Luận văn tiến hành đánh giá thực trạng loãng xương của phụ nữ 45-60 tuổi đến khám tại khoa Khám xương bệnh viện Việt Đức, năm 2019. Mời các bạn cùng tham khảo luận văn để nắm chi tiết hơn nội dung nghiên cứu.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
BÙI BÍCH VƯỢNG
THỰC TRẠNG LOÃNG XƯƠNG CỦA PHỤ NỮ 45-60 TUỔI ĐẾN KHÁM TẠI BỆNH VIỆN VIỆT ĐỨC NĂM 2019
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
Hà Nội – 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
KHOA: KHOA HỌC SỨC KHỎE
BỘ MÔN: Y TẾ CÔNG CỘNG
BÙI BÍCH VƯỢNG
THỰC TRẠNG LOÃNG XƯƠNG CỦA PHỤ NỮ 45-60
TUỔI ĐẾN KHÁM TẠI BỆNH VIỆN VIỆT ĐỨC NĂM
2019 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Chuyên ngành : Y TẾ CÔNG CỘNG
Mã số : 8.72.07.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRỊNH HÙNG CƯỜNG
Hà Nội-2019
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo tổ chức y tế thế giới định nghĩa, Loãng xương là một bệnh mạn tính, tiến triển, do nhiều nguyên nhân và là bệnh rối loạn chuyển hóa của xương hay gặp nhất ở phụ nữ lớn tuổi Tuy vậy, loãng xương cũng xảy
ra ở cả nam giới, ở mọi chủng tộc và ở mọi lứa tuổi [22]
Tại Việt Nam, tỷ lệ bị loãng xương ngày càng gia tăng, mỗi năm số người bị loãng xương ở nước ta vào khoảng 152.000 trường hợp trong đó nữ giới chiếm hơn 60% [31] Tỷ lệ loãng xương ở phụ nữ chiếm tỷ lệ đặc biệt cao tại các đô thị lớn như Hà Nội và Hồ Chí Minh [18] [19]
Loãng xương là bệnh của cả hệ thống xương với đặc điểm là có giảm khối lượng xương và thoái hóa vi thể cấu trúc của mô xương làm xương dễ gãy [22] Điều này ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống của người bệnh Theo kết quả nghiên cứu của Ngô Văn Quyền và cộng sự cho thấy bệnh nhân bị loãng xương cảm nhận rằng bệnh ảnh hưởng đến cuộc sống cá nhân với hậu quả rất khó chịu: đau kéo dài (84% phụ nữ gãy xương cột sống, 59% phụ nữ không gãy xương cột sống, suy giảm chức năng cơ thể, giảm hoạt động xã hội, giảm chịu đựng
Trang 4(43% phụ nữ không bị) Nhìn chung, 76% phụ nữ cho thấy giảm chất lượng cuộc sống Ngược lại, ở nhóm chứng chỉ 24% giảm chất lượng cuộc sống [29] Chính vì vậy, việc phát hiện sớm và phòng ngừa ở cộng đồng là quan trọng
Khoa Khám xương - bệnh viện Việt Đức được tách ra từ khoa Chấn thương và thành lập khoa riêng từ ngày 12/01/2012 Khoa có nhiệm vụ chính là khám tư vấn, điều trị bảo tồn và điều trị phẫu thuật các bệnh lý thuộc chuyên ngành chấn thương chỉnh hình Tại khoa Khám xương, hiện nay đang triển khai 2 máy đo loãng xương Mỗi ngày trung bình đo từ 40-50 lượt bệnh nhân, giúp chẩn đoán và điều trị loãng xương Đây là một trong các cơ sở uy tín về khám và điều trị bệnh loãng xương được nhiều người tìm đến Với mong muốn tìm hiểu thực trạng loãng xương của phụ nữ từ 45 - 60 tuổi đến khám tại Khoa Khám xương - bệnh viện Việt Đức và những yếu tố liên quan đến thực trạng trên, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài “Thực trạng loãng xương của phụ nữ 45-60 tuổi đến khám tại bệnh viện Việt Đức năm 2019
và một số yếu tố liên quan” với 2 mục tiêu sau đây:
Trang 51 Đánh giá thực trạng loãng xương của phụ
nữ 45-60 tuổi đến khám tại khoa Khám xương bệnh viện Việt Đức, năm 2019
2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến thực trạng loãng xương của đối tượng nghiên cứu
Trang 6CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Sơ lược vế cấu trúc, chức năng và sự tăng trưởng và chu chuyển xương
1.1.1 Cấu trúc và chức năng của xương
1.1.2 Sự tăng trưởng và chu kỳ phát triển của xương 1.2 Định nghĩa, phân loại loãng xương, triệu chứng lâm sàng của loãng xương
1.2.1 Định nghĩa loãng xương
1.2.2 Phân loại loãng xương
1.2.3 Các yếu tố nguy cơ của bệnh loãng xương
1.2.4 Triệu chứng loãng xương
1.2.5 Hậu quả của loãng xương
1.2.6 Phương pháp chẩn đoán loãng xương và đo MDX 1.2.7 Phòng bệnh loãng xương
1.3 Các nghiên cứu về tình hình loãng xương và một số yếu tố liên quan trên Thế giới và tại Việt Nam
1.3.1 Nghiên cứu về tình hình loãng xương và yếu tố liên quan trên Thế giới
1.3.2 Các nghiên cứu về tình hình loãng xương và một
số yếu tố liên quan tại Việt Nam
1.4 Giới thiệu địa điểm nghiên cứu
1.5 Khung lý thuyết nghiên cứu
Trang 7CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Phụ nữ 45-60 tuổi đến khám tại khoa Khám xương, bệnh viện Việt Đức
- Tiêu chuẩn lựa chọn: đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu Đối tượng có khả năng giao tiếp và trả lời các câu hỏi
- Tiêu chuẩn loại trừ: đối tượng không đồng ý tham gia nghiên cứu Đối tượng không có khả năng giao tiếp
và trả lời các câu hỏi
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu: Khoa Khám xương, bệnh viện Việt Đức
2.1.3 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 4/2019 đến tháng 08/2019
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt
ngang có phân tích
2.2.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu
Cỡ mẫu
Trang 8Áp dụng công thức ước lượng 1 tỷ lệ trong nghiên cứu mô tả:
Trong đó:
n: Cỡ mẫu cần nghiên cứu
: Hệ số tin cậy ứng với 95% (α=0,05), ta có = 1,96
-p: Là tỷ lệ loãng xương của ở phụ nữ từ 45 -60 tuổi Lấy p = 0,415 là tỷ lệ phụ nữ 45 tuổi trở lên bị loãng xương trong nghiên cứu của Nguyễn Trung Hoà và cộng
Cách chọn mẫu
Tiến hành chọn mẫu theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện trong nhóm phụ nữ 45 – 60 tuổi đến khám tại khoa khám xương, bệnh viện Việt Đức Chọn lần lượt
Trang 9những đối tượng đáp ứng tiêu chuẩn chọn mẫu vào nghiên cứu cho đến đủ số mẫu dự kiến thì dừng lại
2.3 Các biến số, chỉ số nghiên cứu và tiêu chuẩn đánh giá
2.3.1 Biến số và chỉ số nghiên cứu
- Thông tin chung: tuổi, giới, trình độc học vấn,
tình trạng sản phụ khoa, chiều cao, cân nặng…
- Tình trạng loãng xương
- Một số yếu tố liên quan đến tình trạng loãng
xương
2.3.2 Tiêu chí đánh giá sử dụng trong nghiên cứu
- BMI: Đánh giá theo tiêu chuẩn dành riêng cho
người Châu Á (IDI & WPRO BMI)
Trang 10 Loãng xương (Osteoporosis): T score dưới – 2,5SD
Loãng xương nặng: T score dưới – 2,5 SD kèm tiền sử/ hiện tại có gãy xương
2.4 Quy trình thu thập thông tin
2.4.1 Công cụ thu thập thông tin
- Đối với biến số về chiều cao, cân nặng và mật độ xương sử dụng phương pháp đo trực tiếp bằng các phương tiện máy móc
Máy đo mật độ xương: Osteosys
Dụng cụ đo cân nặng, chiều cao: Akiko TZ-120
- Đối với biến số một số yếu tố liên quan đến tình loãng xương: sử dụng bộ câu hỏi được thiết kế sẵn
2.4.2 Kỹ thuật thu thập thông tin
- Đo cân nặng: Cân được kiểm tra và điều chỉnh chính xác trước khi cân Cân được đặt ở vị trí ổn định trên mặt phẳng Đối tượng nghiên cứu mặc quần áo mỏng
và không đi giày, dép, đội mũ hoặc mang các vật gì khác Đọc kết quả chính xác đến 0,1kg
- Đo chiều cao: đối tượng đứng thẳng trên bàn cân, không đi giầy dép, đội mũ, mắt nhìn thẳng theo một đường thẳng nằm ngang, hai tay buông thõng theo thân
Trang 11mình, 4 điểm chạm vào thước đo là: chẩm, lưng, mông, gót Đọc chính xác đến 0,1 cm
- Đo mật độ xương: bằng phương pháp đo hấp thụ tia
X năng lượng (Dual energy X – ray absorptiometry, được viết tắt bằng DXA Đo tại 3 điểm: cột sống thắt lưng và 2
cổ xương đùi
- Yếu tố liên quan đến loãng xương: phỏng vấn trực tiếp đối tượng bằng bộ câu hỏi được thiết kế sẵn (Phụ lục 1)
2.4.3 Tổ chức thu thập thông tin
- Bước 1: Chào hỏi đối tượng, giới thiệu về nghiên
cứu, đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu
- Bước 2: Điều tra viên tiến hành phỏng vấn đối
tượng Điều tra viên là cán bộ phòng khám
- Bước 3: Kiểm tra phiếu sau khi hoàn tất, cảm ơn đối tượng Mời đối tượng sang phòng cân đo và đo mật
độ xương Tại phòng cân đo, Cán bộ phòng khám hướng
dẫn đối tượng tiến hành cân đo theo đúng quy chuẩn
- Bước 4: Đối tượng gửi lại phiếu cân đo và đo mật
độ xương Kết thúc quá trình thu thập số liệu
2.5 Sai số có thể gặp và biện pháp khống chế sai số
Trang 12ý kiến với nhau
Sai số trong quá trình cân,
đo
Tuân thủ đúng kỹ thuật cân
đo Tập huấn kỹ cho kỹ thuật viên
Do đối tượng nghiên cứu:
Không hiểu rõ câu hỏi,
không nhớ chính xác thông
tin
Thử nghiệm bộ câu hỏi, thiết kế bộ câu hỏi dễ hiểu, ngắn gọn
Sai số trong quá trình nhập,
phân tích số liệu: số liệu
chưa được làm sạch, nhập
sai, nhập thiếu thông tin
Làm sạch số liệu trước khi nhập vào máy tính, phát hiện thiếu số liệu và số liệu
vô lý, mã hóa trước khi nhập
2.6 Xử lý và phân tích số liệu
- Làm sạch số liệu thô trước khi nhập liệu
- Nhập số liệu bằng phần mềm Epidata 3.1
- Xử lý bằng phần mềm SPSS 18.0
Trang 13- Sử dụng các thuật toán trong thống kê mô tả để đưa
ra các tỷ lệ và tỷ lệ %
- Sử dụng phương pháp kiểm định khi bình phương để
so sánh hai tỷ lệ và tỷ suất chênh OR, CI 95% và p để phân tích mối liên quan
2.7 Vấn đề đạo đức nghiên cứu
- Đề cương nghiên cứu được hội đồng duyệt đề cương Trường Đại học Thăng Long thông qua
- Được Giám đốc bệnh viện Việt Đức cho phép thực hiện nghiên cứu tại bệnh viện
- Đối tượng tham gia nghiên cứu hoàn toàn tự nguyện
- Các thông tin về đối tượng được giữ bí mật và chỉ được sử dụng với mục đích nghiên cứu khoa học
2.8 Hạn chế của nghiên cứu
Do là nghiên cứu mô tả cắt ngang nên nghiên cứu cũng có những hạn chế chung của phương pháp mô tả cắt ngang và kết quả chỉ phản ánh tại thời điểm hiện tại
Nghiên cứu sử dụng kỹ thuật phỏng vấn nên không quan sát được thực hành của đối tượng
Trang 14CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thực trạng loãng xương của phụ nữ 45-60 tuổi đến khám tại khoa Khám xương, bệnh viện Việt Đức năm 2019
Min: -3,8 Max: 2,8 TB±SD: -1,23±1,5
Trang 15Bảng 3.1 Tình trạng loãng xương của ĐTNC
(n=407) Tình trạng loãng xương Số lượng Tỷ lệ (%)
Xương bình thường: T score từ
3.3 Một số yếu tố liên quan đến thực trạng loãng xương của ĐTNC
Bảng 3.2 Liên quan giữa đặc điểm cá nhân với thực
trạng loãng xương của ĐTNC (n=407)
> 55 52 (31,5) 113 (68,5) 3,82
2,267-6,448
0,000
≤ 55 26 (10,7) 216 (89,3)
Trang 16Phụ nữ độ tuổi trên 55 có khả năng loãng xương cao gấp 3,82 lần so với phụ nữ từ 55 tuổi trở xuống
(OR=3,82; 95%CI: 2,267-6,448; p<0,05)
Bảng 3.3 Liên quan giữa tiền sử sản phụ khoa với thực trạng loãng xương của ĐTNC (n=407) Tiền sử sản
phụ khoa
Loãng xương
OR (95%CI)
p
Có (SL (%))
Không (SL (%)) Mãn kinh
Kết quả nghiên cứu cho thấy phụ nữ đã mãn kinh
có khả năng loãng xương cao gấp 3,65 lần so với phụ nữ
Trang 17chưa mãn kinh (OR=3,65; 95%CI: 1,939-6,898; p<0,05);
phụ nữ có thời gian đã mãn kinh từ 5 năm trở lên có khả năng loãng xương cao gấp 2,52 lần so với nhóm dưới 5 năm (OR=2,52, 95%CI: 1,378-4,626, p<0,05); phụ nữ sinh con trên 2 lần có khả năng loãng xương cao gấp 1,79 lần so với nhóm sinh 1-2 con và chưa sinh con (OR=1,79; 95%CI: 1,082-2,976; p<0,05); phụ nữ đã cắt buồng trứng có khả năng loãng xương cao gấp 2,41 lần
so với nhóm chưa cắt (OR=2,41; 95%CI: 1,146-5,105; p<0,05)
Bảng 3.4 Liên quan giữa hình thái cơ thể với thực trạng loãng xương của ĐTNC (n=407)
Hình thái
cơ thể
Loãng xương
OR (95%CI)
p
Có (SL (%))
Không (SL (%)) Cân nặng
Trang 18Phụ nữ có cân nặng từ 45kg trở xuống có khả năng loãng xương cao gấp 2,53 lần so với nhóm trên 45 kg (OR=2,53, 95%CI: 1,160-5,542; p<0,05) Phụ nữ nhẹ cân
có khả năng loãng xương cao gấp 3,68 lần so với nhóm thừa cân và bình thường (OR=3,68; 95%CI: 1,095-12,41;
p<0,05)
Bảng 3.5 Liên quan giữa thói quen sinh hoạt với thực
trạng loãng xương của ĐTNC (n=407)
Thói quen sinh
hoạt
Loãng xương
OR (95%CI)
p
Có (SL (%))
Không (SL (%)) Uống bổ sung viên canxi
Trang 19Bảng 3.31 Liên quan giữa tiền sử gãy xương với thực
trạng loãng xương của ĐTNC (n=407)
p
Có (SL
(%))
Không (SL (%)) Bản thân đã từng gãy xương
Đã từng 24 (27,3) 64 (72,7) 1,84
1,058-3,19
0,03 Chưa 54 (16,9) 265 (83,1)
Gia đình có người bị loãng xương
Có 33 (27,3) 88 (72,7) 2,01
1,204-3,34
<0,01 Không 45 (15,7) 241 (84,3)
Phụ nữ đã từng bị gãy xương có khả năng khả năng cao gấp 1,84 lần so với nhóm chưa từng bị gãy xương (OR=1,84; 95%CI: 1,058-3,198, p<0,05); phụ nữ
có người thân trong gia đình bị loãng xương có khả năng loãng xương cao gấp 2,01 lần so với nhóm không có người thân bị loãng xương (OR=2,01; 95%CI: 1,204-3,348, p<0,01)
Trang 20CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 4.1 Thực trạng loãng xương của phụ nữ 45-60 tuổi đến khám tại khoa Khám xương, bệnh viện Việt Đức năm 2019
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy mật độ xương trung bình của các đối tượng tham gia nghiên cứu
là 1,23 Tscore Người có chỉ số Tscore thấp nhất là 3,8 và cao nhất là 2,8 So với nghiên cứu của Đỗ Minh Sinh tại xã Tam Thanh, Vụ Bản, Nam Định [30], chỉ số T-score trung bình của các đối tượng trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn (-1,23 so với -2,42)
-Trong 407 đối tượng tham gia nghiên cứu có 41,3% đối tượng có tình trạng xương bình thường (T score từ – 1SD trở lên), 39,5% đối tượng bị thiếu xương (T score dưới – 1SD đến – 2,5SD) và 19,2% đối tượng bị loãng xương Tỷ lệ loãng xương trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Văn Lành tại Hậu Giang năm 2014 (25,1%) [24]
4.2 Một số yếu tố liên quan đến thực trạng loãng xương của đối tượng nghiên cứu
4.2.1 Mối liên quan giữa đặc điểm cá nhân với tình trạng loãng xương
Trang 21Nhiều nghiên cứu trước đây đã chỉ ra có mối liên quan giữa tuổi và tình trang loãng xương Tuổi càng cao thì giảm mật độ xương và nguy cơ loãng xương càng cao Nghiên cứu của Thái Phương Oanh năm 2011 [28] cho thấy, tỷ lệ loãng xương và giảm mật độ xương ở những người trên 70 tuổi là 89,5%, trong khi ở nhóm còn lại là 66,2% Những người trên 70 tuổi có khả năng loãng xương và giảm mật độ xương cao hơn những người dưới
70 tuổi 4,4 lần (OR=4,4; 95%CI: 2,017-9,464, p<0,001)
4.2.2 Mối liên quan giữa tình trạng sản phụ khoa với tình trạng loãng xương
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, phụ nữ đã mãn kinh có khả năng bị loãng xương cao gấp 3,65 lần so
với phụ nữ chưa mãn kinh (OR=3,65; 95%CI:
1,939-6,898; p<0,05) Kết quả này tương đồng với kết quả nghiên cứu của Phạm Thanh Bình năm 2014 [3] (OR=9,7; 95%CI: 4,7-19,8; p< 0,05)
Một số nghiên cứu cho thấy thời gian đã mãn kinh càng lâu thì mật độ xương càng giảm do đó nguy cơ loãng xương càng cao Nghiên cứu của Dương Thanh Bình tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam – Cu Ba Đồng Hới [4] cho thấy loãng xương chiếm tỷ lệ cao nhất ở
Trang 22nhóm có thời gian mãn kinh >10 năm, thấp nhất ở nhóm
<5 năm (p<0,05) Nghiên cứu của chúng tôi cũng cho kết quả phụ nữ có thời gian đã mãn kinh từ 5 năm trở lên có khả năng bị loãng xương cao gấp 2,52 lần so với nhóm
đã mãn kinh dưới 5 năm (OR=2,52, 95%CI: 1,378-4,626, p<0,05) Phụ nữ phải trải qua thời kỳ mang thai và nuôi con bằng sữa mẹ Trong các thời kỳ đó, cơ thể họ mất đi nhiều lượng canxi để phát triển thai nhi và cho con bú Phụ nữ sinh con trên 2 lần có khả năng bị loãng xương cao gấp 1,79 lần so với nhóm sinh 1-2 con và chưa sinh con (OR=1,79; 95%CI: 1,082-2,976; p<0,05) Kết quả này tương đồng với một số kết quả nghiên cứu trước đây như nghiên cứu của Phạm Thanh Bình và cộng sự năm
2014 [3], nhóm phụ nữ sinh đẻ từ 3 lần trở lên có khả năng mắc loãng xương cao hơn so với nhóm chỉ sinh đẻ
1-2 con (p<0,05)
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy ra phụ nữ đã
cắt buồng trứng có khả năng loãng xương cao gấp 2,41 lần so với nhóm chưa cắt (OR=2,41; 95%CI: 1,146-5,105; p<0,05)
4.2.3 Mối liên quan giữa hình thái cơ thể với tình trạng loãng xương