Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là căn cứ pháp lý để người sử dụng đất yên tâm và mạnh dạn hơn khi đầu tư cũng như sử dụng thửa đất của mình. Bên cạnh đó giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn là tài sản để người sử dụng thực hiện các giao dịch bất động sản. Mời các bạn cùng tìm hiểu.
Trang 1TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, tập 71, số 2, năm 2012
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT SAU LUẬT ĐẤT ĐAI TỪ 2004 ĐẾN 2010 TẠI HUYỆN HƯƠNG TRÀ,
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Nguyễn Văn Bình 1 , Hồ Kiệt 1 , Nguyễn Tài 2 1
Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế 2
Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế
Tóm tắt Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là căn cứ pháp lý để người sử dụng
đất yên tâm và mạnh dạn hơn khi đầu tư cũng như sử dụng thửa đất của mình Bên cạnh đó giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn là tài sản để người sử dụng thực hiện các giao dịch bất động sản như: chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho, cho thuê, cho thuê lại, cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn,… bằng quyền sử dụng đất
Công tác quản lý đất đai trên địa bàn huyện Hương Trà ngày càng đi vào nề nếp, việc sử dụng đất ngày càng ổn định hơn từ đó đảm bảo cho việc sử dụng đất đúng mục đích, đúng quy hoạch, kế hoạch và đúng pháp luật Công tác lập hồ sơ địa chính và đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện Hương Trà đã đạt được những kết quả khá cao, đến cuối năm 2010 đã cấp được 18.677 giấy trên tổng số 21.395 hộ sử dụng đất, đạt 87,30% so với số hộ sử dụng đất
Một số cấp uỷ, chính quyền địa phương ở các xã chưa quan tâm chỉ đạo sâu sát để
tổ chức thực hiện Luật đất đai 2003 và thực hiện công tác quản lý Nhà nước về đất đai Việc xác định thừa kế quyền sử dụng đất còn gặp phải khó khăn do người đăng
ký sử dụng đất đã chết mà không để lại di chúc nên phải lập thừa kế theo pháp luật Các xã miền núi được đầu tư đo đạc lập hồ sơ địa chính chậm, bản đồ địa chính và các loại bản đồ khác chỉ mới thành lập sau những năm gần đây cho nên việc triển khai cấp giấy cho người dân trong những năm qua gặp nhiều khó khăn;
1 Đặt vấn đề
Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là một trong những công cụ quản lý hữu hiệu, qua việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cung cấp số liệu để
cơ quan Nhà nước nắm bắt được tình hình sử dụng đất đai có hiệu quả hay không, việc
sử dụng đất có công bằng theo đúng chủ trương của Đảng và Nhà nước đã đề ra Ngày nay, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất càng quan trọng hơn vì đất đai ngày càng có giá trị cao trong thị trường bất động sản Việc cấp giấy giúp cho người sử dụng đất có tính pháp lý rõ ràng và sử dụng đúng mục đích theo quy định của Nhà nước Đặc
Trang 2biệt do tốc độ gia tăng dân số ngày càng cao, nhu cầu sử dụng đất ngày càng lớn, trong khi đó diện tích đất không thay đổi nên vấn đề quản lý và sử dụng đất một cách chặt chẽ, hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả là một bài toán cực kỳ khó khăn và phức tạp đối với các nhà quản lý
Dưới sự cạnh tranh của nền kinh tế thị trường, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được xem như là một tài sản có giá trị lớn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là căn cứ pháp lý để người sử dụng đất yên tâm và mạnh dạn hơn khi đầu tư cũng như sử dụng thửa đất của mình Bên cạnh đó giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn là tài sản
để người sử dụng thực hiện các giao dịch bất động sản như: chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho, cho thuê, cho thuê lại, cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn,… bằng quyền sử dụng đất
Từ những vấn đề trên cho thấy, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vừa là một công cụ rất quan trọng trong quản lý Nhà nước về đất đai, vừa là phương tiện để người
sử dụng đất thực hiện các quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 Do đó, tỉnh Thừa Thiên Huế nói chung và huyện Hương Trà nói riêng đang đẩy nhanh tiến độ công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Đây là công tác để hoàn thành việc lập hồ sơ địa chính và thiết lập mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước và người sử dụng đất
2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
- Thực trạng của công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện Hương Trà;
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp điều tra, thu thập tài liệu, số liệu: Là phương pháp nghiên
cứu được áp dụng phổ biến trong nhiều lĩnh vực khác nhau Đối với đề tài này việc thu thập tài liệu, số liệu tại các cơ quan chuyên môn
2.2.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp xử lý các tài liệu, số liệu điều tra: Trên
cơ sở các thông tin về tài liệu, số liệu thu thập được tiến hành lựa chọn, sàng lọc các thông tin đó để sắp xếp đúng theo các chuyên đề cụ thể, chọn lọc các thông tin theo từng thời kỳ
2.2.3 Phương pháp minh họa bằng bảng biểu: Dựa vào các thông tin về tài liệu,
số liệu thu thập để sắp xếp, bố trí trong các bảng biểu theo đúng chủ đề, chuyên đề và thời kỳ theo mẫu bảng biểu được quy định cụ thể của ngành
3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1 Đặc điểm khu vực nghiên cứu
Trang 3Huyện Hương Trà được giới hạn bởi tọa độ địa lý từ 107036’30” đến 107004’45” kinh độ Đông và từ 16016’30” đến 16036’30” vĩ độ Bắc
Địa giới hành chính của huyện Hương Trà được xác định: Phía Đông giáp với biển Đông, Phía Tây giáp với huyện A Lưới và Hương Thủy, Phía Nam giáp với huyện Phú Vang và thành phố Huế, Phía Bắc giáp với huyện Phong Điền và Quảng Điền
Huyện có 15 xã và 1 thị trấn, có đường quốc lộ 1 chạy ngang qua dài 17 km, có đường tránh thành phố Huế dài 22 km và tuyến đường sắt Bắc Nam chạy song song với quốc lộ 1A, có ga Văn Xá thuận lợi cho việc lưu thông hàng hóa
3.2 Tình hình tổ chức cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện Hương Trà từ sau Luật Đất đai 2003 có hiệu lực thi hành
3.2.1 Tổ chức thực hiện
Từ khi Luật Đất đai 2003 có hiệu lực, do đặc thù, tính chất của ngành quản lý đất đai hết sức phức tạp do đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ ngành địa chính cần được chú trọng đào tạo từ cấp xã, thị trấn đến cấp huyện Trong những năm qua, đội ngũ cán bộ của các xã, thị trấn cũng như phòng Tài nguyên và Môi trường của huyện đã được đào tạo chính quy, đào tạo theo hệ vừa làm vừa học để đáp ứng nhu cầu cấp bách ở mỗi địa phương
Bảng 1 Thực trạng đội ngũ cán bộ địa chính xã, thị trấn năm 2010
Đánh giá đến 31/12/2010
1 Thị trấn Tứ Hạ Đại học QLĐ
2 Xã Hương Văn Tại chức QLĐ
3 Xã Hương Xuân Đại học kinh tế NN
10 Xã Hương Phong Tại chức QLĐ
Trang 412 Xã Hương Thọ Đại học Kinh tế
13 Xã Bình Điền Trung cấp Địa chính Đại học QLĐ
14 Xã Hương Bình Sơ cấp Địa chính Đại học QLĐ
15 Xã Bình Thành Đại học kinh tế NN
(QLĐ: Quản lý đất đai, NN: nông nghiệp, TNMT: Tài nguyên môi trường)
Qua bảng thực trạng về đội ngũ cán bộ địa chính cấp xã, thị trấn hiện có ở huyện Hương Trà, số lượng đã được đào tạo chỉ đạt 62,5% với mức trình độ từ sơ cấp địa chính cho đến đại học quản lý đất đai Tuy nhiên bên cạnh đó cũng có một số cán bộ tốt nghiệp đại học khác ngành như ngành kinh tế Đa số cán bộ địa chính xã, thị trấn là những cán bộ công tác lâu năm
3.2.2 Tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện Hương Trà từ sau Luật Đất đai 2003 có hiệu lực đến nay
Huyện Hương Trà có 15 xã và 1 Thị trấn với tổng diện tích tự nhiên 51.853,4 ha, trong đó đất đã đưa vào sử dụng là 51.109,01 ha chiếm 98,56% so với tổng diện tích tự nhiên
Trong những năm qua thực hiện theo các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước và của ngành về các nội dung quản lý Nhà nước về đất đai, đến nay huyện Hương Trà đã hoàn thành cơ bản cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Đến năm
2003 Luật Đất đai ra đời và có hiệu lực thi hành Huyện đã nhanh chóng tiến hành tổ chức phổ biến, tuyên truyền pháp luật đất đai cho toàn thể nhân dân trên địa bàn Một trong những nội dung đó là việc hướng dẫn đăng ký đất đai, kê khai lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất diễn ra nhanh hơn
so với các năm trước Luật Đất đai 2003
3.2.2.1 Tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở:
Theo số liệu báo cáo tình hình quản lý và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của phòng Tài nguyên và Môi trường huyện đến tháng 12/2010 đã đạt được kết quả sau:
Tổ chức đăng ký thống kê về số lượng người sử dụng đất, hướng dẫn kê khai và lập hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở trên địa bàn huyện với tổng số
hộ sử dụng đất là 21.395 hộ, tổng số hộ lập hồ sơ và đã xét duyệt đủ điều kiện cấp giấy
là 19.826 hộ, đã tiến hành cấp lũy kế đến 31/12/2010 là 18.677 giấy, đạt 87,30% so với
số hộ sử dụng đất Trong đó: cấp giấy trước 15/10/1993 đến 01/7/2004 là 5.913 giấy, đạt
tỷ lệ 27,64%; cấp từ 01/7/2004 đến 31/12/2010 là 12.764 giấy, đạt 59,66% so với số hộ
sử dụng đất Qua đó ta thấy kết quả cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn
Trang 5huyện đạt tỷ lệ khá cao
Kết quả được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2 Tổng hợp kết quả cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở đến năm 2010
(xã, thị trấn)
Số hộ sử dụng đất
Số hộ được cấp giấy chứng nhận
Số hộ chưa cấp giấy chứng nhận
Tỷ lệ số hộ được cấp giấy (%)
( Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường Hương Trà)
Qua bảng trên cho thấy, kết quả cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở các xã đồng bằng chiếm tỷ lệ khá cao như Hương Vân (93,45%), Hương Toàn (92,77%), Hương Chữ (95,41%), Hương An (97,92%), Hương Phong (99,23%), Hải Dương (90,8%) Các xã miền núi do tính chất địa hình phức tạp, số hộ sử dụng đất ít và thưa nên công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đạt tỷ lệ chưa cao như Hương Thọ (65,03%), Bình Thành (67,02%), Bình Điền (67,63%) và Hồng Tiến (70,0%) Đặc biệt
xã Hương Bình (99,8%) là xã miền núi nhưng công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được Đảng uỷ, HĐND và UBND xã quan tâm đôn đốc nên kết quả cấp giấy rất
Trang 6cao
Bảng 3 Phân tích tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở đến 31/12/2010
Số hộ được cấp giấy CNQSDĐ
Trong đó
TT
Đơn vị
( xã, thị trấn)
Luỹ kế đến 31/12/2010
Năm
2004
Năm
2005
Năm
2006
Năm
2007
Năm
2008
Năm2
009
Năm
2010
Tổng cộng 18.677 1.921 4.907 1.493 1.558 1.238 778 869
(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường Hương Trà)
Qua bảng số liệu kết quả cấp giấy cho thấy từ năm 2004 đến 2007, tiến độ cấp giấy khá nhanh, đặc biệt năm 2005 số lượng cấp giấy chứng nhận lớn nhất Từ năm
2008 đến 2010, thì tiến độ cấp giấy bình quân của cả huyện bị chững lại Một số xã đạt được số lượng cấp giấy khá lớn như Bình Điền 321giấy (2008), Hương Thọ 229 giấy (2008), Hương Văn 117 giấy (2009) và 110 giấy (2010) Bên cạnh đó cũng có một số xã chỉ cấp được số lượng giấy rất ít như Hồng Tiến 9 giấy (3 năm), Hải Dương 1 giấy (2008), Hương Phong 2 giấy (2009),…
Nhìn chung, tiến độ công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa
Trang 7bàn huyện Hương Trà sau Luật Đất đai 2003 có hiệu lực thi hành diễn ra khá nhanh, có
sự chuyển biến tích cực cả về số lượng và chất lượng Đạt được kết quả đó là nhờ sự phấn đấu nỗ lực của ngành Tài nguyên Môi trường và chính quyền địa phương ở các xã, thị trấn, sự nhiệt tình của những cán bộ nhân viên phòng Tài nguyên môi trường, cán bộ địa chính các xã, thị trấn Đó là những nhân tố đi đầu trong công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, từ đó đẩy nhanh được tiến độ cấp giấy chung trên toàn huyện
Tuy nhiên, còn một số xã tính đến thời điểm này vẫn chưa đạt chỉ tiêu kế hoạch cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do quá trình thực hiện công tác còn nhiều lúng túng, chưa giải quyết được những khó khăn vướng mắc trong quá trình đăng ký, kê khai lập hồ sơ cấp giấy, chưa đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân Còn có một
số yếu tố tự nhiên làm ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình công tác cấp giấy như địa hình các xã miền núi phức tạp và hiểm trở, dân cư thưa thớt, khí hậu thời tiết khắc nghiệt, thiên tai lũ lụt thường xảy ra Đặc biệt là cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác cấp giấy chưa được trang bị đồng bộ, cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở một số xã còn hạn chế, giao thông đi lại khó khăn,…
3.2.2.2 Tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp:
Thực hiện Quyết định số 2871/2003/QĐ-UBND ngày 07 tháng 10 năm 2003 của UBND Tỉnh Thừa Thiên Huế về việc ban hành đề án tổ chức thực hiện “dồn điền đổi thửa” để khắc phục tình trạng phân tán manh mún ruộng đất trong nông nghiệp, UBND huyện đã chỉ đạo phòng Tài nguyên và Môi trường phối hợp với các xã thị trấn triển khai thực hiện đề án, thành lập Ban chỉ đạo của huyện và Ban chỉ đạo của 10/16 xã, thị trấn để triển khai công tác thực hiện dồn điền đổi thửa, kết quả cấp giấy đạt được như sau:
Bảng 4 Kết quả cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp sau dồn điền đổi thửa
(xã, thị trấn)
Số giấy sau
“DĐ ĐT”
Số giấy đã được cấp
Số giấy chưa cấp
Tỷ lệ được cấp giấy (%)
Trang 89 Xã Hương Hồ 2.470 493 1.977 19,96
(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường Hương Trà)
Trên địa bàn huyện chỉ triển khai cho 10 xã chủ yếu là các xã đồng bằng có diện tích đất sản xuất nông nghiệp lớn Ban chỉ đạo của Huyện và các xã, thị trấn đã tổ chức triển khai công tác này từ những ngày đầu của đề án tính đến ngày 30/10/2010, đã kê khai lập hồ sơ cấp giấy cho 31.609 hộ, cấp 17.860 giấy đạt tỷ lệ chung toàn huyện là 56,5%, số giấy còn lại chưa được cấp là 13.476 giấy
- Tồn tại của công tác này là:
+ Tiến độ công tác dồn điền đổi thửa của các xã triển khai đến nay còn chậm (thời gian chuyển đổi từ 2003 đến nay là 5 năm nhưng công tác dồn điền chỉ mới hoàn thành cơ bản) chưa đạt yêu cầu của kế hoạch đề ra
+ Ban chỉ đạo các xã chưa chỉ đạo sát thực, vẫn còn xem nhẹ công tác dồn điền đổi thửa, mặc dù phòng Tài nguyên và Môi trường và UBND huyện đã có công văn đôn đốc gửi về các xã nhiều lần mà công tác dồn điền diễn ra chưa được nhanh
+ Hồ sơ còn vướng mắc tại các xã chưa được kiểm tra xử lý để đề nghị cấp giấy
- Giải pháp của công tác này là:
+ Tiến hành họp trực báo Ban chỉ đạo về công tác dồn điền đổi thửa đối với các
xã thực hiện chưa xong để rà soát, tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn trong công tác này
+ Tiếp tục chỉ đạo cán bộ địa chính, cán bộ các thôn sớm giải quyết những vướng mắc để hoàn chỉnh hồ sơ còn lại chuyển đến phòng Tài nguyên và Môi trường tham mưu UBND huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
3.2.2.3 Tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Lâm nghiệp:
Trong những năm qua trên địa bàn huyện Hương Trà đã có các dự án phi chính phủ đã đầu tư cho người dân trồng rừng thương mại (viết tắt là dự án WB3) UBND huyện đã chỉ đạo phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Nông nghiệp - PTNT, Hạt kiểm lâm huyện hợp đồng các đơn vị đo đạc tiến hành khảo sát, quy hoạch và đo đạc lập bản đồ giải thửa để thực hiện dự án trồng rừng thương mại cho các xã trên địa bàn huyện Dự án bắt đầu thực hiện từ năm 2005 đến nay, kết quả đạt được như sau:
Bảng 5 Tổng hợp kết quả cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Lâm nghiệp theo dự án WB3
trồng rừng thương mại đến năm 2010
Trang 9TT Đơn vị
(xã, thị trấn) Năm
Số hộ sử dụng đất
Số giấy được cấp
Diện tích cấp giấy (ha)
Trang 103 Hương Bình 113 127 90,07
(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường Hương Trà)
Qua bảng cho thấy, sự tham gia của người dân trồng rừng thương mại để phủ xanh đất trống đồi núi trọc trên địa bàn các xã là rất lớn Từ đó môi trường được cải thiện, nạn phá rừng đã giảm đi rất nhiều, công tác trồng và chăm sóc rừng được dự án quan tâm mở các lớp tập huấn có các kỹ sư lâm nghiệp về hướng dẫn kỹ thuật cách trồng và chăm sóc Đến nay đã cấp được cho 1.373 hộ với 1.980 giấy và tổng diện tích
là 2.761,07ha
3.2.2.4 Tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trồng cây cao su:
Thực hiện chương trình dự án đa dạng hóa nông nghiệp trồng cây cao su tiểu điền cho các xã miền núi, UBND huyện đã chỉ đạo phòng Tài nguyên và Môi trường phối hợp với các xã triển khai thực hiện, hợp đồng Trung tâm Tài nguyên môi trường thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường đo đạc, lập bản đồ giải thửa để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trồng cây cao su
Từ năm 2000 đến 2003 tổng số hộ được cấp giấy là 1.297 hộ, với số giấy được cấp là 1.533 giấy/ 1.380,08 ha Trong đó: xã Hương Bình có 1.100 hộ, số giấy được cấp
là 1.327 giấy/974,34 ha, Xã Bình Điền có 51 hộ, với 52 giấy/77,35 ha và xã Hương Thọ
có 146 hộ, với 154 giấy/328,39 ha
Đến năm 2004, tiếp tục thực hiện chương trình dự án, UBND huyện chỉ đạo phòng Tài nguyên và Môi trường và các xã tiếp tục hợp đồng Trung tâm Tài nguyên và