1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lịch sử Việt Nam - Lịch sử Nam Bộ kháng chiến (Tập 1: 1945-1954): Phần 2

489 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lịch sử Nam Bộ kháng chiến
Trường học Sở Nông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
Thể loại Phụ lục
Năm xuất bản 1945-1954
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 489
Dung lượng 8,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần 2 của Tài liệu Lịch sử Nam Bộ kháng chiến (Tập 1) là phần phụ lục của Tài liệu. Phụ lục này bao gồm các bài viết, bài nhạc, các bài diễn văn, các lời kêu gọi kháng chiến, …ra đời trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Mời các bạn cùng tham khảo, hy vọng Tài liệu sẽ cung cấp cho bạn đọc những dữ kiện, dữ liệu hữu ích để phục vụ học tập và nghiên cứu.

Trang 1

634

PHỤ LỤC

Trang 2

635

Trang 3

636 PHỤ LỤC 1

HẢI XÂM – HẢI THOÁI XƯA ẢNH HƯỞNG ĐẾN VÙNG

ĐỒNG BẰNG NAM BỘ

LIÊU KIM SANH1

Do ảnh hưởng của các hành tinh, mặt trời, mặt trăng và nhiều lực hút thiên văn phức tạp, hàng ngày nước biển vẫn dâng lên gọi

là nước lớn hay triều cao và hạ xuống gọi là nước ròng hay triều

thấp, chúng dường như đã thành quy luật tự ngày xưa

Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi, Buôn bán chẳng lời chèo chống mỏi mê

Mười bảy nước nhảy khỏi bờ

Nước ròng trong ngọn chảy ra,

Em toan lo liệu kẻo già hết duyên

Ở đây đáng nói là trong quá khứ đã nhiều lần mực biển dâng cao hơn bình thường khiến cho nước mặn tràn vào lục địa gọi

là hải xâm; và ở nhiều dịp khác thì mực biển xuống thấp gọi là hải thoái đến mức một biển khá to như biển Đông Việt Nam

bị thu nhỏ như một cái hố nước mặn

Diễn tiến ở quy mô thế giới và trong thời gian khá dài, các đợt hải xâm và hải thoái còn lưu lại nhiều di tích đặc biệt khắp các miền duyên hải, ở bất cứ nơi nào mà vách núi chạm

_

1 Sở Nông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 4

637

và nham chất có thể bị tác dụng hòa tan hay là ở hải đảo nào có

nhiều hang động để sò ốc và san hô phát triển rồi khi chết thì vỏ

và xương được bảo tồn Sự phân tích một số dữ kiện cơ bản về

mực nước biển sẽ giúp ích cho việc tìm hiểu và minh giải các

biến động liên quan đến vùng Óc Eo đồng bằng sông Cửu Long

Hình 1

Căn cứ vào các di tích hải thoái, hải xâm tìm được dọc

duyên hải và nhiều nơi trên lục địa Đông Dương được định

tuổi tuyệt đối C14, H Fontaine có đưa ra giả thuyết, ước tính

gần đúng, về những đợt dao động mực biển địa phương Việt

Nam (Hình 1) Theo H Fontaine thì kể sau đợt hải thoái cuối

canh tân (plêixtôxen) đầu toàn tân (hôlôxen) ứng với băng kỷ

Wiirm kéo dài cách nay 60.000 - 11.000 năm và liền theo thời

kỳ chuyển tiếp cách nay 11.000 - 10.250 năm thì xảy ra đợt

tan băng và nước biển bắt đầu dâng lên

Nếu lấy mực biển trung bình hiện nay làm mực chuẩn 0m,

thì hải thoái plêixtôxen - hôlôxen làm hạ thấp mực biển 100 -

Trang 5

638

120m

Sau đó mực nước dâng lên đến mực 0 m vào năm 4.850 trước Công nguyên, cách nay 6.800 năm1

Kế đó là 4 đợt nước dâng và 3 lượt nước hạ

1 Hải xâm hôlôxen I, ký hiệu H I từ 4.850 đến 1.650 năm

trước Công nguyên Thời gian 3.200 năm, với 3 giai đoạn đỉnh cao 4m (năm 3.900), 3m (2.950), 2m (2.350) và 2 giai đoạn tương đối hạ thấp vào các năm 3.500 và 2.850

2 Hải thoái hôlôxen 1, ký hiệu h1 từ 1.650 đến 1.150 năm

trước Công nguyên Thời gian 500 năm, với cực tiểu - 0,8m xảy ra vào năm 1.400 trước Công nguyên

3 Hải xâm hôlôxen II, ký hiệu H II từ 1.150 đến 850 năm trước

Công nguyên Thời gian 300 năm, với đỉnh cao nhất 0,3m xảy

ra vào năm 950 trước Công nguyên

4 Hải thoái hôlôxen 2, ký hiệu h2 từ 850 đến 200 năm trước

Công nguyên Thời gian 650 năm, với cực tiểu (dưới 0m, tức - 1m) xảy ra vào năm 550 trước Công nguyên

5 Hải xâm hôlôxen III, ký hiệu H III từ -200 đến 50 năm

sau Công nguyên Thời gian 250 năm, với mức cao nhất là 0,4m ghi nhận vào khoảng năm 50 trước Công nguyên

6 Hải thoái hôlôxen 3, ký hiệu h3 từ 50 đến 550 năm sau

Công nguyên Thời gian 500 năm, với đáy thấp nhất phỏng chừng

- 0,5m được biết là vào năm 200 sau Công nguyên

7 Hải xâm hôlôxen IV, ký hiệu H IV từ 350 đến 1.150 năm

sau Công nguyên Thời gian 800 năm, với điểm cao trung bình 0,8m ghi nhận vào năm 650 sau Công nguyên

8 Từ 1.150 đến 1.950, ký hiệu h4 mực biển dao động ± 1m,

_

1 Trong cách xác định tuổi tuyệt đối bằng phương pháp C14, năm chuẩn 0 được chọn là năm 1950 Ví dụ, một biến cố xảy ra cách nay 2.000 năm theo tuổi C14 thì ứng với năm 50 trước Công nguyên: 50 + 1950 = 2.000 năm; một sự kiện xảy ra vào năm 100 sau Công nguyên sẽ có tuổi tuyệt đối tính theo phương pháp C14 là: 1950 - 100 = 1.850 năm

Trang 6

639

xem như ổn định hơn các thời kỳ trước

Trang 7

640

Qua lược đồ của H Fontaine và xét đề tài về hải cảng Óc Eo đang nói ở đây, ta chú ý đến đợt hải xâm gần hiện tại nhất mà người viết đặt tên là hải xâm hôlôxen IV, ký hiệu H IV Sau khi hiệu chính hợp lý về tuổi định thời do phương pháp C14, các đặc tính về tầm cỡ và thời hạn của hải xâm này được phỏng chừng như sau:

- Thời hạn: 800 năm, từ năm 350 đến 1.150 với đỉnh cao vào năm 650 sau Công nguyên

- Mực biển cao nhất từ 0,5 đến 1m trong 30 năm, từ 635 đến 665 sau Công nguyên

- Giai đoạn lên từ năm 350 đến 650 sau Công nguyên

- Giai đoạn xuống từ năm 650 đến 1.150 sau Công nguyên

Những nơi còn giữ di tích các mực biển cổ tại Việt Nam

Các biến động về mực biển vừa kể trực tiếp liên quan đến sự hình thành vào thế kỷ I, cực thịnh vào thế kỷ II - IV để rồi tan biến vào cuối thế kỷ VII hải cảng Óc Eo và cả nền văn minh cùng tên ấy, mà cụ thể giai đoạn từ đợt hải thoái hôlôxen 3 đến kỳ hải xâm hôlôxen IV là có vai trò quyết định

Để cho luận cứ thêm phần vững chắc ta hãy lược duyệt xem các dao động quan trọng như vậy còn để lại di tích gì dọc duyên hải Việt Nam Về mặt này các khám phá thật phong phú, nhưng ở đây ta chú ý đến các mực biển và bậc thềm 2m - 1,5m và thấp hơn

- Tại Cầu Đá - Nha Trang Bậc thềm 2m được tìm thấy ở

Hải học viện Nha Trang, ở Hòn Tre là hải đảo lớn nhất trong vùng, ở Hòn Mùng và Hòn Miêu Bậc thềm 4m đã được khoan thăm dò xuyên suốt, từ cao độ 5,50m - 25,20m (sâu 30,70m) Cột địa tầng được E Saurin và Nguyễn Lan Tú khảo sát (1965) cho thấy sản vật tàng tích của nhiều đợt hải xâm và hải thoái Tuy rằng bậc thềm 4m tương đối xưa và chưa có định tuổi trực tiếp nhưng một cuộc khảo sát chi tiết hơn nữa có thể

Trang 8

641

phân tích các bậc thềm 2m và 4m thành những cao độ thấp hơn

như 1,75m, 1,50m, 1,25m từng được mô tả tại vùng Hà Tiên

Trang 9

642

- Tại Tô Bồng - Ninh Hòa Một bậc thềm duyên hải nằm ở

1,5m trên bờ biển hiện tại được H Fontaine tìm thấy ở Tô Bồng, cách Vạn Giã 15km về phía bắc - đông bắc Các trầm tích của bậc thềm này bị xâm thực rất nhiều và hạn chế trong diện tích phỏng chừng 40m2 bao gồm các loại đất sét vôi (marne) màu xám, chứa nhiều cát thạch anh lưu chuyển, được củng cố và nhào trộn bởi rất nhiều vỏ sò ốc Các loại sò ốc tìm thấy nhiều nhất là: Anomalocardia squamosa L, Batillaria zonalis Brug, Potamides Sp Các loại sau đây cũng được ghi nhận, nhưng vỏ của chúng đôi khi chỉ còn lưu lại dấu in mặt trong vì đã bị hòa tan: Terebralia sulcata, Circe gibba, Natica

Sp Thành phần này có đặc tính là chứa nhiều loài sò ốc của vũng cạn và cửa sông, chứng tỏ các điều kiện trầm tích tương

tự như hiện tại, tức là ứng với một đợt dâng nước quy mô nhỏ

và gần đây theo nghĩa định chất của hai từ này

- Vùng Ninh Thuận Tuy không được mô tả đầy đủ chi

tiết nhưng E Saurin cũng có nêu lên sự hiện hữu của bậc thềm 2m tại nhiều địa điểm như Vĩnh Hảo, Bình Thiện (núi Bình Nhơn), phía nam mũi Dinh Phần lớn cấu tạo bằng cát, sa thạch vôi và mảnh vụn san hô

- Vùng Hà Tiên và vịnh Thái Lan Tác dụng hóa học và

cơ học của mặt biển đã để lại bên ngoài các khối nham thạch nhiều hàng lỗ nhỏ ghi nhận được tại đảo Saracen (Carbonnel, 1964) Mực biển 2m cũng có đào một hốc duyên hải rất rõ ăn vào các nham chất với Pecmê tại Hòn Chông, Ba Hòn và Hòn Nghệ Đảo Gầm Ghì thuộc quần đảo An Thới được nối dài về phía tây bắc bởi một hệ thống mõm đá có vẻ như là những mảnh vụn của một thềm đá tạo nên bởi mực biển 2m Tại vùng Hà Tiên, các khối đá vôi tại Hòn Nghệ chứa nhiều hang

và chỗ lõm mài láng có lẽ do sóng biển tạo thành ở cao độ từ

4 đến 5m Ở chân núi Còm gần Kiên Lương nằm cách biển hiện tại 4,5 km, thời kỳ hải xâm Flandrian trung đã để lại nhiều

di tích dưới dạng các hốc đào trong đá vôi, chứng tỏ có 4

Trang 10

643

mực biển cố theo thứ tự từ trên xuống là 4,5 m - 4m, 3m,

1,75m và 1,25m Phát hiện này có ý nghĩa khá quan trọng

đối với việc giải thích các hồng thủy ngắn hạn theo nghĩa địa

chất có sau thời gian hải xâm Flandria Tại đảo Mây Rút

Ngoài, thuộc quần đảo An Thới, có nhiều hang ở độ cao 1,6 -

1,8m đào trong khối sa thạch thượng Một giải sò ốc cũ được

bảo tồn trong các hang của Hòn Chông và Hòn Nghệ ở cao

độ 2m bên trên các sò ốc còn sống hiện tại Nhiều khối san

hô chết thuộc mực biển 2m được tìm thấy tại bờ biển Hòn

Nghệ và Hòn Sao Mực biển 2m còn để lại các mảng cuội sỏi,

đá tảng đủ loại tại An Thới và Hòn Sao Quần đảo Thổ Châu

gồm có 8 hòn đảo với bậc thềm 2m đã phát hiện tại đảo

chính, chứa san hô, vỏ sò ốc, hỗn nham Bậc thềm này khá

lớn, bề ngang đến 300m tại Bãi Ngự Tại Hòn Cao cũng thấy

bậc thềm 2m như vậy Quần đảo Bà Lụa hay Bình Trị với 30

đảo và hòn, cách Hà Tiên 30km về phía đông nam Tại Hòn

Rễ Lớn có thềm san hô cao độ 1,5 - 2m Tại Hòn Đá Bạc

nhiều thềm đá hiện ra ở cao độ 1 - 2m trên mọc sò hến hiện

tại có thể được xem như kết quả của tác dụng xâm thực của

một mặt biển cổ Tại Hòn Đá Lửa có nhiều mực biển xếp

thành hệ thống, trong số đó mực biển 2m chứa nhiều vỏ sò ốc

còn dính trên vách đá ở các chỗ khúc khuỷu được tìm thấy tại

nhiều nơi, bên trên các bãi sò hiện tại Ngoài ra, trong các

khối nham chất vôi còn có hốc đá nằm ngang rất rõ, cũng ở

cao độ 2m1

Định tuổi các mực biển cổ

Tuổi của các bậc thềm từ 1,5 đến 2m có thể được xác

định bằng hai cách gián tiếp và trực tiếp Phương pháp gián

_

1 H Fontaine: Ghi chú về vịnh Thái Lan (chữ Pháp), Sài Gòn, 1968

H Fontaine: Ghi chú về các vùng Hà Tiên và Hòn Chông (chữ Pháp),

Sài Gòn, 1970

Trang 11

644

tiếp là cách định tuổi tương đối các bậc thềm bằng sự đối chiếu với các tài liệu khảo cổ của những nền văn minh tiền sử

- Tại Côn Sơn Nhiều di tích tiền sử như đồ đồng, quặng

sắt, đồ gốm và rìu đá mài đã được thu nhặt trên đỉnh một đồi cát

nhân khi đào huyệt chôn người mới chết Tiếc rằng sau đó chưa

có cuộc khảo cứu nào tiếp tục đào xới thêm

- Tại Quảng Ngãi: Khu mộ Sa Huỳnh cũng nằm trên một đồi

cát tạo thành dải duyên hải ngăn cách bờ biển với một vũng bên trong

Căn cứ vào các dụng cụ tìm thấy thì cả 2 địa điểm này đều thuộc thời đại đồ sắt và nằm sát bờ biển, mà vùng duyên hải liên

hệ có địa thế rất bất thường do các đổi thay mực biển Vậy nếu chúng bị mực biển 2m xâm lấn thì đã bị phá hủy Điều này chứng

tỏ 2 di tích Côn Sơn và Sa Huỳnh phải xuất hiện sau mực biển 2m

- Tại Quảng Bình Ở gần Đông Hải thuộc làng Tam Tòa có

di chỉ tiền sử Bàu Tró nằm ngay tại mực biển Khu này đã cung cấp một bộ dụng cụ bằng đá quan trọng gồm nhiều đồ gốm có tô

vẽ và nhiều món khác bằng xương được định tuổi là hậu kỳ của thời đồ đá mới Mặc dù chưa tìm được vật dụng kim khí, nhưng các đồ gốm khá văn minh có thể tượng trưng những năm khởi đầu của thời đại đồ đồng tức là một đại diện nghèo của nền văn hóa Sam Rong Sen (Campuchia)1

- Tại Minh Cầm, nằm ở hữu ngạn sông Rào Nậy, cách

Đông Hải 75km về phía tây bắc, cũng tìm được nhiều di tích của nền văn hóa đá mới gần giống như trên Các trầm tích bao quanh những vật tìm thấy chỉ còn được bảo tồn trên các vách hang động Sự xâm thực đã phá hủy nóc các hang cũ và chỉ để

_

1 E Patte: “Khai quật một cồn cỏ điệp thời kỳ đá mới ở Tam Tòa gần

Đồng Hới“ (chữ Pháp); trong Tập san: Trường Viễn Đông Bác cổ, t 23, 1923

Trang 12

645

lại các di tích sau khi đã ăn mòn ngót 4m bề dày Theo E

Patte sự xâm thực tương đương được nhận ra ở các hang động

tại Đông Dương cách Hải Phòng 12km về phía bắc Có thể sự

xâm thực này đã phát sinh như hậu quả của một sự hạ thấp mực

biển

- Tại Ninh Bình Di chỉ đồ đá mới Chợ Gành nằm cách bờ

biển hiện nay khoảng 20km, đã cung cấp một số lớn vỏ sò ốc

gốc biển là tàn vật nhà bếp Mặt khác các vách đứng bằng đá vôi

tại vùng gần đó cũng có nhiều hốc đào ở dưới chân chắc là

tác dụng xâm thực bởi sóng biển Các nhận xét này đã khiến cho

M Colani đưa ra giả thuyết là mặt biển, rất có thể là mực 4m

hoặc mực 2m hay là mực thấp hơn đã tràn đến Chợ Gành

trong thời đồng đá Tuy nhiên M Colani chẳng nói rõ là mực

biển nào Cánh đồng lầy ngập nước vùng Chợ Gành với cao độ

thường kém hơn 0,5m không gây trở ngại gì cho các đợt hải

xâm nói trên1

- Tại Quảng Yên Nếu ta đi ngược về bắc đến tận vùng

vịnh Hạ Long thì cần nêu lên sự phát hiện của E Saurin về

một bộ dụng cụ thuộc địa tầng Hòa Bình tại vùng Giáp Khẩu, ở

gần Hồng Gai, có tuổi đồng thời với những năm đầu của thời đại

đồ đá mới Sự phát kiến này khiến cho E Saurin kết luận rằng

các “kỹ nghệ tiền sử từ thời kỳ địa tầng Hòa Bình đến thời kỳ

cuối cùng của thời đại đồ đá mới đã có tuổi muộn hơn là mực

biển 2m” Nói như vậy là thêm tuổi cho mực biển 2m đặc biệt

già đi khá nhiều2

J.G.Anderson (1939) cũng khảo sát vùng vịnh Hạ Long và

cho rằng mực biển 2m đã hiện hữu tại đây trong thời kỳ của nền

_

1 M Colani: “Điều tra nghiên cứu về tiền sử học Đông Dương” (chữ

Pháp); trong Tập san: Trường Viễn Đông Bác cổ, t.30, 1930

2 E Saurin: Ghi chú về một số thành tạo cận đại ở Nam Việt Nam (chữ

Pháp), Sài Gòn, 1957

Trang 13

là 150 - 350 năm trước Công nguyên

Các di tích ở Quảng Bình cho thấy mực biển 2m có tuổi cổ hơn nữa, có thể hiện hữu trước thời đại đồ đồng một thời gian ngắn

Người ta có thể nghĩ rằng các dân cư vùng Tam Tòa đã di chuyển đến sống gần Bàu Tró vào một thời gian rất ngắn sau khi

có sự hạ thấp của mực biển 2m xuống mực biển 0 m hiện tại Mặt khác dân cư vùng Minh Cầm có thể đã cư trú trong các hang động

mà sự xâm thực đã khởi sự đào được vài rãnh hẹp

Một sự định tuổi bằng phương pháp C14 tại địa điểm ở vùng Hàng Gòn thuộc thời đại đồ đồng đã cho kết quả là 3.950 ±

250 năm cách nay, tức là 2.000 năm trước Công nguyên Con số này đã đẩy tuổi của bậc thềm 2m lùi lại gần với tuổi của bậc thềm 4m và cho thấy lịch sử của giai đoạn mực biển 2m thật là ngắn ngủi Tuy nhiên cần lưu ý rằng đây chỉ là con số đo được từ C14 với tất cả rủi ro và sai lầm thường vấp phải của phương pháp định tuổi này

Cacbon phóng xạ báo cáo trực tiếp tuổi tuyệt đối của các đợt hải xâm và hải thoái

Trong thời gian 1970-1972 một loạt định tuổi bằng phương pháp C14, với các mẫu vật lấy từ vùng lưu vực sông Đồng Nai và châu thổ sông Cửu Long đã mang lại nhiều kiến thức mới về thời biểu hôlôxen có liên quan đến các nền văn hóa tiền sử Đợt hải xâm do sự tan băng cuối Wiirm đã ghi dấu bằng hốc đá cao 4 - 5m tại Hà Tiên Nước mặn tràn vào vùng Óc Eo, Long Xuyên

Trang 14

647

Vài đảo vỏ sò được thành lập như tại gần Núi Chóc mà các mảnh

trên cùng được định tuổi là: 4.870 ± 120 năm, 5.570 ± 120 năm,

5.680 ± 120 năm cách nay Sau đó, mực biển hạ xuống 3m và

2m Một bãi sò cổ nằm ở 2m cách các sò hiện nay được định

tuổi là: 4.150 ± 140 năm cách nay Lượn cát tại châu thổ sông

Cửu Long cao 2m so với mặt đất hiện thời có tuổi là: 4.500 ± 110

năm cách nay Tích tụ tạp loại của mức triều cường nằm ở trên

và phía sau các tích tụ triều cường hiện nay: 4.500 ± 250 năm,

4.200 ± 110 năm cách nay

Mực biển tiếp tục xuống thấp và để lại nhiều lượn cát khác

Một trong số các lượn cát đó là Giồng Đá: 3.430 ± 110 năm

cách nay Vịnh Rạch Giá lúc đó to hơn bây giờ với những con sò

đã vùi trong đất: 2.500 ± 100 năm cách nay

Châu thổ sông Cửu Long từ từ hiện ra Một mẩu đất cổ

lấy ở độ sâu 0,9m tại vùng 10km phía Nam Tân An có chứa

hữu cơ của môi trường nước lợ (Coleman 1972), có niên đại

là 2.700 ± 200 năm cách nay Vậy tại Long An, châu thổ đã gần

hoàn chỉnh vào năm 750 trước Công nguyên

Người tiền sử ở Bến Đò, Long Bình chế tác nhiều dụng cụ

và đồ gốm, định tuổi là: 3.040 ± 140 năm, 3.000 ± 110 năm cách

nay

Di chỉ cổ nhất ở miền đất thấp tìm thấy ở Rạch Núi đã để lại

nhiều tàn vật nhà bếp nhờ C14, cho biết tuổi là: 2.400 ± 100

năm cách nay Có lẽ sau những năm này và nhân có đợt hải

thoái, người tiền sử lần dò xuống chiếm cứ tại châu thổ sông

Cửu Long để rồi lập nên những khu cư dân rộng lớn vào thế kỷ I

trước Công nguyên, cách hiện tại 2.050 - 2.150 năm theo lịch

C14

Ở đây cần lưu ý là bằng chứng của hải xâm H IV với một mực

biển cổ ở cao độ 1 - 1,5m chẳng phải là dễ phát hiện Nói

chung mực biển cổ cần có vách đá đặc biệt tương đối đúng, nhô

Trang 15

648

trần ra không bị cây cỏ che phủ, chẳng có nhiều đá tảng cuội sỏi

ở chân tích tụ lên đến chiều cao đó, để rồi qua năm rộng tháng dài các đợt sóng đánh dồn dập vào đấy mà đẽo gọt thành hang hốc, rãnh hoặc cho các nhuyễn thể và san hô có nơi tựa để bám gởi mảnh vỏ hoặc là đục lỗ đặc trưng Nếu là nơi có chênh mực nhiều giữa triều lên và triều xuống, như khi triều cường sóng gió đánh mạnh tung tóe nước vung cao thì di tích cổ càng khó tách biệt Mặt khác ngang bên trên mực biển 1 - 1,5m là mực biển 2m đã được duy trì khá lâu trong quá khứ đến 1.200 năm và đã

để lại nhiều di tích rõ nét mang các giải vỏ sò ốc cụ thể, khiến cho chỉ cần tạo hóa hơi vụng về một chút, xê xích tí xíu thì hai mực biển 1,5m và 2m lại trùng chập vào nhau Chẳng hạn như tại Kiên Lương và Hòn Chồng mực 1m rất gần với mực 2m Cả hai tạo ra hốc chung khá lớn, chỉ ngăn cách bên trong bởi một gò

đá nằm ngang Được như vậy là nhờ vùng Hà Tiên có các núi đá vôi thứ tốt giúp cho sự chạm khắc được tinh tế

Tại nhiều nơi khác có các di tích mực biển ở 1,25m, 1,50m, 1,75m thì các nhà nghiên cứu dễ tính liền xếp gộp vào nhóm bậc thềm 2m một cách gần đúng; chưa kể là các

Còn bàn đến yếu tố thời gian thì ngay khi định tuổi bằng C14 một cách chính xác, cũng vẫn đưa đến kết quả có sai số

Ví như, niên đại lượn cát ở đồng bằng sông Cửu Long cao 2m

là 4.500 ± 110 năm cách nay; Niên đại Giồng Đá (Kiên Giang)

là 3.430 ± 110 năm cách nay Khoảng sai số như vậy được

Trang 16

649

xem không đáng kể với khoa học địa chất, song trong đời sống

con người, một đợt ngập lụt kéo dài chỉ cần 1/10 sai số đó là

11 năm thôi cũng đủ xóa đi cả vùng dân cư nơi đồng ruộng

thấp như Tây Nam Bộ xưa Rõ ràng có những khó khăn nhất

định trong việc sử dụng các dữ kiện địa chất và niên đại C14

vào việc xác định ảnh hưởng của hải xâm đối với cuộc sống

của con người trong những thế kỷ gần đây Nhưng không phải

từ đó phủ định một đợt hải xâm mà chúng tôi gọi là đợt hải

xâm IV Có một bằng chứng khá quan trọng để soi sáng hiện

tượng tự nhiên nói trên Đó là di tích của một khối san hô dày

đến 1,20m lẫn vỏ sò ốc, bị che khuất dưới 0,4m đất và nằm ở

ngay mực triều cao tại Đông Hải, trong vùng Ninh Hòa, có

tuổi C14 là 900 ± 90 năm cách nay

1 Ở đây cần lưu ý các sự kiện về cao độ mực biển và tuổi của

màu san hô:

- Biên độ triều hay là cách biệt giữa triều cao và thấp tại địa

phương là trên 2m, và tộc đoàn san hô khi thành lập cần có một ít

nước biển bên trên để sống, do đó vào sinh thời của khối san hô nói

trên mực biển trung bình phải cao hơn mực hiện nay cỡ 1,5 - 2m

- Tuổi tìm thấy bên trên là của một mẫu chọn ngẫu

nhiên, chưa phải là phản ảnh sát số tuổi thật của cả khối và dĩ

tuổi này phải có nhiều đợt, nhiều thế hệ già hơn, tỷ như 1.000 -

1.100 năm chẳng hạn

- Phương pháp C14 cho ta biết tuổi của mẫu vật kể từ năm tộc

đoàn san hô hoặc sò ốc đã chết, chưa phải là lúc sinh vật mới hình

thành Đành rằng đời sống san hô và sò ốc mỗi thế hệ tương đối

ngắn, nhưng cũng nên dự trù sai biệt một số năm

- Lượng C14 tại các xứ nhiệt đới như Việt Nam có khá

nhiều trong nước mưa do CO2 hòa tan Khi rơi xuống mặt đất

nếu gặp loại mẫu vật chứa cacbonnat theo kiểu vỏ sò ốc và san

Trang 17

650

hô dễ nhiễm CO2 thì mẫu vật đó được tăng cường thêm một hàm lượng C14 ngoại lệ và sẽ làm giảm bớt số tuổi khi đưa vào máy phát hiện phóng xạ yếu Hiệu ứng này gọi là sự “trẻ trung hóa” hay sự giảm tuổi của mẫu vật cacbonnat có thể bỏ qua khi xét các niên đại chung chung nhưng cần lượng định k ỹ khi phân tích chi tiết chính xác thời điểm cụ thể của biến cố Hiệu chính 20% tỷ lệ giảm tuổi sau khi sò ốc đã chết thì tuổi của khối trầm tích biển Đông có thể già hơn như cỡ 1.200 - 1.300 năm cách nay Với sự hiệu chính hợp lý như vậy thì hải xâm biển Đông xảy ra đúng vào giữa thế kỷ VII cho đến đầu thế kỷ VIII sau Công nguyên Đợt hải xâm ấy góp phần chính làm tan biến hải cảng Óc Eo cuối thế kỷ VII và cả các di tích trong nền văn minh Óc Eo ở đồng bằng sông Cửu Long

Mặt khác, chúng ta cũng ghi nhận được hiện tượng tự nhiên tương đương như vậy ở bên kia bờ Thái Bình Dương Chẳng hạn như ở duyên hải Hoa Kỳ, R W Fairbridge có vẽ lược đồ

về các đợt hải thoái và bậc thềm cận đại với quan niệm chủ yếu

là kể từ sau đợt tan băng đầu hôlôxen làm dâng mực nước biển lên 4 - 5m thì mực biển trung bình hạ dần thông qua những dao động lên xuống theo kiểu rung với biên độ càng tiến gần thời hiện tại càng nhỏ lại Fairbridge đã đưa ra lược đồ như sau:

- Hải thoái, hay là sự nhô ra Paria được định tuổi là 1.250 năm cách nay (700 sau Công nguyên) Bậc thềm từ 0,5m đến

Trang 18

651

- Hải thoái hay sự nhô ra Crane Key được định tuổi là

3.300 năm, hạ thấp đến 2m Hải thoái hay sự nhô ra Pelham

Bay, được định tuổi là 2.400 - 2.800 năm cách nay, hạ thấp đến

3m dưới mực biển trung bình hiện nay Bậc thềm 3m (10 feet)

hay là bậc thềm Younger Peron, tuổi từ 3.400 đến 3.900 năm

cách nay

- Hải thoái hay sự nhô ra Bahama được định tuổi là 4.300

năm cách nay, hạ thấp mực biển đến 3m Bậc thềm từ 3m đến

4m (10 đến 15 feet) hay bậc thềm Older Peron, tuổi trong

khoảng 5.000 năm cách nay1

Ngoài ra, tuy chưa nắm hết dữ kiện, nhưng chỉ là cũng có thể

dự liệu rằng tại miền duyên hải và hải đảo khác từ Malaysia đến

Australia, từ Bornéo đến Đài Loan, đều có hệ bậc thềm dùng

làm chứng tích các đợt dâng lên và hạ xuống của mực nước Thái

Bình Dương như vậy Một ví dụ là tại Merizo, hải đảo Guam, J I

Tracey (1964) đã cho rằng các nham chất vôi nằm giữa Thái

Bình Dương này có tuổi là 3.400 ± 250 năm có kèm theo sự

xác nhận rằng chúng ở cao độ 2m (6,5 feet) cao hơn mặt biển

hiện tại2

_

1 R W Fairbridge: Định niên đại những chuyển động mới nhất của mực

nước biển kỷ đệ tứ (chữ Anh), New York, 1958

R W Fairbridge: Mực nước biển toàn cầu và những biến đổi của khí hậu

(chữ Anh), 1962

2 K Pitakpaivan và R Srilenawat: Những biến đổi của mực biển sau

thời thượng tân ở vịnh Thái Lan (chữ Anh), 1967

S Fujii et N Fuji: Mực nước biển hậu băng kỷ ở các đảo Nhật Bản (chữ

Anh), Osaka, 1967

Trang 19

652

Điều thật đáng thú vị là dù một duyên hải ở bên này và một khảo cứu ở bên kia Thái Bình Dương cách xa đến 1/3 vòng trái đất mà đã đưa đến hai thời biểu vừa chính xác vừa tương ứng

với nhau (xem Bảng 1) Sự tương ứng ấy đã góp phần xác nhận

hiện tượng hải xâm IV vào khoảng thế kỷ VI - VII là phổ biến chung Hải cảng Óc Eo phải chăng đã lụi tàn đi nhanh chóng, một phần do bởi đợt hải xâm nói trên?

Bảng 1: Tương đương về các đợt dâng lên và hạ xuống

của mực biển tại Việt Nam và bên Hoa Kỳ Cao độ so với mực biển trung bình hiện nay Tuổi tuyệt đối định bằng phương pháp C14

Lưu ý: Tuổi của các mẫu sò ốc, san hô và sinh vật sống vào thời

các hải xâm và hải thoái được định bằng phóng xạ yếu với sai số từ 100 đến 250 năm Nếu hiệu chính số năm thông qua các sai số thì hai thời biểu bên Việt Nam và bên Hoa

Kỳ hoàn toàn ăn khớp với nhau

Nguồn: Văn hóa Óc Eo và các văn hóa cổ ở Đồng bằng Cửu Long - Nhiều tác giả, Sở Văn hóa và Thông tin An Giang,

xuất bản, 1984

Trang 20

Hồ Chí Minh bắt đầu tham gia một số hoạt động của V iệt

Nam cách mạng đồng minh hội1

Tháng 11, khoảng giữa tháng (1943)

Theo yêu cầu của Trương Phát Khuê, Hồ Chí Minh nhận

chức Phó Chủ tịch Việt Nam cách mạng đồng minh hội (Chủ

tịch là Nguyễn Hải Thần)

_

1 Việt Nam cách mạng đồng minh hội là một tổ chức của người Việt

Nam ở Trung Quốc thuộc nhiều đảng phái, được sự hiệp trợ của Đệ tứ

chiến khu Tháng 7-1942, đã có một ủy ban trù bị gồm 28 đại biểu của các

đoàn thể, do Nguyễn Hải Thần làm Chủ nhiệm Đại hội thành lập, lúc đầu

định vào ngày 10-8-1942, sau hoãn đến ngày 1-10-1942 Quốc dân Đảng

Trung Quốc muốn nắm chặt tổ chức này, giao cho Chủ nhiệm Cục Chính trị

Lương Hoa Thịnh làm đại diện chỉ đạo Tháng 5-1943, Lương được điều

đi, Chủ nhiệm mới của Cục Chính trị là Hầu Chí Minh thay Đến tháng

12-1943, Tư lệnh Đệ tứ chiến khu Trương Phát Khuê kiêm chức đại diện,

Hầu Chí Minh làm phó đại diện Đại diện chỉ đạo có văn phòng giúp việc,

do Tiêu Văn - Trưởng phòng ngoại vụ của Đệ tứ chiến khu - phụ trách

Sau ngày thành lập, Đồng minh hội vẫn năm bè bảy mối, rời rạc, bê bối

Trương Phát Khuê quyết định cải tổ Đồng minh hội để Hồ Chí Minh tham

gia công tác lãnh đạo Trước khi chính thức cải tổ, Trương yêu cầu Hồ Chí

Minh hợp tác với Nguyễn Hải Thần với cương vị Phó Chủ tịch Việt Nam

cách mạng đồng minh hội

Trang 21

654

Tháng 11, ngày 23 (1943)

Hồ Chí Minh rời khỏi Cục Chính trị Đệ tứ chiến khu đến

ở trong nhà Tổng bộ Việt Nam cách mạng đồng minh hội1 đặt tại đường Ngư Phong trong thành phố Liễu Châu

Cuối năm (1943)

Hồ Chí Minh đến nói chuyện với lớp huấn luyện cán bộ đặc biệt của thanh niên Việt Nam do Đoàn huấn luyện cán bộ Đệ tứ chiến khu tổ chức tại Đại Kiều (Liễu Châu, Quảng Tây, Trung Quốc)

Nguồn: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí

Minh - Viện Hồ Chí Minh: Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử, Nxb Chính

trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t 2, tr 199-204

Tháng 2, khoảng cuối tháng (1944)

Hồ Chí Minh tham dự Hội nghị trù bị Đại hội đại biểu toàn quốc của Việt Nam cách mạng đồng minh hội Tại Hội nghị, Người đề nghị mở rộng thành phần Đại hội, trong đó có đại biểu của Việt Minh được Trương Phát Khuê tán thành và ủy thác cho Người khởi thảo kế hoạch triệu tập Đại hội quan trọng này1

Nguồn: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí

_

1 Không dám trái ý Trương Phát Khuê, Nguyễn Hải Thần cử Diệp Thụy Đình và Trung Tú Nghị là ủy viên quân sự đặc biệt của Việt Nam cách mạng đồng minh hội đến Cục Chính trị Đệ tứ chiến khu đón Hồ Chí Minh ra “công tác”

2 Tại Hội nghị trù bị Đại hội đại biểu toàn quốc của Việt Nam cách mạng đồng minh hội do Trương Phát Khuê triệu tập, Hồ Chí Minh nêu rõ: Thành phần Đại hội, ngoài Ban Chấp hành Việt Nam cách mạng đồng minh hội, đại biểu Quốc dân Đảng (Việt Nam) và Đảng Đại Việt ra, nên có đại biểu của Việt Minh và các tổ chức khác ở trong nước như Hội Phật giáo, Hội truyền bá chữ quốc ngữ, Hội Ánh sáng…

Nhưng khi thảo luận, một số người không đồng ý cho tổ chức thuộc Việt Minh cử đại biểu tham dự Về thời gian đại hội, Hội nghị trù bị cũng không nhất trí được

Trang 22

655

Minh - Viện Hồ Chí Minh: Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử, Hà Nội,

2006, t 2, tr 208-210

Trang 23

656

Tháng 8, ngày 9 (1944)

Hồ Chí Minh được tướng Trương Phát Khuê trả lại tự do

và cho phép trở về Việt Nam1 cùng với 18 thanh niên do Người chọn2

Trước khi rời Liễu Châu, Người nói với tướng Trương:

“Tôi là một người cộng sản, nhưng điều mà tôi quan tâm hiện nay là độc lập và tự do của nước Việt Nam, chứ không phải là

_

Hồ Chí Minh bàn với các thành viên Việt Minh nêu ý kiến đổi tên Đại hội đại biểu toàn quốc thành Đại hội đại biểu các đoàn thể cách mạng hải ngoại Ý kiến này được giao cho Lê Tùng Sơn báo cáo với Trương Phát Khuê Trương Phát Khuê đồng ý và ủy thác cho Hồ Chí Minh khởi thảo kế hoạch triệu tập Đại hội đại biểu các đoàn thể cách mạng hải ngoại thuộc Việt Nam cách mạng đồng minh hội

Kế hoạch được thảo rất nhanh, trong đó Hồ Chí Minh đề nghị thành phần đại hội gồm: các ủy viên chấp hành của Việt Nam cách mạng đồng minh hội, đại biểu “lớp huấn luyện đặc biệt” ở Đại Kiều, đại biểu người Việt trong biệt động quân Nam Ninh, đại biểu “Hội giải phóng” ở Vân Nam, đại biểu Việt Nam phục quốc quân, đại biểu đảng Đại Việt và đại biểu Phân hội Việt Nam Hiệp hội Quốc tế chống xâm lược, v.v Kế hoạch cũng đề ra cách bầu lại Ban Chấp hành Việt Nam cách mạng đồng minh hội và một số điểm

về việc quá độ từ Đại hội đại biểu hải ngoại đến Đại hội đại biểu toàn quốc Trong một buổi tiệc trà do Trương Phát Khuê mời các đại biểu Hội nghị trù bị tham dự, kế hoạch do Hồ Chí Minh thảo ra được Trương giới thiệu

và khẳng định trước mọi người Phái phản đối cũng đành phải nghe theo

1 Theo tướng Trương Phát Khuê trong báo cáo ngày 9-8-1944 (Việt Nam văn kiện hội biên) và trong cuộc tọa đàm với King C.Chen thì Hồ Chí Minh

được cấp một giấy phép đi đường, Giấy chứng minh thư do Tướng Trương

ký, một bản đồ quân sự, tài liệu tuyên truyền, thuốc phòng bệnh và 76.000 đồng quan kim để đi đường và làm kinh phí huấn luyện

2 Mười tám thanh niên đó là: Dương Văn Lộc, Vi Văn Tôn, Hoàng Quang Trao, Hoàng Kim Liên, Phạm Văn Minh, Hoàng Sĩ Vịnh, Nông Văn Mưu, Hoàng Gia Tiến, Trương Hữu Chi, Lê Nguyên, Hoàng Nhân, Nông Kim Thanh, Hoàng Thanh Thủy, Hà Hiền Minh, Lê Văn Tiến, Dương Văn Lễ, Đỗ Trọng Viễn, Đỗ Lạc

Trang 24

Người cám ơn sự giúp đỡ của tướng Tiêu Văn và nói:

“Những gì tôi đã nói với ông (về Việt Nam và phong trào cách

mạng Việt Nam) là sự thật 99% Chỉ có 1% tôi chưa nói với ông

mà thôi”2

Tháng 9, đầu tháng (1944)

Rời khu Hạ Đống, Hồ Chí Minh và những người cùng đi đến

Thủy Khẩu Quan, giáp biên giới Bị lính canh ải của Quốc

dân Đảng Trung Quốc khám xét và làm khó dễ, Người gọi điện

cho Phòng đốc sát quân cảnh Long Châu, nhờ Tăng Thiên

Tiết can thiệp và đã được phép đi qua

Nguồn: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí

Minh - Viện Hồ Chí Minh: Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử, Nxb Chính

trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t.2,

tr.217-220

_

1 Hồi ký của Trương Phát Khuê, Tuần báo Liên hợp tạp chí, Hồng

Kông, 1962

2 Liu San: “When President Ho Chi Minh was in South China”, Wen

hui pao (Văn hồi báo), Hồng Kông, 7-9-1953

Trang 25

658 PHỤ LỤC 3

NGHỊ QUYẾT CỦA BAN TRUNG ƯƠNG ĐẢNG NGÀY 6, 7, 8

(Trích)

III CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN ĐÔNG DƯƠNG

Trước kia trong khi đế quốc Pháp còn có thể đứng vào Mặt trận dân chủ thế giới chống phátxít xâm lược, chống chiến tranh

để duy trì hòa bình, chính sách cai trị ở chính quốc và thuộc địa

có đôi chút tính chất tiến bộ, dân chúng Đông Dương một mặt vì còn có thể lợi dụng những sự có thể công khai (possibilités légales) của tư sản dân chủ, lại nhờ Mặt trận bình dân Pháp là điều kiện thuận tiện để tranh đấu chống phản động thuộc địa đòi cải cách tiến bộ, đòi cơm áo, chống sự hăm dọa của phátxít Nhật

để giữ gìn hòa bình; một mặt vì tình thế quốc tế và trong xứ chưa đặc biệt căng thẳng, vận mệnh và tài sản của dân chúng Đông Dương chưa trực tiếp bị hăm dọa, chưa đẩy dân chúng lên đường tranh đấu quyết liệt với đế quốc Pháp, thì trong lúc nhất định ấy, hình thức tổ chức và tranh đấu thích hợp hơn hết và cần thiết hơn hết của dân chúng là lập Mặt trận dân chủ chống phản động thuộc địa và chống phátxít xâm lược

_

1 Thường được gọi là Nghị quyết Trung ương 6

Trang 26

659

Bây giờ tình thế đã đổi khác hẳn, đế quốc Pháp hiện giờ là

một tên thủ phạm đương phát động cuộc thế giới đế quốc chiến

tranh Chính sách cai trị của Chính phủ Đalađiê đã hoàn toàn

phản động (phátxít hóa) Sự thống trị các thuộc địa, nhất là Đông

Dương là một chế độ quân nhân phátxít rõ rệt và sự mưu mô đầu

hàng thỏa hiệp với phátxít Nhật đã đặt ra trước mắt vấn đề sống

còn của các dân tộc Đông Dương

Bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương không

còn có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc

Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm vô luận da trắng hay da vàng

để tranh lấy giải phóng độc lập Đế quốc Pháp còn, dân chúng

Đông Dương chết, đế quốc Pháp chết, dân chúng Đông Dương

còn Cuộc thế giới đế quốc chiến tranh sẽ làm cho đế quốc chủ

nghĩa thế giới ngày càng yếu dần, trái lại vì những sự đau đớn,

thê thảm do chiến tranh gây nên bắt dân chúng phải chịu, làm

cho họ càng bất bình, căm tức nên phong trào cách mạng thế

giới sẽ càng to rộng, mạnh mẽ, những lò lửa cách mạng thế giới

tất nhiên sẽ bùng cháy Sự bóc lột tàn ác của đế quốc Pháp ở

Đông Dương để cung cấp cho chiến tranh sẽ làm cho dân Đông

Dương ngày càng cách mạng hóa Cuộc cách mạng đánh đổ đế

quốc Pháp của các dân tộc Đông Dương nhất định sẽ nổ bùng

Căn cứ vào những sự biến đổi trên quốc tế và trong xứ và sự

biến chuyển mới của phong trào cách mệnh thế giới và Đông

Dương, Đảng ta phải thay đổi chính sách

Mặt trận dân chủ thích hợp với hoàn cảnh trước kia, ngày nay

không còn thích hợp nữa Ngày nay phải thành lập Mặt trận thống

nhất dân tộc phản đế Đông Dương (M.T.T.N.D.T.P.Đ.Đ.D.) để

tranh đấu chống đế quốc chiến tranh, đánh đổ đế quốc Pháp và

bọn phong kiến thối nát, giải phóng các dân tộc Đông Dương

làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập

Nội dung và đặc điểm của Mặt trận thống nhất dân tộc

phản đế Đông Dương (M.T.T.N.D.T.P.Đ.Đ.D.): là hình thức

Trang 27

660

cả các dân tộc Đông Dương dưới nền thống trị đế quốc Pháp, tất cả các giai cấp, các đảng phái, các phần tử phản đế muốn giải phóng cho dân tộc, để tranh đấu chống đế quốc chiến tranh, chống xâm lược phátxít, đánh đổ đế quốc Pháp, vua chúa bổn xứ và tất cả bọn tay sai của đế quốc đòi hòa bình, cơm áo,

thực hiện nền độc lập hoàn toàn cho các dân tộc Đông Dương với quyền dân tộc tự quyết Khác với Mặt trận dân chủ là sự

liên hiệp các giai cấp có ít nhiều tiến bộ, các đảng phái cách mệnh với các đảng phái cải lương để đòi cải cách tiến bộ, Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế là mặt trận cách mệnh là sự liên hiệp các dân tộc, các giai cấp, các đảng phái, các phần tử

có tính chất phản đế Nếu Mặt trận dân chủ chưa làm liệt bại các xu hướng cải lương đề huề thì Mặt trận T.N.D.T.P.Đ là một mặt trận kịch liệt chống với các đảng phái, các xu hướng cải lương đề huề, làm liệt bại chúng nó hoàn toàn trong phong trào giải phóng dân tộc Mặt trận dân chủ còn khác với Mặt trận phản đế là trong tiến trình phát triển cách mệnh, sự liên quan lực lượng trong Mặt trận phản đế sẽ mau biến chuyển và biến chuyển theo một hình thức đặc biệt khác với sự biến chuyển có thể có của Mặt trận dân chủ; nói một cách khác là giai cấp tư sản nằm trong Mặt trận dân chủ trong khi đi chung với dân chúng để thực hiện yêu sách dân chủ có thể ít và chậm quay lại phản bội quyền lợi dân tộc Trái lại, những tầng lớp tư sản có ít nhiều tính chất phản đế nằm trong Mặt trận phản đế trên bước đường cách mạng của dân chúng sẽ rất dễ và rất mau quay lại phản bội quyền lợi dân tộc, phá hoại phong trào giải phóng dân tộc

Mặt trận T.N.D.T.P.Đ.Đ.D với cách mạng tư sản dân quyền: Cuộc cách mạng giải phóng các dân tộc của Mặt trận

Trang 28

661

phản đế là một kiểu của cách mạng tư sản dân quyền Song

đứng trong tình thế khác ít nhiều với tình thế 1930-1931, chiến

lược cách mạng tư sản dân quyền bây giờ cũng phải thay đổi ít

thế mới Cách mệnh phản đế và điền địa là hai cái mấu chốt của

cách mệnh tư sản dân quyền Không giải quyết được cách mệnh

điền địa thì không giải quyết được cách mệnh phản đế Trái lại

không giải quyết được cách mệnh phản đế thì không giải quyết

được cách mệnh điền địa - cái nguyên tắc chính ấy không bao

giờ thay đổi được, nhưng nó phải ứng dụng một cách khôn

khéo thế nào để thực hiện được nhiệm vụ chính cốt của cách

mệnh là đánh đổ đế quốc Hiện nay tình hình có đổi mới Đế

quốc chiến tranh, khủng hoảng cùng với ách thống trị phátxít

thuộc địa đã đưa vấn đề dân tộc thành một vấn đề khẩn cấp rất

quan trọng Đám đông trung tiểu địa chủ và tư sản bổn xứ cũng

căm tức đế quốc Đứng trên lập trường giải phóng dân tộc, lấy

quyền lợi dân tộc làm tối cao, tất cả mọi vấn đề của cuộc cách

mệnh, cả vấn đề điền địa cũng phải nhằm vào cái mục đích ấy

mà giải quyết Vì vậy, trong khi chủ trương

M.T.T.N.D.T.P.Đ.Đ.D cách mệnh tư sản dân quyền trong lúc

này chỉ mới tịch ký ruộng đất của những địa chủ phản bội quyền

lợi dân tộc Một điều khác nữa là Mặt trận phản đế chưa đưa

khẩu hiệu lập Chính phủ “Xôviết công nông binh” là hình thức

chính phủ riêng của dân chúng lao động, mà đưa khẩu hiệu

“Chính phủ Liên bang cộng hòa dân chủ Đông Dương” là hình

thức chính phủ chung cho tất cả các tầng lớp dân chúng trong xứ

và trong phong trào giải phóng dân tộc, một bộ phận của giai cấp

tư sản còn có thể đi chung với dân chúng trong một giai đoạn

nào Song cuộc cách mệnh tư sản dân quyền trong giai đoạn lập

Mặt trận phản đế còn và phải biến chuyển theo những hình thức

Trang 29

662

mới và triệt để hơn, tùy theo tình thế thay đổi của Mặt trậnvà lực lượng tương đương trong hàng ngũ Đảng cộng sản luôn luôn coi chính quyền Xôviết là hình thức chính phủ rộng rãi, dân chủ hơn hết và triệt để của dân chúng Cách mệnh tư sản dân quyền còn và phải biến chuyển qua cách mạng vô sản Sự biến chuyển

ấy hoặc hòa bình không phải võ trang bạo động nữa, chứ không phải không đổ máu, hoặc bằng bạo động tùy theo lực lượng vô sản và sự liên minh của nó với nông dân trong xứ cùng sức ủng hộ của vô sản thế giới

Chiến lược của Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương: Mục đích của Mặt trận T.N.D.T.P.Đ.Đ.D là

đánh đổ đế quốc Pháp, vua chúa bổn xứ và tất cả bọn tay sai của đế quốc phản bội dân tộc

Lực lượng chính của cách mạng là công nông, dựa vào các tầng lớp trung sản thành thị, thôn quê và đồng minh trong chốc lát hoặc trung lập giai cấp tư bản bổn xứ, trung, tiểu địa chủ Mặt trận ấy phải dưới quyền chỉ huy của vô sản giai cấp Không nhận rõ sự cần thiết lãnh đạo của vô sản giai cấp trong cuộc cách mạng tư sản dân quyền, một giai cấp cách mạng triệt để hơn hết, có một Đảng mạnh nhất thế giới, một

bộ tham mưu đủ tài năng, đủ kinh nghiệm, đủ hy sinh là Quốc

tế cộng sản và chi nhánh của nó là Đảng Cộng sản Đông Dương thì không rõ vai trò lãnh đạo của vô sản Trong cuộc cách mệnh giải phóng dân tộc giai cấp vô sản cầm quyền lãnh đạo thì vấn đề điền địa mới giải quyết được một cách đúng đắn và thích hợp vì nó là một giai cấp tiên tiến nhất, cách mệnh triệt để, không có chút khí cụ sinh sản nào và không dính líu đến vấn đề đất ruộng, mà vấn đề điền địa có giải quyết được rành mạch, thỏa mãn và hợp thời thì cuộc cách mạng phản đế mới thắng lợi, cách mạng giải phóng dân tộc

Trang 30

663

mới thành công

Cuộc cách mạng điền địa không có giai cấp vô sản chỉ

huy không thể đi đến triệt để Công nông là hai cái lực lượng

chính của cách mệnh, sự đồng minh chặt chẽ của công nông là

vấn đề sống chết của cách mạng, không có sự đồng minh ấy

thì cách mạng không thể thắng lợi được

Công nông phải đưa cao cây cờ dân tộc lên, vì quyền lợi

sinh tồn của dân tộc mà sẵn sàng bắt tay với tiểu tư sản và

lớp tư sản bổn xứ, trung tiểu địa chủ còn có căm tức đế quốc,

vì sự căm tức ấy có thể làm cho họ có ít nhiều tinh thần chống

đế quốc Tuy nhiên bản chất của giai cấp tư sản trong thời đại

này luôn luôn sợ sệt phong trào dân chúng Trong lúc cao trào

cách mệnh, họ sẽ rời hàng ngũ phản đế, vì quyền lợi ích kỷ mà

bỏ con đường giải phóng dân tộc, con đường cách mệnh phản

đế và sẽ nghiêng về phe đế quốc Trong lúc ấy thì sự trung lập

giai cấp tư sản bổn xứ là một điều rất cần thiết cho cách mệnh

giải phóng dân tộc và cũng vì những lẽ ấy, muốn thực hiện

Mặt trận phản đế và bảo đảm sự thắng lợi của cách mệnh phản

đế, cần phải làm liệt bại xu hướng quốc gia cải lương Ngoài

những lực lượng chính và phụ ấy, cuộc cách mạng còn cần đến

những lực lượng dự trữ gián tiếp như vô sản Pháp, vô sản thế

giới, Liên Xô, dân chúng thuộc địa và bán thuộc địa

Trong cuộc tranh đấu với dân chúng Đông Dương, đế

quốc Pháp còn kéo các đế quốc khác hoặc gián tiếp hoặc trực tiếp

đồng minh với nó để dẹp phong trào cách mệnh thì sự liên lạc

đồng minh của các dân tộc Đông Dương với các lực lượng

cách mạng giải phóng chống đế quốc trên thế giới, với vô sản

giai cấp thế giới, với thành trì cách mệnh thế giới là Liên Xô

là một sự cần thiết không thể không có được, vì sự đồng tình

và ủng hộ cuộc cách mệnh thế giới có thể quyết định phong trào

Trang 31

thể một bộ phận nào thoát khỏi nền thống trị ấy mà chẳng liên quan đến cả toàn thể nền thống trị của đế quốc Pháp Sự liên hiệp các dân tộc Đông Dương không nhất thiết bắt buộc các dân tộc phải thành lập một quốc gia duy nhất vì các dân tộc như Việt Nam, Miên, Lào xưa nay vẫn có sự độc lập Mỗi dân tộc có quyền giải quyết vận mệnh theo ý muốn của mình, song sự tự quyết cũng không nhất định nghĩa là rời hẳn nhau ra 3) Lập Chính phủ Liên bang cộng hòa dân chủ Đông Dương (đã giải thích trên) 4) Đánh đuổi hải lục không quân của đế quốc Pháp

ra khỏi xứ, lập quốc dân cách mệnh quân (nói đánh đuổi ra khỏi

xứ mà không nói đánh đuổi trống không, vì nếu quân đội của

đế quốc đã bị đánh đuổi tan nát, song vẫn còn lẩn lút trong xứ thì sự âm mưu đánh lại cách mệnh vẫn còn Một ngày nào

mà có quân lính đế quốc ở trong xứ thì Đông Dương chưa phải là hoàn toàn độc lập, những quân lính ấy bất cứ người Pháp hay người bổn xứ) 5) Quốc hữu hóa những nhà băng, các cơ quan vận tải, giao thông, các binh xưởng, các sản vật trên rừng, dưới biển và dưới đất 6) Tịch ký và quốc hữu hóa tất cả các xí nghiệp của tư bản ngoại quốc và bọn đế quốc thực dân và tài sản của bọn phản bội dân tộc, nh à máy giao thợ thuyền quản lý 7) Tịch ký và quốc hữu hóa đất ruộng

Trang 32

665

của đế quốc thực dân, cố đạo và bọn phản bội dân tộc Lấy

đất bọn phản bội, bọn cố đạo, đất công điền, đất bỏ hoang

chia cho quân chúng nông dân cày cấy (Chính phủ chỉ lấy

đất của bọn địa chủ phản bội, của cố đạo, công điền, đất bỏ

hoang chia cho dân cày làm đủ ăn, nếu thiếu phải lấy thêm

đất tịch ký củ a bọn thực dân; nhưng khi chia đất cho dân

cày, chia cho bần nông và công nhân nông nghiệp ở thôn

quê trước, còn nữa sẽ chia cho trung nông cho họ đủ sống)

Những đồn điền tập trung sẽ lập thành đồn điền của Nhà

nước (như Sốpkhôsơ: Sovkhoze) 1 , công

nhân nông nghiệp ở đó sẽ làm việc ăn lương và hưởng quyền lợi

như thợ thuyền Dân cày có thể đủ sống rồi, còn bao nhiêu Chính

phủ phải để về Chính phủ kinh dinh theo lối đại sinh sản để dùng

vào sự lợi ích chung cho quốc gia, nếu ta hô một câu suông “Tất

cả ruộng đất tịch ký đều chia cho dân cày”, sau này nếu Chính

phủ để lại phần nào, bọn phản động sẽ vin vào đó làm cho dân

cày bất bình Chính phủ Đất chia dân cày, dân cày được hưởng

hoa lợi, nhưng quyền sở hữu vẫn là của Chính phủ, những người

được đất không được cầm bán và không ai được mua, sự chia

ruộng đất tùy theo tay làm và miệng ăn 8) Thi hành luật lao động

ngày 8 giờ, 7 giờ cho các hầm mỏ, luật xã hội bảo hiểm hoàn

toàn, tiền hưu trí cho thợ, tìm công ăn việc làm cho thợ thất

nghiệp, trợ cấp thất nghiệp, công việc ngang nhau đồng lương

ngang nhau, không phân biệt già trẻ, đàn ông, đàn bà 9) Bỏ

hết các thứ sưu thuế, đánh thuế lũy tiến hoa lợi 10) Thủ tiêu tất

cả các khế ước cho vay đặt nợ Lập nhà băng nông phố và bình

dân ngân hàng 11) Ban hành các quyền tự do dân chủ, cả quyền

nghiệp đoàn, bãi công, phổ thông đầu phiếu, những người công

dân từ 18 tuổi trở lên bất cứ đàn ông, đàn bà nòi giống nào đều

_

1 Sốpkhôsơ: Tiếng Nga có nghĩa là: Nông trường quốc doanh - B.T

Trang 33

666

được quyền bầu cử, ứng cử 12) Phổ thông giáo dục cưỡng bách 13) Nam nữ bình quyền về mọi phương diện xã hội, kinh tế và chính trị 14) Mở rộng các cuộc xã hội, y tế, cứu tế, thể thao, v.v

Nguồn: Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn

kiện Đảng Toàn tập, t.6, tr.535-543

Trang 34

667

PHỤ LỤC 4

NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG LẦN THỨ VIII ĐẢNG CỘNG

SẢN ĐÔNG DƯƠNG (5-1941)

(Trích)

III VẤN ĐỀ DÂN TỘC

Chính sách dân tộc của Pháp: Đối với các dân tộc Đông

Dương, Pháp dùng chính sách cai trị rất dã man Chúng nó

theo chính sách đế quốc chủ nghĩa mà nước Anh đã dùng để

cai trị là chính sách “chia để trị” Đối với nước Việt Nam một

dân tộc, một lịch sử, một văn hóa, một tình hình sinh hoạt như

nhau, thế mà chúng chia làm ba kỳ, dùng ba lối cai trị khác

nhau rồi gây mối thù hằn cừu thị ở các xứ đó Làm cho sự

đoàn kết giữa các dân tộc ngày càng khó khăn

Đối với các dân tộc khác như Cao Miên, Lào chúng nó

cũng làm cho xa cách hẳn dân Việt Nam, làm cho họ ác cảm

dân tộc Việt Nam, không có chút thiện cảm nào đối với nhau Ly

gián dân tộc để ngăn cản sự đoàn kết cách mạng của các dân

tộc là một mục đích Một mục đích nữa là đem dân tộc này bắn

giết dân tộc khác Trong các phong trào cách mạng Đông Dương

chúng nó thường đem dân tộc này chống dân tộc khác Đem lính

Nam qua Miên, Lào, đem lính Miên, Lào về Nam

Trang 35

668

Trong cuộc khởi nghĩa của nhân dân Nam Kỳ, đế quốc Pháp đem lính Cao Miên và Mọi bắn đồng bào ta ở Nam Kỳ Ngoài các dân tộc Miên, Lào ra lại có các dân tộc thiểu số, ở Bắc Kỳ có dân Thổ, Mèo, Mường, Mán, v.v Ở Trung Kỳ có Mường, Đê, Hời, v.v Ở Nam Kỳ có các dân tộc Mọi Như thế các dân tộc ấy phần lớn là trình độ sinh hoạt thấp, còn dại khờ nên dễ bị lừa gạt Trong mấy năm gần đây đã trở nên cái lợi khí của đế quốc lợi dụng đem chống lại đồng bào Việt Nam Muốn ly gián các dân tộc Đông Dương, đế quốc Pháp tìm cách ngăn trở sự giao thiệp, liên lạc giữa các dân tộc như không cho người Nam vào buôn bán trong Mọi, không cho dân tộc Mọi bận áo quần người Nam, không được cưới hỏi lấy nhau ở các đồn điền, chúng nó lại dùng nhân công Mọi chống lại nhân công người Nam Ở trong trại lính tụi quan binh tìm cách làm cho các dân tộc ác cảm nhau, gây ra cuộc đánh lộn nhau, rồi tìm cách ủng hộ dân tộc này chống dân tộc kia Ly gián dân tộc vẫn chưa đủ, chúng nó lại còn tìm cách làm mờ ám tinh thần dân tộc, xuyên tạc những trang lịch sử chiến đấu oanh liệt của các dân tộc, duy trì các phong tục mê tín, hủ lậu làm cho

họ ngu muội và có lúc làm tiêu diệt cả một dân tộc nữa Đứng trước chính sách dân tộc của Pháp, các dân tộc Đông Dương chỉ cần có một cuộc cách mạng mà đánh đổ cả những chính sách ấy mới làm cho các dân tộc Đông Dương tồn tại một cách hợp với tiến hóa, mới bước vào con đường văn minh chân chính được

Chính sách dân tộc của Đảng ta: Các dân tộc Đông Dương hiện nay bị dưới hai tầng áp bức bóc lột của giặc Pháp

- Nhật Ách áp bức ấy quá nặng nề, các dân tộc Đông Dương không thể nào chịu được Đế quốc Pháp - Nhật chẳng những

áp bức bóc lột cả các dân tộc không chừa một hạng nào Dẫu

là anh tư bản, anh địa chủ, một anh thợ hay một anh dân cày đều cảm thấy cái ách nặng nề của đế quốc là không thể nào

Trang 36

669

sống được Quyền lợi tất cả các giai cấp bị cướp giật, vận

mạng dân tộc nguy vong không lúc nào bằng

Trang 37

670

Pháp - Nhật ngày nay không phải chỉ là kẻ thù của công nông

mà là kẻ thù của cả dân tộc Đông Dương Trong lúc này khẩu hiệu của Đảng ta là trước hết phải làm sao giải phóng cho được các dân tộc Đông Dương ra khỏi ách của giặc Pháp - Nhật Muốn làm tròn nhiệm vụ ấy, trước hết tập trung cho được lực lượng cách mạng toàn cõi Đông Dương, không phân biệt thợ thuyền, dân cày, phú nông, địa chủ, tư bản, bản xứ, ai có lòng yêu nước thương nòi sẽ cùng nhau thống nhất mặt trận, thu góp toàn lực đem tất cả ra giành quyền độc lập, tự do cho dân tộc, đánh tan giặc Pháp - Nhật xâm chiếm nước ta Sự liên minh tất cả lực lượng của các giai cấp, đảng phái, các nhóm cách mạng cứu nước, các tôn giáo các dân tộc chống Pháp - Nhật, đó là công việc cốt yếu của Đảng ta Nói như thế không phải Đảng

ta thủ tiêu vấn đề giai cấp đấu tranh trong cuộc cách mạng Đông Dương Không! Vấn đề giai cấp đấu tranh vẫn tồn tại mãi mãi Nhưng trong giai đoạn hiện tại, quốc gia trước hết, thì tất thảy những yêu sách của bộ phận mà có hại đến quyền lợi của toàn thể, của giai cấp mà có hại đến quyền lợi của dân tộc, thì phải gác lại để giải quyết sau Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được Đó là nhiệm vụ của Đảng ta trong vấn đề dân tộc Một điều thứ hai nữa là đã nói đến vấn đề dân tộc tức là nói đến sự tự do độc lập của mỗi dân tộc tùy theo ý muốn của mỗi dân tộc Nói như thế nghĩa là sau lúc đánh đuổi Pháp - Nhật, ta phải thi hành đúng chính sách “dân tộc tự quyết” cho các dân tộc Đông Dương Các dân tộc sống trên cõi Đông Dương sẽ tùy

Trang 38

671

theo ý muốn, tổ chức thành liên bang cộng hòa dân chủ hay

tộc quốc gia tùy ý Một chính phủ cộng hòa mạnh hơn không

có quyền bắt các dân tộc nhỏ yếu tuân theo chính sách mình

và tham gia chính phủ mình và các dân tộc thiểu số cũng

không phải bắt buộc theo các dân tộc đa số và mạnh Văn hóa

của mỗi dân tộc sẽ được tự do phát triển tồn tại, tiếng mẹ đẻ

của các dân tộc sẽ được tự do phát triển tồn tại và được bảo

đảm Sự tự do độc lập của các dân tộc sẽ được thừa nhận và

coi trọng Nếu các dân tộc nhỏ muốn cùng dân tộc lớn thành

lập liên bang dân chủ to lớn, đó không phải là một sự bắt buộc

mà là một sự tùy ý muốn của nhân dân trong xứ

Riêng dân tộc Việt Nam, một dân tộc đông và mạnh hơn hết

ở Đông Dương, sau lúc đánh đuổi được Pháp - Nhật sẽ thành lập

một nước Việt Nam dân chủ mới theo tinh thần tân dân chủ

Chính quyền cách mạng của nước dân chủ mới ấy không phải

thuộc quyền riêng của một giai cấp nào mà là của chung cả toàn

thể dân tộc, chỉ trừ có bọn tay sai của đế quốc Pháp - Nhật và

những bọn phản quốc, những bọn thù, không được giữ chính

quyền, còn ai là người dân sống trên dải đất Việt Nam đều thảy

được một phần tham gia giữ chính quyền, phải có một phần

nhiệm vụ giữ lấy và bảo vệ chính quyền ấy Đối với các dân tộc

Miên, Lào và các dân tộc thiểu số ở Đông Dương, dân tộc

Việt Nam có nghĩa vụ phải dìu dắt giúp đỡ trong bước đường

tranh đấu tự do độc lập Nhưng muốn làm tròn hai nhiệm vụ

trên kia là giải phóng dân tộc và dân tộc tự quyết ta phải nhận

rằng:

1) Những dân tộc sống ở Đông Dương đều chịu dưới

ách thống trị của giặc Pháp - Nhật, cho nên muốn đánh

đuổi chúng nó không chỉ dân tộc này hay dân tộc kia mà

đủ, mà phải có một lực lượng thống nhất của tất thảy các

Trang 39

672

dân tộc Đông Dương họp lại

2) Cuộc cách mạng Đông Dương là một bộ phận cách mạng thế giới và giai đoạn hiện tại là một bộ phận dân chủ chống

phátxít Bởi vì Pháp - Nhật hiện nay là một bộ phận đế quốc xâm lược và là một bộ phận phátxít thế giới

3) Vận mạng của dân tộc Đông Dương lại chung với vận mạng nước Tàu cách mạng và Liên bang Xôviết Cuộc tranh đấu chống phátxít của Liên Xô và Tàu là cuộc tranh đấu chung vận mạng của các dân tộc Đông Dương Bởi vậy ở Đông Dương cuộc tranh đấu chống phátxít Nhật là cuộc tranh đấu một bộ phận của cuộc đấu tranh của Tàu và Liên Xô chống lại phátxít thế giới

Tóm lại, phải giữ một chính sách dân tộc như trên kia hợp với nguyện vọng của toàn thể nhân dân, hợp với nguyện vọng của các giai cấp, các dân tộc Đông Dương, hợp với cuộc tranh đấu chung của toàn thế giới chống phátxít và xâm lược, cuộc cách mạng Đông Dương mới thành công chắc chắn được

IV CHÍNH SÁCH MỚI CỦA ĐẢNG Tình hình thay đổi Pháp mất nước cho Đức, Đức gây chiến với Liên Xô, Nhật chiếm Đông Dương, đó là những biến

cố lớn đã xảy ra, một cuộc chiến tranh thế giới đã bước vào một giai đoạn mới, giai đoạn các nước đế quốc phátxít cùng với các nước dân chủ hoàn cầu xâu xé nhau dữ dội hơn Trong lúc

đó Liên Xô đã trở nên một đội quân tiền phong trong Mặt trận dân chủ, đã tập hợp tất cả lực lượng dân chủ toàn thế giới quanh mình để diệt trừ tụi phátxít

Tình hình Đông Dương cũng không kém thay đổi Đế quốc Nhật chiếm Đông Dương tròng thêm một cái ách nô lệ

Trang 40

673

cho dân Đông Dương Nhân dân Đông Dương nay không phải

chỉ làm nô lệ cho giặc Pháp mà còn làm trâu ngựa cho giặc

Nhật nữa Pháp đầu hàng Đức và Nhật gây ra chiến tranh Thái

Bình Dương, chúng càng tăng thêm sự áp bức bóc lột xứ Đông

Dương Trước tình thế đó nhân dân Đông Dương vô cùng khốn

đốn, không những các tầng lớp thợ thuyền, dân cày, quần

riết dưới hai tầng áp bức của Pháp - Nhật, mà ngay các tầng lớp

tiểu tư sản, phú nông, địa chủ, viên chức thảy đều bị phá sản và

khánh kiệt dưới sự bóc lột của Pháp - Nhật Do đó thái độ của

các giai cấp nhân dân thay đổi nhiều Sự thay đổi thái độ của

các giai cấp trong nhân dân làm cho lực lượng cách mạng và

phản cách mạng cũng thay đổi Thái độ của các giai cấp nhân

dân thay đổi như thế nào? Giai cấp vô sản và dân cày nghèo

nàn, khốn khổ nặng nề hơn lúc nào hết, đã hăng hái quyết liệt

hơn chống đế quốc Xem những cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ và

Bắc Sơn, giai cấp công nông đã có một tinh thần hy sinh và

quyết liệt hơn ngày trước Đến anh em binh lính trước kia họ là

một lợi khí cho quân đế quốc lợi dụng đàn áp cách mạng, ngày

nay căn cứ vào cuộc bạo động Nam Kỳ, vào cuộc khởi nghĩa

Đô Lương thì thấy rằng tinh thần cách mạng binh lính đã lên

cao, họ không ngần ngại trên bước đường cùng với thợ thuyền,

dân cày tranh đấu chống đế quốc xâm lược Giai cấp tiểu tư sản

đặc biệt là các hàng viên chức, tiểu chủ, tiểu nông vì nạn bóc

lột của đế quốc và sinh hoạt khốn đốn, đối với cách mạng tham

gia hăng hái một phần, một phần nữa lại tỏ cảm tình với cách

mạng một cách sốt sắng hơn trước

Giai cấp địa chủ - phú nông và một phần tư bản bản xứ

thay đổi thái độ nhiều hơn Trước kia đối với cách mạng hoặc

có thái độ ác cảm, tìm cách phá hoại, hoặc thờ ơ lãnh đạm

Thế mà ngày nay lại khác, chỉ trừ một số ít làm tay sai cho

Ngày đăng: 13/05/2021, 03:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. 30 năm lực lượng vũ trang Quân khu 7, 1945-1975, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 30 năm lực lượng vũ trang Quân khu 7, 1945-1975
Nhà XB: Nxb. Quân đội nhân dân
2. Bằng Giang: Sài Côn cố sự, Nxb. Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sài Côn cố sự
Nhà XB: Nxb. Văn học
3. Ban Khoa học Xã hội Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh: Bác Tôn và chúng ta, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1988 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bác Tôn và chúng ta
Nhà XB: Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh
4. Ban Liên lạc cựu chiến binh tình nguyện Việt Nam ở Campuchia: Quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia thời kỳ 1945-1954, Nxb. Mũi Cà Mau, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia thời kỳ 1945-1954
Nhà XB: Nxb. Mũi Cà Mau
5. Ban Tổng kết lịch sử quân sự Minh Hải: 30 năm chiến tranh giải phóng, Nxb. Mũi Cà Mau, Minh Hải, 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 30 năm chiến tranh giải phóng
Nhà XB: Nxb. Mũi Cà Mau
6. Bành Lang: Vào hang giết cọp, Nxb. Văn nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vào hang giết cọp
Nhà XB: Nxb. Văn nghệ
7. Bộ Chỉ huy quân sự Tiền Giang: Cuộc kháng chiến 30 năm quân dân Tiền Giang, Bộ Chỉ huy quân sự Tiền Giang xuất bản tháng 8-1988 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc kháng chiến 30 năm quân dân Tiền Giang
8. Bộ Tư lệnh Quân khu 9: Quân khu 9 - 30 năm kháng chiến 1945-1975, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quân khu 9 - 30 năm kháng chiến 1945-1975
Nhà XB: Nxb. Quân đội nhân dân
10. Châu Đạt Quan: Chân Lạp phong thổ ký, bản dịch Lê Hương, Nxb. Kỷ nguyên mới, Sài Gòn, 1973 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chân Lạp phong thổ ký
Nhà XB: Nxb. Kỷ nguyên mới
11. Cùng anh đi suốt cuộc đời (Hồi ký của bà Nguyễn An Ninh), Nxb. Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cùng anh đi suốt cuộc đời (
Nhà XB: Nxb. Trẻ
12. Dương Thiệu Tống: Suy nghĩ về giáo dục truyền thống và hiện đại, Nxb. Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy nghĩ về giáo dục truyền thống và hiện đại
Nhà XB: Nxb. Trẻ
13. Đào Duy Anh: Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất nước Việt Nam qua các đời
Nhà XB: Nxb. Thuận Hóa
14. Đinh Thu Xuân (Chủ biên): Lịch sử quân giới Nam Bộ 1945- 1954, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử quân giới Nam Bộ 1945-1954
Nhà XB: Nxb. Quân đội nhân dân
15. Đảng ủy Bộ Tư lệnh Quân khu 7: Lịch sử công tác Đảng, công tác chính trị lực lượng vũ trang Quân khu 7 (1945- 1954), t.1, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử công tác Đảng, công tác chính trị lực lượng vũ trang Quân khu 7 (1945-1954)
Nhà XB: Nxb. Quân đội nhân dân
16. Đoàn Thêm: Hai mươi năm qua 1945-1964, việc từng ngày, Nxb. Nam Chi, Sài Gòn, 1966 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hai mươi năm qua 1945-1964, việc từng ngày
Nhà XB: Nxb. Nam Chi
17. Giáo dục Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp, Nxb. Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp
Nhà XB: Nxb. Trẻ
18. Hồ Chí Minh Toàn tập, t.2, 3, 4, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh Toàn tập
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
19. Hà Huy Giáp: Đời tôi, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời tôi
Nhà XB: Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh
20. Huỳnh Văn Tiểng - Bùi Đức Tịnh: Hoàng Mai Lưu và các ca khúc, Nxb. Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Mai Lưu và các ca khúc
Nhà XB: Nxb. Trẻ
21. Hoàng Xuân Hãn: Một vài kí vãng về Hội nghị Đà Lạt, Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài kí vãng về Hội nghị Đà Lạt
Nhà XB: Nxb. Văn hóa

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w