1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Bàn về sự qui loại từ loại của động từ chỉ tâm lý trong tiếng Hán hiện đại

6 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 363,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một phương pháp giải thích điển hình và cũng có nhiều sức thuyết phục là đưa ra một số tiêu chí khu biệt động từ và tính từ, thậm chí kết hợp các tiêu chí lại, nhưng kết quả cho thấy không triệt để. Bài viết muốn đi từ góc độ lý luận phạm trù hóa của ngôn ngữ học tri nhận để giải thích vấn đề này.

Trang 1

BÀN VỀ SỰ QUI LOẠI TỪ LOẠI CỦA ĐỘNG TỪ CHỈ TÂM LÝ

TRONG TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI

Quách Thị Nga *

Khoa Ngoại ngữ - Đại học Thái Nguyên

TÓM TẮT

Từ chỉ tâm lý được giới ngôn ngữ học Hán ngữ qui loại là động từ Nhưng chúng ta đều biết từ chỉ tâm lý là từ lưỡng tính động – tính Phần đa từ chỉ tâm lý là tính từ, phần ít là động từ Số ít là động từ này không thể dùng như một tính từ nhưng số nhiều tính từ này lại có thể dùng như động

từ Chính vì vậy, từ chỉ tâm lý được thống nhất qui về động từ Sự chuyển đổi từ loại trong ngôn ngữ là hiện tượng phổ biến, đặc biệt là động từ chỉ tâm lý Đây là vấn đề gây nhiều tranh luận trong giới ngôn ngữ học Một phương pháp giải thích điển hình và cũng có nhiều sức thuyết phục

là đưa ra một số tiêu chí khu biệt động từ và tính từ, thậm chí kết hợp các tiêu chí lại , nhưng kết quả cho thấy không triệt để Bài viết muốn đi từ góc độ lý luận phạm trù hóa của ngôn ngữ học tri nhận để giải thích vấn đề này

Từ khóa: Hán ngữ, động từ chỉ tâm lý, từ loại, ngôn ngữ học tri nhận, phạm trù

Từ trước đến nay, từ loại là vấn đề được gi ới

ngôn ngữ chú trọng Ngữ pháp Hán ngữ hiện

đại cơ sở căn cứ vào hình thái của từ như

“化”、“得”để chỉ ra đặc điểm của động từ ,

căn cứ vào dạng thức trùng điệp của động từ

mà chỉ ra một số qui luật của tính từ

Học giả Liễu Định Văn cho rằng : Động từ chỉ

tâm lý mang tân ngữ không có giới hạn , có

thể mang tân ngữ là danh từ, động từ, tính từ

Ông chỉ ra : Động từ chỉ tâm lý có thể kết hợp

cùng phó từ chỉ trình độ

Giáo sư Lã Thúc T ương khi nói về mối quan

hệ giữa nghĩa của từ và từ loại đã nhấn mạnh

tầm quan trọng của nghĩa của từ với việc phân

loại từ tính của từ Đầu tiên , ông trích dẫn

SaHe, Matuofuyuanshi trong kết cấu câu

tiếng Nga đã nhấn mạ nh “Sự phân loại từ ,

ngoài nền tảng kết cấu học còn có một nền

tảng vững vàng hơn , đó là nền tảng ngữ nghĩa

học ” Ông phản đối dựa vào hình thức để đi

phân loại từ như ý kiến của ông Cao Minh

Khải: “núi” là núi , “cá ” là cá , “người” là

người, như vậy mỗi một từ tự nó không phản

ánh nó là danh từ , những từ này về mặt ngữ

nghĩa đều không có điểm tương đồng Nghĩa

của từ là một tiêu chuẩn quan trọng để tham

khảo, nếu kết quả của một kiểu phân loại nào

đó mà có chỗ nào đó mâu thuẫn với ngữ

nghĩa thì đảm bảo khó được đón nhận”

Như vậy , xuất phát từ góc độ ngữ nghĩa đi

khu biệt từ loại của động từ là cần và bắt

Tel: 01663836912, Email: Guoe12780@yahoo.com

buộc, mà đã đi từ góc độ ng ữ nghĩa thì tôi cho rằng không thể không có sự tham gia của ngôn ngữ học tri nhận

Đưa ra sự phân loại như vậy rốt cuộc có ý nghĩa gì đối với động từ chỉ tâm lý ? Không phải tất cả những động từ chỉ tâm lý đều được qui loại về động từ rồi hay sao ? Có điều trong thực tế chúng ta thấy có những động từ chỉ tâm lý mang tính tính từ rất rõ ràng , ví dụ từ

“高兴”(vui, vui vẻ ) có thể kết hợp với các phó từ “很”(rất)、“不”(không) và mang hình thức trùng điệp của một tính từ “高高兴兴” Như vậy tại sao lại qui nó vào từ loại động từ? Tôi muốn đi từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận để giải thích vấn đề này

Như trên đã nói vấn đề qui loại từ loại của Hán ngữ là một vấn đề quan trọng trong ngữ pháp Hán ngữ Đã có không ít tranh luận , những quan điểm và những tiêu chuẩn xác định khác nhau về vấn đề này Trong cuốn

“Mã Thị Văn Thông” có nói “chữ không có nghĩa nhất định , vì vậy cũng không qui loại nhất định cho nó được , muốn biết nó thuộc từ loại nào thì phải xem văn cảnh trước và sau nó” Học giả Lê Cẩm Hi lại cho rằng khu biệt từ loại cần căn cứ vào thành phần câu “Từ loại của từ trong ngôn ngữ t a tự nó khó có

cơ sở phân loại được ; bắt buộc phải xem vị trí và chức năng của nó trong câu mới có thể quyết định nó thuộc loại từ loại nào” Nhưng phương pháp này theo giáo sư Lã Thúc Tương cũng còn mặt tồn tại của n ó:

Trang 2

(1) Từ ngữ nghĩa của từ không thể xác định

được từ loại của nó Như vậy khiến cho

những người mới học sẽ gặp không ít khó

khăn; (2) Khi xa rời câu , từ không thuộc từ

loại nào cả ; (3) Nếu việc qui loại từ loại

hoàn t oàn phụ thuộc vào thành phần câu thì

thật không cần thiết để thiết lập ra hai thuật

ngữ (thành phần câu và từ loại ) làm gì , một

thuật ngữ cho nó đã là quá đủ

Học giả Phương Quang Thọ , Lục Chí Vi lại

đưa ra cách dựa và o quan hệ kết cấu của câu

để qui định từ loại Phương Quang Thọ từng

nói: “Từ loại không nhất định là phải đưa từ

vào trong câu mới nhận định được Từ liên hệ

qua lại giữa từ và từ , sự tổ hợp từ và từ cũng

có thể nhậ n định được rõ ràng tính chất của

từ Ví dụ : „一块墨,一块钟‟ (Một miếng

mực, một chiếc đồng hồ ), rõ ràng mực và sắt

đều có thể tổ hợp cùng „一块‟(cục, tấm,

miếng) nhưng rõ ràng không cùng một phạm

trù” Đến đây có thể thấ y rõ hơn , việc vận

dụng phạm trù để phân loại từ loại đã sớm có

người nghĩ đến , nhưng làm sao để vận dụng

cả lý luận này để giải thích những vấn đề cụ

thể thì đến nay vẫn còn là vấn đề Quan hệ

kết cấu của họ Phương tuy có ưu điểm của nó ,

khắc phục được những nhược điểm của việc

phân loại từ dựa vào thành phần câu , nhưng

“Nó vẫn không thể giải quyết nổi một vấn đề

cổ chí kim đó là : sự phân loại phân định tính

từ và nội động từ, nội động từ và ngoại động

từ ” (Lã Thúc Tương)

Lại có người đưa ra dùng phương pháp “Chữ

phân định” để phân loại từ loại , nhưng mỗi

một chữ phân định lại không có tính hoàn

chỉnh, như giáo sư Lã Thúc Tương từng nói

“Chữ phân định lý tưởng là phải có tính phổ

biến đối với từ loại mà nó phân định và không

có tính mở đối với các từ loại khác” , nhưng

thực tế thì chữ phân định vừa có tính phổ

biến với từ loại mà nó phân định lại vừa ít

nhiều có tính mở với các từ loại khác

Học giả Dụ Mẫn, Lục Tông Đạt đề nghị dùng

thức trùng điệp để phân định từ loại “Thức

trùng điệp là một phương pháp hay để phân

định động từ và tính từ tuy nhiên còn có hạn

chế như có loại từ dùng được , có loại lại

không dùng được”

Trước các tiêu chuẩn phân định như vậy , ngữ pháp tiếng Hán vấp phải không ít vấn

đề, “Nếu dùng một tiêu chuẩn để phân định từ loại , e rằng trên thực tế k hông làm nổi Đến ngay cả sự kết hợp các tiêu chuẩn lại thì quan điểm của mỗi người cũng khác nhau” (Lã Thúc Tương )

Học giả Văn Luyện, Hồ Phụ hai người đã người kết hợp một số tiêu chuẩn lại phán đoán động từ ((《谈词的分类.下》中国语文.1954(3))

Và giáo sư Lã Thúc Tương đã theo những sự kết hợp này để phân định động từ nhưng kết quả vẫn còn một loạt các động từ như : 知道 (biết)、取消(hủyabỏ)、象a(giống)、死(chết)

、活(sống)、糊涂(hồ đồ) v.v mà “không có một từ nào được điểm tuyệt đối , cũng không

có một từ nào không được điểm” , như vậy rốt cuộc chúng là tính từ hay động từ ?

Đối với những tồn tại như vậy và sự phân vân của giáo sư Lã Thúc Tương nên giải quyết như thế nào? Trường hợp từ không biết nên xếp vào từ loại nào chúng ta có thể tạm xếp chúng vào từ lưỡng tính động - tính Nhưng tại sao lại có hiện tượng ngôn ngữ này? Nguồn gốc của sự chuyển đổi từ loại này là gì

và vì sao có thể chuyển đổi được như vậy Đây là vấn đề từ trước đến nay khó có thể giải đáp được

Ngôn ngữ học tri nhận là một khoa học mới

ra đời, hiểu nôm na đó là môn khoa học giải thích trên căn cứ tư duy nhận thức của con người Tôi cho rằng có thể thông qua lý luận phạm trù của ngôn ngữ học nhận thức để giải đáp vấn đề trên

Lý luận phạm trù cho rằng giữa các phạm trù luôn tồn tại những ranh giới không rõ ràng, không thể chia ranh giới một cách mạch lạc Một phạm trù gồm nhiều thành viên, những thành viên này ít hay nhiều đều mang thuộc tính của phạm trù đó Những thành viên chính của phạm trù thường có nhiều thuộc tính của phạm trù, còn thành viên phụ thì có ít thuộc tính của phạm trù hơn, thậm chí chỉ có một thuộc tính trong rất nhiều thuộc tính của phạm trù Vì vậy thành viên phụ của phạm trù này nhiều khi cùng là thành viên phụ của phạm trù kia Từ hiện tượng chuyển đổi

từ loại của từ chỉ tâm lý, có thể lý giải rằng động từ tâm lý trong tiếng Hán là m ột phạm

Trang 3

trù trong đó những tiêu chí để khu biệt động

từ tâm lý với các từ loại khác của từ chỉ hoạt

động tâm lý là những thuộc tính của phạm trù

này Những thuộc tính của phạm trù động từ

tâm lý mà bài viết đưa ra gồm: Có thể dùng

làm vị ngữ của câu, có thể đặt sau danh từ,

khi làm định ngữ cho danh từ bắt buộc phải

mang„的, có thể đi với trợ từ động thái “了,

着, 过”, động từ chỉ xu hướng “起来, 下去”,

trợ từ kết cấu “得”, phó từ phủ định “不”,

hình thức trùng điệp của động từ Động từ chỉ tâm lý nào mang càng nhiều thuộc tính của phạm trù từ tâm lý thì nó là động từ chỉ tâm lý điển hình, ngược lại động từ tâm lý nào mang càng ít thuộc tính của phạm trù này

từ loại động từ của nó càng mờ nhạt Khi đó

nó vừa là thành viên của phạm trù động từ tâm lý, vừa có thể là thành viên của phạm trù tính từ chỉ tâm lý

Bảng 1 Các thuộc tính của phạm trù động từ chỉ tâm lý

Sự phân loại theo

ngữ nghĩa các động

từ chỉ tâm lý

Đảm nhiệm

điệp

Làm

vị ngữ

Khi làm định ngữ

cho danh từ

bắt buộc phải mang

‟的‟

Đặt sau

得/

Từ song

âm tiết

1.Chỉ cảm xúc

2.Chỉ tình cảm

VD:thích\ghét\yêu

.v.v

3.Chỉ cảm nhận

VD:cảm thấy

\hiểu được \nhận

biết\ lý giải v.v

+

4.Chỉ hoạt động

nhận thức

VD: quên, nhớ, hy

vọng, nghi ngờ

-

+

5.Chỉ truyền cảm

Ở bảng trên , trong 5 loại động từ chỉ tâm lý

thì loại nào mang nhiều nhất các thuộc tính

của phạm trù động từ chỉ tâm lý ? Có thể thấy

rằng rõ ràng không có bất kỳ loại nào mang

đầy đủ toàn bộ các thuộc tính của phạm trù

động từ chỉ tâm lý mà chỉ có thể là mang

nhiều nhất hay ít nhất các thuộc tính này mà

thôi Ví dụ, loại chỉ hoạt động nhận thức và chỉ truyền cảm mang nhiều thuộc tính của phạm trù này nhất , loại chỉ cảm xúc mang ít thuộc tính của phạm trù này nhất Nếu tính theo thứ tự thuộc tính của phạm trù từ nhiều đến ít, từ mạnh đến yếu , ta có thể xếp 5 loại động từ chỉ tâm lý theo thứ tự sau :

Loại chỉ nhận thức →Loại truyền cảm → Loại tình cảm →Loại cảm nhận → Loại cảm xúc

Mạnh Yếu

Ví dụ: Từ “高兴” (vui vẻ) thuộc loại cảm xúc

này có thể đảm nhiệm thành phần vị ngữ

trong câu Trong câu “他很高兴。” (Anh ta

rất vui.) , từ “高兴” (vui vẻ) rõ ràng có thuôc

tính “đảm nhiệm thành phần vị ngữ” của phạm trù động từ chỉ tâm lý Nhưng “高兴” (vui vẻ) khi dùng làm định ngữ tu sức cho danh từ , nó

có thể mang “的”, có thể không mang “ 的”, ví

Trang 4

dụ “ 高兴的姑娘”, “高兴姑娘” Ở chức năng

này, “高兴”rõ ràng mang thuộc tính của một

tính từ , vì vậy nó không có thuộc tính “ khi

làm định ngữ cho danh từ bắt buộc phải

mang„的”như ở động từ

Cũng như vậy , „高兴‟ (vui vẻ ) cũng có thể

theo sau bởi các trợ từ động thái , cũng có thể

dùng „ 得、不‟ (đến nỗi , không) để biểu đạt

bổ ngữ kết quả hoặc bổ ngữ trạng thái nào đó

Chúng ta cũng có thể kết hợp sử dụng „高兴‟

(vui vẻ ) và „ 起来‟ (lên) Ở chức năng này ,

„高兴‟ (vui vẻ ) rõ ràng mang những thuộc

tính của động từ Nhưng „高兴‟ (vui vẻ ) lại

không thể kết hợp sử dụng cùng „下去‟ (tiếp

tục) Chúng ta đều biết „着‟ và“下去” đều là

những tiêu chí của thể phi hoàn thành trong

Hán ngữ hiện đại , tại sao „高兴‟ (vui vẻ ) chỉ

có thể k ết hợp sử dụng cùng „着‟ mà không

thể kêt hợp sử dụng cùng „下去‟? Bởi vì „着‟

và „下去‟ có sự khác nhau về bản chất, „着‟ là

tiêu chí của thể phi hoàn thành tiếp diễnnó

đứng sau động từ để biểu đạt động tác hành

động đang tiếp diễn Còn „下去‟ lại là thì phi

hoàn thành tiếp diễn, nó đứng sau động từ để

biểu đạt hành động sau khi đã đạt đến một

điểm biến đổi nào đó rồi thì vẫn tiếp tục

Điều đó cho chúng ta thấy „高兴‟ không thể

kết hợp s ử dụng cùng „ 下去‟ bởi vì „ 高兴‟ là

động từ tĩnh hoặc nói cách khác là tính động

từ không rõ rệt Khi nó kết hợp cùng „着‟, nó

biểu thị sự tiếp diễn trạng thái tĩnh của sự vật,

“Trong quá trình sự vật tiếp diễn , chúng ta

đều không quan sát thấy sự biến đổi lúc nó

bắt đầu tiếp diễn , cũng không quan sát được

sự biến đổi của nó trong quá trình tiếp diễn ,

đương nhiên cũng không quan sát được sự

biến đổi của nó khi sự tiếp diễn này kết th úc,

sự vật luôn có một kết cấu thời gian đồng đều ,

bất kỳ một khoảng nào trong quá trình tiếp

diễn của sự vật đều giống với các khoảng

khác trong quá trình đó ”(《Nghiên cứu về

động từ tiếng Hán ) Cũng giống như vậy ,

chúng ta không thể quan sát được khoảng

giữa của „高兴‟, vì vậy cũng không thể nhìn

thấy được sự vật sau khi đạt đến điểm biến

đổi của nó là „高兴‟ thì vẫn tiếp tục trạng

thái này

Nếu vận dụng quan điểm „有界‟ (hữu giới –

có thể chia ranh giới ) và „无界‟(vô giới –

không thể chia ranh giới ) của Thẩm Gia Xuyên để giải thích thì ta có thể tìm thấy được cùng một kết quả “Trong sự cảm nhận

và nhận biết sự vật của con người có sự đối lập giữa „hữu giới‟ và „vô giới‟, trong sự cảm nhận và nhận biết hành động hành vi của con người cũng có sự đối lập giữa „hữu giới‟ và

„vô giới‟ Hành động không thể chia ranh giới

có cùng tính chất , hành động có thể chia ranh giới khác về tính chất Nếu phân cắt về mặt thời gian một cách bất kỳ trạng thái

“我想家”(Tôi nhớ nhà ),sau đó lấy ra một khoảng bất kỳ thì vẫn luôn là “ 我想家” (Tôi nhớ nhà ) Ngược lại động tác

“我跑到学校”(Tôi chạy đến trường ) chỉ có điểm kết thúc của động tác này mới được tính là “chạy tới trường” , còn những khoảng , thời điểm khác chỉ là đang chạy hoặc bắt đẩu chạy Điều này khiến cho hành động , động tác trong khi hình thành có sự đối lập giữa „có thể chia ranh giới‟ và „không thể chia ranh giới‟ , phản ánh rõ rệt nhất trong ngữ pháp là sự phân chia của „động từ tiếp diễn‟ và „động từ phi tiếp diễn‟

Có nghĩa là „động từ tiếp diễn‟ là „không thể chia ranh giới‟ , là đồng chất , là không thể phân cắt hoặc sau khi phân cắt thì mỗi đoạn được cắt ra đó đều có cùng một trạng thái Vì vậy, nó không có điểm bắt đầu ,điểm kết thúc, nói cách khác điểm bắt đầu , điểm kết thúc, khoảng giữa đều giống như nhau Ngược lại, „động từ phi tiếp diễn‟ là động từ

có thể chia ranh giới , dị chất , vì vậy nó có điểm bắt đầu , khoảng giữa và điểm kết thúc hoặc ít nhất có điểm kết thúc Nhà ngôn ngữ học G Leech(1981) từng chỉ ra ”tiếp diễn là một đặc tính của trạng thái tĩnh” Đây là nguyên nhân giải thích tại sao động từ tâm

lý chỉ cảm xúc không thể kết hợp cùng

„下去‟ (tiếp tục )

Đến đây hẳn có người thắc mắc „着‟ chẳng phải cũng là tiêu chí biểu thị một hành động

có quá trình tiếp diễn hay sao ? Có quá trình tất nhiên là phải có điểm bắt đầu , kết thúc, và quá trình Như vậy nó nên đi sau động từ để biểu thị sự trạng thái động ? Nếu nghĩ như vậy tức là chỉ nghĩ đến một mặt của „ 着‟ Trong luận văn phân tích ngữ nghĩa của „ 着‟ và „过‟

Trang 5

khi đứng sau động từ , Học giả người Trung

Quốc Hồ Dụ Thụ đã chỉ ra „ 着‟ thuộc loại trợ

từ biểu thị động tĩnh lưỡng tính Biểu thị

trạng thái động hay trạng thái tĩnh còn phụ

thuộc vào động từ mà nó theo sau Nếu động

từ mà ngữ nghĩa của nó biểu thị trạng thái

tĩnh thì động từ mang „ 着‟ này chỉ sự động

thái mang tính tiếp diễn

Như vậ y lại có người thắc mắc từ „高兴‟ có

thể kết hợp cùng „ 起来‟, có lúc có thể lại kết

hợp cùng „ 了‟ Như vậy khi đó „ 高兴‟ nên

được coi là một động từ có ngữ nghĩa biểu thị

trạng thái tĩnh hay trạng thái động ? Hãy thử

xem ví dụ sau:

他今天很高兴。(Hôm nay anh ấy rất vui) (1)

他高兴了三天。(Anh ấy đã vui 3 ngày rồi) (2)

Như trên đã nói , „高兴‟ vốn là một động từ

tâm lý biểu thị trạng thái tĩnh , vì nó không

phản ánh được sự biến đổi của động từ ,là

một động từ có kết cấu thời gian đồng chất

Ví dụ (1) chứng minh rất rõ điều này Nhưng

trong ví dụ (2), khi đặt „ 了‟ sau „高兴‟,

„高兴‟ lúc này không còn là một động từ tâm

lý biểu thị trạng thái tĩnh nữa , „了‟ xuất hiện

trong câu đã khi ến „ 高兴‟ đi vào điểm biến

đổi của trạng thái tĩnh , từ đó mà mang theo

trạng thái động , có quá trình từ biến đổi đến

kết thúc

Nói tóm lại , „高兴‟ không thể đi cùng „ 下去‟,

nói cách khác động từ tâm lý „ 高兴‟ không có

thuộc tính “có thể mang „ 下去‟ theo sau” Từ

bảng biểu trên có thể thấy , không chỉ động từ

tâm lý chỉ cảm xúc mà đa số những động từ

tâm lý của 4 loại còn lại đều không thể mang

„下去‟ theo sau Từ phân tích trên cho thấy

nguyên nhân của vấn đề này

Dạng trùng điệp của „ 高兴‟ cũng không phải

là dạng trùng điệp của động từ , vì „ 高兴‟

cũng không có thuộc tính này của phạm trù động từ chỉ tâm lý

KẾT LUẬN Từ chuyển đổi loại và sự đan xen của từ loại không phải là hiện tượng phức tạp khó hiểu của ngôn ngữ Nhìn nhận từ góc độ phạm trù , vấn đề này càng dễ hiểu hơn Từ loại cũng giống như các phạm trù khác đều không có một đường biên rõ ràng mà luôn ảnh hưởng qua lại lẫn nhau, liên hệ và bổ sung cho nhau Trong Hán ngữ trước thời Tần , hiện tượng từ chuyển đổi nhiều loại cũng rất phổ biến Như vậy có thể nói từ cổ chí kim , từ chuyển đổi loại là hiện tượng tự nhiên của ngôn ngữ , cũng như vậy , động từ chỉ tâm lý có tới 20% không phân biệt rõ được là tính từ hay động từ cũng là một hiện tượng tất yếu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

M).中国社会科学出版社.2001年10月第一次印

刷 (Cục nghiên cứu khoa học xã hội Trung Quốc Tuyển tập Lã Thúc Tương Nhà xuất bản khoa học xã hội In lần 1 tháng 10 năm 2001)

科学出版社.1998 (Trương Mẫn Cụm danh từ tiếng Hán và ngôn ngữ học tri nhận Nhà xuất bản khoa học xã hội.1998)

(Vương Dần Tìm hiểu ngôn ngữ học tri nhận Nxb Trùng Khánh Năm 2005)

[4]

沈家煊.“有界”和“无界”a(J).中国语文.1995年第 5期 (Thẩm Gia Xuyên “có chia ranh giới”và

“không chia ranh giới” Tạp chí Ngữ văn Trung Quốc Kỳ 5 năm 1995)

教育出版社.1987 (Phạm Hiểu, Đỗ Cao Ấn , Trần

Quang Lỗi Nghiên cứu động từ tiếng Hán Nxb

Giáo dục Thượng Hải 1987)

A DISCUSSION ON THE CLASSIFICATION OF PARTS OF SPEECH FOR WORDS DENOTING MENTAL THOUGHTS IN MODERN CHINESE

Quach Thi Nga

Trang 6

Foreign Languages Faculty- Thai Nguyen University

SUMMARY

Words denoting mental thoughts are classified as verbs However, it is widely known that they function as both verbs and adjectives Most of them are adjectives and only some of them are verbs The latter can not funtion as adjectives but the former can funtion as verbs It is therefore that all such words of mentality are regarded as verbs The conversion of parts of speech in languages in a popular phenomenon, especially verbs showing mental activities This is a debatable issue among linguists A quite conviceable and typical argument for this is basing on some distinctive features of verbs and adjectives, or even combining some of those features However, those explainations are still unsatisfactory This paper aims at explaining the issue from the categorization of cognitive linguistics

Keywords: Chineses, Words denoting mental thoughts, Part of speech, Cognitive linguistics,

Categorization

Ngày đăng: 13/05/2021, 03:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w