Thực hiện chính sách xã hội trong 25 năm đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo (1986-2011): Phần 1 trình bày cơ sở hình thành chủ trương, chính sách xã hội của Đảng trong thời kỳ đổi mới, chủ trương chính sách xã hội của Đảng và kết quả thực hiện từ năm 1986 đến năm 2011,... Mời các bạn cùng tham khảo để nắm nội dung chi tiết.
Trang 1PG S.TS Đ I NH X U Â N LÝ
LANH DẠO THỰC HIỆN CHỈNH SACH X& HỘI
O M
Trang 2ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
LẪNH BẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XẢ HỘI
TRONG 25 NAM ĐỔI MỚI (1988-2011)
Trang 3PGS TS Đ I N H X U Â N L Ý
LÃN H ĐẠO THỰC H IỆ N C H ÍN H SÁC H X Ã HỘIm m m ■TRONG 2 5 N Ă M ĐỔ I M Ớ I (1 9 8 6 -2 0 1 1 )
Trang 41.1 Chủ trương và thực tiễn giải quyết các vấn đề xã hội
thời kỳ trước đổi mới, những vấn đề đặt ra 9 1.2 Quan điểm và kinh nghiệm giải quyết
các vấn đề xã hội của một số nước và tổ chức quốc tế 34 1.3 Những luận cứ khoa học từ các công trình nghiên cứu
trong và ngoài nước về phát triển xã h ộ i 49
Chương 2
CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH XÃ HỘI CỦA ĐẢNG
2.1 Chủ trương, chính sách xã hội của Đảng (1986-2011) 63 2.2 Kết quả quá trình thực hiện chính sách xã hội (1986-2011) 114
Trang 5Chương 3
ĐÁNH G IÁ VÀ MỘT SỐ KIN H NGHIỆM LẢNH ĐẠO
CỦA ĐẢNG Đ Ố I VỚI THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XẢ H Ộ I
3.1 Đánh giá sự lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội
của Đảng (1986-2011) 151
3.2 Một số kinh nghiệm 175 ' Phu luc 1 207• •Phu luc 2 213t •Phụ lục 3 218t •Phụ lục 4 237 Tài liêu tham khảo 239
Trang 6LỜI NÓI Đ Ầ U
Đối với bất kỳ thể chế chính trị nào, việc giải quyết các vấn đề xã hội cũng đều phản ánh bản chất của một chế độ
nhà nước những giá trị mà họ được thụ hưởng hàng ngày, được cảm nhận trong cuộc sống thường nhật Đối với thể chế
xã hội xã hội chủ nghĩa, việc giải quyết tốt các vấn đề xã hội
là yêu cầu cơ bản của chế độ xã hội chủ nghĩa, vì đây là chế
độ xã hội của con người, do con người và vĩ con người.
Chính sách xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam là một bộ phận quan trọng trong đường lối, chủ trương của Đảng hướng tới giải quyết các vấn đề xã hội phù hợp với mục tiêu, lý tưởng của Đảng và bản chất chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa, nhằm phục vụ lợi ích và đề cao trách nhiệm của cá nhân và cộng đồng xã hội nói chung, các giai tầng xã hội nói riêng*.
Theo tác già Lê Sĩ Thắng: "Chính sách xã hội là sự cụ thế hoá và thể chế
hoá bằnẹ pháp luật những đường lối, chủ trương, những biện pháp để
giải quyet các vấn đề xã hội dựa trên những tư tưởng, quan điểm của những chủ thể lãnh đạo và quản lý, phù hợp với bán chất chế độ xã
hội- chính trị, phản ánh lợi ích và trách nhiệm của cộng đồng xã hội nói
chung và của từng nhóm xã hội nói riêng, nhằm mục đích cao nhất là
thoả mãn các nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân về đời sống vật chất và văn hoá" (Lê Sĩ T h an g (Chủ bien): T ư tuởng Hồ Chí M inh ve con người và về chính sách xã hội, NXB Chính trị Quốc gia, H.1996, tr79).
Trang 7Sự lãnh đạo của Đảng đối với lĩn h vực xâ hội được thể hiện thông qua hoạch định cương lĩnh, đường lối chiến lược, chủ trương và chính sách xã hội; thông qua công tác tuyên truyền, thuyết phục, động viên, tổ chức kiểm tra và bằng hành động gương mẫu của đảng viên.
Sự lãnh đạo của Đảng đối với các lĩnh vực xã hội với hàm nghĩa lãnh đạo Nhà nước và các tổ chức ngoài nhà nước thực hiện chính sách xã hội nhằm đạt tới đời sống vật chất và tinh thần cao đẹp cho nhân dân; nhằm đạt tới mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, đồng thuận, văn m inh.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (tháng 12-1986) đánh dấu sự phát triển nhận thức của Đảng về các vấn đề xã hội Lần đầu tiên (kể từ Cương lĩnh chính trị năm 1930), văn kiện của Đảng (Văn kiện Đại hội V I) sử dụng khái niệm
sách xã hội có phạm vi rất rộng - bao trùm mọi mặt của cuộc sống con người, giáo dục và văn hoá, quan hệ gia đình, quan
hệ giai cấp, quan hệ dân tộc Các Đại hội Đảng lần thứ V II, lần thứ V III, lần thứ IX, lẳn thứ X, lần thứ XI và H ội nghị Trung ương các khóa đã tiếp tục bổ sung, phát triển hình thành hệ thống chính sách xã hội tương đối đồng bộ Hệ thống đó phản ánh quá trình chuyển biến tư duy của Đảng
từ giải quyết các vấn đề xã hội dựa trên nền tảng phân phối
Sự lãnh đạo của Đảng - hàm chứa nội dung, Đảng đề ra đường lối và tổ
chức, tập hợp, động viên quần chúng thục hiện đường lối của Đảng.
Trang 8bình quản chủ nghĩa (thời kỳ thực thi thể chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu) sang hệ thống chính sách xã hội dựa trên phân phối theo lao động là chù yếu (phù hợp với sự vận hành của thể chế kinh tế th ị trường định hướng xã hội chủ nghĩa) Nhờ đó, chính sách xã hội phát huy được năng lực của cá nhân, bộ phận và cộng đồng trong phát triển
phát sinh từ môi trường kinh tế thị trường và toàn cầu hoá Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được của quá trình thực hiện chính sách xã hội thời kỳ đổi mói, cũng còn iứũcu vấn đề đặt ra cần phải tiếp tục điều chinh bổ sung, hoàn thiện Trong đó có những vấn đề thuộc về tầm nhìn, năng lực,
kỹ năng của chủ thể hoạch định đường lối, chính sách và chỉ đạo, quản lý thực hiện chính sách xã hội; những vấn đề thuộc
về nhận thức, ý thức của đối tượng chịu sự lãnh đạo, bộ phận thụ hưởng chính sách xã hội
Trong phạm vi cuốn sách này, tác giả chưa có đủ điều kiện để làm sáng tỏ tất cả những nội dung nêu trên, mà chi góp phần tìm hiểu cơ sở hình thành chủ trương, chính sách
xã hội của Đảng trong 25 năm đổi mới; tìm hiểu nội dung chủ trương, chính sách xã hội của Đảng và kết quả quá trình thực hiện chính sách xã hội trên một số lĩnh vực như: Lao động và việc làm; Xóa đói/ giảm nghèo; Bảo hiểm xã hội; Ưu đãi người
xã hội* từ năm 1986 đến năm 2011; bước đầu đánh giá sự lãnh
Theo Báo cáo quốc gia của Chính phủ Cộng hoà Xã hội Chù nghĩa Việt Nam về
phát triển xã hội tại Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội,
Trang 9đạo và nêu một số kinh nghiệm từ quá trình lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực xã hội ở nước ta.
Để hoàn thành cuốn sách, tác giả chủ yếu sử dụng nguồn tư liệu Văn kiện Đảng và kế thừa kết quà nghiên cứu
từ những ấn phẩm đã được công bố, các đề tài khoa học cấp nhà nước đã được nghiệm thu
Tác giả cuốn sách cảm ơn bạn đọc đã quan tâm và châ n thành tiếp thu những ý kiến góp ý của các quý vị.
H à Nội, tháng 6 năm 2011
họp ở Copenhagen, Đan Mạch (tháng 3-1995), thì quan niệm của Chính
phủ ta về phát triển xã hội gồm 10 vấn đề như: 1) Giải quyết việc làm, 2)
Xoá đói giảm nghèo, 3) Hoà nhập xã hội, 4) Tăng cường vai trò của gia đình, 5) Phát triển giáo dục, 6) Dân số - kế hoạch hoá gia đình, 7) Chăm sóc sức khoẻ nhân dân, 8) Bảo trợ xã hội, 9) Môi trường, 10) Hạn chế và ngăn ngừa các hành vi phạm tội.
Trang 10Chương 1
C ơ SỚ H ỈN H T H Ả N H C H Ủ TRƯ Ơ NG,
C H ÍN H SÁCH XẦ H Ộ I CỦ A Đ Á N G
TR O N G TH Ờ I KỲ Đ Ó I M Ớ I
1.1 Chủ trương và thực tiễn giải quyết các vấn đề xã hội
thời kỳ trước đổi mới, những vấn đề đặt ra
Trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (3-2-1930), ngoài việc xác định phương hướng chiến lược, nhiệm vụ của cuộc cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng, Đáng đã đề ra những mục tiêu cơ bản về xã hội, như: tịch thu toàn bộ ruộng đất của bọn đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày nghèo; bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo; mở mang công nghiệp và nông nghiệp; th i hành luật ngày làm việc tám giờ; dân chúng được tự do tổ chức hội họp; nam nữ bình quyền,v.v; Phổ thông giáo dục theo công nông hoá.
Trong quá trình lãnh đạo giành chính quyền (1930-1945), Đảng đề ra những mục tiêu đấu tranh giành quyền lợi cụ thể, thiết thực cho nhân dân Tiêu biểu là việc chính quyền Xô viết ở Nghệ An và Hà Tĩnh, mặc dù tồn tại trong thời gian ngắn, từ tháng 9-1930 đến đầu năm 1931, nhưng đã tổ chức thực hiện các chính sách xã hội phục vụ đời sống của nhân dân, như:
Trang 11- Ban bố quyền tự do dân chủ của nhân dân; tự do bàn bạc, góp ý kiến giải quyết các vấn đề xã hội; giữ gìn trật tự,
an ninh;
- Chia lại công điền công thổ cho cả nam và nữ; thực hiện giảm tô, xóa nợ; thủ tiêu các thứ thuế vô lý như thuế thân, thuế muối; lấy thóc của địa chủ để cứu đói;
- Mớ trường cho trẻ em, mở các lớp dạy chữ quốc ngữ cho người lớn, bài trừ hủ tục mê tín dị đoan, bài trừ tệ nạn xã hội; thực hiện nếp sống lành mạnh trong cưới xin, ma chay;
tổ chức cứu tế người nghèo1
Việc thực hiện những chính sách xã hội trên đây tạo sự hấp dẫn, tin tưởng của quần chúng đối với cách mạng, có lợi cho việc tập hợp lực lượng công nông đấu tranh chống đế quốc, phong kiến.
Thời kỳ 1936-1939, Đảng nêu cao chủ trương đấu tranh đòi các quyền lợi dân sinh, dân chủ, là những vấn đề xã hội thiết thân, bức xúc của nhân dân Lời kêu gọi nhân ngày 1 tháng 5 năm 1936 của Đảng Cộng sản Đông Dương viết: "Hỡi anh chị em! Đừng quên rằng Đảng Cộng sản Đông Dương bảo vệ tất cả yêu sách của anh chị em, những yêu sách tối thiểu cũng như những yêu sách quan trọng nhất Đảng quyết định đòi giảm giờ làm việc của các bạn, lập bảo hiểm xã hội,
có công việc cho mọi người thất nghiệp, bỏ thuế đất, xóa nợ
1 Hội đồng Trung ương chi đạo biên soạn giáo trình Quốc gia các bộ môn
khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh: Giáo trình Lịch sứ Đáng
Cộng sản Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, H 2001, tr54.
Trang 12và lễ vật cho công nhán nông nghiệp, cứu tế cho tiểu tư sản, giải phóng cho tất cả các dân tộc bị áp bức, và trả ngay tự do tức khắc và không điều kiện cho tất cả tù chính trị.
Hỡi anh chị em! Ngày 1 tháng 5, hãy đấu tranh đòi các yêu sách hàng ngày của anh chị em "1.
Trong bức thư ngỏ thứ ba của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương gửi các đảng phái chính trị, các tổ chức quần chúng và toàn thể nhân dân Đông
Đông Dương đế bảo vệ hoà bình, đòi các quyền tự do dân chủ và cơm áo cho nhân dân Bức thư nêu rõ Đảng Cộng sản Đông Dương tán thành và ủng hộ đến cùng mọi nguyện vọng do bất kỳ chính đảng hay nhóm, phái nào đưa ra, miễn
là nguyện vọng đó bao hàm được lợi ích chung của toàn thể nhân dân Đông Dương Bức thư ngỏ nêu 12 nguyện vọng, trong đó có 10 nguyện vọng thể hiện các quyền dân sinh, dân chủ, như:
- Tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do đi lại, tự do tín ngưỡng, tự do khai hóa;
toàn thể nhân dân Đ ông Dương.
Trang 13- Thực hiện Luật lao động ngày làm 8 giờ, tuần lễ làm
40 giờ, luật bảo hiểm xã hội, các ngày lễ được nghi và lĩnh trọn tiền lương M ỗi năm được nghỉ hai tuần lễ được hưởng toàn lương;
- Định lương tối thiểu cho mỗi hạng lao động và cứu tế cho những người thất nghiệp;
- Người Pháp cũng như người bản xứ có chức vụ ngang nhau và cùng làm một việc giống nhau thì được đãi ngộ như nhau;
- Bỏ thuế thần, giảm các thứ thuế khác Xóa nợ cho những người còn thiếu thuế, thiếu tạp dịch và các thứ khác những năm trước
- Bãi bỏ các thứ độc quyền rượu, muối, nước mắm, thuốc
lá, cấm buôn bán thuốc phiện;
- Trục hồi các công chức Pháp và bản xứ ăn hối lộ, bóc lột
Trong thời kỳ 1939-1945, chủ trương của Đảng về các vấn
đề xã hội được thể hiện qua chính sách đối với các giai cấp, tầng lớp; chính sách chăm lo đời sống nhân dân; chính sách
1 Đ ảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đ ả n g toàn tập, tập 6, NXB C hính trịQuốc gia, H 2000, trl01-102
Trang 14bình đẩng dân tộc, đoàn kết tôn giáo, bình đẳng nam nữ, N ghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng ngày
6, 7, 8 tháng 11 năm 1939, khẳng định cuộc cách mạng tư sán dân quyền sẽ giải quyết các nhiệm vụ thuộc VC xã hội, như:
- Thi hành luật lao động ngày làm 8 giờ, 7 giờ cho các hầm mỏ, luật xã hội bào hiểm hoàn toàn, tiền hưu trí cho thợ, tìm công ăn việc làm cho thợ thất nghiệp, trợ cấp thất nghiệp; công việc ngang nhau đồng lương ngang nhau, không phân biệt già trẻ, đàn ông, đàn bà;
- Bỏ hết các thứ sâu thuế, đánh thuế lũy tiến hoa lợi;
- Ban hành các quyền tự do dân chủ, cả quyền nghiệp đoàn, bãi công, phổ thông đầu phiếu, những công dân từ 18 tuổi trở lên, bất cứ đàn ông, đàn bà, nòi giống nào đều được quyền bầu cử, ứng cử;
- Phổ thông giáo dục cưỡng bách;
- Nam nữ bình quyền về mọi phương diện xã hội, kinh
tế và chính tr ị1.
Tiếp sau đó, trong Chương trình Việt M inh (Văn kiện kèm theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ Tám Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, tháng 5-1941), Đảng đề ra những nhiệm vụ thuộc lĩnh vực xã hội cần phải thực hiện như:
- Phổ thông đầu phiếu vô luận nam nữ hễ ai từ 18 tuổi trớ lên đều được quyền bầu cử, ứng cử;
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đ ả n g toàn tập, tập 6, NXB Chính trịQuốc gia, H 2000, tx543
Trang 15- Ban hành các quyền tự do dân chủ như: tự do xuất bản,
tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại trong xứ và xuất dương;
- Nam nữ bình quyền;
- Các dân tộc được quyền tự quyết;
- Bỏ thuế thân và các thuế do Pháp, Nhật đặt ra, lập m ột thứ thuế hợp lí và công bằng;
- Cho dân chúng tự do khai khẩn đất hoang có chính phủ giúp đỡ;
- H ủy bỏ giáo dục nô lệ, lập nền quốc dân giáo dục, cưỡng bức giáo dục đến bậc sơ đẳng, cho các dân tộc đưọ'c quyền dùng tiếng mẹ đẻ;
- Giúp đỡ và khuyến khích các hạng trí thức để họ được phát triển tài năng;
- Thi hành ngày làm 8 giờ;
- Giúp đỡ cho gia đình đông con;
- Lập ấu tr i viện để chăm nom trẻ con;
- Lập nhà diễn kịch, cầu lạc bộ để nâng cao trình độ tri thức của nhân dân;
- Lập nhà thương, nhà đẻ cho nhân dân.
thể đối với các giai cấp, tầng lớp trong xã hội, như:
Với công nhân: ngày làm 8 giờ, định lương tối thiểu, công việc như nhau thì tiền lương ngang nhau Cứu tế thất
Trang 16nghiệp xã hội, báo hiềm, cấm đánh đập, chửi mắng thợ, thủ tiêu giấy giao kèo giữa chủ và thợ, công nhân già có lương hưu trí;
Với nông dán: ai cũng có ruộng đất để cày cấy, giảm địa
tỏ, cứu tế nông dân trong những năm mất mùa;
Với binh lính (Binh nhân): Hậu đãi những người có công bảo vệ Tổ quốc, phụ cấp cho gia đình họ được đầy đủ;
Với học sinh: Bỏ học phí, bỏ giấy khai sinh, hạn tuổi, giúp đỡ học sinh nghèo;
Với phụ nữ: Đàn bà được bình đẳng với đàn ông về mọi phương diện kinh te, chính trị, xã hội, văn hóa;
Với thương nhân: Bỏ ba tăng môn bài và các thứ thuế khác do Pháp đặt ra;
Với viên chức: Hậu đãi cho xứng đáng với công học tập; Với những người già và tàn tật: được chính phủ chăm nom cấp dưỡng;
Với n h i đồng: được chính phủ chăm nom về trí dục và thể dục;
Với Hoa kiều: được chính phủ bảo đảm tài sản 1
Trang 17quyền lực của nhà nước đó là nhân dân V iệt Nam; mục đích tối cao của nhà nước độc lập là phục vụ lợi ích của nhân dân, với quan điểm "nước được độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cúng chẳng có nghĩa lý gì".
Tại phiên họp đầu tiên của H ộ i đồng Chính phủ (3-9-
vân đê:
dịch tăng gia sản xuất; trước mắt mở một cuộc lạc quyên - mười ngày, m ỗi người nhịn ăn 1 bữa, tiết kiệm gạo phát cho người nghèo;
dân tộc dốt là một dân tộc yếu Hồ Chí M inh đề nghị mở chiến dịch chống nạn mù chữ;
trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ Chúng ta phải có m ột bản hiến pháp dân chủ Hồ Chí M inh đề nghị tổ chức cuộc Tổng tuyển
cử với chế độ phổ thông đầu phiếu - tất cả công dân trai gái
18 tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phần biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống
dân bằng cách thực hiện: CAN, KIỆM , LIÊM, CHÍNH;
Trang 18Năm là, thuế thân, thuế chợ, thuế dò là một lối bóc lột vô nhân đạo Hồ Chí M inh đề nghị bỏ ngay ba thứ thuế ấy;
rẽ đồng bào giáo và đồng bào lương; đề nghị tín ngưỡng tự
do 'à lương giáo đoàn kết
Tháng 11-1946, bản Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do Hồ Chí M inh làm Trưởng ban soạn thảo đưcc Quốc hội thông qua Hiến pháp quy định quyền làm chủ Nha nước của nhân dân, quy định quyền và nghĩa vụ của công dân Việt Nam Hiến pháp khẳng định rõ: "Nước Việt
N an là một nước Dân chủ Cộng hoà Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giốrg, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo" (Điều 1).
Cuộc Tổng tuyển cử (6-1-1946) và Hiến pháp được ban hàm (11-1946), đã đánh dấu việc hình thành thể chế nhà nưóc dân chủ ở Việt Nam, đặt nền tảng cho việc xây dựng Nhè nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta - Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Bản chất dân chủ của nhà nước mới tiếp tục được Hồ Chí M inh khẳng định
Nước ta là nước dân chủ
Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân2.
Đing Cộng sản Việt Nam: Vản kiện Đảng toàn tập, tập 8, NXB Chính trị Qiốc gia, H 2000, trl-3.
2 H ỉ C h í M in h , toàn tập, tập 5, NXB C hính trị Q uốc gia, H 1995, tr698
Trang 19Cùng với việc xây dựng Nhà nước, Đảng ta và Chủ tịch
Hồ Chí M inh đã ban hành các văn bản, chỉ th ị về giải quyết các vấn đề xã hội và thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, như: sắc lệnh số 105/SL ngày 14-6-1945
ấn định việc cấp hưu bổng cho công chức; sắc lệnh số 54/SL ngày 01-11-1945 ấn đ ịn h những điều kiện cho công nhân viên chức về hưu; tháng 2-1947, Chủ tịch Hồ Chí M inh đã kí sắc lệnh số 20/SL ban hành chế độ "lương hưu thương tật" đối với thương binh, chế độ "tử tuất" đối với gia đình "tử sĩ", quy định tiêu chuẩn để xác định thương binh, tử sĩ Trong thư gửi Ban Thường trực của Ban tổ chức "Ngày thương binh toàn quốc" (17-7-1947), Hồ Chủ tịch đã đồng ý chọn ngày 27-7 hàng năm làm ngày để nhân dân tỏ lòng hiếu nghĩa đối với thương binh, liệt sĩ và gia đình liệ t sĩ*; sắc lệnh số 76/SL ngày 20-5-1950 ấn đ ịn h các chế độ tr ợ cấp hưu trí, thai sàn, chăm sóc y tế, tai nạn, tiền tuất đối với công chức, sắc lệnh
số 29/SL ngày 12-3-1947 và sắc lệnh số 77/SL ngày 22-5-1950
ấn đ ịn h các chế độ trợ cấp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động hưu trí, tử tuất đối với công nhân sản xuất Trên lĩnh vực giáo dục, tháng 7-1950, H ội đồng Chính phủ thông qua
Trong thư, Người viết: Đang khi Tổ quốc lảm nguy, giang sơn sự nghiệp, mồ má, đền chùa, nhà thờ của tổ tiên ta bị uy hiếp, cha mẹ, anh
em, vợ con, thân thích, họ hàng ta bị đe dọa Của cải, ruộng nương, nhà cửa, ao vườn, làng mạc ta bị nguy n^ập Ai là người xung phong trước hét để chống quân thù, để giữ £Ìn đat nước cho chúng ta Đó là những người chiến sĩ mà nay một so thành thương binh Thương binh là những người đã hy sinh gia đình hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào Vì lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào mà các đồng chí chịu ốm yếu què quặt Vì vậy, Tổ quốc, đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng người ấy (Hồ Chí Minh, toàn tập, tạp 5, Sđd, trl75).
Trang 20Đề án cái cách giáo dục, tạo cơ stV xây dựng nền giáo dục của dân, do dán và vì dân, theo nguyên tắc dân tộc, khoa học, đại chúng, nhằm đào tạo, giáo dục thế hệ trẻ Việt Nam thành những cóng dân, cán bộ có năng lực và phẩm chất đạo đức tốt phục vụ cho sự nghiệp cách mạng của đất nước Việc thực hiện chính sách xã hội lúc này đã kết hợp khá hài hoà hai mục tiêu: bồi dưỡng sức dân và huy động sức dân cho cuộc kháng chiến Cũng trong thời kỳ này, cắc chính sách xã hội đối với giai cấp công nhân, nóng dân, tiểu tư sản, tư sản dân tộc, địa chủ yêu nước chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số, đối với các tôn giáo; được tricn khai thực hiện Tháng 7-1951, Chủ tịch Hồ Chí M inh phát động phong trào
"Đón thương binh về làng" Trong thư gửi Bộ trưởng Bộ Thương binh - Cựu binh, Người viết: "Anh em thương binh
đã hy sinh một phần xương máu để giữ gìn Tổ quốc, bảo vệ đồng bào, đã tận trung với nước, tận hiếu với dân Chính phủ và đồng bào phải báo đáp thế nào cho xứng đáng M ỗi
xã phải tùy theo sự cố gắng và khả năng chung mà đón một
Số anh em thương binh"1 Hưởng ứng tích cực chủ trương cùa Hồ Chí M inh, việc đón thương binh về địa phương được xúc tiến mạnh mẽ, hầu hết thương binh (80-85%) đều được đón về quê nhà chăm sóc2.
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược, thực hiện chính sách xã hội được coi là một bộ phân của cuôc kháng
1 Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 6, NXB Chính tri Quốc gia, H.2002, tr261.
2 Báo cáo tổng hợp kết quả của đề tài cấp Nhà nước: Quan điểm và định hướng về chính sách pliál triển xã liội và quản lý phát triển xã hội trong chiến lược kinh tế - xă hội giai đoạn 2012-2020, Mã số: KX.02.15/06-10, Chủ nhiệm đề tài: TS Lê Duy Đồng, H.2010, trl44-145.
Trang 21chiến toàn dân, toàn diện; là một bộ phận quan trọng của công cuộc xây dựng chế độ mới Các Chi thị của Đảng và Nhà nước ta như: "Kháng chiến kiến quốc", "Công việc khẩn cấp" , đều nhấn mạnh đến tập trung giải quyết những vấn
đề cấp bách, cụ thể, thiết thực của người dân Các phong trào quần chúng được tổ chức như: phong trào diệt giặc "dốt", xây dựng đời sống mới, giảm tô, giảm tức, thực th i các biện pháp nhằm bồi dưỡng sức dân, thực hiện bình đẳng xã hội, bình đẳng nam nữ
Tại Đại hội lần thứ II (tháng 2-1951), Đảng yêu cầu quán triệt nhiệm vụ xây dựng con người mới và đào tạo thế hệ cán
bộ mới "Xúc tiến công tác vãn hoá để đào tạo con người mới
và cán bộ mới cho công cuộc kháng chiến, kiến quốc"1, với
cho nhân dân.
Trên phương diện xã hội, Nhà nước đã ban hành nhiều sắc lệnh nhằm bảo đảm về chế độ cho những cán bộ công chức về hưu, trợ cấp hưu trí, thai sản, chăm sóc y tế, tai nạn, tiền tuất đối với công chức sắc lệnh đối với thương binh, gia đình liệt sĩ quy định những khoản bảo hiểm xã hội đặc biệt như: hưu bổng, thương tật, tử tuất; ngày 27-7-1947 được chọn là Ngày Thương binh liệt sĩ, đánh dấu sự ra đời của các hoạt động tình nghĩa "Đền ơn đáp nghĩa", "Uống nước nhớ nguồn" đối với người có công với cách mạng.
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đ ả n g toàn tập, tập 12, NXB Chính trịQuốc gia, H 2001, tr36
Trang 22Sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược thắng lợi (năm 1954), ở miền Bắc, chủ trương giái quyết các vấn đề xã hội là một bộ phận quan trọng của đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội Đại hội Đảng lần thứ III (9-1960) đề ra chính sách cụ thể đối với các giai cấp, các giới, các dân tộc thiểu số,
và các tôn giáo Trong Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961- 1965), Đảng nhấn mạnh việc thực hiện nhiệm vụ cài thiện, nâng cao đời sống nhân dân; tạo công ăn việc làm, đảm bảo cho nhân dân ăn no, mặc ấm, tăng thêm sức khỏe, có thêm nhà ở và được học tập; nâng cao phúc lợi xã hội, bâo đảm cuộc sống; những đối tượng như gia đình neo đơn, thương binh, gia đình liệ t s ỹ được quan tâm hỗ trợ về tinh thần và vật chất.
Từ năm 1954 đến năm 1975, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản về giải quyết các vấn đề xã hội (đặc biệt
là đối với các đối tượng người có công vói cách mạng’) Tháng 11-1954, H ội đồng chính phủ thành lập Ban cứu tế xã hội ở Trung ương và địa phương; Điều 32 của Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được Quốc hội thông qua ngày 31-12-1959, ghi rõ: quyền của người lao động được giúp đỡ về vật chất khi già yếu, bệnh tật hoặc mất sức lao động; N ghị định số 218/CP ngày 27-11-1961 đề ra các loại trợ cấp như:
ốm đau, thai sản, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, mất sức lao động, hưu trí và tử tuất; H ội đồng Chính phủ ban hành các thông tư, nghị đ ịn h về cứu trợ xã hội như: tháng
Trong thời kỳ kháng chiến chống M ỹ xâm lược (1954-1975), Đảng và Nhà nước đãbanhành 184 văn bản VP người có công.
Trang 238-1965, ban hành Thông tư số 157/CP về cứu trợ đột xuất; tháng 8-1966, ban hành Thông tư số 202/CP về chính sách đối với người già không nơi nương tựa, trẻ mồ côi, người tàn tật.
Chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sĩ trong thời kỳ kháng chiến được sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung, như: Ban hành chế độ phụ cấp thương tật 6 hạng; ban hành điều lệ ưu đãi thương binh, liệt sĩ, dân quân du kích, thanh niên xung phong, điều lệ ưu đãi gia đình liệ t sĩ; đối với gia đình liệt sĩ, Nhà nước quy định cấp bằng "Tổ quốc ghi công" thay bằng "Tổ quốc ghi ơn liệt sĩ"; quy định việc quy tập mộ liệt sĩ, xây dựng các nghĩa trang liệ t sĩ Q uy định chính sách trợ cấp ưu đãi đối với một số đối tượng có công khác như:
Q uy định tiêu chuẩn và trợ cấp ưu đãi đối với cán bộ hoạt động cách mạng trước Tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945; tặng kỷ niệm chương, bằng "Tổ quốc ghi công" và bằng "Có công với nước" đối với người có công giúp đở cách mạng Ban hành các vãn bản, xác đinh rõ mục đích, yêu cầu, phương châm, phương hướng của công tác thương binh liệt, sĩ, xác định rõ trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, các cấp, các ngành trong việc chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ, đồng thời động viên các anh chị em thương binh, bệnh binh nêu cao tính thần tự lực cánh sinh, khắc phục khó khăn để xây dựng đời sống của mình; ban hành các văn bản có tính pháp lý như: Thông tư số 51/TTg, ngày 17-5-1965; Thông tư số 38/CP, ngày 3-3-1969 và Nghị quyết số 196/CP, ngày 16-10-1972, quy định
về đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng thương bệnh binh như: quy
Trang 24định các cơ quan, xí nghiệp phải nhận thương binh theo tỉ lệ 5% bicn chế, tuyển chọn đào tạo thương bộnh binh trong các trường Đại học và Trung học chuycn nghiệp; về tổ chức các
xí nghiệp sản xuất của thương binh'.
N hìn chung, mặc dù giai doạn 1954-1975, đất nước đang trong hoàn cảnh có chiến tranh ác liệt, nhưng những thành tựu đạt được trên lĩnh vực xã hội là đáng ghi nhận Việc triển khai thực hiện các chính sách về xã hội thiết thực đối với cuộc sống của nhân dân, như lao động và việc làm, đảm bảo các điều kiện sinh hoạt của nhân dân, chăm sóc sức khoẻ, phát triển giáo dục, phòng và chống tệ nạn xã hội, đã đạt được những kết quả bước đầu quan trọng Do sản xuất phát triển, đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân ta được nâng cao hơn trước Từ năm 1957 đến năm 1959, thu nhập quốc dân tính theo đầu người đã tăng từ 180,6 đồng lên 215,5 đồng, tức
là tăng 19,3%; tiền lương thực tế của công nhân viên chức tăng 33%; thu nhập bình quân của nông dân năm 1959, tăng 14,8% so với năm 1957; nạn thất nghiệp căn bản đã được giải quyết, hơn 10 vạn người có việc làm; căn bản xóa được nạn
mù chữ ở miền xuôi; số trường phổ thông tăng thêm 1.745 trường, số học sinh tăng 2 lần; số trường trung cấp chuyên nghiệp tăng 26 trường, với số học sinh tăng 5 lần; số trường đại học tăng 6 trường, sinh viên tăng gần 6 lần; công tác y tế,
vệ sinh phòng bệnh đã đạt được những thành tựu quan
1 TS Lê Duy Đồng: Quan điềm và định hướng về chính sách phát triển xã hội
và quản lý phát triển xã hội trong chiến lược kinh tế - xã hội ữiai đoạn 2011 -
2020, Sđd, trl45.
Trang 25trọng, phong trào thể dục, thể thao phát triể n 1 Tính dến đầu năm 1975, cứ 3 người, có m ột người đi học Đội ngũ cán
bộ khoa học, kỹ thuật và cán bộ quản lý có trình độ trên đại học, đại học và trung học chuyên nghiệp hơn 43 vạn người, tăng 19 lần so với năm 1960 Mạng lưới y tế được mở rộng
Số bác sỹ, y sỹ tăng 13,4 lần so với năm 1960 Hoạt động văn hoá, nghệ thuật phát triển nhiều mặt với nội dung phong phú, góp phần xây dựng cuộc sống mới, con người mới trong sự nghiệp chống M ỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội Trong những năm chiến tranh, những nhu cầu thiết yếu về đời sống của nhân dân được đảm bảo Đói rét, dịch bệnh không xảy ra, an ninh chính trị và trật tự xã hội được giữ vững.
Đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân được nâng cao, nhiều hoạt động xã hội được triển khai rộng rãi như: bài trừ tệ nạn xã hội, bài trừ văn hoá đồi trưỵ; trên các lĩnh vực công tác như thông tin tuyên truyền, văn hoá văn nghệ, giáo dục đều mang nội dung lành mạnh, công tác y tế được phát triển một bước, một số nơi đã xây dựng trạm xá, nhà hộ sinh,
tủ thuốc nhân dân2.
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 8, NXB Chính trị
Quốc gia, H 2000, tr561-562.
2 PGS.TS Đinh Trần Dương: S ự lãnh đạo của Dáng đối với pliát triển xã hội
và quản lý phất triển xã hội trong thời k ỳ 1954-1975, Ký yếu Hội thảo Khoa học "N hững vấn dề lý luận và thực tiễn về nâng cao năng lực và hiệu quả lãnh dạo cùa Đủng đối vói sự phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội" H.2009, tr339
Trang 26Từ năm 1975, chính sách xã hội của Đảng gắn với đường lối xây dựng và phát triển văn hóa, xã hội trong bối cảnh cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, với nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng kinh tế và văn hóa - xã hội.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (năm 1976) nhấn mạnh tập trung cải thiện đời sống vật chất và văn hóa cho nhán dán trở thành một trong hai mục tiêu quan trọng hàng đầu của kế hoạch 5 năm 1976-1980 Báo cáo của Ban Chấp
các vùng bị chiến tranh tàn phá nặng nề) là nhằm trước hết những nhu cầu thông thường về ăn, mặc, ở, đồ dùng hàng ngày, về học tập, bào vệ sức khoẻ ( ) thực hiện phân phối công bằng, hợp lý, thuận tiện cho nhân dần, chú trọng những tầng lớp nhân dân lao động hiện đang làm những việc khó khăn, nặng nhọc, đòi hỏi kỹ thuật cao, sản xuất nhiều sản phẩm quý, xây dựng những công trình quan trọng
Đi đôi với việc chăm lo đời sống vật chất, phải chú trọng cải thiện đời sống văn hoá của nhân dân, tạo ra cuộc sống mới, với những quan hệ xã hội tốt đẹp"1.
Trên cơ sở coi "con người là vốn quý nhất để xây dựng nền kinh tế và văn hoá xã hội chủ nghĩa", Đại hội IV khẳng định mối quan tâm hàng đầu của Nhà nước và toàn dân là
bệnh tật do chiến tranh và xã hội cũ để lại N hà nước và
' Đàng Cộng sán Việt Nam: Văn kiện Đ ả n g toàn tập, tập 37, NXB Chính trị
Q uốc gia, H 2000, tr655-709
Trang 27toàn dân có trách nhiệm chăm lo sức khoẻ, đời sống cùa thương
động, sắp xếp cho mỗi người có công việc hợp lý
Đảng yêu cầu phải tập trung sức phát triển sản xuất nhằm đảm bảo cho xã hội có đủ nhu cầu thiết yếu, đồng thời phải coi trọng công tác tổ chức đời sống cho nhân dần: Từ đời sống tập thể, nhà ăn công cộng, cho đến đời sống của từng gia đình; từ việc cung cấp phân phối hàng hóa cho đến việc nghi ngữi, giải trí, du lịch; từ ăn, mặc, ở, đi lại cho đến học hành, y tế, thể dục thể thao, V.V tất cả mọi lĩnh vực đòi hỏi các cấp đảng và chính quyền, các cơ quan, các tổ chức kinh tế, văn hóa, các đoàn thể quần chúng phải nâng cao tinh thần trách nhiệm và động viên ý thức làm chủ tập thể của nhân dân trong việc phát triển kin h tế, xây dựng đời sống văn hóa mới, con người mới xã hội chủ nghĩa.
Sau 5 năm triển khai thực hiện chủ trương, chính sách của Đại hội IV, đất nước ta lâm vào khó khăn, đòi sống nhân dân sa sút Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V (năm 1982) nhận định những khuyết điểm và sai lầm về lãnh đạo và quản lý kinh
tế, xã hội trong 5 năm kể từ Đại hội IV là rất nghiêm trọng Tinh hình kinh tế và xã hội của nước ta đang có những vấn
đề gay gắt; đời sống nhân dân, nhất là đời sống công nhân, viên chức có nhiều khó khăn.
Trang 28Trong hoàn cảnh đó, Đại hội V nêu những mục tiêu tổng quát vồ kinh tế và xã hội những năm 80 là phải: Đáp ứng những nhu cầu cấp bách và thiết yếu nhất, dần dần ổn định, tiến lên cải thiện một bước đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân, trước hết giải quyết vững chắc vấn đề lương thực, thực phẩm, đáp ứng tốt hơn những nhu cầu về mặc, học hành, chữa bệnh, về ở, đi lại, chăm sóc trẻ cm và các nhu cầu tiêu dùng thiết yếu khác.
Quan điểm chi đạo của Dảng là, phải bảo đảm cho được nhu cầu án của xã hội với mức cố gắng có đủ lương thực, rau, đậu, Cung ứng ổn định lương thực, thực phẩm, chất đốt theo định lượng cho công nhân, cán bộ, bộ đội, nhất là ở các thành phố, khu công nghiệp, biên giới và hải đảo Giải quyết vải mặc cho toàn dân ở mức cần thiết và hợp với khả năng Khẩn trương giải quyết tình trạng thiếu thuốc, trước hết là những loại thuốc chữa bệnh thiết yếu Cung ứng khá hơn các
đồ dùng gia đình và đồ dùng cá nhân thông thường Tăng thêm phương tiện đi lại Giảm bớt khó khăn về thiếu nhà ở, tăng thêm nước sinh hoạt, cung ứng điện hợp lý và bảo đảm
vệ sinh các khu dân cư.
Đại hội đề ra yêu cầu khẩn trương nghiên cứu và ban hành Luật Lao động Giải quyết việc làm cho lao động xã hội theo hướng chủ yếu là phân công lao động tại chỗ để tham gia sản xuất nông nghiệp; mở mang ngành, nghề ở nông thôn, ở các th ị xã, thành phố, nhất là tiểu công nghiệp và thủ còng nghiệp; khai thác lâm nghiệp, ngư nghiệp; mở mang dịch v ụ ở thành phố, V V
Trang 29Tăng cường báo vệ sức khoẻ nhân dân, xây dựng nền y học dân tộc Việt Nam trén cơ sở kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền Làm tốt công tác vệ sinh, phòng bệnh, chữa bệnh và vệ sinh môi trường.
Cải tiến chính sách, chế độ và tận tình chăm sóc, giúp đỡ các gia đình có công với cách mạng, anh chị em thương binh, gia đình liệt sĩ Củng cố các trại nuôi dưỡng thương binh, các
cơ sở chinh hình, để phục hồi chức năng lao động và mờ rộng việc dạy nghề cho thương binh Tổ chức tốt việc nuôi dạy các trẻ mồ côi, giúp đỡ những người già yếu, tàn tật.
Chăm sóc chu đáo những người đã về hưu, đặc biệt chú
chí lão thành1.
Triển khai thực hiện chủ trương của Đảng, tháng 9-1985, Hội đồng Bộ trưởng ban hành N ghị định số 236/HĐBT quy định lại chế độ cứu trợ thường xuyên và chế độ nuôi dưỡng các đối tượng cứu trợ xã hội ở các cơ sở tập trung.
về ưu đãi xã hội, để hạn chế sự thiệt thòi hậu quả do chiến tranh để lại, Đảng và Nhà nước chú trọng tới các đối
người tham gia kháng chiến và người thân của họ b ị ảnh hưởng gián tiếp từ tàn dư của chiến tranh (chất độc màu da cam), chính sách ưu đãi đối với gia đình liệt sĩ, gia đình có
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đ ả n g toàn tập, tập 37, NXB C hính trịQuốc gia, H 2000, trl86-230
Trang 30công với cách mạng; Hai là, ưu đãi đối với người già có quá trình làm việc, lao động láu năm
Thực hiện chính sách xã hội của Đàng từ năm 1975 đến nărr 1986 đã thu được những kết quả tích cực: Trong hoàn cảnh đất nước còn khó khăn, hậu quâ chiến tranh để lại nặng
nề, kinh tế chưa phát triển, thiên tai xảy ra thường xuyèn, nhưng với tinh thần cố gắng khắc phục khó khăn đã giải quyết khá tốt vấn đề lao động và việc làm; ổn định đời sống nhân dán về các mặt Đặc biệt, việc chăm lo người có công với cách mạng đã được quan tâm thực hiện Nhiều phcng trào toàn dân chăm sóc thương bệnh binh, gia đình liệt ỉĩ được triển khai như: Phong trào Trần Quốc Toán (các chái thiếu niên giúp đỡ thương bệnh binh và gia đình liệt sĩ); Phcng trào giúp đỡ thương binh, gia dinh liệt sĩ trong hợp tác xã nông nghiệp; Phong trào đón thương binh, bệnh binh
về rhà sắp xếp việc làm và nuôi dưỡng; Phong trào đỡ đầu, chăn sóc con liệt sĩ, kết nghĩa với bố mẹ liệt sĩ; Phong trào rtguM con hiếu thảo chăm sóc bố mẹ liêt sĩ; Xây dụng nhà tình thương, quỹ tình nghĩa, sổ tiết kiệm tình nghĩa
Các ngành kinh tế quốc dân đã giải quyết thêm việc làm cho 4 triệu lao động Sự nghiệp văn hóa giáo dục, y tế, thể dục thể thao, văn hóa nghệ thuật phát triển có những đóng góp không nhỏ vào xây dựng nền văn hóa mới, con người mới1.
Tí Vũ Thị Thoa: S ự lãnh đạo của Đảng đối với phát triển xã hội và quản lý pìát triển xã hội giai đoạn 1975-1985 (sách Đinh Xuân Lý (Chủ biên): Phát trển xã hội và quản lý phát triển xã hội- M ô hình, thực tiễn và kinh nghiệm,
NKB Chính trị Quốc gia, H.2010, trl47-158).
Trang 31Điểm mới đáng chú ý trong giai đoạn 1975-1985 là, Đảng
đã nhận thức rõ hơn động lực của văn hóa - xã hội, của việc xây dựng con người mới; nhấn mạnh vị trí, vai trò của giáo dục, đật những cơ sở ban đầu rất trọng yếu cho sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, qua đó tiến hành cài cách giáo dục lần thứ ba; đưa ra phương châm
"Nhà nước và nhân dân cùng làm văn hóa".
Thời kỳ trước đổi mới, tuy trong văn kiện của Đảng chưa đưa ra khái niệm về Chính sách xã hội, nhưng trong đường lối xây dựng và phát triển văn hoá - xã hội của Đảng thì chủ trương giải quyết các vấn đề xã hội đã định hình với những nội dung rất cơ bản Việc chi đạo tổ chức thực hiện đã mang lại những thành tựu rất lớn Qua thực tiễn cho thấy: cơ chế
cũ có những nhược điểm, hạn chế của nó, nhưng cũng có những mặt tích cực đối với sự nghiệp phát triển, quản lý xã hội Sự đầu tư của nhà nước, và việc thiết lập quản lý trực tiếp của Nhà nước đã hạn chế được các nguy cơ làm biến dạng, rối loạn đời sống văn hóa - xã hội của nhân dân Các hoạt động tương trợ lao động, điều hoà lương thực - thực phẩm, phân phối bằng chế độ hiện vật, có ý nghĩa đảm bảo
ổn định đời sống của nhân dân, nhất là với đối tượng chính sách; tạo môi trường xã hội lành mạnh, trật tự kỷ cương, con người sống có tình, có nghĩa, có trách nhiệm với nhau Đó là những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu để kế thừa, phát triển phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện mới.
Nhưng mặt khác, từ năm 1945 đến năm 1986 là thời kỳ đặc biệt: đất nước xảy ra các cuộc chiến tranh ác liệ t chống
Trang 32Pháp, M v xâm lược và các cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới;
sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình Liên Xô (kế hoạch hoá, tập trung quan liêu, bao cấp) đã bộc lộ những khó khăn gay gắt Hoàn cảnh lịch sử đặc biệt này tác động tiêu cực đến việc hoạch định chủ trương, chính sách xã hội
và chỉ đạo thực tiễn của Đảng trong giải quyết các vấn đề thuộc lĩnh vực xã hội, với những hạn chế, như:
thực tế là không hợp lý, do đó, không phát huy được tính tích cực, tự giác của người lao dộng,- triệt tiêu động lực phát triển
xã hội.
tiền lương, chi phí cho lĩnh vực phát triển xã hội đã triệt tiêu khả năng huy động các nguồn lực khác để giải quyết các vấn
đề xâ hội Trong khi đó thì Nhà nước không đủ tiềm lực để bao cấp hết, hay nói cách khác là nhà nước không thể "ôm " hết các chi phí cho việc giải quyết các vấn đề xã hội, do đó tạo
ra sự bức xúc về các vấn đề văn hóa - xã hội và trên thực tế,
cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu đã hạn chế tính xã hội hóa, tính năng động của mỗi người dân và xã hội trong phát triển xã hội thời kỳ trước đổi mới
Cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng diễn ra
từ thập kỷ 80, không chỉ biểu hiện ở sự sụt giảm mức sống, đời sống của người dân, mà nguy hiểm hơn là làm giảm sút nghiêm trọng lòng tin của nhân dân đối với Đảng, với Nhà nước, với chế độ xã hội chủ nghĩa Thực tế cho thấy, một trong những nguyên nhân sâu xa dẫn đến tình trạng đó,
Trang 33chính là việc chưa nhận thức đầy đủ v ị trí, vai trò của việc giải quyết các vấn đề xã hội đối với đời sống xã hội - chính trị
và đối với đảng cầm quyền Đây là vấn đề cốt yếu cần phải
Mặt khác, công cuộc đổi mói, nhất là đổi mới tư d uy về kinh tế đặt ra yêu cầu phải xóa bỏ triệ t để cơ chế kinh tế kế
hội Đảng lần thứ IX, năm 2001) Việc chuyển đổi nền kin h tế đặt ra yêu cầu phải đổi mới các lĩn h vực khác, trong đó có đòi hỏi phải đổi mới tư duy và thực tiễn giải quyết các vấn đề xã hội’
Tiếp theo là xu thế toàn cầu hóa và việc nước ta hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, tạo nhiều thuận lợi cho
sự phát triển quốc gia, nhưng đồng thời cũng phải đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng, trong đó có những thách
ĐÓ là những việc cần tập trung giải quyết nhu: tình trạng thất nghiệp của công nhân do sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước; lạm phát cao ảnh hưởng tiêu cực đến đờỉ sống hàng ngày của nhân dân; phân hoá giàu nghèo diễn ra ngày càng sau Sắc7 mà ở đó những người ít có cơ hội vươn lên trong cơ chế mới như thương binh, bệnh binh, gia đình Bệt sĩ, đồng bào dân tộc thiểu số, vẫn là những đối tượng chịu nhiều thiệt thòi nhất Trong khi đó đất nước vẫn chưa thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, thiếu các tiềm lực cần thiết đầu tư giải quyết các vấn đề xã hội đang đòi hỏi nhu cầu lớn và rất bức xúc Ngoài ra chưa kể những tệ nạn
xã hội nảy sinh do cơ chế chế củ chưa bị thủ tiêu hoàn toàn và cơ chế mới chưa được xác lập đồng bộ.
Trang 34thức về mặt xã hội, đã đặt ra yêu cầu Đảng phải đổi mới chú trương, chính sách giải quyết các vấn đề xã hội’
Và, bao trùm lên tất cả là, sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước theo hướng vì con người, do con người đã nẩy sinh nhiều vấn đề xã hội cần phải giải quyết, như: Thay thế chế độ "biên chế suốt đời" đối với người lao động thời bao cấp, mà nay không còn phù hợp với cơ chế thị trường; Chế
độ phúc lợi công cộng theo hình thức bao cấp hiện vật bình quân chủ nghĩa sẽ phải thực hiện bằng phương thức mới như thế nào trong điều kiện cơ chế thị trường để vừa đáp ứng lợi ích thiết thực cho người dân, lại vừa tạo động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội? Việc thay đổi chế độ tiền lưcyng trong điều kiện lạm phát, khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng phải có hình thức, bước đi như thế nào? Chuyển đổi sang nền kinh tế th ị trường tất yếu nảy sinh sự phán tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo, tạo ra những bức xúc, bất ổn xã hội Và hàng loạt những vấn đề chưa có tiền
lệ khác phát sinh, đòi hỏi Đảng phải đổi mới cả về hoạch định đường lối, chính sách đến chỉ đạo thực hiện lĩnh vực phát triển xã hội.
Xu thế toàn cầu hoá ngày càng sâu rộng tất yếu dẫn đến sự tăng cường hội nhập, giao lưu, đã và đang tác động mạnh mẽ, toàn diện và sâu sắc vào đời sống văn hoá - xã hội của các dân tộc, các quốc gia Hàng loạt vấn
đề mới đặt ra đối với Đảng trong việc hoạch định đường lối để xử lý mối quan hệ giữa bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc với việc tiếp nhận văn hoá thế giới trong quá trình mở cửa, hội nhập Quá trình hội nhập củng tạo ra sức ép trong việc bảo vệ những giá trị xã hội, những chính sách xã hội tiến bộ mà dân tộc và cách mạng đã mang lại.
Trang 35Như vậy, từ những thành tựu và hạn chế của việc lãnh đạo giải quyết các vấn đề xã hội thời kỳ trước đổi mới, và
để thích ứng với những chuyển biến sâu sắc của tình hình trong nước, tìn h hình quốc tế từ những năm 80 của thế kỷ
XX, đã đặt ra cho Đàng, Nhà nước vấn đề cần phải đổi mới
từ nhận thức đến thực tiễn giải quyết các vấn đề xã hội,
sách và phương thức giải quyết các vấn đề xã hội đạt hiệu quả cao của thờ i kỳ trước đổi mới; M ặ t khác, phải đổi mới
tư duy và phương thức lãnh đạo, chi đạo của Đảng về lĩn h vực xã hội để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước.
1.2 Quan điểm và kin h nghiệm giải quyết các vấn đề xã hội
của một số nước và tổ chức quốc tế
Từ trường hợp Liên X ô
Mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, với hệ thống chính trị Đảng Cộng sản lãnh đạo theo phương thức cầm quyền trực tiếp, hành chính mệnh lệnh, quan liêu Quyền lực chính trị của Đảng trùm lên chức năng của nhà nước; cơ chế quản
lỹ kinh tế theo kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp về quản lý xã hội cũng duy trì kiểu phương thức kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp Quan điểm của Đảng Cộng sản Liên Xô về giải quyết các chính sách xã hội là: bảo đảm nhu cầu cho người dân càng nhiều và càng không mất tiền thì càng thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa.
Không thể phủ nhận một thực tế là, trong giai đoạn đầu xây dựng xã hội chủ nghĩa, Liên Xô đã huy động được nhiều
Trang 36nguồn lực để thực hiện chính sách xã hội và cho phát triển xã hội nói chung trong điều kiện nền kinh tế trình độ phát triển thấp, tiềm lực kinh tế còn chưa cao Nhiều thành tựu to lớn thuộc lĩnh vực xã hội, đặc biệt là về giải quyết các vấn đề xã hội được ghi nhận một cách đáng tự hào Đó là các vấn đề như: cải thiện đời sống cho nhân dân; thực hiện chương trình phổ cập.học vấn toàn dân, chế độ miễn học phí cho trc em; chế độ trợ cấp, ưu đãi cho trẻ em từ mẫu giáo đến phổ thông; sự quan tâm chăm sóc sức khỏe cho con người, chăm sóc người về hưu, cao tuổi thông qua việc quan tâm chu đáo đến các cơ sở điều trị, phục hồi sức khỏe, dưỡng lão; báo vệ quyền lợi cho phụ nữ và trẻ em Cùng với đó là việc chăm lo nhà ở cho người dân; đầu tư xây dựng đường sá, cầu cống, tàu điện ngầm, phục vụ cho cuộc sống của nhân dân Có thể nói, hình ảnh Liên Xô trong thực hiện chính sách xã hội
và an sinh xã hội đã từng có thời kỳ thể hiện một cách sinh động bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa.
Nhưng việc thực thi kéo dài phương thức lãnh đạo - cầm quyền trực tiếp của bộ máy Đảng đối với nhà nước, và việc duy trì cơ chế quản lý phát triển xã hội theo kế hoạch tập trung, quan liêu, bao cấp, ngày càng thiên về mệnh lệnh hành chính đã làm biến dạng không chi trong việc hoạch định, thực th i các chính sách xã hội (chủ quan, duy ý chí; khi thì coi chính sách xã hội là "cái đuôi" của kinh tế, khi thì ưu tiên giải quyết chính sách xã hội "vượt trước" khả năng của nền kinh tế), mà tệ hại hơn là sự biến thái về đạo đức, thói vô trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên có chức, có quyền,
Trang 37từ đó làm mất uy tín của Đảng, của nhà nước và niềm tin của người dân vào chế độ xã hội chủ nghĩa Xô Viết.
Thực tế cho thấy, những yếu kém, khuyết điểm trong lãnh đạo, quấn lý giải quyết các vấn đề xã hội và phát triển xã hội, là một trong những nguyên nhân đổ vỡ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô Đó là những yếu kém, khuyết điểm cụ thể như:
- Thiếu dân chủ trong lãnh đạo, quản lý; v i phạm dân chủ của nhân dân.
Chủ quan duy ý chí, giáo điều và tả khuynh, cơ hội trong hoạch định đường lối, chính sách.
- Xa rời thực tiễn và xa dân, không còn là người thể hiện lợi ích của nhân dân, người thực th i quyền lực nhân dân, người bảo vệ cuộc sống của dân!.
Từ trường hợp Liên X ô cho th ấ y:
- Việc giải quyết các vấn đề xã hội, đảm bảo lợi ích cho người dân là nhân tố quan trọng nhất thể hiện bản chất của
m ột chế độ xã hội, là điều kiện để có m ột xã hội vận hành • f « ' • • • •lành mạnh, một chế độ chính trị bền vững Do đó, giải quyết các vấn đề xã hội phải được kết hợp với mục tiêu tăng trưởng kinh tế ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển;
1 GS.TS Hoàng Chí Bảo: S ự lãnh đạo của Đ ảng đối với phát triển xã hội và quản lý phát triền xã hội - từ bài học củạ Liên Xô đến những vấn đề cần tham khảo cho Việt N am (sách PGS.TS Đinh Xuân Lý (Chủ biên): Đảng lảnh đạo phát triển xã hội và quản lý phát triền xã hội thời kỳ đổi mới - một số vắn đề lý luận và thực tiễn, NXB Chính trị Quốc gia, H.2009, tr84-90).
Trang 38giải quyết các vấn đề xã hội thuộc về lợi ích của người dân
phải từng bước được nâng cao, tương ứng với sự phát triển
thường xuyén nhu cầu của người dân; giải quyết các vấn đề
xã hội phải trên cơ sở đa dạng hóa các hình thức phân phối
và theo phương châm "nhà nước và nhân dân cùng làm" - tức là phải được xã hội hóa việc giải quyết các vấn đề xã hội.
nơi biểu hiện rõ nhất các quan hệ giữa người với người, do
đó, sự lãnh đạo, quản lý không thể đơn thuần bằng mệnh
lệnh hành chính; giải quyết các vấn đề xã hội phải thông qua quản lý của nhà nước và sự tham gia của các tổ chức xã hội nhằm bảo đảm tối đa sự phát triển "đời sống riêng" của các
cá nhân và các cộng đồng tộc người trong xã hội.
Từ trường hợp Trung Quốc
Sau khi cách mạng Trung Quốc thành công (1949) cho đến trước Hội nghị Trung ương 3, khóa XI Đảng Cộng sản Trung Quốc (12-1978), mô hình chính trị ở Trung Quốc là
"nhất nguyên hóa" - quyền uy của Đảng bao trùm lên tất cả các lĩnh vực đời sống xâ hội Hậu quả của nó là, một mặt làm xóa nhoà ranh giới giữa chức năng lãnh đạo của đảng với chức năng quản lý của nhà nước, làm suy yếu vai trò, vị trí và
uy tín của cả hai tổ chức này; mặt khác, làm hạn chế tính chủ động, sáng tạo của cơ sở, địa phương, nảy sinh tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào đảng, vào nhà nước trong các tầng lớp nhân dân, cản trở sự phát triển của xã hội, và gây nên sự rối loạn trong quản lỷ xã hội Trung Quốc Từ sau Hội nghị Trung ương 3, khóa XI Đảng Cộng sản Trung Quốc (12-1978) cho
Trang 39đến nay, sau hơn 30 năm kiên trì công cuộc cải cách, Trung Quốc đã thực hiện thành công mô hình phát triển mới Trong
đó, về lĩnh vực xã hội, từ "H ội nghị Trung ương 6 khóa XVI, Đảng Cộng sản Trung Quốc lần đầu tiên đề cập đến vấn đề cải cách thể chế xã hội, đánh dấu chặng đường mới trong quá trình điều chỉnh và tạo dựng một mô hình phát triển xã hội
và quản lý phát triển xã hội mới của Trung Q uốc"1.
Từ sau Đại hội XVII của Đảng Cộng sản Trung Quốc,
chủ đạo; trong đó mấu chốt là "xây dựng toàn diện xã hội khá giả" trong hai mươi năm đầu của thế kỷ XXI, với mục tiêu chủ yếu là: "xây dựng xã hội lấy cải thiện dân sinh làm trọng điểm" ngang tầm với phát triển kinh tế, phát triển chính trị, phát triển văn hoá, bảo vệ môi trường tự nhiên, trên cơ sở thúc đẩy làm giàu hợp pháp, chăm lo cho người nghèo, phát triển miền Đông và đại khai phát miền Tây,
Trung Quốc hiện nay đã tương đối được định hình theo hướng: "Đảng lãnh đạo, chính quyền phụ trách, xã hội hiệp đồng,
căn bản, trách nhiệm của chính quyền là tiền đề, sự hiệp
1 Báo cáo tổng hợp kết quả của đề tài cấp nhà nước "Mổ hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của Trung Quốc và một số nước Đông Á - Kinh nghiệm và ý nghĩa đổi với Việt N am n, Mã số KX02.il/06-10, Chủ nhiệm đề tai: PGS.TS Phùng Thị Huệ, H.2010, trló
Trang 40đồng của xã hội là chỗ dựa, sự tham dự của công chúng là nền tàng.
Trên một mức' độ nhất định, Trung Quốc đã thực hiện cải cách phường thức đám bảo an sinh xã hội và phúc lợi xã hội, trong đó có việc khắc phục những hạn chế của nhà nước bằng cách mở rộng sự tham gia của các tổ chức và tư nhân ngoài nhà nước vào các lĩnh vực cung ứng dịch vụ xã hội cơ bản, như giáo dục, y tế, nước sạch, môi trường, v.v Điểm
n ổ i bật là nguyên tắc cơ bản quản lý đất nước bằng luật pháp thực sự thấm sâu vào nhiều lĩnh vực xã hội: quyền lợi của người dân từng bước được tôn trọng và đảm bảo; việc làm và
đ ò i sống người dân được cải thiện; bảo hiểm xã hội được mở rộng; hệ thống dịch vụ công cộng cơ bản được hoàn thiện hen; hệ thống quản lý xã hội từng bước hoàn thiện; trật tự xã
h ộ i cơ bản ổn đ ịn h 1.
Tuy nhiên, vì Trung Quốc là m ột nước đang phát triển,
và đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế, thực hiện cải cách, mở cửa để phát triển, do đó, mặc dù đã đạt được những thành tựu to lớn về nhiều mặt, nhưng quốc gia này cũng đang phải đối mặt với những khó khăn, thách thức to lớn, nhất là trong việc giải quyết các vấn đề xã hội Đó là những khó khăn trong hoạch định đường lối, chính sách giải quyết các vấn đề xã hội và quản lý xã hội phải hết sức thận trọng, phải đi từng bước theo phương châm "dò đá qua sông" Hơn
1 Sách Xanh xã hội (Trung Quốc) năm 2009, NXB Văn kiện khoa học xã hội, Bắc Kinh, 2009.