1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sưu tầm những hiện vật bằng gốm được sử dụng trong đời sống sinh hoạt của người dân Bát Tràng thế kỷ 19

15 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 4,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lịch sử làng gốm Bát Tràng Làng gốm sứ Bát Tràng ngôi làng cổ khoảng 500 tuổi nằm cách thủ đô Hà Nội khoảng 10km về phía Ðông Nam, bên tả ngạn sông Hồng, trước đây thuộc tỉnh Bắc Ninh nay thuộc huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội.

Trang 1

Đề tài : Sưu tầm những hiện vật bằng gốm được sử dụng trong đời sống sinh hoạt của người dân Bát Tràng thế kỷ 19.

I Khái quát chung làng nghề Bát Tràng

1 Lịch sử làng gốm Bát Tràng

Làng gốm sứ Bát Tràng - ngôi làng cổ khoảng 500 tuổi nằm cách thủ đô Hà Nội khoảng 10km về phía Ðông Nam, bên tả ngạn sông Hồng, trước đây thuộc tỉnh Bắc Ninh nay thuộc huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội

Theo Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư, tên xã Bát Tràng xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1352 Nhưng theo dã sử thì vào thời nhà Lý (1010-1225) dân từ xã Bồ Bát thuộc tỉnh Ninh Bình đến lập nghiệp tại vùng đất này và đặt tên là xã Bát Tràng

Sở dĩ người dân Bồ Bát chọn vùng đất này để lập nghiệp vì ở đây có đất sét trắng-một nguồn nguyên liệu tốt để cho ra những sản phẩm gốm có chất lượng cao Hơn nữa, vùng đất này nằm cạnh bờ sông Nhị tức sông Hồng sẽ thuận lợi cho việc giao thông, chuyên chở và trao đổi hàng hóa

2 Sự khác nhau giữa dòng gốm bát tràng với các dòng gốm khác

Mỗi 1 dòng gốm sứ sẽ có những nét đặc điểm khác nhau Đây là 1 số ví dụ đặc điểm của mỗi dòng gốm sứ

- Gốm Bát Tràng kết cấu chắc, trọng lượng nhẹ

- Gốm Phù Lãng kết cấu xốp, trọng lượng nặng

- Sứ Bát Tràng (Mặt hàng chủ đạo: bình lọ hoa, ấm chén, bát đĩa, tranh sứ,

đồ chơi con giống ) hoạ tiết, hoa văn được vẽ thủ công, nét vẽ mềm mại, mỏng mảnh, trọng lượng nhẹ, tiếng kêu thanh Mẫu mã đẹp, chủng loại

đa dạng, phong phú Sử dụng công nghệ nung đốt bằng gas

- Sứ Chu Đậu (bình lọ hoa) hoạ tiết, hoa văn thủ công, nét vẽ hơi thô cứng, dày và nặng Sử dụng công nghệ nung đốt bằng gas và lò than thủ công

- Sứ Hải Dương (ấm chén bát đĩa) là sứ công nghiệp, độ giòn cao, hoa văn thường dán đềcan, kẻ chỉ vàng kim và sử dụng công nghệ hấp lò Tuy-nen (có một chút nhỏ hàm lượng chì) Sử dụng công nghệ nung đốt bằng gas

Trang 2

- Sứ Đông Triều, Quảng Ninh (chậu hoa, ấm tích) hoạ tiết hoa văn thủ công, nét vẽ cứng, dày và nặng Sử dụng công nghệ nung đốt bằng than

II Quy trình sản xuất gốm

Để làm ra đồ gốm người thợ gốm phải qua các khâu chọn, xử lí và pha chế đất, tạo dáng, tạo hoa văn, phủ men, và cuối cùng là nung sản phẩm Kinh nghiệm truyền đời của dân làng gốm Bát Tràng là "Nhất xương, nhì da, thứ ba dạc lò"

1 Chọn đất

Điều quan trọng đầu tiên để hình thành nên các lò gốm là nguồn đất sét làm gốm

2 Xử lí, pha chế đất

Trong đất nguyên liệu thường có lẫn tạp chất, ngoài ra tuỳ theo yêu cầu của từng loại gốm khác nhau mà có thể có những cách pha chế đất khác nhau để tạo ra sản phẩm phù hợp Ở Bát Tràng, phương pháp xử lí đất truyền thống là

xử lí thông qua ngâm nước trong hệ thống bể chứa, gồm 4 bể ở độ cao khác nhau

Thời gian ủ càng lâu càng tốt.Trong quá trình xử lí, tuỳ theo từng loại đồ gốm mà người ta có thể pha thêm cao lanh ở mức độ nhiều ít khác nhau

Trang 3

3.Tạo dáng

Phương pháp tạo dáng cổ truyền của người làng Bát Tràng là làm bằng tay trên bàn xoay Trong khâu tạo dáng, người thợ gốm Bát Tràng sử dụng phổ biến lối "vuốt tay, be chạch" trên bàn xoay.Tuy thế, kĩ thuật này đã mất dần và hiện nay không còn mấy người thợ gốm Bát Tràng còn có thể làm được công việc này nữa

Hiện nay theo yêu cầu sản xuất gốm công nghiệp hay mĩ nghệ, nghệ nhân gốm có thể đắp nặn một sản phẩm mẫu để đổ khuôn thạch cao phục vụ cho việc sản xuất hàng loạt

4 Phơi sấy và sửa hàng khô

Tiến hành phơi sản phẩm mộc sao cho khô, không bị nứt nẻ, không làm thay đổi hình dáng của sản phẩm Biện pháp tối ưu mà xưa nay người Bát Tràng vẫn thường sử dụng là hong khô hiện vật trên giá và để nơi thoáng mát Ngày nay phần nhiều các gia đình sử dụng biện pháp sấy hiện vật trong lò sấy, tăng nhiệt độ từ từ để cho nước bốc hơi dần dần

Trang 4

5 Quá trình trang trí hoa văn và phủ men

Kỹ thuật vẽ

Thợ gốm Bát Tràng dùng bút lông vẽ trực tiếp trên nền mộc các hoa văn hoạ tiết Thợ gốm Bát Tràng cũng đã dùng rất nhiều hình thức trang trí khác,

có hiệu quả nghệ thuật như đánh chỉ, bôi men chảy màu, vẽ men màu

Ở Bát Tràng xuất hiện kĩ thuật vẽ trên nền xương gốm đã nung sơ lần 1 hoặc kĩ thuật hấp hoa, một lối trang trí hình in sẵn trên giấy decal, nhập từ nước ngoài

Chế tạo men

Thợ gốm Bát Tràng thường quen sử dụng cách chế tạo men theo phương pháp ướt bằng cách cho nguyên liệu đã nghiền lọc kĩ trộn đều với nhau rồi khuấy tan trong nước đợi đến khi lắng xuống thì bỏ phần nước trong ở trên và

bã đọng ở dưới đáy mà chỉ lấy các "dị" lơ lửng ở giữa, đó chính là lớp men bóng để phủ bên ngoài đồ vật Trong quá trình chế tạo men người thợ gốm Bát Tràng nhận thấy để cho men dễ chảy hơn thì phải chế biến bột tro nhỏ hơn nhiều so với bột đất, vì thế mà có câu "nhỏ tro to đàn"

Tráng men

Khi sản phẩm mộc đã hoàn chỉnh, người thợ gốm có thể nung sơ bộ sản phẩm ở nhiệt độ thấp rồi sau đó mới đem tráng men hoặc dùng ngay sản phẩm mộc hoàn chỉnh đó trực tiếp tráng men lên trên rồi mới nung Người thợ gốm Bát Tràng thường chọn phương pháp tráng men trực tiếp lên trên sản phẩm mộc hoàn chỉnh

Trang 5

Kĩ thuật tráng men có nhiều hình thức như phun men, dội men lên bề mặt cốt gốm cỡ lớn, nhúng men đối với loại gốm nhỏ nhưng thông dụng nhất là hình thức láng men ngoài sản phẩm, gọi là "kìm men", và khó hơn cả là hình thức

"quay men" và "đúc men"

Sửa hàng men

Người thợ gốm tiến hành tu chỉnh lại sản phẩm lần cuối trước khi đưa vào lò nung Trước hết phải xem kĩ từng sản phẩm một xem có chỗ nào khuyết men thì phải bôi quệt men vào các vị trí ấy Sau đó họ tiến hành "cắt dò" tức cạo bỏ những chỗ dư thừa men, công việc này gọi là "sửa hàng men"

6 Quá trình nung

Sau khi hoàn thành xong khâu tráng men, hàng được đưa vào lò nung,

công đoạn này gọi là “ Trồng lò ’’, công đoạn này cần phải thật cẩn thận để

tránh sản phẩm bị nứt vỡ, cũng như cần sắp xếp hàng trong lò sao cho hợp lý để tiết kiệm diện tích nhưng cũng phải có khoảng trống để không khí lưu thông

Các loại lò cũng rất đa dạng từ lò ếch đến lò bầu, lò hộp dùng củi đốt hay hiện đại hơn và phổ biến hơn hiện nay như lò gas lò điện.

Công đoạn cuối cùng để hoàn thành một sản phẩm gốm sứ đó là đốt lò.

Cách đốt lò nói chung là đưa nhiệt độ lò từ từ lên cao rồi dần hạ thấ nhiệt độ để

dỡ lò Tùy theo loại men, loại sản phẩm, và cách làm của mỗi nghệ nhân mà cần đưa nhiệt độ lò đến các mức khác nhau, đó là bí quyết riêng của mỗi người nghệ nhân

Trang 6

Hình ảnh Lò Cổ

III Những hiện vật sưu tầm

1 Điếu hình gốc trúc

- Kích thước : nặng = 500g ; cao =9cm ; rộng =8cm ;lỗ điếu = 1cm

- Chất liệu : gốm trơn , màu men xanh , hoa văn nổi

- Tình trạng : sứt mẻ

Trang 7

2 Điếu bát men trắng vẽ lam

- Kích thước : cao = 9,2cm, rộng= 6,1cm, đườn kính miệng: 2,8cm, đường kính đáy: 3,7cm, nặng = 0.9kg

- Chất liệu : gốm men rạn , màu men trắng vẽ lam, hoạ tiết trang trí hình vẽ con rồng theo kiểu xoắn ốc

- Tình trạng : còn nguyên

Trang 8

3 Điếu bát

Trang 9

- Kích thước : nặng = 0,5kg cao =9,8cm ; rộng =10cm ;đường kính miệng

= 2,5cm ; đường kính đáy =7,9cm ; lỗ điếu = 1cm

- Chất liệu : gốm trơn , men da lươn,màu da lươn , hoa văn nổi hình rồng

- Tình trạng : sứt mẻ, ố

4 Điếu bát

- Kích thước : nặng= 0,45kg ; cao = 10,3cm ; rộng =9,8 cm ; đường kính miệng = 3,2cm ; đường kính đáy =7,5cm ; lỗ điếu = 1,1 cm

Trang 10

- Chất liệu : gốm men rạn , hoa văn vẽ tay phong cảnh

- Tình trạng : Sứt mẻ

Trang 11

5 Điếu hình voi

- Kích thước : nặng = 0,5 kg ; cao= 10cm ; rộng = 7cm, dài = 16cm ; lỗ điếu = 1.2cm

- Chất liệu : gốm trơn , màu xanh, hoa văn nổi

- Tình trạng : sứt mẻ

Trang 12

6 Bình gốm Ngư ông đắc lợi

- Kích thước : nặng = 2,5kg ; cao = 25cm ; rộng =21cm ; đường kính miệng = 9cm , hình bầu

- Chất liệu : gốm men rạn , màu trắng, hoa ven vẽ tay

- Tình trạng : còn nguyên vẹn

Trang 13

IV Đời sống của nghệ nhân

Nghệ nhân ưu tú Tô Thanh Sơn người đã dày công 15 năm nghiên cứu và

đã thành công trong việc khôi phục dòng gốm men rạn Ông đã được chủ tịch nước Trương Tấn Sang phong tặng danh hiệu Nghệ nhân ưu tú ngày 14/10/2013

Trang 15

V.Kết luận

Ngày nay về Bát Tràng ta sẽ thấy một Bát Tràng-làng cổ tồn tại song song với một Bát Tràng -đô thị Truyền thống và hiện đại đan xen cả trong tư duy sản xuất, kinh doanh của người làm gốm cũng như trong diện mạo của làng gốm Bát Tràng.Sức sống của làng nghề truyền thống vẫn được thổi lên bởi ngàn lò gốm cháy rực suốt ngày đêm

Sản phẩm của làng gốm Bát Tràng là sự kết giao giữa phương pháp thủ công tinh xảo với sự sáng tạo nghệ thuật Các sản phẩm đó mang tính chất cá biệt, có sắc thái riêng, đặc trưng riêng của làng nghề và phản ánh được quan niệm thẩm

mỹ bản sắc văn hoá riêng của người dân Bát Tràng Người thợ giỏi, đặc biệt là nghệ nhân có thể tự do sáng tạo ngay trong quá trình tạo tác sản phẩm Gía trị của mỗi sản phẩm gốm thủ công được khách hàng nhìn nhận chủ yếu dưới góc

độ văn hoá, nghệ thuật Các sản phẩm đó vừa có giá trị sử dụng, vừa có giá trị thẩm mỹ cao

Ngày đăng: 13/05/2021, 08:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w