1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự thay đổi trong công tác dân tộc từ giữa thế kỷ XX đến nay qua tiếp cận lý thuyết Nhân học

8 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết này muốn qua các lăng kính của lý thuyết Nhân học để xem xét lại công tác dân tộc như là một đối tượng để nghiên cứu. Dù công tác dân tộc chưa là một lý thuyết hay lĩnh vực lý thuyết, nhưng ở một góc độ nào đó, nó cũng chịu ảnh hưởng của các lý thuyết khác nhau trong dân tộc học và nhân học. Và từ hướng tiếp cận các lý thuyết, phần nào đó sẽ cho chúng ta những lời giải thích về những tích cực cũng như hạn chế của công tác dân tộc.

Trang 1

Công tác dân tộc (CTDT) là “những hoạt

động quản lý nhà nước về lĩnh vực dân tộc nhằm

tác động và tạo điều kiện để đồng bào các DTTS

cùng phát triển, đảm bảo sự tôn trọng, bảo vệ

quyền và lợi ích hợp pháp của công dân”1.Tuy

nhiên, không phải từ khi cách mạng thành công

thì mới đặt ra vấn đề CTDT Quay lại lịch sử,

trong các triều đại phong kiến cũng đã thể hiện

nhiều mối quan tâm với các mức độ khác nhau về

vấn đề dân tộc Ngay từ khi giành quyền tự chủ từ

sự đô hộ của phong kiến Trung Hoa, các triều đại

phong kiến Việt Nam luôn thể hiện sự coi trọng

đối với các vấn đề dân tộc Liên tục các triều đại

từ Lý, Trần, Hồ, Lê-Trịnh, Tây Sơn đến triều

Nguyễn đều ban hành các chính sách liên quan

để giải quyết vấn đề dân tộc2 Điều đó chứng tỏ

rằng, với một quốc gia đa dân tộc như Việt Nam

thì chính sách dân tộc là một yếu tố quan trọng

trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Ban

hành và tổ chức thực hiện các chính sách để xây

dựng khối đại đoàn kết dân tộc là nhiệm vụ quan

1. Chính phủ, Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/1/2011

về công tác dân tộc.

2. Phan Hữu Dật, Lâm Bá Nam, Chính sách dân tộc của các

chính quyền phong kiến Việt Nam (X-XIX), NXB Chính trị

Quốc gia, Hà Nội, 2001.

trọng để bảo vệ đất nước Nhận thức rõ điều này nên từ khi mới thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã rất coi trọng vấn đề dân tộc Tuy nhiên, phải từ sau cách mạng tháng Tám 1945 và bắt đầu vào xây dựng chính quyền cách mạng, xây dựng chế độ mới thì CTDT mới được Đảng và nhà nước xây dựng có hệ thống hơn Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 đã nêu rõ: “Đất nước Việt Nam là một khối thống nhất Trung Nam Bắc không thể phân chia” (điều 2);

“Ngoài sự bình đẳng về quyền lợi, những quốc dân thiểu số được giúp đỡ về mọi phương diện

để chóng tiến kịp trình độ chung” (điều 8) Càng

về sau, CTDT càng được đề cao với sự ra đời của

hệ thống các cơ quan chức năng ở nhiều cấp độ khác nhau CTDT đã góp phần quan trọng tuyên truyền và tổ chức thực hiện các chính sách của Đảng và Nhà nước đến với vùng dân tộc thiểu số (DTTS), vùng miền núi, góp phần quan trọng vào công cuộc kháng chiến kiến quốc hay xây dựng chủ nghĩa xã hội

Trong quá trình đổi mới, rồi hội nhập để phát triển, CTDT cũng đã góp phần to lớn vào việc đưa các DTTS hội nhập với thế giới, với nhịp thở của đất nước Tuy nhiên, cũng phải

SỰ THAY ĐỔI TRONG CÔNG TÁC DÂN TỘC

TỪ GIỮA THẾ KỶ XX ĐẾN NAY QUA TIẾP CẬN

LÝ THUYẾT NHÂN HỌC

Đảng và nhà nước Việt Nam Trải qua các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, thời bao cấp và sang quá trình đổi mới đất nước, công tác dân tộc cũng có nhiều thay đổi Trên bình diện chung, công tác dân tộc đã góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng vào bảo

vệ Tổ quốc Tuy nhiên, bên cạnh đó, vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế Để hiểu rõ hơn về thành tựu cũng như những hạn chế của công tác dân tộc từ giữa thế kỷ XX đến nay, bài viết này muốn qua các lăng kính của lý thuyết Nhân học để xem xét lại công tác dân tộc như là một đối tượng để nghiên cứu Dù công tác dân tộc chưa là một lý thuyết hay lĩnh vực lý thuyết, nhưng ở một góc độ nào đó, nó cũng chịu ảnh hưởng của các lý thuyết khác nhau trong dân tộc học và nhân học Và từ hướng tiếp cận các lý thuyết, phần nào đó sẽ cho chúng ta những lời giải thích về những tích cực cũng như hạn chế của công tác dân tộc.

Từ khóa: Công tác dân tộc; dân tộc thiểu số; chính sách dân tộc; lý thuyết Nhân học.

Trang 2

nhìn nhận rằng, dù đã đạt được nhiều thành quả

to lớn, CTDT vẫn còn nhiều hạn chế Và phần

nhiều những hạn chế này xuất phát từ cái nhìn

chủ quan của những người xây dựng các chiến

lược và chính sách phát triển Hệ quả là CTDT

cũng đã có những tác động tiêu cực nhiều đến sự

phát triển của các cộng đồng DTTS Bên cạnh

những thành tựu đạt được về kinh tế thì các truyền

thống văn hóa lại bị đứt gãy, bị mai một, hệ sinh

thái tự nhiên và môi trường văn hóa xã hội bị

tàn phá không ít Nhưng gần như trong hơn nửa

thế kỷ xảy ra những vấn đề này, dù được nhiều

người nói đến song vẫn chưa đủ mạnh để tạo nên

những thay đổi Phải đến đầu những năm 2000,

không chỉ các nhà nghiên cứu khoa học mà cả

những người hoạch định chính sách bắt đầu nhận

thức lại Những công trình tổng kết CTDT trong

mấy chục năm qua bắt đầu xuất hiện3 Lúc này,

những vấn đề trong CTDT được mổ xẻ khách

quan hơn để bắt đầu xây dựng hệ thống chính

sách và xây dựng các hoạt động trong CTDT sao

cho phù hợp với sự thay đổi của đất nước và tiến

trình hội nhập với thế giới Trong hơn một thập

kỷ qua, CTDT không ngừng thay đổi theo hướng

tích cực hơn Nói vậy để thấy vấn đề CTDT vẫn

còn phải nhìn nhận lại theo nhiều chiều hướng

khác nhau để đổi mới và phục vụ đắc lực cho quá

trình phát triển của các DTTS nói riêng và của

đất nước nói chung

1.Công tác dân tộc dưới ảnh hưởng của

các diễn ngôn phát triển

Công tác dân tộc là phương thức và quá

trình tổ chức thực hiện các chính sách quản lý

của nhà nước về vấn đề dân tộc với mục tiêu

chung là đảm bảo sự ổn định và phát triển vùng

dân tộc Nhiều khi, CTDT cũng được thể hiện

qua những diễn ngôn phát triển Những diễn

ngôn phát triển có nhiều mức độ tác động khác

nhau, có thể mang quy mô nhân loại, cũng có thể

chỉ là một dự án nhỏ của một cộng đồng Ở đây,

CTDT liên quan đến các diễn ngôn phát triển về

vùng dân tộc, miền núi Các diễn ngôn phát triển

sớm đóng vai trò quan trọng trong các quá trình

phát triển bởi nó truyền tải tư tưởng, mục tiêu

của nhà quản lý đối với sự phát triển Khi những

diễn ngôn phát triển được đưa ra là tiến bộ, hợp

lý thì quá trình phát triển của ngành đó sẽ thuận

3. Hoàng Đức Nghi, Về công tác dân tộc trong 10 năm đổi

mới (1990-2000), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001

lợi và có những thành tựu nhất định Nhưng khi các diễn ngôn phát triển thiếu chính xác, không phù hợp sẽ đẩy lùi sự phát triển và gây ra nhiều hậu quả khác nhau

Các diễn ngôn phát triển liên quan đến CTDT ở Việt Nam luôn được đưa ra trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước Từ khi thành lập Đảng cho đến nay đều gắn CTDT với những diễn ngôn phát triển vùng dân tộc và miền núi Những diễn ngôn này mang tính chỉ đạo, thể hiện quan điểm và định hướng của Đảng và nhà nước trong các điều kiện thực tế Điều đó không

có gì sai Tuy nhiên, những người làm CTDT quá thụ động và bị chi phối quá nhiều từ các diễn ngôn này thì tình hình lại khác Sự thụ động trước các diễn ngôn phát triển để rồi đưa vào ý chỉ chủ quan, xem CTDT có nhiệm vụ phải thực hiện các diễn ngôn đó mà không căn cứ vào tình hình thực tiễn của vùng dân tộc sẽ gây nên những hệ lụy cho quá trình phát triển

Phải công nhận rằng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược, CTDT

đã đạt được nhiều kết quả to lớn, góp phần vào việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh của tất cả các thành phần, các dân tộc vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tuy nhiên, trong quá trình hoạch định phát triển vùng DTTS, chúng ta vẫn còn nhiều bất cập Mà phần lớn các bất cập đều liên quan đến việc hoạch định công tác hơi máy móc, cứng nhắc, quá thụ động trong việc thực hiện các chỉ đạo từ trên xuống qua các diễn ngôn phát triển mang tầm vĩ

mô Xin phân tích một ví dụ để nhìn nhận sâu hơn

về vấn đề này:

Từ đầu những năm 1960, vấn đề CTDT được Đảng và Nhà nước quan tâm, nhất là việc xây dựng đời sống mới ở vùng DTTS ở miền Bắc Tại Đại hội Đảng lần thứ III năm 1960 đã nhấn mạnh vấn đề CTDT là “Làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi, vùng cao và vùng biên giới tiến kịp vùng nội địa, các DTTS tiếp kịp dân tộc Kinh, giúp đỡ các dân tộc phát huy tinh thần cách mạng và năng lực to lớn của mình cùng nhau đoàn kết chặt chẽ tiến lên chủ nghĩa xã hội”4 Đây

là một diễn ngôn mang tính vĩ mô, thiên hướng lãnh đạo từ trên xuống đối với quá trình phát triển

4. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng toàn

quốc lần thứ III, NXB Sự thật, 1960, tr 125

Trang 3

của vùng miền núi, vùng DTTS Quan điểm và

mục tiêu của Đảng trong vấn đề này không có gì

sai, tuy nhiên, trong quá trình thực hiện thì những

người làm CTDT lại nhìn vấn đề theo nhận thức

tiến hóa luận giản đơn, bỏ qua sự khác biệt, sự đa

dạng giữa các vùng miền, các dân tộc và cả các

cộng đồng dân cư khác nhau Nó góp phần tạo

nên sự mặc định trong nhận thức của các nhà phát

triển: Miền núi, vùng DTTS, là vùng nghèo nàn,

lạc hậu, kém phát triển Người DTTS là những

tộc người đang ở ngưỡng cửa văn minh và người

Kinh từ đồng bằng có nhiệm vụ giúp đỡ người

DTTS phát triển để họ “tiến” theo kịp và bước

vào nền văn minh Quan điểm đó đã dẫn đến việc

lấy người Kinh làm chuẩn cho quá trình phát

triển Quan điểm “đưa miền núi tiến kịp miền

xuôi” cũng thể hiện tư duy cào bằng trong phát

triển vùng mà trung tâm là các chỉ tiêu, thước đo

về kinh tế “Các nhà phát triển” đã xem tiêu chí

kinh tế làm trung tâm, là mục tiêu của quá trình

phát triển Đầu tư cơ sở vật chất để đẩy mạnh tăng

trưởng kinh tế ở miền núi là con đường để ‘tiến

kịp miền xuôi” trong quá trình công nghiệp hóa,

hiện đại hóa đất nước Nhưng kết quả, khoảng

cách kinh tế giữa miền xuôi và miền núi ngày

càng lớn thêm như một minh chứng hùng hồn cho

một thực tế là kinh tế miền núi không thể theo

kịp miền xuôi theo các tiêu chí của các nhà phát

triển đưa ra

Công tác dân tộc trong giai đoạn kháng

chiến và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc

nhìn chung là thụ động Các nhà CTDT chủ yếu

trở thành những người đi làm công tác tuyên

truyền các chính sách của Đảng và nhà nước đến

với người dân Họ cũng là những người góp phần

quan trọng trong việc xây dựng và thực thi hệ

thống chính sách phát triển vùng dân tộc, miền

núi Tuy đạt được nhiều kết quả trong việc vận

động đồng bào ủng hộ và giúp đỡ cách mạng để

bảo vệ Tổ quốc cũng như hăng hái tham gia vào

công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên,

cái nhìn mang tính giản đơn về sự phát triển của

vùng dân tộc cũng như sự cứng nhắc, máy móc,

lệ thuộc quá nhiều vào các diễn ngôn phát triển

đã làm cho CTDT gặp phải nhiều hạn chế và chưa

đạt được hiệu quả nhất định Bên cạnh đó, các

công trình nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực

này hay ý kiến của các nhà dân tộc học-nhân học

cũng ít được quan tâm trong quá trình xây dựng

CTDT Đến thời kỳ bao cấp, khi cả nước lâm vào điều kiện khó khăn do nền sản xuất trì trệ thì CTDT cũng gặp nhiều khó khăn trước những thay đổi trong ứng xử của đồng bào với quá trình phát triển cũng như sự vận động, biến đổi của đời sống kinh tế xã hội vùng dân tộc Lúc này, người

ta mới bắt đầu nhìn nhận lại quá trình hoạch định CTDT Các diễn ngôn phát triển thể hiện quan điểm và định hướng của Đảng và Nhà nước về vấn đề dân tộc vẫn là kim chỉ nam của CTDT Tuy nhiên, những người thực hiện đã bắt đầu linh động, tiếp cận hợp lý hơn với điều kiện thực tế

Đó cũng là quá trình đổi mới CTDT trong hơn một thập kỷ cuối của thế kỷ XX

2.Tiếp cận “từ khách thể” đến tiếp cận

“từ chủ thể” và sự thay đổi trong công tác dân tộc thời kỳ đổi mới

Tiếp cận “từ khách thể” (Etic) và tiếp cận

“từ chủ thể” (Emic) là những phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu nhân học khá phổ biến trên thế giới trong nửa sau thế kỷ XX Các tiếp cận này

do nhà ngôn ngữ học và nhân học Mỹ, Kenneth Pike đưa ra vào giữa những năm 1950 trong các nghiên cứu về âm vị học Sau đó, nó được nhiều nhà nghiên cứu dân tộc học-nhân học vận dụng khá rộng rãi, nhất là trong nghiên cứu văn hóa Công tác dân tộc trước thời kỳ đổi mới chủ yếu thể hiện cách tiếp cận “từ khách thể”, tức là chịu sự chi phối của những nhà làm CTDT, từ những người đưa ra quan điểm đến những người hoạch định và thực thi chính sách Những người làm CTDT, một mặt bị chi phối từ các diễn ngôn phát triển của những nhà lãnh đạo như phân tích

ở trên Mặt khác, những người làm CTDT cũng đưa cái nhìn chủ quan của mình vào để hoạch định CTDT, trong khi những cơ sở dữ liệu từ thực tế cuộc sống của những cộng đồng dân tộc chưa đầy đủ để giúp cho việc hoạch định CTDT được khách quan hơn Bên cạnh đó, quan điểm của những người làm CTDT cũng chịu nhiều ảnh hưởng của thuyết trung tâm-ngoại vi Dù họ cố ý vận dụng vào hoặc vô tình nhận thức như vậy thì những quan điểm này cũng đã ảnh hưởng mạnh đến CTDT Những người làm CTDT đã lấy người Kinh, lấy miền xuôi làm trung tâm, là khu vực phát triển và coi vùng miền núi, vùng DTTS là vùng ngoại vi, vùng kém phát triển và cần phải hỗ trợ, giúp đỡ Họ cũng lấy người Kinh làm trung

Trang 4

tâm, coi đây là khuôn mẫu, là điển hình của sự

phát triển, là hệ giá trị chuẩn mực và xem các

DTTS là lạc hậu, kém phát triển và phải được

khai sáng Nó khá giống với quan điểm của một

số nhà dân tộc học thực dân sang nghiên cứu ở

Việt Nam cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX

Tuy nhiên, mục đích thì hoàn toàn khác nhau

Trong khi dân tộc học thực dân nghiên cứu để mở

đường cho sự xâm lược và cai trị của đế quốc thì

các nhà làm CTDT của ta chỉ vì sốt sắng, mong

muốn giúp đỡ, hỗ trợ cho vùng miền núi, vùng

đồng bào DTTS phát triển và tiến lên chủ nghĩa

xã hội nhanh hơn Mong muốn đó, vào thời đoạn

đó là chính đáng, lại thêm điều kiện chiến tranh

nên công tác nghiên cứu, thu thập thông tin cũng

không dễ dàng, thêm vào tâm lý nóng ruột đã làm

cho hoạch định về CTDT lại mang tính chủ quan,

duy ý chí hơn Hệ quả là nhiều truyền thống văn

hóa của người DTTS bị coi là lạc hậu, không phù

hợp và bị tìm cách để xóa bỏ (lễ hội “cầu Mường

của đồng bào Thái ở Mường Chiềng, Đà Bắc,

Hòa Bình vừa được khôi phục lại) Đồng thời

cũng đưa nhiều yếu tố văn hóa lên vùng DTTS

theo lối áp đặt khiến nền văn hóa xã hội của các

dân tộc bị đứt đoạn

Để cụ thể hơn vấn đề này, xin phân tích

một ví dụ về CTDT và chính sách phát triển miền

núi ở Nghệ An từ đầu những năm 1950 đến cuối

thế kỷ Ngay sau khi hòa bình lập lại ở miền

Bắc năm 1954, Nghệ An bắt đầu công cuộc khôi

phục và phát triển kinh tế, cải tạo xã hội Những

người làm CTDT dù chưa nắm rõ được tình hình

phát triển của vùng dân tộc ở miền núi Nghệ An

nhưng đã tiến hành đưa hàng vạn người Kinh từ

miền xuôi lên để xây dựng các lâm trường, nông

trường quốc doanh Họ coi đây là điều quan trọng

để phát triển miền núi và giúp đồng bào dân tộc

phát triển theo kịp miền xuôi Từ năm 1954 đến

năm 1955, các lâm trường mới như Khe Kiền,

Trịnh Môn, Bãi Phủ, Đông Hiếu, Tây Hiếu, Sông

Con đi vào hoạt động thu hút một số lượng công

nhân từ miền xuôi lên Từ đầu những năm 1960,

NghệAn tiếp tục di dân từ miền xuôi lên miền

ngược Tính đến năm 1978, chính quyền Nghệ

Tĩnh đã đưa hơn 30 vạn người miền xuôi đi khai

hoang, xây dựng các vùng kinh tế mới ở miền núi

Nghệ An (và một số địa phương ở miền núi Hà

Tĩnh sau khi nhập tỉnh năm 1975) Theo thống

kê của Ban Dân tộc và Miền núi Nghệ An, thì

đến đầu những năm 1990, số lượng người Kinh ở

miền núi khoảng gần 300 nghìn người và chiếm gần 50% dân số miền núi, và đến năm 2009 đã hơn 700 nghìn người, chiếm 62% dân số miền núi Như vậy, từ ý chỉ chủ quan của những người hoạch định chính sách, những người làm CTDT

đã không căn cứ vào tình hình thực tiễn mà vội vàng đưa một lượng dân cư miền xuôi lên cư trú bên cạnh các cộng đồng DTTS tạo nên sự cư trú xen kẽ nhiều tộc người với nhau Nhưng phương thức sản xuất, vị thế xã hội cũng như bản sắc văn hóa của người Kinh khác nhiều so với các cộng đồng còn lại nên đã có ảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển miền núi Hệ quả trực tiếp của vấn

đề này là sự biến đổi văn hóa không mong muốn của các cộng đồng DTTS Đó là một ví dụ về tác động của CTDT theo sự tiếp cận chủ quan của người hoạch định chính sách

Từ khi đất nước bước vào công cuộc đổi mới 1986, CTDT cũng bắt đầu có những thay đổi

để phù hợp với tình hình hiện tại của đất nước, nhất là thực hiện nhiệm vụ đưa các vùng DTTS hội nhập và phát triển Liên tiếp có các quan điểm chỉ đạo mới về liên quan đến CTDT kể từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) Năm 1989,

Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 22-NQTƯ và năm 1990 Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định 72-HĐBT là những văn bản chỉ đạo trực tiếp về CTDT và miền núi lúc này “Đây là hai văn bản quan trọng bậc nhất thể hiện cho sự đổi mới trong CTDT của Đảng và Nhà nước”5 Đây là quãng thời gian mở đầu cho việc nhìn nhận lại và đổi mới CTDT Một trong những điểm nhấn của sự đổi mới CTDT lúc này là chuyển từ tiếp cận “từ khách thể” sang tiếp cận “từ chủ thể” và sau đó

là sự nhấn mạnh kết hợp cả hai phương pháp tiếp cận này để xây dựng cơ sở dữ liệu và hoạch định chính sách, CTDT Các cơ quan phụ trách CTDT

đã bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến tiếng nói của những người trong cuộc, chính là những người dân ở miền núi, là các đồng bào DTTS Một mặt, người dân được thể hiện nhiều ý kiến của mình hơn trong việc góp ý về các chính sách liên quan đến sự phát triển của cộng đồng mình Mặt khác, trong quá trình thực hiện các chính sách dân tộc thì những người liên quan cũng được thể hiện ý kiến góp ý để làm cho CTDT ngày càng tốt hơn và

5. Lâm Bá Nam, Chính sách dân tộc của Đảng trong thời kỳ đổi

mới, in trong “Đảng Cộng sản Việt Nam: 80 năm xây dựng và trưởng thành”, NBX Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010

Trang 5

đảm bảo được sự ổn định, phát triển ở vùng dân

tộc Sự đổi mới trong CTDT đã ảnh hưởng tích

cực đến sự phát triển của vùng dân tộc và miền

núi, nó góp phần quan trọng “tạo được những

chuyển biến đáng kể về phát triển kinh tế xã hội,

xây dựng cơ sở hạ tầng và giải quyết những vấn

đề xã hội bức xúc ở miền núi Nhiều mô hình

sản xuất kinh doanh có hiệu quả đã được hình

thành và phát triển Cơ cấu kinh tế miền núi đã có

chuyển biến tích cực, tạo đà phát triển mới theo

hướng sản xuất hàng hóa và từng bước chuyển

dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa”6

Để đạt được kết quả đó, những người làm CTDT

đã thay đổi từ quan điểm chủ quan, tiếp cận “từ

khách thể” sang kết hợp hai cách tiếp cận, tôn

trọng ý kiến của đồng bào dân tộc, lắng nghe ý

kiến của các nhà khoa học trong và ngoài nước

Nói đúng hơn, CTDT trong giai đoạn này đã tiếp

nhận được những luồng gió mới trong nghiên

cứu dân tộc học và các ngành khác dưới ánh sáng

của đổi mới Bởi lúc đó, nhiều nhà nghiên cứu

nước ngoài và trong nước đã có nhiều công trình

phân tích về tác động của các chính sách cũng

như sự biến đổi của các dân tộc trong nhiều năm

trước đó Trong đó, các học giả nước ngoài như

Gerald Hickey (Mỹ), Futura Moto (Nhật Bản),

Orcar Salemink (Hà Lan) hay Patricia Pelly (Mỹ)

thường tập trung vào việc phân tích thực trạng và

các chính sách của Nhà nước Việt Nam đối với

các dân tộc cũng như tác động của các chính sách

ấy lên tình hình phát triển vùng dân tộc Trong

khi các nhà khoa học Việt Nam lại tập trung vào

ba vấn đề chính: Thực trạng kinh tế - xã hội ở

miền núi; Chính sách của Nhà nước đối với vùng

miền núi, đồng bào DTTS; Đề xuất giải pháp đào

tạo nguồn nhân lực cho vùng miền núi

Dù đạt được những kết quả quan trọng

trong quá trình đổi mới CTDT, chính sách dân

tộc, nhưng sự phát triển kinh tế-xã hội của đất

nước ngày càng nhanh chóng, sự hội nhập với

thế giới dưới tác động của quá trình toàn cầu hóa

ngày càng mạnh mẽ thì CTDT, muốn đạt hiệu quả

cao hơn lại phải tiếp tục đổi mới hơn nữa

3.Công tác dân tộc trong định hướng

phát triển bền vững, giai đoạn hiện nay

6. Ủy ban Dân tộc và Miền núi, 55 năm công tác dân tộc và

miền núi (1946-2001), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội,

2001, tr 125

Tiếp nối những kết quả đạt được trong thời

kỳ đầu đổi mới, bước sang thế kỷ mới, CTDT lại tiếp tục thay đổi và hòa nhập với sự phát triển trên thế giới khi nhân loại đi vào kỷ nguyên phát triển bền vững CTDT trong giai đoạn hiện nay dựa trên quan điểm, định hướng phát triển bền vững

và cách tiếp cận đa chiều cả về lý thuyết cũng như thực tiễn Tiếp cận đa chiều ở đây không phải

là một lý thuyết mà là một hệ thống quan điểm

và phương pháp tiếp cận phức hợp, cho chúng

ta cái nhìn từ nhiều chiều hướng khác nhau, tiến tới nhận thức toàn diện và khách quan hơn về các vấn đề trên Trong khi đó, phát triển bền vững đang là chiến lược, là định hướng phát triển của nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam Xuất hiện trên diễn đàn thế giới từ đầu những năm 1970, thuật ngữ phát triển bền vững (Sustainable Development) ngày càng được phổ biến và được xem là một khái niệm mang tính thời đại Chiến lược phát triển bền vững toàn cầu trải qua 3 hội nghị lớn của Liên Hợp quốc, từ Hội nghị Thượng đỉnh Rio de Janeiro (1992) đến Hội nghị Thượng đỉnh Johannesburg (2002) và gần nhất là Hội nghị Thượng đỉnh Rio de Janeiro (2012), mục tiêu và nội dung của phát triển được hoàn thiện hơn, sâu sắc hơn và cụ thể hơn Khái niệm phát triển bền vững hiện nay được hiểu là: Quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp

lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển Đó là phát triển kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường Ngoài ra còn phải quan tâm đến các khía cạnh khác của sự phát triển bền vững như chính trị, văn hóa, tinh thần, dân tộc Một vấn đề quan trọng mà gần đây mới được nhắc đến nhiều hơn

là phát triển bền vững con người trong toàn thế giới để vượt qua các ngăn cách chủng tộc, quốc gia, dân tộc và tôn giáo Tóm lại, khung mẫu phát triển bền vững phải bao gồm 6 thành tố: i- Phát triển bền vững kinh tế, ii- Phát triển bền vững chính trị, iii- Phát triển bền vững văn hóa, iv- Phát triển bền vững xã hội, v- Phát triển bền vững con người, vi- Bảo vệ môi trường bền vững Việt Nam là một trong những quốc gia tham gia chương trình phát triển bền vững khá sớm Từ Hội nghị Thượng đỉnh ở Rio de Janeiro (1992) Chính phủ Việt Nam đã ký Tuyên bố chung của Liên hợp quốc về phát triển bền vững Năm 1993, Quốc hội ban hành luật Bảo vệ môi trường Năm 1996, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ

Trang 6

thị số 36-CT/TW về “Tăng cường công tác bảo

vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa,

hiện đại hóa đất nước” Năm 2004, Chính phủ

ban hành Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam

với tên gọi “Định hướng chiến lược phát triển bền

vững ở Việt Nam” Chương trình phát triển bền

vững ở Việt Nam được tiến hành trên ba phương

diện: i- Thành lập các tổ chức từ trung ương đến

địa phương để quản lý các chương trình phát

triển bền vững; ii- Phổ biến nội dung, xây dựng

kế hoạch và tuyên truyền các yêu cầu phát triển

bền vững đến các cơ quan, đoàn thể và toàn dân;

iii- Tổ chức nghiên cứu, đánh giá để bổ sung các

nội dung cụ thể và xây dựng các mô hình phát

triển bền vững cho các đối tượng khác nhau ở các

địa phương Quyết định số 432/QĐ-TTg của Thủ

tướng Chính phủ về Phê duyệt Chiến lược phát

triển bền vững Việt Nam, ngày 12 tháng 4 năm

2012, nhấn mạnh quan điểm phát triển bền vững

lấy con người làm trung tâm, lấy khoa học làm

nền tảng Phát triển bền vững là yêu cầu xuyên

suốt và toàn diện trong quá trình phát triển đất

nước, và là sự nghiệp chung của toàn Đảng, toàn

Dân, các Cơ quan nhà nước và ngoài nhà nước

Như vậy, CTDT trong kỷ nguyên phát triển bền

vững cũng phải thay đổi cả về nhận thức và cách

tiếp cận

Tiếp cận đa chiều trong CTDT là kết hợp

sử dụng nhiều phương pháp tiếp cận khác nhau

sao cho hợp lý và hiệu quả CTDT hiện nay có

sự tham gia của nhiều bên, trong đó có nhiều nhà

lãnh đạo, nhà quản lý, các nhà hoạch định chính

sách dân tộc, các nhà nghiên cứu khoa học, các

nhà doanh nghiệp và người dân Trong hoạch

định CTDT cần phải tranh thủ được ý kiến của

nhiều người cùng tham gia bàn luận, trao đổi và

tham gia giám sát, đánh giá hiệu quả của CTDT

Các vấn đề dân tộc hiện tại không còn là một vấn

đề riêng biệt mà luôn tồn tại nhiều mối quan hệ

chặt chẽ với các vấn đề khác, nên cần phải có cái

nhìn toàn diện hơn để đi đến hoạch định chính

sách phát triển vùng dân tộc hiện nay Nói tóm lại,

CTDT hiện tại phải tiếp cận từ nhiều phía, cả chủ

thể và khách thể, của các nhà quản lý, nhà nghiên

cứu, nhà doanh nghiệp và người dân; đồng thời

phải nhìn từ nhiều mối quan hệ với nhau: Từ tự

nhiên, con người, văn hóa, xã hội, chính trị…

Điều đó đòi hỏi người làm CTDT phải luôn biết

lắng nghe, biết trao đổi và biết tích hợp các hạt

nhân hợp lý từ nhiều phía liên quan trong một vấn

đề để xử lý mọi việc một cách hiệu quả nhất Dựa trên quan điểm và định hướng phát triển bền vững, lấy tiếp cận đa chiều làm nền tảng nên CTDT ở Việt Nam hiện nay được xác lập và thực hiện trên 4 nguyên tắc cơ bản được Chính phủ quy định (Theo Nghị định 05/2011/ NĐ-CP của Chính phủ về CTDT):1- Thực hiện chính sách dân tộc theo nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển.2- Đảm bảo và thực hiện chính sách phát triển toàn diện, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào DTTS.3- Đảm bảo việc giữ gìn tiếng nói, chữ viết, bản sắc dân tộc, phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mỗi dân tộc.4- Các dân tộc

có trách nhiệm tôn trọng phong tục, tập quán của nhau, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Các nguyên tắc này dựa trên nền tảng quan điểm của Đảng về vấn đề dân tộc và CTDT được khẳng định qua các kỳ Đại hội gần đây Và nó cũng thể hiện được định hướng phát triển CTDT trong kỷ nguyên phát triển bền vững và toàn cầu hóa hiện nay Đây cũng là điều kiện để có thể thực hiện được nhiệm vụ về CTDT đã được thông qua tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (2006)

và khẳng định lại trong các Đại hội lần thứ XI và XII: “Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Phát triển kinh tế, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xóa đói giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, tiếng nói, chữ viết và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc Thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi, vùng sâu, vùng

xa, vùng biên giới, vùng căn cứ cách mạng; làm tốt công tác định canh, định cư và xây dựng vùng kinh tế mới Quy hoạch, phân bổ, sắp xếp lại dân

cư, gắn phát triển kinh tế với bảo đảm an ninh, quốc phòng Củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở vùng đồng bào các DTTS; động viên, phát huy vai trò của những người tiêu biểu trong các dân tộc Thực hiện chính sách ưu tiên trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trí thức là người DTTS Cán bộ công tác ở vùng DTTS và

Trang 7

miền núi phải gần gũi, hiểu phong tục tập quán,

tiếng nói của đồng bào dân tộc, làm tốt công tác

dân vận Chống các biểu hiện kỳ thị, hẹp hòi, chia

rẽ dân tộc”7

Những phân tích trên về CTDT từ giữa

thế kỷ XX đến nay xuất phát từ việc tiếp cận các

hướng lý thuyết nhằm để nhận thức lại một góc

nào đó về CTDT Những thảo luận trên không

nhằm mục đích khẳng định rằng CTDT vận dụng

các lý thuyết đã trình bày vào quá trình hoạch

định chính sách hay thực thi các chính sách dân

tộc, mà nó chỉ là một khung lý thuyết giúp cho

chúng ta tiếp cận với CTDT với tư cách là một

đối tượng nghiên cứu Theo đó, CTDT trong các

giai đoạn của những năm qua có những vấn đề

khác nhau Tiến trình phát triển của CTDT theo

hướng từ chủ quan duy ý chí đến việc ngày càng

tiếp cận khách quan hơn và đạt được nhiều kết

quả hơn, góp phần vào quá trình xây dựng và

phát triển đất nước nhiều hơn

Về cơ bản, CTDT trước thời kỳ đổi mới

chịu nhiều ảnh hưởng của những diễn ngôn phát

triển từ trên xuống, mang tính chủ quan Đây là

giai đoạn CTDT mang tính chính trị và tập trung

vào việc tập hợp lực lượng, xây dựng khối đoàn

kết toàn dân, đoàn kết các dân tộc để chống giặc

ngoại xâm, giải phóng đất nước Và bên cạnh đó

là việc xây dựng và phát triển cơ sở kinh tế xã hội

chủ nghĩa ở vùng DTTS và miền núi Kết quả là

chúng ta đã huy động được sức mạnh để giành

thắng lợi trong các cuộc chiến tranh vệ quốc

Nhưng mặt khác, CTDT bị ảnh hưởng bởi các

diễn ngôn phát triển mang tính chính trị đã gây

đứt gãy đối với các nền văn hóa truyền thống của

các DTTS Cùng với đó là gây ra sự xáo trộn giữa

địa bàn cư trú của các dân tộc làm cho sự tiếp xúc

văn hóa càng mạnh mẽ hơn

Công tác dân tộc trước và trong giai đoạn

đầu của công cuộc đổi mới cũng chủ yếu theo lối

tiếp cận “từ khách thể” Những người làm CTDT

đã quá chủ quan, duy ý chí khi quá nhấn mạnh

quan điểm của mình vào trong hoạch định CTDT

mà thiếu cơ sở dữ liệu về thực tế ở vùng dân tộc

và miền núi Tuy nhiên, từ khi đổi mới, nhận thức

về CTDT cũng thay đổi, từ nhấn mạnh ý kiến của

khách thể chuyển sang coi trọng ý kiến của chủ

7. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng toàn

quốc lần thứ X, 2006, tr 121-122

thể các nền văn hóa Cùng với đó là tiếng nói của các nhà nghiên cứu dân tộc học-nhân học và nhiều ngành khác cũng được tôn trọng hơn Đó là quá trình đổi mới CTDT và nó tạo cơ sở cho việc CTDT ngày càng đổi mới, hiệu quả hơn

Trong giai đoạn hiện nay, CTDT được hoạch định và xây dựng theo hướng phát triển bền vững và tiếp cận đa chiều Vẫn giữ vững quan điểm lãnh đạo của Đảng về vấn đề dân tộc

và tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của Nhà nước

về CTDT, nhưng những người làm CTDT đã trở nên chuyên nghiệp hơn Họ biết tranh thủ ý kiến của các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu, các nhà doanh nghiệp và tôn trọng ý kiến của người dân-là những người chủ thể, trực tiếp nhận tác động từ CTDT Sự nhìn nhận sâu sắc, tiếp cận đa phương, đa chiều hơn là nền tảng cho quá trình hoạch định CTDT hiện nay Các nghiên cứu về dân tộc, CTDT được thực hiện với các tiếp cận liên ngành, dựa trên các dữ liệu, cơ sở dữ liệu

về DTTS Điều này cũng đặt ra một nhiệm vụ rất lớn, đó là phải tiến hành không chậm trễ, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu Quốc gia về DTTS, làm luận cứ minh chứng cho những giả thuyết đặt

ra trong các nghiên cứu Với những điều kiện cơ bản như vậy, có thể tin tưởng rằng CTDT sẽ ngày càng hiệu quả và có nhiều đóng góp trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước

Tài liệu tham khảo

[1] Phan Hữu Dật, Lâm Bá Nam (2001),

Chính sách dân tộc của các chính quyền nhà nước phong kiến Việt Nam (X-XIX), NXB Chính

trị Quốc gia, Hà Nội;

[2] Khổng Diễn (2003), Tổng quan về dân

tộc học Việt Nam trong một thế kỷ qua In trong

“Dân tộc học Việt Nam thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI”, NXB Khoa học Xã hội;

[3] Bế Viết Đẳng (1977), Nghị quyết đại

học Đảng toàn quốc lần thứ IV và công tác nghiên cứu dân tộc học hiện nay Tạp chí Dân tộc học

số 1-1977 In trong Dân tộc học Việt Nam: Định hướng và thành tựu nghiên cứu (1973-1998),

NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2006;

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam (1960), Văn

kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III, NXB

Sự thật, Hà Nội;

[5] Nguyễn Hữu Hải, Nguyễn Xuân Thu,

Trang 8

CHANGES IN ETHNIC WORK FROM THE MID- 20th CENTURY TO NOW

FROM STUDYING ANTHROPOLOGICAL THEORY

Abstract: Ethnic affairs are a very important field in the directions and policies of the

Party and the State of Vietnam Through the national defense war, the subsidy period and the process of national renewal, the work of ethnic minorities also has many changes On the general level, ethnic work has contributed significantly to the construction of national defense However, there are still many shortcomings To better understand the achievements and limitations of ethnic work from the mid-twentieth century, this article emphasizes on adopting the lens of Anthropological Theory to review ethnic work as a statue to study Although ethnographic work is not a theoretical or theoretical field, it is, to some extent, influenced by different theories used in ethnography and anthropology.

Keywords: Ethnic affairs; ethnic minorities; national policy; Anthropological theory.

Lưu Minh Thiệu, Lê Vui, Trịnh Quang Cảnh

(1997), 50 năm Công tác dân tộc (1946-1996),

NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội;

[6] Trần Tiến Hoà, Nguyễn Mạnh Hiền

(2004), Một số vấn đề cần biết về dân tộc và

chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta,

NXB Lao Động, Hà Nội;

[7] Phan Văn Hùng (chủ biên) (2015), Một

số vấn đề mới trong quan hệ dân tộc và chính

sách dân tộc ở nước ta hiện nay, NXB Chính trị

Quốc gia, Hà Nội;

[8] Lâm Bá Nam (2010), Chính sách dân

tộc của Đảng trong thời kỳ đổi mới In trong

“Đảng Cộng sản Việt Nam: 80 năm xây dựng và

trưởng thành”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội;

[9] Hoàng Đức Nghi (2001), Về công tác

dân tộc trong 10 năm đổi mới (1990-2000), NXB

Chính trị Quốc gia, Hà Nội;

[10] Giàng Seo Phử (chủ biên) (2016), Một

số vấn đề lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước

về công tác dân tộc qua 30 năm đổi mới, NXB

Chính trị Quốc gia, Hà Nội;

[11] Jean Olivier De Sardan (2008), Ba lối

tiếp cận trong ngành nhân học về sự phát triển

In trong “Nhân học phát triển: Lý thuyết, phương pháp và công cụ thực hành”, NXB Khoa học Xã

hội, Hà Nội;

[12] Ủy ban Dân tộc và Miền núi (2001),

55 năm công tác dân tộc và miền núi (1946-2001), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội;

[13] Bế Trường Thành, Phan Hữu Dật, Lê Ngọc Thắng , Dương Xuân Ngọc, Đặng Nghiêm

Vạn (2002), Vấn đề dân tộc và định hướng xây

dựng chính sách dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, NXB Chính trị Quốc

gia, Hà Nội

Ngày đăng: 12/05/2021, 23:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w