1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thu hoạch điền dã sau khi thăm quan chùa phổ minh tại nam định

39 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thu hoạch điền dã sau khi thăm quan chùa phổ minh tại nam định
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử văn hóa
Thể loại bài viết
Năm xuất bản 2023
Thành phố Nam Định
Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 6,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC MỞ ĐẦU 2 PHẦN 1: THÔNG TIN DI TÍCH 3 1. Tên di tích 3 2. Quá trình xây dựng và các đợt trùng tu di tích 3 PHẦN 2: QUY HOẠCH VÀ KIẾN TRÚC 4 1. Thế đất và cảnh quan môi trường 4 2. Mặt bằng tổng thể chùa Phổ Minh 5 3. Trang trí kiến trúc nội ngoại thất 6 PHẦN 3: GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT 17 1. Nội dung lý lịch các pho tượng thờ chủ yếu 17 2. Hình thức thể hiện các pho tượng thờ kể trên 19 KẾT LUẬN 25 Phụ lục ảnh 26

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2

PHẦN 1: THÔNG TIN DI TÍCH 3

1 Tên di tích 3

2 Quá trình xây dựng và các đợt trùng tu di tích 3

PHẦN 2: QUY HOẠCH VÀ KIẾN TRÚC 4

1 Thế đất và cảnh quan môi trường 4

2 Mặt bằng tổng thể chùa Phổ Minh 5

3 Trang trí kiến trúc nội ngoại thất 6

PHẦN 3: GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT 17

1 Nội dung lý lịch các pho tượng thờ chủ yếu 17

2 Hình thức thể hiện các pho tượng thờ kể trên 19

KẾT LUẬN 25

Phụ lục ảnh 26

Trang 2

Từ tín ngưỡng, Phật giáo có ảnh hưởng sâu sắc tới nhiều lĩnh vực kháctrong xã hội chính trị, văn học – nghệ thuật, kiến trúc,… để lại cho dân tộcnhiều công trình văn hóa có giá trị lớn Nếu như ở thời Lý, chùa được xâydựng nhiều, rất lớn bầng tiền của nhà nước thì thời nhà Trần, sau ba lần chốngquân Nguyên – Mông thắng lợi, nền kinh tế bị sa sút nhiều do chiến tranh tànphá, chùa vào thời kỳ này chủ yếu là chùa làng – do dân một làng đống góptiền xây dựng lên Nhà nước không đủ khả năng kinh tế xây dựng chùa tháptrên cả nước mà chỉ đủ tiền xây dựng lại kinh đô Thăng Long và quê hươngcủa dòng họ nhà Trần, như vậy thời nhà Trần bắt đầu phát triển hình thứcchùa làng nhưng chùa Phổ Minh không phải chùa làng mà là chùa của Hoàngtộc, lấy tiền kho của nhà nước xây dựng vào thời nhà Trần.

Trang 3

PHẦN 1: THÔNG TIN DI TÍCH

1 Tên di tích

Chùa Phổ Minh ( Phổ Minh Tự) còn được gọi là chùa Tức Mặc haychùa Tháp Chùa Phổ Minh là ngôi chùa thuộc quần thể di tích nhà Trần, naythuộc địa phận thôn Tức Mặc, xã Lộc Vượng, cách thành phố Nam Định 5km

về phía Bắc Nơi đây vốn là quê hương của dòng họ nhà Trần.Tổ tiên các vuaTrần vốn làm nghề chài lưới ở quãng sông Châu chảy qua địa phận NamĐịnh, sau đó tụ họp thành xóm ấp bên hữu ngạn sông, còn gọi là hương TứcMặc (sau này được nâng lên thành phủ Thiên Trường)

2 Quá trình xây dựng và các đợt trùng tu di tích

Theo sử liệu, địa chí, bi kí,… thì chùa Phổ Minh khởi dựng từ thời nhà

Lý tại hương Tức Mặc Cho đến bắt đầu năm 1239, các vua Trần đã biến quêhương Tức Mặc của mình thành một công trường lớn Thợ thuyền được tuyểnchọn cùng với phu lính đi làm việc ròng rã mấy chục năm liền để xây dựngnhững cung điện, đền miếu, dinh thự, lầu gác làm nơi ở cho hoàng thân quốcthích Đây là trung tâm thứ hai của đất nước bên cạnh kinh đô Thăng Long

Và để đáp ựng nhu cầu lễ Phật cho con em hoàng tộc trong vùng, năm 1262,chùa Phổ Minh được xây dựng Hơn nửa thể kỉ sau, vào đầu thế kỉ XIV, năm

1305 vua Trần tiếp tục cho xây cây tháp Phổ Minh, hoàn thiện kiến trúc chùa

Vì vậy ta có thể hiểu “ Nhà Lý xây dựng, họ Trần “ điểm tô” – chùa xây dựng

từ triều Lý sang thời Trần, nhờ phái Trúc Lâm mà chùa cảnh được mở khangtrang lộng lẫy

Chùa Phổ Minh kể từ các đời vua Trần kính thờ đến nay hơn 700 năm,đời nào cũng có tu sửa để hoàn thiện nhưng không được ghi chép lại trong sổsách, chỉ có ghi tại bia Lê Cảnh Trị và một số bia trong chùa Dựa trên phầncông đứcở văn bia trong chùa thì có hàng trăm người thuộc đủ tầng lớp, dòng

Trang 4

họ từ quý phái đến bình dân trên mọi miền đất nước, cũng như con em địaphương góp tiền tài, vật lực phục hồi tôn tạo cho chùa.

Vào thế kỉ XVI, công trình xuống cấp, công chúa nhà Mạc là MạnNgọc Lâm cùng hội chủ Thái Bảo Đà quốc công Mạc Ngọc Liễn liên tụcđóng góp 36 cây gỗ lim cực lớn để sửa chùa

Đến thế kỉ XVII, chùa cành hư hỏng, tỳ khoe Thích Hội Thông và Sa

Di Vân Thủy lại tu sửa chùa, sủa chữa, sơn thiếp tượng Phật

Đầu thế kỉ XVIII, vào năm Nhâm Thìn 1712, niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ

8 bản xã góp công sửa chữa tòa tháp trước cửa chùa

Sang thời Lê, Nguyễn công việc trùng tu tôn tạo cũng được quan tâmnhiều lần Thành phần công đức tu sửa chùa có tầng lớp quan chức, tôn thấtquyền quý, … đặc biệt là vai trò của địa phương Có lần các chức sắc hàng xãđứng ra lo liệu, tu sửa tháp Phổ Minh

Năm Nhâm Tý 1912, vua nhà Nguyễn, niên hiệu Duy Tân đã phục hồicảnh chùa như tu sủa lầu, chùa, phủ và lầm thêm hai dãy giải vũ Đông- Tây,cung đình nội ngoại cũng làm đầy đủ

Sau này, nhà nước tái khẳng định đay là di tích, di sản văn hóa tiêu biểucủa dân tộc nên sớm xếp hạng và bảo vệ, đồng thời đã tiến hành tu sửa vàocác năm 1961, 1987, 1994 Sửa chữa tầng trên của tháp, một số di sản nhưrồng đá trước cửa chùa, tôn tạo một số hạng mục để bảo toàn di tích, kiếntrúc này cho hậu thế

PHẦN 2: QUY HOẠCH VÀ KIẾN TRÚC

1 Thế đất và cảnh quan môi trường

Chùa Phổ Minh là danh lam tiêu biểu đất Thiên Trường Thế đất vàcảnh quan đã được ghi lại “Phổ Minh đỉnh tự”, đức năm Bính Thìn, niên hiệuCảnh Thịnh thứ 4 (1796): “Chùa phổ Minh trước đây vón là danh lam củanước Việt, xây dựng vào thời Lý, mở mang trong thời Trần cho hợp cảnh nơi

Trang 5

quê vua Đất nàng bên trái có nước quanh co uốn khúc, bên phải nhấp nhônhư núi cao thấp, chạy vòng, mặc bắc có sông Hoàng tụ thủy, mặt nam códòng nước chảy mênh mang …”

Thời gian cùng với những biến thiên lịch sử đã làm cho quang cảnh nơiđây thay đổi Song sự biến dạng không nhiểu Hiện nay, chùa vẫn quay vềhướng Nam mà theo quan niệm của người Việt thì hướng Nam là hướng tốt

để dựng nhà – “ Lấy vợ hiền hòa, làm nhà hướng Nam” Chùa tọa lạc trên khuđất cao ráo, rộng gần 2ha, đứng biệt lập, không bị các thổ cư lấn át, do vậyvẫn giữ được dáng vẻ thanh cao, tĩnh mịch của chống cửa chùa Điều mà ítchùa cảnh có được là 2 cây muỗm cổ thụ khoảng vài ba trăm tuổi xum xuê,xanh tốt, cùng với các cây đại, nhãn thị, cây tháp cổ không chỉ làm tăngthêm vẻ thanh u, còn đăng đối thêm vẻ đẹp cho tháp và cho chùa

Vào khu sân ngoài của chùa, hai bên đường chính đạo là 2 hồ sen nhỏ.Xưa kia đây là 2 giếng nhỏ mà dân gian gọi là “ mắt rồng”, sau này được mởrộng thành hồng sen

Phái sau chùa là vườn bia, được bao bọc bởi vườn cây xanh mát và có

ao Tuy nhiên, diện tích ao ngày càng bị thu hẹp lại

2 Mặt bằng tổng thể chùa Phổ Minh

Ở chùa Phổ Minh, các nghệ nhân kiến trúc sư thời xưa không nhữngbiết sử dụng địa hình, địa vật của thiên nhiên để sáng tạo ra không gian cảnhquan tươi đẹp cho kiến trúc mà ngay trong việc bố trí mặt bằng cũng thể hiện

sự hiểu biết khoa học của cha ông ta

Đầu tiên phải kể đến là tam quan của chùa, đi qua cổng tam quan là tớimột con đường mà trong thuật ngữ kiến trúc cổ gọi là “thần đạo” Con đườngnày chạy thẳng tới một bình phong kiểu cuốn thư ở phía trước chân tháp vàtách làm đôi rồi đi thẳng tới tòa tiền đường hai bên đường ở vị trí đối xứng làhai hồ nước hình tròn có trồng hoa sen Ba tòa tiền đường, thiêu hương,

Trang 6

thượng điện của chùa kết cấu theo kiểu hình chữ công với hai dãy hành lang chạyhai bên, sau tòa thượng điện cách một sân gạch là tới nhà Tổ, hai bên nhà Tổ làtăng phòng và điện Mẫu Toàn bộ ba tòa tiền đường, thiêu hương, thượng điệncùng với hai dãy hành lang hai bên và nhà Tổ, tăng phòng, điện Mẫu tạo thànhmột kiểu kết cấu mặt bằng kiến trúc “ Nội công ngoại quốc” Ngay phía sau nhà

Tổ có ba ngôi tháp nhỏ một tăng trong đó ngôi ở giữa có niên đại từ thời Mạc đãtừng tu ở chùa Cách khu tháp mộ này khoảng 15m là khu mộ tháp của các nhà sư

đã từng trụ trì ở chùa Một điều cần chú ý tới trong mặt bằng tổng thể chùa PhổMinh là hai ao sen phía trước sân chùa, sau tam quan Việc đào hai ao tròn nàyngoài yếu tố phong thủy ra còn làm tăng thêm vẻ đẹp vốn có của chùa “kiến trúcchùa cổ Việt Nam hình như không tìm sự đồ sộ về chiều cao, rộng trong khônggian mà nhân đôi mình lên khi soi bóng trong trên mặt nước … Bố cục kiến trúcrất quan tâm đến mặt nước phẳng lặng phía trước hay hai bên công trình kiếntrúc” Hoa sen trồng trong hồ tạo lên dáng vẻ thiên nhiên cho kiến trúc và qua đóthể hiện ý nghĩa Phật triết

Điều cuối cùng khi đề cập đến tổng thể mặt bằng kiến trúc của chùaPhổ Minh là vị trí của ngọn tháp chính Không như những ngọn tháp đượclàm sau này được đặt ở sau nhà Tổ, ngọn tháp này được đặt trước sân chùa

3 Trang trí kiến trúc nội ngoại thất

Chùa Phổ Minh là ngôi chùa Đại Thừa, Bắc Tông, có quy mô lớn, lànơi tu hành tụng niệm của các quan lại, quý tộc cao cấp nhà Trần được bố trítheo kiểu nội công ngoại quốc và thể hiện rất rõ dấu ấn sự hòa đồng ba tôngiáo (Nho – Phật – Lão)

Công trình bố cục theo trục đối xứng Bắc – Nam, các hạng mục từ totới nhỏ xây dựng cân đối khiến tổng thể trải dài, rộng, tạo khung cảnh hài hòaquy mô mà vẫn khép kín, không làm mất đi vẻ hoành tráng của chùa

Trang 7

a Tam quan

Vào chùa trước hết phải qua một cổng tam quan ba gian bằng gỗ, máingói, tường gạch có đề bốn chữ rất lớn “Đại hùng bảo điện” ở phía trên, còn ởphía dưới có bậc tam cấp, với đôi sấu làm thành bậc ở gian giữa Hai bêntường ở phía trong thuộc phần dằng trước của tam quan có đắp nổi hai phùđiêu mang tư cách như hai ông hộ pháp và hai con hổ bằng vữa phía trướctam quan có hai cây cột hoa biểu đứng ở hai bên Về kiến trúc tam quan cókiểu kết cấu chồng diêm và đầu hồi bít đốc Qua kiểu kết cấu này ta biết rằngtam quan có niên đại khá muộn vào khoảng thời Nguyễn cuối thế kỉ XIX đầuthế kỉ XX, khi nhìn vào công trình kiến trúc có kết cấu này, mới đầu ta có thẻlầm tưởng công trình có hai tầng và có thể đi lên tầng hai được Song đây làkiểu kết cấu “ Diêm thức” nên không có cầu thang để đi lên tầng hai được,các tầng không được chia rõ ràng mà đây chỉ là một cách tạo dáng

Cổng tam quan làm kiểu chồng diêm ba gian mái thẳng, bít đốc Đầuhồi mặt tiền có hai trụ hoa biểu, trên có đôi nghê chầu dáng vẻ tự nhiên Bậctam quan có đôi sóc đá chàu đăng đối, đây là ranh giới phân tam quan thành

ba cửa cửa giữa là “ trung quan”, còn hai bên là cửa “giả quan” và “vô quan”.Bước qua cổng tam quan là vào chùa Vào chùa là vào cõi không, sạch vươngvấn để giải thoát mọi khổ não, để có tâm trong sáng – đó là tâm Phật Hệthống tường rào có hoa văn trang trí, không quá cao nên khu nhà bia sân thápkhông bị che khuất

Từ tam quan theo đường chính đạo vào khu sân ngoài của chùa, hay cóthể coi là khu sân tháp bởi cách cửa chùa khoảng 6m là cây báo tháp PhổMinh Hai bên tháp là hai nhà bia thời Lê làm kiểu chồng diêm mái cong, nhàbia ghi lại quá trình xây dựng những nét kiến trúc và những lần trùng tu chùa.Bia quá to nên nhà nhà bia không thể xây nhỏ

Trang 8

Đáng lưu ý là trên sân chùa đặt hai hàng chân tảng bằng đá, đục bôngsen nở rộ Giữa hai hàng chân tảng còn có 4 tảng hoa sen đặt theo hình vuông

mà theo lời kể thì cho thấy đây là vị trí kê vạc Phổ Minh Vạc Phổ Minh đượccoi là một trong An Nam Tứ Đại Khí

Tại khu sân chùa còn có 2 cây hương đá cao khoảng 1.60m, tạo hìnhbát giác, mỗi cạnh khắc hàng chữ tở ý kính trọng các đức Phật và chư vị BồTát Phía trong 2 cây hương, có hai cột kinh đá cũng tạc theo kiểu bát giác caogần 4m Phần giữa 2 cây hương còn có bát hương cổ bằng đá khá lớn, đượctrạm mây tản, mặt nguyệt

b Tháp Phổ Minh

Khi đã nói đến chùa Phổ Minh chắc chắn phải nói đến cây tháp ở phíatrước sân chùa Cây tháp này cho đến ngày nay là một thành phần kiến trúcquan trọng nhất của chùa Phổ Minh và là một trong những cây tháp cổ nhấtcủa nước ta còn tồn tại và giữ được khá nguyên vẹn hình dáng ban đầu

Về nguồn gốc cũng như vai trò của ngôi tháp trong Phật giáo Cũngnhư đạo Phật, kiến trúc tháp Phật giáo bắt nguồn từ Ấn Độ và là một trong bathành phần cơ bản của kiến trúc Phật giáo: tháp mộ, chùa thờ Phật, tăng viện

Ngọn tháp chính ở trước sân chùa Phổ Minh cao 13 tầng chưa kể đếtháp Cao 21,2m, chân đế hình vuông cạnh dài 5m20 bề thế và vững chắc,được xây dựng năm 1305 Đây là tháp mộ, có đặt một phần xá lị Điều ngựGiác hoàng đệ nhất cổ phái Trúc Lâm là vua Trần Nhân Tông Nhiều thế kỷnay tháp vẫn hiên ngang vươn cao, tạo điểm nhấn độc nhất vô nhị cho cổ tự

Tầng một được dựng trên một đài sen nở cách điệu khiến tháp như nổitrên một bông hoa sen không lồ Trên hai lớp cáh sen có đường gờ nhô lên,mặt nằm của gờ cũng chính là mặt nền tầng một Mái của các tầng đều rấthẹp Điều đáng chú ý là triến trúc đã biết giải quyết các tầng mái bằng cáchxây gạch nhỏ dần ra thành nhiều lớp cấp nhỏ, uốn cong lên, hòa vào cái thế

Trang 9

vươn lên chung của toàn bộ kiến trúc Càng nâng lên, càng thu hẹp dần và kếtthức bằng một chỏm hình bầu rượu có nhiều cạnh Cũng như chùa, tháp PhổMinh quay mặt về hướng Nam, mặt bằng được bố cục vuông, cạnh đáy đế dài5,20m các tầng trên đều có 4 cửa quay về bốn hướng chính, được trổ theo lốicuốn tò vò Riêng tầng dưới cao trội hẳn lên (2,2m), cửa của nó người lớn cóthể vào thắp hương dễ dàng (cao 1,09m, rộng 0,77m) Toàn bộ tháp được xâytrên một hồ vuông nông, nhỏ (rộng 8,6m) Hồ có hành lang bao bọc bốn phíacũng có cửa và các thành bậc được trạm trổ rồng đá Phần nền đế chân thápgồm nhiều tầng cấp thu dần vào và gần đến hết lại nhô ra Chính ở cấp cuốicùng của phần nền đế trước khi đi vào tầng tháp thứ nhất, nghệ sĩ xưa đã sửdụng mặt ngoài của cấp này, dùng thủ pháp tạo ra một vành đai trang trí xen

kẽ những cành hoa lá đan chéo nhau và những hoa hình tròn, cánh hoa ngãvòng quanh, còn ở giữa có cánh hoa cất lên và xoáy tròn ốc Vành đai này làmột bức diềm những nét khắc nhỏ tuyệt đẹp, hai thứ hoa lặp đi lặp lại chạyvòng chung quanh tháp, khi ánh sáng chiếu xiên vào, hiện lên như một vònghoa xám dịu dàng và tinh tế

Về chất liệu, tháp là một công trình hỗn hợp giữa gạch và đá Bệ vàtầng dưới của tháp được xây bằng loại đá xanh mịn vừa có sức nặng, làm tăng

độ bền cho móng nền các tầng trên đều được xây bằng gạch nung mỏng, nhẹ,rất tiện lợi cho việc xây lắp Kết cấu của tháp ở các tầng đá chủ yếu dựa vàocác mộng và keo vữa kết dính ở các tầng trên, ngoài vừa còn có các dây đồngxâu móc qua các viên gạch để làm tăng độ bền vững cho kiến trúc Về cấutrức của tháp, sách “ Đại Nam nhất thống chí” còn cho biết, ngày xưa người taxây một cột đá bên cạnh và lấy dây đồng để ràng lấy đỉnh tháp

Trang trí trên tháp cũng rất ấn tượng, tập trung chủ yếu ở phần đá vớiđài sen bao quanh tháp và những đồ án hoa lá cách điệu trên mặt đứng ở tầng

đế, ở cửa tò vò và trên các nẹp góc Bên cạnh các tượng đá hình cá sấu, hình

Trang 10

rồng được tạc ở các thành cửa vào hồ quanh tháp thì các nghệ sĩ đã chạm cáclớp cánh sen với nhiều hoa văn dây uốn lượn quanh cửa tháp và trên các mặttường Hàng loạt hoa lá được chạm khắc như vẽ trên đáo, hình ảnh chủ đạo làtùng, cúc, trúc, mai, … hình khắc trên phần đá của tháp Phổ Minh tạo ra cáchoa văn hoa lá, sóng nước, mây trời đơn giản, sáng sủa rất sinh động bao viềnquanh thân tháp và các cửa tháp Sự vận dụng những đườn cong khéo léo tạocho tác phẩm có chất tươi mát, cuồn cuộn và sinh động rất lạ thường.

Tầng tháp thứ nhất được bắt đầu bằng một vòng những cánh sen hailớp, lớp đưới cúp xuống, lớp trên ngửa lên nở xòe, tọa cảm giác cây tháp nhưmọc trên một đóa xen khổng lồ khác hẳn những cánh sen thời Lý thanh dài

và bên trong thường được trang trí đôi rồng rắn, những cánh sen ở đây đềumập mạp, xó mũi cong xoắn lại, bên trong cánh sen còn trang trí những móccâu, hoa và nhánh hoa dây móc nhau Cùng với các nhánh sen ở bệ tháp, việxây hồ trên tháp phải chăng người xây dựng muốn tạo cho tác phẩm kiến trúccủa minh thành một hình tượng búp sen khổng lồ đang nổi trên mặt nước, mộthình tượng mang ý nghĩa của nhà Phật

Bốn cửa tháp ở tầng dưới đều có gờ nhô ra, trên mặt gờ rất nhẵn, đượckhắc rạch những nét nhỏ hoa lá cách điệu Khác với thời nhà Lý, tháp có tínhthực tế, tháp là để thờ Phật nên bốn mặt có Bát bộ kim cương canh giữ nhưngđưới nhà Trần, tháp chỉ mang tính tượng trưng, lại là tháp nhỏ lên không cóhình tượng Bát bộ kim cương

Chân cột góc của tầng tháp dưới này được trang trí cũng bằng Lối khắcrạch hai bức diềm nhỏ trồng chéo lên nhau chạy song song Bức diềm phíatrên gồm những bông hoa nhọn đầu, mập, uốn cong lưỡi liềm rất mềm mại,phía dưới có đài và cuống hoa biến thành cụm mây cách điệu, bức diềm phíadưới là một dãy sóng nước cách điệu Sóng nước ở đây có hai phần, phầndưới như một dòng nhạc 5 dòng kẻ song song lượn sóng đều đặn, phần trên là

Trang 11

những ngọn sóng đầu nhô cao gồm các đường cong nối nhau gẫy khúc và trênđầu mỗi ngọn sóng như có một bông hoa nhỏ xinh.

Kiểu hoa văn cuối cùng được trang trí ở tầng tháp đưới là mây trờiđược khắc thành băng dài cuốn quanh phía trên tầng tháp này Mây ở đây lànhững cụm nhỏ xoắn xuýt Còn ở tầng trên trang trí chủ yếu trực tiếp vào cácviên gạch Cạnh ngoài của mỗi viên đều có khắc hình rồng cuộn khúc vờnmây, tuy được khắc rạch trước khi nung song hình trang trí rất mềm mại Đếtháp được xây bằng đá nhưng lại giả gỗ cho nên có những xà gỗ chạy ngang.Tất cả nét kiến trúc và nghệ thuật trên cho thấy đây là một công trình kiếntrúc có giá trị của dân tộc ta

ở trong lòng tháp Phổ Minh (tầng 1) trên tấm đá ở tầng tháp có một mặthình trạm nổi đôi rồng chầu mặt trời, đôi rồng này mang đầy đủ tư cách củarổng thời Trần, với những mào lửa, toc chải, mang banh, thân trơn, chân cólòng làm nền cho đôi rồng là những viên ngọc đang chuyển động, mỗi viênđược kéo dài ra bởi 2 dải tóc chải bay về hai phía

Việc tồn tại của tháp ngót 700 năm ở một xứ khí hậu nhiệt đới, chiếntranh liên miên không chỉ là niềm tự hào của nhân dân, mà còn là tài sản vôgiá do tổ tiên đã tốn bao nhiêu công sức, trí tuej, tiền của để tạo dựng trongquá trình lịch sử của dân tộc Tháp vút lên bầu tròi xanh thẳm như thể hiện ýchí hiên ngang bất khuất của hào khí dân tộc một thời – hào khí Đông A- đãđánh bại ba lần xâm lược của phương Bắc Đồng thời qua đó cũng thấy đượctriều đình nhà Trần đã nối tiếp các triều đại trước, có ý thức xây dựng quốcgia Đại Việt độc lập và tự chủ Trong quá trình đó bên cạnh việc xây dựngnền chính trị tự cường, các vua Trần cố gắng xây dựng một nền văn hóa –nghệ thuật riêng mang đậm bản sắc dân tộc Trong quần thể kiến trúc chùaPhổ Minh, tháp nằm ngay sân trước, không còn chiếm vị trí trung tâm nhưkiến trức chùa tháp thời Lý Vị trí kiến trúc của tháp như một sự tiếp nối quá

Trang 12

trình chuyển đổi từ chỗ tháp là trung tâm của chùa về đúng với vai trò ban đầu

và nguyên thủy của nó là mộ thờ Phật

Đầu thế kỉ XX, có một nhà buôn có lòng từ thiện, bỏ tiền xin trùng tutháp đã dùng vối vữa chát kín toàn bộ mặt ngoài lại , kể cả quả hồ lô (chỏmtháp) Trải qua bao đời tháp được trùng tu sửa chữa nhiều lần nhưng nhìnchung tháp vẫn giữ được cốt cách hình dáng xưa

c Kết cấu tòa tam bảo

Chùa Phổ minh được thiết kế theo kiểu chữ “Công”, gồm các hạngmục: tiền đường, thiêu hương, thượng điện Qua nhiều lần thay đổi thì hiệnnay chùa có kiến trúc “nội công, ngoại quốc”, gồm các hạng mục tam quan,

ao sen, nhà bia, tháp, sân trước, chùa chính, hành lang, hậu điện, phủ Mẫu,nhà tổ, tăng phòng, khu tháp mộ Kiến trúc này chia chùa thành hai phần,đăng đối qua một trục tưởng tượng Tiền đường gồm 9 gian, có 2 dãy hànhlang mỗi dãy 12 gian Phía sau là các hạng mục như hậu điện, nhà tổ, phủ,mẫu, … Phía trước có 2 cổng nách, phía sau có hai cổng hậu ra vào sân sau,khiến chùa vừa hoành tráng vừa kín đáo, ngăn nắp

Khu chùa chính gồm 3 tòa nhà làm theo kiểu chữ Công: tiền đường 9gian, tam bảo 3 gian, thượng điện 3 gian

Tiền đường chùa Phổ Minh gồm 9 gian, dài 24,93m, rộng 8,22m, giangiữa rộng 3,92m, hai gian bên rộng 3,15m, hai gian tiếp rộng 3,15m và 4 gianphía ngoài tiếp giáp với bờ đốc rộng 2,32m Tuy mái phẳng bít đốc mà vẫn có

độ cong vươn lên về hai phía, có bảng giữa nóc chùa đắp 3 chữ “ Phổ Minhtự” Bờ dải, trụ hoa biểu đầu hồi được chú ý đắp vẽ triện tàu, lá lật, gờ chỉ khácông phu

Sau khi đi qua một khoảng sân là tam cấp của tòa tiền đường Toàn bộ

ba tòa tiền đường, thiêu hương, thượng điện, hai hành lanh hai bên và nhà tổtạo thành kiểu kết cấu nội công ngoại quốc trong đó tòa tam bảo nối với nhau

Trang 13

thành hình chữ Công, hai hành lang và nhà tổ tạo thành hình chữ quốc Tòatiền đường, thiêu hương, thượng điện có kiểu kết cấu vì kèo, giá chiêng chồnggiường con nhị với mặt cắt dọc nhà có bốn hàng cột kiểu tứ trụ Hai dãy hànhlang và điện thờ Mẫu cũng có kiểu giá chiêng chòng giường song không phảichồng giường con nhị Trong điện mẫu có một biến thể của kiểu vì kèo giáchiêng chồng giường Thay vì có hai cột cái như kết cấu vì kèo thông thường,

ở đây chỉ có một cái, vị trí của cột cái kia được thay bằng một cột trốn, cộtnày đứng trên một cái xà ngang mà thường được gọi là cái “chếnh”, một đầuchếnh ăn mộng vào cột cái, còn đầu kia đặt lên trên một bức tường gạch.Tăng phòng và nhà Tổ có kết cấu vì kèo kiểu cánh én với hai kẻ chạy thẳng

từ cột cái tới thượng lương và giao vào nhau như cánh chim én Ngoài hai cộtcái còn có hai cột trốn đứng trên quá giang đỡ lấy hai kẻ, có một thanh xà nhỏ

ăn mộng vào hai cột trốn Đây có thể là một biến thể của “giá chiêng” Chúngtôi nhận thấy mặt trước của các tòa tiền đường, điện thờ Mẫu, tăng phòng,nhà Tổ có kết cấu “thượng song hạ bản”, nhưng ở đây phần gỗ được thay thếbằng gạch xây trát vữa ở bên ngoài Tòa tiền đường có 10 bộ vì kèo, tòathượng điện và ống muống có 4 bộ, những vì kèo ở hai đầu hồi thượng điện

và tiền đường, vị trí của 2 cột cái được thay bằng hai cột trốn Giải thích cho

sự thay đổi này chúng tôi cho rằng do kiểu xây đầu hồi bít đốc nên phần mái

ở hai đầu hồi được phần mái đỡ phần lớn trọng lượng nên bộ vì chỉ cần haicột trốn và cột quân là đủ đỡ phầ trọng lượng còn lại của mái Những bộ vìnày có xà nách ở hai bên được kéo dài và nối với nhau Khoảng cách giữa cáchàng cột ở tiền đường và ống muống là như nhau Cột quân cách cột cái là1,9m, khoảng cách giữa hai cột cái tính theo chiều dọc là 3,44m Chiều nganggiữa các vì kèo có khác nhau, gian giữa của các tòa tiền đường, thiêu hương

là 2,43m; ở tòa thượng điện là 3,72m Đường kính của cột quân vf cột cái ở

ba tòa là như nhau, cột quân có đường kính 0,21m; cột cáu là 0,32m các cột

Trang 14

được làm theo kiểu thượng thu hạ thách, đầu thon nhỏ, phình ở phía gần cuối,đáy thu lại.

Các bộ vì kèo hầu như không được trang trí, các thành phần kết cấu vìkèo như các con giường, xà ngang, kẻ, … được gọt đẽo khá vuông thành sắccạnh, các cạnh không được dành nhiều công sức để vuốt mềm, trau truốt.Điều này tạo cho bộ vì kèo cảm giác khỏe nhưng hơi đơn điệu và khô cứng

Nhà bái đường làm theo lối chồng giường, bẩy kẻ, 4 hàng cột gỗ limchắc nịch đặt trên chân tảng hoa sen, hai hồi để của nách ra vào, mặt sau liênđới với tòa tam bảo nên có sự giao mái bắt vần, tạo bộ mái phẳng phiu, vừaphải độ dốc lại tránh được thấm nước, bị dột hệ thống cột, giường, bẩy, kẻ,

… tuy không có sự gia công đục chạm họa tiết nhưng cũng như hệ thống xàlàm kiểu ống tơ, tạo mạng, mộng khá tài tình nên từ bẩy, kẻ đến xà lòng, xànách câu vào tứ trụ đều rất bén, khít khó tìm ra khuyết điềm Do vậy bộkhung tuy môc mạc mà vẫn có vẻ thanh thoát trong sự chắc nịch của kiến trúc

cổ dân tộc

Tại gian giữa tiền đường có bức cửa võng chạm họa tiết, sơn thiếp lộnglẫy làm cho gian chính điện thêm trang nghiêm, đồng thời làm đẹp cho cửatam bảo

Phía trong tiền đường có tòa tam bảo Công trình này giao mái với tiềnđường, cũng được thiết kế theo lối chồng giường, tứ trụ, cột trong đứng trêntrân tảng hoa sen nên hai công trình có sự gắn bó, liên kết với nhau Tòa tambaornayf bài trí rất nhiều tượng Phật, theo nhiều cấp khác nhau từ cao xuốngthấp nên quy cách tam bảo mới đáp ứng được 7 cấp theo độ dốc, đẻ kháchhành hương có thể ngước nhìn lên đủ thấy hết chư vị phật cũng như Bồ Tát

Thiêu hương xây quay dọc, giao mái với tiền đường, tạo thành mặt

bằng kiến trúc kiểu chữ “Đinh”, dài 09m, rộng 8,23m, gồm 3 gian Bộ khungbằng gỗ lim, kiểu bốn hàng chân cột, mỗi bộ vì được dựng trên đầu hai cột cái

Trang 15

cao 4,3m và hai cột quân cao 3,9m Chân tảng bằng đá, chạm hoa văn hìnhcánh sen

Thượng điện gồm 3 gian, dài 12,8m, rộng 8,50m Bộ khung gỗ lim,kiểu 3 hàng chân cột, gồm hai cột cái và một cột quân Tất cả các cột được giacông theo kiểu thượng thu hạ thách và được kê trên hệ thống chân tảng đáchạm hoa văn hình cánh sen

Sau tam bảo là Thượng Điện Công trình này cao hẳn lên bởi nền cũngđược tôn cao Do nhà cao nên cột cũng phải to, đườnh kính cột lên đến 50cm,các cấu kiện, xà, bẩy, con giường cũng theo tỷ lệ đó mà nhíc lên lên cho phùhợp về kiểu dáng, cũng như về độ bền vững Nguyên vật liệu kết cấu bộkhung cũng phải to, khỏe để đỡ, dải bờ nóc có lưỡng long chầu mặt trời, bờdải có triện tàu, bờ bảng trang trí bề thế và nặng nề

phía sau Thượng điện là hậu điện Công trình này gồm 2 tòa mỗi tòa 5gian và một chuôi vồ phía sau Kết cấu công trình theo lối tiền chữ nhất, hậuchữ đinh Tòa đệ nhị làm theo kiểu mê cốn, cửa ô, ngạch ngưỡng lại có 2 bứcthuận đông, tây để cửa vào hai gian bên, đây cũng là bức thuận của nhà cổ màchùa tháp còn tồn tại

Hai tòa nhà phía đông liền liền với hậu điện thờ Tổ, đồng thời thờ các

vị hậu Phật có công xây dựng chùa Hai tòa này gồm 6 gian thiêt kế lối trụ,câu đầu, bẩy tiền theo lối cổ nhưng chủ yếu bào trơn đóng bén, không đầu tưđiêu khắc ở sà, bẩy

Hai tòa thờ mẫu phía tây hậu điệncũng thiết kế như nhà tổ, mộc mạc vàchắc chắn Cả ba công trình hậu điện, nhà Tổ, nhà thờ mẫu hệ thống cột cái,cột quân đều được đặt trên các chân tảng cánh sen Có nhiều chân tản đục,chạm từ lâu đời là nguyên tác thời Trần để lại

Qua cổng hậu phía trong sẽ ra khu sân sau nơi vườn tháp và ao

Trang 16

Hai dãy hành lang đông- tây có tới 24 gian làm theo phong cách cổtruyền khá bề thế, chắc chắn, góp phần tạo cho tổng thể các hạng mục đồng

bộ, hài hòa Một bên hàng lang dùng để tiếp khách, thư phòng Một bên là cáctăng phòng, còn có các bia thờ hậu, thờ những người có công đóng góp đểxây dựng và tu sửa chùa

Hai nhà bia ở hai bên trước ngọn tháp chính được xây đầu thế kỉ XX cókiểu kết cấu chồng diêm với tám lá mái, bốn ở trên và bốn ở dưới Toàn bộnhà bia được xây bằng gạch, nó là nơi chứa tấm bia cổ khắc từ thời Lê (nămCảnh Trị thứ 6 -1668)

d Trang trí kiến trúc

Đôi sấu đá hai bên bậc tam cấp tam quan chùa Phổ Minh được tạo tác

từ hai khối đá thành hai khối lượng tròn trong tư thế bò từ trên xuống, phíadưới con sấu đá là một băng hoa dây lượn sóng hình sin phổ biến trong nhiềutác phẩm mỹ thuật thời Trần Con sấu ở trong tình trạng còn tốt, mọi đườngnét và mảng khối đều rõ Con vật được tạo tác ở tư thế ngẩng cao đầu, bờmtóc phủ kín gáy và vai, đuôi dài hơi uốn sóng, mình mập lắn, chân rắn chắc,toàn thân như muốn chồm lên

Đặc biệt ở thềm tam cấp từ sân chùa lên chùa tạo 5 cửa lên xuống Cửagiữa có đôi rồng dài 2m từ trên nhao xuống Cặp rồng này bị ghè vỡ đầu, năm

1994 làm mới 2 đầu rồng gắn vào Các gian bên có 2 con rồng nhỏ, dài 1,3 m

từ trên nhao xuống Tất cả những con rồng đá ở trước gian bái đường hayquanh tháp Phổ Minh, tuy bị sứt mẻ nhưng đều là rồng được tạc từ thời Trần

Ta có thể nhận rõ con rồng thời Trần không giống rồng thời Lý Rồng thờinhà Trần thân mập mạp hơn và uốn lượn nhỏ dần về phía đuôi, nuột nà, cótính hiện thực hơn và thể hiện “ tính xác thịt” của con vật nhìn vào hìnhtượng rồng, ta có thể khẳng định rằng nó được tạc sau kháng chiến chống

Trang 17

Nguyên – Mông vì ở đây có sự giao lưu văn hóa với phương Bắc: rồng cóthêm cặp sừng, mũi và bên dưới là tai của rồng.

Một tác phẩm nghệ thuật còn lưu giữ được từ thời Trần là bốn cánh cửachùa vào gian bái đường bản gốc hiện nay đang được trưng bày tại Bảo tàng

Cổ vật tại Nam Định Bản ở chùa Phổ Minh là bản đục lại nhưng tương đốiđẹp và chính xác Bộ cánh cửa gồm 4 cánh làm bằng gỗ lim to, dày, chạmkhắc rất đẹp, kích thước mỗi cánh 1m87 * 0m78 Bố cục của cả bộ cánh cửatheo sự trang trí cân đối giữa hai cánh cửa bên phải và hai cánh cửa bên trái.Mỗi cánh cửa đều được chia làm hai phần, phần trên hình chữ nhật chạmrồng, phần dưới hình vuông chạm sóng nước, hoa và các họa tiết hình học

Trên mỗi cánh cửa là hình tượng con rồng trạm trổ rất đẹp, các khúcuốn lượn tinh tế, nhỏ dần về phía đuôi, đều đặn mang tính chất Lý Tính chấtnhà Lý còn được thể hiện rõ nét hơn là con rồng ở đây không có sừng vàkhông có tai Tuy nhiên đây là một công trình lớn có tính nhà nước nên phảilàm theo kiến trúc chính thống Hình ảnh rồng ở đây được trạm theo lối chạmnổi, khi ánh sáng chiếu vào sẽ làm tôn hình ảnh được chạm cánh cửa sơn đenđều đặn, tạo ấn tượng vững chắc khỏe mạnh Một nét đặc sắc nữa của đôicánh cửa này là khi khép lại tạo thành hình lá cây bồ đề - biểu tượng cho đứcPhật Hệ thống cửa khá hài hòa với hàng rồng đá ở bậc thềm

PHẦN 3: GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT

1 Nội dung lý lịch các pho tượng thờ chủ yếu

Chùa Phổ Minh thể hiện rất rõ dấu ấn tam giáo đồng tôn nên trong chùakhông chỉ có 1 hệ thống tượng Phật

Tại tòa Tiền đường, ở gian chính giữa được bố trí ban thờ Trên ban thờ

có bát hương thờ chung thế giới Phật mà dân gian thường gọi là bát hươngcông đồng Hai bên của ban công đồng có 2 pho tượng lớn Đây là hìnhtượng hộ pháp, một ông là Trừng Ác, một ông là Khuyến Thiện có nhiệm vụ

Trang 18

bảo vệ pháp báu của nhà Phật Phía bên phải tượng Hộ pháp Trừng Ác là banthờ sư tổ Đạt Ma- người đầu tiên truyền bá đạo Phật vào Việt Nam Trên ban

có tượng Sư Tổ và tượng người hầu Bên cạnh ban thờ tổ Đạt Ma là ban thờĐức Ông, là người cai quản trông nom Phật đường

Tòa Tam bảo được bài trí theo hàng ngang và từ cao xuống thấp, từtrong ra ngoài Nghĩa là các vị tối thượng được xếp ở bệ cao nhất, trong cùngnhất Do vậy, tam bảo có 6 hàng tượng đặt trên bệ như sau:

Cấp cao nhất có pho tượng Phật Adiđà là Quan Thế Âm Bồ Tát, tiêubiểu cho sự từ bi và trí tuệ Bên tay phải tượng Đức Phật là Bồ Tát Đại ThếChí có trí tuệ soi khắp 10 phương

Cấp thứ hai chính giữa là tượng Phật Thích Ca, còn hai bên là Bồ TátPhổ Hiền cưỡi “bạch tượng” và Bồ Tát Văn Thù cưỡi “ thanh sư”

Cấp thứ ba là tượng Di Lặc, bên phải la tượng Quan Âm Tọa Sơn vàbên trái là tượng Quan Âm Thị Kính

Cấp thứ tư gồm 3 pho tượng Chính giữa là tượng Quan Thế Âm BồTát nhiều tay, nhiều mắt Hai bên tả hữu là Phạm Thiên và Đế Thích

Cấp thứ năm có tượng Ngọc Hoàng đội mũ bình thiên ngồi chính giữa,hai bên là tượng Nam Tào - Bắc Đẩu

Cấp thứ sáu chính là Tòa Cửu Long, hai bên có tượng Bồ Tát Mục Liên

và tượng Thánh Tăng, cùng hai ngọc nữ tay dâng hoa hầu chầu Đức Phật

Phía sau Tam bảo là tòa Thượng điện, tòa này có ban thờ Trúc Lâmtam tổ và ở cấp trong cùng, cao nhất còn có tượng Thích Ca to lớn ngồi trêntòa sen Hai bên có tượng Anan Đà và Maha Cadiếp

Sau Thượng điện có hệ thống Hậu điện, nhà tổ và phủ mẫu Đây lànhững công trình xây dựng ở cốt đất thấp hơn khu nhà chính nhưng quy môcác tòa cùng với bài trí thờ tự cũng khá nghiêm túc, hài hòa với nội dungchung của một ngôi chùa truyền thống

Trang 19

Hậu điện gồm 3 tòa, làm theo kiểu tiền nhất, hậu đinh gồm 10 gian lớnnhỏ Ban thờ trong cùng, còn gọi là hậu cung thờ Thiên Cảm Hoàng Thái Hậu(thân mẫu Đệ nhất tổ Trúc Lâm) Phía ngoài thờ công chúa Mạc Ngọc Lâm.Hai bên thờ Khâm Từ hoàng hậu và Điện Súy phu nhân Các vị này đều códòng dõi cành vàng lá ngọc.

Phía tây Hậu điện là phủ mẫu, gian ngoài có ngũ vị, phía đông Hậuđiện là nhà tổ, đều là nơi thờ các vị sư trụ trì tại chùa, đồng thời thờ nhữngngười có công đóng góp tu sửa chùa, được dân làng bầu là Hậu Phật và đượccúng giỗ hàng năm

2 Hình thức thể hiện các pho tượng thờ kể trên

Tượng Hộ Pháp: Tượng Hộ Pháp mặc giáp trụ, cân đai oai phong ngồi

trên lưng sư tử rất đường bệ nhưng sắc thái hai vị khác nhau Tượng mặc nhưnhững vị võ tướng, thân mình vạn vỡ khỏe mạnh – lối thể hiện này chủ yếu cóvào cuối thế kỉ XVIII đầu XIX Tuy nhiên trên thân mình ông Hộ Pháp cóhình tượng con rồng đang quấn nếu ta để ý kĩ thì đuôi rồng nhỏ dần, cho thấypho tượng không thể tạc vào thế kỉ XVIII mà phải được tạc vào thế kỉ XIX trở

về sau Tượng ông Khuyến Thiện có khuôn mặt hiền từ, trắng hồng, tay cầmviên ngọc hoặc báu vật luôn tỏ ý khuyên răn làm điều đúng đắn, trong khi đótượng ông Trừng Ác mặt đỏ, dữ tợn, tay cầm vũ khí, có động tác mạnh như

bổ xuống đầu người khác Hai pho tượng Hộ Pháp cao khoảng 3,2m là tượngđược đắp bằng đất từ thời Hậu Lê, thể hiện ước mơ, nguyện vọng bảo vệ tôngiáo mà họ đang tôn thờ Hai pho tượng anyf tuy không đẹp bằng tượng ởchùa Bút Tháp nhưng cũng thể hiện được cái thần qua dáng ngồi, đôi mắt và

tà áo tung bay

Tượng Sư Tổ bồ Đề Đạt Ma: Tượng được tạc bằng gỗ, to bằng người

thật, tóc xoăn đen, râu quai nón, quang điện màu hơi hồng, cốt cách hàm chứa

vẻ từ bi của đạo thiền

Ngày đăng: 13/05/2021, 12:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w