Nội dung chính của chương này là những quan điểm nghiên cứu về hoạt động của trẻ em, hoạt động và sự phát triển tâm lý của trẻ em và khả năng tương tác với hiện thực của trẻ em. Mời các bạn tham khảo!
Trang 114
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA TRẺ EM
Ba vấn đề chính của chương này là:
1 Những quan điểm nghiên cứu về hoạt động của trẻ em
2 Hoạt động và sự phát triển tâm lý của trẻ em
3 Khả năng tương tác với hiện thực của trẻ em
Trang 215
Bài một
NHỮNG QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU VỀ
HOẠT ĐỘNG CỦA TRẺ EM
I.Quan điểm của tâm lý học Xô Viết
Khái niệm hoạt động
“Hoạt động” vừa là khái niệm công cụ vừa là đối tượng nghiên cứu của tâm lý học trẻ em-2 Người giáo viên mầm non cần tường minh về khái niệm này Biểu hiện của sự tường minh này là người giáo viên nắm được nội hàm của khái niệm
“hoạt động”, biết cách sử dụng khái niệm này trong quá trình nghiệp vụ của mình Theo Kruteski1 V.A., hoạt động là sự tích cực của con người nhắm tới việc đạt được những mục tiêu đã đề ra một cách có ý thức, nhằm thỏa mãn nhu cầu, hứng thú hoặc nhằm thực hiện các yêu cầu của xã hội hay quốc gia
Vengher L.A và Mukhina V.C2 có cách nhìn từ góc độ khác, cụ thể hơn, thích
hợp cho việc ứng dụng khái niệm này vào nghiệp vụ giáo dục trẻ em, đó là: “hoạt động là tập hợp những hành động đáp ứng lại với những kích thích nhất định” Cần
lưu ý rằng, trong đời sống của trẻ em thì phần lớn những kích thích này đến từ môi trường xung quanh trẻ- đặc biệt là từ những người thân quen, những đồ vật hay đồ chơi Như vậy, môi trường xung quanh này cần được tổ chức bởi người lớn sao cho trẻ có thể hoạt động theo hướng tiến tới đạt các mục tiêu phát triển đã định
Hoạt động được cấu thành từ những hành động, bao gồm những hành động
thực hành (hành động bên ngoài) và những hành động tâm lý (hành động bên trong) của trẻ em Nhờ được hành động thực hành mà ý tưởng và hành động tâm lý của trẻ
1 [21, 68-69]
2 [23, 20-22]
Trang 316
được hình thành Một số nghiên cứu tâm lý của Vengher L.A và Mukhina V.C nhằm khảo sát cùng một dạng hoạt động của trẻ ở các độ tuổi khác nhau, kết quả
cho thấy có sự chuyển vào trong của các hành động thực hành bên ngoài Diễn tiến
của quá trình như sau:
- Ban đầu, trẻ thường tự lay hoay để giải quyết vấn đề, thực hiện và thay đổi nhiều giải pháp cho đến khi đạt kết quả mong đợi
- Sau đó, khi đã rút kinh nghiệm qua những lần chưa đạt, trẻ có thể quan sát, giải quyết ngầm trong đầu và thực hiện thao tác hầu như chính xác ngay lần đầu Trẻ sau 3 tuổi thường có thể thử ngầm bên trong đầu như thế
Hoạt động của trẻ em có những tính chất đặc trưng, có cấu trúc của hoạt động nói chung Những đặc tính của hoạt động được đúc kết là có sản phẩm, có tính xã hội và có tính sáng tạo (Nemov P.C., 1990), có chủ định (Krutestki, V.A., 1980) Tuy nhiên, mỗi dạng hoạt động cụ thể của trẻ lại có thêm những tính đặc trưng khác
Để tổ chức và điều khiển được hoạt động của trẻ em, giáo viên cần biết cấu trúc của hoạt động và các giai đoạn của hoạt động
Trong cấu trúc của hoạt động tìm thấy: mục đích, động cơ hoạt động, các hành động, ngôn ngữ (kể cả ngôn ngữ thầm)
Mỗi hoạt động thường diễn ra theo các bước sau đây:
a/ xác định mục đích (hoặc một chuỗi các mục đích) của hoạt động, xác định những hành động sẽ thực hiện;
b/ chọn cách hành động: dựa vào mục đích và phương tiện hoạt động, là bước định hướng hành động;
c/ thực hiện chuỗi hành động đã xác định ở giai đoạn (b) trên những phương tiện đã xác định ở khâu (c), khâu này được gọi là bước thực hiện hành động;
d/ kiểm tra, điều chỉnh hoạt động, đây là bước kiểm tra hành động, có thể tiến hành đồng thời với bước (c) hay sau bước (c)
Mỗi bước có thể được thực hiện tỉ mỉ hay nhanh gọn do có bỏ qua công đoạn
nào đó Riêng đối với hoạt động của trẻ em, nhà giáo dục cần lưu ý hướng dẫn
Trang 417
bước định hướng hành động – là bước (b) - vì ở đó tiềm tàng khả năng tập trẻ lập
kế hoạch hành động, là một năng lực quan trọng của lĩnh vực nhận thức
Hoạt động của cá nhân quyết định sự phát triển tâm lý của cá nhân:
Sự phát triển toàn bộ đời sống tâm lý của trẻ phụ thuộc phần lớn vào hoạt
động cá nhân, hầu như các nghiên cứu tâm lý trẻ em trong tâm lý học Xô Viết đều trực tiếp hoặc gián tiếp minh chứng vai trò quyết định của hoạt động cá nhân đối với sự hình thành và phát triển tâm lý của cá nhân đó
Những dấu hiệu cho thấy một hoạt động đang phát triển:
Một hoạt động được đánh giá đang phát triển nếu có những dấu hiệu sau đây :
-So với trước kia thì chủ thể hành động có chủ định hơn, chủ thể tập trung chú ý lâu hơn, có thể tự hoạt động…
-Chủ thể có những hành động phức hợp hơn hoặc hành động được chuyển
vào trong
-Xuất hiện một số tiền đề của dạng hoạt động mới
Người giáo viên cần theo dõi sự phát triển của hoạt động ở trẻ
Nhìn chung, lý thuyết về hoạt động của trẻ em trong tâm lý học Xô Viết rất
đa diện và được minh chứng, với nền tảng này giáo viên có thể tổ chức, triển khai và đánh giá hoạt động của trẻ trong các độ tuổi
Ngày nay, với đà hội nhập văn hóa thế giới, khả năng vận dụng lý thuyết tâm lý học độ tuổi càng rộng mở, mỗi nhà giáo dục cần được trang bị cơ sở lý luận đa chiều để có thể đáp ứng được yêu cầu thực tiễn của giáo dục Nhằm mục đích đó, chúng ta cần tìm hiểu quan điểm của hai nhà tâm lý kiệt xuất có ảnh hưởng sâu rộng đến giáo dục mầm non thế giới- Montessori M và Piaget J
Trang 518
II Quan điểm của M Montessori
2.1 Trẻ hoạt động tự do trong môi trường được tổ chức sẵn
Theo Montessori, trẻ em được phát triển tâm lý phần lớn thông qua sự trải
nghiệm khi hoạt động trong một môi trường được người lớn tổ chức sẵn Hoạt
động của trẻ em nhất thiết phải mang tính thực tiễn và có định hướng vào thực
tại Do vậy, môi trường được tổ chức không nhằm phát triển óc tưởng tượng cho
trẻ; trẻ em cần có tâm thế “làm việc chứ không phải chơi”3
Tuy vậy, Montessori xem sự tự do, nhu cầu và hứng thú của trẻ em là quan trọng nhất Quan điểm này
có thể được thể hiện qua 10 nguyên tắc dạy học của Montessori, trình bày ở sơ
đồ 1.1 sau đây:
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ về “Mười nguyên tắc dạy học của Montessori”
Như vậy, trẻ được người lớn tạo cơ hội hoạt động theo nhu cầu và trình độ
nhận thức của mình, “làm việc” với nhịp độ của mình, hầu như người lớn không
hối thúc để trẻ được tiến lên từng bước, nhờ vậy trẻ được thoải mái trong hoạt
3 “Work- not play”
10 nguyên tắc DH của Montes- sori
Được hướng dẫn cách làm khi cần
Tự do về
tư thế, tâm thế
Có môi trường
HĐ hấp dẫn, lô gic
Nhiều
cơ hội thực hành kỹ năng sống
Thỏa thích tìm hiểu
đồ vật
an toàn
Được cấp phương tiện HĐ thích hợp
Không bị ngắt ngang khi tư duy- chú
ý
Trang 619
động nhận thức Vai trò của người thầy là tổ chức môi trường hoạt động theo chủ đích, sau đó quan sát hoạt động của trẻ, phát hiện kịp thời nhu cầu phát sinh ở trẻ trong hoạt động để đáp ứng bằng cách thay đổi môi trường, chỉ làm mẫu khi trẻ hoặc khi giáo viên cảm nhận là rất cần thiết
2.2 Hoạt động nhận thức qua các giác quan dẫn tới sự phát triển trí tuệ cho trẻ em từ 0- 6 tuổi
Từ sơ sinh tới 6 tuổi, theo Montessori, là giai đoạn nhận thức thế giới đồ vật xung quanh một cách nhanh nhạy Thuật ngữ “trí tuệ thấm hút”4
được sử dụng trong lý thuyết của Montessori để ví khả năng tiếp nhận thế giới đồ vật xung quanh của trẻ nhỏ như một miếng xốp thấm hút nước Sự nhận thức này chủ yếu qua các giác quan, tức là thực hiện các quá trình cảm giác và tri giác khi tiếp cận với môi trường Hơn thế, Montessori chỉ ra rằng trẻ nhỏ có thể bắt đầu tự phân tích, thậm chí tự tổng hợp khi được hoạt động với những đồ vật đặc biệt, nhờ vậy trẻ có thể phát hiện được một số thuộc tính đặc trưng nổi trội của chúng
Từ lập luận như thế, Montessori cho rằng chính giáo dục qua các giác quan sẽ dẫn tới giáo dục trí tuệ
Montessori khẳng định rằng chỉ sau 6 tuổi trẻ mới học tập thông qua sự lập luận trừu tượng, trí tưởng tượng, tham gia hoạt động nhóm và giai đoạn vào nhiều mối quan hệ với người xung quanh
III Quan điểm của J Piaget
3.1 Sự phân chia các giai đoạn phát triển trí tuệ của trẻ em
Piaget đưa ra học thuyết về sự hình thành và phát triển nhận thức ở trẻ em (1967), có giá trị lớn lao cho việc định hướng phát triển các dạng hoạt động cho trẻ Dưới đây là bảng mô tả ngắn gọn những biểu hiện nhận thức ở trẻ trước 7 tuổi:
4 Absorbent mind
Trang 7-Phân biệt được “tôi”- không phải tôi”
-Biết tìm kiếm vật vừa “biến mất” do bị giấu đi
-Chưa thể đặt mình vào vị trí người khác để nhìn nhận sự vật -Biết phân nhóm theo 1 dấu hiệu
- Biết phân nhóm theo vài dấu hiệu
Riêng từ 2- 7 tuổi có 2 tiểu giai đoạn:
a/ Từ 2- 4 tuổi (tiền khái niệm): có thể tham gia hoạt động có yếu tố tượng trưng giả vờ; có thể chỉ cần hình dung (nhớ lại, liên tưởng thay cho các hành động); ngôn ngữ rất phát triển; nhưng chưa thể liên hệ các sự kiện lại nên chưa biết dự đoán Trẻ có thể chơi giả vờ, đóng vai,…
b/ Từ 4- 7 tuổi (tiền khái niệm): chủ yếu vẫn nhận thức cảm tính, tự khám phá cái mới bằng cách thử-sai; nhưng chưa có khái niệm về sự vật hiện tượng, tức là chưa biết lý giải các mối quan hệ giữa chúng, chưa phân biệt những thuộc tính đặc trưng của sự vật hiện tượng, cũng chưa thể phát hiện cũng chưa biết giải thích những qui luật, nguyên tắc
3.2.Sự kiến tạo nhận thức và trí tuệ của trẻ em trong hoạt động:
Piaget đánh giá cao về tính tích cực tương tác của trẻ với thế giới xung quanh, cho thấy chính trong quá trình tương tác này trẻ phát hiện những vấn đề
và được đặt vào tình huống phải giải quyết chúng Kết quả là nhận thức và trí tuệ của trẻ được hình thành, phát triển Theo Piaget, trong quá trình hoạt động của
Trang 8 Trẻ nhỏ thường nhìn sự vật bằng góc nhìn của mình, chưa thể đặt mình vào
vị trí của người khác để nhìn sự vật- hiện tượng Piaget xem đó là trẻ chưa thể xuất tâm 5
Thí dụ: Trẻ cho rằng búp bê thấy những ngọn núi này y hệt như với mình thấy
Hình 1.1 Test “Ba quả núi” của J Piaget (Nguồn: Piaget, J (1951)
Egocentric thought and sociocentric thought J Piaget, Sociological studies)
Như nhiều nhà nghiên cứu cùng thời, Piaget chủ yếu sử dụng phương pháp quan sát để nghiên cứu sự phát triển nhận thức của trẻ em trong hoạt động, đã giải thích rằng kiến thức ở trẻ trước 7 tuổi thường mang tính cảm tính vì chủ yếu dựa trên những trải nghiệm qua các giác quan, tuy vậy thời kỳ này rất quan trọng vì tạo được vốn biểu tượng ban đầu ở trẻ về các sự vật hiện tượng xung quanh Điểm khác biệt của lý thuyết Piaget về sự phát triển nhận thức của trẻ em là ông tìm ra cơ chế
đồng hóa và điều ứng: khi tiếp cận sự vật hiện tượng mới, trẻ nhập thông tin mới
vào vốn biểu tượng đã có và nhìn nhận thông tin mới này dựa trên vốn biểu tượng
5 decentration
Trang 922
có liên quan, Piaget gọi là sự đồng hóa; ngược lại - khi trẻ hành động khảo sát
chúng và lĩnh hội được điều mới thì chính điều mới này làm biến đổi biểu tượng
đang có ở trẻ, Piaget gọi là sự điều ứng
Mặt khác, Piaget khẳng định, trong các quá trình hoạt động, bằng con đường đồng hóa và điều ứng, ở trẻ sẽ có sự chuyển hóa nhận thức- từ “nhận thức trực giác” sang “tri thức khoa học” và nếu được liên tục rèn luyện hoạt động như thế thì trẻ có thể có “tri thức được xã hội chấp nhận”6
Tóm tắt bài một
Có thể đúc kết từ quan điểm của Tâm lý học Xô Viết, của Montessori và Piaget như sau:
Về hoạt động của trẻ em:
a/Hoạt động của trẻ em mang tính có chủ định, có sản phẩm, tính văn hóa- xã hội, tính sáng tạo như hoạt động của người lớn
b/Hoạt động của trẻ em có những đặc thù, thể hiện chủ yếu ở tính thoải mái cho trẻ, có định hướng vào thực tại; trẻ em cần được giáo dục thái độ nghiêm túc trong nhiều dạng hoạt động, trẻ hoạt động không chỉ để được vui chơi
c/Chính trong quá trình hoạt động trẻ được tương tác với thế giới xung quanh nên kích thích được tâm lý phát triển Sự phát triển tâm lý là kết quả của quá trình nhập tâm hoặc quá trình thích nghi
Về môi trường hoạt động của trẻ em:
Môi trường hoạt động là yếu tố mang cả tính vật chất lẫn tính thần, có ảnh hưởng quan trọng lên sự phát triển tâm lý của trẻ em Trong các học thuyết của Montessori, Piaget và Vygotsky đều đặt ra vấn đề vai trò kích thích nhận thức ở trẻ
em từ phía môi trường, nhấn mạnh môi trường hoạt động cần phải được người lớn
tổ chức
6 Social agreable knowledge
Trang 10I.Mối quan hệ của hoạt động với sự phát triển tâm lý trẻ:
Hoạt động và sự phát triển tâm lý trẻ em có mối quan hệ lẫn nhau; có những vấn đề được đặt ra, như:
-Hoạt động có tác động như thế nào tới sự phát triển tâm lý trẻ em?
-Sự phát triển tâm lý trẻ em có tác động nào tới hoạt động?
Cách đặt vấn đề này tương tự như khi chúng ta tự hỏi: “Chúng ta cần gì ở người bán hàng? Người bán hàng cần gì ở chúng ta?”; rõ ràng là hai câu trả lời sẽ không hẵn giống nhau, thậm chí rất khác nhau; với cách xem xét từ cả hai phía như thế thì chúng ta sẽ nắm vấn đề rõ hơn và đầy đủ hơn
Hoạt động có tác động nào tới sự phát triển tâm lý trẻ em 7
?
Chỉ trong hoạt động tất cả các quá trình tâm lý mới được hình thành, diễn ra
và được điều khiển bởi chính chủ thể hay bởi nhà giáo dục Tùy thuộc vào hoạt động, trẻ em được phát triển tâm lý rất khác nhau; nhà giáo dục cần biết những nội dung lý thuyết tâm lý sau đây:
-Hoạt động tác động tới sự phát triển nhận thức cảm tính ở trẻ em:
7 {18}
Trang 1124
+ Trong môi trường sống tự nhiên những hoạt động tri giác mùi thơm, mùi nấu nướng, mùi trái cây…thì trẻ sơ sinh sẽ sớm nhạy khứu giác và có cảm xúc tích cực;
+ Những hoạt động có yêu cầu trẻ tri giác một số bộ phận (chưa đủ cấu thành
chỉnh thế) hoặc từ những bộ phận rời rạc, sẽ có tác động phát triển kỹ năng tri giác tổng thể;
+ Những hoạt động được tổ chức tự nhiên chưa gạn lọc các yếu tố phụ, thí dụ
cho xem ảnh chụp với hình thể chính và phông nền xung quanh, sẽ tập trẻ tri giác
hình thể chính và tự bỏ qua phông nền, kết quả là trẻ có thể tập trung chú ý vào đối tượng có ý nghĩa dù xung quanh có nhiều yếu tố gây nhiễu8, là kỹ năng rất quan trọng cho việc học và lao động trong các môi trường tự nhiên trong tương lai; + Những hoạt động giao tiếp bằng lời nói những hoạt động quan sát 2 hay vài bức hình có thể hiện luật xa gần hay luật khuất, luật phối cảnh…cũng sẽ tác động tốt lên sự phát triển kỹ năng tri giác tính ổn định của đối tượng, kiểu như: dù ở xa thấy nhỏ lại nhưng vẫn là đối tượng đó nên kích thước của nó thực ra vẫn như cũ; + Một dạng hoạt động khác rất quan trọng cho việc nâng cao năng lực tri giác
của trẻ em và tạo tiền đề cho tư duy logic, đó là những hoạt động với vài nhóm đối tượng nhằm tập tri giác tính đối xứng, tính tương tự, tính “đơn vị là nhóm”, tính
liên tục,…như hình minh họa dưới đây:
(Trẻ ưu tiên tri giác hình A) (Trẻ tri giác 3 nhóm (Tính tương tự
Thay vì tri giác 9 chấm tròn) Trẻ tri giác cả sự giốngkhác nhau giữa những chữ số)
Hình 2.1 Một số hoạt động nhằm phát triển tri giác nhìn ở trình độ cao hơn bình thường
Trang 1225
Riêng đối với vị giác, trẻ nhận biết trễ hơn, so với các cảm nhận từ những giác quan khác, các nghiên cứu của Godefroid cho thấy cần tổ chức hoạt động học một cách có hệ thống cho trẻ về các vị của thức ăn, trong một quá trình lâu dài
-Hoạt động tác động tới sự phát triển chú ý ở trẻ em: bằng cách xây dựng
những hoạt động đặc biệt, giáo viên mầm non có thể tác động phát triển năng lực chú ý ở trẻ vào đối tượng nhận thức; có thể sử dụng những hoạt động sau đây: + Hoạt động quan sát sự vật hiện tượng lạ, mới;
+ Hoạt động với những đối tượng và nội dung có ý nghĩa với trẻ;
+ Hoạt động có âm thanh thú vị (tiếng động, tiếng kêu của con vật, âm nhạc vui,…)
-Hoạt động nhằm phát triển ngôn ngữ: ngay trong thai kỳ, sau 5.5 tháng, thai
nhi đã có thể hoạt động thính giác sơ đẳng- đặc biệt là nghe được tiếng nói của mẹ- đây là một tiền đề quan trọng cho việc học sớm ở trẻ sau sinh; hoạt động giao tiếp
và hoạt động kể chuyện, chia sẻ bằng lời nói, sử dụng ký tự để biểu đạt, …càng mang ý nghĩa tối cần với trẻ sau khi ra đời
-Hoạt động nhằm phát triển động cơ 9 : đó là những hoạt động như:
+ Những hoạt động yêu cầu trẻ chọn cách thực hiện thích hợp, là sự thích hợp với cảm xúc, tâm trạng, ý tưởng của mình (Bolles, 1974);
+ Những hoạt động vừa sức, thích hợp năng lực và kinh nghiệm của trẻ (Deci, 1975);
+ Những hoạt động cho phép trẻ tự tổ chức hoạt động cho mình (hay cho nhóm của mình), tự theo dõi tiến trình hoạt động của mình (Fisher, 1978);
9 Những hoạt động này cho thấy việc tổ chức hoạt động giáo dục cho trẻ phần lớn theo “cơ chế lựa chọn”, là một cơ chế mà nhiều nhà nghiên cứu phương Tây theo
Trang 1326
+ Hoạt động nhằm giúp trẻ trải nghiệm “mình có lợi” khi làm việc tốt thay cho những hoạt động thưởng vật chất như kẹo, bánh, quà,… sẽ phát triển được ở trẻ những động cơ bên trong (Deci, 1975);
+ Đặc biệt đưa trẻ vào những hoạt động chọn cách làm trong những tình huống giả định kiểu như “nếu sau này,…” thì sẽ kích thích trẻ đề ra những trù liệu cho tương lai gần (Nuttin, 1980)
-Hoạt động nhằm phát triển tính tich cực của cảm xúc:
+ Một mặt, những hoạt động kể chuyện, đọc truyện; xem hoạt hình; chơi đóng kịch,…đều giúp trẻ tích lũy kiến thức về những sự cố có thể xảy đến, những giải pháp, những kết quả hoặc hậu quả; do vậy khi rơi vào tình huống bất ngờ, tiêu cực,…trẻ ít hoảng hốt, có kinh nghiệm ứng phó; nhờ vậy trẻ giảm được cảm xúc tiêu cực đối với tình huống xấu
+ Mặt khác, những hoạt động như trên, nhưng với nội dung truyện/nội dung
vở kịch,…mang tính tích cực thì trẻ càng lạc quan và tăng khả năng cảm xúc tích cực hoặc giữ được trạng thái cảm xúc đúng mực
-Hoạt động nhằm phát triển trí nhớ: nên tổ chức hàng ngày những hoạt động
Trang 1427
-Hoạt động nhằm phát triển tư duy: những hoạt động yêu cầu trẻ thực hiện
các thao tác so sánh, phân tích, tổng hợp, xếp loại, xếp dãy thứ tự, rút ra kết luận đơn giản,…là những hoạt động hiệu quả nhất; những hoạt động yêu cầu trẻ trải qua pha đồng hóa và điều ứng; phân bố hoạt động theo lứa tuổi dựa trên lý thuyết của Piaget:
+ Trước 2 tuổi chủ yếu hoạt động khảo sát để phát triển cảm giác- vận động, hoạt động kích thích sự vận hành của các giác quan
+ Từ 2- 11 tuổi chủ yếu hoạt động có sử dụng điệu bộ làm dấu hiệu, sử dụng một số ký hiệu hay một số biểu tượng (Icons), nói về ý nghĩa của một số vật làm biểu trưng (Symbols), hoạt động thảo luận,…; hoặc như ý tưởng của Davis (1932)
về dạng hoạt động bịt mắt trẻ lại và yêu cầu trẻ mò mẫm tìm lối đi giữa “mê cung” (Labyrinth- hoạt động này giúp trẻ phát triển tư duy sơ đồ hoặc tư duy trực quan hình tượng);
+ Những hoạt động đòi hỏi giải quyết vấn đề và giải quyết vấn đề trong thời hạn;…
-Hoạt động nhằm phát triển tư duy sáng tạo (Creative thinking- là hoạt động
yêu cầu trẻ nghĩ ra vài cách thay vì chỉ 1 cách giải quyết vấn đề; hoạt động đòi hỏi trẻ chuyển dòng suy nghĩ theo tình huống do giáo viên đưa ra; hoạt động mà giải pháp là “mẹo”, “mẹo vặt”…thể hiện tính logic độc đáo (Guilford, 1967);…
Câu hỏi: “Đây là gì?”
Trẻ quan sát, trả lời tự
do sao cho hợp lý
Hình 2.2 Câu trả lời độc đáo cho bài tập độc đáo
-Hoạt động nhằm phát triển trí tưởng tượng và sự sáng tạo: hoạt động chia sẻ
những ước mơ; hoạt động với truyện cổ tích, viễn tưởng; chơi xây dựng; chơi đóng vai theo chủ đề; hoạt động tạo hình; hoạt động với những đối tượng lạ, ngộ nghĩnh; hoạt động biểu diễn trong các dịp lễ hội, sự kiện;
Trang 1528
Những dẫn giải trên đây cho thấy rõ hoạt động là động lực, cũng là phương tiện và phương thức phát triển tâm lý trẻ; minh chứng rằng không có hoạt động sẽ không có sự phát triển tâm lý
Sự phát triển tâm lý có tác động nào tới hoạt động của trẻ em?
Ở chiều tác động ngược lại, các quá trình tâm lý làm cho hoạt động được tổ chức- thực hiện và phát triển so với trước đó; có thể hiểu vấn đề này một cách chi tiết hơn, như sau:
-Mục đích- động cơ- nhu cầu- hứng thú là những yếu tố tâm lý giữ chức năng định hướng cho hoạt động Trong đó, nhu cầu là yếu tố làm nẩy sinh các yếu tố còn
lại; động cơ cũng chỉ là những biểu hiện cụ thể của nhu cầu Nếu động cơ đủ mạnh
thì trẻ rất mong muốn đạt được những mục đích đã đề ra; lúc đó trẻ phải tích cực hoạt động Krutetski (1980) cho rằng bản thân khái niệm hoạt động đã nói lên sự
tích cực của con người, một sự tích cực có chủ định – tức là sự tích cực một cách có
ý thức, có kế hoạch
-Ở một trình độ phát triển nhất định và nếu trẻ tích cực huy động các quá trình tâm lý khi hoạt động thì hoạt động càng mau chóng phát triển để có được đầy đủ những tính chất đặc trưng của nó, tiến tới đạt được tính đa dạng, đa chiều
Như vậy, hoạt động chịu sự chi phối của trình độ phát triển tâm lý ở chủ thể; mặc dù hoạt động là động lực phát triển tâm lý trẻ
II Cơ chế phát triển tâm lý của trẻ em và định hướng tổ chức hoạt động trong giáo dục trẻ trước 6 tuổi
2.1.Cơ chế của sự phát triển vận động và định hướng tổ chức hoạt động giáo dục nhằm phát triển thể chất:
Sự phát triển vận động diễn ra dưới tác động của những yếu tố sau đây:
-Yếu tố bẩm sinh- di truyền: nhìn chung yếu tố bẩm sinh- di truyền có chức
năng làm tiền đề cho sự phát triển vận động, nếu xem xét cụ thể thì yếu tố này có ảnh hưởng lên: chiều cao, cân nặng trong độ tuổi, lên cơ và độ chắc khỏe của hệ
Trang 1629
xương; ngoài ra não đảm trách vai trò trù tính kiểu vận động, cách vận động, tần suất vận động; ngoài ra não kiểm soát được cảm giác-vận động khi nhận được thông tin từ các giác quan và xử lý chúng,
-Sự tập luyện thể chất: có ảnh hưởng lên sức mạnh, mức độ thực hiện vận động, mức độ chính xác của vận động và khả năng vận động linh hoạt
Liên quan tới sự tập luyện thể chất là các yếu tố sau đây: tác động của bài tập thể chất, sự liên tục tập luyện, môi trường tập luyện, những cơ hội được vận động, mức độ được phép vận động theo tốc độ cá nhân Những yếu tố nêu trên là phương tiện và điều kiện để đẩy nhanh quá trình hình thành quán tính
-Văn hóa- kinh tế- xã hội: khi xem xét vấn đề ảnh hưởng tới sự phát triển thể chất từ khía cạnh văn hóa, dễ thấy những yếu tố ảnh hưởng như chế độ dinh dưỡng rất khác nhau giữa các nền văn hóa khác nhau10
, khoảng thời gian lịch sử
mà đứa trẻ được sinh ra và lớn lên, tình trạng kinh tế gia đình Xu hướng chung
là trẻ em ở các nước phát triển với tình trạng kinh tế- xã hội cao hơn thì có sự phát triển thể chất sớm hơn, có chiều cao và cân nặng trội hơn so với trẻ em ở các nước đang phát triển
Định hướng tổ chức hoạt động giáo dục thể chất cho trẻ trước 6 tuổi:
Muốn định hướng tổ chức hoạt động này, người chăm sóc- giáo dục trẻ cần thực hiện những công việc sau đây:
-Nghiên cứu thông tin cá nhân của trẻ: tìm hiểu về đặc điểm văn hóa (đặc biệt là tôn giáo- có ảnh hưởng trực tiếp tới chế độ sinh hoạt của trẻ)- kinh tế gia đình của trẻ, thói quen dinh dưỡng, chiều cao- cân nặng, cơ hội và khả năng tập luyện thể chất,…
-Chuẩn bị một môi trường hoạt động thể chất đáp ứng được nhu cầu hoạt động của trẻ và mục tiêu giáo dục của chương trình, mục tiêu phát triển cá nhân -Biên soạn hệ bài tập- trò chơi tập thể chất cho trẻ nhằm đạt các mục tiêu phát triển của chương trình giáo dục
10
Eveleth & Tanners, 1990
Trang 1730
-Đề ra những nguyên tắc thực hiện và phát triển chương trình phát triển thể chất này; đặc biệt đảm bảo tính thường xuyên luyện tập và tính cá nhân trong điều khiển nhịp độ vận động cho trẻ
-Tổ chức dinh dưỡng đúng cho trẻ, tuyên truyền với phụ huynh để đảm bảo chất lượng của chương trình phát triển thể chất cho trẻ
Như vậy, việc định hướng tổ chức hoạt động giáo dục thể chất cho trẻ bao hàm cả 3 mặt quan trọng: tổ chức môi trường vận động- tổ chức dinh dưỡng đúng –tổ chức công cụ (như bài dạy thể dục/tuần và triển khai thực hiện nó)
2.2.Cơ chế của sự phát triển nhận thức và định hướng tổ chức hoạt động giáo dục nhằm phát triển nhận thức:
Sự phát triển nhận thức diễn ra dưới tác động sau đây:
-Yếu tố bẩm sinh di truyền, đặc biệt là não bộ và các giác quan; điều kiện dinh dưỡng và thực phẩm; trình độ dạy và mức độ tích cực học; trình độ phát triển tư duy trừu tượng; trách nhiệm giáo dục của cha mẹ và tình thương của người thân đối với trẻ; hoạt động rèn luyện thể chất, vốn kinh nghiệm và cơ hội, khả năng tích lũy kinh nghiệm thường xuyên
-Nền văn hóa khác nhau, môi trường sống, vùng miền chủng tộc khác nhau cũng dẫn đến những khác biệt, như: những khác biệt điển hình về độ tuổi xuất hiện các năng lực nhận thức đặc biệt, sự chậm trễ phát triển nhận thức không điển hình ở một số trẻ em có thể làm ảnh hưởng đến lòng tự tin và tính chủ động- độc lập ở trẻ về sau, sự khác biệt về thành tích nhận thức
-Giới tính cũng là một yếu tố tạo nên sự khác biệt về những kỹ năng nhận thức, đặc biệt là ở những kỹ năng trội của độ tuổi
Định hướng tổ chức hoạt động giáo dục nhận thức cho trẻ trước 6 tuổi:
-Khi tổ chức hoạt động học cho trẻ, chúng ta cần chú ý tới đặc điểm phát triển nhận thức của cá nhân, điều kiện củng cố ở nhà những kiến thức- kỹ năng
đã học;
-Tổ chức việc học đồng bộ với việc tổ chức dinh dưỡng và rèn luyện thể chất cho trẻ ở trường và ở nhà
Trang 1831
- Có thể nghiên cứu sự khác biệt trong học tập giữa các trẻ em, dựa trên những biến số: nền văn hóa, trình độ công nghiệp hóa (để hun đúc thành lối sống
tự lập) của vùng miền hay của quốc gia
- Chấp nhận sự khác biệt về trình độ nhận thức này, người dạy cần có những tác động thích hợp với từng nhóm người học
2.3.Cơ chế của sự phát triển ngôn ngữ và định hướng tổ chức hoạt động nhằm phát triển ngôn ngữ:
-Có 4 thành tố bộ phận mà trẻ cần lĩnh hội để có năng lực ngôn ngữ, đó là: ngữ âm – ngữ nghĩa – hình thái ngôn ngữ - ngữ pháp Những thành tố bộ phận
này hợp thành các thành tố của ngôn ngữ; hai thành tố của ngôn ngữ là: ngôn
ngữ học xã hội (sociolinguistics) và năng lực sử dụng ngôn ngữ/biết đọc biết viết (literacy) Trong đó:
Ngôn ngữ học xã hội- mô tả về tác động từ xã hội lên ngôn ngữ cá nhân,
bao gồm cả chuẩn mực văn hóa, kỳ vọng, và bối cảnh, về cách sử dụng ngôn ngữ, và những tác động của việc sử dụng ngôn ngữ trong xã hội
Năng lực sử dụng ngôn ngữ thì bao hàm năng lực đọc- viết; năng lực sử
dụng chữ số- ký tự- hình ảnh; năng lực sử dụng những phương tiện khác để có thể hiểu và để có thể sử dụng được hệ thống ký hiệu chủ yếu của nền văn hóa; ngoài ra còn bao hàm cả kỹ năng tiếp cận kiến thức thông qua công nghệ và năng lực tiếp cận ngữ cảnh phức hợp
-Sự phát triển ngôn ngữ diễn ra rất khác nhau ở mỗi trẻ em, đặc biệt là thời
điểm xuất hiện kỹ năng ngôn ngữ mới; nhiều trẻ em bị chậm nói so với đa số trẻ cùng độ tuổi (tỷ lệ có thể là 1/5 trên số trẻ em), số trẻ trai bị chậm nói nhiều gấp
3 đến 4 lần hơn so với ở trẻ gái; nhiều trẻ em cũng bị hạn chế trong diễn đạt
-Ở một số trẻ em thì việc chậm nói diễn ra chỉ tạm thời, phần đông trẻ thoát
trạng thái là do có sự ráo riết hỗ trợ của gia đình (bằng điệu bộ hay bằng cách quan tâm tới tính tổ chức của việc nói với trẻ; tăng thời gian giao tiếp với con
em, …) Tuy nhiên, trong rất nhiều trường hợp trẻ cần phải được trị liệu
Trang 1932
-Môi trường sống có thể là nguyên nhân của các hiện tượng chậm nói và
chậm giao tiếp ở trẻ: nhiều trẻ em chậm nói chỉ vì có hứng thú với những đối tượng hay với những kỹ năng khác (như thích tập đi hơn nghe hiểu và nói); hoặc trẻ có anh em song sinh hay liền kề tuổi nhau nên thiếu sự chăm sóc- giao tiếp của người thân; do cha mẹ nghèo nên thiếu dinh dưỡng, nơi ở tù túng khó giao tiếp, bị bỏ bê, thiếu kích thích ngôn ngữ hoặc do trầm cảm ở trẻ em
Định hướng tổ chức hoạt động giáo dục ngôn ngữ cho trẻ trước 6 tuổi:
Dựa vào cơ chế phát triển ngôn ngữ cho trẻ đã nêu trên, dễ thấy định hướng sau đây cho việc tổ chức hoạt động giáo dục ngôn ngữ cho trẻ em:
-Cần phát triển đồng bộ giữa năng lực nói- biết chữ /ký hiệu và năng lực giao tiếp
-Các nhiệm vụ giáo dục bộ phận cần được thực hiện hiệu quả là: nghe hiểu, nói, tích lũy vốn từ, phân biệt âm trong tiếng nói, biết tên gọi của chữ cái và phát âm chúng, đọc, có kiến thức về chữ viết trong môi trường xung quanh, có kiến thức về sách, tập viết kiểu sao chép chữ với nhiều mục tiêu phát triển khác nhau (biết đường nét, nắm thứ tự nét viết/của chữ cái trong một từ, biết dạng đúng của chữ, )
-Tổ chức chu đáo môi trường sống đảm bảo đủ giao tiếp và đủ tình cảm quan tâm tới trẻ, đặc biệt tuyên truyền với phụ huynh về ảnh hưởng của giao tiếp
và tình thương yêu của gia đình đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ nhỏ Phát hiện sớm tình trạng phát triển ngôn ngữ của trẻ và liên kết kịp thời với nhà chuyên môn để giáo dục hỗ trợ trẻ
2.4.Cơ chế của sự phát triển tình cảm/kỹ năng xã hội và định hướng tổ chức hoạt động:
Sự phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội diễn ra như thế nào và do đâu? 11
-Yếu tố bảm sinh di truyền có ảnh hưởng nhất định lên sự xuất hiện của một số biểu hiện cảm xúc có ý nghĩa xã hội của trẻ em ở những dấu mốc độ tuổi
11
http://www.thewonderweeks.com/what-are-mental-leaps/
Trang 2033
được đoán trước (predictable age); hiện nay có những tuyên bố khoa học rằng
có 8 hoặc 10 bước nhảy vọt như thế trước 75 tuần tuổi đầu đời, tính từ tuần thứ
5 sau sinh (từ sau 1 tháng tuổi đến 6 tuổi) của đứa trẻ Nguyên nhân sinh học được tìm thấy là do có những biến động lớn trong não bộ của trẻ nhỏ
-Nhu cầu được mẹ che chở và xu hướng “xâm lấn vì được chiều chuộng”:
Chính do không thể một mình chịu đựng biến động (ở các tuần thứ
5, 8, 12, 19, 26, 37, 46, 55, 64 và 75 sau sinh), đứa trẻ cần mẹ che chở nên phát
triển tình cảm gắn bó mẹ- con
Những dấu mốc quan trọng là: tuần thứ 5 và thứ 64: ở tuần thứ 5, trẻ “bám víu” lấy mẹ rõ rệt khi có “biến cố”, được xem là nguồn gốc hình thành tình cảm
xã hội đầu đời; ở tuần thứ 64, trẻ bộc lộ nhiều kiểu hành vi được người lớn xem
là “làm trò”, trẻ bị hấp dẫn bởi những người xung quanh ngoài khu vực nhà của mình, bắt đầu nhạy cảm hơn trước đối với lời nói và ngữ điệu của người thân, nhạy trong bắt chước cử chỉ của người khác, có thể chơi đóng vai giả bộ hàng ngày, “thực tập” biểu hiện cảm xúc, đòi được quan tâm, có thể biết cách “xâm lấn” những người hay chiều chuộng mình
-Những trải nghiệm: những trải nghiệm biến thành kinh nghiệm sau một
thời gian tích lũy, nhờ kinh nghiệm mà trẻ nhận biết người thân quen, những hành vi có thể làm hoặc bị cấm, cách thể hiện cảm xúc
-Thời lượng cùng hoạt động mẹ- con, chất lượng của mối quan hệ mẹ- con
có ảnh hưởng quan trọng lên sự phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội của trẻ
-Giới tính: Cách thể hiện tình cảm của trẻ trai rất khác với của trẻ gái Định hướng tổ chức hoạt động giáo dục tình cảm và kỹ năng xã hội cho trẻ trước 6 tuổi:
-Phụ huynh cần được tuyên truyền sâu rộng về các dấu mốc ở những độ tuổi dự đoán được, đặc biệt là cách người thân cần đáp lại những nhu cầu tình cảm và giao lưu của trẻ để ngăn ngừa những hành vi không đúng ở trẻ
-Tình thương, chất lượng giao tiếp với trẻ và thời lượng ở bên cạnh trẻ là những trọng tâm cần hướng sự quan tâm của cha mẹ và giáo viên mầm non vào
đó
Trang 21Sự phát triển tưởng tượng có liên hệ tới hoạt động sáng tạo như thế nào?
Khi não liên kết những thành phần nào đó với nhau, thì chủ thể tưởng tượng Trong đời thường, người ta xem điều tưởng tượng là không thực Nhưng trong tâm lý học, khi bàn về tưởng tượng và hoạt động sáng tạo ở trẻ em, Vygotsky L.S., tưởng tượng có cội nguồn từ trong đời sống thực vì nội dung tưởng tượng cũng vẫn là từ đời sống; có mối quan hệ qua lại giữa tưởng tượng
và kinh nghiệm sống của trẻ Để hiểu được cơ chế tâm lý của tưởng tượng và hoạt động sáng tạo, theo Vygotsky L.S, cần bắt đầu tử việc làm rõ mối quan hệ giữa tưởng tượng và thực tiễn trong hành vi người; cách đặt vấn đề này là do mỗi nội dung tưởng tượng đều được hình thành từ thực tiễn (từ kinh nghiệm của
chủ thể) bằng cơ chế kết hợp các biểu tượng của trí nhớ; có 4 cách căn bản để hành động tưởng tượng kết hợp với thực tiễn:
-Cách thứ nhất: bất cứ gì được tạo nên bởi tưởng tượng đều có căn cứ từ
thực tiễn, từ kinh nghiệm của chủ thể; nhưng trong sản phẩm của tưởng tượng
có những yếu tố vừa là thực vừa lại không còn thực Nếu đó là sự chế biến
không căn cứ thì không gọi là tưởng tượng mà là ảo tưởng
- Cách thứ hai: chủ thể có thể tưởng tượng về cái chưa từng thấy trước đó,
có thể có khái niệm trong đầu khi nghe mô tả- phân tích từ người khác về điều chủ thể chưa từng biết
- Cách thứ ba: mối quan hệ qua lại giữa tưởng tượng với cảm xúc
- Cách thứ tư: cũng là mối quan hệ giữa tưởng tượng và thực tiễn; trong
trường hợp này, cấu trúc của tưởng tượng cho thấy có yếu tố rất mới- chưa từng thấy có trước đó và với đối tượng chưa từng tồn tại trong thực tiễn; nhưng sau
Trang 2235
khi kết hợp thì tác phẩm cuối cùng cũng có hình thái vật chất (material form)
nên trở thành thực như những vật khác trong môi trường xung quanh
Định hướng tổ chức hoạt động sáng tạo cho trẻ trước 6 tuổi:
-Trẻ cần được cảm nhận nhiều về thế giới xung quanh để tích lũy biểu tượng
-Những hoạt động giàu cảm xúc rất cần cho trẻ em, như: kể chuyện, đóng kịch, chơi đóng vai, là những hoạt động tiềm tàng nhiều cơ hội tưởng tượng sáng tạo cho trẻ
-Đảm bảo nguyên tắc phát triển khi tổ chức các hoạt động tưởng tượng- sáng tạo: nâng dần từ cách kết hợp thấp đến cao giữa tưởng tượng với thực tiễn
Tóm kết bài hai:
Nội dung bài hai hướng người học đến những vấn đề về mối quan hệ qua lại giữa sự phát triển tâm lý của trẻ và hoạt động, giữa cơ chế phát triển tâm lý và định hướng tổ chức hoạt động
Việc phân tích để hiểu cơ chế phát triển tâm lý theo các lĩnh vực phát triển cung cấp cho người học những tri thức căn bản cần thiết cho những khả năng ứng dụng tâm lý học trẻ em vào hoạt động giáo dục trẻ trước 6 tuổi Sẽ rất hữu dụng khi người học tự bồi dưỡng sâu hơn về cơ chế sinh học của sự phát triển tâm lý này
Trang 2336
Bài ba
KHẢ NĂNG TƯƠNG TÁC VỚI HIỆN THỰC CỦA TRẺ EM
Như đã biết, hoạt động có bản chất là sự tương tác tích cực của trẻ với hiện thực xung quanh nhằm đạt được các mục đích hoạt động - mục đích này có thể
do trẻ tự đề ra hoặc do người lớn yêu cầu
Có hai vấn đề:
1/ Trẻ trước 6 tuổi có khả năng tương tác với những gì?
2/ Có phải những khả năng tương tác này sẽ luôn xảy ra trong hoạt động của trẻ? Những điều kiện nào sẽ thuận lợi cho sự xảy ra các khả năng tương tác này ở trẻ trong từng độ tuổi?
Để giải quyết hai vấn đề này, cần tìm hiểu lý thuyết về khả năng và hiện thực, vai trò của giáo dục lên khả năng tương tác của trẻ với hiện thực, khả năng tương tác của trẻ với hiện thực trong độ tuổi- đặc biệt xem xét trong hoạt động
chủ đạo
I.Hiện thực- khả năng tương tác với hiện thực
Các k hái niệm “khả năng”, “hiện thực” :
“Hiện thực” không đồng nghĩa với khái niệm “hiện thực khách quan” Hiện
thực khách quan là khái niệm chỉ các sự vật, vật chất tồn tại độc lập với ý thức của
con người, còn hiện thực bao gồm cả những sự vật, hiện tượng vật chất đang tồn tại một cách khách quan trong thực tế và cả những gì đang tồn tại một cách chủ quan
trong ý thức của con người
“Khả năng và hiện thực” là một cặp phạm trù trong phép biện chứng duy vật, “được dùng để phản ánh mối quan hệ biện chứng giữa những gì hiện đang
Trang 2437
tồn tại (hiện thực) với những gì hiện chưa có, nhưng sẽ có- khi hội đủ các điều kiện tương ứng (khả năng) 12
Khả năng và hiện thực tồn tại trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau, thường
xuyên chuyển hóa lẫn nhau trong quá trình phát triển của sự vật: trong sự vật luôn
chứa đựng khả năng phát triển, cần có những điều kiện thích hợp thì khả năng mới
có thể được thực hiện tức là khả năng trở thành hiện thực; trong hiện thực mới đó
lại nảy sinh khả năng mới, khả năng mới này nếu có những điều kiện lại biến thành hiện thực mới
Để khả năng biến thành hiện thực, thường không chỉ cần một điều kiện mà là một tập hợp những điều kiện
Cùng trong những điều kiện nhất định, ở cùng một sự vật có thể tồn tại nhiều khả năng chứ không phải chỉ một khả năng
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ về: “Tiến trình chuyển hóa của khả năng phát triển thành hiện thực”
Khả năng phát triển I thành hiện thực (tạo nên sự vật- hiện tượng B)
Nhóm khả năng phát triển II (tồn tại trong
sự vật- hiện tượng B) Những điều kiện thích hợp Khả năng phát triển II thành hiện thực (tạo nên sự vật- hiện tượng C)
Trang 2538
Có thể phân nhóm các khả năng như sau:
Nhóm khả năng thực tế: là khả năng thực sự đang tổn tại, do hiện thực sinh ra; Nhóm khả năng tất nhiên: khi hiện thực được phát triển theo quy luật, theo vận
động nội tại của sự vật- hiện tượng, ắt làm phát triển khả năng thành hiện thực; trong đó bao gồm cả 2 dạng khả năng khác nhau (khả năng gần và khả năng xa)
-Khả năng gần (khi đã có đủ hoặc gần đủ các điều kiện để khả năng biến thành hiện thực);
-Khả năng xa (khi chưa đủ điều kiện cần thiết để khả năng này được biến thành hiện thực, còn phải trải qua nhiều bước)
Nhóm khả năng ngẫu nhiên: khi hiện thực phát triển không theo quy luật nội
tại nào vì có những tương tác ngẫu nhiên
Cần hiểu rằng trẻ em có nhiều khả năng tương tác với hiện thực: không chỉ
tương tác với sự vật hiện tượng khách quan, trẻ còn có khả năng tương tác với những tồn tại chủ quan bên trong bản thân Thật vậy, khi tiếp cận với đồ vật hàng ngày, trẻ có những hành động thực hành trên đối tượng vật thể, dưới sự định hướng
và điều khiển của các quá trình tâm lý bên trong; trong quá trình đó trẻ cũng phải thay đổi chính mình: có thể là kiên nhẫn hơn, tập trung chú ý quan sát hơn, khéo tay hơn, tinh mắt hơn,….Kết quả là vừa đạt mục đích, vừa làm biến đổi đối tượng vật thể, vừa tự tác động lên những tồn tại chủ quan của mình
II.Vai trò chủ đạo của giáo dục:
a/Trước khi trẻ thực hiện hoạt động, người lớn cần tổ chức: người lớn tìm tòi
để phát hiện được những khả năng phát triển ẩn tàng bên trong sự vật hiện tượng
(như: hạt có thể phát triển thành cây, loại cây này sẽ không chỉ ra hoa mà còn kết
trái) và suy ra những điều kiện có thể làm bật ra những ẩn tàng đó (như: có đất và có
chậu để gieo hạt, có hạt giống tốt, chí ít phải còn mầm nguyên vẹn bên trong
nhân,…), dự đoán những trở ngại cho khả năng đó (sức nặng, độ cứng của vật so
Trang 2639
với độ tuổi của trẻ; những nhân tố bên ngoài hệ: như nước và ánh sáng, chỗ đặt chậu cây có đủ ánh sáng và thời gian tưới thường xuyên, trẻ chưa có trình độ ước lượng một lượng nước tưới thích hợp…)
b/Từ những điều kiện thuận lợi, người lớn thiết kế ra các bước hành động cho
trẻ (như: xúc đất vào chậu, lựa hạt giống tốt, gieo hạt vào trong đất,…); từ những
trở ngại, người lớn dự đoán tình huống để tổ chức cho trẻ thử xử lý (dọn dẹp để có
chỗ đặt chậu cây thích hợp, chọn ly/ca tưới vừa phải và ra yêu cầu bao nhiêu ca/ly cho mỗi lượt tưới chậu cây,…)
c/Sau khi trẻ tương tác với hiện thực, người lớn cần hình dung ra bối cảnh mới
với sự vật hiện tượng đã biến đổi thành hiện thực mới, (như: hạt đã nẩy mầm, cây đang ra nhiều lá, lá đang lớn dần lên,…); nhìn ra được những khả năng mới (cây lớn
cần lớn lên, thân to hơn, táng lá rộng hơn,…), dự trù những điều kiện mới để khả
năng mới được biến thành hiện thực (cần có chậu to hơn, chỗ rộng hơn và hứng
được ánh nắng nhiều hơn,…)
d/Nhưng không phải bất cứ đứa trẻ nào thực hiện hoạt động (như trong thí dụ trên- là hoạt động gieo trồng) cũng sẽ được phát triển tâm lý; ngoài chậu, bình tưới,
xẻng xúc đất,…chắc chắn trẻ cần những điều kiện khác nữa để khả năng phát triển
tâm lý trở thành hiện thực Đó là những tác động sư phạm, như: nêu ra tình huống
có vấn đề cho trẻ suy nghĩ, câu gợi mở khi trẻ thử- sai nhiều lần vẫn thất bại, thậm chí làm mẫu một công đoạn, khen ngợi,…Nếu không có những tác động sư phạm này, nhiều trẻ em chỉ trồng cây vì vui và lạ, rồi chóng chán khi công việc trở thành quen tay
-Khi giáo viên được trang bị tri thức về nhiều dạng khả năng khác nhau; hơn
ai hết họ ý thức nhu cầu lên kế hoạch để tổ chức cho trẻ hoạt động; việc lên kế hoạch ngắn hạn hoặc dài hạn, gồm vài bước hay nhiều giai đoạn lớn…là phụ thuộc vào khả năng chuẩn bị điều kiện cho đủ để trẻ có thể bắt đầu thực hiện hoạt động
III.Khả năng tương tác với hiện thực của trẻ em trong hoạt động chủ đạo:
Trang 2740
Theo tâm lý học Xô Viết, trong mỗi độ tuổi, có dạng hoạt động quyết định
sự hình thành và phát triển những tâm lý đặc trưng của độ tuổi, gọi là hoạt động chủ đạo13
; dạng hoạt động chủ đạo còn những dạng hoạt động khác nhưng chúng chỉ giữ vai trò thứ yếu và có những phụ thuộc nhất định vào hoạt động chủ đạo
Từ 0- 6 tuổi, là giai đoạn có nhiều hoạt động chủ đạo nhất trong đời người; trong suốt quãng thời gian còn lại sau 6 tuổi, con người chỉ trải qua 3 dạng hoạt động chủ đạo: học- lao động- nghỉ ngơi Dưới đây là bảng liệt kê các hoạt động chủ đạo ở trẻ em trước 6 tuổi:
Bảng 3.1 Các dạng hoạt động chủ đạo của trẻ em từ 0- 6 tuổi
(Từ sơ sinh đến 2
tháng tuổi)
(Từ 2- 12 tháng tuổi)
(Từ 12- 36 tháng tuổi)
(Từ 3- 6 tuổi)
Hoạt động chủ đạo có những đặc điểm sau đây:
a/Có đối tượng mới, đối tượng này tạo ra những cấu tạo tâm lý mới
b/Có khả năng chi phối toàn bộ đời sống tâm lí của trẻ: cải tổ lại những quá trình tâm lí của trẻ, làm phát triển mạnh mẽ các chức năng tâm lý, làm biến đổi
về chất của hầu hết các quá trình tâm lý
c/Đến cuối độ tuổi, nếu trẻ được giáo dục đúng hướng thì trong hoạt động chủ đạo sẽ hình thành những tiền đề của hoạt động chủ đạo mới của độ tuổi kế tiếp
Nếu trong giai đoạn phát triển nào đó, hoạt động chủ đạo không được thực hiện tốt thì dù các hoạt động khác có thể được tổ chức rất tốt cũng không bù đắp được sai sót của giai đoạn ấy và ảnh hưởng cả đến sự phát triển của giai đoạn sau
Những khả năng tương tác của trẻ với hiện thực trong và thông qua
hoạt động chủ đạo:
13 [23, 326]
Trang 2841
Ở mỗi hoạt động chủ đạo, có những đặc trưng trong quan hệ tương tác của trẻ em đối với hiện thực
a/Trẻ em trước 1 tuổi có nhiều khả năng tương tác và trở thành gắn bó với
mẹ, với những người trực tiếp chăm sóc mình Khả năng này được hỗ trợ bởi văn hóa gia đình- là một môi trường đặc biệt rất phù hợp với sự phát triển của trẻ thơ, một môi trường an toàn về mặt tâm lý lẫn mặt thể chất Tình thương và sự chăm sóc tận tụy là điều kiện tất yếu cho sự chuyển hóa khả năng này thành hiện thực,ngoài ra cũng cần những điều kiện khác như: có đủ thời gian giao tiếp mẹ- con; chất lượng giao tiếp mẹ- con
Theo Mary Ainsworth, chất lượng giao tiếp có biểu hiện rõ rệt là trẻ cảm thấy được thỏa mãn nhu cầu gắn bó với mẹ; là kết quả của một quá trình
mẹ vuốt ve để da được tiếp xúc da với con hàng ngày và hàng tháng và kéo dài cả 1 đến 2 năm đầu đời của trẻ, của giao tiếp bằng lời nói và ngữ điệu
âu yếm của mẹ dành cho con, giao tiếp bằng mắt và biểu cảm mặt với con
b/Khi trẻ em lớn hơn 1 tuổi, thậm chí kéo dài từ 2- 6 tuổi, theo Enconhin
D.B., có 3 dạng quan hệ của trẻ em đối với hiện thực là: trẻ tương tác với đồ vật; trẻ tương tác với người lớn và tương tác với bạn Điều kiện tất yếu để 3 khả năng
tương tác này được biến thành hiện thực là: tổ chức được một môi trường tương hợp với đối tượng của hoạt động chủ đạo trong độ tuổi; người lớn không còn ở vị trí của đối tượng nữa, họ lùi về bình diện phía sau- trở thành người cung ứng phương tiện hoạt động cho trẻ, giao tiếp, khi cần thiết thì họ điều khiển hoạt động của trẻ
Phân tích bản chất của hoạt động chủ đạo cụ thể trong từng độ tuổi, chúng
ta còn có thể rút ra những khả năng tương tác khác của trẻ với hiện thực, đó là:
-Hoạt động giao lưu cảm xúc trực tiếp: trong mỗi đứa trẻ tiềm tàng sự phát
triển cảm xúc, khi mẹ cung ứng đủ điều kiện thì nó sẽ “bộc” ra, tức là trẻ tác
động lại với mẹ, đặc biệt sau 2 tháng tuổi trẻ “bộc” ra phức cảm hớn hở ; bằng
cách này chính trẻ cũng làm mình hấp dẫn mạnh đối với mẹ, làm mẹ gắn bó với
Trang 2942
mình hơn và trẻ cũng gắn bó mẹ hơn Những động tác từ phía trẻ không tự thân xảy đến, mà phải có những điều kiện, đó là: sự âu yếm của mẹ kiểu mặt đối mặt,
da kề da, nói với âm điệu nựng nịu trẻ,…
-Hoạt động với đồ vật: ở đứa trẻ sau 12 tháng tiềm tàng khả năng biết thử-
sai và học cách sử dụng một số đồ vật đơn giản xung quanh mình, khả năng hiểu chức năng chính của chúng; chỉ cần trẻ tích lũy đủ các điều kiện thì sẽ chuyển những khả năng hoạt động với đồ vật thành hiện thực Điều kiện cho hoạt động này là kỹ năng tri giác nhìn và trí nhớ chuỗi vài hành động với đồ vật, sự sử dụng
đồ vật bởi người lớn xung quanh trẻ và có những đồ vật này ở gần trẻ
-Hoạt động chơi: trẻ sau 2 tuổi, đặc biệt sau 3 tuổi có tiềm năng tái tạo lại
sinh hoạt của người lớn xung quanh, từ hành vi đến lời nói và thái độ Điều kiện
để những khả năng này thực thi là: trẻ có kỹ năng sử dụng đồ vật, đồ chơi; trong lớp và ở gia đình của trẻ có môi trường vật thể phong phú, đặc biệt là những đồ dùng sinh hoạt và những công cụ, trẻ thường xuyên có nhiều cơ hội quan sát sinh hoạt của người lớn
Tóm tắt bài ba:
Nếu ở bài hai chúng ta xem xét cơ chế của sự phát triển tâm lý trẻ em theo từng lĩnh vực và đưa ra những định hướng tổ chức hoạt động cho trẻ, thì ở bài ba chúng ta bổ sung thêm một cơ sở lý thuyết khác, nhằm giúp người học hiểu cụ
thể hơn về các khả năng tương tác với hiện thực của trẻ em trước 6 tuổi, đồng thời chỉ ra những điều kiện cần có đủ để các khả năng phát triển này được thực
thi
Trang 3043
Tóm tắt chương một
Chương một đưa ra 3 cơ sở lý thuyết quan trọng trong tâm lý học trẻ em: 1.Những quan điểm nghiên cứu về hoạt động của trẻ em
2.Hoạt động và sự phát triển tâm lý của trẻ em
3.Khả năng tương tác với hiện thực của trẻ em
Đặc biệt xem xét những khái niệm công cụ của vấn đề mối quan hệ giữa hoạt động và sự phát triển tâm lý trẻ trước 6 tuổi, cung ứng cơ sở lý thuyết từ hai phía của mối quan hệ này:
a/cơ chế của sự phát triển tâm lý trẻ em theo từng lĩnh vực và đưa ra những định hướng tổ chức hoạt động cho trẻ;
b/các khả năng tương tác với hiện thực của trẻ em trước 6 tuổi, đồng thời chỉ ra những điều kiện cần có đủ để các khả năng phát triển này biến thành hiện thực
Với những kiến thức cơ sở của chương một, chúng ta sẽ lĩnh hội tốt hơn các chương sau
Trang 3144
Chương hai
SỰ PHÁT TRIỂN CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA TRẺ EM
TỪ 0- 12 THÁNG TUỔI
Hai dạng hoạt động được tìm hiểu:
1.Hoạt động giao lưu cảm xúc trực tiếp là hoạt động chủ đạo
2.Các hoạt động khác trong độ tuổi từ sơ sinh đến 12 tháng
Trang 32I.Nhu cầu giao lưu cảm xúc trực tiếp với mẹ
Trẻ cần được bao bọc bởi tình thương yêu của những người thân, nhất là của
mẹ đẻ Trẻ sơ sinh không thể sống sót dù chỉ vài ngày nếu không được sự chăm sóc
và quan tâm liên tục của người lớn Nhiều nghiên cứu cho thấy chính nhờ sự giao tiếp mà tâm lý của trẻ được phát triển bình thường, đặc biệt là trong giai đoạn từ 2-
12 tháng tuổi, sau khi bé đã trải qua giai đoạn tiếp nhận dinh dưỡng (bú)- ngủ- nghỉ
ngơi Theo Sarah Blaffer Hrdy14, trẻ sơ sinh vốn có nhu cầu được mẹ âu yếm, được
ấm áp bên mẹ Nhu cầu hầu như mang tính bản năng: khi chưa được sinh ra phôi thai gắn liền cơ thể với mẹ, thích ứng với cơ thể và nhịp sống của mẹ; khi sơ sinh bé tiếp tục tìm kiếm sự an toàn, sự ấm áp từ thân nhiệt của mẹ để thích ứng cuộc sống bên ngoài
Mẹ và bé cần giao tiếp hàng ngày Chất lượng giao tiếp cần được người mẹ chủ động nâng cao, bằng cách biểu lộ cảm xúc và những hành động giao tiếp tích cực, chúng sẽ gây phản ứng giao tiếp tích cực ở con Người mẹ được khuyến khích cúi xuống để mặt đối mặt với bé, cười với bé, cầm lấy tay hay chân của bé, trò chuyện cưng nựng với bé Các nghiên cứu tâm lý cho thấy rằng kết quả của chất lượng giao tiếp này là sự xuất hiện sớm dạng phản ứng rất mạnh mẽ ở bé: bé cười
14 [16]
Trang 33II.Sự phát triển tâm lý của trẻ trong hoạt động giao lưu cảm xúc trực tiếp
Ở nhiều nước tiên tiến, ngay sau khi ra đời, trẻ được giữ da kề da với cơ thể
của mẹ càng sớm càng tốt, càng thường xuyên càng tốt
Những quan sát khoa học của Piaget cho ta bức tranh tỉ mỉ hơn về sự giao tiếp cảm xúc có liên quan tới hoạt động nhận thức ở trẻ nhỏ:
Từ sơ sinh đến hơn 10 ngày tuổi, trẻ đã ngừng khóc để lắng nghe một cách
thích thú đối với tiếng nói và sau 1 tháng thì bé tìm kiếm và thử định vị nó, khi hơn
1 tháng tuổi nhiều bé đã biết mỉm cười khi nhìn thấy mẹ và lắng nghe tiếng mẹ nói Piaget cũng giải thích về kích thích từ gương mặt người: gương mặt người mang cùng lúc hai tính chất: có thể được nhận ra (hữu hình) và sinh động (biểu cảm); nên gương mặt người là kích thích cao độ nhất đối với thị giác của trẻ sơ sinh- trẻ thường mỉm cười khi nhìn ra gương mặt nhiều hơn so với nhìn ra đồ vật Mới 1 tháng tuổi, bé mỉm cười với một người (là mẹ hoặc người chăm sóc bé hàng ngày), đầu nghiêng về hướng nhìn thấy mặt mẹ và phát ra những âm lặp đi lặp lại Gần 2 tháng tuổi thì bé vừa trông thấy mặt mẹ đã cười
Nụ cười, tuy là một cơ chế phản xạ (nó liên kết với trạng thái khoái cảm),
nhưng nụ cười tạo được ký hiệu xã hội mang những nghĩa rất khác nhau và luôn liên
quan tới việc tiếp xúc của người với người
C Buhler cho rằng nụ cười là tuy là một ứng xử xã hội nhưng lại mang tính di truyền, “ngay từ đầu nó đã tạo nên một phản ứng với những con người” 15
Tuy vậy,
Piaget phản bác quan điểm này, ông khẳng định cơ chế của nụ cười như sau: nụ
cười là phản ứng khi trẻ nhận ra nét mặt quen thuộc, sự biểu cảm trên đó; tức là lúc
15 [1, 28]
Trang 3447
ấy trẻ chịu sự kích thích từ bên ngoài nên cười Tiếp theo, từ 3 tháng tuổi, bé chủ động cười với những đối tượng thân quen Thí dụ: bé nhận ra (nhận lại) người cha của mình dù cha đang đứng yên, nhưng không cười với người hàng xóm đang “làm trò” cho bé cười Đến 4 tháng tuổi, khi gặp người không thân quen, bé có thể vẫn thể hiện sự thích thú, trẻ thích thú với trẻ em hơn là với người lớn
Từ 6 tháng tuổi: Trẻ thể hiện rõ sự gắn bó với người lớn và nhạy cảm hơn
trong các mối tương tác xã hội, đặc biệt là gắn bó với người chăm sóc thường xuyên cho mình Trong giai đoạn tập bò và tập đi, bé càng dựa vào mẹ như một chỗ dựa an toàn để từ đó khám phá thế giới xung quanh Về sau, sự gắn bó mẹ- con giúp chuẩn
bị tiền đề vững chãi cho hoạt động của các giác quan, sự phát triển ngôn ngữ, tập biểu cảm và hiểu cách biểu cảm của người trên gương mặt; muốn vậy não cần những kích thích đúng để phát triển nên ngay trong thời kỳ “da kề da”với con mình, người mẹ đã cần phải hướng trẻ tới những đồ vật xung quanh
Tâm lý học Xô Viết nghiên cứu sâu sắc về hoạt động giao lưu với người lớn của trẻ trước 12 tháng, đưa ra những kết quả sau đây:
-Nhu cầu giao lưu: nhu cầu giao lưu phát sinh tự nhiên ở trẻ, do “bản chất con
người không thể sống còn nếu thiếu giao lưu”; ngoài ra chính sự giao tiếp đúng mực giữa những người thân, người chăm sóc trẻ hàng ngày cũng có thể hình thành và phát triển ở trẻ nhu cầu giao lưu với họ
-Động cơ giao lưu: Hoạt động giao lưu của trẻ bắt nguồn từ động cơ của người
mẹ và người thân: người mẹ từng ngày mong mỏi bé chào đời; sau khi sinh, người
mẹ không ngừng biểu cảm với con trong khi chăm sóc bé; những người xung quanh
bé cũng nỗ lực kích thích để bé có phản ứng với họ;…chúng hình thành hệ động cơ giao tiếp của chính đứa trẻ: đáp ứng biểu cảm, đáp ứng cử chỉ- lời nói, hưởng ứng hành động của mẹ, của người thân…
-Những mục đích giao lưu: động cơ giao lưu được xem là những mục đích
chung, từ mục đích chung này phân định ra những mục đích giao lưu cụ thể mà các hành động giao lưu hướng vào Để thực hiện những hành động này, trẻ làm nhiều
Trang 351.3 Lần lượt lắng nghe/đáp trả kích thích xã hội
1.3.1 Tập trung duy trì chú ý nhìn- nghe, phát âm thanh-biểu cảm-động đậy
1.3.2 Tổng hợp của (1.1.2) và (1.2.2)
2.1.1 Kêu, hướng mắt nhìn về phía đó, khua chân tay
2.1.2 Cơ thể, tiếng kêu (có thể là âm, hoặc tiếng nói đơn), tiếng khóc
2.2 Bộc lộ nhu cầu
“được giúp sử dụng
đồ vật”
2.2.1 Kêu, hướng mắt nhìn về phía vật, nắm/mở các ngón tay
2.2.2 Bàn tay, các ngón tay, tiếng kêu thậm chí tiếng khóc 2.3 Bộc lộ cảm xúc
tích cực (được thỏa mãn) khi đang giữ được đồ vật/khi được giúp sử dụng đồ vật
2.3.1 Cười, tiếng kêu thỏa mãn, chăm chú quan sát vật, khảo sát kiểu ngẫu nhiên hoặc có thử- sai đơn giản
2.3.2 Đồ vật, đồ chơi, Bàn tay, các ngón tay, tiếng kêu vui thích
III.Lý thuyết gắn bó mẹ- con
Có nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới tìm hiểu vấn đề nhu cầu được gắn bó của trẻ với mẹ Mary Ainsworth chứng minh rằng trẻ sơ sinh có nhu cầu bẩm sinh
được gắn bó mới mẹ; Sarah Blaffer Hrdy khẳng định rằng trẻ sơ sinh có bản năng được âu yếm, sống ấm áp bên mẹ đẻ ra mình16, bác sỹ René Spitz17
Trang 3649
những bước ngoặt gây sốc trong sự phát triển cảm xúc- tình cảm của thai nhi và trẻ
em trong những năm đầu đời Theo đó, có thể khẳng định rằng:
1/ Cộng sinh cảm xúc (Emotional Attachment and Bonding) là sự liên kết mạnh mẽ về mặt cảm xúc, tình cảm, tạo nên sự gắn bó sâu sắc giữa trẻ và người chăm sóc chính thông qua cử chỉ, lời nói… Từ đó góp phần vào quá trình phát triển
ổn định về mặt tâm, sinh lý của trẻ
2/Có ba nhóm lý do dẫn tới nhu cầu được gắn bó với mẹ của phôi thai và của trẻ sơ sinh:
Nhóm lý do thứ nhất: Để thích ứng tự nhiên với nhịp sống của cơ thể mẹ: Do
phôi thai gắn liền với cơ thể mẹ nên thích ứng tự nhiên với nhịp tim, nhịp thở, với các cử động hàng ngày, với mùi,… của mẹ Trẻ dễ dàng cảm nhận được mọi thứ của mẹ do được bao bọc bên trong tử cung, sự ấm áp của cơ thể, nhịp tim, âm thanh của nước ối và âm thanh từ ngoài được truyền qua nước ối, giai điệu của giọng nói… của người mẹ
Nhóm lý do thứ hai: Trẻ sơ sinh gắn bó với mẹ để tiếp nhận chất dinh dưỡng,
để được bảo vệ (giữ ấm áp, rửa ráy, ở nơi không có nguy hiểm…), được bảo bọc (được âu yếm, được nhìn thấy mẹ và nhận được sự biểu cảm thân ái của mẹ,…) như mọi động vật khác
Nhóm lý do thứ ba: Trong năm đầu, trẻ biến đổi liên tục các dạng thức vận
động nên phải tựa vào mẹ để thích ứng được với sự phát triển vận động tự nhiên của
cơ thể: nằm chuyển thành lẫy, rồi chống hai tay nhấc phần thân trên khi ở tư thế nằm sấp, chuyển thành ngồi, ngồi chuyển thành bò, bò chuyển thành đứng chựng rồi bước đi Ngoài ra, trẻ hầu như dựa hoàn toàn vào mẹ để được tiếp cận các không gian khác nhau, khám phá TGXQ
3/Những bước ngoặt gây sốc cảm xúc ở thai nhi và trẻ nhỏ: khi thai nhi di chuyển qua các bộ phận cơ thể của mẹ để ra ngoài, khi bắt đầu đời sống thở bằng
phổi trong không khí, khi bị tách rời khỏi mẹ, khi mất sự tương tác tình cảm với mẹ
trong quá trình bú mẹ, khi không được tương tác tình cảm với người cha, sự thay đổi môi trường sống trong những cơn sốc cảm xúc đó, trẻ cảm thấy mình “chơi vơi” và không thể tự làm gì để đáp ứng nhu cầu của mình
Trang 3750
4/Trẻ thể hiện tính chọn lọc rất sớm trong giao lưu- ưu tiên gắn bó với mẹ hơn
là với những người thân khác Với những người thân khác trẻ có thể gắn bó, khi họ thể hiện được sự đáng tin cậy đối với trẻ
5/Sự phát triển tình cảm gắn bó với mẹ ở trẻ trước 12 tháng tuổi:
- Quan hệ qua xúc giác được xuất hiện sớm nhất, giúp tạo cảm giác an toàn ở trẻ sơ sinh Trẻ cảm thấy dễ chịu, thoải mái khi ngửi mùi hương của mẹ, nếm vị sữa
và đầu ngực mẹ, nghe tiếng nói, giọng ru, nét mặt nụ cười của mẹ
-Trẻ 8 tuần tuổi có vài cách làm để gây sự chú ý của người chăm sóc mình (cười, “làm mưa”, khóc,…); có “phức cảm hớn hở”
-Từ 2- 6 tháng: Trẻ thể hiện nhiều hơn nữa các phản ứng với người lớn trong quá trình được họ chăm sóc; phân biệt được người quen- người lạ; có thể chủ động giao tiếp với mẹ bằng phi ngôn ngữ thông qua sự tác động qua lại giữa thân thể của mình và của mẹ
-Từ 6 tháng: Trẻ gắn bó có tổ chức, có chủ định với những người “đảm bảo được sự an toàn cho trẻ”; khi bệnh hoặc khi cảm xúc tiêu cực thì ở trẻ bộc lộ sự gia tăng nhu cầu gắn bó với người thân
6/Những biểu hiện cần có ở mẹ nhằm gia tăng chất lượng giao tiếp với con:
-Tâm lý mẹ ổn định, chờ mong con chào đời Mẹ và cha phải có trách nhiệm
và tình yêu với con mình từ lúc bé còn trong bụng mẹ: cả hai thường xuyên nói chuyện với con trong bụng mẹ- đặc biệt sau tháng thứ 5, cho thai nhi nghe mẹ hát
Trang 3851
a/Quá trình tiếp xúc qua xúc giác với nhũ nhi nên được bắt đầu bằng việc quan sát tỉ mỉ những đầu ngón tay của bé, rồi quan sát khuôn mặt và ôm chặt nhũ nhi; b/Khuynh hướng giữ nhũ nhi phía bên trái cơ thể cho dù mẹ có thuận tay hay không, đảm bảo vị trí mặt đối mặt với bé, nhìn âu yếm và trực diện vào mắt của bé c/Khuynh hướng cất cao giọng khi hướng về nhũ nhi
d/Có những yếu tố cản trở giao lưu cảm xúc giữa mẹ- con: Theo kết quả nghiên cứu tâm lý đã nêu trên, có thể rút ra những yếu tố cản trở giao lưu cảm xúc giữa mẹ- con, đó là:
Sức khỏe của mẹ trước- trong khi mang thai- sau khi sinh con
Tình trạng thiếu ổn định hạnh phúc giữa cha- mẹ, tâm lý không mong đợi có con của mẹ
Tình trạng không đủ lượng và chất giao lưu cảm xúc trực tiếp giữa mẹ- con trong thời kỳ mang thai hay sau khi sinh
Vấn đề sức khỏe không đạt ở thai nhi và trẻ nhỏ: những vấn đề không ổn về sức khỏe của thai nhi, trẻ có vấn đề về sinh lý (não bộ); trẻ nhẹ cân khi mới sinh,
Tóm kết bài bốn: Giao lưu cảm xúc trực tiếp với con của mình cần được cả
người bố lẫn người mẹ quan tâm từ trong thời kỳ người mẹ mang thai và cần thực hiện đúng hướng, đúng cách
Trang 39sẽ đặc biệt phát triển trong tương lai, như : hoạt động với đối tượng, hoạt động chơi, hoạt động tạo hình, xây dựng, học và lao động
Về phần mình, những yếu tố tâm lý đó được hình thành và được kích thích phát triển trong chính các hoạt động hàng ngày
Trẻ càng nhỏ, càng có nhiều yếu tố tâm lý được hình thành Do vậy, người giáo viên phải biết hoạt động nào cần được tổ chức ở độ tuổi nào và những yếu tố tâm lý nào được hình thành trong khi hoạt động đó diễn ra…Những nội dung này được xem xét dưới đây, dành cho độ tuổi từ 0- đến 12 tháng
I Sự phát triển từ phản xạ thành năng lực điều ứng ở trẻ nhỏ:
Theo kết quả của rất nhiều quan sát của J Piaget18
, sau khi ra đời đứa trẻ có
thể thích nghi ở cả hai dạng: thích nghi do di truyền và thích nghi do học tập
Nhờ thích nghi do học tập mà trẻ học được những thói quen, có những phản xạ
có điều kiện, có những hành động có chủ định Công việc giáo dục trẻ em, do
vậy, đòi hỏi giáo viên nắm vững cơ chế của quá trình thích nghi do học tập
Theo Piaget, sự luyện tập là hình thức hoạt động rất hiệu quả để thúc đẩy
trẻ phát triển Ông chỉ ra nguyên tắc phát triển trong quá trình được luyện tập: từ
18
[10]
Trang 4053
phản xạ thuần túy đến phản ứng quay lại (phản ứng vòng tròn) và từ đó chuyển sang sự điều ứng do học tập Piaget nhấn mạnh rằng sự điều ứng là một bộ phận rất quan trọng trong cấu trúc của sự học
Những ý tưởng trên được tóm tắt qua sơ đồ đơn giản dưới đây:
Sơ đồ 5.1 Sơ đồ đơn giản về “Sự di chuyển từ phản xạ đến điều ứng”
Trong quá trình thích nghi do học tập, ở trẻ được hình thành những “liên kết do học tập”
Piaget hiểu “học” theo nghĩa thích nghi, với quan niệm này ông khẳng định
việc học xảy ra rất sớm ở trẻ Piaget quan sát thấy những liên kết do học mà có sau đây ở trẻ nhỏ: sự mút các ngón tay, sự nhìn, sự phát âm và sự nghe …là những cơ sở phát triển trí khôn của trẻ sau này
Kết quả quan sát trên thu nhận được ở rất nhiều trẻ em, cho phép Piaget khẳng định trẻ từ 3 – 4 tháng tuổi đã chuyển từ phản xạ mút sang phản ứng quay lại và có năng lực điều ứng
Phản xạ Phản ứng quay lại Điều ứng