1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu về Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 (Tập 8: Toàn thắng): Phần 2

269 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 269
Dung lượng 3,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần 2 tài liệu trình bày các nội dung: Tiến công giải phóng Huế - Đà Nẵng và các tỉnh Trung Trung Bộ; chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, kết thúc cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.

Trang 1

Tiến công giải phóng Huế - Đà Nẵng

Theo phân định của chính quyền Sài Gòn thì địa bàn Trị - Thiên và Khu 5 thuộc Quân khu 1, bao gồm các tỉnh: Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Đà, Quảng Tín và Quảng Ngãi, với hai thành phố lớn là Huế và Đà Nẵng Do vị trí

đặc biệt quan trọng của địa bàn chiến lược này, nhất là khu vực Trị - Thiên, nơi tiếp giáp với miền Bắc xã hội chủ nghĩa, hướng phòng thủ chủ yếu hòng ngăn chặn tiến công của ta từ miền Bắc vào, nên trong suốt cuộc chiến tranh, cùng với miền Đông Nam Bộ, nơi đây, địch bố trí lực lượng phòng thủ mạnh Đầu năm 1975, lực lượng địch đóng tại

Trang 2

đây có 134.000 tên (trong đó có 84.000 quân chủ lực, 50.000 quân địa phương), bao gồm 5 sư đoàn (là các sư

đoàn bộ binh 1, 2, 3, Sư đoàn dù, Sư đoàn thuỷ quân lục chiến), 4 liên đoàn biệt động quân (11, 12, 14, 15), 5 thiết

đoàn (4, 7, 11, 17, 20), 13 chi đội xe tăng, thiết giáp (449 xe), 21 tiểu đoàn pháo binh (418 khẩu từ 105 mm

đến 175 mm), 1 sư đoàn không quân (373 máy bay, trong

đó có 96 máy bay chiến đấu), 3 duyên đoàn và giang đoàn (165 tàu, thuyền), chưa kể 50 tiểu đoàn và 5 đại đội bảo

an, 6 đại đội cảnh sát dã chiến Lực lượng trên đây được tổ chức phòng ngự thành 3 tuyến:

Tuyến 1, với mật danh “da cam”, là tuyến tiếp giáp với

miền Bắc xã hội chủ nghĩa Đây là tuyến bàn đạp để địch

mở các cuộc hành quân càn quét đánh phá các vùng căn

cứ, ngăn chặn ta xâm nhập từ miền Bắc vào Chính vì vậy, chúng bố trí xung lực và hoả lực mạnh

Tuyến giữa, với mật danh là “lục”, chúng bố trí lực

lượng vừa phải

Tuyến cuối, được đặt mật danh là “xanh”, có nhiệm vụ

bảo vệ các khu vực xung yếu bao gồm cơ quan đầu não Quân khu 1 Có thể nói, cho đến đầu năm 1975, Quân khu 1

là một trong những địa bàn đối phương tổ chức bố phòng mạnh nhất Nam Việt Nam nhằm ngăn chặn mọi cuộc tiến công của chủ lực ta từ miền Bắc vào

Địa bàn Trị - Thiên - Huế vào đầu tháng 3-1975, địch có khoảng 56.000 tên, trong đó có 28.500 quân chủ lực, bao gồm: Sư đoàn bộ binh 1, Sư đoàn thủy quân lục chiến, Sư

đoàn dù, 1 liên đoàn biệt động quân, 2 liên đoàn và 21 đại

Trang 3

đội bảo an, 319 trung đội dân vệ, 10 tiểu đoàn và một số đại

đội, trung đội pháo binh (với 194 khẩu pháo các loại từ

105 mm đến 175 mm), 1 lữ đoàn kỵ binh thiết giáp (với 3 thiết đoàn gồm 260 xe tăng, xe bọc thép), 1 tiểu đoàn cao xạ (27 xe M42 gắn pháo 40 mm loại 2 nòng, 37 xe gắn súng máy 12,7 mm loại 4 nòng và 6 nòng), 3 duyên đoàn và 3 giang đoàn (81 tàu thuyền chiến đấu), 1 phi đoàn trực thăng

vũ trang, 2 phi đội máy bay trinh sát, chưa kể lực lượng không quân ở sân bay Đà Nẵng chi viện trực tiếp Lực lượng này, chúng bố trí cụ thể như sau:

Từ Quảng Trị đến Mỹ Chánh có 2 lữ đoàn thủy quân lục chiến (258, 369), Liên đoàn bảo an 913, Trung đoàn thiết giáp 17 cùng lực lượng của Tiểu khu Quảng Trị và các chi khu Hải Lăng, Triệu Phong, Mai Lĩnh

Từ Mỹ Chánh đến bắc Huế có Lữ đoàn thủy quân lục chiến 147, Trung đoàn thiết giáp 20, căn cứ pháo binh

Đồng Lâm, một số tiểu đoàn bảo an và lực lượng địa phương quân thuộc các chi khu Quảng Điền, Phong Điền

ở tây bắc Huế (Cổ Bi, Núi Gió, Sơn Na, Chúc Mao, An

Độ, Lai Bằng) có Trung đoàn 51 thuộc Sư đoàn bộ binh 1 cùng lực lượng địa phương quân thuộc Chi khu Hương Trà

Từ tây nam Huế đến Phú Lộc có các trung đoàn 1, 3,

54 thuộc Sư đoàn bộ binh 1, Liên đoàn biệt động 15, Trung

đoàn thiết giáp 17, Duyên đoàn 106 (ở cửa Thuận An) và một số tiểu đoàn bảo an cùng lực lượng địa phương quân thuộc Tiểu khu Thừa Thiên, các chi khu Hương Thủy, Phú Vang, Phú Thứ, Nam Hòa

Trang 4

Từ Phú Lộc đến đèo Hải Vân có Lữ đoàn dù 2, Liên

đoàn bảo an 914, một giang đoàn (ở cửa Tư Hiền) cùng lực lượng Chi khu Phú Lộc

Sở chỉ huy tiền phương Quân đoàn 1 do tướng Lâm Quang Thi - Phó Tư lệnh quân đoàn phụ trách, đóng tại thành phố Huế Đây cũng là một trong hai trọng điểm mà

địch tập trung bảo vệ (cùng với thị xã Quảng Trị)

Đối với ta, Trị - Thiên và Khu 5 có vị trí rất quan trọng Trị - Thiên là mảnh đất dài và hẹp, gồm hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên, kéo dài từ sông Bến Hải đến

đèo Hải Vân Đây là đầu mối hành lang vận chuyển chiến lược chi viện cho miền Nam, là địa bàn trực tiếp đối đầu với địch nhằm ngăn chặn âm mưu mở rộng chiến tranh ra miền Bắc và sang chiến trường Lào Đây cũng là nơi ta có thể tổ chức các chiến dịch lớn tiêu diệt lực lượng cơ động chiến lược của đối phương, thu hút, giam chân chúng, tạo

điều kiện cho các chiến trường khác phát triển Trong quyết tâm chiến lược năm 1975, Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh đã đánh giá: “Chiến trường Trị - Thiên - Huế là chiến trường có nhiều thuận lợi hơn các chiến trường khác vì gần Trung ương, có điều kiện chuẩn bị, bổ sung cơ sở vật chất kịp thời Nếu ta tiến công mạnh, làm chủ chiến trường Trị - Thiên - Huế, phá

vỡ hệ thống phòng ngự ở Quân khu 1, giam chân lực lượng cơ động chiến lược của địch, sẽ tạo nên sự chuyển biến mới

về so sánh lực lượng và thế chiến lược, tạo điều kiện vận chuyển vật chất, kỹ thuật và cơ động lực lượng xuống phía

Trang 5

nam, giải phóng các tỉnh Nam Bộ”1 Chính vì vậy, Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh đã quyết

định chọn Trị - Thiên - Huế làm hướng tiến công phối hợp quan trọng Nhiệm vụ của chiến trường Trị - Thiên trong năm 1975 được Quân uỷ Trung ương giao là: “Đánh bại về cơ bản bình định của địch, tạo ra ở Trị - Thiên - Huế một tình thế mới có ý nghĩa quyết định để chuẩn bị cho giành thắng lợi trong năm 1976, giải phóng hoàn toàn Trị - Thiên - Huế”2 Cụ thể hơn: “Trị - Thiên - Huế phải tiến hành các chiến dịch tổng hợp cả quân sự và chính trị, bằng lực lượng cả chủ lực của bộ, của địa phương quân khu, phối hợp chặt giữa ba thứ quân, ba mũi giáp công Trong chiến dịch tổng hợp đó, phải nhằm tiêu diệt và làm tan rã một phần quan trọng sinh lực địch, phải diệt gọn được từng tiểu đoàn, trung đoàn địch, tạo điều kiện

đánh bại về cơ bản kế hoạch bình định của địch ở đồng bằng, giành phần lớn nhân dân, giành quyền làm chủ; khi địch đã hoang mang dao động mạnh thì phải nhanh chóng chớp lấy thời cơ, tiến lên hành động mạnh bạo, giành thắng lợi lớn nhất Phải có hai kế hoạch: kế hoạch cơ bản và kế hoạch thời cơ"3

_

1 Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử chiến dịch Trị -

Thiên và chiến dịch Đà Nẵng Xuân 1975, Nxb Quân đội nhân dân,

Hà Nội, 2006, tr 34

2, 3 Trung tướng Lê Tự Đồng: Trị - Thiên - Huế Xuân 1975,

Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1983, tr 42, 43

Trang 6

Lực lượng ta trên chiến trường Trị - Thiên lúc này gồm Quân đoàn 2 và lực lượng của Quân khu Trị - Thiên Quân đoàn 2 có 3 sư đoàn bộ binh (304, 324, 325), Lữ đoàn phòng không 673, Lữ đoàn pháo binh 164, Lữ đoàn xe tăng 203, Lữ đoàn công binh 219, Trung đoàn thông tin

463 và một số đơn vị trực thuộc khác Quân khu Trị - Thiên có 3 trung đoàn bộ binh (4, 6, 271), 1 trung đoàn pháo binh cơ giới, 1 trung đoàn cao xạ, 1 trung đoàn công binh, 1 tiểu đoàn đặc công, 1 tiểu đoàn bộ binh đánh giao thông, 1 tiểu đoàn vận tải cơ giới , chưa kể các tiểu đoàn

bộ đội địa phương tỉnh, đại đội, trung đội địa phương huyện và dân quân, du kích xã

Nhằm bảo đảm tính thống nhất trong lãnh đạo chỉ huy và hiệp đồng tác chiến, phát huy sức mạnh tổng hợp của tất cả các lực lượng chủ lực và địa phương trên chiến trường Trị - Thiên, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương quyết định thành lập Đảng uỷ Mặt trận gồm các đồng chí trong Thường vụ Khu uỷ, Quân khu uỷ Quân khu Trị - Thiên và Thường vụ Đảng uỷ Quân đoàn 2 do đồng chí Lê

Tự Đồng làm Bí thư

Ngày 21-2-1975, Đảng uỷ Mặt trận đã họp đi đến thống nhất mở hai chiến dịch tiến công tổng hợp là chiến dịch xuân hè (còn gọi là chiến dịch K175) dự kiến từ tháng

3 đến đầu tháng 5-1975 và chiến dịch thu dự kiến vào tháng 7 đến tháng 8-1975 Ngoài kế hoạch cơ bản như đã nêu, Đảng uỷ Mặt trận còn dự kiến kế hoạch thời cơ và kế hoạch nghi binh đánh lạc hướng đề phòng của địch Mục tiêu đặt ra cho chiến dịch xuân hè là: Tập trung toàn bộ lực lượng của Quân khu Trị - Thiên và Quân đoàn 2, đẩy

Trang 7

mạnh tiến công tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, đánh bại về cơ bản kế hoạch bình định của chúng

ở Trị - Thiên, giành 35 vạn dân ở nông thôn đồng bằng, phát động cao trào đấu tranh chính trị ở thành phố, đánh mạnh các kho tàng, hậu cứ, triệt phá giao thông, tích cực tạo thời cơ, tiến lên giành thắng lợi lớn, giải phóng thành

phố Huế

Đảng uỷ Mặt trận đề ra yêu cầu đối với chiến dịch xuân hè là: Phải phá lỏng, làm tan rã hệ thống kìm kẹp của địch ở đồng bằng, giành từ 7 đến 10 vạn dân, tiêu diệt

được từ 5 đến 7 tiểu đoàn địch, phá vỡ thế phân tuyến, chiếm lĩnh một số địa bàn có lợi, cắt đứt từng phần tiến tới cắt đứt hoàn toàn tuyến giao thông chiến lược đường số 1

từ Huế đi Đà Nẵng, đồng thời thu hút, giam chân lực lượng cơ động chiến lược của địch ở đây, tạo thuận lợi cho các chiến trường khác phát triển Thời cơ đến thì tung hết lực lượng ra tiến công giải phóng toàn bộ nông thôn, bao vây uy hiếp thành phố Huế, nếu có điều kiện thì giải phóng hoàn toàn Trị - Thiên - Huế

Hướng tiến công chủ yếu của chiến dịch được xác định

từ tây nam Huế, theo đường 14 đến tây nam Phú Lộc (nam Thừa Thiên) Mục tiêu tiến công chủ yếu là khu vực

Mỏ Tàu, điểm cao 303 đến bắc đèo Hải Vân Hướng này do Sư đoàn 324 (thiếu Trung đoàn 3) và Sư đoàn 325 (thiếu Trung đoàn 95) của Quân đoàn 2 đảm nhiệm1 Các hướng khác do Quân khu Trị - Thiên phụ trách Cụ thể:

_

1 Trung đoàn 3 - Sư đoàn 324 đang cùng Sư đoàn 304 làm nhiệm

vụ ở Thượng Đức, Trung đoàn 95 - Sư đoàn 325 đang ở Tây Nguyên

Trang 8

ở Quảng Trị có Trung đoàn 46 được tăng cường 1 tiểu

đoàn pháo binh (Tiểu đoàn 6), 1 đại đội xe tăng, 5 tiểu

đoàn bộ đội địa phương tỉnh Quảng Trị, Tiểu đoàn 8 (thiếu), bộ đội địa phương các huyện Gio Linh, Cam Lộ, Triệu Phong, Hải Lăng, Hướng Hoá cùng hơn 300 du kích,

51 đội vũ trang công tác, bộ phận đặc công hoạt động ở

đồng bằng

Bắc Thừa Thiên (gồm các huyện Phong Điền, Quảng

Điền, Hương Trà) có Trung đoàn 4 bộ đội chủ lực Quân khu, Đại đội 25 đặc công, Tiểu đoàn 10 của tỉnh và bộ đội

địa phương huyện, các đội vũ trang công tác

Khu vực thành phố Huế và vùng ven do lực lượng vũ trang và các đội công tác của thành phố đảm nhiệm Khu vực đồng bằng phía nam thành phố Huế gồm các huyện Hương Thuỷ, Phú Vang có Tiểu đoàn 4 bộ binh, 1

đại đội đặc công của tỉnh cùng bộ đội địa phương huyện và các đội vũ trang công tác

Phía tây nam Huế và huyện Phú Lộc, ngoài lực lượng của Quân đoàn 2, có Tiểu đoàn bộ binh 5 (thiếu 1 đại đội), Tiểu đoàn 21 chủ lực Quân khu, 1 đại đội đặc công thuộc Tiểu đoàn 2 đặc công tỉnh, bộ đội địa phương huyện và các

đội vũ trang công tác

Đồng thời với xây dựng kế hoạch tác chiến, công tác chuẩn bị mọi mặt cho chiến dịch cũng được tiến hành khẩn trương, nhất là bảo đảm đường cơ động cho các lực lượng Thực hiện nhiệm vụ này, Lữ đoàn công binh 219, Trung

đoàn công binh 414 của Quân khu Trị - Thiên cùng các tiểu

đoàn công binh của các sư đoàn 324, 325, 673, Lữ đoàn

Trang 9

pháo binh 164, Lữ đoàn xe tăng 203 và các đại đội công binh của các trung đoàn bộ binh đã không ngại khó khăn, ngày đêm phá núi, bạt rừng mở đường, bắc cầu Nhờ vậy, chỉ trong 40 ngày đêm, các tuyến đường cơ động trọng yếu như đường 73, 74 từ đường 14 (đông Trường Sơn) toả xuống các địa bàn chiến dịch với chiều dài 65 km đã nhanh chóng được khôi phục, mở rộng Quân đoàn 2 và Quân khu Trị - Thiên còn mở thêm một đường đất từ A Lưới nối với đường 14 bảo đảm cho xe cơ giới cơ động và làm các đường nhánh xung quanh Động Truồi, tả và hữu ngạn sông Truồi, bảo đảm cho Sư đoàn 325 vào vị trí tập kết, triển khai tiến công, khi có thời cơ, cơ động ra cắt

đường 1

Để bảo đảm vật chất phục vụ cho chiến dịch, Đoàn

559 huy động tối đa các phương tiện vận tải, cùng hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Quân khu và nhân dân hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên vận chuyển lương thực, thực phẩm và đạn dược Chỉ sau một thời gian ngắn, hàng ngàn tấn vũ khí, lương thực, thuốc chữa bệnh, quân trang, quân dụng được chuyển gấp vào lót ổ ở các kho trên địa bàn chiến dịch Các tỉnh, huyện còn tổ chức các trạm thu mua lương thực tại chỗ, vận chuyển về tập kết ở các cơ sở bí mật Các tuyến bảo đảm hậu cần, quân y, thông tin, các trạm sửa chữa xe máy, vũ khí, khí tài được thiết lập trên các hướng Có thể nói, chưa bao giờ chiến trường Trị - Thiên - Huế được chuẩn bị đầy đủ vật chất cho chiến dịch như lúc này

Về tổ chức chỉ huy, Bộ Tổng tư lệnh và Bộ Tổng tham

Trang 10

mưu trực tiếp chỉ đạo Quân đoàn 2 và Quân khu Trị - Thiên trong quá trình thực hiện chiến dịch Trên các hướng chiến dịch, Bộ Tư lệnh Quân khu và Quân đoàn 2

tổ chức các sở chỉ huy Quân khu Trị - Thiên tổ chức hai sở chỉ huy: Sở chỉ huy cơ bản và Sở chỉ huy tiền phương Sở chỉ huy cơ bản đóng ở Cốc Ba Bó gồm các đồng chí Hồ Tú Nam, Dương Bá Nuôi, Trần Văn Ân và một số đồng chí

đại diện địa phương như Nguyễn Vạn - Khu uỷ viên, Trưởng ban Dân vận, Nguyễn Trung Chính - Uỷ viên Thường vụ Tỉnh uỷ, Trịnh Đình Phung - Tỉnh đội phó Sở chỉ huy cơ bản trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy cánh bắc Huế và Quảng Trị Sở chỉ huy tiền phương có các đồng chí: Lê Tự

Đồng - Bí thư Đảng uỷ Mặt trận, Tư lệnh quân khu; Nguyễn Văn Thanh (Thanh Quảng) - Phó Chính uỷ; Nguyễn Chi - Tham mưu trưởng; Nguyễn Mạnh Thoa - Tham mưu phó Sở chỉ huy tiền phương có nhiệm vụ chỉ huy toàn bộ mặt trận nam Thừa Thiên (kể cả khu vực

đường 12, thành phố Huế) và trực tiếp hiệp đồng với Quân

đoàn 2

Quân đoàn 2 đặt Sở chỉ huy cơ bản (có các đồng chí Nguyễn Hữu An - Tư lệnh quân đoàn, đồng chí Lê Linh - Chính uỷ) ở Động Truồi, nam Thừa Thiên

Nhằm đánh lạc hướng phán đoán của đối phương, tạo

điều kiện thuận lợi cho các lực lượng tham gia chiến dịch cơ động vào vị trí tập kết an toàn, bí mật, tại Quảng Trị, Quân khu Trị - Thiên tổ chức cuộc diễn tập tiến công địch

ở Thanh Hội, Cửa Việt, sau đó là ở ái Tử, Tích Tường, Như Lệ Cuộc diễn tập khiến đối phương lúng túng trong

Trang 11

việc xác định hướng tiến công chủ yếu của ta Trong khi

đó, Trung đoàn 9 thuộc Sư đoàn 304 bí mật rút khỏi Quảng Trị, về đứng chân trong đội hình Sư đoàn làm lực lượng dự bị của quân đoàn; Trung đoàn 46 tăng cường cho Trị - Thiên thay Sư đoàn 325 ở hướng Quảng Trị, cũng vào chiếm lĩnh vị trí an toàn

Chỉ một ngày sau khi chiến dịch Tây Nguyên mở màn, ngày 5-3-1975, phối hợp với chiến trường chính đánh địch, chiến dịch tiến công tổng hợp xuân hè 1975* ở Trị - Thiên cũng bắt đầu Lực lượng vũ trang địa phương mở một số trận đánh trên các trục đường giao thông, trong đó, điển hình là trận phục kích của Tiểu đoàn bộ binh 21 chặn

đánh đoàn xe địch trên đèo Hải Vân làm tắc nghẽn giao thông của địch từ Huế đi Đà Nẵng; trận đánh sập cầu An

Lỗ trên đường số 1, cách Huế 25 km về phía bắc của Đại

đội 25 gây khó khăn cho địch trong việc cơ động lực lượng

và vận chuyển hàng quân sự từ Huế ra Quảng Trị; trận vây ép điểm cao 367, động Ông Do của Tiểu đoàn 8 bộ

đội địa phương tỉnh Quảng Trị; trận pháo kích vào căn

cứ Đồng Lâm, sân bay Phú Bài của pháo binh Quân khu Trị - Thiên

Các hoạt động trên đây của lực lượng vũ trang địa phương làm lạc hướng sự chú ý của đối phương Lợi dụng tình hình này, từ ngày 6 đến ngày 8-3-1975, Tiểu đoàn 8

bộ đội địa phương tỉnh Quảng Trị, Tiểu đoàn 10 bộ đội

địa phương tỉnh Thừa Thiên, Tiểu đoàn 5 và Tiểu đoàn _

* Sau gọi là chiến dịch Trị - Thiên

Trang 12

21 chủ lực quân khu, Tiểu đoàn 3 đặc công của thành phố Huế cùng hơn 100 đội công tác vũ trang nhanh chóng cơ

động xuống đồng bằng phối hợp với lực lượng vũ trang tại chỗ đồng loạt tiến công các chi khu, quận lỵ, phân chi khu, vũ trang tuyên truyền ở 53 xã với trên 20 vạn dân

Ta làm chủ quận lỵ Mai Lĩnh và 11 phân chi khu Lúc này, trên hướng tiến công chủ yếu ở tây nam Huế, Sư

đoàn 324 của Quân đoàn 2 đã triển khai xong lực lượng, chuẩn bị tiến công địch ở Mỏ Tàu và trên điểm cao 303 Sáng ngày 8-3-1975, sau loạt đạn pháo bắn cấp tập vào các điểm cao 303, 75, 76, 224, Mỏ Tàu, cuộc tiến công của Sư đoàn 324 bắt đầu ở mũi tiến công chủ yếu, Trung

đoàn bộ binh 2 đánh mạnh vào hai mục tiêu then chốt là

điểm cao 303 và 224 ở mũi thứ yếu, Trung đoàn 1 tiến công

điểm cao 75, 76 Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt Đến 10 giờ ngày 8-3, ta chỉ mới chiếm được mỏm E6, E7 thuộc

điểm cao 224

Ngày 10-3-1975, với sự chi viện của pháo binh Sư đoàn

325, Trung đoàn 2 đã chiếm được điểm cao 224 và 273, loại khỏi vòng chiến đấu 2 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 1

và Trung đoàn 54 - Sư đoàn 1 quân đội Sài Gòn Cũng thời gian này, Sư đoàn 324 tổ chức một bộ phận trinh sát luồn sâu, bí mật tập kích tiêu diệt cụm xe tăng địch ở núi Nghệ, uy hiếp đối phương ở phía tây và vùng đồng bằng nam Huế

Mất điểm cao 224 và một số vị trí quan trọng khác, Mỏ Tàu và điểm cao 303 bị đe doạ, dẫn tới nguy cơ đường 1 bị cắt, Trị - Thiên - Huế sẽ bị cô lập Trước tình hình đó, địch

Trang 13

vội điều thêm lực lượng tăng cường cho tuyến phòng thủ này và tổ chức phản kích để chiếm lại cao điểm 224: Tiểu

đoàn 61 thuộc Liên đoàn biệt động quân 15 được điều ra núi Bông; Tiểu đoàn biệt động quân 94, 96 và Chi đoàn thiết giáp 27 giữ điểm cao 31; Chi đoàn thiết giáp 37 cùng

1 đại đội của Tiểu đoàn 154 án ngữ điểm cao 52; Tiểu đoàn

2 thuộc Trung đoàn 1 - Sư đoàn 1 ra tăng cường chuẩn bị phản kích chiếm lại điểm cao 224

Ngày 13-3-1975, cuộc phản kích của địch bắt đầu

Địch dùng phi pháo bắn phá ác liệt vào trận địa ta, yểm trợ cho bộ binh tiến công liên tục vào điểm cao 224 Cuộc chiến đấu diễn ra hết sức quyết liệt và dai dẳng, kéo dài 7 ngày không phân thắng bại Cuối cùng, địch chiếm một phần điểm cao 224

Nhìn chung trên hướng chủ yếu của chiến dịch, cho

đến thời điểm này, ta đã phá vỡ một mảng lớn hệ thống phòng ngự của đối phương ở khu vực đường 14, diệt và bắt sống gần 1.000 tên, trong đó, 1 tiểu đoàn bị diệt gọn, 1 tiểu đoàn khác bị đánh thiệt hại nặng Kết quả đạt được tuy còn khiêm tốn, song điều quan trọng là ta đã thu hút, giam chân một lực lượng lớn chủ lực địch tại đây, tạo thuận lợi cho hướng khác hoạt động mạnh

Phối hợp với hướng chủ yếu, ngày 8-3-1975, trên các địa bàn do Quân khu Trị - Thiên đảm nhiệm, lực lượng vũ trang địa phương đồng loạt tiến công ở nhiều địa điểm Tại khu vực đường số 12, Tiểu đoàn 9 - Trung đoàn

271 cùng Trung đoàn 6 chủ lực Quân khu tiến công căn cứ

Trang 14

La Sơn, Chúc Mao, điểm cao 300 Đối phương phán đoán

đây là hướng tiến công chủ yếu của ta nên chúng tổ chức phòng ngự rất kiên cố và tổ chức phản kích quyết liệt Trung đoàn 6 vừa tiến công vừa bao vây, tạo thế uy hiếp, thu hút lực lượng địch, làm cho chúng bị căng kéo, dàn mỏng đối phó, tạo điều kiện cho quân và dân các địa phương vùng đồng bằng đẩy mạnh tiến công

ở phía nam Huế, ta đồng loạt tiến công vào 6 phân chi khu ở Phú Vang, 1 phân chi khu ở Hương Thuỷ, các phân chi khu Vĩnh Giang, Vĩnh Hải, Vĩnh Hiến và Chi khu quân sự Vĩnh Lộc, phá rã, phá lỏng hệ thống kìm kẹp của

đối phương ở nhiều ấp, xã

Phía bắc Huế, Trung đoàn bộ binh 4 được pháo binh Trung đoàn 16 và Trung đoàn 223 chi viện, đã tiến công

và làm chủ căn cứ Phổ Lại Đối phương phản kích quyết liệt hòng chiếm lại địa bàn quan trọng này Trung đoàn 4

đã kiên cường chiến đấu, trụ vững trong 6 ngày, bẻ gãy các đợt phản kích của địch, loại khỏi vòng chiến đấu 530 tên, bắn rơi 1 máy bay, phá huỷ 6 xe quân sự, 3 khẩu pháo, thu nhiều vũ khí Cùng với đòn tiến công của Trung

đoàn 4, lực lượng vũ trang huyện Phong Điền cùng các đội công tác vũ trang đồng loạt tiến công diệt gọn 5/9 phân chi khu, làm tan rã chính quyền cơ sở địch ở thôn, xã

Tại Quảng Trị, lực lượng vũ trang địa phương tập kích

địch ở điểm cao 122, 118, 90, đồng thời chế áp trận địa pháo ở Dốc Bầu, Tân Điền Đáng chú ý, đêm ngày 8 rạng ngày 9-3, Đại đội 12 phối hợp cùng Đại đội trinh sát 130, Tiểu đoàn đặc công 10 của tỉnh tiến công chi khu quân sự

Trang 15

Mai Lĩnh - một mắt xích quan trọng trong tuyến phòng thủ của địch ở Quảng Trị, diệt 100 tên

Hoạt động mạnh của ta ở vùng giáp ranh đã cổ vũ phong trào ở đồng bằng phát triển Vùng đồng bằng Quảng Trị, từ ngày 8-3, các đội vũ trang công tác cùng bộ

đội địa phương, dân quân, du kích tiến công các phân chi khu Hải Nhi, Hải Kinh, Hải Vân, diệt và bức rút 11 chốt

địch đóng xung quanh điểm cao 235 và 21 chốt ở tây Hải Lăng ở đồng bằng Thừa Thiên, lực lượng vũ trang tại chỗ

hỗ trợ nhân dân Phú Lộc, Phú Thứ, Phong Quảng, Hương Trà nổi dậy diệt ác, phá kìm, giành quyền làm chủ 13 xã, giải phóng hơn 30.000 dân

Vào thời điểm này, trên chiến trường Tây Nguyên, ta giành thắng lợi hết sức quan trọng, giải phóng Buôn Ma Thuột, làm đảo lộn thế phòng ngự của đối phương ở Tây Nguyên Bộ Chính trị họp ngày 11-3-1975 nhận định: Ta giành thắng lợi lớn trên các chiến trường, đặc biệt là Tây Nguyên và Khu 5 làm tinh thần quân địch suy sụp rất nhanh, ta có khả năng giành thắng lợi với nhịp độ nhanh hơn Quân uỷ Trung ương trong bức điện gửi các chiến trường cũng khẳng định: Tây Nguyên giành thắng lợi lớn

và còn có khả năng giành thắng lợi lớn hơn, với nhịp độ tiến công nhanh hơn Địch đang lúng túng điều động lực lượng cơ động chiến lược để đối phó Ta cần khẩn trương, tận dụng điều kiện thuận lợi, nhanh chóng tập trung lực lượng tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch và có kế hoạch chớp thời cơ như đã dự kiến

Quán triệt tinh thần trên của Bộ Chính trị và Quân

Trang 16

uỷ Trung ương, quân và dân Trị - Thiên đẩy mạnh tiến công và nổi dậy Đáng chú ý, ngày 13-3-1975, Trung đoàn

6 chủ lực Quân khu mở đợt tiến công ở Chúc Mao, điểm cao 300, đồng thời dùng hoả lực bắn phá La Sơn, đồi Không Tên, uy hiếp đối phương ở Động Tranh, Bình Điền Trước áp lực mạnh của ta ở phía tây Huế, ngày 14 và 15-3-

1975, Trung đoàn 3 - Sư đoàn bộ binh số 1 quân đội Sài Gòn phải rút bỏ khu vực phía tây đường 12 đoạn từ Đèo

Đông đến điểm cao 551 về phòng ngự giữ Động Tranh, Bình Điền, bảo vệ thành phố Huế

Tình hình diễn biến hết sức mau lẹ ở Tây Nguyên, những thắng lợi liên tiếp của ta đã đưa Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đến một quyết định sai lầm là ra lệnh rút bỏ Kon Tum, Plâyku về co cụm ở đồng bằng Thiệu còn lệnh điều Sư đoàn dù ở Đà Nẵng vào tăng cường phòng thủ Sài Gòn Thay vào đó, Sư đoàn thuỷ quân lục chiến

được điều từ Quảng Trị vào Đà Nẵng Lữ đoàn 369 và Lữ

đoàn 258 thuỷ quân lục chiến cũng được điều vào Quảng Nam và bắc Hải Vân Sự điều động trên đây của Thiệu khiến lực lượng quân đội Sài Gòn ở Quảng Trị suy giảm

đáng kể, cho dù đã được tăng cường Liên đoàn biệt động quân 14; thế bố trí bị đảo lộn, tuyến phòng thủ trở nên lỏng lẻo, khó có thể giữ vững khi bị đối phương tiến công Trước tình hình đó, theo sự chỉ đạo của Quân uỷ Trung ương, ngày 17-3-1975, Thường vụ Khu uỷ và Quân khu uỷ Trị - Thiên đã họp và hạ quyết tâm: “Dùng toàn bộ lực lượng chủ động, táo bạo bất ngờ tiến công trên hai hướng: hướng đông từ thôn Thanh Hội theo trục đường 68

Trang 17

và hướng tây từ Tích Tường, Như Lệ theo đường số 1 tiến vào phía nam Trên hướng bắc, đưa toàn bộ Trung đoàn

bộ binh 4 ra cắt địch ở An Lỗ Trên hướng nam, bỏ khu vực điểm cao 303, 224 chuyển sang tiến công cắt giao thông địch ở đường số 1 khu vực Lương Điền - Đá Bạc (Phú Lộc) Thời gian bắt đầu tiến công chậm nhất là ngày 19-3-1975”1

Chỉ một ngày sau cuộc họp trên, đồng chí Lê Trọng Tấn - Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam gửi điện cho Quân khu Trị - Thiên và Quân đoàn 2 Bức điện chỉ rõ: “Địch rút khỏi Kon Tum, Plâyku Yêu cầu phải táo bạo, hành động khẩn trương Quân khu Trị - Thiên gấp rút đưa lực lượng xuống và đẩy mạnh hoạt động

ở vùng sâu đồng bằng Không chỉ đưa các tiểu đoàn mà

đưa cả trung đoàn xuống phối hợp với bộ đội địa phương, dân quân, du kích và các đội công tác đánh chiếm và làm chủ vùng sâu, diệt ác phá kìm Quân đoàn 2 nhanh chóng tiêu diệt quận lỵ Phú Lộc, cắt đứt đường số 1, gấp rút chuẩn bị hoả lực đánh Đà Nẵng”2

Cùng ngày, Bộ Tổng tham mưu gửi tiếp một bức điện với nội dung: “Có khả năng địch bỏ từ Huế đến sông Thạch Hãn Việc điều chỉnh bố trí này nằm trong kế hoạch co cụm lớn về chiến lược toàn miền Nam Trước tình hình _

1 Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử chiến dịch Trị -

Thiên và chiến dịch Đà Nẵng Xuân 1975, Sđd, tr 66-67

2 Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2: Lịch sử Quân đoàn 2 (1974-1994),

Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, tr.154-155

Trang 18

đang rất thuận lợi, các đồng chí cần chỉ huy các đơn vị thuộc quyền hoạt động một cách táo bạo, khẩn trương, không cho địch rút lui bỏ vùng bắc Huế một cách an toàn mang theo cả bọn phản động về co cụm ở Đà Nẵng, sau này

sẽ khó khăn cho ta Phải nhanh chóng đánh xuống đường

số 1, cắt đường, đánh sân bay, kho tàng ở Phú Bài” 1 Thực hiện sự chỉ đạo của Bộ Tổng tham mưu và quyết tâm của Khu uỷ, Quân khu uỷ, từ đêm 18 rạng ngày 19-3-

1975, các lực lượng vũ trang ta đồng loạt tiến công vào tuyến phòng thủ của đối phương ở Quảng Trị

ở hướng đông, Tiểu đoàn 3 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Trị được tăng cường 1 đại đội xe tăng, 1 đại đội pháo binh hỗn hợp chia làm hai mũi, mũi chủ yếu theo tỉnh lộ 68 diệt địch ở Tài Lương, Đạo Đầu, sau đó phát triển sang Phù Lưu, Triệu Dương Mũi thứ hai đánh

địch ở Thanh Hội, Gia Đẳng, Mỹ Thuỷ và phát triển vào Thẩm Khế

Hướng tây bắc, Tiểu đoàn 14 cùng Đại đội Lê Hồng Phong đánh chiếm điểm cao 15, Phước Môn, Tích Tường, Như Lệ, La Vang

Hướng tây, Tiểu đoàn 8, Tiểu đoàn 812 và Tiểu đoàn

10 tiến công đối phương ở Dốc Bầu, Mỹ Chánh, Hồ Lầy Cùng với lực lượng vũ trang đánh địch, du kích các địa phương cũng chuyển từ vây ép địch ở tây nam Hải Lăng sang tiến công truy kích diệt địch ở các điểm cao 235, 367, _

1 Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2: Lịch sử Quân đoàn 2 (1974-1994),

Sđd, tr 154-155

Trang 19

222, động Ông Do Nhân dân các huyện vùng giáp ranh, vùng đồng bằng nổi dậy phá bỏ các khu tập trung, chiếm trụ sở chính quyền địch ở cơ sở, giành quyền làm chủ

18 giờ 30 phút ngày 19-3-1975, tỉnh Quảng Trị hoàn toàn được giải phóng Tuyến phòng thủ phía bắc của địch

đứng trước nguy cơ bị phá vỡ hoàn toàn

Lúc này, trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên, Tiểu đoàn 15 Trung đoàn 3 chủ lực Quân khu và Đại đội 10 đặc công tỉnh cùng lực lượng tại chỗ đánh trả các cuộc phản kích của đối phương ở phía bắc tỉnh Đồng thời, pháo binh Quân đoàn 2 bắn phá các căn cứ Hiệp Khánh, cầu An Lỗ, Tập Lộc, Mang Cá, gây cho địch nhiều thiệt hại

-Trước sức tiến công mạnh mẽ và bất ngờ của ta trên toàn tuyến phòng thủ phía bắc, đối phương hoảng sợ rút chạy về phía nam, co cụm ở tuyến Mỹ Chánh - Thanh Hương

Ngay khi địch rút khỏi Quảng Trị và bắt đầu tháo chạy khỏi Tây Nguyên, ngày 18-3-1975, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương đã họp nhận định: Ta đã tiêu diệt

đại bộ phận Quân đoàn 2 quân đội Sài Gòn, giải phóng Tây Nguyên Thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của ta đã

đánh dấu một bước mới trong cục diện chung Trên cơ sở

đánh giá này, Bộ Chính trị hạ quyết tâm khẩn trương chuyển sang thực hiện phương án thời cơ hoàn thành kế hoạch giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975 Hướng tiến công chiến lược là Sài Gòn, song trước mắt phải nhanh chóng tiêu diệt toàn bộ lực lượng địch ở Vùng 1 chiến thuật, giải phóng Huế - Đà Nẵng

Ngày 20-3-1975, Bộ Tổng tư lệnh chỉ thị cho Mặt trận

Trang 20

Trị - Thiên: Tiếp tục tiến công địch Quân khu Trị - Thiên sử dụng 2 trung đoàn (4, 46) hình thành mũi tiến công từ phía bắc Quân đoàn 2 hình thành mũi tiến công từ phía nam đánh ra tiêu diệt địch ở Huế, bịt chặt cửa Thuận An, chặn địch rút chạy theo đường biển vào Đà Nẵng

Thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị và chỉ thị của Bộ Tổng tư lệnh, Quân khu Trị - Thiên quyết định: “Tranh thủ thời cơ dốc toàn lực giải phóng Thừa Thiên - Huế bằng một cuộc tiến công tổng hợp, toàn diện, lấy chia cắt và bao vây chiến dịch kết hợp với các mũi thọc sâu của chủ lực làm biện pháp then chốt, đồng thời sử dụng lực lượng vũ trang

địa phương trực tiếp đánh địch, hỗ trợ và vận động quần chúng nổi dậy giành dân và giữ dân, đưa chiến dịch đến toàn thắng Hết sức chú ý, không cho địch co cụm lại trong thành phố Huế”1 Đồng thời, Quân khu thống nhất với Quân đoàn 2 phương án giải phóng thành phố Huế và toàn tỉnh Thừa Thiên

Lúc này, ở Thừa Thiên - Huế, địch có 5 trung, lữ đoàn với tổng quân số 46.500 quân (27.500 quân chủ lực, 19.000 quân địa phương), chưa kể 36.000 phòng vệ dân sự Toàn

bộ lực lượng này được bố trí như sau: Lữ đoàn 147 - Sư

đoàn 1 bộ binh đóng ở Hòn Vượn, Trung đoàn 1 và Trung

đoàn 54 (Sư đoàn 1) đóng ở Mỏ Tàu, Trung đoàn 3 của Sư

đoàn này đứng chân ở Hương Thuỷ, Liên đoàn bảo an 913

ở Hương Điền, Liên đoàn 914 ở An Lỗ, Liên đoàn 15 biệt

động quân và Thiết đoàn 17 ở Đa Nghi - Đơn Quế, Thiết

đoàn 7 ở Phú Bài, Thiết đoàn 20 ở Phong Điền

_

1 Lê Tự Đồng: Trị Thiên - Huế Xuân 1975, Sđd, tr 82-83

Trang 21

Phương án tiến công giải phóng hoàn toàn Thừa Thiên - Huế được Quân khu Trị - Thiên và Quân đoàn 2 bàn bạc thống nhất:

Hướng nam Huế do Quân đoàn 2 (thiếu Sư đoàn 304)

đảm nhiệm, trong đó, Sư đoàn 325 (thiếu) được giao nhiệm

vụ đánh phá hệ thống phòng thủ của đối phương ở các

điểm cao 560, 520, 494, dãy Kim Sắc, cắt đường số 1 (đoạn giữa Hương Điền - Phú Lộc) và sẵn sàng đánh địch giải toả trên cả hai hướng từ Huế vào và từ Đà Nẵng ra; Sư

đoàn 324 có nhiệm vụ tiêu diệt địch ở điểm cao 303, Mỏ Tàu, sau đó hình thành hai mũi: Một mũi đánh chiếm La Sơn - Phú Bài và theo đường số 1 đánh thẳng vào Huế; một mũi bí mật vu hồi xuống đồng bằng đánh cảng Tân

Mỹ, bịt cửa Thuận An

Hướng bắc Huế, 2 tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh Quảng Trị được sự hỗ trợ của pháo binh và xe tăng tiến công quận lỵ Hương Điền, sau đó phát triển vào cửa biển Thuận An, ngã ba Sình Trung đoàn 4 bộ binh Quân khu Trị - Thiên được tăng cường Tiểu đoàn 8 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Trị và pháo binh chi viện đánh Lữ đoàn 147 thuỷ quân lục chiến ở tuyến sông Bồ, sau đó cũng phát triển ra cửa Thuận An, ngã ba Sình

Hướng tây Huế (đường 12), hai trung đoàn bộ binh 6

và 271 Quân khu Trị - Thiên có pháo binh chi viện đánh chiếm Đình Môn, Kim Ngọc Trung đoàn 6 vượt sông Hương, phát triển tiến công vào khu tam giác, chặn đối phương từ đường số 2 chạy về Trung đoàn 271 sau khi vượt qua sông Hương tiến về phía đông thành phố Huế chia cắt đối phương giữa Huế và Phú Bài rồi phát triển

Trang 22

về quận lỵ Phú Vang hợp vây cùng Quân đoàn 2 diệt

địch ở Phú Vang, cửa Thuận An, cảng Tân Mỹ

Cùng với các hướng tiến công, pháo binh của Quân khu và Quân đoàn 2 đánh phá Sở chỉ huy tiền phương Quân

đoàn 1 quân đội Sài Gòn ở Mang Cá (Huế); đơn vị K5 đặc công nước của hải quân đặt thuỷ lôi khống chế địch ở cửa biển Thuận An, cửa Tư Hiền và cảng Tân Mỹ Lực lượng

vũ trang địa phương tỉnh, huyện và dân quân, du kích xã tích cực phối hợp với bộ đội chủ lực đánh địch, đồng thời phát động quần chúng nổi dậy diệt ác, phá kìm, giành quyền làm chủ

Phương án trên được Bộ Tổng Tư lệnh chấp thuận Mọi công tác chuẩn bị được tiến hành khẩn trương Theo

đúng phương án đã xác định, 5 giờ 40 phút ngày 21-3, cuộc tiến công giải phóng toàn tỉnh Thừa Thiên - Huế bắt đầu Hướng nam thành phố Huế, Trung đoàn 18 - Sư đoàn

325 nhanh chóng làm chủ các điểm cao 494, 520, đồi Yên Ngựa và mỏm 1 điểm cao 560, nơi Tiểu đoàn 61 biệt động quân đóng chỉ huy sở Cùng thời gian này, Trung đoàn 1 - Sư đoàn 324 đánh chiếm núi Bông nhưng ngay sau đó, đối phương phản kích chiếm lại Trung đoàn 2 - Sư đoàn 324

đánh chiếm điểm cao 224 và phát triển tiến công chiếm

được một nửa điểm cao 303 Trung đoàn 18 sau khi chiếm mỏm 1 điểm cao 560 đã phải dừng lại và do vậy, khả năng cắt đứt đường số 1 không thể thực hiện được Trước tình hình này, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 325 lệnh cho Trung

đoàn 18 đưa lực lượng dự bị (Đại đội 7 - Tiểu đoàn 8) tăng cường tiếp tục đánh chiếm điểm cao 560; đồng thời, lệnh cho Trung đoàn 101 - Sư đoàn 325 đưa Tiểu đoàn 2 tiến

Trang 23

công điểm cao 329 hỗ trợ cho Trung đoàn 18 Tiểu đoàn 3 - Trung đoàn 101 làm nhiệm vụ bao vây cũng chuyển sang tiến công tiêu diệt địch ở điểm cao 310, 312 Trưa ngày 21-3-1975, Trung đoàn 101 đã hoàn thành việc tiêu diệt các mục tiêu được giao, chiếm được dãy Kim Sắc, đập tan hệ thống phòng ngự phía tây đường số 1 từ nam Lương Điền

đến bắc Phú Lộc 15 giờ cùng ngày, Trung đoàn 19 hoàn thành nhiệm vụ, diệt Tiểu đoàn 61 biệt động quân, làm chủ điểm cao 560, bắt sống tên Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng

Đây cũng là lúc quân đoàn nhận được chỉ thị của Bộ Chỉ thị nêu rõ: Địch bắt đầu rút khỏi Trị - Thiên - Huế, phải khẩn trương đưa lực lượng xuống đồng bằng cắt đứt đường

1, bịt cửa Thuận An, diệt Sư đoàn 1 bộ binh quân đội Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn Trị - Thiên - Huế1 Thực hiện _

1 Trong bài Bàn thêm về việc tạo dựng và nắm bắt thời cơ trong

chiến dịch Quảng Nam - Đà Nẵng, đăng trên Tạp chí Lịch sử quân sự,

số tháng 4-2007, tác giả Đồng Thoại cho biết: "Vào sáng ngày 21-3, tại

Sở chỉ huy của Bộ, có một cuộc điện thoại trực tuyến giữa Tổng Tham mưu phó Lê Trọng Tấn và đồng chí Nguyễn Hữu An - Tư lệnh Quân

đoàn 2 Sau khi nhắc lại tình hình và truyền đạt lệnh của Đại tướng Tổng Tư lệnh cho Quân đoàn 2 phải bằng mọi cách cắt đường 1, đồng chí Lê Trọng Tấn nói: "Nếu Quân đoàn 2 không cắt được đường 1, để

địch rút lui về cố thủ Đà Nẵng thì Quân đoàn 2 (cả Tư lệnh quân đoàn nữa) có tội với lịch sử"" Theo tác giả: sau này, qua tổng kết, được biết, toàn bộ Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 chỉ để lại Sở Chỉ huy cơ bản, có Chính

uỷ và Tham mưu phó, còn lại đã trực tiếp xuống đốc chiến và kết quả

là sáng 22-3, lực lượng Sư đoàn 325 đã xuống chiếm được đường 1 và

mở rộng ra 4 km, chặn đứng đường rút của địch Khẩu hiệu của Sư

đoàn 325 lúc đó là: "Vị trí chỉ huy của sư đoàn, các trung đoàn và toàn

đơn vị là đường số 1"; "Hãy tiến ngay xuống đường số 1, lấy mặt đường làm điểm hiệp đồng!"

Trang 24

mệnh lệnh đó, ngay trong đêm ngày 21-3, Trung đoàn 18 - Sư đoàn 325 tổ chức hành quân theo hướng đông tiến xuống đồng bằng làm nhiệm vụ đánh cắt đường số 1 Rạng sáng ngày 22-3, hai tiểu đoàn 7 và 8 của Trung đoàn 18 đã tới sát đường 1 Trung đoàn khẩn trương triển khai đội hình chiến đấu Đến 10 giờ 30 phút ngày 22-3, ta đã tiêu diệt các vị trí địch ở hai bên đường số 1, làm chủ một đoạn dài 4 km từ Ràng Bò đến làng Bạch Thạch

Cũng trong đêm ngày 21-3, đơn vị K5 đặc công nước của hải quân đã đánh sập cầu Thừa Lưu (Phú Lộc) trên

đường 1, Trung đoàn 24 - Sư đoàn 324 chiếm lại điểm cao

224 và đánh bại nhiều đợt phản kích quyết liệt của địch ở

điểm cao 303 và khu vực Mỏ Tàu

Đường số 1, con đường bộ duy nhất để rút về cố thủ ở

Đà Nẵng đã bị cắt, khiến đối phương ở Thừa Thiên - Huế

bị cô lập hoàn toàn Hàng ngàn xe cộ các loại đang trên

đường từ Huế chạy vào Đà Nẵng phải quay trở lại Đối phương hoang mang cực độ Sự hỗn loạn diễn ra chẳng khác gì khi chúng rút khỏi Tây Nguyên Không còn cách nào khác, ngay trong ngày 22-3, chúng phải huy động lực lượng phản kích nhằm giải toả đường 1, song cố gắng này của địch đã không thành

Tình hình Thừa Thiên - Huế hết sức nguy cấp, Tướng Ngô Quang Trưởng - Tư lệnh Quân đoàn 1 - Quân khu 1 phải yêu cầu Nguyễn Văn Thiệu rút cơ quan Bộ Tư lệnh tiền phương Quân đoàn 1 vào Đà Nẵng Được sự đồng ý của Thiệu, tối ngày 22-3-1975, Ngô Quang Trưởng ra lệnh rút toàn bộ lực lượng và phương tiện chiến tranh ra khỏi

Trang 25

thành phố Huế theo ba cánh: Cánh thứ nhất gồm Lữ 147 thuỷ quân lục chiến, Liên đoàn 14 biệt động quân, Trung

đoàn 5 thuộc Sư đoàn 1, Lữ đoàn 1 kỵ binh thiết giáp rút theo đường biển qua cửa Thuận An vào Đà Nẵng Cánh thứ hai có Trung đoàn 3 - Sư đoàn 1, Liên đoàn 15 biệt động quân rút ra trụ tại khu vực Cự Lại (nam Thuận An 6 km) Cánh thứ ba là Trung đoàn 1, Trung đoàn 54 của Sư đoàn

1 rút theo cửa biển Tư Hiền vào Đà Nẵng

Khi ta cắt đường 1, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 cũng đã kịp thời nhận định, địch không thể lui quân theo đường

bộ, buộc phải rút theo đường biển qua cửa Thuận An và Tư Hiền Đây là thời cơ tốt nhất để ta tiêu diệt và làm tan rã lớn quân địch, giải phóng Huế và toàn tỉnh Thừa Thiên

Kế hoạch phối hợp tác chiến với Quân khu Trị - Thiên nhằm chặn địch rút bằng đường biển vào Đà Nẵng, tiêu diệt chúng ngay tại Thừa Thiên - Huế được Quân đoàn gấp rút hình thành Theo đó, Trung đoàn 101 của Sư đoàn

325 tiến công tiêu diệt căn cứ Lương Điền, sau đó phối hợp với Sư đoàn 324 theo đường 1 đánh ra Phú Bài - Huế; Trung đoàn 18 - Sư đoàn 325 đánh vào phía nam diệt Chi khu Phú Lộc, chiếm đèo Mũi Né, Phước Tượng, bịt chặt cửa Tư Hiền, sẵn sàng đánh địch giải toả; Trung đoàn 1 và

2 của Sư đoàn 324 bỏ qua các mục tiêu núi Bông, núi Nghệ, điểm cao 303, Mỏ Tàu, đánh thẳng xuống đồng bằng ven biển, hợp với Sư đoàn 325 tạo thành thế bao vây

từ phía đông - đông nam, ngăn địch chạy ra cửa biển Thuận An, Tư Hiền; Trung đoàn 3 - Sư đoàn 324 được tăng cường 1 đại đội xe tăng (của Lữ đoàn 203) diệt căn cứ

Trang 26

La Sơn, sau phát triển lên phía bắc cùng các đơn vị đánh

địch, giải phóng thành phố Huế; Lữ đoàn pháo binh 164 của Quân đoàn có nhiệm vụ chi viện cho các đơn vị chiến

đấu và chế áp địch ở cửa biển Thuận An, Tư Hiền; Lữ

đoàn 219 bảo đảm cầu phà và đường cơ động cho xe tăng vượt sông Truồi, An Nông, Phú Bài tiến vào thành Huế Thực hiện kế hoạch đề ra, ngay trong đêm ngày 22-3-

1975, các đơn vị hành quân vào vị trí tập kết Sáng ngày 23-3, Tiểu đoàn 8 thuộc Trung đoàn 18 - Sư đoàn 325 nổ súng tiến công Mũi Né - một căn cứ quan trọng của địch ở

điểm cao 134, diệt phần lớn quân địch đóng tại đây, số còn lại tháo chạy tán loạn Nhân cơ hội này, tiểu đoàn phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương truy kích địch và phát triển tiến công đánh chiếm quận lỵ Phú Lộc Thừa thắng, tiểu đoàn đánh tiếp đèo Phú Gia và Lăng Cô, tiêu diệt hoàn toàn Tiểu đoàn bảo an 128, kịp thời chặn đứng

âm mưu phá hoại Lăng Cô dù trước đó, địch đã gài sẵn thuốc nổ

Trong thời gian Trung đoàn 18 tiến đánh quận lỵ Phú Lộc, Trung đoàn 101 - Sư đoàn 325 cũng nổ súng tiến công căn cứ Lương Điền do Liên đoàn biệt động 15 đóng giữ

Địch hốt hoảng tháo chạy về Phú Bài Lương Điền được giải phóng, cánh cửa phía nam tiến vào thành phố Huế

được mở Trung đoàn 1 và 2 của Sư đoàn 324 lập tức hành quân vượt qua đường 1 xuống đồng bằng và thọc thẳng ra cửa biển Thuận An Trung đoàn 3 - Sư đoàn 324 đánh diệt

địch ở núi Bông, núi Nghệ, điểm cao 303, sau đó cũng phát triển xuống đường 1 cùng Trung đoàn 101 của Sư đoàn

325 đánh ra Phú Bài, Huế

Trang 27

Như vậy, ở phía nam, đến ngày 23-3, các mũi tiến công của Quân đoàn 2 từ hướng nam và hướng đông nam

đã hình thành thế bao vây, kẹp chặt thành phố Huế và cửa biển Thuận An

Trong khi đó, ở hướng bắc, dưới sự chỉ đạo của Quân khu Trị - Thiên, Tiểu đoàn 812 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Trị đánh địch co cụm ở xóm Bồ, Phổ Trạch (ngày 21-3), sau đó phát triển đánh chiếm Lương Mai, Bao Vinh Tiểu đoàn 3 (bộ đội tỉnh Quảng Trị) được tăng cường 1 đại

đội xe tăng, 1 đại đội pháo binh đánh diệt 2 tiểu đoàn bảo

an ở Xuân Viên, Thanh Hương (ngày 22-3) Địch rút chạy

về Đại Lộc Ta tiếp tục truy kích và chiếm quận lỵ Hương

Điền, bịt chặt cửa Thuận An (ngày 24-3) Cùng thời gian này, Trung đoàn 4 chủ lực Quân khu Trị - Thiên tiến công căn cứ Lữ đoàn 47 thuỷ quân lục chiến ở nam sông Bồ và

đánh địch phản kích Tiểu đoàn 8 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Trị theo đường số 1 đánh sang bờ nam sông Mỹ Chánh, sau đó phát triển tiến công đánh chiếm quận lỵ Hương Trà, uy hiếp đối phương ở Huế từ phía tây bắc Phối hợp với lực lượng vũ trang đánh địch, nhân dân các địa phương Thừa Thiên cũng nổi dậy diệt ác, phá kìm, giành quyền làm chủ ở huyện Hương Trà, được các đội vũ trang công tác hỗ trợ, quần chúng các xã Hương Cần, Hương Sơ, Hương Mai, Hương Thanh, Hương Thái nổi dậy truy lùng, tìm diệt những tên ác ôn có nợ máu với nhân dân và kêu gọi binh lính địch quay súng trở về với gia

đình, người thân

Tại huyện Phong Điền, nhân dân các xã Phong Bình,

Trang 28

Phong Hoà, Phong Chương vừa tuyên truyền, vừa hù doạ, khiến đối phương hoang mang, hàng trăm tên đã bỏ ngũ

Đặc biệt, tại xã Phong Thu, đêm ngày 23-3, đội vũ trang công tác cùng du kích xã diệt lực lượng dân vệ gác cầu Phò Trạch, sau đó đánh chiếm quận lỵ

Tại huyện Quảng Điền, khi lực lượng vũ trang địa phương tiến công chi khu quân sự, nhân dân các xã Quảng Lợi, Quảng Đại đã nổi dậy cùng bộ đội truy lùng ác ôn và dẫn đường cho bộ đội truy kích địch

Tại Hương Thuỷ, dưới sự lãnh đạo của cơ sở mật, nhân dân xã Hải Thuỷ đã vận động lực lượng dân vệ và phòng

vệ dân sự bỏ súng quay về với cách mạng Trong lúc đó, du kích xã Mỹ Thuỷ sau khi đột nhập vào cắm cờ ở ấp 5 đã vận động hơn 3 ngàn người míttinh rồi cùng bộ đội tiến vào giải phóng quận lỵ

Huyện Phú Vang, bộ đội địa phương huyện phối hợp với lực lượng nội ứng trong hàng ngũ địch mở cuộc tiến công, loại khỏi vòng chiến đấu 1 đại đội bảo an ở Phú Đa Một lực lượng khác đánh địch co cụm ở Trường Lưu, bao vây diệt địch ở Thuận An, Tân Mỹ Ngày 24-3, nhân dân xã Phú Hồ nổi dậy phá ách kìm kẹp của địch, giành chính quyền

ở Phú Lộc, được sự hỗ trợ của các đội vũ trang công tác và lực lượng vũ trang huyện, nhân dân bị địch dồn trong trại tập trung Phước Long, Cảnh Dương vận động

được đại đội bảo an đóng tại đây quay súng cùng nhân dân nổi dậy phá khu tập trung, giành quyền làm chủ Ngày 22

và 23-3, lực lượng vũ trang địa phương phối hợp với bộ đội chủ lực, đánh chiếm quận lỵ Cầu Hai

Trang 29

Ngày 24-3-1975, khi các cánh quân của Quân đoàn 2

và Quân khu Trị - Thiên hình thành thế bao vây địch ở thành phố Huế và Phú Bài thì cả sĩ quan và binh lính cơ quan Bộ Tư lệnh tiền phương Quân đoàn 1 quân đội Sài Gòn ở Mang Cá Lớn cũng như các đơn vị chủ lực, bảo an tháo chạy về hướng cửa Thuận An và Tư Hiền hòng theo

đường biển rút vào Đà Nẵng, cho dù mãi tới tối hôm đó,

Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 mới có quyết định rút bỏ Huế

Được giao nhiệm vụ đánh chiếm căn cứ Phú Bài, mở

đường cho Quân đoàn 2 tiến vào giải phóng thành phố Huế, đêm ngày 24-3, Trung đoàn 101 thuộc Sư đoàn 325

và Trung đoàn 3 thuộc Sư đoàn 324 bắt đầu tổ chức triển khai đội hình chiến đấu Tiểu đoàn 3 của Trung đoàn 101

bí mật luồn ra phía sau căn cứ, đánh chiếm quận lỵ Hương Thuỷ Trung đoàn 3 được tăng cường 1 đại đội xe tăng, theo đường 1, tiến công thẳng vào căn cứ Phú Bài Rạng sáng ngày 25-3, theo kế hoạch, Tiểu đoàn 3 -Trung đoàn 101 nổ súng tiến công quận lỵ Hương Thuỷ Sau ít phút chiến đấu, Tiểu đoàn đã làm chủ trận địa Cùng lúc, Trung đoàn 3 đánh chiếm cầu và căn cứ Phú Bài Bị đánh trước mặt và sau lưng, quân địch trong căn

cứ tháo chạy tán loạn, bỏ cả xe pháo Ta nhanh chóng làm chủ căn cứ

Sau khi chiếm được Hương Thuỷ, Phú Bài, theo đường 1,

ta đánh thẳng vào nội đô thành phố Huế

Với sự hỗ trợ của xe tăng và sự giúp đỡ của nhân dân

địa phương, Trung đoàn 101 và Trung đoàn 3 nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu chủ yếu trong thành phố

Trang 30

Đúng 13 giờ ngày 25-3-1975, lá cờ quyết chiến quyết thắng của Trung đoàn 101 đã tung bay trên đỉnh Phu Văn Lâu

ở hướng đông, Trung đoàn 1 - Sư đoàn 324 sau khi vượt đường 1, tiếp tục phát triển tiến công xuống dải đồng bằng ven biển Đêm ngày 24-3, Trung đoàn "chạm trán" với Sư đoàn 1 và Liên đoàn 15 biệt động quân của đối phương lúc ấy đang co cụm ở Lương Thiện Lập tức, Trung

đoàn tổ chức bao vây, tiến công, diệt và bắt sống hàng trăm tên 10 giờ ngày 25-3, Trung đoàn tiến công vào Lữ

đoàn 147 thuỷ quân lục chiến khi lữ đoàn này đang chuẩn

bị bãi đón tàu vào hòng rút chạy tại Làng Cư, Kê Sung,

Cự Lại Tiếp đó, Trung đoàn tiếp tục phát triển đánh chiếm cảng Tân Mỹ và khu vực phía nam cửa Thuận

An Lúc này, Trung đoàn 2 - Sư đoàn 324 cũng phát triển tiến công đến đây Hai trung đoàn hợp lực bịt chặt cửa Thuận An, không cho địch rút chạy theo đường biển Chiều ngày 25-3, các đơn vị thuộc Sư đoàn 325 đánh chiếm nhiều mục tiêu quan trọng trong thành phố như căn cứ Mang Cá, Trại Cao Vân, Nhà lao Thừa Phủ Hướng tây (đường 12), đêm ngày 24-3, Trung đoàn 6

và Trung đoàn 271 Quân khu Trị - Thiên tổ chức vượt sông Hương, tiến vào thành phố Huế Do thiếu phương tiện vượt sông, hơn nữa, vừa hành quân, vừa phải đánh

địch nên lực lượng tiến công trên hướng này tiếp cận mục tiêu bị chậm so với kế hoạch Một bộ phận của cánh quân này phải chuyển sang hướng sông Tả Trạch, đánh chiếm

Đình Môn, Kim Ngọc rồi mới cơ động vào Huế Đến ngày 26-3, hai trung đoàn 6 và 24 mới đánh vào các mục tiêu thuộc khu Tam giác trong thành phố Huế

Trang 31

Hướng tây bắc, Tiểu đoàn 8 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Trị sau khi đánh chiếm quận lỵ Hương Trà, sáng ngày 25-3, đã tiến thẳng vào nội đô

Phối hợp với đòn tiến công của lực lượng vũ trang, Thành uỷ và các quận uỷ, huyện uỷ lãnh đạo nhân dân nổi dậy giành chính quyền

Đến tối ngày 25-3-1975, ta đã đập tan toàn bộ quân đối phương ở Trị Thiên - Huế, làm thất bại ý đồ rút chạy về Đà Nẵng của chúng Sáng ngày 26-3-1975, toàn bộ Thừa Thiên - Huế hoàn toàn được giải phóng, chiến dịch Trị - Thiên kết thúc thắng lợi

Kết quả, sau 21 ngày đêm chiến đấu (từ ngày 5 đến ngày 26-3-1975), quân và dân Trị - Thiên - Huế cùng Quân đoàn 2 đã tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân địch

đóng trên địa bàn Thừa Thiên - Huế bao gồm: Sư đoàn 1

bộ binh, Lữ đoàn 147 thuỷ quân lục chiến, 2 liên đoàn biệt

động quân (14 và 15), Lữ đoàn 1 kỵ binh thiết giáp, 3 thiết

đoàn, 8 tiểu đoàn pháo binh, 18 tiểu đoàn bảo an, 319 trung đội dân vệ, 7.000 cảnh sát cùng các đơn vị bảo đảm, thu 140 xe tăng, thiết giáp, 800 xe tải, 1 vạn tấn đạn Chỉ tính số địch bị bắt và ra trình diện đã lên tới 58.772 tên, trong đó có 3.781 sĩ quan, 14.000 nhân viên chính quyền Sài Gòn Đây là một trong những thắng lợi to lớn nhất, triệt để nhất của quân và dân ta ở Trị Thiên - Huế trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

Với thắng lợi này, ta đã đập tan tấm lá chắn mạnh nhất của đối phương ở phía bắc, mở toang cánh cửa để quân

và dân ta tiếp tục phát triển cuộc tiến công về phía nam,

Trang 32

giải phóng thành phố Đà Nẵng và các tỉnh Trung Trung

Bộ, làm thất bại ý đồ rút quân co cụm về Đà Nẵng cố thủ Thắng lợi của ta giáng một đòn mạnh vào ý chí, tinh thần binh lính đối phương, gây phản ứng dây chuyền làm đối phương suy sụp, tan rã nhanh hơn, tạo thuận lợi để ta đẩy nhanh nhịp độ tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam

II- Tiến công giải phóng Đà Nẵng

và các tỉnh Trung Trung Bộ

Nằm trong kế hoạch chiến lược chung của Bộ Tổng tư lệnh, đồng thời với chiến dịch Tây Nguyên và chiến dịch Trị - Thiên, từ đầu tháng 3-1975, Quân khu 5 mở chiến dịch Nam - Ngãi Hướng chủ yếu của chiến dịch là tây nam Quảng Nam và tây bắc Quảng Ngãi Hướng phối hợp là

đường 19 - An Khê Sở dĩ ta chọn tây nam Quảng Nam và tây bắc Quảng Ngãi làm hướng tiến công chủ yếu vì đây là khu vực yếu nhất trong toàn bộ hệ thống phòng thủ của đối phương ở địa bàn chiến lược trọng yếu Quân khu 1 Về phía

ta, đây là nơi ta có điều kiện thuận lợi nhất cho hoạt động tác chiến tập trung của bộ đội chủ lực quân khu Tham gia chiến dịch có Sư đoàn 2, một bộ phận Sư đoàn 3, Lữ đoàn

52 chủ lực Quân khu 5 và bộ đội địa phương các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi

Trên địa bàn chiến dịch, địch có 1 sư đoàn bộ binh, 1 liên đoàn biệt động quân, 1 thiết đoàn tăng - thiết giáp và lực lượng địa phương quân

Nhằm tạo thuận lợi cho hướng chủ yếu của chiến dịch

Trang 33

phát triển, ngày 5-3-1975, Sư đoàn 3 sử dụng một bộ phận lực lượng đã đánh cắt đường số 19 đoạn qua đèo An Khê Cùng thời gian này, bộ đội đặc công và công binh của tỉnh Quảng Đà tập kích kho đạn Sủng Mây, bãi xe cơ giới Xuân Thiều, đánh sập cầu Trắng và cắt đường số 1, đoạn trên

đèo Hải Vân

Đúng 4 giờ 30 sáng ngày 10-3-1975, trên hướng chủ yếu của chiến dịch, ta bắt đầu nổ súng tiến công, đánh chiếm Tiên Phước và Phước Lâm Đây là hai huyện giáp ranh của tỉnh Quảng Nam, cách tây nam Tam Kỳ khoảng

10 km và nằm gọn trong một thung lũng rộng khoảng

200 km2, bao quanh nó là những dãy núi cao Những năm trước đây, Tiên Phước - Phước Lâm được địch sử dụng như một trong những bàn đạp tiến công đánh phá vùng căn cứ rừng núi của ta, nhất là căn cứ Mang Xim (địch gọi là Đỗ Xá) và trước khi bị tiến công, nơi đây được địch xây dựng thành cụm cứ điểm tiền tiêu trong hệ thống phòng ngự cơ bản của chúng Nếu Tiên Phước - Phước Lâm bị mất, thị xã Tam Kỳ cũng như tuyến phòng thủ dọc đường số 1 của

địch sẽ lập tức bị uy hiếp trực tiếp Chính vì vậy, chúng tập trung lực lượng tại đây khá mạnh với khoảng 3.000 tên gồm 6 tiểu đoàn bảo an, 2 đại đội biệt lập, 41 trung đội dân vệ, 2 pháo đội (10 khẩu) 105 mm và 155 mm Toàn cụm cứ điểm gồm 77 cứ điểm, hình thành ba khu vực lớn là: Chi khu quân sự quận lỵ Tiên Phước, Chi khu quân sự quận lỵ Phước Lâm và dãy điểm cao Suối Đá Trong ba khu vực phòng thủ trên, Chi khu quân sự quận lỵ Tiên Phước là khu vực then chốt, là điểm tựa trung tâm Tiên

Trang 34

Phước có những điểm cao lợi hại như điểm cao 211, núi

Vú, núi Ngọc, Dương Côn Mất Tiên Phước, các khu vực phòng thủ khác khó có thể giữ vững Suối Đá cũng là khu vực không kém phần quan trọng Đây là một dãy điểm cao gồm: Suối Đá, Núi Sấu, Dãy Thám, Dương Huê, Dương Bà Quân Chiếm giữ dãy điểm cao này, địch tạo ra thế liên hoàn giữa Tam Kỳ và Tiên Phước, giữ được bàn đạp để triển khai lực lượng phản kích lại ta khi bị tiến công, đồng thời cũng là tuyến ngăn chặn ta phát triển xuống Tam Kỳ

và đường số 1

Với chủ trương đánh nhanh, diệt gọn để chiếm lĩnh bàn đạp đánh địch phản kích, Sở chỉ huy tiền phương quân khu gồm các đồng chí Nguyễn Chánh - Phó Tư lệnh

và Đoàn Khuê - Phó Chính uỷ quyết định sử dụng Lữ

đoàn 52 diệt cứ điểm Suối Đá; Trung đoàn 31 và 38 - Sư

đoàn 2 diệt Chi khu quân sự quận lỵ Tiên Phước; Trung

đoàn 36 bao vây bức hàng quận lỵ Phước Lâm khi các đơn

vị bạn đã giải quyết xong các mục tiêu then chốt

Theo phương án đã xác định, từ sáng sớm ngày 10-3, sau hai phát pháo hiệu phát lệnh, các đơn vị đồng loạt nổ súng đánh chiếm các mục tiêu Chiến sự diễn ra quyết liệt ngay từ đầu, nhất là ở khu vực Suối Đá và điểm cao 211 Suối Đá là căn cứ chỉ huy của Liên đoàn bảo an 916, nơi tập trung những tên ác ôn khét tiếng Tại đây, cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt Sau đợt tiến công đầu tiên không thành, Tiểu đoàn 7 - Lữ đoàn 52 buộc phải tạm dừng để tổ chức lại lực lượng 14 giờ cùng ngày, được hoả lực pháo binh chi viện, bộ đội ta mở tiếp đợt tiến công lần

Trang 35

thứ hai Đến 16 giờ, trận đánh kết thúc Đối phương buộc phải rút bỏ căn cứ sau khi bị thiệt hại nặng và viện binh không kịp đến ứng cứu

Điểm cao 211 nằm ở phía bắc quận lỵ Tiên Phước khoảng 1,5 km Tại đây, địch xây dựng cứ điểm kiên cố, xung quanh có từ 3 đến 5 lớp rào dây thép gai bùng nhùng Trung tâm cứ điểm, địch xây dựng hàng chục lô cốt và doanh trại cấu trúc nửa nổi, nửa chìm Chính vì vậy, cuộc chiến ở điểm cao 211 diễn ra trong thế giằng co Lúc này, các đơn vị đánh vào hệ thống phòng thủ của địch

ở phía bắc quận lỵ Tiên Phước đã quét sạch địch ở các cứ

điểm Dương Côn, Hố Bạch, núi Vú Với phương châm “đưa

pháo lên cao, vào gần bắn thẳng”, Tiểu đoàn 15 công binh

đã mở đường đưa được pháo lên điểm cao núi Vú và Hàn Thôn, sẵn sàng nhả đạn vào Tiên Phước Không thể để mất thời cơ đánh địch, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 2 quyết định cho

đơn vị đánh chiếm điểm cao 211

Đúng 11 giờ ngày 10-3, pháo binh ta bắt đầu bắn thẳng vào các mục tiêu ở điểm cao 211 Bị hoả lực pháo binh tập kích bất ngờ và mãnh liệt, thoạt đầu, địch lúng túng đối phó Lợi dụng tình hình này, Tiểu đoàn 8 - Trung

đoàn 31 từ ấp Phước Hoà chia thành hai mũi đánh chiếm các tiền đồn Đồi Tranh, Yên Sơn ở phía bắc và phía tây

điểm cao 211 Đối phương bị cô lập hoàn toàn trong cứ

điểm Một số lô cốt, công sự và doanh trại đối phương, bị pháo ta dập nát Đối phương hoảng sợ, nhiều tên hốt hoảng bỏ chạy về quận lỵ 13 giờ cùng ngày, bộ đội ta mở

đợt tiến công thẳng vào trung tâm căn cứ địch Kết hợp

Trang 36

xung lực và hoả lực, ta lần lượt đánh chiếm từng mục tiêu

15 giờ 30, cờ chiến thắng của ta đã tung bay trên nóc hầm chỉ huy ở trung tâm điểm cao 211 Trong tình thế nguy khốn, tên Quận trưởng quận Tiên Phước điện về Tam Kỳ xin rút chạy, nhưng đã quá muộn Từ điểm cao 211, quân

ta chia thành ba mũi đánh thẳng vào quận lỵ 16 giờ, ta

đã làm chủ hoàn toàn quận lỵ Tiên Phước

ở Phước Lâm, ngay từ sáng sớm ngày 10-3, ta đã diệt

cứ điểm Hàn Thôn và đưa pháo lên chốt giữ tại đây Đồng thời, Tiểu đoàn 10 diệt các cứ điểm Cửa Rừng, Đèo Liêu, Hòn Ghềnh, sau đó phát triển tiến công vây ép quận lỵ Trước sức tiến công mãnh liệt của ta và trong điều kiện

đồng bọn ở cứ điểm 211, Tiên Phước lần lượt bị diệt, quân

địch ở quận lỵ Phước Lâm nhanh chóng tháo chạy để bảo toàn lực lượng 16 giờ 30, ta làm chủ toàn bộ quận lỵ Như vậy, chỉ sau một ngày chiến đấu, trên hướng chủ yếu của chiến dịch, ta đã diệt 2 chi khu quận lỵ, uy hiếp trực tiếp thị xã Tam Kỳ

Vào thời điểm này, trước diễn biến mau lẹ của tình hình, Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh điều Sư đoàn dù về lại miền Đông Nam Bộ nhằm tăng cường phòng thủ Sài Gòn Lực lượng địch ở Quân khu 1 đã mỏng lại càng mỏng Mặc

dù vậy, Ngô Quang Trưởng - Tư lệnh Quân khu 1 - Quân

đoàn 1 vẫn cho rằng, chủ lực ta hiện tại chưa đủ mạnh để

có thể tiến công Huế, Đà Nẵng Trước tình thế Tam Kỳ bị

uy hiếp, ngay trong đêm ngày 10-3, Ngô Quang Trưởng lệnh cho Sư đoàn 2 quân đội Sài Gòn ngay trong ngày 11-3 phải tổ chức phản kích chiếm lại các địa bàn đã mất Theo

Trang 37

lệnh của Ngô Quang Trưởng, ngày 11-3, Liên đoàn biệt

động quân số 12 cùng 1 tiểu đoàn bảo an, 1 chi đoàn xe bọc thép (Chi đoàn 1/11) từ Tuần Dương tiến lên Cẩm Khê, Dương Côn Ngày 12-3, Trung đoàn 5 - Sư đoàn 2 quân đội Sài Gòn mới từ Quảng Ngãi ra cùng với 2 tiểu

đoàn bảo an, 1 chi đoàn thiết giáp (Chi đoàn 1/4) đánh lên Dương Leo, Dãy Thám Ngô Quang Trưởng còn ra lệnh cho Sư đoàn 3 khẩn trương đưa Trung đoàn 2 từ Quảng

Đà vào Tam Kỳ để tăng cường cho lực lượng phản kích

Địch chưa kịp hành động thì lực lượng vũ trang địa phương ba tỉnh Quảng Đà, Quảng Nam, Quảng Ngãi lần lượt nổ súng đánh ở khắp nơi

Tại Quảng Đà, ngày 11-3, bộ đội địa phương tỉnh pháo kích sân bay Đà Nẵng, phá sập 4 cầu trên đường số 1 và

đường 100 Trung đoàn 96 tiến công các cứ điểm Điện Nhơn, Điện Tân, Ngũ Giáp

Tại Quảng Nam, trong hai ngày 14 và 15-3, bộ đội địa phương tỉnh tiêu diệt và bức rút 11 cứ điểm, giải phóng 3 xã ở phía tây huyện Thăng Bình Từ ngày 16 đến 20-3, Tiểu đoàn 70 và Tiểu đoàn 72, sau khi vượt đường số 1 đã tiến công giải phóng 4 xã ở phía đông huyện

Trước sự uy hiếp mạnh mẽ của ta, Trung đoàn 2 - Sư

đoàn 3 quân đội Sài Gòn đang trên đường vào Tam Kỳ buộc phải quay về ứng phó

ở Quảng Ngãi, ngày 16-3, Trung đoàn 94 bộ đội tỉnh cùng lực lượng vũ trang huyện Bình Sơn diệt cụm chốt bảo

an ở tây bắc quận lỵ Bình Sơn, cắt đường số 1 ở bắc Châu

ổ Được sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang, nhân dân tại chỗ

Trang 38

nổi dậy giải phóng một mảng lớn các xã dọc hai bên quốc

lộ 1 Trung đoàn 4 - Sư đoàn 2 quân đội Sài Gòn theo lệnh của Ngô Quang Trưởng phải hành quân ra Tam Kỳ để tăng cường lực lượng phản kích Song hoạt động của ta đã buộc Trung đoàn 4 phải ở lại đối phó Lực lượng phản kích của địch vì vậy chỉ có Liên đoàn biệt động quân số 12, Trung đoàn 5 - Sư đoàn 2 và lực lượng bảo an Kế hoạch tạo thế của ta đến đây đã thành công bước đầu

Thời gian này, trên toàn chiến trường, ta đang đánh mạnh và thắng lớn, nhất là ở Tây Nguyên Đối phương phải

điều động lực lượng ứng phó khắp nơi Tại Quân khu 1, sau khi Sư đoàn dù cơ động về Quân khu 3 ở miền Đông Nam

Bộ, Ngô Quang Trưởng phải đưa Sư đoàn lính thuỷ đánh bộ

từ Quảng Trị vào Đà Nẵng; thế vào đó, Liên đoàn biệt động quân số 14 từ Quảng Ngãi được lệnh cơ động ra Quảng Trị Binh lực bị phân tán, dàn mỏng, tư tưởng hoang mang, chiến lược bế tắc, đối phương phải chuyển ý đồ từ phản kích giải toả sang phòng ngự bị động Ngày 20-3, toàn bộ lực lượng phản kích của địch lui về chiếm giữ tuyến điểm cao Dương Huê, Dãy Thám, đông Suối Đá, đông Dương Côn ở Quảng Ngãi, địch rút bỏ quận lỵ Trà Bồng, quận lỵ Sơn Hà,

đưa quân về tăng cường phòng ngự trên tuyến đường 1 Nhân cơ hội này, Tiểu đoàn 6 - Lữ đoàn 52, Tiểu đoàn 403

đặc công và lực lượng vũ trang tỉnh đã đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn 69 biệt động quân và Tiểu đoàn 1 - Trung đoàn 4 trên đường chúng rút quân Nhân dân hai huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh được sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang, nổi dậy giải phóng hoàn toàn khu vực phía tây huyện Sơn Tịnh và 6 xã

Trang 39

của huyện Bình Sơn ở Quảng Nam, ta cơ bản giải phóng huyện Thăng Bình Thế trận đang mở ra rất thuận lợi cho

ta Trước tình hình đó, ngày 16-3, Thường vụ Khu uỷ và

Đảng uỷ, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 quyết định tập trung lực lượng tiêu diệt Sư đoàn 2 quân đội Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Ngãi, giải phóng đại bộ phận nông thôn tỉnh Quảng Nam và Quảng Đà

Về phía quân đội Sài Gòn, Sở chỉ huy tiền phương của Sư đoàn 2 đóng ở Tam Kỳ, Trung đoàn 5 và 1 tiểu

đoàn của Trung đoàn 4 đang tổ chức phòng thủ trên tuyến Dương Huê, Dãy Thám, đông Suối Đá; Trung

đoàn 4 (thiếu) đóng ở Chu Lai; Trung đoàn 6 đang ở thị xã Quảng Ngãi Với sự bố trí binh lực của địch như vậy, lúc này, để tiêu diệt Sư đoàn 2 quân đội Sài Gòn, giải phóng Quảng Ngãi, ta phải phá vỡ được tuyến ngăn chặn của địch bằng cách tiến công tiêu diệt cụm quân

địch đang phòng thủ trên tuyến đông Suối Đá, trực tiếp

uy hiếp thị xã Tam Kỳ, buộc đối phương phải đưa Trung

đoàn 4 ở Chu Lai, Trung đoàn 6 ở Quảng Ngãi ra ứng cứu; tạo điều kiện thuận lợi cho Lữ đoàn 52 cùng lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Quảng Ngãi đánh địch tại chỗ, giải phóng tỉnh

5 giờ 30 phút ngày 21-3-1975, Sư đoàn 2 - Quân khu 5 bắt đầu nổ súng tiến công vào tuyến ngăn chặn địch ở

đông Suối Đá Mãi tới 12 giờ trưa, ta mới đánh quỵ được Trung đoàn 5, tiêu diệt 1 tiểu đoàn thuộc Liên đoàn biệt động quân 12 Tuyến ngăn chặn phía tây thị xã Tam Kỳ bị phá

vỡ Đối phương buộc phải đưa Trung đoàn 4 từ Chu Lai ra

Trang 40

cùng lực lượng còn lại tổ chức tuyến ngăn chặn mới dọc theo trục Cẩm Khê - Chà Gó - Chóp Chài - Tân Lợi

Diễn biến chiến sự trên toàn chiến trường miền Nam thay đổi từng giờ Theo chỉ đạo của Bộ Chính trị, ngày 23-3, Thường vụ Khu uỷ và Quân khu uỷ quyết định đẩy nhanh tốc độ tiến công, giải phóng toàn Khu trong thời gian ngắn nhất Quyết tâm của Thường vụ Khu uỷ và Quân khu uỷ Khu 5 là tập trung lực lượng, đánh diệt bằng được Sư

đoàn 2 quân đội Sài Gòn, chiếm Tam Kỳ, giải phóng Quảng Ngãi, hình thành thế chia cắt chiến dịch có ý nghĩa chiến lược; tiếp đó, sẽ phát triển tiến công đánh chiếm căn

cứ liên hợp quân sự Đà Nẵng, giải phóng toàn tỉnh Quảng

Trung đoàn Ba Gia - Trung đoàn làm lực lượng dự bị chiến dịch, giờ đây được giao nhiệm vụ cùng Tiểu đoàn 8 -Trung đoàn 31, Tiểu đoàn 5 - Trung đoàn 38 và 10 xe tăng, xe bọc thép đột phá trên hướng chủ yếu cánh phải từ Suối Đá đến giáp bờ bắc sông Tam Kỳ Phối hợp với Trung

đoàn Ba Gia, Trung đoàn 38 (thiếu Tiểu đoàn 5) tiến công bên cánh trái từ Suối Đá đến Cẩm Khê

_

1 Theo phân định địa giới hành chính của chính quyền Sài Gòn, Quảng Nam lúc ấy gọi là Quảng Tín

Ngày đăng: 12/05/2021, 22:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm