1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bộ đội Trường Sơn đường Hồ Chí Minh - Lịch sử quân đoàn 559: Phần 2

134 6 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bộ đội Trường Sơn đường Hồ Chí Minh - Lịch sử quân đoàn 559: Phần 2
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử quân sự
Thể loại bài viết
Năm xuất bản 1970
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 2,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nối tiếp nội dung chi tiết Tài liệu Lịch sử quân đoàn 559 bộ đội Trường Sơn đường Hồ Chí Minh, phần 2 trình bày các nội dung: Quân y Trường Sơn vươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến đấu góp phần đảm bảo giao thông chi viện các hướng chiến trường đanh bại chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của đế quốc Mỹ 1969 - 1972;... Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.

Trang 1

Chương ba

Quân y Trường Sơn vươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ phục vụ chiến ñấu góp phần ñảm

bảo giao thông chi viện các hướng chiến trường ñánh bại chiến lược

“ Việt Nam hoá chiến tranh ” của ñế quốc Mỹ - thời kỳ 1969 - 1972

Trang 2

I Hoạt ñộng quân y trong chiến dịch vận chuyển mùa khô 1969 - 1970

Thực hiện nghị quyết Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương về tình hình

và nhiệm vụ mới trong giai ñoạn trược mắt của quân và dân hai miền Nam – Bắc nhằm ñánh bại chủ trương “Việt Nam hoá chiến tranh” của Mỹ, ñảng uỷ Bộ Tư lệnh 559 xác ñịnh nhiệm vụ mùa khô 1969 – 1970 của ðoàn là hết sức nặng nề

và khó khăn, ñòi hỏi phải có trình ñộ tổ chức chiến ñấu cao và sự nỗ lực thật lớn của mọi cán bộ, chiến sĩ trong toàn ðoàn thì mới có thể hoàn thành ñược Ngay sau hội nghị quân chính tháng 7 năm 1969, ðảng uỷ – Bộ Tư lệnh ñã tập trung chỉ ñạo, ñôn ñốc các lực lượng tích cực chuẩn bị, coi việc “hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chuẩn bị là một nửa thắng lợi trong chiến ñấu”

Sau gần 2 tháng tập kết ra Bắc nghỉ ngơi, an dưỡng, sức khỏe bộ ñội ñã ñược khôi phục, tỷ lệ quân số chiến ñấu ñạt 90%

Cơ quan tham mưu ðoàn và các binh trạm ñã tranh thủ thời gian giải quyết một số công việc hết sức cần thiết trong khâu chuẩn bị như phân loại và ñiều xe vào các xưởng sửa chữa, nhận xe bổ sung, xin phụ tùng, nhiên liệu, hàng hóa, tiếp nhận quân bổ sung…

Các Cục thuộc Bộ Tổng tham mưu, Tổng Cục Hậu cần lo ñôn ñốc việc ñáp ứng nhu cầu của ðoàn 559 Chỉ sau hai tháng, ðoàn ñã nhận ñược bổ sung 1.720 xe ô tô cho lực lượng vận tải và 1.181 xe ô tô các loại cho các binh chủng khác, 154 máy các loại trong ñó có 60 máy húc, 54 xe và thuyền phóng từ, 40 máy ñẩy, toàn bộ thiết bị cho 15 xưởng tiểu tu và những thiết bị bổ sung cho xưởng ñại tu Q300 Trên một triệu mét dây trần thông tin tải ba và dây bọc, 100 máy thông tin vô tuyến sóng ngắn và bộ ñàm, 1000 máy ñiện thoại… ðồng thời nhận trên 2.000 lái xe và thợ sữa chữa, 1.500 y tá và dược tá, hàng trăm kỹ sư, bác sĩ, dược sĩ ñại học, dược sĩ trung học, ñưa quân số toàn ðoàn lên ñến 55.588 người

ðược sự nhất trí của quân ủy Trung ương, ðoàn 559 thành lập thêm 3 cơ quan tham mưu chuyên ngành: tham mưu tác chiến, tham mưu vận chuyển, tham mưu công binh và một văn phòng tương ñương cấp Cục ở cấp binh trạm cũng tổ chức 3 ban tham mưu tương ñương

Về ñịa bàn hoạt ñộng, do việc giải thể ðoàn 500 nên các Binh trạm cửa khẩu 12, 14, 9, 27 ñều ñược sáp nhập vào ðoàn 559, kéo dài hành lang hoạt ñộng của ðoàn ra ñến Quảng Bình từ ñèo Mụ Giạ (ñường 12) qua Phong Nha (ñường 20) ñến ngã ba áng Sơn (ñường 15) nơi xuất phát ñường 10, xuống ñến Thạch Bàn nơi xuất phát ñường 16 – tất cả chính diện khoảng 150 km

Với quyết ñịnh này, việc chỉ ñạo, chỉ huy vận chuyển của ðoàn 559 càng

có thêm thuận lợi cho cả phía trước lẫn phía sau thống nhất chỉ huy

Ngày 2 tháng 9 năm 1969, trong khi hàng vạn cán bộ, chiến sĩ ðoàn 559 ñang tập trung vào việc chuẩn bị nhập tuyến thì ñau ñớn ñột ngột hay tin Chủ Tịch Hồ Chí Minh – lãnh tụ vĩ ñại của dân tộc Việt Nam, người Cha thân yêu của các lực lượng vũ trang qua ñời

Trang 3

Tất cả cán bộ, chiến sĩ đoàn 559 dù ựang ở hậu phương hay ựang trực tiếp công tác, chiến ựấu trên tuyến ựều ựể tang Bác trong nỗi tiếc thương khôn tả Cán bộ, chiến sĩ Pa Thét Lào và nhân dân các bộ tộc Lào anh em dọc hai bên hành lang tuyến Trường Sơn hay tin Bác mất ựã không quản mưa lũ dâng tràn ựều tìm ựến các cơ sở ựóng quân của ta ựể chia sẻ ựau thương Giữa Trường Sơn không thể kiếm ựâu ra nén hương thơm, bộ ựội ta ựành phải ựi tìm những bó hoa rừng ựẫm nước mưa dâng lên bàn thờ Bác ựặt ở vị trắ trang trọng nhất trong các hầm trú quân Khi theo dõi lễ tang qua máy thu thanh vào ngày 9 tháng 9 tại Hà Nội, tất cả ựều nước mắt vòng quanh Các ựồng chắ thương binh, bệnh binh nặng cũng cố gượng dậy ựể cúi ựầu mặc niệm Bác và lắng nghe di chúc của NgườiẦ

Sau lễ tang Bác, đại tướng Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Võ Nguyên Giáp

và một số người cùng ựi ựã trực tiếp làm việc với Tư lệnh và Chắnh ủy 559

Cuối buổi làm việc, đại tướng nhắc nhở: việc tổ chức nhập tuyến phải ựược coi

như một chiến dịch vận ựộng tác chiến lớn, cần hết sức thận trọng, bắ mật, bất ngờ, an toàn và thắng lợi

Ngày 17 tháng 9 năm 1969, đảng ủy Ờ Bộ Tư lệnh thông qua phương án sắp xếp lực lượng, bố trắ ựội hình trên toàn tuyến Tư tưởng chỉ ựạo của phương

án này là giữ nguyên giới tuyến các binh trạm, không xáo trộn khu vực chiến ựấu của các lực lượng nhằm phát huy sở trường thông thạo ựịa hình đối với các khu vực trọng yếu, có nhiều khó khăn thì bố trắ những lực lượng mạnh ựủ khả năng ựảm ựương Trên tinh thần ựó, ựội hình toàn tuyến ựược sắp xếp, bố trắ như sau:

1 Bốn binh trạm bố trắ trên 4 tuyến ngang vượt khẩu gồm:

Binh trạm 9: phụ trách từ km O ựường 18 ựến nam Tà Khống bắc ựường 9 với

cự ly dài 100 km, chỉ huy sở ở Trà Vinh Lực lượng gồm:

Hai tiểu ựoàn công binh (94, 337)

Một tiểu ựoàn xe (878)

Một tiểu ựoàn ựường ống (668)

Một ựại ựội súng máy 12,7 ly

Sáu phân ựội khác phục vụ chiến ựấu gồm kho, thông tin, giao liên cơ giới, ựội ựiều trị, hai trạm phẫu thuật

Chủ nhiệm quân y Binh trạm là bác sĩ Lưu Xuân Huệ, ựội trưởng ựội ựiều trị là bác sĩ Nguyễn Văn Quật (năm 1970 về làm Chủ nhiệm quân y Binh trạm 9

và ựã hy sinh) đội phẫu thuật 1 chốt ở trọng ựiểm Phà Long đại do bác sĩ Nguyễn Xuân Kỷ phụ trách và ựội trưởng ựội phẫu thuật 2 (chốt ở Pha Băng Nưa) là bác sĩ đàm Tiến Hành

Binh trạm 12: phụ trách trên ựường 12 từ Khe Ve ựến Na Tông dài 120 km, chỉ

huy sở ựặt ở nam Mụ Dạ Lực lượng gồm:

Ba tiểu ựoàn công binh (2, 53, 93)

Hai tiểu ựoàn xe (101, 770)

Một tiểu ựoàn ựường ống (868)

Một tiểu ựoàn cao xạ (44)

Trang 4

Một ựại ựội bộ binh

Bốn phân ựội phục vụ chiến ựấu gồm kho, thông tin, giao liên cơ giới, 1 ựội ựiều trị, 3 ựội phẫu thuật chốt tại các ựiểm Pa Na Phào, Xóm Péng, Văng

Viêng

Chủ nhiệm quân y là bác sĩ Trịnh Huy Oai (từ tháng 4 năm 1970 là bác sĩ Nhàn); ựội trưởng ựiều trị là bác sĩ Lê Văn đắnh

Binh trạm 14: phụ trách ựoạn ựường 20 từ km 39 ựến Lùm Bùm, Nậm Khừng,

cự ly 110km Chỉ huy sở ở phân trạm C, bắc cua chữ A Lực lượng gồm:

Ba tiểu ựoàn công binh (24, 33, 335)

Hai tiểu ựoàn xe (52, 781)

Một tiểu ựoàn cao xạ (42)

Một tiểu ựoàn giao liên (7)

Một ựại ựội bộ binh và 4 phân ựội khác phục vụ chiến ựấu gồm thông tin, kho, 1 ựội ựiều trị và các ựội phẫu thuật chốt ở các trọng ựiểm: phà Xuân Sơn, cua chữ A, Nậm Tà Lê, ựèo Phu La Nhắch (ATP), Lùm Bùm, Chà Là (ựội trưởng là bác sĩ Nguyễn Tiến Dậu)

Chủ nhiệm quân y Binh trạm là bác sĩ nguyễn Năng Dựng

Binh trạm 27: phụ trách trên ựường 16 từ Vắt Thù Lù ựến Chà Li Ờ kho Vinh, cự

ly 100 km Chỉ huy sở ở Chà Li Lực lượng gồm:

Một tiểu ựoàn vận tải ựường sông (161)

Một ựại ựội công binh cải tạo ựường sông

Một trung ựội ô tô vận tải

Một tiểu ựoàn súng máy 14,5 ly (35)

Một ựại ựội bộ binh

Ba phân ựội phục vụ chiến ựấu gồm thông tin, kho, 3 ựội ựiều trị kiêm phẫu thuật: ựội 1 ựóng ở suối Chà Li do bác sĩ Nguyễn Hồng Thị làm ựội trưởng; ựội 2 ựóng ở hang Tà Nụp (nam Xê Băng Hiên) do y sĩ Nguyễn Tiến Huống phụ trách và ựội 3 ựóng ở hang Ca đo (bắc Xê Băng Hiên), ựội trưởng

Binh trạm 31: phụ trách trên 2 trục ựường 128 và 129 từ Na Tông ựến Lùm

Bùm, cự ly 100 km Chỉ huy sở ở bắc Na Tông Lực lượng gồm:

Hai tiểu ựoàn công binh (25, 27)

Một tiểu ựoàn xe (53)

Hai tiểu ựoàn cao xạ (14, 26)

Một tiểu ựoàn giao liên (6)

Một tiểu ựoàn kho

Trang 5

Một ựại ựội bộ binh và 4 phân ựội khác bao gồm thông tin, cơ giới, 1 ựội ựiều trị và các ựội phẫu thuật chốt tại các trọng ựiểm: Xiêng Phan, Pac Pha Năng, Tha Pa Chon

Chủ nhiệm quân y Binh trạm là bác sĩ đỗ Văn Ngoạn

Binh trạm 32: phụ trách trên hai trục ựường:

- Trục ựường 128 từ Lùm Bùm ựến Tha Mé, dài 120 km

- Trục ựường 129 từ Nậm Khừng ựến Mường Phìn, cự ly khoảng 80 km Chỉ huy sở ở Lùm Bùm Lực lượng gồm:

Ba tiểu ựoàn công binh (31, 43, 69)

Ba tiểu ựoàn xe (60, 101, 990)

Ba tiểu ựoàn cao xạ (12, 16, 22)

Một tiểu ựoàn giao liên (9)

Một tiểu ựoàn kho

Một trạm trung tu

Một ựại ựội bộ binh và một số phân ựội khác gồm: thông tin, dân vận, 1 ựội ựiều trị và 2 ựội phẫu thuật ựóng ở bắc và nam Văng Mu Viện 59 ựóng gần bản Na Bo thuộc ựịa bàn này

Chủ nhiệm quân y là bác sĩ Phạm Văn Bạn Công tác ở các ựội phẫu thuật

có các quân y sĩ: Nguyễn Tiến Huống, y sĩ Khoa, y sĩ Ngoạn, y sĩ MầuẦ

Binh trạm 33: phụ trách trên trục ựường 128, ựoạn từ ựường 9 ựến La Hạp, cự ly

100 km Chỉ huy sở ựặt ở nam Tha Mé Lực lượng gồm:

Hai tiểu ựoàn công binh (71, 35)

Hai tiểu ựoàn xe (61, 965)

Hai tiểu ựoàn cao xạ (20, 34)

Một tiểu ựoàn giao liên (10)

Một ựại ựội bộ binh và 6 phân ựội khác bao gồm kho, thông tin, dân vận,

1 ựội ựiều trị ựóng ở nam Tha Mé do bác sĩ Phạm Văn Lạn (quê Thái Bình) làm ựội trưởng và 4 ựội phẫu thuật chốt tại các ựiểm: bản đông Ờ Thà Khống, Xê Pôn, Tôn Ru

Chủ nhiệm quân y Binh trạm là bác sĩ đỗ đức Niên

Binh trạm 34: phụ trách trên ựường 128 và 21 từ La Hạp ựến Bạc, cự ly 110 km

Chỉ huy sở La Hạp Lực lượng gồm:

Hai tiểu ựoàn công binh (29, 39)

Một tiểu ựoàn xe (51)

Một tiểu ựoàn cao xạ (10)

Một tiểu ựoàn giao liên (12)

Một ựại ựội bộ binh và 5 phân ựội khác bao gồm kho, thông tin, dân vận,

1 ựội ựiều trị (bác sĩ Liễu làm ựội trưởng), 1ựội phẫu thuật do bác sĩ Xướng phụ trách (về sau bác sĩ Mai Na thay thế)

Chủ nhiệm quân y Binh trạm là bác sĩ Vũ Hữu Cầu

Trang 6

Binh trạm 35: phụ trách ựoạn ựường từ Bạc ựến Tăng Cát (ựường 128), cự ly 90

km Chỉ huy sở ở nam Tăng Cát Lực lượng gồm:

Một tiểu ựoàn công binh (41)

Một tiểu ựoàn xe (59)

Một tiểu ựoàn thuyền (6)

Một tiểu ựoàn giao liên (12)

Một ựại ựội bộ binh và 5 phân ựội khác gồm kho, thông tin,dân vận, 1ựội ựiều trị ựóng gần bản Cha Cơi và các ựội phẫu thuật chốt tại các ựiểm Chà Vằn, Bến Bạc, đèo Long

Chủ nhiệm quân y Binh trạm là bác sĩ Nguyễn Văn Khai

Binh trạm 38: phụ trách trên ựường 128 từ Tăng Cát ựến Chà Vằn, cự ly 90 km

Chỉ huy sở ở bắc Chà Vằn Lực lượng gồm:

Một tiểu ựoàn công binh (43)

Hai ựại ựội xe (1, 2)

Một tiểu ựoàn cao xạ (40)

Một tiểu ựoàn giao liên (15)

Một ựại ựội bộ binh và 4 phân ựội khác gồm kho, thông tin, 1 ựội ựiều trị

và các ựội phẫu thuật

Chủ nhiệm quân y Binh trạm là bác sĩ Võ Hồng Phước

Binh trạm 36: phụ trách từ Chà Vằn ựến nam Xê Ca Mán trên ựường 128, cự ly

100 km Chỉ huy sở ựặt ở Chà Vằn Lực lượng gồm:

Một tiểu ựoàn công binh (341)

Một tiểu ựoàn xe (972)

Một tiểu ựoàn cao xạ (32)

Một tiểu ựoàn giao liên (13)

Một ựại ựội bộ binh và 6 phân ựội khác gồm kho, thông tin, trung tu, dân vận, 1 ựội ựiều trị do bác sĩ Vũ đình Khôi Nam làm ựội trưởng ựóng ở nam Bạc,

2 ựội phẫu thuật (ựội 1 ựóng ở Bô Phiêng do bác sĩ Hà Ngọc Kiểu phụ trách và ựội 2 ựóng ở Xê Ca Mán do bác sĩ đoàn Chuyên làm ựội trưởng)

Chủ nhiệm quân y Binh trạm là bác sĩ đàm Quang Hải

3 Bốn binh trạm bố trắ trên các tuyến ựường ngang tiếp giáp với chiến trường Trị Ờ Thiên, Quân Khu 5, Tây Nguyên:

Binh trạm 37: phụ trách trên ựường 128, ựoạn từ Xê Ca Mán ựến S9 (nam Phi

Hà) và ựường 49 từ Phi Hà ựến Tà Ngâu Chỉ huy sở ở nam Xê Xụ Lực lượng gồm:

Hai tiểu ựoàn công binh (1, 2)

Một tiểu ựoàn xe (58)

Một tiểu ựoàn cao xạ (30)

Một tiểu ựoàn bộ binh (2)

Trang 7

Một tiểu ựoàn giao liên (16) và 6 phân ựội khác gồm: kho, thông tin, dân vận, thu mua, ựội ựiều trị (ựóng ở ngã ba Phi Hà do bác sĩ Phan đức Thiện làm ựội trưởng), ựội phẫu thuật

Chủ nhiệm quân y Binh trạm là bác sĩ Ngô Quang Thân (sau một thời gian bác sĩ Thiện thay thế)

Binh trạm 41: phụ trách trên ựoạn ựường 9 từ nam Tà Khống Ờ Bản đông ựi Tà

Cơn, ựi A Túc (ựường B45), ựi Li Tôn (ựường B70), cự ly 100 km Chỉ huy sở ở nam Tà Khống Lực lượng gồm:

Ba tiểu ựoàn công binh (1, 75, 39)

Một tiểu ựoàn xe (54)

Hai tiểu ựoàn cao xạ (4, 24)

Một ựại ựội bộ binh và 6 phân ựội khác gồm kho, thông tin, giao liên cơ giới, dân vận, 1 ựội ựiều trị (bác sĩ Cường làm ựội trưởng), 2 ựội phẫu thuật (ựội 1 do bác sĩ Hồng Lan phụ trách; ựội 2 do bác sĩ Nguyễn Văn ThưởngΥ phụ trách)

Chủ nhiệm quân y: bác sĩ Nguyễn Lương Tự Ờ sau ựó là bác sĩ Nguyễn Khắc Tuyên

Binh trạm 42: Phụ trách trên ựường B 45 từ km 10 ựến Xưởng giấy (tây nam

Thừa Thiên), cự ly 131 km Ờ Chỉ huy sở ở A Túc Lực lượng gồm:

Hai tiểu ựoàn công binh (37, 45)

Một tiểu ựoàn xe (55)

Một tiểu ựoàn cao xạ (12)

Một tiểu ựoàn bộ binh (5)

Một tiểu ựoàn giao liên (14)

6 phân ựội phục vụ chiến ựấu gồm kho, thông tin, dân vận và quân y Riêng quân y có 1 ựội ựiều trị do bác sĩ Cường phụ trách; 2 ựội phẫu thuật (ựội

1 do bác sĩ Hồng Lan phụ trách và ựội 2 do bác sĩ Lê Văn Cán làm ựội trưởng).Chủ nhiệm quân y binh trạm là bác sĩ Lê Trung Kiên Ờ sau ựó là bác sĩ đỗ đức Niên

Binh trạm 44: Phụ trách trên ựường B 46 từ Chà Vằn ựi Lan Tôn Ờ giáp ựường

14 Quân Khu 5, cự ly 117 km Chỉ huy sở ở đắc Chưng Lực lượng gồm:

Một tiểu ựoàn công binh (21)

Một trung ựoàn công binh (10) phối thuộc

Một tiểu ựoàn xe (56)

Một tiểu ựoàn cao xạ (28)

Một tiểu ựoàn giao liên (17)

Hai ựại ựội bộ binh (2, 3)

Lực lượng phục vụ chiến ựấu có 4 phân ựội gồm: kho, thông tin, dân vận, ựội ựiều trị, ựội phẫu thuật, và Viện 46 ựóng trên ựịa bàn

Υ Thiếu tướng bác sĩ Nguyễn Văn Thưởng Ờ nguyên Cục trưởng Cục quân y từ 199 Ờ 2002, hiện nay là Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Chữ thập ựỏ Việt Nam

Trang 8

Chủ nhiệm quân y binh trạm: bác sĩ Cường

Trên tuyến đường ngang này (xuơi về Căm Pu Chia), sau khi thành lập Sư đồn 470 (25/4/1970) cịn cĩ thêm 2 binh trạm là 50 và 51

Như vậy riêng về mạng lưới quân y bước vào thời điểm mùa khơ 1969 –

1970 đã cĩ 2 bệnh viện (59 và 46 – Viện 68 chuyển sang cho Quân Khu Trị Thiên trước đĩ), 12 bệnh xá, 17 đội điều trị (15 đội/ 15 binh trạm và 2 đội ở 2 chỉ huy sở hậu cứ và tiền phương của ðồn), 51 đội phẫu thuật, 2 đại đội quân y trung đồn, gồm tất cả 4.912 cán bộ, chiến sĩ bằng 8,22% quân số tồn ðồn Sau khi hồn tất khâu chuẩn bị, ngày 10 tháng 11 năm 1969, lệnh nhập tuyến bắt đầu và sau đĩ 10 ngày (20/11/1969), chiến dịch vượt khẩu đã kết thúc thắng lợi

Cuối tháng 12 năm 1969, mọi hoạt động vận chuyển và chỉ huy chiến đấu hiệp đồng binh chủng đã cơ bản ổn định, ðảng ủy – Bộ Tư lệnh quyết định tồn tuyến ra quân “Tổng cơng kích” quy mơ lớn vào ngày 15 tháng 1 năm 1970

Vào thời điểm này, trên tồn tuyến địch đánh phá rất mạnh Chúng tập trung đánh phá chủ yếu xuống các trọng điểm cửa khẩu, đồng thời quấy phá mạnh ở tung thâm nhất là từ đường 9 trở ra Bình quân mỗi ngày địch sử dụng

650 lần/ chiếc cường kích, 60 lần chiếc B52, trong đĩ hai phần ba được sử dụng đánh phá vào các binh trạm phía bắc đường 9 Thủ đoạn mới của địch là mở rộng chiến tranh điện tử, sử dụng máy bay cường kích bay thấp thả hàng vạn máy thu phát điện tử mang tên “gián điệp gác đường” làm thành hàng rào để phát hiện các hoạt động của ta Mặt khác, chúng dùng máy bay AC 130 rải pháo sáng tìm xe, bắn đạn 40 ly gây sát thương rộng Nhằm ngăn cản và kéo dài thời gian khắc phục của bộ đội ta, địch cịn tăng cường các phi vụ rải bom mìn hỗn hợp gồm mìn vướng nổ, bom từ trường, bom nổ chậm… Mặc dầu vậy, bom đạn

và những thủ đoạn đánh phá ngăn chặn quyết liệt của kẻ địch vẫn khơng thể làm nhụt ý chí chiến đấu, quyết tâm hồn thành nhiệm vụ của các cán bộ, chiến sĩ binh đồn Trường Sơn trong suốt mùa khơ 1969 – 1970 Tiếp sau thắng lợi tồn diện của đợt 1 tổng cơng kích, ðảng uỷ – Bộ Tư lệnh 559 lại phát động “Tổng cơng kích” đợt 2 vào ngày 18 tháng 2 năm 1970 đúng vào thời điểm xẩy ra cuộc đảo chính của tập đồn phản động Lon – Non – Xi – Ních Ma – Tắc lật đổ chính phủ Xi – Ha – Núc Và vì thế tiếp tế đường biển của ta qua cảng Xi – Ha – Núc Vin bị cắt đứt Cùng với việc các cơ sở hậu cần của chiến trường miền đơng Nam Bộ đặt trên đất Căm Pu Chia phải rút vào bí mật thì tuyến đường 559 hoạt động ở hướng này cũng gặp khĩ khăn lớn

Cũng vào thời điểm đĩ, địch cho quân đổ bộ bằng trực thăng xuống cao điểm Phi Hà thuộc Binh trạm 37 nhằm cắt đứt tuyến đường vận chuyển sang Tây Nguyên Tiếp đến, cuối tháng 3, hai trung đồn Mỹ – Ngụy đổ quân xuống bắc đường B70 và Dốc Con Mèo đường B45 nhằm chặn đường xuống Trị – Thiên Sang đầu tháng 4, ba tiểu đồn thuộc lực lượng Phỉ Ma Ki của ngụy Lào nống ra tây Mường Phìn và sau đĩ là 3 tiểu đồn lính hỗn hợp biệt kích Mỹ (S Gu) và Thái Lan lấn chiếm A Tơ Pơ, uy hiếp hành lang vận tải của ta…

Trang 9

Lực lượng quân y 559 bước vào thế trận mới của mùa khô 1969 Ờ 1970 này không chỉ ựã lớn mạnh về quân số mà quan trọng hơn là ựã trưởng thành nhiều mặt nhất là lĩnh vực tổ chức chỉ huy bảo ựảm quân y trong mọi tình huống

Về cơ cấu tổ chức, trong ựội hình chiến ựấu của ngành quân y lúc này ựã

có ựủ các chuyên ngành ựiều trị dự phòng, vệ sinh phòng dịch, tiếp tế và sản xuất thuốc, huấn luyện và nghiên cứu khoa họcẦ ựược sắp xếp bố trắ và thường xuyên ựiều chỉnh phù hợp với nhiệm vụ phục vụ chiến ựấu trong từng thời ựiểm, từng ựịa bàn Phòng quân y ựược bổ sung thêm một số trợ lý chuyên môn giúp lãnh ựạo ngành theo dõi và ựôn ựốc thực hiện kế hoạch Các bộ phận khác như dược chắnh, vệ sinh phòng dịch trực thuộc Phòng quân y cũng ựược bổ sung người và kiện toàn thêm một bước (hai dược sĩ ựại học là Hồ Kim Thông và Hoàng Cao Anh ựược tăng cường cho dược chắnh; bác sĩ Phạm Sùng Phó trưởng phòng quân y trực tiếp làm ựội trưởng ựội vệ sinh phòng dịch)

Hệ thống quân y từ binh trạm trở xuống cũng ựược củng cố và kiện toàn thêm một bước Dưới ban quân y binh trạm ựã thành lập thêm tiểu ban quân y,

có trợ lý ựiều trị Ờ thống kê, trợ lý vệ sinh phòng dịch và tổ chống sốt rét, trợ lý dược chắnh

Các cơ sở ựiều trị như bệnh viện, bệnh xá, ựội ựiều trị, ựội phẫu thuật, ựại ựội quân y trực tiếp ựược xây dựng và phát triển đặc biệt lãnh ựạo ngành hết sức coi trọng phát triển mạng lưới quân y nghiệp dư ở các tiểu ựội mà hạt nhân

là các chiến sĩ vệ sinh ưu tú, số chiến sĩ vệ sinh này ựược coi là ỘnguồnỢ ựể ựào tạo y tá, y sĩ tại chỗ

Từ thực tiễn phục vụ chiến ựấu trải qua nhiều năm trên tuyến, quân y 559

ựã rút ra 3 nguyên tắc tổ chức là:

- Phải ựáp ứng ựược việc cứu chữa thương, bệnh binh ựược Ộkịp thời, tại chỗ, có hiệu lựcỢ - ựặc biệt cứu chữa thương binh ở trọng ựiểm và cấp cứu sốt rét, sốt rét ác tắnh, nhất là các ựiểm ựiều trị

- đáp ứng ựược yêu cầu cơ ựộng của bộ ựội

đường trục vận chuyển cơ giới là mạch máu chắnh của chiến trường 559,

vì vậy hệ thống quân y phải bám sát ựường trục và ựường giao liên Ờ nơi mà thương binh, bệnh binh ựều ựược cứu chữa, ựiều trị, nuôi dưỡng và chuyển tuyến ựều diễn ra trên ựó

b Theo khu vực:

Trang 10

Xác định binh trạm là đơn vị cơ bản của tuyến 559, là nơi hợp thành của nhiều binh chủng chiến đấu cĩ quy mơ phân đội đến trung đồn nên được coi là địa bàn quan trọng nhất để triển khai cơng tác bảo đảm quân y Vì vậy mỗi binh trạm thường được bố trí từ 1 – 2 đội điều trị, 3 – 4 đội phẫu thuật, 1 – 2 bệnh xá giao liên và hướng tiến tới trong quy hoạch là tại các binh trạm đầu nút chiến trường đều phải cĩ một bệnh viện để thu dung điều trị thương, bệnh binh được nhanh chĩng, kịp thời (thời điểm này mới chỉ cĩ Viện 46 và Viện 59)

Tuy phân định ra hai hướng bố trí như vậy nhưng trong chỉ đạo thực tế luơn cĩ sự kết hợp chặt chẽ giữa khu vực và đường trục, giữa tại chỗ và cơ động, giữa trọng điểm và địa bàn xung quanh và kết hợp giữa hệ thống quân y

cơ bản với mạng lưới điều trị nghiệp dư Nhờ sự kết hợp hợp lý và hài hịa này

mà trên thực tế vào thời điểm này đã hình thành một thế trận quân y liên hồn, vững chắc đáp ứng được cơ bản mọi tình huống cấp cứu cứu chữa thương, bệnh binh Việc đội điều trị kiêm phẫu thuật cơ động của Binh trạm 32 ứng cứu kịp thời 1 tiểu đồn bộ binh hành quân cơ giới bị máy bay địch đánh trúng vào đội hình tại trọng điểm Văng Mu năm 1968; đội điều trị kiêm phẫu thuật của Binh trạm 41 cơ động đến giải quyết thương vong của bộ đội đại đội 3, tiểu đồn 24 pháo cao xạ bảo vệ cầu Chữa trên đường 9 vào ngày 21 tháng 12 năm 1969 là những ví dụ điển hình về hiệu qủa của sự phối hợp, kết hợp mang tính hợp đồng chiến đấu này của quân y

Việc bảo đảm quân y phục vụ chiến đấu lúc này cĩ 2 yêu cầu được đặt ra

là nâng cao khả năng phẫu thuật điều trị ngoại khoa ở các cơ sở thu dung điều trị nhất là ở phía ngồi và nam – bắc đường 9; đồng thời nâng cao chất lượng điều trị nội khoa mà then chốt là điều trị sốt rét và sốt rét ác tính đối với các đơn vị ở tuyến trong

Việc phịng, chống bệnh sốt rét và đặc biệt là sốt rét ác tính luơn được coi

là cơng tác trọng tâm và xuyên suốt của quân y Trường Sơn từ trên xuống dưới ðược sự giúp đỡ của Cục Quân y cũng như lực lượng dân y ở hậu phương đưa vào, việc nghiên cứu và điều trị phịng, chống sốt rét đã thu được nhiều kết qủa khả quan, tuy nhiên bộ đội càng tiến sâu vào các vùng rừng núi hoang sơ thì số người nhiễm bệnh sốt rét càng cao Kết qủa theo dõi và kiểm tra sức khỏe trên

18 tiểu đồn hành quân qua tuyến vào chiến trường trong đĩ cĩ 7.527 người vào Tây Nguyên và Nam Bộ theo trục đường Lào – Căm Pu Chia trong mùa khơ này thì tỷ lệ mắc bệnh sốt rét dọc đường lên đến 18% quân số Các cơ sở điều trị của Binh trạm 41 trong thời gian từ tháng 5 đến tháng 10 năm 1969 đã thu dung điều trị 235 ca sốt rét ác tính và đã cĩ 18 ca tử vong

Nhằm ngăn ngừa bệnh sốt rét và hạn chế đến mức tối đa tỷ lệ tử vong do sốt rét ác tính gây ra, ngành quân y đã áp dụng một số biện pháp bắt buộc đối với tất cả các đơn vị nội bộ cũng như “Khách” qua tuyến:

- Uống thuốc dự phịng bằng viên F2

- Phun thuốc DDT rộng rãi đúng theo quy định thời gian (mùa khơ: 3 tháng/ lần; mùa mưa: 2 tháng/ lần)

Trang 11

- Quân y giao liên phải thực hiện nghiêm ngặt việc giữ lại trạm những ca sốt rét nặng cĩ nguy cơ sốt rét ác tính (trong số 7.527 quân vào Tây Nguyên và Nam Bộ đã giữ lại ở các trạm giao liên dọc tuyến 457 người bị sốt rét chiếm 6,1% quân số)

ðối với thương, bệnh binh từ chiến trường ra đều được theo dõi tỷ lệ mang ký sinh trùng khi nhập tuyến, khi ra tới cửa khẩu và thực nghiệm điều trị sốt rét liên hồn trên suốt tuyến giao liên nhằm mục đích giảm tái phát trên đường ra hậu phương, giảm nguy cơ sốt rét ác tính và đặc biệt là giảm số người mang ký sinh trùng sốt rét ra miền Bắc

ðội vệ sinh phịng dịch của ðồn lúc này cũng đã được trang bị kỹ thuật tốt hơn (kể cả xe ơ tơ đặc chủng) và tăng thêm số lượng cán bộ nghiên cứu sốt rét từ 20 lên 35 người

Những cố gắng liên tục khơng mệt mỏi của quân y 559 trong cơng tác phịng chống sốt rét đã đem lại kết qủa tích cực, làm giảm tỷ lệ mắc sốt rét nghỉ việc hàng tháng so với quân số nội bộ năm 1969 là 14, 49% thì qua năm 1970 cịn 11, 65%, các năm tiếp theo tỷ lệ đĩ càng thấp hơn

ðối với bộ đội lái xe, do hình thức vận chuyển cơ giới theo cung chuyến

và đội xe đều trực thuộc các binh trạm nên được tổ chức thành 2 lực lượng: lực lượng vận chuyển theo cung khép kín trong đêm với cung độ từ 30 – 40 km và lực lượng vận chuyển theo chuyến cĩ cự ly 80 – 100 km với thời gian cả đi lẫn

về là 2 đêm ðể phù hợp với đặc điểm hoạt động đĩ, việc tổ chức cấp cứu điều trị cho các chiến sĩ lái xe được gắn chặt với quân y các binh trạm là chủ yếu Ngồi ra cịn cĩ các đội điều trị cơ động luơn luơn bám sát hoạt động của lái xe trên từng cung, chặng đường sẵn sàng ứng cứu kịp thời chiến thương trong mọi nơi, mọi lúc Cĩ thể nĩi lái xe nhỡ cung bất cứ ở đâu, tìm vào bất cứ đơn vị nào cũng đều được đĩn tiếp và bố trí ăn, nghỉ, cũng như chăm sĩc sức khỏe hết sức chu đáo Khi lái xe bị thương, bị ốm vào nằm ở một cơ sở quân y nào đều được tiếp nhận ngay khơng địi hỏi giấy giới thiệu hay tiền ăn Họ được nuơi dưỡng

ưu tiên với tiêu chuẩn cung cấp cao gấp 3 – 4 lần tiêu chuẩn thường Mặc dầu thuộc diện ưu tiên số 1 trên tuyến đường nhưng do hoạt động căng thẳng, liên tục dài ngày và đặc biệt là thường xuyên đối mặt với sự đánh phá của địch nên sức khỏe của bộ đội lái xe luơn bị giảm sút nghiêm trọng, tai nạn xe cũng vì thế

mà tăng cao (điều tra 32 vụ đổ xe đơn thuần nghề nghiệp thì 20/32 xe – chiếm tỷ

lệ 62% xẩy ra vào quãng 1 –2 giờ sáng cĩ liên quan đến thiếu ngủ) Mặt khác, từ năm 1968 khi xe qua khỏi trọng điểm là coi như đã khá an tồn, nhưng từ 1969

về sau do địch thay đổi chiến thuật đánh chặn mạnh cả ngồi lẫn trong trọng điểm nên thương vong của bộ đội lái xe càng cao Chỉ tính riêng mùa khơ 1969 – 1970, tiểu đồn xe 56 của Binh trạm 42 bị địch đánh vào đội hình xe 71 vụ, gây thương vong 159 người, chiếm tỷ lệ 51,78% quân số của tiểu đồn

Thương vong của bộ đội lái xe chiếm khoảng 18,54% thương vong của tồn ðồn và thường cao nhất là các tháng vận chuyển mùa khơ (74,6% số thương vong trong năm) trong đĩ hy sinh tại trọng điểm là 9,33%

Trang 12

Cũng do áp lực căng thẳng hằng ngày đã dẫn đến tình trạng stress âm tính biểu hiện trên rối loạn thần kinh chức năng của lái xe Thường sau một chuyến

đi, lái xe đều cĩ biểu hiện này kèm với biểu hiện một sự giảm sút hưng phấn, các triệu chứng suy nhược thần kinh và các dấu hiệu biến đổi hoạt động khơng bình thường của hệ tim mạch ở người trẻ Tỷ lệ loét dạ dày khá cao ở số lái xe lâu năm cũng đã gợi ý tới nguyên nhân suy nhược thần kinh hướng tim mạch xuất phát từ các stress cảm xúc

Tất cả những hiện tượng trên đều được các chuyên gia y tế trong và ngồi quân đội vào nghiên cứu thực tế trên đường Trường Sơn kết hợp với quân y 559 tìm các biện pháp khắc phục và đã thu được nhiều kết qủa Cũng từ đĩ mà rút ra một số kinh nghiệm giúp lái xe xử trí tình huống khi bị máy bay địch phát hiện, khi bị địch đánh vào đội hình (ở đầu, ở giữa và ở cuối); cách tránh ùn tắc, cách

đi vịng, đi tránh… nhằm hạn chế thương vong Quân y cũng đã thực hiện 4 biện pháp cho chiến sĩ lái xe: trước khi vào mùa vận chuyển, 100% lái xe đều được huấn luyện về các phương pháp cấp cứu, cấp cứu lẫn nhau; được phát đủ mỗi người 2 cuốn băng cá nhân, được huấn luyện xử trí ứng dụng cấp cứu nhiễm độc

vũ khí hố học; trên xe cĩ nẹp tre để cố định gãy xương, cĩ võng dùng cho các nhân khi cần dùng để chuyển thương Lái xe được phổ biến tường tận những điểm cĩ đội phẫu thuật, tổ cấp cứu và đội điều trị triển khai trên đường vận chuyển Bố trí các cán bộ, chiến sĩ quân y dũng cảm và giỏi về nghiệp vụ cấp cứu điều trị đi theo hộ tống đội hình xe mũi nhọn vừa để kiểm tra, vận động cơng tác vệ sinh phịng dịch, vừa giải quyết kịp thời thương vong trên đường

Phân đội xe hơi mũi nhọn khi tiến cơng thường gặp nhiều nguy hiểm, khĩ khăn: địch chặn đánh ác liệt, việc bố trí ăn, ngủ, nghỉ thất thường, việc bảo vệ sức khỏe gặp nhiều hạn chế, vì vậy phải cĩ một cán bộ hoặc chiến sĩ quân y xuất sắc, qủa cảm và giàu kinh nghiệm chiến trường làm nhiệm vụ hộ tống vừa để tạo tin tưởng cho lái xe vừa bảo đảm phục vụ chiến đấu khi cần thiết

Trong đội hình binh trạm, khi bánh xe lăn trên các cung đường quen thuộc thì hầu như tất cả mọi lực lượng cũng bước vào trận chiến đấu bảo vệ cho đồn

xe vận hành được an tồn Từ người chỉ huy đến chiến sĩ thuộc các binh chủng: cao xạ, cơng binh, chỉ huy giao thơng, quân y… cùng thức với xe và sẵn sàng ứng cứu khi cĩ tín hiệu

Theo quy định thì khi cĩ thương vong tín hiệu là bốn phát súng; nhưng ngay cả khi khơng nghe tín hiệu mà thấy qúa thời gian xe qua là các trạm chỉ huy giao thơng, trạm cấp cứu người cĩ trách nhiệm tìm kiếm và báo cáo về trực chỉ huy và trực quân y của cung đường cũng như binh trạm để huy động lực lượng tìm kiếm, ứng cứu Trường hợp cĩ nhiều thương vong mà vượt qúa khả năng cứu chữa của quân y đơn vị cơ sở thì báo cáo ngay lên “Tổng trực ban” và trực quân y của ðồn để xin chi viện

Trên cung đường của từng binh trạm quản lý cĩ cự ly trên dưới 100 km đều bố trí 1 – 2 đội điều trị, 2 – 4 đội phẫu thuật và một số tổ cấp cứu tăng cường (tách từ đội điều trị hay đội phẫu) bố trí chốt cùng các trạm chỉ huy giao thơng, các trung đội cơng binh bảo đảm giao thơng Ngồi ra, trên địa bàn cịn

Trang 13

cĩ lực lượng quân y thuộc các phân đội cao xạ, giao liên, xe … Tất cả hình thành một mạng lưới quân y khá dày, chi viện, hỗ trợ được cho nhau trong mọi tình huống

Tại các trọng điểm, lực lượng quân y trong mùa khơ 1969 – 1970 cũng được tăng cường thêm nhiều điểm cấp cứu Ví dụ tại trọng điểm Chà Là bố trí

12 điểm cấp cứu cĩ y tá, 2 điểm bổ sung cấp cứu cĩ y sĩ, cĩ dịch truyền, một đội phẫu thuật đặt cách tâm trọng điểm khoảng 4 km và 2 đội phẫu thuật khác cĩ thể

hỗ trợ được khi đường đến đội phẫu thuật chính của trọng điểm bị tắc cách xa 16 – 19 km Tại các trọng điểm khác, lực lượng quân y phục vụ chiến đấu cũng được bố trí tương tự Số lượng đội phẫu thuật chốt trên các trọng điểm ngày càng được tăng cường đáng kể: năm 1968 cĩ 46 đội, năm 1969 cĩ 51 đội, năm

1970 cĩ 70 độiΥ

Trên các cung, đoạn đường mới mở chưa bố trí kịp mạng lưới quân y binh trạm thì việc cấp cứu cứu chữa thương binh phải dựa vào các cơ sở quân y của các trung đồn cơng binh ở những địa bàn chưa cĩ quân y cơng binh thì các trung đồn xe (về sau cĩ cả sư đồn) phải tự tổ chức những đội phẫu thuật, đội thu dung tách từ đại đội quân y (về sau lên đến tiểu đồn quân y) của mình tiến lên phía trước triển khai các cơ sở điều trị dã chiến

Cùng với việc vận chuyển bằng đường bộ, ngay từ những năm 1961 –

1962, ðồn 559 đã chú ý đến việc khai thác dịng chảy của sơng, suối (nhất là vào mùa mưa) để chuyển hàng Từ hình thức thả trơi bao bì được bọc kín 2 lớp

ni lơng và puy xăng trên sơng Xê Băng Hiên, đến các năm 1968, 1969 đã áp dụng nhiều lần trên sơng Xê Cơng - đoạn chảy qua A Tơ Pơ, và đến mùa khơ

1969 – 1970 thì đã hình thành một đại đội thuyền máy chở hàng từ Nậm Cơng đến Tà Ngâu (cũng trên sơng Xê Cơng) Hình thức vận chuyển thả trơi ban đầu này tuy cĩ giảm được phần nào sức vận chuyển nhưng ngồi sự hao hụt khá lớn

do bị nước cuốn ra giữa dịng trơi thẳng thì cơng sức bỏ ra để đĩn lõng của bộ đội cũng thật vất vả Do phải ngâm mình dưới nước để vớt hàng đêm này qua đêm khác nên cĩ đến 80% bị nấm kẽ chân lở loét và số mắc sốt rét cũng khá cao, thậm chí đã xẩy ra trường hợp chết đuối khi bơi ra kéo hàng Thấy khơng mấy hiệu qủa, lại bị địch phát hiện nhằm bắn mạnh nên hình thức thả hàng trơi dịng này đã chấm dứt năm 1970 Về hoạt động của thuyền máy cũng nhanh chĩng bị địch phát hiện và đánh chặn nhưng do bộ đội ta ngụy trang khéo lại thường xuyên thay đổi giờ giấc hoạt động nên thiệt hại khơng đáng kể ðể phục vụ chiến đấu của lực lượng vận chuyển đường sơng (nhất là về sau này) thì ngồi các trạm cấp cứu bố trí dọc hai bên bờ sơng theo cung trạm, từng thuyền đều cĩ

1 y tá đi kèm làm nhiệm vụ hộ tống Việc phịng chống cảm lạnh, tai nạn sơng nước, cá sấu… cũng rất được quân y chú trọng nhằm bảo vệ sức khỏe cho bộ đội vận tải đường sơng

Hệ thống đường ống vận chuyển xăng dầu vươn tới Trường Sơn thì đồng thời cũng đặt ra cho ngành quân y 559 một nhiệm vụ mới mẻ: phát hiện những

Υ Do những chiến cơng đặc biệt xuất sắc trong cứu chữa thương binh tại các trọng điểm, bác sĩ Trần Hành đã được tuyên dương Anh Hùng Lực Lượng Vũ Trang Nhân Dân năm 1969

Trang 14

ựặc ựiểm các bệnh nghề nghiệp của bộ ựội ựường ống xăng dầu trong chiến tranh, trên cơ sở ựó có biện pháp dự phòng và bảo ựảm cần thiết Từ phát hiện hiện tượng nhiễm ựộc xăng pha chì chiếm tỷ lệ 15% ở bộ ựội giữ kho, cấp phát xăng, quân y ựã có kiến nghị với lãnh ựạo ngành xăng dầu là hầm xăng phải có khe hở giữa nắp và van hãm 40 cm ựể thông thoáng Mặt khác, ựể ựề phòng bỏng xăng do rò rỉ, do áp lực trong ống xăng cao, tia xăng do rỉ phun thành bụi xăng dễ dàng bén lửa nên kiến nghị cũng nêu thêm là cấm hút thuốc khi tác nghiệp và ban ựêm chỉ ựược dùng ựèn pin khi kiểm tra ựường ống (trước ựó thường dùng ựèn bão)

Cũng vào thời ựiểm hoạt ựộng mùa khô 1969 Ờ 1970, việc bảo vệ sức khỏe cho nữ quân nhân thuộc nội bộ đoàn cũng như lực lượng thanh niên xung phong ựang hoạt ựộng trên tuyến và các lực lượng công tác khác tiếp tục ựặt ra nhiều vấn ựề phải giải quyết trên lĩnh vực y học ảnh hưởng nặng nề nhất ựến sức khỏe chị em là bệnh sốt rét thiếu máu, từ ựó phát sinh ra nhiều bệnh khác về phụ khoa như vô kinh, rong kinh, chậm kinh Bệnh ắt Ờ tơ - ri (một bệnh sinh lý phụ nữ) cũng rất phổ biến, nhất là ở các ựơn vị thanh niên xung phong Ngoài ra qua thăm khám, quân y cũng ựã phát hiện chứng loét ựầu vú, núm vú khô nẻ, nứt loét dẫn ựến nhiễm trùng nhất là nữ chiến sĩ xăng dầu

Mặc dầu vậy nhưng do nhiều lý do nên mãi tới năm 1971, trong tổ chức của ựội vệ sinh phòng dịch đoàn 559 mới thành lập ựược tổ vận ựộng vệ sinh phụ nữ do bác sĩ Huỳnh Thị Trang và nữ quân y sĩ Nguyễn Thị Hồng phụ trách Nhiệm vụ của tổ này là tiến hành ựiều tra cơ bản cơ cấu bệnh tật trong nữ quân nhân, ựiều kiện lao ựộng và kiểm tra việc thực hiện vệ sinh phụ nữ, thăm khám

và ựiều trị một số bệnh phụ khoa thông thườngẦ

Công tác quân y giúp Bạn kể từ năm 1969 về sau không những vẫn ựược duy trì mà ngày càng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu 17 trạm xá huyện thuộc 7 tỉnh Nam Lào dọc tuyến hành lang ựều có chuyên gia quân y 559 trực tiếp làm cố vấn về chuyên môn Binh trạm 33 ựã cử 1 tổ quân y xuống giúp y tế huyện Mường Nòng gồm y sĩ Dương Quang Sinh làm cố vấn bệnh xá trưởng huyện, y tá Nguyễn Quốc Cường trực tiếp giúp y tế cơ quan huyện, y tá Phạm Văn Dĩnh, Lương đình Canh giúp xây dựng trạm xá xã ựiểm Binh trạm 36 có 1

tổ quân y giúp y tế huyện Xằng Xây; Binh trạm 37 có 2 tổ quân y công tác tại 2 huyện Phu Vòng Nửa, Phu Vông Tạy ựều thuộc tỉnh A Tô Pơ v v Các cơ sở, ựơn vị công tác y tế của Bạn như trường ựào tạo y sĩ, xưởng dược, tổ phòng chống sốt rét Ầ cũng ựều có mặt quân y 559 giúp ựỡ Ngoài nhiệm vụ chắnh là giúp ựỡ nâng cao trình ựộ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, nhân viên y tế của Bạn từ huyện xuống ựến xã, bản, các tổ chuyên gia quân y còn tổ chức thăm khám và ựiều trị bệnh cho nhân dân trên ựịa bàn công tác (mùa khô 1970, 1971

tổ quân y giúp Bạn của Binh trạm 33 ựã trực tiếp giúp các cơ sở y tế Bạn khám bệnh và ựiều trị tại chỗ 1.387 lượt người)

Sau khi kết thúc chiến dịch mùa khô 1969 Ờ 1970 vào cuối tháng 4 năm

1970, cán bộ, chiến sĩ Binh ựoàn 559 lại khẩn trương củng cố lực lượng chuẩn bị triển khai nhiệm vụ trong thời gian tới Riêng quân y, sau hơn 1 năm, trường

Trang 15

quân y phải dừng lại do nhiều lý do của chiến trường đã mở trở lại với khĩa Y3 với 95 học viên (73 nam, 22 nữ) Từ đĩ trường tồn tại cho đến ngày kết thúc nhiệm vụ của ðồn 559, đưa tổng số quân y sĩ và dược sĩ trung cấp đào tạo tại chỗ lên 484 người, trong đĩ cĩ 88 nữ Rút kinh nghiệm 2 khĩa đào tạo trước do thời gian học ngắn nên nghiệp vụ chuyên mơn hạn chế; do đĩ từ khĩa Y3 trở đi chất lượng đào tạo đã tốt hơn, nhiều đồng chí tốt nghiệp ra trường một thời gian

đã trở thành đơi trưởng đội phẫu thuật, trưởng quân y tiểu đồn Thế mạnh của trường quân y 559 là ở chỗ nhà trường nắm vững tình hình nhiệm vụ của chiến trường, nắm vững cơ cấu bệnh tật, thực hành, thực tập ngay trong thực tế phục

vụ chiến đấu … Tất cả những yếu tố đĩ đều đưa vào nội dung giảng dạy, làm cho học viên cĩ trình độ đáp ứng sát sườn với yêu cầu phục vụ Trong nội dung giảng dạy, cĩ 2 vấn đề lớn rất được nhà trường quan tâm, đĩ là:

- Phịng và chống bệnh sốt rét, sốt rét ác tính

- Cấp cứu điều trị thương binh tại chiến trường

Song song với việc đào tạo hệ quân y trung cấp thì việc đào tạo quân y sơ cấp do quân y các binh trạm đảm nhiệm vẫn tiếp tục được đẩy mạnh Nơi đào tạo là bệnh xá, đội điều trị binh trạm và giáo trình đào tạo cơ bản là dựa vào tài liệu của Cục quân y biên soạn cĩ hiệu chỉnh 1số ít vấn đề cho phù hợp tình hình thực tế của chiến trường 559 Kể từ khi mở đầu vào năm 1967 cho đến năm

1975, quân y 559 đã đào tạo tại chỗ 3.948 y tá và 214 dược tá - một con số bổ sung cho lực lượng thật đáng kể

Tuy nhiên, vào lúc này, lãnh đạo ngành cũng thấy rằng đội ngũ quân y trên tuyến qua thực tế cơng tác đã bộc lộ một bất cập là số cán bộ quân y do trên bổ sung hoặc đào tạo tại chiến trường ở các khĩa trước đều là đa khoa, trong lúc đĩ nhiệm vụ phục vụ chiến đấu của quân y 559 lại cĩ nhu cầu rất cấp thiết về kỹ thuật chuyên khoa, trước hết là chuyên khoa ngoại cần cĩ nhiều phẫu thuật viên cho việc cấp cứu, điều trị thương binh Ngồi ra cịn cĩ nhu cầu lớn về kỹ thuật điều trị về các bệnh về răng – hàm – mặt, tai – mũi – họng cũng như các kỹ thuật gây mê, xét nghiệm, X quang, ký sinh trùng, đơng y – nam dược… ðể giải quyết thực trạng bất cập này, Phịng quân y 559 đã cĩ chủ trương đào tạo cán bộ quân y chuyên khoa – Chủ yếu là chuyên khoa trung cấp, theo 2 hướng:

- Tự lực đào tạo tại chiến trường

- Gửi ra hậu phương nhờ đào tạo

Chính nhờ chủ trương đúng đắn này mà chỉ một thời gian sau đĩ quân y 559

đã cĩ được một số lượng cán bộ chuyên khoa đáp ứng được phần lớn nhu cầu cần thiết trong cơng tác cứu chữa thương, bệnh binh cũng như bảo vệ sức khỏe cho bộ đội hoạt động trên tuyến

Mặt khác, việc kèm cặp bồi dưỡng tay nghề tại chức cũng đã trở thành một chủ trương khá quan trọng của Phịng quân y và đã được triển khai thực hiện cĩ kết qủa tại các đơn vị Tiêu chuẩn đặt ra là mỗi bác sĩ cĩ chuyên khoa gì thì kèm cặp bồi dưỡng cho y sĩ trong vịng 1 năm phải biết làm chuyên khoa đĩ ðây là chỉ tiêu và cũng là trách nhiệm được giao cho từng bác sĩ Chính nhờ

Trang 16

biện pháp này mà phần lớn y sĩ ngoại và cả một số y tá phụ trách các ựội phẫu thuật, các kắp mổ tại các ựội ựiều trị, các tổ cấp cứu trọng ựiểm ựều ựược trưởng thành về chuyên môn nghiệp vụ

Ngoài ra, công tác nghiên cứu khoa học phát triển y học quân sự cũng thường xuyên ựược coi trọng ựúng mức Thực tiễn cho thấy chiến trường 559 với những ựặc ựiểm khó khăn ựặc biệt của nó về ựịa hình, thời tiết, thủ ựoạn và

âm mưu ựánh phá của ựịchẦ nên trong công tác ựảm bảo quân y thì ngoài những kiến thức cơ bản ựã có còn cần phải dày công nghiên cứu sâu về tình hình thực tế ựể có những biện pháp thắch ựáng trong tổ chức thực hiện nhằm mang lại hiệu qủa Vì vậy công tác nghiên cứu khoa học phát triển kỹ thuật là một trong những nhiệm vụ quan trọng của ngành quân y 559 Trong công tác này chú trọng ựến 2 khâu then chốt:

1 Khâu tổ chức: trong biên chế của Phòng quân y có bộ phận chỉ ựạo

theo dõi công tác huấn luyện và nghiên cứu khoa học, tại các bệnh viện và cơ sở ựiều trị ở một số binh trạm có hội ựồng khoa học quân y

2 Khâu nội dung nghiên cứu: trong ựiều kiện chiến trường và nhất là do

trình ựộ cán bộ chuyên môn và trang bị có hạn lại phải tập trung vào nhiệm vụ thường kì lúc nào cũng sôi ựộng khẩn trương, nên nội dung nghiên cứu chỉ có thể nhằm vào những vấn ựề thực sự thiết thực mang tắnh cấp bách đó là:

- Tổ chức chiến thuật quân y trên tuyến vận tải quân sự chiến lược

- Công tác chỉ huy quân y

- Phòng chống bệnh sốt rét, ựặc biệt là sốt rét ác tắnh

- Công tác cấp cứu ựiều trị thương binh

- Bảo vệ sức khỏe cho chiến sĩ lái xe, lực lượng chủ công nhất

- Bảo ựảm quân y giao liên chuyển thương

- Sử dụng dược liệu Trường Sơn

Mặc dầu còn nhiều hạn chế, nhưng nhìn chung một số công trình nghiên cứu có giá trị ựã ựem lại lợi ắch thiết thực nâng cao chất lượng phục vụ chiến ựấu của ngành quân y 559 điển hình là các công trình nghiên cứu về dịch tễ sốt rét, về côn trùng học, tác dụng phun DDT, tình hình kháng thuốc của ký sinh trùng sốt rét ở từng lúc, từng nơiẦ Một số công trình về tổ chức chiến thuật của các tác giả là bác sĩ Chủ nhiệm quân y trong ựó có công trình ỘTổ chức chiến thuật bảo ựảm quân y trên tuyến vận tải quân sự chiến lượcỢ của bác sĩ Nguyễn Ngọc Thảo mang tắnh khái quát góp phần làm rõ hơn mô hình tổ chức và biện pháp thực hiện công tác nhiều mặt của quân y 559

đối với sự chi viện kỹ thuật của hậu phương, quân y 559 cũng hết sức trân trọng và tranh thủ bằng mọi cách

Năm 1969, Thứ trưởng Bộ Y tế kiêm Cục trưởng Cục Quân y Vũ Văn Cẩn sau khi nghe báo cáo trực tiếp của Phòng quân y 559 ựã hướng dẫn nhiều nội dung về công tác phục vụ và xây dựng của quân y Trường Sơn

đội vệ sinh phòng dịch Cục quân y ựã ựi theo các ựoàn bộ binh hành quân suốt dọc tuyến Trường Sơn ựể nghiên cứu về công tác bảo ựảm vệ sinh hành

Trang 17

quân và thử nghiệm các biện pháp phịng chống sốt rét tổng hợp ðồn chuyên viên Cục Quân y do Phĩ tiến sĩ Nguyễn Văn Nhân dẫn đầu gồm các bác sĩ Tạ Long, Trần Lưu Huyên, Bùi Nguyên Hiếu… đã vào chi viện kỹ thuật cho 2 bệnh viện 59 và 46 từ tháng 11 năm 1968 đến tháng 10 năm 1969 Ngồi ra, các đồn nghiên cứu của trường đại học quân y, các quân y viện 108, 103… và nhiều bác

sĩ, y sĩ quân, dân y đi trên tuyến đường đã đĩng gĩp nhiều ý kiến xây dựng quí báu cho hệ quân y giao liên, cho việc tổ chức bình thường hố sinh hoạt của bộ đội, đặc biệt là bảo vệ sức khỏe cho bộ đội lái xe và những đĩng gĩp rất cĩ giá trị đối với quân y 559

Cũng như mọi binh chủng khác hoạt động trên tuyến, cơng tác chính trị tư tưởng gắn liến với giáo dục động viên cán bộ, chiến sĩ được coi là trách nhiệm thường xuyên đối với lãnh đạo ngành quân y 559, thể hiện bằng một số việc làm

và biện pháp cụ thể:

a Chủ nhiệm quân y các cấp kết hợp chặt chẽ với các cơ quan cĩ liên quan để giải quyết các vấn đề thuộc lĩnh vực chính trị tư tưởng đối với cán bộ, chiến sĩ, quân y, cụ thể là:

Kết hợp với cơ quan chính trị phát động các đợt thi đua trong ngành lồng vào phong trào thi đua chung của đơn vị Ví dụ: Phong trào thi đua y tá 5 biết; Phong trào 5.000 mũi tiêm an tồn và 50.000 lần phát thuốc khơng nhầm lẫn Kết hợp với cơ quan cán bộ trong các vấn đề qui hoạch, quản lý cán bộ cũng như sử dụng, điều động, đề bạt, bồi dưỡng, cử đi học đối với cán bộ quân y cao cấp và sĩ quan quân y

Cùng với cơ quan quân lực tiến hành qui hoạch tổ chức ngành quân y về các khâu quản lý, sử dụng, đề bạt, nâng lương, bồi dưỡng, cử đi học, giải quyết phục viên chuyển ngành… đối với nhân viên quân y thuộc hàng ngũ sĩ quan chuyên nghiệp và hạ sĩ quan, chiến sĩ

Kết hợp với cơ quan chính sách trong việc động viên, khen thưởng cũng như nắm tình hình gia đình của cán bộ, chiến sĩ ở hậu phương để tham gia giải quyết khĩ khăn cho những hồn cảnh trong khả năng và điều kiện cĩ thể

Mặc dầu những việc về tổ chức, chính sách nêu trên trước hết là thuộc quyền quyết định của đảng uỷ và chỉ huy các cấp chủ quan, nhưng khi giải quyết

cụ thể các trường hợp cĩ liên quan đến quân y thì bao giờ chủ nhiệm quân y cũng được hỏi ý kiến và cùng tham gia bàn bạc, trao đổi Ngược lại về phần mình, chủ nhiệm quân y coi đây là trách nhiệm lớn và phải làm thật chu đáo, khơng được để sơ suất ảnh hưởng đến quyền lợi của cán bộ, chiến sĩ trong ngành

b ðối với cơng tác giáo dục động viên là một trong những nội dung quan trọng đối với hoạt động của ngành nên thường xuyên được đề cập trong các buổi giao ban cũng như tại các hội nghị sơ kết, tổng kết cơng tác ngành qua từng thời gian Nội dung giáo dục động viên gắn liền với giáo dục chính trị tư tưởng cịn thể hiện trên một số mặt:

Trang 18

- Biểu dương khích lệ kịp thời những gương người tốt, việc tốt qua hệ thống trực ban chỉ huy quân y hàng ngày

- Hình thức biểu dương vừa bằng “thư khen” vừa cĩ quà tặng gửi kèm

- ðịnh kỳ hàng tháng làm báo cáo văn bản về gương người tốt, việc tốt, theo hệ thống ngành dọc từ dưới lên trên đến Phịng quân y

c Quản lý chặt chẽ cán bộ trong ngành

Vấn đề này đã được lãnh đạo ngành quân y 559 xác định từ rất sớm rằng: muốn xây dựng ngành lớn mạnh đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ được giao thì trước hết người chủ nhiệm quân y phải thật sự làm tốt cơng tác cán bộ trong phạm vị ngành do mình phụ trách mà điều kiện tiên quyết là nắm và quản lý thật chặt cán bộ Nội dung quản lý được đề ra gồm:

- ðối với từng cán bộ phải nắm và biết chắc các mặt: trình độ khả năng chuyên mơn, nhất là sở trường; chính trị tư tưởng; sức khỏe

- Phát hiện và bồi dưỡng người tốt, việc tốt để biểu dương khen thưởng kịp thời và làm hạt nhân cho phong trào thi đua noi gương

Về phân cấp quản lý được cụ thể hố như sau:

- Phịng quân y ðồn quản lý tất cả các cán bộ quân y cao cấp, cán bộ quân y trung cấp chuyên khoa, cán bộ nhân viên quân y đạt danh hiệu “chiến sĩ quyết thắng, chiến sĩ thi đua” hoặc được tặng danh hiệu “người tốt việc tốt” của ðồn Giao cho bộ phận kế hoạch giúp chỉ huy phịng thực hiện cơng tác quản lý này

- Ban quân y binh trạm, trung đồn quản lý tồn bộ cán bộ cao, trung, sơ cấp, chiến sĩ, chiến sĩ quyết thắng, chiến sĩ thi đua, người tốt việc tốt và cả chiến

sĩ cứu thương, vệ sinh viên giỏi trong binh trạm, trung đồn đĩ

(Từ tháng 4 năm 1970 về sau, trên tuyến thành lập các sư đồn thì chủ nhiệm quân y sư đồn cũng cĩ chức năng quản lý cán bộ ngành tương tự – trừ chiến sĩ cứu thương và vệ sinh viên)

Nhờ cĩ kế hoạch quản lý nội bộ ngành này của quân y 559 mà những người lãnh đạo ngành (nhất là đối với cấp binh trạm, trung đồn – về sau là cấp

sư đồn) mới cĩ được những chủ trương đứng đắn trong khâu qui hoạch cán bộ (sử dụng, cân nhắc, điều động…) được cụ thể và sát hợp với từng đối tượng ðồng thời uy tín của lãnh đạo ngành các cấp vì thế mà được nâng cao

Nhìn lại chặng đường trải hơn mười năm vừa phục vụ chiến đấu – và trực tiếp chiến đấu, vừa xây dựng, ngành quân y chiến trường 559 đã trưởng thành vượt bậc, xứng đáng với niềm tin gửi gắm sinh mạng của hàng vạn cán bộ, chiến

sĩ đang ngày đêm cống hiến hết sức mình vì sự nghiệp chống Mỹ cứu nước trên tuyến đường Trường Sơn oai hùng và khốc liệt Khơng cĩ lấy một ngày nghỉ ngơi, tất cả cán bộ, chiến sĩ quân y 559 lại chuẩn bị tư thế để bước vào cuộc chiến đấu sinh tử mùa khơ 1970 – 1971…

II Quân y Trường Sơn với nhiệm vụ phục vụ chiến đấu trong chiến dịch phản cơng đường 9 - Nam Lào và phát triển tuyến chi viện chiến lược mùa khơ năm 1970 -

1971

Trang 19

Khác các mùa mưa trước, mùa mưa năm 1970 do yêu cầu nhiệm vụ chuẩn

bị thế trận, củng cố xây dựng lực lượng, huấn luyện bộ ựội sẵn sàng ựối phó với mọi diễn biến phức tạp của tình hình nên đảng uỷ Bộ Tư lệnh 559 chủ trương chỉ rút một bộ phận nhỏ thuộc binh chủng cơ giới ra Bắc củng cố và bổ sung phương tiện, còn lại ựại bộ phận lực lượng vẫn ở lại trên tuyến

Về mặt tổ chức, sau khi có quyết ựịnh thành lập Bộ Tư lệnh khu vực 470 (có quyền hạn như Bộ Tư lệnh sư ựoàn) trực thuộc Bộ Tư lệnh 559, thì Quân uỷ Trung ương cũng ra quyết ựịnh số 176 Qđ QP ngày 29 tháng 7 năm 1970 về việc sáp nhập đoàn 968 quân tình nguyện và đoàn chuyên gia quân sự 565 ở Trung - Hạ Lào vào đoàn 559

Cũng tại quyết ựịnh này, Bộ Tư lệnh 559 ựược ựổi tên thành Bộ Tư lệnh Trường Sơn trực thuộc Bộ Quốc phòng, về đảng trực thuộc Quân uỷ Trung ương

đoàn 968 quân tình nguyện ựược bố trắ trên hai hướng: X (khu vực ựường

9, Mường Phìn, Pha Lan) và Z (khu vực A Tô Pơ, Bô Lô Ven, Xa Ra Van) đoàn có nhiệm vụ án ngữ, bảo vệ sườn phắa tây tuyến vận tải chiến lược, phối hợp với các lực lượng của Bạn mở rộng vùng giải phóng Trung Ờ Hạ Lào (từ Khăm Muội trở vào)

đoàn chuyên gia quân sự 559 Ờ tương ựương cấp sư ựoàn, có nhiệm vụ giúp Bạn về chắnh trị, quân sự, kinh tế từ cơ sở xã, huyện ựến tỉnh trong phạm vi

8 tỉnh Trung Ờ Hạ Lào (Bô Li Khăm Xay, Khăm Muội, Xa Van Na Khệt, Xa Ra Van, Tà Vên Oọc, A Tô Pơ, Chăm Pa Xắc, ụ đôm Xỉn)

Theo ựề nghị của Bộ Tư lệnh Trường Sơn, tháng 10 năm 1970, Bộ Tổng tham mưu quyết ựịnh thành lập Trung ựoàn cao xạ 593, Trung ựoàn ựường ống

592, Binh trạm 39, Trường ựào tạo lái xe 963, Trường quân chắnh 969, khôi phục lại Trung ựoàn cao xạ 591, Trung ựoàn 4 công binh và thành lập thêm 3 tiểu ựoàn công binh (79, 87, 163), 4 tiểu ựoàn xe (57, 33, 65, 66), tiểu ựoàn 78 làm ựường goòng, 2 tiểu ựoàn cao xạ (84, 86); tăng cường lực lượng chiến ựấu, vận tải, mở ựường (ựường bộ, ựường sông, ựường ống dẫn xăng dầu, ựường

goòng bằng gỗ) đoàn hậu cứ 571 cũng ựã ựược thành lập tại nam Quảng Bình

có nhiệm vụ thu dung ựiều trị và an dưỡng thương, bệnh binh của nội bộ đoàn

và làm một số nhiệm vụ khác

Do tầm quan trọng của chiến dịch mùa khô 1970 Ờ 1971, Bộ Tư lệnh Trường Sơn ựược trên bổ sung 24.114 quân, trong ựó có 3.335 lái xe, 382 thợ sửa chữa, 124 kỹ thuật viên ựường ống và nhiều phương tiện kỹ thuật khác Lực lượng làm ựường ựược tăng cường và phối thuộc 3 trung ựoàn công binh (219,

83, 7); lực lượng tác chiến ựã phối thuộc 6 trung ựoàn phòng không, trong ựó có

4 trung ựoàn cao xạ (282, 224, 284, 230), 2 tiểu ựoàn cao xạ (105, 11) và 2 trung ựoàn tên lửa phòng không (283, 275)

Như vậy là bước vào mùa khô 1970 Ờ 1971, quân số thuộc Bộ Tư lệnh Trường Sơn lên tới 62.992 người, ngoài ra trên tuyến còn có các lực lượng tăng cường của Bộ và các ựoàn thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến

Trang 20

Theo đề nghị của ðảng ủy – Bộ Tư lệnh Trường Sơn, Bộ Tổng tham mưu quyết định thành lập Cục phịng khơng, Cục chuyên gia, Cục sản xuất và một văn phịng tương đương cấp cục thuộc Bộ Tư lệnh

Trung tuần tháng 10 năm 1970, việc chuẩn bị thế trận đã cơ bản hồn thành, nhưng khi ta sắp sửa ra quân thì bất thình lình máy bay địch tập trung đánh phá dữ dội các cửa khẩu và một số trọng điểm quan trọng khác

Trên đường 20, địch tập trung đánh phá với cường độ rất cao trọng điểm Chà Là (km 23 – 25), nơi giao điểm các đường 20 A, 20 C, 20 ð và nằm kẹp giữa hai dãy núi Phu Luơng và Phu La Nhích Là vùng đồi thấp, tương đối bằng phẳng thuộc huyện Bu La Pha, tỉnh Khăm Muộn, cĩ diện tích khoảng 25 km2 Chặn được Chà Là coi như cửa khẩu đường 20 A bị đứt hồn tồn mà cửa khẩu này lại là cửa khẩu vận tải chính của tuyến đường Tại đây, trong vịng 90 ngày (từ ngày 10 tháng 10 năm 1970 đến ngày 10 tháng 1 năm 1971) địch đã tiến hành 2.555 trận đánh phá với 4.000 lần chiếc máy bay các loại, trong đĩ 314 bằng máy bay B 52 với 879 lần chiếc Chúng đã trút xuống trọng điểm này 49.250 qủa bom các loại (chưa kể bom bi, bom mìn nhỏ), mật độ bom trung bình tại trọng điểm lên tới 4 qủa/ m2 Trung bình mỗi ngày địch đánh 28,4 trận, cao nhất là 40 trận – trong đĩ 9 trận B 52 Ngay từ những ngày đầu đánh phá, bom đạn địch đã phá hủy gần như tồn bộ mặt đường trên chiều dài 5 km, làm tắc nghẽn hàng nghìn xe pháo đang chờ vượt cửa khẩu

Chốt trụ tại Chà Là vào thời điểm đĩ là tiểu đồn cơng binh 24, 2 đại đội pháo cao xạ thuộc trung đồn tăng cường 224 và 1 tiểu đồn tên lửa của trung

đồn 275 Về quân y cĩ 14 điểm cấp cứu, 1 đội phẫu thuật mạnh

Trang 21

Trong khi ựó thì từ ựầu tháng 12 năm 1970, hướng vượt khẩu ựường 16

và ựường 18 tình hình cũng hết sức khó khăn Ờ nhất là thời ựiểm nửa ựầu của tháng 12 - ựịch tạm ngừng ựánh phá ở Chà Là 14 ngày ựể tập trung vào hai hướng này Tại trọng ựiểm nam Xê Băng Hiên trên ựường 16, máy bay B 52 kết hợp với máy bay cường kắch của ựịch ựánh phá liên tục trong 15 ngày, tạo thành bãi bom rộng gần 4 km Các trọng ựiểm Xiêng Phan trên cửa khẩu ựường 12; Cua Chữ A Ờ Ta Lê - Phu La Nhắch, ựèo 900 trên cửa khẩu ựường 18; Văng Mu, Tha Mé trên ựoạn yết hầu vượt ựường 9; La Hạp, Bạc, Tăng Cát, Bô Phiên trên ựường 128; động Con Tiên trên ựường B 45, dốc Trực trên ựường 49 A nối với ựường 128 ựi về Tây Nguyên và Nam BộẦ là những trọng ựiểm ựánh phá ác liệt nhất của ựịch suốt cả mấy tháng mùa khô Có trọng ựiểm bị ựịch ựánh phá tới 300 qủa bom các loại trong một ngày Một số sở chỉ huy binh trạm và sở chỉ huy Bộ Tư lệnh Trường Sơn cũng bị ựánh bom

Phối hợp với hoạt ựộng ựánh phá bằng không quân, ngày 10 tháng 12 năm

1970, ựịch ựã huy ựộng 3 tiểu ựoàn ngụy Lào và Thái Lan nống ra khu vực Mường Phìn, uy hiếp trục vận chuyển hướng tây Bộ Tư lệnh ựã ựiều trung ựoàn

29 bộ binh kết hợp với phân ựội xe tăng, pháo mặt ựất ựánh bật chúng về đồng Hến

Cùng với hoạt ựộng ựánh phá ngăn chặn của ựịch thì mùa mưa kéo dài không bình thường của Trường Sơn năm 1970 cũng gây cho ta nhiều khó khăn không lường hết ựược đã sang tháng 12 rồi Ờ tức sang mùa khô ựược 2 tháng Ờ

mà ựường vượt Chà Là vẫn còn ngập ngụa bùn nước, lưu tốc suối Chà Là chảy

ra sông Tà Lê ựang ở mức 3 m/ giây, ta phải mất nhiều thời gian và công sức mới khắc phục ựược mặt ựường lầy lội ựể thông xe cơ giới

Sau hàng loạt biện pháp ựược các cấp ráo riết thực hiện khắc phục hậu qủa do ựịch tình và thời tiết gây nên, ngày 15 tháng 12 năm 1970, Bộ Tư lệnh ra lệnh mở màn chiến dịch mùa khô 1970 Ờ 1971

Phát hiện hoạt ựộng của ta, ựịch càng tăng cường ựánh phá ngăn chặn mạnh hơn bao giờ hết Nhưng do ựã có kinh nghiệm ựối phó và với bản lĩnh chiến ựấu vững vàng, nên chỉ chưa ựầy hai tuần lễ ra quân - ựến cuối tháng 12 năm 1970, khối lượng hàng vận chuyển vượt ựường 9 là 12.708 tấn, vượt Bạc 6.384 tấn, vượt Chà Vằn 1.156 tấn, hàng cho Trị Thiên và Khu 5 ựược 1.358 tấn

Trang 22

Với phương châm vừa ựẩy mạnh vận chuyển chiến lược, vừa khẩn trương chuẩn bị ựối phó với cuộc hành quân lớn của bộ binh ựịch ựánh chiếm Sê Pôn, Tha Mé Ờ cửa ngỏ vận chuyển tiến vào các binh trạm phắa nam, Bộ Tư lệnh ựiều

2 trung ựoàn công binh 10 và 98 mở trục ngắn 36 km ựường 129 từ Na Phi Lăng qua Na Ka Nông xuống ựường 9 chọc thẳng xuống Xa Ra Van đồng thời chuẩn

bị phương án thi công khôi phục ựường 23 và thành lập Binh trạm 39, mở tuyến mới

Cùng với việc lãnh ựạo và chỉ ựạo các lực lượng trên toàn tuyến quyết tâm giành thắng lợi ựồng ựều trong ỘTổng Công KắchỢ mùa khô 1970 Ờ 1971, thì ựồng thời từ tháng 10 năm 1970, Bộ Tư lênh Trường Sơn ựã chủ ựộng ựiều chỉnh lực lượng Ờ chủ yếu là lực lượng cao xạ và công binh Ờ theo hướng phục

vụ tác chiến chiến dịch nhằm ựối phó với diễn biến tình hình như dự kiến của trên

Cuối tháng 1 năm 1971, Thường vụ đảng ủy và Bộ Tư lệnh họp quyết ựịnh:

- Sát nhập mặt trận X và Z thành mặt trận Y phụ trách toàn bộ ựịa bàn Hạ Lào, tác chiến trên các hướng Xa Ra Van, Không Xê đôn, Bô Lô Ven, Pạc Xoòng, A Tô Pơ, kiên quyết chặn ựứng ựịch nống ra vùng giải phóng hòng uy hiếp tuyến vận tải chiến lược

- Kiện toàn mặt trận R tác chiến trên hướng Pha Lan, đồng Hến, Keng Coọc ở Trung Lào, kiên quyết giữ vững ựường 23 và Mường Phìn

- Thành lập tiền phương Bộ Tư lệnh Trường Sơn phụ trách hướng phối hợp chiến dịch ở phắa tây Trung Ờ Hạ Lào do đại tá Phó Tư lệnh Nguyễn Hòa và đại

tá Phó Chắnh ủy Hoàng Thế Thiện trực tiếp chỉ huy các lực lượng trực thuộc và phối thuộc của đoàn có nhiệm vụ phối hợp với các ựơn vị của Bạn tiêu diệt, chặn ựứng quân ngụy Lào và quân Thái Lan nếu chúng ựánh xuống Mường Phìn nhằm phối hợp với quân ngụy Sài Gòn nhằm chiếm khu vực Tha Mé Ờ Sê Pôn hòng cắt ngang trung tâm tuyến vận tải chiến lược

- Phân công Phó Tư lệnh Nguyễn Quang Bắch chỉ ựạo hoàn thiện thế trận phòng không ựánh bại chiến thuật Ộtrực thăng vậnỢ của ựịch; Phó Tư lệnh Nguyễn Lang ựặc trách chỉ huy vận chuyển chiến lược và vận chuyển chiến dịch; Phó Chắnh ủy Nguyễn Lệnh phụ trách khối chuyên gia giúp Bạn phát ựộng các ựịa phương chiến ựấu chống thám báo, biệt kắch và tham gia phục vụ chiến dịchẦ

- Giao cho Bộ Tư lệnh khu vực 470 ựẩy mạnh thu mua tại chỗ: vận chuyển ựảm bảo kịp thời cho Nam Bộ và Tây Nguyên, ựồng thời sẵn sàng ựối phó khi ựịch ựánh ra Phi Hà, Xê Xụ (khu vực ngả ba biên giới)

Thực hiện phương án trên, ngay sau ựó, Bộ Tư lệnh ựã triệu tập cán bộ chủ trì các Binh trạm 27, 9, 41, 43, 32, 31, 14, 12 giao nhiệm vụ cụ thể:

Trang 23

Duy trì mạnh mẽ vận chuyển chiến lược, sẵn sàng tác chiến tại chỗ bằng mọi hình thức và sẵn sàng phục vụ chiến dịch theo ựiều ựộng của Bộ Tư lệnh mặt trận

+ Các Binh trạm 32, 33 có nhiệm vụ vừa vận chuyển chiến lược, vừa vận chuyển chiến dịch và chuẩn bị các phương án tác chiến tại chỗ

+ Các Binh trạm 9, 27, 41 ở phắa ựông ựường 9 chuyển hẳn sang vận chuyển phục vụ chiến dịch và là lực lượng tại chỗ ựánh ựịch ở cả trên không cũng như dưới mặt ựất Mặt khác, ngoài các tiểu ựoàn cao xạ trong biên chế, mỗi binh trạm khu vực này phải tổ chức thêm 5 ựại ựội súng máy 12,7 ly và bộ binh hóa toàn bộ lực lượng công binh, kho, giao liên Các lực lượng trên ựược trang bị ựủ các loại súng bộ binh, một số cối 81 và mìn chống tăng

+ Các binh trạm khác trên toàn tuyến ựều tổ chức mỗi binh trạm một ựại ựội súng máy 12,7 ly hoặc 14,5 ly tăng cường cho bộ ựội cao xạ hướng ựường 9

- Tạm ngừng vận chuyển chiến lược trục Bản đông ựi La Hạp Ờ vì Bản đông có khả năng bị ựịch ựánh chiếm

- Bộ Tư lệnh xác ựịnh quyết tâm tổ chức tại khu vực bắc và nam ựường 9 bảy ựịa ựiểm tác chiến tại chỗ ở ựoạn chắnh diện từ Bản đông ựến tây Mường Phìn dài 100 km mà tâm ựiểm là tam giác Bản đông Ờ Tha Mé Ờ La Hạp với thế trận phòng không liên hoàn tầng cao, tầng thấp hình thành lưới lửa ựón ựịch tại những vị trắ mà dự kiến chúng sẽ ựến; kết hợp với thế trận phục kắch, tập kắch ngăn chặn bộ binh ựịch tiến vào tuyến vận chuyển chiến lược

- Nối mạng thông tin của Bộ Tư lệnh 559 ựến Bộ Tư lệnh mặt trận ựường

9, Bộ Tư lệnh mặt trận cánh ựông (B 70), ựến một số ựơn vị chủ lực của Bộ và tận ựến tất cả các ựơn vị cao xạ, tên lửa, công binh, ựội ựiều trịẦ theo thế trận mới

- Tổ chức mạng cấp cứu, chuyển thương, ựiều trị tăng cường cho chiến dịch

Phó chắnh ủy Lê Xy cùng một số cán bộ chủ trì của đảng ủy, Bộ Tư lệnh trong ựó có trưởng phòng quân y Nguyễn Ngọc Thảo ựược cử xuống các ựơn vị

ựể chỉ ựạo việc triển khai gấp theo phương án trên

Cùng với các binh chủng khác, ngành quân y Trường Sơn bước vào mùa khô 1970 Ờ 1971 cũng ựã có sự sắp xếp, ựiều chỉnh, bố trắ lực lượng cho sát hợp hơn với tình hình và nhiệm vụ phục vụ chiến ựấu theo phương án tác chiến của

Bộ Tư lệnh

Về tổ chức, bác sĩ Nguyễn đăng Hàm ựược ựiều về làm Phó trưởng phòng quân y; bác sĩ Phan Sùng làm Chủ nhiệm quân y 470 và ựội trưởng ựội ựiều trị là bác sĩ Phan đức Thiện; bác sĩ Hoàng Kim Tuyên ựược cử phụ trách chủ nhiệm quân y sư ựoàn 968; bác sĩ Nguyễn Thế Trang làm chủ nhiệm quân y mặt trận phắa tây Trung Ờ Hạ Lào (do đại tá Nguyễn Hòa làm tư lệnh) Ầ

Trang 24

Ba quân y viện ựược bố trắ trên 3 khu vực: Viện 59 ựược xác ựịnh là tuyến ựiều trị cuối của đoàn nên ựã chuyển ra Bố Trạch, Quảng Bình Viện 46 do bác

sĩ Lê Văn Song phụ trách triển khai theo trục Chà Vằn Ờ Khâm đức vừa tiếp nhận thương, bệnh binh của nội bộ binh ựoàn Trường Sơn, vừa tiếp nhận thương, bệnh binh của Quảng Nam - đà Nẵng Riêng Viện quân y 47 ựược thành lập tháng 12 năm 1970 trực thuộc Bộ Tư lệnh khu vực 470 do bác sĩ Nguyễn Văn Gia làm viện trưởng ựược triển khai tại khu vực Phi Hà (ngã ba biên giới) làm nhiệm vụ thu dung thương, bệnh binh thuộc nội bộ đoàn và thương, bệnh binh mặt trận Tây Nguyên

Ngoài 3 bệnh viện nêu trên thì việc triển khai 22 ựội ựiều trị, 70 ựội phẫu thuật, 16 bệnh xá, 5 ựại ựội quân y trung ựoàn vào cuối năm 1970, trước khi mở màn chiến dịch ựường 9 Ờ Nam Lào ựã hình thành một mạng lưới cứu chữa, vận chuyển thương, bệnh binh ựược bố trắ hợp lý trên từng ựịa bàn Ờ nhất là tại các trọng ựiểm thường xuyên bị ựịch ựánh phá Chắnh nhờ mạng lưới cứu chữa tại chỗ dày ựặc này và hệ thống thông tin hiện ựại thông suốt nên công tác cứu chữa, vận chuyển thương, bệnh binh trên toàn tuyến ựã phục vụ có hiệu qủa không chỉ cho tác chiến chống trả sự ựánh phá quyết liệt của ựịch, ựảm bảo mọi hoạt ựộng vận chuyển mà cón ựáp ứng tốt các yêu cầu phục vụ chiến ựấu trong chiến dịch phản công ựường 9 - Nam Lào và các chiến dịch giải phóng Xa Ra Van, Bô Lô VenẦ ở Hạ Lào tiếp theo

Mặc dầu vậy, mối quan tâm hàng ựầu của lãnh ựạo ngành quân y Trường Sơn vào thời ựiểm mùa khô 1970 Ờ 1971 vẫn là việc cấp cứu thương binh tại các trọng ựiểm giao thông

Tại mỗi trọng ựiểm thường bố trắ một ựội phẫu thuật mạnh có biên chế từ

10 Ờ 12 người Các ựội phẫu thuật này ựược giao hẳn cho các phân ựội công binh chốt ở các trọng ựiểm chịu trách nhiệm quản lý ở các trọng ựiểm lớn lại có thêm các tổ phẫu thuật lưu ựộng tách từ tổ chức các ựội ựiều trị của các binh trạm, các tiểu ựoàn quân y các sư ựoàn hoặc bệnh viện dã chiến ựược phái ựến tăng cường Như ựội ựiều trị thuộc Binh trạm 12 do bác sĩ Lê Văn đắnhΥ làm ựội trưởng ựã có lúc tổ chức thành 8 ựội phẫu thuật lưu ựộng chốt ở những nơi bị ựịch ựánh phá các liệt, nhiều thương binh nhất Nhiệm vụ chắnh của các ựội phẫu thuật là ứng cứu kịp thời số thương binh bị ùn tắc lại ở các trọng ựiểm do gặp khó khăn trong việc ựưa chuyển ra tuyến sau

Nhìn chung các ựội phẫu thuật ựược bố trắ phục vụ các trọng ựiểm giao thông ựều có khả năng giải quyết phẫu thuật khẩn cấp, riêng những ựội ựược tăng cường cho các hướng ựộc lập có khả năng thành thạo trong xử trắ khẩn cấp vết thương thấu tạng Vắ dụ phân ựội ựiều trị 14 thuộc Binh trạm 12 tiếp nhận cấp cứu cho 65 thương binh của ựội thanh niên xung phong 69 trên ựường 12 năm 1970, trong ựó có 9 ỘcaỢ vết thương thấu bụng, tắnh chất ựa vết thương phức tạp Có ỘcaỢ ựa vết thương dập vỡ một thận, gãy xương, thủng tiểu tràng, mất máu nặng; một số ỘcaỢ vỡ, dập lách, thủng tạng rỗng phức tạp nhưng phân

Υ Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Binh trạm 12

Trang 25

ñội ñiều trị 14 ñã phân loại chính xác, xử trí tốt ðặc biệt một số “ca” nặng ñược

sử dụng máu tươi nên ñã cứu sống cả 9 “ca” Hoặc tại trọng ñiểm Xiêng Phan, phân ñội ñiều trị ñã xử lý nối thành công một “ca” ñứt ñộng mạch ñùi

Ngoài ra trên tất cả các trọng ñiểm trải dài trên tuyến vận tải chiến lược ñều có các tổ phẫu thuật, ñội phẫu thuật Nhiệm vụ chủ yếu của các tổ, ñội này

là thực hành phẫu thuật khẩn cấp cho thương binh ðội phẫu thuật của Binh trạm

14 do bác sĩ Nguyễn Tiến Dậu phụ trách chốt ở trọng ñiểm Chà Là là một trong những ñội thực hành phẫu thuật như thế

Tuyến sau của các ñội phẫu thuật là các ñội ñiều trị của các binh trạm có quy mô biên chế nhỏ từ 33 – 42 nhân viên, có khả năng thu dung 80 – 100 thương, bệnh binh, có trình ñộ ngoại khoa khá, một số nơi ñã có chuyên khoa trung cấp về X quang, hóa nghiệm, răng, da liễu

Việc chuyển thương ra khỏi trọng ñiểm ñược thực hiện theo cung ñộ ñi bộ

là 25%, cáng bộ 50% và còn lại 25% là chuyển bằng cơ giới

Chỉ tiêu cơ bản của quân y Trường Sơn ñặt ra là phải ñưa ñược thương binh ñến ñội phẫu thuật chốt tại trọng ñiểm trước 6 giờ và do công binh phụ trách tuyến ñường làm chủ trong việc tổ chức hiệp ñồng Các ñơn vị hành quân sau khi giao thương binh cho ñội phẫu thuật lại tiếp tục hành trình Số thương binh này nếu chữa khỏi thì trả lại cho tổ chức giao liên bố trí hành quân tiếp; trường hợp bị nặng không còn khả năng chiến ñấu thì sau khi ñiều trị ổn ñịnh ñược chuyển về hậu phương và nếu hy sinh thì ñược an táng tại nghĩa trang liệt

sĩ ñã quy ñịnh

Trang 26

Trong mùa khô 1970 – 1971, ñội phẫu thuật trên trọng ñiểm Chà Là ñã thu dung 72 thương binh và 68 bệnh binh và ñã thực hiện các loại phẫu thuật: 3 cắt ñoạn chi, 2 tháo khớp, 3 phẫu thuật sọ não, 1 phẫu thuật thành ngực, 2 mổ bụng nối ruột, 3 vết thương hàm mặt, 1 vết thương bộ phận sinh dục, 1 khoét mắt, 14 vết thương phần mềm, 8 vết thương gãy xương (32 vết thương trên 32 thương binh – cứu sống 31, chết 1)

Các cán bộ, chiến sĩ quân y ñã dành nhiều công sức và liên tục rút kinh nghiệm ñể hạn chế thương vong và cải thiện ñiều kiện sinh hoạt, lao ñộng và chiến ñấu trên trọng ñiểm

Ngoài việc thường xuyên ñối mặt với bom ñạn ñánh phá ñủ kiểu, ñủ loại của kẻ ñịch, thì cường ñộ lao ñộng trên trọng ñiểm cũng rất cao và nặng nhọc Trung bình một chiến sĩ công binh trong một ñêm phải giải quyết 7,6 mét khối ñất ñá, tiêu hao từ 3.400 ñến 5.000 calo năng lượng; bộ ñội cao xạ cũng lao ñộng

và chiến ñấu vất vả không kém ðể bảo ñảm sức khỏe và nghỉ ngơi cho bộ ñội, tại hậu cứ của trọng ñiểm Chà Là, ñại ñội 2 công binh ñã tổ chức làm hầm loại

A dài 6m, rộng 2m, cao 2,2m, nắp dày 0,80m, trên có mái, có ñường thông với hầm chữ A vững chắc Hố xí, nhà bếp ñều làm hợp quy cách vệ sinh và bảo ñảm

an toàn Nhà ñiều trị của quân y dài 3,3m, rộng 3,2m, cao 3,5m, lát các bó dây sặt dày 0,2m – không lấp ñất Ngoài ra còn có nhà tắm nước nóng trong những ngày rét lạnh

ở các mũi xung kích trên các trọng ñiểm thường bố trí theo ñội hình trận ñịa Mỗi trận ñịa như thế thường có 1 hầm chỉ huy, 1 hầm hộ tống giao thông (có trinh sát, công binh), 1 hầm cấp cứu quân y, 3 hầm ở, 2 hầm ñể bộ ñội ngủ ban ngày, 3 hầm bếp tiểu ñội, 1 hố xí ñược làm bằng thùng phuy cạnh một hầm chữ A vững chắc

Bếp ăn bộ ñội thiết kế theo kiểu bếp Hoàng Cầm làm âm (nửa chìm, nửa nổi) Việc dữ trữ lương thực, thực phẩm ñược thực hiện bằng các túi nhỏ polyéthylène hoặc túi ni lông dày vùi xuống hầm Nước ăn cho vào túi ni lông dày chôn xuống hố

Chất lượng ăn uống hằng ngày cố gắng ñảm bảo cho bộ ñội ñạt trung bình trên 3.400 calo

Giấc ngủ của bộ ñội chốt trên trọng ñiểm cũng ñặc biệt ñược chú trọng Tại Chà Là, thường bộ ñội chỉ ñược ngủ có 2 giờ/ngày ñêm nên tỷ lệ mệt mỏi rất cao Rút kinh nghiệm, chỉ huy trọng ñiểm ñã tổ chức cho bộ ñội thay phiên trực từng nửa tiểu ñội luân phiên nhau nửa ngày, ñêm về hậu cứ của ñại ñội ngủ lấy sức Nhờ biện pháp này mà tỷ lệ mỏi mệt của ñại ñội 3 công binh chốt tại ñây ñã giảm xuống chỉ còn 5,64% (chỉ tiêu cho phét là 8%)

Công tác phòng chống sốt rét tại trọng ñiểm luôn ñược tiến hành nghiêm túc mặc dù khó khăn chồng chất Bình quân các ñơn vị ñã thực hiện ñược 79% hầm ñược phun DDT và nhuộm DDT cho màn che cửa hầm Việc uống thuốc ñiều trị chặn cơn cho những người hay bị tái phát sốt rét cũng trở thành yêu cầu bắt buộc Nhờ vậy mà mùa khô 1970 – 1971, các ñơn vị bộ ñội chốt tại Chà Là

Trang 27

sốt rét nghỉ việc chỉ có 5,93% (chỉ tiêu 10%) Cũng tại ựịa ựiểm nóng bỏng này, trước khi bước vào màu khô 1970 Ờ 1971, quân y tiểu ựoàn 24 công binh ựã huấn luyện ựược 20 cứu thương; bản thân từng chiến sĩ dù cũ, dù mới ựều thường xuyên ựược ôn luyện về 5 kỹ thuật cấp cứu và phòng chống sốt rét

đúng như phán ựoán của Bộ Chắnh trị và Quân uỷ Trung ương, ngày 30 tháng 1 năm 1971, Mỹ Ờ ngụy mở cuộc hành quân Lam Sơn 719 ựánh ra khu vực đường 9 Ờ Nam Lào địch ựã tập trung một lực lượng gồm hơn 40.000 quân ngụy Sài Gòn và 6.000 lắnh Mỹ thuộc các ựơn vị tinh nhuệ nhất cùng một

số lượng lớn binh khắ kỹ thuật gồm 580 xe tăng và xe bọc thép, 320 khẩu pháo, 1.000 máy bay (trong ựó có 600 máy bay lên thẳng và 45 máy bay chiến lược B52) vào cuộc hành quân này Chúng chọn Khe Sanh làm bàn ựạp xuất phát của quân ngụy Sài Gòn

Phối hợp với Mỹ - ngụy Sài Gòn, quân ngụy Lào huy ựộng 4 tiểu ựoàn của lực lượng GM30, GM33 từ đồng Hến ựánh ra khu vực Mường Pha Lan Ờ phắa tây ựường số 9

Mục tiêu của cuộc hành quân Lam Sơn 719 này là nhằm cắt ựứt hoàn toàn tuyến chi viện chiến lược, phá huỷ các kho chiến lược trên ựường Trường Sơn, làm cho các lực lượng chiến ựấu của ta tại các chiến trường không còn nguồn chi viện về người và vật chất kỹ thuật ựể mở các cuộc tiến công trong thời gian tớiẦ

đây là cuộc hành quân ựánh chiếm lớn nhất, ựiển hình nhất và cũng mang nhiều tham vọng nhất trong chiến lược ỘViệt Nam hoá chiến tranhỢ của Mỹ; ựồng thời cũng là ựỉnh cao của chiến tranh ngăn chặn tuyến ựường chiến lược Trường Sơn

Như vậy, chiến dịch đường 9 Ờ Nam Lào diễn ra trong phạm vi trực tiếp thuộc ựịa bàn hoạt ựộng của các binh trạm Trường Sơn: Binh trạm 27 (trên ựường 16 từ Cha Ly vào Bản đông); Binh trạm 32 (theo ựường 128, 129 xuống

Na Bo và nam ựường 9) Trên ựường số 9 có Binh trạm 33 chuyển tiếp các Binh trạm 27, 9, 32 qua ựường 9 vào Binh trạm 34, Binh trạm 41 theo ựường 9 xuống

La Hạp vào Trị Thiên Bảo vệ khu vực này là Trung ựoàn 591 cao xạ, xuyên qua ựường 9 còn có Trung ựoàn 592 ựường ống và ựóng xen kẽ với các ựơn vị của tuyến ựường là các ựơn vị chiến ựấu, binh khắ kỹ thuật, tăng, pháo, bộ binh trực thuộc Bộ Trên thực tế, khi quân ngụy vượt qua biên giới Việt Ờ Lào ở Lao Bảo thì chúng ựã lọt ngay vào trận ựịa ựã bố trắ sẵn của ta gồm các lực lượng Sư ựoàn 320, Sư ựoàn 304, Sư ựoàn 308 bộ binh, Sư ựoàn 361 cao xạ và các Trung ựoàn 591, 238, 592 cao xạ, Trung ựoàn 7 công binh, Tiểu ựoàn 1 bộ binh cùng các lực lượng tại chỗ của các binh trạm trên ựịa bàn

để ựánh bại cuộc hành quân của ựịch, Bộ Chắnh trị và Quân uỷ Trung ương quyết ựịnh mở chiến dịch phản công tiêu diệt lớn quân ựịch ở khu vực đường 9 Ờ Nam Lào; thành lập Bộ Tư lệnh Mặt trận ựường 9 lấy mật danh là Mặt trận 702 do Thiếu tướng Phó tổng tham mưu trưởng Lê Trọng Tấn làm Tư

Trang 28

lệnh, Thiếu tướng phó chủ nhiệm Tổng cục chắnh trị Lê Quang đạo làm Chắnh

uỷ Bộ Tư lệnh chiến dịch

Bộ Chắnh trị phê chuẩn việc thành lập Bộ tư lệnh mặt trận cánh ựông và cánh bắc chiến dịch với mật danh là Mặt trận B70 gồm 3 Sư ựoàn bộ binh 304,

308, 320 và các trung ựoàn, tiểu ựoàn binh chủng do đại tá Cao Văn Khánh làm

Tư lệnh, đại tá Hoàng Phương làm Chắnh uỷ, ở cánh tây chiến dịch giao cho Bộ

Tư lệnh Trường Sơn phụ trách gồm: Sư ựoàn 968, Sư ựoàn 2, Trung ựoàn 48, Trung ựoàn 29 cùng một số trung ựoàn, tiểu ựoàn binh chủng Bộ ựội thuộc binh ựoàn Trường Sơn là lực lượng ựánh ựịch tại chỗ trên toàn ựịa bàn chiến dịch

Ngày 8 tháng 2 năm 1971, dưới sự yểm trợ của không quân Mỹ, 7 trung ựoàn, lữ ựoàn bộ binh, dù, thiết giáp của quân ngụy Sài Gòn chia thành 3 cánh vượt biên giới Việt Ờ Lào

Nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh của Bộ tư lệnh Trường Sơn: nhử ựịch vào sâu hơn nữa, sẵn sàng chủ ựộng tấn công vào các ựội hình trực thăng của chúng, sử dụng mọi vũ khắ, phát huy mọi tầm hoả lực, kiên quyết tiêu diệt ựịch

với khẩu hiệu Ộcứ cho nó ựến, không cho nó vềỢ, các ựơn vị, binh trạm trên

tuyến thực sự bước vào cuộc chiến ựấu từ ngày 8 tháng 2 năm 1971Ầ

Ầ Trải hơn 50 ngày ựêm chiến ựấu kiên dũng, ngày 23 tháng 3 năm 1971 chiến dịch phản công đường 9 Ờ Nam Lào kết thúc thắng lợi, âm mưu cắt ựứt tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn bị ựập tan Hơn 20.000 tên ựịch bị diệt, bị thương và bị bắt; 6 trung ựoàn, lữ ựoàn, 13 tiểu ựoàn bộ binh, pháo binh bị loại khỏi vòng chiến ựấu Cả 3 sư ựoàn dù, thủy quân lục chiến và sư ựoàn 1 bộ binh ngụy bị ựánh thiệt hại nặng; 1.138 xe tăng, xe bọc thép, xe kéo pháo và 112 pháo lớn bị phá hủy, 556 máy bay (trong ựó có 505 máy bay lên thẳng) bị bắn rơi, 43 tàu, sà lan bị bắn chìm, 1 triệu lắt xăng và 1.000 tấn ựạn bị ựốt cháy và phá hủy Quân ta bắt 1.142 tù binh, thu 2 máy bay lên thẳng, 57 khẩu pháo hạng nặng và súng cối, 2.296 súng các loại, 16 xe tăng và xe bọc thép, 6 máy húc, 274 máy vô tuyến ựiện, trên 100 tấn ựạn và ựồ dùng quân sự khác

Riêng bộ ựội Trường Sơn, vừa trực tiếp phục vụ chiến dịch, vừa tham gia chiến ựấu ựã lập công xuất sắc: tiêu diệt 5.695 tên ựịch, bắt sống 614 tên, gọi hàng 64 tên, bắn rơi 346 máy bay (trong ựó có 310 trực thăng), thu 24 khẩu pháo, 4 máy húc, 6 xe tăng và xe bọc thép, 91 xe các loại

Tham gia phục vụ chiến ựấu trong chiến dịch phản công đường 9 Ờ Nam Lào ựối với quân y Trường Sơn chủ yếu là lực lượng quân y của các binh trạm nằm trong ựịa bàn chiến sự Như trên ựường 16, ựỉnh 1001 Ờ Chà Lỳ Ờ Cù Bai Ờ Bản đông có ựội ựiều trị Binh trạm 27 do các bác sĩ Phiếm, Thị phụ trách; các ựội phẫu thuật 1, ựội phẫu thuật 2 do các bác sĩ Quỳnh và quân y sĩ Thao làm ựội trưởng Trên hướng các ựường 128, 129 có ựội ựiều trị Binh trạm 32 và ựội phẫu thuật 2 Hướng nam Xê Pôn theo ựường 22 có ựội ựiều trị thuộc Binh trạm 33; nam Bản đông có ựội ựiều trị thuộc Binh trạm 41 đan xen vào mạng lưới cứu chữa, vận chuyển thương binh này là hệ thống các ựại ựội quân y trung

Trang 29

3 tổ chuyển thương bộ, 6 tổ chuyển thương cơ giới, 3 đội vệ sinh phịng dịch, 2

tổ chuyên khoa, 1 tổ nghiên cứu sốt rét, 7 kho thuốc trực tiếp phục vụ chiến dịch Ngồi ra cịn cĩ 6 đội điều trị và bệnh viện làm nhiệm vụ thu dung điều trị phía sau Riêng lực lượng quân y cánh quân B70 (hướng chủ yếu của chiến trường) do bác sĩ Nguyễn Hồ làm chủ nhiệm gồm 1 đội vệ sinh phịng dịch, 1 kho thuốc, 2 tổ chuyển thương bộ lại được tăng cường thêm 1 tổ chuyên khoa bỏng và 1 tổ X quang; về điều trị cĩ 11 đại đội quân y trung đồn, 1 tiểu đồn quân y sư đồn, 1 đội phẫu thuật và 3 đội điều trị Tổng số nhân viên quân y của cánh quân B70 này gồm 45 bác sĩ, 150 y sĩ, 600 y tá, 6 dược sĩ cao cấp, 21 dược

sĩ trung cấp và 35 dược tá

Cũng như các lực lượng tác chiến khác, trước khi bước vào chiến dịch, quân y các đơn vị đều đã làm cơng tác chuẩn bị chiến trường nhưng trong quá trình chiến đấu vẫn phải điều chỉnh lại việc bố trí lực lượng Thậm chí một số đơn vị như sư đồn 2 Quân khu 5 được lệnh điều động cấp tốc hoặc trung đồn

64 của sư đồn 320 đang trên đường hành quân vào hướng chiến trường Tây Nguyên thì được lệnh chuyển hướng tham gia chiến dịch nên khơng kịp chuẩn

bị chiến trường trước Những trường hợp phải điều chỉnh và bố trí triển khai lực lượng như vừa nêu đều được Bộ Tư lệnh và ngành quân y Trường Sơn giúp đỡ tận tình, chu đáo nên đã sớm phát huy hiệu lực để hồn thành nhiệm vụ Chính nhờ cĩ sự phối, kết hợp chặt chẽ trên tinh thần đồng nghiệp, đồng chí với nhau giữa quân y sở tại Trường Sơn và quân y các lực lượng chiến đấu từ xa tới nên

đã hình thành một mạng lưới cứu chữa và vận chuyển nhanh chĩng, an tồn hết

số thương binh về các cơ sở điều trị của quân y chiến dịch cả phía trước lẫn phía sau Quân y Binh trạm 32 cịn cử một đội phẫu thuật tăng cường cho quân y sư đồn 2 bộ binh phục vụ một mũi tiến cơng của sư đồn Lực lượng quân y Trường Sơn thuộc các đơn vị bộ binh, cao xạ, đường ống cũng đã phối hợp kịp thời và nhịp nhàng với lực lượng quân y của chiến dịch trong việc bảo đảm giải quyết phần lớn thương binh của đơn vị mình tại các đội phẫu thuật, đội điều trị

và bệnh viện dã chiến do viện 59 phái tới

Gĩp phần vào chiến cơng chung của lực lượng quân y Trường Sơn trong chiến dịch ðường 9 – Nam Lào cịn cĩ đội điều trị tăng cường mà nịng cốt là 5 bác sĩ của Trường Dại học quân y được bổ sung vào tuyến đầu năm 1971 – trước khi mở màn chiến dịch Phịng quân y Trường Sơn sau khi tiếp nhận số bác sĩ này, được sự đồng ý của Bộ Tư lệnh đã thành lập đội điều trị chiến dịch lấy phiên hiệu 71A do bác sĩ Dương Thịnh làm đội trưởng và thượng uý Nguyễn

Trang 30

Ngọc điểm làm chắnh trị viên ngoài 5 bác sĩ của trường đại học quân y (gồm: bác sĩ Dương Thịnh, bác sĩ Trần Xuân Vận, bác sĩ Thư, bác sĩ Lâm và bác sĩ Kỷ) cùng một số nhân viên hậu cần, cấp dưỡng ựồng hành, ựội ựiều trị 71A còn ựược bổ sung 20 học viên trường trung cấp quân y Trường Sơn, 10 y tá rút từ viện 59 và 1 tổ dược lý 3 người do dược sĩ trung cấp Nguyễn Thị Bê phụ trách ựội còn ựược tiếp nhận thêm 2 ựại ựội tải thương và 1 cán bộ phụ trách hậu cần

là ựồng chắ Khiêm Ờ trợ lý kế hoạch hậu cần của viện 59 Nằm trong ựội hình cơ quan hậu cần tiền phương Bộ Tư lệnh Trường Sơn, về quân y do bác sĩ Nguyễn Thế Trang làm chủ nhiệm, ngay sau khi triển khai nhiệm vụ, ựội ựiều trị 71A ựã thu dung ựiều trị gần 300 thương, bệnh binh chuyển từ viện 48 sang Sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ này, ựội ựiều trị 71A lại ựược hành quân vào nam ựường 9 phục vụ chiến dịch cho ựến ngày quân ta kết thúc thắng lợi chiến dịch đường 9 Ờ Nam Lào Do những thành tắch lập ựược, ựội ựiều trị 71A và cá nhân bác sĩ Dương Thịnh ựã ựược Bộ Tư lệnh tặng bằng khen

Vừa phải bằng mọi cách ựảm bảo ựủ vũ khắ, ựạn dược, lương thực cho các hướng chiến dịch; ựồng thời giữ cho ựược hành lang phắa tây, tập trung sức vận chuyển chi viện kịp thời cho Tây Nguyên, Khu 5, Nam Bộ ựể ựánh bại các cuộc hành quân phối hợp của ựịch đó là mệnh lệnh của Bộ ựối với Binh ựoàn

Trường Sơn trong thời gian chiến dịch đường 9 Ờ Nam Lào Và bộ ựội Trường Sơn cũng ựã không phụ lòng mong mỏi của trên cũng như của các ựơn vị Bạn Ngày 11 tháng 3 năm 1971, kế hoạch vận chuyển bảo ựảm cho chiến dịch của Binh trạm 27 và Binh trạm 9 ựã hoàn thành xuất sắc ựể sáng sớm ngày hôm sau (12/3) pháo ta cấp tập mở màn giai ựoạn chuyển sang tiến công trên toàn mặt trận đến ngày 28 tháng 2 năm 1971, trong lúc ựịch tập trung ựánh chiếm Xê Pôn và các ựiểm cao phắa ựông Tha Mé sát trục vận chuyển chiến lược thì cũng

là thời ựiểm kết thúc ỘTổng công kắchỢ ựợt 1 của chiến dịch vận tải mùa khô

1970 Ờ 1971 trên toàn tuyến ựường Trường Sơn

Trong ựợt này, toàn tuyến ựã thực hiện ựược một khối lượng lớn qua các ựiểm vượt then chốt, tạo nên thế mới cho ựợt vận chuyển tiếp theo Sau thắng lợi của kế hoạch vận chuyển này, giữa lúc chiến dịch phản công đường 9 Ờ Nam Lào ựang bước vào giai ựoạn quyết liệt, Bộ Tư lệnh Trường Sơn quyết ựịnh mở

ỘTổng tấn côngỢ ựợt 2 từ ngày 6 tháng 3 năm 1971 nhằm hoàn thành cơ bản nhiệm vụ vận tải chiến lược và chiến dịch mùa khô 1970 Ờ 1971

Mặc dù không quân ựịch phải phân tán trên trận ựịa chiến dịch nhưng chúng vẫn dành một lực lượng ựáng kể ựánh phá ráo riết tuyến vận chuyển của

ta Nhất là sau khi chiến dịch ựường 9 Ờ Nam Lào kết thúc, ựịch càng tập trung ựánh phá quyết liệt hơn suốt dọc tuyến Thủ ựoạn ựánh phá của chúng trong mùa khô 1970 Ờ 1971 có phần khác với các năm trước là chuyển từ phá cầu ựường sang ựánh tiêu diệt sinh lực của ta Ờ chủ yếu là bắn xe, trận ựịa phòng không, kho tàngẦ đối tượng nguy hiểm nhất của tuyến vận tải lúc này là máy bay AC.130 Tắnh năng kỹ thuật ựặc biệt của loại máy bay chiến ựấu hiện ựại này là

có khả năng phát hiện ô tô ựang vận hành trong bóng tối Với tầm hoạt ựộng trên

3 km, lại chủ yếu bắn ựạn 40 ly nên khả năng gây sát thương lớn trong phạm vị

Trang 31

bán kắnh rộng Trong hai tháng 2 và 3 năm 1971, riêng máy bay AC.130 ựã bắn tới 41.485 loạt ựạn 40 ly, phá huỷ nhiều xe vận tải của ta Do tầm hoạt ựộng khá cao nên pháo cao xạ 37 ly của ta chốt tại các trọng ựiểm gần như bị vô hiệu hoá ựối với loại máy bay này

Do có những nỗ lực lớn với nhiều biện pháp ựối phó nhằm giữ vững nhịp

ựộ tổng công kắch, nên ựến ngày 30 tháng 3 năm 1971, kết thúc ựợt 2 chiến dịch vận chuyển chiến lược, trên toàn tuyến ựã nhận từ hậu phương và thu mua tại chỗ ựạt 97% kế hoạch, vận chuyển giao cho các chiến trường ựạt 98% kế hoạch,

về bảo ựảm hành quân ựạt 91% hế hoạch, ựưa ựón hàng vạn quân vào chiến trường và thương, bệnh binh về hậu phương Hàng nội bộ ựạt 98% kế hoạch, ựảm bảo phục vụ các lực lượng trên tuyến hoạt ựộng liên tục

Cùng với việc chỉ ựạo đoàn chuyên gia quân sự 559 ựẩy mạnh hoạt ựộng giúp Bạn mọi mặt nhằm củng cố vùng giải phóng; ựầu tháng 4 năm 1971, Tư lệnh đồng Sĩ Nguyên cùng Phó Chắnh uỷ Hoàng Thế Thiện trực tiếp chỉ huy giải phóng đồng Hến Tiếp ựó là chiến dịch giải phóng cao nguyên Bô Lô Ven, tiến công Ê Tu GinẦ mở rộng vùng giải phóng của Bạn liên hoàn từ đồng Hến xuống Hạ Lào đường chiến lược vươn xuống tây Xê Công, tạo ra thế mới vững chắc cho vận chuyển và căn cứ chiến lược của ba nước

Bảo ựảm quân y trong các ựợt tác chiến này là do quân y các trung ựoàn,

sư ựoàn bộ binh tham gia tác chiến chịu trách nhiệm trên hướng chắnh ở hướng phối hợp có các ựội phẫu thuật tăng cường theo quân y ựơn vị Chuyển thương ựều thực hiện bằng cáng bộ, phắa sau các tổ chức quân y trung ựoàn là các quân

y binh trạm, gần ựâu chuyển về ựó

Ngày 2 tháng 4 năm 1971, Bộ Tư lệnh quyết ựịnh tổ chức ựợt vận chuyển nước rút nhằm hoàn thành một số chỉ tiêu chưa ựạt và tạo thêm lượng dự trữ cho một số hướng chiến trường, nhất là Nam Bộ

Trở ngại lớn nhất trong ựợt vận chuyển nước rút này vẫn là sự gia tăng ựánh phá ác liệt của ựịch Chúng không chỉ thay ựổi thủ ựoạn mà còn thay ựổi cả quy luật ựánh phá; sử dụng máy bay chiến lược B52 và máy bay cường kắch thả bom nổ chậm, bom từ trường và mìn vướng nổ ựánh vào lúc chập choạng chiều tối hoặc tảng sáng đặc biệt chúng tăng cường khắ tài ựiều khiển bằng tia La Ờ

de cho các loại máy bay cường kắch ựể ựánh vào các trận ựịa pháo Chỉ trong vòng 3 tháng mùa khô 1970 Ờ 1971, ựịch ựánh 1.104 trận vào các trận ựịa pháo, trong ựó có 55 lần sử dụng tia La Ờ de, phá hủy 81 khẩu pháo làm 311 pháo thủ

hy sinh, 262 người bị thương đó là tổn thất cao nhất của lực lượng cao xạ Trường Sơn so với các năm trước Nguy hiểm hơn cả vẫn là máy bay AC 130 trang bị hồng ngoại tuyến bay lượn lùng sục suốt ựêm từ ựầu tuyến ựến cuối tuyến, ựặc biệt là khu vực nam, bắc ựường 9 Hầu như không một ựoàn xe nào không bị loại Ộác ựiểuỢ này phát hiện và tấn công Số xe bị ựịch ựánh cháy tăng vọt, lái xe thương vong ngày càng nhiều, ựã có một số cán bộ, lái xe tỏ ra hoang mang, lo lắng Cá biệt có lái xe thoái thác chở vũ khắ, ựạn, xăng dầu Có thể nói ựây là thời kỳ cam go nhất, ác liệt nhất của chiến trường Trường Sơn sau hơn chục năm hình thành Trước tình hình ựó, Bộ Tư lệnh ựã chỉ ựạo triển khai hàng

Trang 32

loạt biện pháp ựối phó khẩn trương nhưng kết qủa vẫn rất hạn chế, trái lại tổn thất về người và phương tiện vẫn lớn

Giữa tháng 5, thời tiết ựã chuyển hẳn vào mùa mưa, Bộ Tư lệnh ra lệnh kết thúc chiến dịch vận tải mùa khô 1970 Ờ 1971

Ngày 15 tháng 5 năm 1971, đảng ủy Bộ Tư lệnh Trường Sơn họp kiểm ựiểm việc thực hiện nhiệm vụ chi viện mùa khô 1970 Ờ 1971 và bàn việc chuẩn

bị kế hoạch mùa khô 1971 Ờ 1972 đánh giá kết qủa thực hiện nhiệm vụ mùa khô 1970 Ờ 1971, đảng ủy nhất trắ khẳng ựịnh: nhiệm vụ vận chuyển chiến lược mùa khô diễn ra trong bối cảnh diễn biến tình hình vô cùng phức tạp, khó khăn

kể cả ựịch tình lẫn thời tiết Mặc dầu vậy, bộ ựội Trường Sơn ựã nỗ lực cao ựộ, khắc phục mọi khó khăn, vượt qua mọi trở ngại nên ựã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ ựược giao, trong ựó nổi bật nhất là phục vụ chiến ựấu và trực tiếp chiến ựấu trong chiến dịch đường 9 Ờ Nam Lào

Tổng khối lượng vận chuyển cho nội bộ và các chiến trường tuy mới ựạt 66% (63.145 tấn), trong ựó vận chuyển cho các chiến trường ựạt 80,5% (28.623 tấn), nhưng với mặt hàng chủ yếu là vũ khắ, ựạn cỡ lớn ựã ựảm bảo ựầy ựủ ựặc biệt cho Nam Bộ Riêng ựối với chiến dịch đường 9 Ờ Nam Lào ựã thực hiện cung cấp một khối lượng gần 10.000 tấn, cao hơn chỉ tiêu dự ựịnh ban ựầu 8,6 lần, ựảm bảo thỏa mãn mọi nhu cầu vật chất cho chiến dịch Song song với hoạt ựộng vận chuyển là việc ựảm bảo và ựưa ựón ựược 88.000 quân vào các chiến trường, ựặc biệt có 19.000 quân vào Nam Bộ ựảm bảo cả 2 khâu thời gian và sức khỏe đồng thời ựã chỉ dẫn và bảo ựảm cho trên 2.000 xe pháo vượt ựường Trường Sơn vào tham gia chiến dịch ựược an toàn; mở thêm cửa khẩu mới; khôi phục trên 4.000 km ựường cũ, làm lại hàng trăm cầu phà ngầm; mở thêm 1.153

km ựường mới; việc khởi công mở tuyến ựường kắn dài 800 km từ nam ngầm Long đại vào tới ngả ba biên giới ựã ựược tiến hành từ ngày 20 tháng 4 và dự kiến hoàn thành vào ựầu năm 1972

Các lực lượng phòng không trên tuyến ựã chiến ựấu trên 22.077 trận, bắn rơi 620 máy bay ựịch, có 426 chiếc rơi tại chỗ (trong ựó có 98 chiếc rơi ựêm) đặc biệt trong chiến dịch đường 9 Ờ Nam Lào, bộ ựội cao xạ Trường Sơn ựã ựánh thắng dòn giã 481 trận, bắn rơi 356 máy bay ựịch Ờ trung bình mỗi trận bắn rơi một chiếc Mấy tháng ựầu năm 1971, bộ ựội Trường Sơn cũng ựã phối hợp tác chiến với các lực lượng tăng cường của Bộ và lực lượng vũ trang của Bạn diệt và bắt gọn gần 10.000 tên ựịch, phá hủy và thu nhiều vũ khắ, phương tiện chiến tranh

Trải qua mấy tháng mùa khô 1970 Ờ 1971, tuyến chi viện Trường Sơn ựã thật sự phát huy vai trò một căn cứ chiến lược làm nhiệm vụ tổng hợp, chuẩn bị chiến trường cho chiến dịch, xây dựng các khu tập kết, hệ thống ựường cơ ựộng cho các lực lượng binh khắ kỹ thuật, xây dựng mạng lưới thông tin, hệ thống kho tàng, hệ thống ựảm bảo cấp cứu chuyển thương, hệ thống cầu ựường vận chuyểnẦ Mặt khác, qua thử thách trong cuộc ựọ sức quyết liệt giữa ta và ựịch trong chiến dịch ựường 9 Ờ Nam Lào càng khẳng ựịnh bộ ựội Trường Sơn là một

Trang 33

Trong chiến công chung của Binh ựoàn Trường Sơn mùa khô 1970 Ờ

1971 có sự ựóng góp công lao và kể cả xương máu của hơn 6.500 cán bộ, chiến

sĩ ngành quân y Trách nhiệm trước sinh mạng của hàng vạn ựồng chắ, ựồng ựội trên tuyến ựường, các cán bộ, chiến sĩ quân y Trường Sơn không quản ngại gian khổ, hy sinh ngày ựêm bám sát trận ựịa, bám sát trục ựường ựể cứu chữa kịp thời thương binh đã có biết bao tấm gương thể hiện tấm lòng Ộlương y như từ mẫuỢ trong việc cứu chữa, chăm sóc thương binh, bệnh binh điển hình như ựội ựiều trị Binh trạm 41 ựã cứu sống một nữ thông tin tên là Hương bị sốt rét ác tắnh hôn

mê kéo dài 25 ngày ựêm đáp lại ân nghĩa trả lại cuộc sống cho mình, sau khi bình phục, người nữ chiến sĩ thông tin này ựã tình nguyện ở lại làm cấp dưỡng cho ựội ựiều trị

Trang 34

Xúc ñộng bởi câu chuyện sâu nặng y ñức này, ñồng chí Thịnh – Phó Chính ủy Binh trạm 41 ñã làm bài thơ tặng ñội ñiều trị và cô Hương như sau:

Em như em bé yếu trong nôi Cảm giác toàn thân mất cả rồi

Ai hỏi, em cười như giả dại

Nụ cười báo hiệu cánh hoa rơi!

ðảng ñã cho em sống lại rồi

Từ người bác sĩ ñến anh nuôi Bát cơm, ống thuốc ñầy tình nghĩa

Em hứa ñền ơn cả mọi người

ðảng ñã cho em sống lại rồi

Trang 35

Xét thấy hình thức tổ chức theo mô hình cũ ựã không còn thắch hợp nữa

và từ hiệu qủa hoạt ựộng bước ựầu của Bộ Tư lệnh 470, đoàn hậu cứ 571, Bộ

Tư lệnh Trường Sơn quyết ựịnh kiện toàn tổ chức theo phương án mới với việc phân chia toàn tuyến thành 5 khu vực Mỗi khu vực có diện tắch từ 20.000 ựến 25.000 km2, ựảm nhiệm một hướng chiến trường Ngoài Bộ Tư lệnh khu vực

470 ựang hoạt ựộng, sẽ thành lập thêm các Bộ Tư lệnh khu vực khác là 471,

472, 473, Bộ Tư lệnh hậu cứ 571 và hai sư ựoàn: Sư ựoàn bộ binh 968, Sư ựoàn cao xạ 377 phối thuộc Bộ Tư lệnh khu vực chỉ huy bộ ựội hợp thành (5 Ờ 6 binh trạm và một số trung ựoàn binh chủng) có nhiệm vụ mở ựường, bảo ựảm giao thông, vận chuyển chiến lược Ờ chiến dịch, tổ chức hành quân, tác chiến bảo vệ hành lang, giúp Bạn

Ngày 20 tháng 7 năm 1971, Quân ủy Trung ương Ờ Bộ Quốc Phòng ựã phê chuẩn phương án tổ chức mới này của Bộ Tư lệnh Trường Sơn

Các Bộ Tư lệnh khu vực ựã triển khai ựội hình theo từng ựịa bàn ựược xác ựịnh cụ thể như sau:

- Bộ Tư lệnh khu vực 473 phụ trách các tuyến ựông - tây Trường Sơn từ Cầu Khỉ theo ựường 14 vào Pê Ke, tây nam Thừa Thiên và từ khu vực Chà Ly vào Bản đông, La Hạp và theo ựường B 45 vào A Lưới, Trao, Giằng Tổng chiều dài các tuyến ựường do 473 phụ trách là 1.765 km Chỉ huy sở Bộ Tư lệnh ựóng ở Chà Ly

Các ựơn vị trực thuộc Bộ Tư lệnh gồm: các Binh trạm 27, 28, 41, 42; các ựơn vị phối thuộc gồm: 3 trung ựoàn công binh (6, 225, 229) và 1 trung ựoàn cao xạ

Bộ Tư lệnh khu vực 473 chịu trách nhiệm vận chuyển bảo ựảm cho mặt trận đường số 9 Ờ bắc Quảng Trị, chiến trường Trị Ờ Thiên và bảo ựảm cho các lực lượng cơ ựộng của Bộ hoạt ựộng ở hướng này; ựồng thời tiếp nhận vận chuyển tạo nguồn dự trữ chiến lược cho Trị Ờ Thiên, ựẩy mạnh xây dựng hệ thống ựường ựông Trường Sơn thọc sâu xuống Khâm đức (Quảng Nam)

- Bộ Tư lệnh khu vực 472 phụ trách từ ựường số 9 vào tới Bạc trên ựịa bàn tỉnh Xa Vẳn Na Khệt và Xa Ra Van, với tổng chiều dài ựược ựảm nhận là 2.117 km Chỉ huy sở Bộ Tư lệnh ựóng ở Na Lai, cách bắc Mường Phìn 7 km

Υ Tư liệu do đại tá bác sĩ Lê Trung Nguyên cấp

Trang 36

Các đơn vị trực thuộc cĩ các Binh trạm: 32, 33, 39, 30, 34

Bộ Tư lệnh khu vực 472 chịu trách nhiệm tiếp chuyển tạo chân hàng cho

Bộ Tư lệnh khu vực 471; trực tiếp phục vụ cho mặt trận Y (Trung – Hạ Lào), bảo đảm chi viện cho Quân Khu Nam Lào, tổ chức đảm bảo hành quân trong phạm vi địa bàn phụ trách

- Bộ Tư lệnh khu vực 471 phụ trách khu vực đơng Hạ Lào gồm cao nguyên Bơ Lơ Ven và tỉnh Tà Vên Oọc (Xê Cơng) từ Bạc vào Xê Ca Mán Tổng chiều dài các tuyến đường được phụ trách là 2.133 km Chỉ huy sở Bộ Tư lệnh đĩng ở nam Bạc

Các đơn vị trực thuộc Bộ Tư lệnh gồm các Binh trạm: 46, 47, 35, 36, 38

Bộ Tư lệnh khu vực 471 cĩ nhiệm vụ tiếp chuyển tạo chân hàng cho Bộ

Tư lệnh khu vực 470; bảo đảm cho quân tình nguyện và bộ đội Pa – Thét Lào tác chiến củng cố vùng mới giải phĩng; bảo đảm cho trung đồn cơng binh mở đường 17 xuyên cao nguyên Bơ Lơ Ven đến Ta Pao, Nậm Cơng và tổ chức bảo đảm hành quân trong phạm vi địa bàn phụ trách

- Bộ Tư lệnh khu vực 470 trên địa bàn hiện hữu, nay quy hoạch phân giới tiếp giáp Bộ Tư lệnh khu vực 471 vào đến hậu cứ chiến trường Nam Bộ, Tây Nguyên, Căm Pu Chia, cĩ tổng chiều dài cả đường bộ lẫn đường sơng được phụ trách là 1.765 km Chỉ huy sở Bộ Tư lệnh ở nam Xê Ca Mán

Các đơn vị trực thuộc Bộ Tư lệnh gồm các Binh trạm: 37, 50, 51, 52, 53

và trung đồn cơng binh

Bộ Tư lệnh khu vực 470 được giao nhiệm vụ là cơ quan tiền phương Bộ

Tư lệnh Trường Sơn, trực tiếp quan hệ với chiến trường, giải quyết những vấn

đề cấp bách phục vụ tác chiến và thực hiện nội dung chức năng Bộ Tư lệnh khu vực gồm tiếp nhận hàng của Bộ Tư lệnh 471, vận chuyển đảm bảo cho chiến trường Tây Nguyên, Nam Bộ, Hạ Lào và Căm Pu Chia rồi chuyển ngược lại lương thực, thực phẩm phục vụ chiến trường Tây Nguyên và bảo đảm một phần phục vụ nhu cầu nội bộ

- Bộ Tư lệnh khu vực hậu cứ 571 đĩng ở khu vực tây Quảng Bình từ sơng Gianh vào Vĩnh Linh tiếp giáp các Binh trạm cửa khẩu 27, 14, 9 (khơng quản lý các binh trạm này) Chỉ huy Bộ Tư lệnh ở tây Chánh Hịa

ðơn vị trực thuộc gồm cĩ: ðồn 70 an dưỡng cán bộ; ðồn 963 đào tạo lái xe; ðồn 967 an dưỡng hạ sĩ quan, chiến sĩ, thanh niên xung phong

Nhiệm vụ của Bộ Tư lệnh khu vực hậu cứ 571 là tiếp xe pháo, vật liệu phụ tùng do Bộ bổ sung; chỉ huy các tổng kho hàng, tổng kho xe, vật tư các xưởng đại tu xe máy, trường huấn luyện, đồn điều dưỡng, tuyến quân y phía sau của Bộ Tư lệnh Trường Sơn; đồng thời tiếp khách của ðảng, Nhà nước, quân đội và quốc tế ra vào Trường Sơn

Riêng hai sư đồn bộ binh và pháo cao xạ được bố trí như sau:

Sư đồn bộ binh 968 trực thuộc Bộ Tư lệnh Trường Sơn tiếp tục triển khai chiến đấu trên các khu vực nam Khăm Muộn, Xa Vẳn Na Khệt, Xa Ra Van, Bơ

Lơ Ven, A Tơ Pơ Chỉ huy sở Bộ Tư lệnh ở đơng Xa Ra Van

Trang 37

Phương án tổ chức các trung đồn binh chủng được Bộ phê duyệt gồm:

- 6 trung đồn cơng binh (98, 10, 6, 217, 4, 8)

- 2 trung đồn ơ tơ (11, 13)

- 3 trung đồn phịng khơng (591, 593, 210)

- 2 trung đồn đường ống xăng dầu (592, 532)

- 1 trung đồn thơng tin (gồm 5 tiểu đồn)

- 4 quân y viện (59, 46, 47, 48)

Ngồi ra Bộ cịn cho phép tăng thêm 61 tiểu đồn, nâng tổng số lên 188 tiểu đồn và tương đương trực thuộc các binh trạm (54 tiểu đồn cơng binh, 35 tiểu đồn ơ tơ, 1 tiểu đồn cơ giới đường sơng, 39 tiểu đồn cao xạ, 12 tiểu đồn

bộ binh, 6 tiểu đồn thơng tin, 11 tiểu đồn giao liên và 30 đội điều trị)

Cơ quan Bộ Tư lệnh được kiện tồn về tổ chức, biên chế đủ cán bộ cĩ năng lực giúp Bộ Tư lệnh triển khai một khối lượng cơng việc rất lớn, phức tạp

và khẩn trương Trong cơ quan Bộ Tư lệnh cĩ:

- Bộ tham mưu (gồm 9 phịng chức năng)

- Cục tham mưu phịng khơng (4 phịng)

- Cục tham mưu vận tải (5 phịng)

- Cục tham mưu cơng binh (5 phịng)

Riêng lực lượng quân y cĩ quân số 6.461 người, trong đĩ cĩ 214 bác sĩ (72 người làm cơng tác tổ chức, chỉ huy)

ðể đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, ngành quân y cũng

đã sắp xếp, bố trí lại một số khâu tổ chức, điều động cán bộ chỉ huy, cụ thể là:

Bác sĩ ðinh Văn Lệ được cử làm Chủ nhiệm quân y Bộ Tư lệnh khu vực

471

Bác sĩ Lê Trung Kiên – Chủ nhiệm quân y Bộ Tư lệnh khu vực 472

Bác sĩ ðỗ ðức Niên – Chủ nhiệm quân y Bộ Tư lệnh khu vực 473

Bác sĩ Phạm Văn Ban – Chủ nhiệm quân y Bộ Tư lệnh hậu cứ 571

Chủ nhiệm quân y Bộ Tư lệnh khu vực 470 vẫn do bác sĩ Phạm Sùng phụ trách

Trang 38

Chủ nhiệm quân y hai sư ựoàn 968 (bộ binh) và 377 (cao xạ) là các bác sĩ Hoàng Kim Tuyên và Nguyễn Thế Trường

Các binh trạm khu vực cửa khẩu (12, 14, 9, 15, 31, 29) trực thuộc Bộ Tư lệnh Trường Sơn vẫn giữ nguyên ựội hình quân y như trước với các Chủ nhiệm quân y dày dạn kinh nghiệm tổ chức và chỉ huy chiến ựấu

Ba quân y viện triển khai trên 3 khu vực cũng có sự thay ựổi ắt nhiều về chỉ huy, cụ thể như sau:

- Viện 59 - ựược xác ựịnh là viện tuyến cuối, ựóng ở Bố Trạch, Quảng Bình do Thiếu tá bác sĩ Nguyễn đăng Hàm (Phó trưởng phòng quân y từ tháng

10 Ờ 1970) ựược ựiều trở lại làm Viện trưởng, Thiếu tá Nguyễn Tiến Du là Chắnh ủy

- Viện 46 (Hướng B1 Ờ Khu 5) do Thiếu tá bác sĩ Lê Văn đắnh làm Viện trưởng thay bác sĩ Lê Văn Song, Chắnh ủy là ựồng chắ Nguyễn Văn Kiên

- Viện 47 (Hướng B2 Ờ Nam Bộ, vị trắ giữa 2 trạm giao liên 77 và 78) do đại úy Nguyễn Văn Gia làm Viện trưởng, chắnh trị viên là Thượng úy Nguyễn Hồng Minh

Kết thành mạng lưới quân y trên toàn tuyến còn có 30 ựội ựiều trị (trong

ựó có 1 ựội ựiều trị tại cơ quan đoàn bộ Bộ Tư lệnh), 86 ựội phẫu thuật, 16 bệnh

xá, 20 ựại ựội quân y trung ựoàn Theo phân cấp lúc bấy giờ thì các ựội ựiều trị, phẫu thuật ựều thuộc quân y các binh trạm, bệnh xá thuộc các tiểu ựoàn giao liên, các ựại ựội quân y thuộc các trung ựoàn công binh, cao xạẦ Mạng lưới này

ựã ựược bố trắ hợp lý trong khâu cứu chữa, vận chuyển thương, bệnh binh trên các ựịa bàn quan trọng của tuyến ựường đặc biệt là các ựội phẫu thuật ựã ựược tăng cường cả người lẫn phương tiện kỹ thuật, thuốc men ựảm bảo chốt giữ trên tất cả các trọng ựiểm giao thông thường xuyên bị ựịch ựánh phá ác liệt, tạo ra một mạng lưới cứu chữa, vận chuyển theo các khu vực có ựủ khả năng ựáp ứng ựược mọi tình huống

Ngoài ra, ựội vệ sinh phòng dịch thuộc Phòng quân y do bác sĩ Vũ Hưởng phụ trách cùng với 7 tổ vệ sinh phòng dịch của một số binh trạm và bộ phận chuyên gia quân y giúp Bạn cũng ựều ựược tăng cường và củng cố

Trong khi Bộ Tư lệnh Trường Sơn và các Bộ Tư lệnh khu vực, Sư ựoàn khẩn trương triển khai lực lượng theo phương án mới thì suốt 5 tháng liên tục của mùa mưa năm 1971, hàng vạn cán bộ, chiến sĩ công binh, thanh niên xung phong vẫn vật lộn chống chọi với mưa lũ, vắt núi, muỗi rừng với biết bao vất vả, thiếu thốn ựể ựào ựắp hàng triệu mét khối ựất ựá san lấp mặt ựường sụt lở có tổng dài 7.927 km của hệ thống ựường cũ đặc biệt trục ựường kắn dài trên 700

km cũng ựã mở xong và còn mở thêm một trục ựường mới phắa ựông Trường Sơn từ Cầu Khỉ vươn tới Khe Sanh dài trên 50 km Các trục ựường ở cửa khẩu

và một số ựường ngang ựi vào các chiến trường ựều ựược rải ựá với tổng chiều dài gần 270 km Ngoài 13 phà vượt các sông lớn (có phà chở ựược cả xe tăng 36 tấn như phà Xê Phan) thì một số ựiểm trọng yếu phải vượt sông cũng ựã ựược bắc cầu quân sự xong trong thời gian này

Trang 39

Tuy nhiên, bên cạnh trở ngại về thời tiết do 3 cơn bão12, 13, 14 xẩy ra liên tiếp gây mưa lũ lớn nên các trục dường cửa khẩu bị ảnh hưởng nặng làm cho ta phải mất nhiều công sức khắc phục; thì ựồng thời ngay từ ựầu tháng 9 ựịch cũng tập trung ựánh phá ráo riết cửa khẩu đặc biệt là cửa khẩu ựường 16

và cửa khẩu ựường 20 chúng ựánh phá liên tục cả ngày lẫn ựêm với mục ựắch cắt ựường và diệt các ựội hình xe Nhưng nhờ có sáu tuyến vượt khẩu mà mỗi tuyến lại có nhiều ựường vòng, ựường tránh ựược rải ựá khá vững chắc và ựặc biệt là lực lượng công binh bố trắ trên các trọng ựiểm vượt khẩu ựều là những ựơn vị thiện chiến, giàu kinh nghiệm khắc phục phá hoại nhanh nên các cửa khẩu vẫn thông suốt, có chăng chỉ tắc giờ, không tắc ựêm và tắc ngày Mặc dầu vậy, so với các mùa khô trước thì mùa khô năm nay chiến dịch vận chuyển vẫn bắt ựầu chậm Mãi tới ngày 12 tháng 12 năm 1971, chiến dịch vận chuyển mang tên

Ộđồng XoàiỢ mới mở màn 12/12/1971 và ựã kết thúc vào ngày 27 tháng 12 Sau

15 ngày triển khai chiến dịch, mặc dầu ựã phát huy hết sức mạnh trên toàn tuyến nhưng so với yêu cầu về khối lượng và thời gian cần thiết ựảm bảo cho chiến trường thì mức phấn ựấu chưa ựạt Một trong nguyên nhân là ảnh hưởng của cơn bão 15 ựúng vào lúc chiến dịch bắt ựầu gây ách tắc nhiều ựoạn ựường do nước các sông suối dâng cao; mặt khác việc ựánh trả máy bay AC 130 vẫn chưa có hiệu qủa, gây cho ta nhiều thiệt hạiẦ

Do yêu cầu khẩn cấp của chiến trường, ngày 1 tháng 1 năm 1972, Bộ Tư lệnh Trường Sơn quyết ựịnh mở chiến dịch vận chuyển tiếp theo lấy tên là

ỘChiến dịch Bình GiãỢ được sự chi viện của Trường ựại học quân y bác sĩ Tô Như Khuê cùng một số cán bộ của ựại học quân y vào nghiên cứu lao ựộng lái

xe của 559 Bác sĩ Tô Như Khuê ựã có nhiều ựóng góp vào việc bảo vệ sức khoẻ cho lái xe như ựề xuất chế ựộ ăn, ngủ, nghỉ, tổ chức quán ăn quay ựầu Ờ 2 nóng,

1 nguội Các ựồng chắ ựã không ngại gian khổ bom ựạn ác liệt, trong ựó có ựồng chắ nữ của đoàn ựã hy sinh trên ựường công tác ựi cùng lái xe

Phát hiện hoạt ựộng quy mô lớn của ta, ựịch huy ựộng lực lượng ựánh phá

ác liệt Một mặt, chúng duy trì ựánh chặn cửa khẩu; mặt khác tập trung nhiều loại máy bay khống chế hoạt ựộng của ta tại khu vực ựường 9 từ ngả ba Bản đông ựến Mường Phìn và các ựiểm vượt sông Xê Băng Hiêng Nhờ phát triển 3 ựiểm vượt sông (N11, N12, N13) và một số công trình vượt khác, nhất là tổ chức ựược một hệ thống phòng không mạnh nên ta mới vượt ựược lưới lửa ngăn chặn của ựịch Riêng 3 Binh trạm 33, 34, 39 thuộc Bộ Tư lệnh khu vực 472 nằm trong trung tâm hướng chủ yếu do chưa làm xong ựường kắn, xe vẫn phải chạy ựêm theo ựường cũ nên bị ựịch ựánh cháy nhiều ở khu vực Binh trạm 35, 37, 38

Trang 40

thuộc Bộ Tư lệnh 471 mỗi ngày ựịch huy ựộng 150 lần/ chiếc ựánh phá bằng bom mìn hỗn hợp với cường ựộ tăng từ 173% ựến 375% so với trước

Trên toàn tuyến, máy bay AC 130 quần ựảo ựánh phá suốt ựêm chủ yếu

là ựạn 40 ly và 20 ly làm cho 60% số xe bị ựánh hỏng vì loại máy bay này

ở hướng phối hợp phắa ựông như cửa khẩu Binh trạm 27, trọng ựiểm Chà

Ly, đèo 500Ầ ựã gặp khó khăn lớn về ựịa hình (nhiều núi ựá tai mèo, ựồi trọc

và rừng thưa), lại càng bị máy bay B52 ựánh phá quyết liệt vào ban ngày và AC.130 săn lùng ựội hình xe vào ban ựêm nên ựã gây cho ta nhiều tổn thất

Xét thấy tình hình suốt 15 ngày ựầu chiến dịch không ựược thuận lợi, Bộ

Tư lệnh ựã ựề ra một loạt biện pháp khắc phục như phát ựộng phong trào hạ máy bay AC.130, mở thêm ựường kắn, ngụy trang bằng cây xanh ựường trống ựể chạy ngày, tổ chức nghi binhẦ nhờ ựó tốc ựộ vận chuyển ựược ựẩy mạnh nhất

là vào thời gian cuối chiến dịch khi các ựơn vị xe chuyển sang chạy ngày là chủ yếu

Cuối tháng 12 năm 1972, ỘChiến dịch Bình GiãỢ kết thúc Kết qủa là toàn tuyến ựã ựảm bảo ựủ khối lượng hàng cho các hướng chiến trường, ựảm bảo vật chất và tổ chức hành quân cho 55.000 cán bộ, chiến sĩ vượt Trường Sơn an toàn cùng với nhiều binh khắ, khắ tài quan trọng khác như pháo hạng nặng, xe tăng, tên lửa A 72 bắn máy bayẦ vào tăng cường cho các chiến trường

Phát huy thành qủa ựã ựạt ựược và tranh thủ thời tiết mùa khô còn lại của

2 tháng 3 và 4, đảng ủy Ờ Bộ Tư lệnh chủ trương mở chiến dịch ỘTổng công kắchỢ nhằm dứt ựiểm kế hoạch chi viện chiến lược, giành thắng lợi quyết ựịnh trong mùa khô 1971 Ờ 1972

Bằng một loạt biện pháp chỉ ựạo tắch cực, toàn diện và ựồng bộ, chỉ trong vòng tháng 3, bộ ựội Trường Sơn ựã hoàn thành ựược một khối lượng vận chuyển xấp xỉ bằng cả 3 tháng ựầu mùa khô và ựã ựảm bảo tổ chức hành quân giao cho các chiến trường 97.000 cán bộ, chiến sĩ đặc biệt là lần ựầu tiên lực lượng phòng không của ta ựã bắn hạ 2 máy bay AC 130 vào ngày 14 tháng 3 và ựêm 29 tháng 3 làm cho kẻ ựịch thật sự choáng váng và không dám ựưa con Ộát chủ bàiỢ này ra tác oai, tác quái nữa Sau khi loại trừ ựược ựối thủ nguy hiểm nhất của tuyến chi viện chiến lược là loại máy bay AC 130, thương vong của bộ ựội ta Ờ nhất là lái xe ựã giảm hẳn, hiệu suất vận chuyển nhờ thế tăng gấp 3 ựến

4 lần so với các tháng trước

Bước sang tháng 4 năm 1972, tranh thủ thời cơ khi một bộ phận lớn không quân ựịch bị thu hút vào việc ựối phó các cuộc tiến công của ta trên các chiến trường Quảng Trị, Tây Nguyên, đông Nam Bộ, bộ ựội Trường Sơn ựẩy

ỘTổng công kắchỢ lên cao trào mới Trên 40 tiểu ựoàn xe hoạt ựộng dồn dập cả ngày lẫn ựêm, nhiều ựội hình xe ựược lệnh chạy suốt từ ựầu ựến cuối tuyến, các cung trung chuyển trong phạm vi từng khu vực bị loại dần đầu tháng 5 năm

1972, bảy tiểu ựoàn xe ựã ựưa một chuyến hàng từ cửa khẩu vào thẳng chiến trường Tây Nguyên và Nam Bộ

Ngày đăng: 13/05/2021, 04:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w