thu hút được sự chú ý của các em Tuy vậy cần chú ý rằng HSTH rất mẫn cảm Những ấn tượng trực quan quá mạnh có thể tạo ra một trung khu hưng phấn mạnh ở vỏ não, kết quả là sẽ kiềm hãm khả năng phân tích và khái quát tài liệu học tập Hứng thú có thể kích thích và duy trì chú ý không chủ định vì vậy muốn trẻ chú ý ta cần tìm cách làm cho sự vật trở nên lý thú Chính vì vậy khi thiết kế các hoạt động giáo dục, nhà giáo dục cần phải nắm được đặc điểm này để thiết kế các hoạt động một cách đa dang, thu hút được sự chú ý của học sinh
1.1.4.2 Đặc điểm nhân cách
a Nhu cầu nhận thức
Nhu cầu nhận thức của HS tiểu học phát triển rất rõ nét đặc biệt là nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh Đầu tiên là nhu cầu tìm hiểu các sự việc riêng lẻ (lớp 1, 2), sau đó đến nhu cầu phát hiện nguyên nhân, quy luật, các mối quan hệ, liên hệ mang tính phụ thuộc giữa các hiện tượng (lớp 3, 4, 5) Nếu như HS lớp 1 có nhu cầu tìm hiểu
“cái đó là cái gì?” thì HS các lớp cuối bậc học lại có nhu cầu giải quyết các câu hỏi
“tại sao” và”như thế nào?”
Nhu cầu nhận thức có vai trò quan trọng trong việc phát triển trí tuệ của HS tiểu học Nếu các em không có nhu cầu nhận thức thì cũng không có tính tích cực trí tuệ
Do đó việc thiết kế hoạt động phù hợp với nhu cầu nhận thức của trẻ rất cần thiết, các nhà giáo dục nên đa dạng hóa các hoạt động để phù hợp với nhận thức của các em, nội dung hoạt động cần lấy từ những chất liệu từ cuộc sống, gần gũi và thiết thực
b Tình cảm
Tình cảm là một mặt rất quan trọng trong đời sống tâm lý nói chung và nhân cách nói riêng Đối với HS tiểu học thì tình cảm còn có vai trò đặc biệt vì nó là khâu quan trọng gắn liền nhận thức với hành động của các em Xúc cảm tình cảm của HS tiểu học có những đặc điểm sau:
- Đối tượng gây ra xúc cảm cho HS tiểu học thường là những sự vật hiện tượng
cụ thể, sinh động
Trang 31c Ý chí
Việc hình thành năng lực hành động ý chí được bắt đầu từ tuổi thơ khi mà đứa trẻ tiến hành những hành động có sự khắc phục khó khăn HSTH chưa có khả năng đạt mục đích xa và phức tạp cho hành động của mình Chưa có khả năng tự lập chương trình hành động Do ý chí chưa được phát triển đầy đủ, nên trẻ chưa biết theo đuổi một mục đích lâu dài được đề ra, chưa kiên trì khắc phục khó khăn và trở ngại Các phẩm chất ý chí như tính độc lập, tính tự kiềm chế còn thấp nên trẻ trông chờ nhiều vào sự giúp đỡ của người khác khi thực hiện hành động
Điều cần chú ý đối với HSTH là các em tiến hành hoạt động của mình chỉ dựa trên mục đích trước mắt, còn các mục đích lâu dài thì các em còn chưa hiểu và thực hiện được Chính vì vậy, khi xác định mục tiêu cho các hoạt động ngoài giờ lên lớp, nhà giáo dục phải phân chia mục tiêu đó ra thành một số mục tiêu cụ thể, dễ hiểu và gần gũi với các em hơn để các em có thể thực hiện
1.2.1.2 Đối tượng điều tra
Chúng tôi đã tiến hành điều tra HS trên 2 lớp 4/5 và 4/6 trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng
Trang 321.2.1.3 Phương pháp điều tra
- PP điều tra an- ket (phiếu điều tra): các nội dung chúng tôi đưa ra ở trên được thể hiện dưới dáng câu hỏi đóng và mở trong phiếu điều tra An-ket
- PP xử lý thống kê: chúng tôi đã phát ra 83 phiếu ở HS và thu lại 83 phiếu, Những số liệu mà chúng tôi thu được từ phiếu điều tra được xử lý bằng PP thống kê Toán học, qua đó, đưa ra nhận xét
Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng PP trò chuyện
1.2.1.4 Nội dung điều tra
Chúng tôi tiến hành điều tra một số vấn đề sau:
- Thực trạng nhận thức và hành vi của học sinh tiểu học đối với môi trường và bảo vệ môi trường
- Sự hứng thú và kết quả việc sử dụng hoạt động ngoài giờ lên lớp nhằm giáo
dục môi trường cho học sinh
1.2.1.5 Kết quả điều tra
Nhằm kiểm tra sự hiểu biết kiến thức về môi trường tôi đã thiết kế bài kiểm tra (xem ở phụ lục) cho HS 2 lớp 4/5 và 4/6 và kết quả thu được như sau:
Trang 33Biểu đồ 1.1: Kết quả bài kiểm tra lớp 4/5
Biểu đồ 1.2: Kết quả bài kiểm tra lớp 4/6
Qua kết quả bài kiểm tra cho thấy, mức độ các em đạt điểm giỏi không cao, hầu hết các học sinh đều đạt điểm khá và vẫn có nhiều HS đạt loại trung bình Lớp 4/5 có 27,5% HS đạt điểm giỏi, 62,5% đạt điểm khá và 10% đạt loại trung bình Lớp 4/6 có 23,2% HS đạt điểm giỏi, có 62,3% HS đạt điểm khá và loại trung bình có 14,5% Kết quả này cũng cho chúng ta biết được về tình hình hiểu biết về các vấn đề môi trường hiện nay, các em có những hiểu biết ban đầu về môi trường và trách nhiệm BVMT nhưng chưa sâu sắc, tầm nhìn của các em mới chỉ hướng về các hành vi theo chiều hướng tốt Có thể các em làm một việc gây ảnh hưởng tới môi trường nhưng chính
Trang 34các em không biết hoặc không hiểu hết mức độ ảnh hưởng xấu của nó tới môi trường Khi được hỏi về cách cách phân loại rác thải các em còn mơ hồ Như vậy, việc GDMT cho học sinh đang đòi hỏi cụ thể và sâu sắc hơn nữa Cần GDMT cho các em trong chính môi trường, trong chính cuộc sống đang hàng ngày hàng giờ diễn ra xung quanh các em
Điều tra thái độ của học sinh trước các vấn đề về môi trường hiện nay tôi thu lại được kết quả sau:
Các phát biểu
đồng ý
1 Đốt rừng làm nương rẫy không ảnh hưởng gì tới rừng 5 6 78 94
2 Cần tiêu diệt những động vật hoang dã để chúng không
3 Cần bảo vệ các loài động vật cả có lợi và có hại đối với
6 Cứ dùng thoải mái bì nilon, chai lọ vì giá thành rẻ 42 50 41 50
7 Sử dụng nước thoải mái vì nước không bao giờ hết 10 12 73 88
8 Vứt rác, thải nước cống xuống ao hồ sông suối 0 0 83 100
9 Bầu trời rất lớn nên việc thải các khí từ nhà máy, xí nghiệp
Bảng1.2 : Kết quả điều tra thái độ của học sinh với môi trường hiện nay
Trang 35Biểu đồ1.3 : Kết quả điều tra thái độ của học sinh với môi trường hiện nay
Ghi chú:
A1: Đốt rừng làm nương rẫy không ảnh hưởng gì tới rừng
A2: Cần tiêu diệt những động vật hoang dã để chúng không gây nguy hại cho con người
A3: Cần bảo vệ các loài động vật cả có lợi và có hại đối với con người
A4: Có rất nhiều cây trong rừng nên chúng ta có thể chặt, phá tuỳ thích
A5: Bắt động vật hoang dã về nuôi, giết để làm thuốc chữa bệnh
A6: Cứ dùng thoải mái bì nilon, chai lọ vì giá thành rẻ
A7: Sử dụng nước thoải mái vì nước không bao giờ hết
A8: Vứt rác, thải nước cống xuống ao hồ sông suối
A9: Bầu trời rất lớn nên việc thải các khí từ nhà máy, xí nghiệp không ảnh hưởng
Qua biểu đồ, chúng ta có thể thấy được đa số các em HS đã có những hiểu biết
và thái độ đúng trước những việc làm có ảnh hưởng tốt với môi trường và những việc làm có ảnh hưởng xấu đối với môi trường, cụ thể các em cho rằng: Đốt rừng làm nương rẫy; Chặt phá rừng bừa bãi; Sử dụng bì nilon, chai lọ bừa bãi, không hợp lí; Vứt rác xuống ao, hồ, sông suối… là những hành vi gây ảnh hưởng, có tác hại xấu đối với với môi trường, chúng ta không nên làm
Bên cạnh đó, nhiều em HS có ý kiến trái chiều: Các em cho rằng hành vi “ Đốt rừng làm nương rẫy” không ảnh hưởng đến môi trường (6%), hành vi “Cần tiêu diệt những động vật hoang dã để chúng không gây nguy hại cho con người” là đúng
Trang 36(89%), các em cũng đồng ý với việc “Cứ dùng thoải mái bì nilon, chai lọ vì giá thành rẻ” và “Bắt động vật hoang dã về nuôi, giết để làm thuốc chữa bệnh” (4,8%)
Kết quả điều tra về hành vi của học sinh thu lại được như sau:
Các việc em sẽ làm
Tỉ lệ cùng ý kiến (%)
2 Không tùy tiện vứt rác xuống ao, hồ, sông, suối 83 100
7 Vận động mọi người trong gia đình cùng bảo vệ rừng 80 96
8 Bảo quản đồ dùng học tập, đồ dùng cá nhân làm bằng gỗ 83 100
9 Tham gia săn bắt, vận chuyển các động vật hoang dã 0 0
Bảng 1.3 Kết quả điều tra về hành vi của học sinh với môi trường
Trang 37Biểu đồ 1.4: Kết quả điều tra về hành vi của học sinh với môi trường
Ghi chú:
B1: Không đốt lửa trong rừng
B2:Không tùy tiện vứt rác xuống ao, hồ, sông, suối
B3: Phận loại rác để xử lí thuận lợi hơn
B4: Nhắc bố mẹ tắt máy khi dừng đèn đỏ
B5: Tận dụng lại chai lọ, bì nilon
B6: Chặt cây nhỏ trong rừng về làm củi
B7: Vận động mọi người trong gia đình cùng bảo vệ rừng
B8: Bảo quản đồ dùng học tập, đồ dùng cá nhân làm bằng gỗ
B9: Tham gia săn bắt, vận chuyển các động vật hoang dã
Biểu đồ cho thấy, nhìn chung HS đã có những hành vi rất tích cực trong việc bảo
vệ môi trường Các em đã có những suy nghĩ việc các làm tích cực như: Không đốt lửa trong rừng; không tùy tiện vứt rác xuống ao, hồ sông suối; biết nhắc bố mẹ tắt máy khi dừng đèn đỏ; đồng ý với hành vi bảo quản đồ dùng học tập, cá nhân bằng gỗ… Tuy nhiên, vẫn rất nhiều em đồng tình với các hành vi “chặt cây nhỏ trong rừng làm củi” (30%) và tỉ lệ chọn “Phân loại rác để xử lí thuận lợi hơn” rất ít (51%)
Qua bài kiểm tra trên có thể thấy rằng, mặc dù đã có những kiến thức nhất định
về môi trường nhưng vẫn chưa có hành vi, thái độ thật sự tích cực đối với môi trường Vậy, với thực tế nhận thức và hành vi về MT và bảo vệ MT như trên của học sinh tiểu
Trang 38học thì việc tổ chức HĐNGLL có nội dung GDMT rất cần thiết để các em có một thái
độ, một ý thức trách nhiệm cao hơn nữa với những hành vi của mình, có thể phát huy hết khả năng lao động phù hợp với lứa tuổi để các em có một thái độ, một ý thức trách nhiệm cao hơn nữa với những hành vi của mình, có thể phát huy hết khả năng lao động phù hợp với lứa tuổi
1.2.2 Thực trạng việc tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp nhằm GDMT cho học sinh tại trường thực nghiệm
1.2.2.1 Mục đích điều tra
Nhằm tìm hiểu thực trạng việc vận dụng HĐNGLL vào việc GDMT ở bậc Tiểu học Từ đó, rút ra những nguyên nhân dẫn đến thực trạng này Đề xuất và thiết kế một
số hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp nhằm giáo dục môi trường cho học sinh
1.2.2.2 Đối tượng điều tra
Chúng tôi đã tiến hành điều tra trên 15 giáo viên đang giảng dạy tại các lớp 4 và
5, trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng
1.2.2.3 Phương pháp điều tra
- PP điều tra an- ket (phiếu điều tra): các nội dung chúng tôi đưa ra ở trên được thể hiện dưới dạng câu hỏi đóng và mở trong phiếu điều tra An-ket
- PP xử lý thống kê: chúng tôi đã phát ra 15 phiếu ở GV và thu lại 15 phiếu, Những số liệu mà chúng tôi thu được từ phiếu điều tra được xử lý bằng PP thống kê Toán học, qua đó, đưa ra nhận xét
Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng PP trò chuyện
1.2.2.4 Nội dung điều tra
Chúng tôi tiến hành điều tra một số vấn đề sau:
- Thực trạng việc tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp nhằm GDMT cho học sinh tại trường thực nghiệm
- Những thuận lợi và khó khăn trong việc tổ chức HĐGDNGLL
- Sự hứng thú và kết quả việc sử dụng hoạt động ngoài giờ lên lớp nhằm giáo dục môi trường cho học sinh
1.2.2.5 Kết quả điều tra
Tìm hiểu về nhận thức của giáo viên về chất lượng môi trường xung quanh trường học, tôi đã đặt ra câu hỏi : Cô (thầy) có nhận xét gì về chất lượng môi trường không khí xung quanh trong trường học? Và kết quả thu lại được như sau:
Trang 39Bảng 2.1: Nhận thức của GV về chất lượng môi trường xung quanh
Qua điều tra tôi nhận thấy rằng, các giáo viên cũng đã có sự quan sát về các hiện tượng MT xung quanh, có nhận thức đúng đắn từ đó có thể giáo dục ý thức cho học sinh từ những gì gần gũi nhất Tôi cũng tiếp tục đặt ra câu hỏi: Theo cô (thầy) giáo dục môi trường cho HSTH có tầm quan trọng như thế nào? Và kết quả là 100% giáo viên đều cho rằng việc GDMT cho học sinh là rất cần thiết Như vậy, đây là dấu hiệu đáng mừng vì việc GDMT cho học sinh trong chương trình học đã có tầm quan trọng rất lớn
Nhằm điều tra về việc giáo viên sử dụng những hình thức giáo dục môi trường nào cho học sinh tôi đã đặt ra câu hỏi: “Thầy cô thường giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh vào lúc nào?” và kết quả thu lại được như sau:
Liên hệ giáo dục ngay trong giờ học 15 100
Thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên
lớp
Bảng 2.2 : Hình thức GDMT mà giáo viên thường hay sử dụng
Trang 40Biểu đồ 2.1: Hình thức GDMT mà các GV hay sử dụng
Qua kết quả trên tôi nhận thấy rằng, giáo viên đã rất chú trọng cho việc GDMT cho học sinh thông qua các tiết học (100%) và trong quá trình quan sát các biểu hiện, hành vi của học sinh (100%), việc GDMT thông qua các HĐNGLL cũng được thầy cô vận dụng nhưng không thường xuyên, đây là một dấu hiệu rất tích cực đối với việc hình thành nhận thức cho học sinh Tiểu học, vì Tiểu học là bậc học nền tảng Tuy nhiên việc GDMT cho HS qua các phương pháp và hình thức truyền thống chưa phù hợp với việc bùng nổ công nghệ thông tin hiện nay Do đó, cần tổ chức các HĐNGLL cho học sinh để GDMT một cách sâu sắc hơn
Nhằm kiểm tra nhận thức của giáo viên về tác dụng của các HĐNGLL tôi đã đặt ra câu hỏi: Theo cô (thầy) hoạt động ngoài giờ lên lớp có nội dụng giáo dục môi trường cho học sinh có những tác dụng gì? Kết quả thu lại được như sau:
1
Mở rộng kiến thức về môi trường và bảo vệ