1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Giảng dạy đặc trưng văn hóa giao tiếp cho học viên nước ngoài qua môn tiếng Việt trong nhà trường quân đội hiện nay

13 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 388 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phạm vi của bài viết đề cập đến nội dung văn hóa giao tiếp qua môn tiếng Việt, xác định cách tiếp cận mô hình và các phương pháp giảng dạy văn hóa nhằm nâng cao năng lực giao tiếp cho người học trong các nhà trường Quân đội.

Trang 1

NGUYỄN THỊ THUẦN *

* Học viện Khoa học Quân sự,  nguyenthithuan71@gmail.com

Ngày nhận bài: 16/12/2018; ngày sửa chữa: 02/01/2019; ngày duyệt đăng: 25/02/2019

1 MỞ ĐẦU

Nội dung đặc trưng văn hóa Việt Nam được

xác định để giảng dạy cho học viên quân sự nước

ngoài trong các nhà trường Quân đội, bao gồm toàn

bộ những đặc trưng của biểu tầng văn hóa như văn

hóa giao tiếp; văn hóa tín ngưỡng, phong tục, tập

quán; văn hóa ẩm thực; những truyền thống tốt đẹp

của dân tộc… Tuy nhiên, phạm vi của bài viết chỉ

dừng lại ở những đặc trưng văn hóa giao tiếp với

GIẢNG DẠY ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA

GIAO TIẾP CHO HỌC VIÊN NƯỚC NGOÀI

QUA MÔN TIẾNG VIỆT TRONG NHÀ TRƯỜNG

QUÂN ĐỘI HIỆN NAY

TÓM TẮT

Một đặc trưng nổi bật của giảng dạy ngoại ngữ hướng đến năng lực giao tiếp của người học là trang bị cho người học một ngôn ngữ để làm việc chứ không phải nghiên cứu một công trình ngôn ngữ học và thực hành các quy tắc ngữ pháp Phát triển mô hình giảng dạy tiếng Việt nhằm nâng cao năng lực giao tiếp cho người học đặt ra yêu cầu “văn hóa như một tiêu chuẩn trong học tập tiếng Việt” nhấn mạnh vào việc phát triển nhận thức về khung lý thuyết văn hóa và những “quan điểm của nền văn hóa Việt Nam” Nội dung đặc trưng văn hóa Việt Nam được xác định để giảng dạy cho học viên quân sự nước ngoài trong các nhà trường Quân đội bao gồm toàn bộ những đặc trưng của biểu tầng văn hóa như văn hóa giao tiếp; văn hóa tín ngưỡng, phong tục, tập quán; văn hóa ẩm thực; những truyền thống tốt đẹp của dân tộc… cách tiếp cận mô hình và phương pháp giảng dạy vẫn là vấn đề còn nhiều bàn luận Phạm vi của bài viết đề cập đến nội dung văn hóa giao tiếp qua môn tiếng Việt, xác định cách tiếp cận mô hình và các phương pháp giảng dạy văn hóa nhằm nâng cao năng lực giao tiếp cho người học trong các nhà trường Quân đội

Từ khóa: văn hóa giao tiếp, phương pháp giảng dạy, năng lực giao tiếp, học viên nước ngoài,

nhà trường Quân đội

mục đích bàn luận các phương pháp giảng dạy văn hóa nhằm nâng cao năng lực giao tiếp cho người học trong các nhà trường Quân đội Nội dung của bài viết sẽ đi từ xác định đặc trưng văn hóa giao tiếp Việt Nam, những biểu hiện của nó trong ngôn ngữ tiếng Việt để xây dựng những mô hình giảng dạy tích cực và thiết thực cho đối tượng học viên quân sự nước ngoài trong các Nhà trường Quân đội hiện nay

Trang 2

2 XÁC ĐỊNH ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA

GIAO TIẾP VIỆT NAM

Chức năng quan trọng của ngôn ngữ là giao

tiếp và được nảy sinh trong quá trình giao tiếp giữa

con người với con người Cùng với tư duy, ngôn

ngữ được hình thành và con người chuyển sang

hình thức giao tiếp mang tính xã hội có tổ chức đặc

thù riêng, với cơ cấu hoạt động riêng Tính chuẩn

mực hay không chuẩn mực, đúng đắn hay không

đúng đắn, vận động hay không vận động của hoạt

động giao tiếp đều được thể hiện qua văn hóa giao

tiếp Vì thế, với mục tiêu phát triển năng lực giao

tiếp cho người học ngôn ngữ thứ hai, việc hiểu

một cách cặn kẽ những đặc trưng mang tính bản

sắc của người Việt Nam hết sức quan trọng đối với

nhận thức của học viên quân sự nước ngoài ở tất cả

các trình độ sơ cấp, trung cấp và cao cấp

Văn hóa giao tiếp của người Việt Nam được

thể hiện qua nhiều dạng thức và trạng thái vô cùng

phong phú Tựu trung lại, nó được thể hiện qua các

đặc trưng cụ thể sau đây:

2.1 Đặc trưng của một nền văn hóa mang

tính cộng đồng quy định phong cách giao tiếp

của người Việt

Xã hội Việt Nam được hình thành chủ yếu

bằng kiểu sản xuất nông nghiệp mang tính làng

xã So với nhiều dân tộc khác, mô hình làng xã của

Việt Nam là một kiểu tổ chức xã hội đặc biệt, có

tính bền vững cao Trong làng xã và đặc điểm kinh

tế nông nghiệp khiến các thành viên trong xã hội

sống phụ thuộc lẫn nhau và rất coi trọng việc giữ

gìn các mối quan hệ với mọi thành viên trong cộng

đồng Chính “tính cộng đồng này là nguyên nhân

khiến người Việt Nam đặc biệt coi trọng việc giao

tiếp… ưa thích việc giao tiếp” (Trần Ngọc Thêm,

2004, tr.277)

Cũng chính vì ưa thích giao tiếp nên người Việt

rất hiếu khách Khi có khách đến chơi nhà, chủ nhà

luôn thể hiện sự hiếu khách bằng cách dành những

thứ tốt đẹp nhất cho khách; từ một ấm trà ngon chỉ

dành pha tiếp khách, bữa ăn được chủ nhà khiêm

tốn gọi là “bữa cơm rau dưa” thì cũng ắp đầy thức

ăn ngon nhất mà chủ nhà có thể có được Ở thành phố, trong những căn nhà ống chật hẹp hay biệt thự to lớn, phòng khách bao giờ cũng là phòng thể hiện hết tiềm năng kinh tế của chủ nhà Ở nông thôn thì khách đến chơi nhà mà ngủ lại (đặc biệt khi khách là nam giới) thì được mời ngủ tại gian trang trọng nhất của ngôi nhà (gian thờ)

2.2 Đặc trưng của một nền văn hóa mang tính trọng tình, trọng danh, thích sự tế nhị, hài hòa trong giao tiếp

Theo nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm (2004, tr.279), “nguồn gốc văn hóa nông nghiệp với đặc điểm trọng tình đã dẫn người Việt Nam tới chỗ lấy tình cảm, lấy sự yêu ghét làm nguyên tắc ứng xử trong giao tiếp”

Cũng vì trọng tình nên người Việt rất thích quan tâm đến chuyện riêng tư của đối tượng giao tiếp Khi gặp nhau người Việt rất thích hỏi những câu hỏi như “Bố mẹ của bạn có khỏe không?”,

“Bạn có mấy con?”, “Bạn đã lấy vợ chưa?” hoặc

“Lương của bạn có cao không?”, “Bạn làm cho công ty nào?”, “Ở công ty của bạn đãi ngộ có tốt không?”… Đó là những câu hỏi mà nếu không hiểu văn hóa của người Việt, học viên Mỹ, Pháp, Hàn Quốc và cả những học viên trong khu vực Đông Nam Á như Malaysia, Singapore… rất khó chịu khi được hỏi và không muốn trả lời

Những câu hỏi có tính chất riêng tư như là cách dẫn nhập thoải mái, mở đầu cho một cuộc giao tiếp giống như người Anh, người Mỹ, người Pháp… nói về thời tiết, thời trang và cũng là cách người Việt thể hiện sự tế nhị, ý nhị và sự hài hòa trong giao tiếp đã được khái quát thành thói quen giao tiếp “vòng vo tam quốc”(Trần Ngọc Thêm, 2004, tr.282) Chính vì vậy, người Việt có nghi thức lời nói khi chào hỏi ít gặp ở các ngôn ngữ khác Đó là thói quen hỏi để chào, mời để chào Người nước ngoài sẽ không thể hiểu tại sao hai người đi trên hai con thuyền ngược chiều lại mời nhau ăn cơm hay khi gặp nhau thay vì chào buổi sáng, buổi trưa, buổi chiều… người Việt lại hỏi “Anh đi đâu đấy?”

Trang 3

và câu trả lời cũng rất phiếm chỉ “À, tôi đi đằng

này một cái”

3 XÁC ĐỊNH ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA

QUA NGÔN NGỮ VIỆT

Học viên quân sự nước ngoài đến Việt Nam

học tiếng Việt và trải nghiệm văn hóa trong một

khoảng thời gian nhất định theo quy định của các

hiệp định đào tạo của quân đội các nước Nhiệm

vụ của họ là học tập tập trung tại các cơ sở đào tạo

trong các nhà trường Quân đội và như thế, vốn đặc

trưng văn hóa giao tiếp họ tiếp nhận được không

phải thông qua trải nghiệm văn hóa hay trong sự

so sánh giữa văn hóa nguồn và văn hóa đích trong

quá trình tiếp xúc với người bản ngữ mà chủ yếu

từ môn tiếng Việt được học tập tùy theo trình độ

trong các nhà trường Quân đội Vì vậy, để nâng

cao năng lực giao tiếp cho người học, cần xác định

đặc trưng văn hóa giao tiếp qua ngôn ngữ mà học

viên sẽ tiếp nhận trong trong quá trình học tập

Nội dung này được xác định trên những nét lớn

sau đây:

3.1 Thông tin văn hóa trong ngôn ngữ giao tiếp

Thông tin về ngôn ngữ - văn hóa được chia

sẻ và tiếp nhận một cách tự nhiên trong quá trình

sống trong cộng đồng của người bản ngữ, còn đối

với người nước ngoài thì phải qua một quá trình

tích luỹ lâu dài, qua trường lớp và thực tiễn Thông

tin văn hóa trong ngôn ngữ giao tiếp lan tỏa trong

hầu hết các cuộc giao tiếp hàng ngày Loại thông

tin này ngầm ẩn và biểu hiện trong hành vi ngôn

ngữ như chào hỏi, xin lỗi, khen ngợi, hẹn hò, mời

mọc ; hoặc trong từ vựng chuyển tải đặc tính văn

hoá như từ chỉ màu sắc, thân tộc, điều cấm kỵ;

hoặc trong lối nói giảm, nói lịch sự, khiêm tốn,

cách xưng hô tôn kính ; từ hay cách biểu đạt có

khuynh hướng chính trị, phân biệt giới tính, tôn

giáo ; hoặc quan niệm về sự riêng tư, về không

gian, thời gian Những biểu hiện này tạo nên sự

khác biệt và đa dạng về văn hoá, có thể khác nhau

rất nhiều giữa nền văn hoá này với nền văn hoá

khác Việc sử dụng chúng có những điều kiện về

ngữ dụng và văn hoá - xã hội nhất định

Ví dụ như từ “dạ” đặt đằng trước và từ “ạ”

(kính ngữ) ở cuối một phát ngôn thể hiện sự kính trọng và thái độ lịch sự khiêm nhường của người giao tiếp Trong đoạn hội thoại về chủ đề gia đình, học viên đã đưa ra câu hỏi với thầy giáo của mình:

“Thế đây là ai?” Rõ ràng câu hội thoại không

sai về mặt từ vựng và ngữ pháp nhưng chắc chắn người hội thoại đã không thành công trong chiến thuật giao tiếp

Trong một đoạn quảng cáo đã phát trên sóng truyền hình Việt Nam, hoa hậu Mai Phương Thuý đóng vai cô gái xinh đẹp, có mái tóc dài óng mượt được người yêu đưa về ra mắt gia đình Mẹ chàng trai ấn tượng với mái tóc dài suôn mượt của cô gái trẻ liền hồ hởi thăm dò bí quyết làm đẹp của

cô gái: “Cháu duỗi tóc ở tiệm à?” Đáp lại, Mai Phương Thuý trả lời: “À không, chỉ là R (tên nhãn hàng)” Ngay sau khi đoạn quảng cáo này lên sóng truyền hình, nhiều người đã lên tiếng bình luận:

“Câu trả lời của Mai Phương Thuý chỉ hợp để trả lời với bạn bè đồng trang lứa Nhưng đây là trả lời với người lớn tuổi hơn, thậm chí còn là mẹ chồng tương lai, như vậy là vô lễ” (http://giaoduc.net.vn/ Van-hoa/Hau-truong/Cac-ba-me-choang-vi-clip-quang-cao-cua-Mai-Phuong-Thuy-post6744.gd.) Như vậy, trong trường hợp này, những phát ngôn trong hội thoại cũng không sai về ngữ pháp và ý nghĩa từ vựng mà là không phù hợp với nội dung thông tin ngôn ngữ - văn hóa mà cộng đồng đã thừa nhận và trở thành quan điểm trong giao tiếp với người lớn tuổi

3.2 Chuẩn xã hội - ngôn ngữ

Chuẩn xã hội - ngôn ngữ là tập hợp các quy tắc sử dụng ngôn ngữ/phi ngôn ngữ trong một tình huống giao tiếp xã hội nhất định Tiêu biểu là những mẫu câu/phát ngôn hoặc mẫu hành vi được cộng đồng sử dụng trong giao tiếp

Chẳng hạn như chào hỏi, trên bình diện phi ngôn ngữ, người Mỹ thường bắt tay hoặc ôm hôn, người Việt thường cười và gật đầu, người Thái thường chắp tay và cúi đầu Còn trên bình diện ngôn ngữ, người Mỹ thường dùng lời chào có khuôn mẫu cố định trong khi người Việt thì không

Trang 4

Hoặc như cách chào hỏi của người Việt Nam

đã trở thành một nét đặc trưng trong văn hoá

Việt Phương châm xưng hô lịch sự là luôn hướng

tới “xưng khiêm hô tôn”, tức là gọi mình thì khiêm

nhường, gọi người khác thì tôn kính Vì vậy, người

Việt khi muốn giao tiếp với người khác thường qui

chiếu tuổi của người đó với một người trong quan

hệ thân tộc để thiết lập nên các cặp từ xưng gọi sao

cho phù hợp với thói quen văn hoá dân tộc Chẳng

hạn: anh - em, chị - em, bác - cháu, u - con, chú -

cháu, thầy - con Cuộc giao tiếp sẽ trở nên tốt đẹp

nếu chủ thể và đối tượng giao tiếp tuân thủ các yêu

cầu của chuẩn mực giao tiếp như lịch sự, lễ phép,

đúng mực, đúng vai giao tiếp, đúng hoàn cảnh và

tuân theo những quy ước của xã hội và có tính

khuôn mẫu trong văn hóa của người Việt Người

Việt Nam có rất nhiều kiểu chào hỏi Cụ thể:

Thứ nhất, lời chào được thể hiện bằng lời

nói trực tiếp Ví dụ: Chào chị; Cháu chào bà ạ!;

Em chào thầy ạ! Tuy nhiên tuỳ thuộc vào mối

quan hệ thân - sơ hay quan hệ vị thế giữa những

người tham gia giao tiếp mà các đại từ nhân xưng

có sự phân ngôi rất rõ ràng Thêm tình thái từ “ạ!”

vào cuối lời chào thể hiện sự kính trọng của mình

đối với người có vị thế giao tiếp cao hơn Đối với

những người có vai giao tiếp ngang nhau và có mối

quan hệ thân thiết thường là: Chào! Xin chào!

Thứ hai, lời chào được thể hiện gián tiếp Đây

là những lời chào mà người phát ngôn sử dụng

những hành vi ngôn ngữ khác nhau như: hỏi, khen,

đề nghị, nhận xét, chúc, thông báo Muốn giải

mã được những thông tin hàm ẩn, phải dựa vào

nhiều yếu tố, đặc biệt là phải đặt nó trong một môi

trường văn hoá riêng của từng cộng đồng dân tộc

Khi gặp người quen, người Việt thường có thói

quen chào bằng cách đưa ra câu hỏi: Chị đi đâu

vậy?; Em đi học hả?; Chà, lâu quá không gặp!;

Mới đi đâu về đấy? Ở đây, người hỏi mà không

cần nghe câu trả lời của người được hỏi như đặc

trưng của câu nghi vấn Có khi để biểu thị sự quan

tâm, làm tăng thêm mối quan hệ thân tình, gần

gũi thì cách hỏi rất cụ thể về tình hình gia đình,

công việc, sức khoẻ Có khi lời chào kèm với các

tình thái từ (Kìa!, Trời!, Này!, Trời ơi!, A!, Ôi…)

để bộc lộ cảm xúc Ví dụ: A! Mẹ đã về!; Trời ơi!

Anh! Các lời chào này thường kèm thêm các cử

chỉ, điệu bộ như ánh mắt, vẫy tay, vỗ tay… nhằm làm tăng thêm hiệu quả giao tiếp Có khi lời chào được thay bằng lời chúc hoặc lời mời, lời khen,

lời nhận xét Ví dụ: Chúc mừng ông!; Chúc mừng

nhé!; Xin chúc mừng chị! Hoặc là chào bằng lời

mời nhằm bày tỏ lòng hiếu khách: Mời bác vào

xơi cơm ạ! (Khi khách đến chơi chủ nhà đang ăn

cơm) Đáp lại lời chào mời của chủ nhà là lời từ

chối kèm lời cảm ơn: Vâng, cảm ơn ông; Vâng,

mọi người cứ tự nhiên!; Vâng, cảm ơn bác, tôi

ăn rồi.… Có khi lời chào là lời khen, lời nhận xét

như bắt đầu một câu chuyện, tranh thủ tình cảm, biểu thị sự quan tâm, tỏ lòng ngưỡng mộ… Những hình thức chào gián tiếp trên đây chỉ là một thủ tục chào hỏi, nó chỉ có chức năng đánh tiếng trong giao tiếp Nhiều người nước ngoài thấy bối rối và khó xử trước kiểu chào hỏi như vậy nhưng ở Việt Nam ẩn sau lời chào “vòng vo” ấy chính là một lối sống trọng tình, lối sống mang tính cộng đồng của người Việt

Câu chào hỏi của người Việt không có “công thức” cố định mà tuỳ biến theo tình huống, theo quan hệ với người đối thoại Nụ cười đã được người Việt sử dụng vô cùng hiệu quả trong giao tiếp phi ngôn ngữ “Nụ cười là một bộ phận quan trọng trong thói quen giao tiếp của người Việt; người ta

có thể gặp nụ cười Việt Nam vào cả những lúc ít chờ đợi nhất” (Trần Ngọc Thêm, 2004, tr.283) Theo kết quả khảo sát của Tổ chức Gallup International (GIA) về mức độ lạc quan của người dân ở 53 nước trên thế giới năm 2007, người Việt Nam được đánh giá là lạc quan và vô tư nhất thế giới Người Việt dẫn đầu thế giới về mức độ tin tưởng vào tương lai tươi sáng mặc cho những cảnh báo về đám mây lạm phát đã bắt đầu vần vũ trên bầu trời kinh tế đất nước từ năm 2007 và đã biến thành giông bão trong năm 2008

Người Việt luôn thường trực nụ cười trên môi, vui cũng cười, được khen cũng cười, bị phê phán

cũng cười, theo đúng tinh thần “dĩ bất biến ứng

vạn biến” Một dân tộc được thử thách bởi một

Trang 5

lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước suốt bốn

nghìn năm với quá nhiều giai đoạn chiến tranh mất

mát, đau thương, phải đương đầu với biết bao thiên

tai lại là một dân tộc rất hay cười “Suy từ nụ cười,

chúng ta thấy người Việt Nam có một sự quân bình

đặc biệt suốt trong mọi ngành sinh hoạt khiến họ

chấp nhận hợp lý được mọi quan niệm, dung hòa

được mọi ý kiến dị đồng Đời sống của dân tộc họ

dù có chiến thắng vẫn không hân hoan tột độ, và

dù có chiến bại vẫn không bi đát tột cùng” (Trần

Ngọc Thêm, 2004, tr.283)

3.3 Ý nghĩa văn hoá của ngôn từ trong văn

hóa giao tiếp

3.3.1 Từ xưng hô

Đặc điểm cơ bản của từ xưng hô trong tiếng

Việt là có số lượng lớn, không có tính thuần nhất về

cách sử dụng, giàu ý nghĩa tình thái mà ít có ý nghĩa

trung hòa Đây là những đặc điểm làm nên bản

sắc đặc trưng của văn hóa giao tiếp của người Việt

Trong tiếng Việt có nhiều từ phân biệt mối quan

hệ họ hàng hơn người Anh: ông nội/ông ngoại

(grandfather), bà nội/bà ngoại (grandmother),

bác/chú/cậu/dượng (uncle) và cô/dì/thím/mợ

(aunt) Với đặc trưng tôn trọng kinh nghiệm sống,

tôn trọng người già, người Việt coi trọng tuổi tác

nên rất chú ý trong việc chọn từ xưng hô Vì vậy,

thói quen hỏi tuổi trong giao tiếp của người Việt

không phải vì “tò mò” mà có lý do ở óc ưa quan

sát và mong muốn xưng hô cho “phải phép” Cách

xưng hô trong tiếng Việt là một trong những khó

khăn đối với học viên nước ngoài

Trong tiếng Anh, tiếng Nga và tiếng Pháp chỉ

có các từ “you; т ы/ в ы; tu/vous” để chỉ ngôi thứ

hai Còn trong tiếng Việt có thể liệt kê ra một số

lượng lớn các từ như sau: “cụ, ông/bà, bác, bố/mẹ,

chú/cậu, cô/dì, anh/chị, nàng, mình, bạn, em, cậu,

con, người, ngươi, cháu

Chỉ cần quan sát là đã thấy bức tranh về hệ

thống từ xưng gọi trong tiếng Việt là hết sức đa

dạng và phong phú Tuy nhiên, ngay cả hệ thống

các từ được đưa ra trên đây cũng chỉ phản ánh được

một cách khái quát những quan hệ phức tạp giữa ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai trong quá trình giao tiếp Đi vào sử dụng cụ thể, mỗi một đối tượng giao tiếp lại phải tuỳ vào kinh nghiệm bản thân để vận dụng một cách sáng tạo các cặp từ xưng gọi miễn sao thực hiện được tốt nhất chiến lược giao tiếp của mình Nói một cách khác, hệ thống các

từ xưng gọi trong tiếng Việt không phải là một hệ thống khép kín mà là một hệ thống luôn luôn mở Điều này phản ánh một phần đặc trưng của văn hoá Việt là tính uyển chuyển, năng động, không cứng nhắc, dập khuôn theo một mô thức có sẵn

Ví dụ như người nước ngoài sẽ không thể hiểu câu

hỏi: “Thế, anh có mấy cháu rồi?” Dẫu vẫn biết

cháu vừa chỉ ngôi thứ nhất vừa chỉ ngôi thứ hai

nhưng đến câu hỏi này thì cháu lại là để chỉ con

của người thuộc ngôi thứ hai Thậm chí, cách sử dụng từ xưng hô của người Việt còn trở thành thủ

pháp trong nghệ thuật thi ca: “Mình đi mình lại

nhớ mình” (Việt Bắc - Tố Hữu)

Ý nghĩa tình thái trong việc sử dụng từ xưng

hô trong tiếng Việt cũng thể hiện rất rõ đặc trưng linh hoạt trong tính cách của người Việt Trong

hệ thống từ xưng hô có cặp từ “tôi - đồng chí”

là mang ý nghĩa trung tính và thường được dùng trong cơ quan hành chính Đặc biệt từ “đồng chí”

có một thời trong xưng hô chỉ được dùng cho những người là đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam, sau này thường được dùng trong các cơ quan, đoàn thể Nhưng trong thực tế hiện nay, trừ trong các cuộc họp của cơ quan, đoàn thể, người Việt vẫn thường thích dùng các từ chỉ quan hệ thân tộc trong giao tiếp công việc để tạo không khí thân mật và đạt được kết quả cao trong chiến thuật giao tiếp Tuy nhiên khi nghe thấy người đối thoại

chuyển sang sử dụng “tôi - đồng chí” thì sẽ được

hiểu là hiệu quả và không khí giao tiếp đã có phần thay đổi Việc xưng hô quá tinh tế và linh hoạt như vậy đối với người nước ngoài thật sự là khó nắm bắt Trong khi đó, số học viên quân sự nước ngoài theo đuổi ngành ngoại giao quân sự và phiên dịch viên cao cấp luôn có mục đích và mong muốn tìm hiểu rõ bản chất và cách sử dụng các từ xưng hô trong giao tiếp

Trang 6

Những thực tế trên đây đã làm rõ ý nghĩa của

thành ngữ “Phong ba bão táp không bằng ngữ

pháp Việt Nam” mà người Việt thường nhắc nhau

lại không phải để chỉ sự phức tạp của những cấu

trúc ngữ pháp mà chính là sự uyển chuyển linh hoạt

rất Việt Nam trong sự chuyển nghĩa của từ vựng

3.3.2 Từ ngữ biểu thị thái độ lịch sự, tôn kính

Là một một đất nước có nguồn gốc nông nghiệp,

đặc trưng của nền văn hóa trọng tình và linh hoạt

có một dấu ấn quan trọng trong giao tiếp của người

Việt, đặc biệt trong thái độ biểu thị sự lịch sự, tôn

kính Trên bình diện ngôn ngữ, mối quan hệ liên

nhân thể hiện qua cách xưng hô theo tuổi tác, tôn

ty (trong gia đình, ngoài xã hội); nguyên tắc lịch

sự thường thể hiện ở cách dùng từ xưng hô và từ

thể hiện sự trân trọng, lễ phép ở đầu câu như “dạ,

xin, thưa” hoặc ở cuối câu như “ạ”,… Những từ

như “thưa, ạ” không thể dịch được sang tiếng Anh

hoặc tiếng Pháp để bày tỏ sự kính trọng người hơn

mình về tuổi tác, học vấn…

Cũng như trong cách xưng hô, đối với mỗi đối

tượng giao tiếp cũng cần lựa chọn phù hợp các từ

ngữ để biểu đạt lòng biết ơn, sự kính trọng Như

khi được nhận quà, thay vì nói “cảm ơn” có vẻ

trung tính thì có vô số những cách nói khác nhau

như: “Ôi quý hóa quá”; “Sao cháu cứ bày vẽ

thế”; “Anh tốt với em quá”; “Chị chu đáo quá”;

hoặc khi được khen thì câu đáp lại cũng rất khiêm

nhường: “Chị cứ quá khen”; “Em có được như

thế là nhờ tất cả ở anh đấy ạ”; “Nhờ phúc ấm tổ

tiên ạ”…

3.3.3 Ý nghĩa văn hóa trong ngôn ngữ hình

ảnh biểu trưng

Ngôn ngữ thật sự là tấm gương phản chiếu văn

hóa dân tộc Việc sử dụng từ ngữ văn hóa biểu thị

đặc trưng văn hóa giao tiếp của người Việt còn

được thể hiện ở lớp từ ngữ tượng trưng, hình thức

tôn kính, con số, những hình ảnh ẩn dụ, những từ

chỉ màu sắc…

Hình ảnh được hình thành từ cách nhìn sự vật

khác nhau của mỗi dân tộc Chẳng hạn như cấu trúc

không gian cụ thể của một chiếc cốc được biểu đạt

khác nhau trong tiếng Việt và tiếng Anh: Nước đến

miệng cốc/The water is full to the rim (mép); Nước đến lưng cốc/The glass is over haft full (nửa cốc)

of water; Cốc này bị sứt ở đít/The glass is chipped

at its bottom (đáy) (Lý Toàn Thắng, 2012, tr.80)

Hoặc cách nhìn khác nhau về một vật hay một hiện

tượng của người Việt và người Anh như: Lỗ kim/

The eye (mắt) of the needle; Sữa nóng có váng trên mặt/Hot milk with skin (lớp da) on it.

Một hình ảnh rất quan trọng trong văn hoá phương Đông là hình ảnh con rồng Rồng là biểu tượng cho sự cao quý, quyền uy ở Việt Nam, Trung Quốc, nét nghĩa này có phần mờ nhạt hơn

ở Nhật Bản và Hàn Quốc, Triều Tiên; và còn mờ nhạt hơn nữa trong quan niệm của các nước còn lại của Đông Nam Á, nhưng ở phương Tây nó được coi là sinh vật hung dữ và độc ác Người phương Tây rất ngạc nhiên tại sao người Việt Nam là có thể tôn kính con rồng đến thế Nhưng nếu hiểu về đặc trưng văn hóa của một dân tộc lấy việc trồng lúa nước làm căn bản, họ sẽ hiểu tại sao người Việt lại sùng kính một loài vật lưỡng tính, hình thành trong suy tưởng và tâm thức của con người với mong muốn cầu mưa cho đủ nước để canh tác nông nghiệp được thuận lợi, mùa màng tốt tươi Hay như con dê trong tiếng Việt thường có nghĩa không đẹp, dùng để chỉ đàn ông có năng

lực tình dục mạnh mẽ “dê cụ” nhưng trong tiếng

Hán thì dê và cừu là hình ảnh dịu dàng, dễ thương Ngoài ra, vì đồng âm với dương (trái với âm) và cùng vần với chữ may mắn nên người Trung Hoa xem dê là vật tượng trưng cho may mắn Và cũng vì

thế, không phải ngẫu nhiên chữ “mỹ” nghĩa là đẹp trong Hán tự (美) lại được biểu thị bằng chữ “đại” nghĩa là to lớn và chữ “dương” nghĩa là con dê.

Hình ảnh tượng trưng được thể hiện rõ nhất trong các cụm từ cố định, đặc biệt là trong các thành ngữ, tục ngữ Do điều kiện khảo sát và mục tiêu bàn về phương pháp chuyển tải văn hóa, xin được để lại ở một chuyên đề khác

Trang 7

4 MỘT SỐ MÔ HÌNH TRUYỀN TẢI ĐẶC

TRƯNG VĂN HÓA GIAO TIẾP CHO HỌC

VIÊN QUÂN SỰ NƯỚC NGOÀI QUA MÔN

TIẾNG VIỆT

4.1 Mục đích của của việc truyền tải đặc

trưng văn hóa giao tiếp cho học viên quân sự

nước ngoài

Trong thời đại ngày nay, triết lí về giáo dục đã

thay đổi Nếu như giáo dục truyền thống lấy người

dạy làm trung tâm thì ngày nay việc lấy người học

làm trung tâm thực sự là một cuộc cách mạng giáo

dục trên phạm vi toàn cầu

Mô hình mô tả năng lực giao tiếp trong CEF

(The Common European Framework of Reference

for Languages) được công bố chính thức vào năm

2001 là một hướng tiếp cận dạy học khởi phát từ

những năm 1970 ở châu Âu và ngày nay được áp

dụng sang hàng chục thứ tiếng khác nhau

Không nằm ngoài xu hướng áp dụng CEF để

xây dựng một chương trình ngoại ngữ cho riêng

mình đang được áp dụng rộng rãi trên thế giới, Bộ

Giáo dục và Đào tạo (2015) đã ban hành Thông tư

về Khung năng lực trình độ tiếng Việt cho người

nước ngoài, nhằm quy chuẩn đầu ra cho người

nước ngoài học tiếng Việt theo hướng tiếp cận

năng lực cho người học Tuy nhiên, đạt được mục

tiêu lý tưởng đó là một chặng đường dài của công

tác giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, từ

xây dựng chương trình, giáo trình tài liệu đến sự

hợp tác của giảng viên trong đổi mới hướng tiếp

cận, phương pháp giảng dạy

Một đặc trưng nổi bật của giảng dạy ngoại

ngữ hướng đến năng lực giao tiếp của người học

là trang bị cho người học một ngôn ngữ để làm

việc chứ không phải nghiên cứu một công trình

ngôn ngữ học và thực hành các quy tắc ngữ pháp

vì ngữ pháp không còn là mục tiêu hàng đầu trong

việc giảng dạy ngôn ngữ Yêu cầu phát triển mô

hình giảng dạy tiếng Việt nhằm nâng cao năng

lực giao tiếp cho người học đặt ra yêu cầu “văn

hóa như một tiêu chuẩn trong học tập tiếng Việt” (Trường Đại học Sài Gòn và Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, 2015, tr.649) nhấn mạnh vào việc phát triển nhận thức về khung lý thuyết văn hóa, những

“quan điểm của nền văn hóa Việt Nam” (Trường Đại học Sài Gòn và Hội Ngôn ngữ học Việt Nam,

2015, tr.651) Vì thế, mục tiêu của việc chuyển tải đặc trưng văn hóa Việt Nam trong tình hình mới sẽ không nằm ngoài mục tiêu nhằm phát triển năng lực giao tiếp cho người học Như vậy, mục đích của việc dạy tiếng Việt cho học viên trước hết là giúp học viên thông hiểu đặc trưng văn hóa Việt Nam và đạt được năng lực giao tiếp bằng tiếng Việt Mục đích của quá trình dạy và học ngoại ngữ

là người học phải đạt được năng lực giao tiếp bằng thứ tiếng mình học Năng lực giao tiếp bao gồm khả năng ngôn ngữ và khả năng sử dụng phương tiện ngôn ngữ phù hợp với những quy ước giao tiếp của cộng đồng người trong một xã hội nhất định Do vậy, muốn giao tiếp thành công, người học không những phải nắm chắc hệ thống hình thái ngữ pháp của ngôn ngữ đang theo học mà còn phải hiểu và sử dụng được những quy ước văn hóa giao tiếp của cộng đồng người bản ngữ Cụ thể: Trước tiên đó là những hiểu biết nghĩa biểu trưng về đất nước học, văn hóa học có thể được sử dụng trong các tình huống giao tiếp cụ thể Người học tiếng Việt cần phải biết định hướng và hiện thực hóa nhiệm vụ giao tiếp của mình trong ba mức độ: sinh hoạt - xã hội, văn hóa - xã hội, xã giao - công việc và trong phạm vi 3 nhóm chủ đề giao tiếp: giao tiếp giữa các cá nhân, nhu cầu xã hội, con người và nghệ thuật

Tiếp theo, về phương tiện ngôn ngữ biểu đạt trong giao tiếp bao gồm: phương tiện giao tiếp bằng lời (những đơn vị từ vựng không có trong ngôn ngữ của người học, không có nghĩa tương đồng, nghĩa không trùng hợp giữa hai ngôn ngữ

và để hiểu được nghĩa cần phải giải thích); phương tiện giao tiếp không lời (được chấp nhận trong văn hóa giao tiếp của ngôn ngữ đó: cử chỉ, điệu bộ, sự chuyển động cơ thể, dáng điệu) Trong giao tiếp, phương tiện giao tiếp không lời truyền đạt được

Trang 8

hơn 65% thông tin, trong khi đó giao tiếp bằng

lời - khoảng gần 35% thông tin Do vậy, để tránh

sốc văn hóa trong khi dạy ngôn ngữ cần dạy những

phương cách biểu đạt không lời, sử dụng từ điển

chuyên về chuẩn giao tiếp không lời

Để giao tiếp thành công, người học cần hiểu

những đặc trưng trí tuệ dân tộc - những phương tiện

biểu đạt suy nghĩ, tính chất, hành vi ứng xử, chuẩn

mực của đại diện nền văn hóa này hay nền văn

hóa khác được xác định trong quá trình giao tiếp

Ngoài ra, các nghi thức giao tiếp - đó là hiểu

biết những qui tắc về hành vi ứng xử, là sự thể

hiện văn hóa và trí tuệ của người bản ngữ Những

chuẩn mực này mang tính qui phạm và được thể

thức hóa bằng lời: lời kêu gọi, hiệu triệu, thư, chào

mừng, mời cũng như không lời: cử chỉ, điệu bộ,

bộ dạng bên ngoài

Cuối cùng, hiểu biết về chiến thuật hành vi

ngôn ngữ trong những tình huống khác nhau trong

giao tiếp liên văn hóa: chiến thuật phát triển hành

vi ngôn ngữ trong những tình huống xã giao và phi

xã giao, giao tiếp trực tiếp và gián tiếp; phối hợp

chiến lược hành vi ngôn ngữ phụ thuộc vào mục

tiêu, nhiệm vụ, thời gian, nơi giao tiếp, địa vị xã

hội, năng lực giao tiếp của người đối thoại với sự

tuân thủ những chuẩn mực ngôn từ, hành văn; diễn

đạt lời nói có chủ định, điều chỉnh, đánh giá những

thông tin chủ định, trình bày tổng hợp những điều

chỉnh đó để đạt mục đích giao tiếp

Giảng dạy văn hóa giao tiếp cho học viên quân

sự nước ngoài cần kích thích sự tò mò học hỏi và

khuyến khích học viên đi từ đồng cảm, tôn trọng

đến yêu mến văn hóa Việt Nam

Như trên đã phân tích, những khó khăn và

nhiều khi dẫn đến hiểu lầm trong giao tiếp và học

tập ngôn ngữ hoặc trầm trọng hơn là “sốc” văn

hóa là điều thường thấy trong học tập tiếng Việt

như là một ngôn ngữ thứ hai đối với học viên quân

sự nước ngoài Vượt qua những rào cản bằng cách

thấu hiểu đặc trưng văn hóa của người Việt sẽ kích

thích sự tò mò học hỏi và khuyến khích học viên

đi từ đồng cảm, tôn trọng đến yêu mến văn hóa Việt Nam

Học viên có gốc văn hóa phương Tây, Nhật, Hàn sẽ cảm thấy người Việt đáng yêu và thân thiện với những câu hỏi về cuộc sống riêng tư như:

“Anh đã lấy vợ chưa?”; “Anh bao nhiêu tuổi?”;

“Anh có mấy cháu?”; “Bố mẹ anh năm nay bao nhiêu tuổi?”… nếu biết rằng những câu hỏi đó

là xuất phát từ quan điểm cộng đồng, tự thấy có trách nhiệm phải chú ý đến người khác, cần biết

rõ người đối thoại (Mặc dù thói quen ưa tìm hiểu này hoàn toàn trái ngược với người phương Tây, người Hàn rất cảnh giác với những câu hỏi dạng

như: “Công ty của anh thế nào? Lương anh được

bao nhiêu?”) Tuy đề cao chuyện riêng tư của con

người, coi như bất khả xâm phạm, nhất là về lương bổng và tuổi tác phụ nữ… nhưng sau khi hiểu biết

về văn hóa Việt Nam, học viên quân sự nước ngoài

đã vô cùng thích thú, với vốn từ vựng được cung cấp họ say mê nghiên cứu và học tập với mục đích được thấu hiểu, thâm nhập vào nền văn hóa nơi đây Nhiều học viên sau khi học tập đã chọn Việt Nam là điểm đến cho những trình độ học tập cao hơn hoặc quay trở lại công tác tại Việt Nam và các chuyên môn liên quan đến Việt Nam Chính họ là những nhân tố tích cực thúc đẩy mối quan hệ ngoại giao quân sự giữa nước mà họ đại diện với Việt Nam hoặc là kênh quan trọng để chuyển tải những giá trị văn hóa Việt Nam đến với bạn bè quốc tế Khi có sự nhận thức về văn hóa Việt Nam qua ngôn ngữ đích, người học sẽ có sự so sánh với các nền văn hóa khác, từ đó hiểu về văn hóa đích, nâng cao năng lực giao tiếp và có được sự tôn trọng về

đa dạng văn hóa để không có sự đánh giá nền văn hóa nào là cao hay thấp Mở rộng hiểu biết văn hóa thông qua ngôn ngữ là sự phát triển hiểu biết quốc

tế, một mục tiêu quan trọng trong giáo dục hiện nay Việc dạy ngoại ngữ nói chung và hiểu biết văn hóa nói riêng khuyến khích học viên quân sự nước ngoài thâm nhập vào cuộc sống, tư tưởng và văn học của ngôn ngữ đích, phá vỡ những rào cản văn hóa, xây dựng tinh thần hiểu biết và tình bạn quốc

tế hướng đến hòa bình thế giới

Trang 9

4.2 Cách tiếp cận và mô hình truyền tải văn

hóa giao tiếp Việt Nam

Để xác định một phương pháp truyền tải đặc

trưng văn hóa giao tiếp Việt Nam thông qua môn

tiếng Việt cho học viên quân sự nước ngoài phải

dựa trên nhiều vấn đề Căn cứ vào những nội dung

và mục tiêu chuyển tải như đã nêu ở trên, cách

tiếp cận tối ưu cho giảng dạy đặc trưng văn hóa

giao tiếp cho người nước ngoài được xác định trên

những hướng sau:

Giảng dạy văn hóa một cách tường minh

Giảng dạy văn hoá một cách tường minh là

phương pháp trang bị cho học viên cơ sở phát triển

kiến thức văn hoá đích bằng hành vi lời nói và ghi

nhớ tri thức văn hóa Ưu điểm của phương pháp

này là giảng viên yên tâm rằng đã truyền đạt kiến

thức văn hóa cho học viên và trong một buổi học,

học viên có thể biết được một số lượng lớn kiến

thức văn hóa Nhưng nhược điểm của nó lại nằm

trong chính ưu điểm là nội dung văn hoá đích chỉ

biểu hiện ở mức độ tương đối, cách tích hợp cũng

như cách dạy văn hoá như thế nào thì vẫn chưa

được giải quyết thỏa đáng và học viên nhanh chóng

quên đi những kiến thức trong giờ học vì không

được khắc sâu thành những tình cảm văn hóa và

không có điều kiện trải nghiệm những hiểu biết

văn hóa ấy Mặt khác, việc ghi nhớ, sử dụng thành

thạo ngôn ngữ, tự nó, sẽ không giúp được gì nhiều

cho học viên quân sự nước ngoài giao tiếp thành

công khi trong một lớp học có từ 3 đến 7 nhóm

học viên đến từ những nền văn hóa khác nhau

Giảng dạy văn hóa theo phương pháp giao tiếp

Thông qua phương pháp này, giáo viên có thể

dạy văn hoá cho học viên theo phương châm “học

đi đôi với hành” Qua việc nhấn mạnh vào chức

năng giao tiếp, văn hoá được tích hợp một cách

tự nhiên với ngôn ngữ, không gắn kết một cách

“giả tạo” như cách thức giảng dạy tường minh

trên Thông qua thực hành, giáo viên lồng ghép

nội dung văn hoá vào việc sử dụng ngôn ngữ,

giúp người học tiếp thu kiến thức văn hoá bằng

trải nghiệm sử dụng ngôn ngữ của chính mình Ưu điểm của phương pháp này là đã tạo ra ngữ cảnh

để người học hiểu biết một cách sâu sắc hơn đặc trưng văn hóa biểu hiện trong một bài khóa, một đoạn hội thoại và tạo điều kiện để người học trải nghiệm những hiểu biết đó Phương pháp này đã được giảng dạy khá phổ biến ở Việt Nam và hiện nay vẫn được áp dụng tại các trung tâm giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài Trong những phần trình bày dưới đây, ta sẽ thấy được hạn chế của phương pháp này trong sự đối chiếu với mô hình giảng dạy theo phương pháp liên văn hóa

Giảng dạy văn hóa theo phương pháp liên văn hóa

Phương pháp này vận dụng ưu điểm của hai phương pháp nêu trên Học viên không chỉ học hỏi các kiến thức về ngôn ngữ đích mà còn phải quan tâm đến việc phát triển nhận thức và thẩm năng văn hoá ở các nền văn hoá khác nhau Quá trình phát triển của học viên liên tục và năng động, từ chưa biết đến biết, từ kinh nghiệm hiện có đến kiến thức mới; đồng thời tương tác giao tiếp giữa các học viên ở nhiều nền văn hoá khác nhau Phương pháp này có những ưu thế đặc biệt nếu được áp dụng tại các trung tâm đào tạo tiếng Việt của quân đội với

số lượng học viên lớn và đến từ nhiều nước khác nhau trên thế giới với những văn hóa khác nhau

Từ những cách tiếp cận trên, trong việc thiết

kế chương trình giảng dạy văn hóa để có sự phát triển năng lực giao tiếp liên văn hóa cần tập trung vào ba lĩnh vực:

Học ngôn ngữ và nhận thức văn hóa

Năm 1994, trong nghiên cứu của mình, nhà nghiên cứu Byram Michael đưa ra mô hình giảng dạy ngoại ngữ và văn hoá gồm bốn thành phần cơ bản: việc học ngôn ngữ, nhận thức ngôn ngữ, nhận thức văn hoá và trải nghiệm văn hoá Đầu tiên, học viên được học kiến thức ngôn ngữ Sau đó, qua thông tin văn hoá được cung cấp, học viên thấy được sự khác biệt giữa ngôn ngữ - văn hoá nguồn với ngôn ngữ - văn hoá đích Tiếp theo, qua thực

Trang 10

hành, học viên sẽ có được năng lực giao tiếp ở nền

văn hoá đích

Mô hình dạy ngoại ngữ và văn hóa song song

giúp hình thành cho người học phương pháp phán

đoán, nhận thức về văn hóa thông qua việc sử dụng

ngôn ngữ, đạt đến mục tiêu nâng cao năng lực cả

về ngoại ngữ lẫn văn hóa

Vì vậy, cần dạy văn hóa ngay từ giai đoạn đầu

tiên học tiếng Mặc dù vẫn có những ý kiến cho

rằng, sẽ tốt hơn nếu tiến hành dạy văn hóa sau khi

người học đã đạt đến một khả năng thành thạo nhất

định nào đó về mặt ngôn ngữ Tuy nhiên vì chúng

ta không thể tách rời riêng biệt ngôn ngữ và văn

hóa nên ngay từ giai đoạn đầu tiên dạy tiếng, phải

đưa văn hóa vào mục tiêu giảng dạy Đầu tiên là

xuất phát từ những nội dung đơn giản liên quan

đến cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, sau đó tùy theo

mức độ thành thạo về mặt ngôn ngữ để mở rộng

phạm vi giảng dạy, dạy những nội dung liên quan

đến địa lý, văn hóa, khoa học

Để hỗ trợ nhận thức cho người học, các giáo

viên thường giới thiệu những kiến thức có liên

quan đến các chủ đề như: lịch sử, địa lý, chính trị,

kinh tế giúp cho học viên tham gia vào các cuộc

giao tiếp của người bản ngữ Phương pháp này có

thể cung cấp cho học viên hiểu biết một số lĩnh

vực văn hóa cụ thể để họ có cơ sở cho các cuộc hội

thoại với người dân của nền văn hóa đích và làm

giảm bớt căng thẳng Tuy nhiên, những hiểu biết

văn hóa mà họ tiếp nhận ảnh hưởng không đáng

kể đến giao tiếp Nếu học viên không hiểu các quy

tắc của hành vi, họ sẽ phải đối mặt với những sự

hiểu lầm và thất bại trong giao tiếp liên văn hóa

Mặt khác, hạn chế của phương pháp này là có quá

nhiều sự kiện được trình bày và có quá nhiều thách

thức đối với bộ nhớ và sức chịu đựng của người

học Việc học tập như vậy tốn nhiều thời gian và

tẻ nhạt

Phát triển năng lực giao tiếp liên văn hóa cần

đi xa hơn tiêu chí truyền tải sự thật về một nền

văn hóa và cung cấp thêm kiến thức để nâng cao

hiểu biết về lý do tại sao và bằng cách nào trong

các cuộc gặp gỡ, giao lưu văn hóa Sự hiểu lầm được giảm xuống khi người ta biết khi nào, tại sao và bằng cách nào mà một hành vi nhất định sẽ được thực hiện Giảng dạy văn hóa bằng phương pháp giao tiếp liên văn hóa tập trung vào nhận thức chung về văn hóa đích trong sự khác biệt và tương đồng với phông văn hóa của học viên

Những hiểu biết văn hóa đến với người học ban đầu là những nhận thức văn hóa và sẽ chuyển thành tình cảm văn hóa

Ban đầu, người học có thể lo lắng, căng thẳng

và mất tự tin do khác biệt về văn hóa Học viên Myanmar đã rất lo lắng khi phát âm tiếng Việt không thành công (vì các âm tiết trong tiếng Myanmar thường là các âm tiết có phổ âm hẹp, tiếng Myanmar chỉ có 3 thanh điệu) Sau này, những học viên này đã nói tiếng Việt khá chuẩn, lý

do không chỉ vì thường xuyên rèn luyện phát âm

mà đã vượt qua được rào cản về văn hóa Người Myanmar rất tín đạo Phật, rất thích đi chùa và ưa lối giao tiếp nhỏ nhẹ (nói như nói thầm vào tai của Phật vậy), với họ nói to (như cách nói của người Việt) là bất lịch sự Sau khi được giải thích, học viên này đã phát âm to rõ và kết quả là anh ta đã vượt qua được giới hạn của khẩu hình phát âm quen thuộc Rõ ràng, nhận thức về liên văn hóa sẽ giúp cho học viên quản lý hiệu quả phản ứng và cảm xúc của mình, do đó tối ưu hóa hiệu quả trong tương tác của họ với các thành viên thuộc nền văn hóa đích

Một ví dụ khác đối với người Lào, cũng một lời chào “Sabaidee” (xin chào) nhưng họ thể hiện lòng kính trọng và sự khiêm nhường bằng hành động nói lời chào kèm theo cử chỉ cúi đầu và chắp tay chào khi gặp người khác Đây là cử chỉ đặc thù mang giá trị đạo đức và nhân sinh quan của người Lào Nó nhấn mạnh đến cấu trúc xã hội và tôn ti

“cao thấp” trong cộng đồng người Lào

Với người Lào, cúi đầu đồng thời chắp tay chào là tỏ lòng kính trọng và khiêm nhường, không chỉ thế nó còn ẩn chứa nhiều ý nghĩa Cách chào của người Lào có thể chia thành hai loại: “vái”

Ngày đăng: 13/05/2021, 00:08

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w