1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhà văn Lê Tràng Kiều, một cuộc đời hành động

13 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 248,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhà văn Lê Tràng Kiều, một cuộc đời hành động Nhà văn Lê Tràng Kiều tên thật là Lê Tài Phúng, sinh năm 1912 tại quê hương Nam Định và thời ấu thơ sống ở đó, theo học trường Thành Chung. Năm mười sáu tuổi, Lê Tràng Kiều cùng gia đình chuyển cư lên Hà Nội, ngụ tại làng Mọc Quan Nhân, một trong bảy làng Mọc của Hà Nội xưa, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Đất kẻ Mọc cũng là quê của nhà văn Nguyễn Tuân, và là quê ngoại của nhà văn Vũ Trọng...

Trang 1

Nhà văn Lê Tràng Kiều, một cuộc đời hành động

Nhà văn Lê Tràng Kiều tên thật là Lê Tài Phúng, sinh năm 1912 tại quê hương Nam Định và thời ấu thơ sống ở đó, theo học trường Thành Chung Năm mười sáu tuổi, Lê Tràng Kiều cùng gia đình chuyển cư lên Hà Nội, ngụ tại làng Mọc Quan Nhân, một trong bảy làng Mọc của Hà Nội xưa, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội Đất kẻ Mọc cũng là quê của nhà văn Nguyễn Tuân, và là quê ngoại của nhà văn Vũ Trọng Phụng.Vậy nên, từ tuổi mới lớn, Lê Tràng Kiều đã kết bạn với Nguyễn Tuân và Vũ trọng Phụng Họ cùng trang lứa, cùng trở thành những nhà văn tiêu biểu của Việt Nam những năm ba mươi, thế kỷ XX

Khi mới lên sống ở Hà Nội, Lê Tràng Kiều học ở trường Thăng Long, và sớm tỏ rõ

là một tài năng văn chương, báo chí Mười tám, mười chín tuổi, Lê Tràng Kiều đã

viết các bài báo về văn học, đăng trên tờ Tạp chí văn học Ông sớm bộc lộ một

năng lực sắc sảo trong nghiên cứu, phê bình văn học, làm báo, có khả năng hoà nhập rất nhanh vào đời sống văn chương và sớm tạo được nhiều ảnh hưởng đến các nhà văn Giao du rất nhiều với các nhà văn đương thời, Lê Tràng Kiều quan hệ thân thiết với một số nhà văn cùng chí hướng như Vũ Trọng Phụng, Lưu Trọng Lư, Vũ Trọng Can, Nguyễn Tuân, Bùi Huy Phồn, Hoài Thanh, Lan Khai, Thâm Tâm, Quỳnh Dao cùng một số tác giả sân khấu là Vi Huyền Đắc, Bùi Nguyên Cát, Chu Ngọc… Từ năm 1935, 1936, Lê Tràng Kiều có những đóng góp đáng kể cho văn

học nước ta Nhất là thời gian ông làm chủ bút Hà Nội báo, cùng các bạn thân thiết,

Trang 2

đã làm cho phần văn học của báo tạo nên một ấn tượng mạnh mẽ trong đời sống xã

hội Những tiểu thuyết như Giông tố, Vỡ đê của Vũ Trọng Phụng; những vở kịch thơ Anh Nga, Tần Ngọc của Phạm Huy Thông… đã được giới thiệu, đăng tải nhiều

kỳ trên Hà Nội báo, và được độc giả vô cùng tán thưởng Một nhà thơ trẻ chưa đầy

mười lăm tuổi, là Nguyễn Xuân Sanh, cũng được Lê Tràng Kiều trân trọng giới

thiệu trên Hà Nội báo tác phẩm đầu tay Trường ca lạc loài, đăng liền trên 13 kỳ

báo Vinh hạnh lớn này suốt đời khích lệ nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh Tình bạn văn chương của Lê Tràng Kiều với Vũ Trọng Phụng là mối tình tri kỷ lớn Đương lúc

Vũ Trọng Phụng được độc giả rất hâm mộ bởi một loạt phóng sự đặc sắc như Cạm

bẫy Ngưòi, Kỹ nghệ lấy Tây, Cơm thầy cơm cô…, Lê Tràng Kiều có viết trên Văn học tạp chí số 4 ngày 8-6-1935, về ba nhà văn họ Vũ (Tam Lang Vũ Đình Chí, Tiêu

Liêu Vũ Bằng và Thiên Hư Vũ Trọng Phụng) Ông biểu dương tài năng Vũ Trọng Phụng, đồng thời, đã tâm huyết trao đổi với Vũ Trọng Phụng: “Ông Phụng cứ viết cho tôi nữa đi những truyện ngắn, hay những truyện dài về xã hội, tôi dám chắc sự nghiệp văn chương ông sẽ rực rỡ vô cùng…” Thành tâm lắng nghe lời tâm huyết của ông bạn tri kỷ, Vũ Trọng Phụng lập tức đổ tâm dồn sức vào truyện dài về xã hội, và trong năm 1936, ông sáng tạo được ba tiểu thuyết xuất sắc, làm vinh dự cho

văn chương nước Việt ta, là Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê Cuốn tiểu thuyết đầu tiên, nhà văn đặt tên là Thị Mịch, và Lê Tràng Kiều nhận đăng tải ngay trên Hà Nội báo

Nhưng lập tức nhà kiểm duyệt đã can thiệp, đòi cấm Lê Tràng Kiều và Vũ Trọng

Phụng, sau một thời gian ngắn, đã quyết định đổi tên tiểu thuyết thành Giông tố, và

đã đăng tải hết trên Hà Nội báo mà giới chức kiểm duyệt không kịp hiểu đó cũng

Trang 3

chỉ là chuyện về Thị Mịch, Nghị Hách… Về sau, khi nhà xuất bản Văn Thanh ấn

hành Giông tố, Vũ Trọng Phụng có in lời đề tặng Lê Tràng Kiều trên đầu sách rất

trân trọng(1)

Đầu năm 1936, khi cuộc tranh luận về thơ mới, thơ cũ trở nên sôi động, Lê Tràng

Kiều có bài viết khá quan trọng, Thơ mới, in trên Hà Nội báo số 14 Bài viết khẳng

định giá trị của phong trào Thơ mới và chúc mừng chiến thắng toàn vẹn của nó Ông viết: “Ba năm qua… Với thi ca, văn học ta đã bước một bước dài Một sự may mắn không ngờ! Chỉ trong vòng ba năm mà lần lượt đua nhau xuất hiện không biết bao nhiêu tác phẩm có giá trị mà trong cái dĩ vãng rất phẳng lặng mấy ngàn năm chỉ

lơ thơ một vài cái…” Và, ngay thời điểm đầu năm 1936 đó, Lê Tràng Kiều đã có tầm nhìn thật sâu rộng và khả năng tư duy rất chín chắn về thơ ca dân tộc, không sa

và sự thái quá có mới nới cũ: “Từ bây giờ, lịch sử chỉ còn ghi lại những áng thơ hay

mà thôi, chứ không chia ra mới, cũ nữa! ” Ngay sau dó, nhiều bài viết bảo vệ thơ

cũ đã đả kích lại Hà Nội báo và bài Thơ mới của Lê Tràng Kiều Trong đó, đáng kể nhất là bài viết bừng bừng nộ khí của ông Thái Phỉ, in trên báo Tin văn, nhằm đả kích Lê Tràng Kiều; và tờ Văn học tuần san ở Sài Gòn cũng đồng quan điểm với

Tin văn, công kích Lê Tràng Kiều và Thơ mới Cuộc bút chiến trở nên quyết liệt

hơn Lê Tràng Kiều lại công bố trên Hà Nội báo số 18 một bài Thơ mới nữa, với sự khẳng định: “Những bài thơ như Tiếng thu, Bao la sầu, Một chiều thu không phải là

di sản của một gia đình nào, của một phe phái nào, của một thời gian nào, nó đáng cho mọi người trong nước ngân nga, đáng dịch ra tiếng ngoại quốc cho người ta thấy rằng dân tộc ta không phải là không có người hiểu cái hay, cái đẹp ở đời…”

Trang 4

Thế rồi, quy mô hơn, sâu sắc hơn, Lê Tràng Kiều cho đăng một loạt bài tiếp theo

trên Hà Nội báo, lần lượt khẳng định giá trị Thơ mới và những tài năng của phong

trào Thơ mới; khẳng định tính sâu sắc, tính đa dạng, tính phổ quát, tính cội nguồn, tính cách tân đều có trong các nhà thơ mới; và khẳng định Thơ mới đã làm trẻ lại,

làm sung sức tâm hồn dân tộc Bài viết về thơ Thái Can đăng Hà Nội báo số 20 đã

chứng minh rằng, thơ Thái Can mới mà rất gần với thơ cổ điển phương Đông Ông viết: “Nếu trong các thi sĩ mới, có một thi sĩ gần với Nguyễn Khắc Hiếu, Chu Mạnh Trinh, Bà Huyện Thanh Quan hơn hết, thì là Thái Can” Đến bài về thơ Nguyễn

Nhược Pháp trên Hà Nội báo số 21, Lê Tràng Kiều nêu bật phẩm chất thơ mới

Nguyễn Nhược Pháp là sự bình dị, trong sáng, hồn nhiên Ông đánh giá rằng, nhà

thơ mới này đã dựng lại một thế giới: ngày xưa Ông thật sâu sắc khi nhận xét rằng,

văn thơ nước ta đã già đi với đạo Khổng, nhưng với thơ mới ngày nay, nó đã bắt

đầu trẻ lại Trên Hà Nội báo số 22, Lê Tràng Kiều viết về thơ mới có ngay trong thơ

Đông Hồ, khen Đông Hồ thoát xác từ một thi sĩ cũ trở thành một nhà thơ có khuynh hướng mới: “Đông Hồ ngày trước là một ông cụ non lụ khụ…Nay thì Đông Hồ, với cái tuổi sắp đứng, còn biết yêu như yêu lần đầu tiên, nồng nàn, tha thiết” Sang bài

viết về thơ mới Nguyễn Vỹ, đăng Hà Nội báo số 23, Lê Tràng Kiều nhận định nhà

thơ này quá mới, và cho rằng, thơ mới ngoài hàm chứa cái hay cổ điển còn phải vô cùng mới về hình thức biểu hiện Ông nhấn mạnh thành công của Nguyễn Vỹ qua

bài Sương rơi, rằng: “Đó là nhạc điệu thiên nhiên của những vật hữu hình và vô

hình trong vũ trụ lúc đêm khuya, những vật ấy nối tiếp nhau mà tan vỡ thành giọt…

Từng giọt/ Thánh thót/ Từng giọt/ Điêu tàn…” Và ông nhận xét về sự đóng góp của

Trang 5

Nguyễn Vỹ cho thơ ca Việt Nam: “Làm được một bài như Sương rơi cũng là nhiều lắm rồi” Bài viết về thơ Thế Lữ, Hà Nội báo số 24, Lê Tràng Kiều chứng minh thơ

mới Thế Lữ phần nào đã đạt tới cái hay cổ điển Ông thật tinh tế khi nhận xét rằng, Thế Lữ có “tâm hồn của một người tiên chưa hề có một quá khứ đau khổ ở trần

gian” Bài viết về thơ Vũ Đình Liên trên Hà Nội báo số 26, Lê Tràng Kiều nhận

định, thơ mới Vũ Đình Liên đã làm sống lại dĩ vãng, sống lại những gì vô cùng thân yêu trong quá khứ Ông còn lưu tâm đến một phẩm chất khá đặc biệt của thơ Vũ Đình Liên, khi nêu dư luận rằng, có người đã đánh giá: “Vũ Đình Liên là một nhà

thơ lao động, vì hơn nửa số tác phẩm của ông dành cho anh em lao khổ” Tới Hà

Nội báo số 30 Lê Tràng Kiều viết về Lưu Trọng Lư, “người đầu tiên gieo hạt thơ

mới vào đất Bắc” Ông so sánh Lưu Trọng Lư với Thế Lữ và Phạm Huy Thông, chỉ vài dòng mà thật đắc cách: “Thế Lữ và Huy Thông thường ngẩng đầu lên nhìn trời, nhìn núi sông to rộng mà ca những bài ca hùng tráng… Lưu Trọng Lư thì cúi đầu xuống bước từng bước sợ sệt ngại ngùng như bao giờ cũng lo đạp phải những cái linh thiêng của trời đất rải xuống” Ông khẳng định, phẩm chất tiêu biểu của thơ Lưu Trọng Lư là rất giàu nhạc điệu, và cũng là khẳng định phẩm chất đó trong Thơ mới Việt Nam Nay nhìn nhận lại hiện tượng Thơ mới, chúng tôi thấy, giai đoạn từ năm 1934 đến 1936, trên văn đàn diễn ra cuộc tranh luận có lúc rất quyết liệt giữa những nhà văn không tán thành thơ mới với những nhà văn cổ võ, khích lệ cho thơ mới phát triển Là bạn văn của Lê Tràng Kiều, Hoài Thanh cũng chỉ viết có một bài

Thơ mới, đăng trên Tiểu thuyết thứ bảy ngày 29-12-1934 Và trong bài viết này, có

đoạn viết: “Vậy bây giờ Thơ mới có quy tắc gì chưa? Hiển nhiên là chưa có Không

Trang 6

theo phép tắc khuôn khổ xưa thì người ta gọi là mới, hai chữ Thơ mới hiện nay chỉ

có thể định nghĩa một cách tiêu cực như vậy mà thôi…” Nhìn lại việc này, chúng tôi không có mục đích gì ngoài việc muốn lưu ý với bạn đọc về tầm nhìn sâu rộng,

tư duy lý luận sắc bén và phẩm chất tiên phong của nhà lý luận phê bình văn học Lê Tràng Kiều Với một loạt hơn mười bài viết, ông đã trình bày được tất cả sự đa dạng, phong phú muôn màu muôn vẻ của các nhà thơ mới, có sức thuyết phục rất lớn trong đời sống văn chương nước ta những năm đó Mãi đến năm 1942, các tác

giả Thi nhân Việt Nam mới có đánh giá sự thắng lợi trọn vẹn của Thơ mới Nhưng,

ngay từ năm 1936, với loạt bài viết của mình, Lê Tràng Kiều đã thực sự khiến độc giả thấy được sự ưu việt tuyệt đối của thơ mới! Có thể nói phong trào Thơ mới là một thành công rực rỡ của văn chương dân tộc, và trong cuộc phấn đấu để khẳng định nó, khích lệ nó phát triển mạnh mẽ, có một vị trí rất vinh dự giành cho nhà văn

Lê Tràng Kiều!

*

Những năm giữa và cuối thập kỷ ba mươi của thế kỷ XX, nhà văn Lê Tràng Kiều có những cống hiến thực sự cho văn học, đồng thời, ông cũng gặp những khó khăn rất đáng kể Thời gian này, trong đời sống văn chương, báo chí, một số người đã nêu

vấn đề về Truyện Kiều của Nguyễn Du, coi đó là sách dâm ô có thể làm bại hoại đến những thuần phong mỹ tục của bình dân Lê Tràng Kiều đã phải viết bài Nghệ thuật

để bênh vực Truyện Kiều, đăng trên Hà Nội báo số 2 năm 1936 Ông khẳng định

Truyện Kiều là tác phẩm có thể an ủi người bình dân “sau những giờ cần lao hay là

trong những giờ cần lao, họ ngâm lên những câu như Lơ thơ tơ liễu buông mành/

Trang 7

con oanh học hót trên cành mỉa mai, để họ hả hê lòng, để cho quên mệt nhọc…”

Tháng 5 năm 1936, tác phẩm Văn chương và hành động mà Lê Tràng Kiều đồng tác

giả với Hoài Thanh và Lưu Trọng Lư đã bị nhà đương cục thu tất cả đưa về nước Pháp và ra lệnh cấm lưu hành Lê Tràng Kiều bị chính quyền đương thời coi là kẻ

đứng đầu nhóm Văn chương và hành động, nên ông bị gọi ra toà Chúng tôi, khi đi

tìm hiểu về cuộc đời nhà văn Lê Tràng Kiều, có được gặp và nghe những người bạn của ông, như nhà viết kịch Bùi Nguyên Cát, người cùng ông lập ra Ban kịch Hà Nội; nhà văn Phạm Văn Kỳ, thư ký toà soạn báo TTTN; nhà văn Ngọc Giao, thư ký

toà soạn báo Tiểu thuyết thứ bảy kể cho biết việc đó Nhà viết kịch Bùi Nguyên Cát

còn nói: “Anh Kiều bị chính quyền thực dân coi là cầm đầu nhóm Văn chương và hành động, còn ta thì coi là chủ soái Nghệ thuật vị nghệ thuật, thực khổ!” Cho đến

năm 1999, nhà xuất bản Hội Nhà văn in lại cuốn Văn chương và hành động, thì Lời

bạt cho cuốn sách lại viết rằng, Hoài Thanh là tác giả chủ yếu Một lần đến thăm

nhà viết kịch Bùi Nguyên Cát, tôi nói việc đó, ông đã nói: “Sao họ cứ làm khổ anh

Lê Tràng Kiều mãi thế!” Câu chuyện với ông Bùi Nguyên Cát hôm đó chúng tôi mới hiểu ra, tên các tác giả Hoài Thanh, Lê Tràng Kiều, Lưu Trọng Lư trên bìa sách

là xếp theo vần A, B, C, không có ý nghĩa gì khác Trở lại với Lê Tràng Kiều năm

1936 Đúng là hoạ vô đơn chí, chưa qua khỏi tai ương về Văn chương và hành

động, thì đến Hà Nội báo cũng bị đình bản Dù vậy, ông và các bạn văn cùng chí

hướng vẫn kiên định và tâm huyết với văn chương Lê Tràng Kiều gây dựng một tờ

báo mới, là tuần báo Tiểu thuyết Thứ năm (TTTN) Ngay từ những số đầu, TTTN đã

đăng các tác phẩm của Đồ Phồn, Nguyễn Đình Lạp, Lưu Trọng Lư, Vũ Trọng Can,

Trang 8

Phạm Huy Thông… Rồi bắt đầu đăng tiểu thuyết Quý phái của Vũ Trọng Phụng Báo đăng những tác phẩm như truyện ngắn Nghỉ mát Chapa của Bùi Huy Phồn, mô

tả sự thối nát của quan chức đương thời; như phóng sự Gặp một ông nghị lôi thôi

của Vũ Trọng Phụng, nói về những tệ hại của các nghị viên… Do vậy, mới ra được

13 số thì TTTN lại bị đình bản! Lê Tràng Kiều và các bạn văn lại lao đao, vất vả Mãi đến tháng 10 năm 1938, tờ TTTN mới được xuất bản trở lại Để có thể ra báo,

Lê Tràng Kiều phải chấp nhận với chủ báo Lê Cường là, lương cho anh em trong toà soạn và nhuận bút cho tác giả thì toà báo phải lo lấy, còn tiền bán báo thì chủ báo thu Vừa làm chủ bút, vừa lo chạy quảng cáo để có tiền nuôi anh em trong toà báo, Lê Tràng Kiều vẫn viết nhiều Cả đời viết, ông còn ký nhiều bút danh khác nữa, như Lê Tùng, Phan Hữu, Trường Thiên… Riêng bút danh Lê Tràng Kiều và Nàng Lê ông dùng nhiều nhất trong thời kỳ làm báo TTTN Qua những số báo TTTN mà chúng tôi có trong tay, ông viết tới hơn hai mươi bài phê bình, tiểu luận văn học, tản văn, ngoài ra còn có các bài bình luận xã hội và cả tản văn dưới hình thức ký sự điều tra Đó là chưa kể một số truyện ngắn của Tình Thiên mà chúng tôi ngờ rằng đó là một bút danh khác của ông

Có thể thấy rõ, giai đoạn từ 1936 đến 1939, Lê Tràng Kiều viết được khá nhiều Năm 1936, nhà xuất bản Phương Đông đã giới thiệu sách sắp in, có thiên tiểu thuyết

Ngoài vườn trăng giãi do Lê Tràng Kiều và Lưu Trọng Lư là đồng tác giả Rất tiếc,

đến nay chúng tôi không có trong tay ấn bản hoặc bản thảo tiểu thuyết này Ông sống rất tận tâm với văn nghệ nước nhà Cũng thời kỳ này, ông đã cùng với Chu Ngọc, Vũ Trọng Can, Bùi Nguyên Cát lập ra Ban kịch Hà Nội, được khán giả

Trang 9

đương thời rất yêu chuộng Với một tài năng và tâm huyết như vậy thì không khó khăn nào có thể khiến ông ngừng hoạt động, ngừng cống hiến cho xã hội Và ngay sau khi báo TTTN ngừng bản cuối năm 1939, Lê Tràng Kiều vào Nam Và rồi ông

lại chủ trương một tờ báo khác tại Sài Gòn, là báo Lá lúa Những năm này đất nước

trải qua nhiều đau thương, biến động khôn lường, nghề văn chương báo chí thực vô cùng khó khăn Rồi Cách mạng tháng Tám Rồi toàn quốc kháng chiến chống xâm lược Pháp Ngay thời điểm cuối năm 1946, Lê Tràng Kiều lại tập hợp được một nhóm bạn cùng chí hướng gồm Thiết Can, Lý Hải Châu, Thê Húc Phạm Văn Hạnh,

Mai Văn Bộ, Vũ Tùng… Ông cùng các bạn xuất bản tờ báo Dân quyền với khẩu hiệu in ngay bên tên báo: Một dân tộc- Việt Nam; một lực lượng- đoàn kết; một

phương pháp- tranh đấu; một tinh thần- dân chủ; một mục đích- độc lập Báo Dân quyền theo đường hướng chống đế quốc, thực dân và chính thể bù nhìn, nên lại bị

cấm Nhưng, nhóm các ông lại ra tờ báo khác Lại bị cấm Rồi lại có tờ báo mới

thay thế Thực chất, toà soạn các báo Ngày nay, Việt báo, rồi Lẽ sống, và rồi Phụ

nữ… đều do nhóm Lê Tràng Kiều làm Vậy là, từ khi vào Nam, Lê Tràng Kiều hoạt

động chuyên sâu hơn trong lĩnh vực báo chí chính trị xã hội Cả đời ông đã viết thật

nhiều, nhưng có lẽ chỉ mới có một tác phẩm xuất bản thành sách, là cuốn Văn

chương và hành động mà ông đồng tác giả với Hoài Thanh và Lưu Trọng Lư Trong

tác phẩm này, ngay dưới tên sách, tác giả ghi: “Thay lời tuyên ngôn của văn phái

tính mỹ học cao Sau Lời nói đầu là tiểu luận ý nghĩa đời người Trong tiểu luận

này, nhà văn có luận về tín ngưỡng, rằng: “Phải tin ở cuộc sống, phải hăng hái sống,

Trang 10

phải làm thế nào cho đời ta và đời của mọi người chung quanh ta ngày một đầy đủ thêm, dồi dào thêm- đó là một tín ngưỡng căn bản…” Thế rồi, hầu như cuộc đời Lê Tràng Kiều đã được dẫn dắt bởi lý tưởng tin ở cuộc sống và hết mình vì cuộc sống

đó Ông đã hành động, luôn luôn hành động, viết văn, làm báo và viết báo, viết rất nhiều những bài vun đắp cho tinh thần chiến đấu của nhân dân vì độc lập, hạnh phúc, tự do và thống nhất… Suốt thời kỳ đấu tranh thống nhất đất nước, bà con

Nam bộ đã thân mật gọi Lê Tràng Kiều và các bạn ông là Nhóm ký giả kháng

chiến…

*

Sau năm 1975, đất nước hòa bình thống nhất Trong một buổi làm việc của đại diện Văn nghệ ngoài Bắc với đại diện Văn nghệ Giải phóng, tại trụ sở Hội Văn nghệ Giải phóng, Lê Tràng Kiều gặp lại Nguyễn Xuân Sanh mới từ Hà Nội vào Hai ông ôm riết lấy nhau hồi lâu Sau gần bốn mươi năm xa cách, trong câu chuyện hàn huyên,

Lê Tràng Kiều chỉ muốn nghe Nguyễn Xuân Sanh kể về những tiến triển của văn chương ngoài Bắc Ông nhớ quê hương trong nỗi nhớ văn chương thật sâu thẳm, thật diết da Đó là những giờ phút bừng dậy trong Lê Tràng Kiều một sức sống văn chương to lớn tiềm ẩn nơi đáy lòng mấy chục năm trường… Khi đi tìm hiểu về đời sống nhà văn Lê Tràng Kiều, chúng tôi gặp gỡ được một số bạn văn từng cùng ông làm báo, cùng ông hoạt động trong Ban kịch Hà Nội, từng chia sẻ buồn vui cùng ông; và, gặp cả nhà thơ lão thành Nguyễn Xuân Sanh, để hỏi chuyện Vậy nên chúng tôi mới biết được một số chuyện về cuộc sống của ông, một số công việc ông

đã làm, như chúng tôi viết ở trên Chúng tôi cũng được biết, nhà văn Lê Tràng Kiều

Ngày đăng: 13/05/2021, 03:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w