ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA HÓA TRẦN THỊ PHƯƠNG HOA XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HÓA HỌC PHẦN PHI KIM LỚP 10 CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA HÓA
TRẦN THỊ PHƯƠNG HOA
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HÓA HỌC
PHẦN PHI KIM LỚP 10 CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN NHẰM PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC HỌC SINH THEO HƯỚNG TIẾP CẬN PISA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN SƯ PHẠM
Đà Nẵng, 2017
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA HÓA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN SƯ PHẠM
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HÓA HỌC
PHẦN PHI KIM LỚP 10 CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN NHẰM PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC HỌC SINH THEO HƯỚNG TIẾP CẬN PISA
Sinh viên thực hiện : TRẦN THỊ PHƯƠNG HOA
Giáo viên hướng dẫn : ThS Nguyễn Thị Lan Anh
Đà Nẵng, 2017
Trang 3Đại học Đà Nẵng Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trường Đại học Sư Phạm Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Khoa Hóa Học
NHIỆM VỤ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Họ và tên sinh viên: TRẦN THỊ PHƯƠNG HOA
Lớp : 13SHH
1 Tên đề tài: “Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hóa học phần phi kim
lớp 10 chương trình chuẩn nhằm phát triển năng lực học sinh
theo hướng tiếp cận PISA ”
2 Nội dung nghiên cứu:
- Nghiên cứu các cơ sở lý luận của đề tài
- Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hóa học phần phi kim lớp 10 chương trình chuẩn nhằm phát triển năng lực học sinh theo hướng tiếp cận PISA
4 Giáo viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Thị Lan Anh
5 Ngày giao đề tài: 01/08/2016
6 Ngày hoàn thành: 15/04/2017
Sinh viên đã hoàn thành và nộp báo cáo về cho khoa ngày…tháng…năm…
Kết quả điểm đánh giá:…………
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp, tôi được sự giúp đỡ, động viên của rất nhiều người Đó là nguồn khích lệ lớn lao đã giúp tôi hoàn thành khóa luận này
Trước hết, tôi xin gởi lời tri ân sâu sắc đến ThS Nguyễn Thị Lan Anh Cô đã rất tận tình góp ý chuyên môn, vạch ra định hướng, ý tưởng, động viên tôi trong những lúc khó khăn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể quý thầy cô giáo đã giảng dạy tôi trong suốt quá trình học, các thầy cô trong tổ phương pháp đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học và nghiên cứu
Tôi cũng cảm ơn các thầy cô giáo và các học sinh trường THPT Nguyễn Thượng Hiền và THPT Phạm Phú Thứ đã giúp đỡ tôi có trong quá trình hoàn thành bài khóa luận của mình
Tôi xin hết lòng biết ơn sự quan tâm và ủng hộ của gia đình và bạn bè
Đà Nẵng, ngày… tháng… năm 2017
Sinh viên thực hiện
Trần Thị Phương Hoa
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HÓA HỌC PHẦN PHI KIM LỚP 10 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH THEO HƯỚNG TIẾP CẬN PISA 6
1.1 Định hướng đổi mới giáo dục phổ thông 6
1.1.1 Đổi mới giáo dục trên thế giới 6
1.1.2 Đổi mới giáo dục phổ thông ở Việt Nam 7
1.2 Định hướng đổi mới chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2015 ở Việt Nam 7
1.2.1 Chuyển từ chương trình định hướng nội dung dạy học sang chương trình định hướng năng lực 7
1.2.2 Đổi mới phương pháp dạy học nhằm chú trọng phát triển năng lực của học sinh 8
1.2.3 Đổi mới kiểm tra, đánh giá hoạt động học tập của học sinh 9
1.3 Năng lực và một số năng lực cần phát triển cho HS trung học phổ thông 9
1.3.1 Định nghĩa về năng lực 9
1.3.2 Một số năng lực cần phát triển cho học sinh trung học phổ thông 10
1.3.2.1 Năng lực chung của học sinh trung học phổ thông 10
1.3.2.2 Những năng lực đặc thù môn Hóa học trong trường trung học phổ thông 10
1.4 Bài tập trong dạy học Hóa học ở trường trung học phổ thông 10
1.4.1 Ý nghĩa của bài tập hóa học 10
1.4.2 Xu hướng xây dựng bài tập hóa học ở trường trung học phổ thông 11
1.5 Tìm hiểu về chương trình đánh giá học sinh quốc tế PISA 13
1.5.1 PISA là gì? 13
1.5.2 Mục đích của Pisa 13
1.5.3 Đặc điểm của PISA 13
1.5.4 Nội dung đánh giá 15
1.5.5 Cách đánh giá trong bài tập PISA 15
1.5.6 Đối tượng đánh giá 16
Trang 71.6 Kết quả đánh giá học sinh quốc tế 2015 (PISA) của Tổ chức Hợp tác Phát triển
quốc tế (OECD) 17
1.7 Thực trạng việc sử dụng bài tập hóa học nhằm phát triển năng lực ở một số trường THPT tại Đà Nẵng 17
1.7.1 Mục đích điều tra 17
1.7.2 Nội dung điều tra 17
1.7.3 Đối tượng điều tra 18
1.7.4 Phương pháp điều tra 18
1.7.5 Kết quả điều tra 18
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 20
CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HÓA HỌC PHẦN PHI KIM LỚP 10 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH THEO HƯỚNG TIẾP CẬN PISA 21
2.1 Phân tích cấu trúc nội dung, phương pháp dạy học phần hóa học phi kim lớp 10 21
2.1.1 Phân tích cấu trúc nội dung phần hóa học phi kim lớp 10 21
2.1.2 Đặc điểm về phương pháp dạy học phần hóa học phi kim lớp 10 22
2.2 Xây dựng hệ thống bài tập hóa học phần phi kim lớp 10 nhằm phát triển năng lực học sinh theo hướng tiếp cận PISA 23
2.2.1 Cơ sở và nguyên tắc 23
2.2.1.1 Cơ sở 23
2.2.1.2 Nguyên tắc 24
2.2.2 Quy trình xây dựng hệ thống bài tập theo hướng tiếp cận PISA 24
2.2.2.1 Lựa chọn đơn vị kiến thức, xác định nội dung kiến thức và thiết lập bảng mô tả các mức độ cần đạt 24
2.2.2.2 Xác định các năng lực cần hình thành và phát triển cho HS 25
2.2.2.3 Xây dựng ngữ cảnh của phần dẫn 25
2.2.2.4 Lựa chọn các kiểu câu hỏi theo mẫu của PISA 25
2.2.2.5 Xây dựng hệ thống bài tập 25
2.2.2.6 Xây dựng đáp án trả lời của bài tập 26
Trang 82.2.2.7 Kiểm tra thử 26
2.2.2.8 Chỉnh sửa 26
2.2.2.9 Hoàn thiện hệ thống bài tập 26
2.3 Hệ thống bài tập phần phi kim hóa học lớp 10 nhằm phát triển năng lực học sinh theo hướng tiếp cận PISA 27
2.3.1 Hệ thống bài tập chương 5 "Nhóm Halogen” 27
2.3.1.1 Mô tả các mức yêu cầu cần đạt cho chủ đề 27
2.3.1.2 Các năng lực hình thành trong chủ đề 30
2.3.1.3 Hệ thống bài tập 30
2.3.2 Hệ thống bài tập chương 6 “Nhóm oxi” 46
2.3.2.1 Mô tả các mức yêu cầu cần đạt cho chủ đề 46
2.3.2.2 Các năng lực hình thành trong chủ đề: 50
2.3.2.3 Bài tập 50
2.4 Sử dụng hệ thống bài tập nhằm phát triển năng lực học sinh theo hướng tiếp cận PISA trong dạy học phần hóa học phi kim lớp 10 69
2.4.1 Sử dụng trong dạy học kiểu bài nghiên cứu tài liệu mới 70
2.4.2 Sử dụng trong dạy học kiểu bài hoàn thiện kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo 71
2.4.3 Sử dụng trong dạy học kiểu bài kiểm tra, đánh giá 72
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 73
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 74
3.1 Mục đích, nhiệm vụ thực nghiệm 74
3.1.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 74
3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 74
3.1.2.1 Biên soạn tài liệu thực nghiệm theo nội dung của khóa luận 74
3.1.2.2 Lựa chọn phương pháp, công cụ đo lường và thu thập các dữ liệu thực nghiệm 74
3.2 Thời gian thực nghiệm sư phạm 75
3.3 Quá trình tiến hành thực nghiệm 75
3.3.1 Lựa chọn đối tượng thực nghiệm 75
3.3.2 Kiểm tra mẫu trước thực nghiệm 75
Trang 93.3.3 Lựa chọn GV thực nghiệm 75
3.3.4 Tiến hành thực nghiệm 76
3.3.5 Thực hiện chương trình thực nghiệm 76
3.4 Kết quả thực nghiệm và xử lý kết quả thực nghiệm 76
3.4.1 Kết quả kiểm tra trước thực nghiệm 76
3.4.2 Kết quả kiểm tra sau thực nghiệm 77
3.4.3 Xử lí kết quả 78
3.4.4 Phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm 83
3.4.4.1 Phân tích kết quả TNSP qua phiếu điều tra ý kiến GV và HS 83
3.4.4.2 Phân tích kết quả TNSP theo các bảng và hình phân tích số liệu 84
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 85
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 86
PHỤ LỤC 90
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Nội dung đánh giá của PISA qua các kì 15
Bảng 1.2 Tình trạng GV sử dụng bài tập trong các giờ dạy học 18
Bảng 1.3 Mức độ sử dụng các dạng bài tập hóa học trong dạy học 19
Bảng 2.1 Nội dung chương trình phần phi kim hóa học 10 21
Bảng 2.2 Phân phối chương trình phần phi kim hóa học 10 21
Bảng 2.3 Bảng mô tả các mức yêu cầu cần đạt cho chủ đề “ Nhóm Halogen 27
Bảng 2.4 Bảng mô tả các mức yêu cầu cần đạt cho chủ đề “ Nhóm Oxi” 46
Bảng 3.1 Thống kê số học sinh tham gia thực nghiệm đề tài 74
Bảng 3.2 Phân phối tần suất số HS theo điểm bài kiểm tra trước thực nghiệm 76
Bảng 3.3 Số lượng HS đạt từng loại điểm của trường THPT Nguyễn 76
Bảng 3.4 Số lượng HS đạt từng loại điểm của trường THPT Phạm Phú Thứ 77
Bảng 3.5 Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích điểm bài kiểm tra của trường THPT Nguyễn Thượng Hiền 79
Bảng 3.6 Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích điểm bài kiểm tra của trường THPT Phạm Phú Thứ 80
Bảng 3.7 Bảng tổng hợp phân loại kết quả 2 bài kiểm tra của HS THPT 81
Bảng 3.8 Tổng hợp các tham số đặc trưng 82
Bảng 3.9 Tổng hợp kết quả thăm dò ý kiến HS sau thực nghiệm 83
Bảng 3.10 Bảng tổng hợp kết quả đánh giá ý kiến GV sau thực nghiệm 83
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang 11Hình 3.1 Đường luỹ tích điểm kiểm tra trường THPT Nguyễn 79 Hình 3.2 Đường luỹ tích điểm kiểm tra trường THPT Phạm 80 Hình 3.3 Đồ thị cột biểu diễn kết quả 2 bài kiểm tra 81
C
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hóa học là môn khoa học thực nghiệm đóng vai trò rất quan trọng trong cuộc sống của chúng ta Các kiến thức hóa học không chỉ cung cấp những tri thức hóa học phổ thông, cơ bản mà còn cho người học thấy được mối liên hệ qua lại giữa công nghệ hóa học, môi trường và con người… Tuy nhiên, các bài tập hóa học hiện nay phần nào còn mang tính hàn lâm, nặng về tính toán Do vậy, hầu hết học sinh chưa có niềm say mê với môn học này và cũng chưa biết vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống
Trong sự nghiệp phát triển của đất nước ta, giáo dục đóng vai trò vô cùng quan trọng Muốn đổi mới căn bản toàn diện chương trình giáo dục từ năm 2015 theo tinh thần của Quốc hội , thì “mắt xích” cần phải tập trung, nổ lực nhiều nhất, đầu tư nhiều thời gian, trí tuệ, tiền bạc nhất chính là khâu đổi mới cách kiểm tra đánh giá học sinh theo hướng phát triển năng lực Do vậy, biên soạn hệ thống bài tập theo cách tiếp cận năng lực và sử dụng nó có hiệu quả là rất đáng quan tâm và khó đối với các nhà sư phạm
Hiện nay có nhiều phương pháp để phát triển năng lực của học sinh, trong đó
có phương pháp tiếp cận PISA PISA là chương trình quốc tế đánh giá học sinh về các kiến thức, kỹ năng cần thiết cho cuộc sống tương lai, không dựa vào nội dung của chương trình giáo dục quốc gia Theo nhận định của nhiều chuyên gia, PISA được đánh giá là cuộc khảo sát tin cậy về kiến thức và kỹ năng của học sinh
Từ đó, tôi nhận thấy, việc sử dụng hệ thống bài tập theo cách tiếp cận của PISA trong dạy học Hóa học ở trường THPT là rất quan trọng, mang tính thiết thực cao Tuy nhiên, thực tế hiện nay, các bài tập hóa học ở trường THPT được xây dựng theo hướng này gần như chưa nhiều Với những lý do trên, tôi nghiên cứu đề tài
“Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hóa học phần phi kim lớp 10 chương trình chuẩn nhằm phát triển năng lực học sinh theo hướng tiếp cận PISA”
Trang 13- Luận văn thạc sĩ: "Tiếp cận đánh giá PISA bằng phương pháp giải quyết vấn
đề qua dạy học các bài toán thực tiễn phần khối đa diện và khối tròn xoay (hình học không gian lớp 12 – Ban cơ bản” của Tăng Hồng Dương – lớp Cao học lý luận và phương pháp dạy học môn Toán K5 – Trường đại học Giáo dục, đại học Quốc gia
Hà Nội)
- Luận văn thạc sĩ: "Dạy học phát triển năng lực cho học sinh trung học phổ thông với các bài toán tiếp cận chương trình học sinh quốc tế (PISA)” của Nguyễn Quốc Trịnh – lớp Cao học lý luận và phương pháp dạy học môn Toán K5 – Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội
- "Chương trình đánh giá HS quốc tế (PISA) (Mục đích, tiến trình thực hiện, các kết quả chính” của Nguyễn Thị Phương Hoa trên Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội số 25/2000
- "Góp phần tìm hiểu về chương trình đánh giá HS quốc tế (PISA)” của Nguyễn Ngọc Sơn trên Tập san Giáo dục - Đào tạo số 3/2010
- "Chương trình đánh giá HS quốc tế PISA” của Đỗ Tiến Đạt trên Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia về giáo dục Toán học phổ thông năm 2011…
- Khai thác tiêu chuẩn của PISA nhằm rèn luyện khả năng toán học hóa "Rèn luyện HS trung học phổ thông khả năng toán học hóa theo tiêu chuẩn của PISA” của Nguyễn Sơn Hà trên Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm Hà Nội số 4/2010… Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu về xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập Hóa học phần phi kim lớp 10 chương trình chuẩn nhằm phát triển năng lực học sinh theo hướng tiếp cận PISA
Trang 143 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập Hóa học phần phi kim lớp 10 theo hướng tiếp cận PISA nhằm phát triển năng lực cho HS, làm cho việc dạy học hóa học gắn với thực tiễn cuộc sống hơn, từ đó nâng cao hiệu quả dạy học Hóa học ở trường THPT
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến định hướng đổi mới giáo dục phổ thông, cơ sở lý luận về năng lực của HS phổ thông nói chung và năng lực đặc thù của HS thông qua dạy và học môn Hóa học nói riêng
- Tiến hành điều tra - quan sát, khảo sát, lấy ý kiến,…của GV, HS về hệ thống các bài tập hóa học đã và đang sử dụng ở trường
- Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập Hóa học phần phi kim lớp 10 nhằm phát triển năng lực học sinh theo hướng tiếp cận PISA
- Đề xuất cách sử dụng hệ thống bài tập Hóa học phần phi kim lớp 10 nhằm phát triển năng lực học sinh theo hướng tiếp cận PISA
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm nghiệm sự đúng đắn của giả thuyết khoa học và tính khả thi, hiệu quả của những cách sử dụng hệ thống bài tập tiếp cận PISA đề xuất trong khóa luận
5 Phạm vi nghiên cứu
5.1 Nội dung
Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập Hóa học phần phi kim lớp 10 (Chương 5: Nhóm Halogen; Chương 6: Nhóm Oxi) nhằm phát triển năng lực học sinh theo hướng tiếp cận PISA
Trang 156.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học hóa học ở trường phổ thông Việt Nam
6.2 Đối tượng nghiên cứu
- Quá trình sử dụng bài tập hóa học trong dạy và học môn hóa học phi kim lớp
10 đã và đang tiến hành ở trường THPT
- Xây dựng, đề xuất cách sử dụng hệ thống bài tập Hóa học phần phi kim lớp
10 nhằm phát triển năng lực học sinh theo hướng tiếp cận PISA
7 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng và sử dụng một hệ thống bài tập hóa học phần phi kim lớp 10 theo cách tiếp cận PISA thì sẽ làm cho việc dạy học hóa học gắn với thực tiễn cuộc sống hơn, HS có hứng thú, từ đó nâng cao hiệu quả dạy học môn hóa học ở trường THPT
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng các phương pháp:
- Phương pháp thu thập tài liệu, các thông tin
- Phương pháp phân tích lý thuyết
- Phương pháp tổng hợp các tài liệu lý luận liên quan đến đề tài
8.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Sử dụng phối hợp các phương pháp sau:
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
8.3 Phương pháp xử lý thống kê toán học
Phân tích và xử lý các số liệu thu được qua điều tra và thực nghiệm
9 Đóng góp mới của đề tài
Trang 16- Xây dựng hệ thống bài tập Hóa học phần phi kim lớp 10 (Chương 5: Nhóm Halogen; Chương 6: Nhóm Oxi) nhằm phát triển năng lực học sinh theo hướng tiếp cận PISA
- Đề xuất cách sử dụng hệ thống bài tập hóa học phần phi kim lớp 10 theo cách tiếp cận của PISA nhằm phát triển năng lực HS đồng thời làm cho việc dạy học hóa học gắn liền với thực tiễn cuộc sống hơn, HS có hứng thú, say mê học tập,
từ đó góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn Hóa học
10 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo, khóa luận được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập Hóa học phần phi kim lớp 10 nhằm phát triển năng lực học sinh theo hướng tiếp cận PISA
Chương 2: Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập Hóa học phần phi kim lớp 10 nhằm phát triển năng lực học sinh theo hướng tiếp cận PISA
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 17CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HÓA HỌC PHẦN PHI KIM LỚP 10 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH THEO HƯỚNG TIẾP CẬN PISA 1.1 Định hướng đổi mới giáo dục phổ thông
1.1.1 Đổi mới giáo dục trên thế giới
Vấn đề PPDH và đổi mới PPDH được các nhà giáo dục trên thế giới quan tâm
và đề cập rất nhiều trong các bài báo, hội thảo khoa học… Cùng với sự phát triển của khoa học – công nghệ, nhân loại đang bước vào thế kỷ của văn minh tri thức với những thành tựu rực rỡ của khoa học kỹ thuật Nền văn minh đó đòi hỏi con người cần phải có tri thức, sự nhạy bén và năng lực sáng tạo để nắm bắt và giải quyết các vấn đề mới nảy sinh Để đáp ứng yêu cầu đó, giáo dục cần được đổi mới, giáo dục trở thành chiếc đòn bẩy, là "công cụ chủ yếu tạo ra sự phát triển”, thúc đẩy khoa học kỹ thuật và sản xuất tiến lên, góp phần cải thiện đời sống
Trên thế giới hiện nay, việc đổi mới giáo dục đang được tiến hành theo một
số phương hướng như tích cực hoá quá trình dạy học; cá thể hoá việc dạy học; dạy học lấy HS làm trung tâm và đặc biệt dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học;… Đổi mới giáo dục nhằm đạt được mục tiêu: học để biết, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của những kiến thức hàm chứa nội dung ý nghĩa và chính xác; học để làm, tập trung vào tầm quan trọng của việc ứng dụng, sự xác đáng và những kỹ năng; học để sống cùng nhau, trong đó thừa nhận tầm quan trọng của động lực xã hội tích cực; học cách tồn tại, tập trung vào tầm quan trọng của trách nhiệm, phát triển cá nhân, siêu nhận thức; học cách thay đổi bản thân và xã hội, tập trung vào sự thay đổi nhận thức Học không chỉ bó hẹp trong phạm vi một quốc gia hay một trường học nào
Việc đổi mới giáo dục đang diễn ra trên quy mô toàn cầu, không chỉ ở các nước phát triển mà còn ở các nước đang phát triển Điều đấy cho ta thấy vị trí hàng đầu của giáo dục, yêu cầu bức thiết cần phải đổi mới giáo dục Đổi mới giáo dục góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước
Trang 181.1.2 Đổi mới giáo dục phổ thông ở Việt Nam
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta xác định việc đổi mới giáo dục THPT cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, chỉ có thay đổi căn bản giáo dục mới có thể đào tạo ra lớp người lao động mới- những người lao động năng động, sáng tạo có tiềm năng cạnh tranh trí tuệ Việc đổi mới giáo dục trung học dựa trên những đường lối, quan điểm chỉ đạo giáo dục của nhà nước, đó là những định hướng quan trọng về chính sách và quan điểm trong việc phát triển và đổi mới giáo dục trung học Việc đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá cần phù hợp với những định hướng đổi mới chung của chương trình giáo dục trung học
1.2 Định hướng đổi mới chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2015 ở Việt Nam [1]
Trong dự thảo "Đề án đổi mới GDPT sau năm 2015" của Bộ GD & ĐT đã nhấn mạnh xây dựng chương trình GDPT Việt Nam theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực người học
1.2.1 Chuyển từ chương trình định hướng nội dung dạy học sang chương trình định hướng năng lực
Chương trình giáo dục định hướng năng lực (định hướng phát triển năng lực) nay còn gọi là dạy học định hướng kết quả đầu ra được bàn đến nhiều từ những năm
90 của thế kỷ 20 và ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế Giáo dục định hướng năng lực nhằm mục tiêu phát triển năng lực người học
Giáo dục định hướng năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp Chương trình này nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thể của quá trình nhận thức
Khác với chương trình định hướng nội dung, chương trình dạy học định hướng năng lực tập trung vào việc mô tả chất lượng đầu ra, có thể coi là "sản phẩm
Trang 19cuối cùng” của quá trình dạy học Việc quản lý chất lượng dạy học chuyển từ việc
"điều khiển đầu vào” sang "điều khiển đầu ra”, tức là kết quả học tập của học sinh
1.2.2 Đổi mới phương pháp dạy học nhằm chú trọng phát triển năng lực của học sinh
Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý học sinh về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên – học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội
Những định hướng chung, tổng quát về đổi mới phương pháp dạy học các môn học thuộc chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực là:
- Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin ), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy
- Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc thù của môn học để thực hiện Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức với sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”
- Việc sử dụng phương pháp dạy học gắn chặt với các hình thức tổ chức dạy học Tùy theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình thức tổ chức thích hợp như học cá nhân, học nhóm, học trong lớp, học ở ngoài lớp Cần chuẩn bị tốt về phương pháp đối với các giờ thực hành để đảm bảo yêu cầu rèn luyện kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, nâng cao hứng thú cho người học
- Cần sử dụng đủ và hiệu quả các thiết bị dạy học môn học tối thiểu đã qui định Có thể sử dụng các đồ dùng dạy học tự làm nếu xét thấy cần thiết với nội dung học và phù hợp với đối tượng học sinh Tích cực vận dụng công nghệ thông tin trong dạy học
Trang 201.2.3 Đổi mới kiểm tra, đánh giá hoạt động học tập của học sinh [1], [5]
Xu hướng đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh tập trung vào các hướng sau:
- Chuyển từ chủ yếu đánh giá kết quả học tập cuối môn học, khóa học (đánh giá tổng kết) nhằm mục đích xếp hạng, phân loại sang sử dụng các loại hình thức đánh giá thường xuyên, đánh giá định kỳ sau từng chủ đề, từng chương nhằm mục đích phản hồi điều chỉnh quá trình dạy học (đánh giá quá trình)
- Chuyển từ chủ yếu đánh giá kiến thức, kỹ năng sang đánh giá năng lực của người học Tức là chuyển trọng tâm đánh giá chủ yếu từ ghi nhớ, hiểu kiến thức, … sang đánh giá năng lực vận dụng, giải quyết những vấn đề của thực tiễn, đặc biệt chú trọng đánh giá các năng lực tư duy bậc cao như tư duy sáng tạo
- Chuyển đánh giá từ một hoạt động gần như độc lập với quá trình dạy học sang việc tích hợp đánh giá vào quá trình dạy học, xem đánh giá như là một phương pháp dạy học
- Tăng cường sử dụng công nghệ thông tin trong kiểm tra, đánh giá: sử dụng các phần mềm thẩm định các đặc tính đo lường của công cụ và sử dụng các mô hình thống kê vào xử lý phân tích, lý giải kết quả đánh giá
1.3 Năng lực và một số năng lực cần phát triển cho HS trung học phổ thông
- Nhóm lấy dấu hiệu tố chất tâm lý để định nghĩa " Năng lực là một thuộc tính tích hợp của nhân cách, là tổ hợp các đặc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động xác định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt đẹp”
Trang 211.3.2 Một số năng lực cần phát triển cho học sinh trung học phổ thông
1.3.2.1 Năng lực chung của học sinh trung học phổ thông
Theo văn bản dự thảo "Đề án đổi mới GDPT sau năm 2015” của Bộ GD &
ĐT và tài liệu tập huấn "Dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh”, HS THPT cần được phát triển những năng lực chung: Năng lực tự học; Năng lực giải quyết vấn đề; Năng lực sáng tạo; Năng lực
tự quản lý; Năng lực giao tiếp; Năng lực hợp tác; Năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông; Năng lực sử dụng ngôn ngữ; Năng lực tính toán
1.3.2.2 Những năng lực đặc thù môn Hóa học trong trường trung học phổ thông
Trên cơ sở duy trì, tăng cường các phẩm chất và năng lực đã hình thành thông qua môn hóa học ở cấp THPT, HS có được hệ thống kiến thức hoá học phổ thông cơ bản, hiện đại và thiết thực từ đơn giản đến phức tạp, gồm: Kiến thức cơ
sở hoá học chung; hoá học vô cơ; hoá học hữu cơ Hình thành và phát triển nhân cách của một công dân; phát triển các tiềm năng, các năng lực sẵn có và các năng lực chuyên biệt của môn hóa học như: Năng lực sử dụng ngôn ngữ hoá học, năng lực thực hành hoá học, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề thông qua môn hoá học, năng lực tính toán, năng lực vận dụng kiến thức hoá học vào cuộc sống
1.4 Bài tập trong dạy học Hóa học ở trường trung học phổ thông
1.4.1 Ý nghĩa của bài tập hóa học
Trong dạy học ở trường THPT, bài tập hóa học vừa là mục đích, vừa là nội dung, lại vừa là phương pháp dạy học hiệu nghiệm Tuy nhiên, hầu hết các bài tập hóa học hiện nay mới chỉ yêu cầu đánh giá HS về kiến thức lý thuyết hóa học, chưa đánh giá nhiều kỹ năng cơ bản môn hóa học như: kỹ năng học tập tích cực bộ môn hóa học, kỹ năng thực hành, kỹ năng vận dụng kiến thức vào cuộc sống,… Chính
vì vậy, việc xây dựng những bài tập hóa học mới phù hợp với định hướng đổi mới nói riêng và định hướng đổi mới giáo dục nói chung là rất quan trọng và có ý nghĩa thiết thực
Trang 221.4.2 Xu hướng xây dựng bài tập hóa học ở trường trung học phổ thông
Theo đề án đổi mới Giáo dục, dạy học định hướng năng lực đòi hỏi việc thay đổi mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học và đánh giá, trong đó việc thay đổi quan niệm và cách xây dựng các nhiệm vụ học tập, câu hỏi và bài tập Vì vậy, trong quá trình dạy học, người giáo viên cần biết xây dựng các bài tập định hướng năng lực
Trọng tâm của bài tập không phải là các thành phần tri thức hay kỹ năng riêng lẻ mà là sự vận dụng có phối hợp các kiến thức riêng khác nhau trên cơ sở một vấn đề mới đối với người học
Bài tập không định hướng theo nội dung học trừu tượng mà luôn theo các tình huống cuộc sống của học sinh Nội dung học tập luôn gắn với tình huống, bối cảnh thực tiễn
Những yêu cầu chung đối với các bài tập là:
- Được trình bày rõ ràng
- Có ít nhất một lời giải
- Với những dữ kiện cho trước, học sinh có thể tự lực giải được
- Không giải qua đoán mò được
Theo chức năng lý luận dạy học, bài tập có thể bao gồm: Bài tập học và bài tập đánh giá (thi, kiểm tra):
- Bài tập học: Bao gồm các bài tập dùng trong bài học để lĩnh hội tri thức mới, chẳng hạn các bài tập về một tình huống mới, giải quyết bài tập này để rút ra tri thức mới, hoặc các bài tập để luyện tập, củng cố, vận dụng kiến thức đã học
- Bài tập đánh giá: Là các bài kiểm tra ở lớp do giáo viên ra đề hay các đề tập trung như kiểm tra chất lượng, so sánh; bài thi tốt nghiệp, thi tuyển
Thực tế hiện nay, các bài tập chủ yếu là các bài luyện tập và bài thi, kiểm tra Bài tập học tập, lĩnh hội tri thức mới ít được quan tâm Tuy nhiên, bài tập học tập dưới dạng học khám phá có thể giúp học sinh nhiều hơn trong làm quen với việc tự lực tìm tòi và mở rộng tri thức
Theo dạng câu trả lời của bài tập "mở” hay "đóng”, có các dạng bài tập sau:
Trang 23- Bài tập đóng: Là các bài tập mà người học (người làm bài) không cần tự trình bày câu trả lời mà lựa chọn từ những câu trả lời cho trước Như vậy trong loại bài tập này, giáo viên đã biết câu trả lời, học sinh được cho trước các phương án có thể lựa chọn
- Bài tập mở: Là những bài tập mà không có lời giải cố định đối với cả giáo viên và học sinh (người ra đề và người làm bài); có nghĩa là kết quả bài tập là "mở” Chẳng hạn giáo viên đưa ra một chủ đề, một vấn đề hoặc một tài liệu, học sinh cần
tự bình luận, thảo luận về đề tài đó Các đề bài bình luận văn học không yêu cầu học theo mẫu, học sinh tự trình bày ý kiến theo cách hiểu và lập luận của mình là các ví dụ điển hình về bài tập mở
Bài tập mở được đặc trưng bởi sự trả lời tự do của cá nhân và không có một lời giải cố định, cho phép các cách tiếp cận khác nhau và dành không gian cho sự tự quyết định của người học Nó được sử dụng trong việc luyện tập hoặc kiểm tra năng lực vận dụng tri thức từ các lĩnh vực khác nhau để giải quyết các vấn đề Tính độc lập và sáng tạo của học sinh được chú trọng trong việc làm dạng bài tập này Tuy nhiên, bài tập mở cũng có những giới hạn như có thể khó khăn trong việc xây dựng các tiêu chí đánh giá khách quan, mất nhiều công sức hơn khi xây dựng và đánh giá,
có thể không phù hợp với mọi nội dung dạy học Trong việc đánh giá bài tập mở, chú trọng việc người làm bài biết lập luận thích hợp cho con đường giải quyết hay quan điểm của mình
Trong thực tiễn giáo dục trung học hiện nay, các bài tập mở gắn với thực tiễn còn ít được quan tâm Tuy nhiên, bài tập mở là hình thức bài tập có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển năng lực học sinh Trong dạy học và kiểm tra đánh giá giai đoạn tới, giáo viên cần kết hợp một cách thích hợp các loại bài tập để đảm bảo giúp học sinh nắm vững kiến thức, kỹ năng cơ bản và năng lực vận dụng trong các tình huống phức hợp gắn với thực tiễn
Trang 241.5 Tìm hiểu về chương trình đánh giá học sinh quốc tế PISA
1.5.1 PISA là gì?
PISA - viết tắt của cụm từ tiếng Anh "Programme for International Student Assessment”, được dịch là "Chương trình đánh giá học sinh quốc tế” do tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (“Organization for Economic Co-operation and Development”, thường được viết tắt là OECD) khởi xướng và chỉ đạo
PISA được thực hiện theo chu kì 3 năm một lần (bắt đầu từ năm 2000) Đối tượng đánh giá là học sinh trong độ tuổi 15, độ tuổi kết thúc giai đoạn giáo dục bắt buộc ở hầu hết các quốc gia (15 năm 3 tháng đến 16 năm 2 tháng – độ tuổi PISA) Việt Nam bắt đầu tham gia vào PISA năm 2012
PISA hướng vào các trọng tâm về chính sách, được thiết kế và áp dụng các phương pháp khoa học cần thiết để giúp chính phủ các nước tham gia rút ra các bài học về chính sách đối với giáo dục phổ thông
1.5.2 Mục đích của PISA
Mục tiêu tổng quát của PISA nhằm kiểm tra xem, khi đến độ tuổi kết thúc giai đoạn giáo dục bắt buộc, học sinh đã được chuẩn bị để đáp ứng các thách thức của cuộc sống sau này ở mức độ nào Ngoài ra PISA còn hướng vào các mục đích cụ thể sau:
Xem xét đánh giá các mức độ năng lực đạt được ở các lĩnh vực Đọc hiểu, Làm toán và Khoa học của học sinh ở lứa tuổi 15
Nghiên cứu ảnh hưởng của các chính sách đến kết quả học tập của học sinh Nghiên cứu hệ thống các điều kiện giảng dạy – học tập có ảnh hưởng đến kết quả học tập của học sinh
1.5.3 Đặc điểm của PISA
PISA được thực hiện đều đặn theo chu kì (3 năm một lần) tạo điều kiện cho các quốc gia có thể theo dõi sự tiến bộ của nền giáo dục đối với việc phấn đấu đạt được các mục tiêu giáo dục cơ bản
Trang 25Cho tới nay PISA là cuộc khảo sát giáo dục duy nhất chỉ chuyên đánh giá về năng lực phổ thông của học sinh ở độ tuổi 15, độ tuổi kết thúc giáo dục bắt buộc ở hầu hết các quốc gia
PISA chú trọng xem xét và đánh giá một số vấn đề sau:
– Chính sách công: Các chính phủ, các nhà trường, giáo viên và phụ huynh
đều muốn có câu trả lời cho tất cả các câu hỏi như “Nhà trường của chúng ta đã chuẩn bị đầy đủ cho những người trẻ tuổi trước những thách thức của cuộc sống của người trưởng thành chưa?”, “Phải chăng một số loại hình giảng dạy và học tập của những nơi này hiệu quả hơn những nơi khác?” và “Nhà trường có thể góp phần cải thiện tương lai của học sinh có gốc nhập cư hay có hoàn cảnh khó khăn không?”,…
– Hiểu biết phổ thông: Thay vì kiểm tra sự thuộc bài theo các chương trình
giáo dục cụ thể, PISA chú trọng việc xem xét đánh giá về các năng lực của học sinh trong việc ứng dụng các kiến thức và kĩ năng phổ thông cơ bản vào các tình huống thực tiễn Ngoài ra còn xem xét đánh giá khả năng phân tích, lí giải và truyền đạt một cách có hiệu quả các kiến thức và kĩ năng đó thông qua cách học sinh xem xét, diễn giải và giải quyết các vấn đề
– Học tập suốt đời: Học sinh không thể học tất cả mọi thứ cần biết trong nhà
trường Để trở thành những người có thể học tập suốt đời có hiệu quả, ngoài việc thanh niên phải có những kiến thức và kĩ năng phổ thông cơ bản họ còn phải có cả ý thức về động cơ học tập và cách học Do vậy PISA sẽ tiến hành đo cả năng lực thực hiện của học sinh về các lĩnh vực: đọc hiểu, làm toán và khoa học, đồng thời còn tìm hiểu cả về động cơ, niềm tin vào bản thân cũng như các chiến lược học tập Bài tập của PISA: Các câu hỏi của PISA đều là các câu hỏi dựa trên các tình huống của đời sống thực và không chỉ giới hạn bởi cuộc sống thường ngày của các em trong nhà trường, và nhiều tình huống được lựa chọn không phải chỉ để HS thực hiện các thao tác về tư duy, mà còn để HS ý thức về các vấn đề xã hội (như
là sự nóng lên của trái đất, phân biệt giàu nghèo, v.v) Dạng thức của câu hỏi phong phú, không chỉ bao gồm các câu hỏi lựa chọn đáp án mà còn yêu cầu
HS tự xây dựng nên đáp án của mình Chất liệu được sử dụng để xây dựng các
Trang 26câu hỏi này cũng đa dạng, ví dụ như: bài tập đọc hiểu của PISA có thể xây dựng trên bảng biểu đồ, tranh ảnh quảng cáo, văn bản, bài báo
1.5.4 Nội dung đánh giá
Nội dung đánh giá của PISA hoàn toàn được xác định dựa trên các kiến thức,
kỹ năng cần thiết cho cuộc sống tương lai, không dựa vào nội dung các chương trình giáo dục quốc gia Đây chính là điều mà PISA gọi là “năng lực phổ thông” (về làm toán, về khoa học, về đọc hiểu) - những năng lực cần thiết chuẩn bị cho cuộc sống trong một xã hội hiện đại
Bảng 1.1 Nội dung đánh giá của PISA qua các kì
Ghi chú: Phần gạch chân, in đậm là nội dung trọng tâm của mỗi kì đánh giá
1.5.5 Cách đánh giá trong bài tập PISA
1.5.5.1 Các kiểu câu hỏi được sử dụng
Các câu hỏi của PISA đều là các câu hỏi dựa trên các tình huống của đời sống thực và không chỉ giới hạn bởi cuộc sống thường ngày của học sinh trong nhà trường – có nhiều tình huống được lựa chọn không phải chỉ để học sinh thực hiện các thao tác về tư duy, mà còn để học sinh có ý thưc về các vấn đề xã hội Dạng thức của câu hỏi phong phú, không chỉ bao gồm các câu hỏi lựa chọn đáp án mà còn yêu cầu học sinh tự xây dựng nên đáp án của mình Chất liệu sử dụng để xây dựng các câu hỏi PISA rất đa dạng, không chỉ dùng nét chữ, con số mà còn dùng cả hình
Khoa học
Đọc hiểu
Toán học Khoa học
Đọc hiểu
Toán học
Khoa học Giải quyết vấn đề Bài thi trên máy tính Bài thi đánh giá năng lực tài chính
Đọc hiểu Toán học
Khoa học
Trang 27Các kiểu câu hỏi PISA được sử dụng:
+ Câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn kiểu đơn giản
+ Câu hỏi Đúng/ Sai phức hợp
+ Câu hỏi mở đòi hỏi trả lời ngắn
+ Câu hỏi mở đòi hỏi trả lời dài
+ Câu hỏi đóng đòi hỏi trả lời
+ Câu hỏi yêu cầu vẽ đồ thị, biểu đồ
+ Câu hỏi yêu cầu HS dùng lập luận để thể hiện việc đồng tình hay bác bỏ một nhận định
+ Câu hỏi liên quan đến việc HS phải đọc và trích rút thông tin từ biểu đồ,
sơ đồ, hình vẽ để trả lời câu hỏi
Sử dụng các mức này thay cho khái niệm "Đúng” hay "không đúng”
Một số câu hỏi không có câu trả lời "đúng” Hay nói đúng hơn, các câu trả lời được đánh giá dựa vào mức độ HS hiểu văn bản hoặc chủ đề trong câu hỏi
"Mức tối đa” không nhất thiết chỉ là những câu trả lời hoàn hảo hoặc đúng hoàn toàn
"Không đạt” không có nghĩa là hoàn toàn không đúng
1.5.6 Đối tượng đánh giá
HS trong độ tuổi 15 (được định nghĩa chính xác là từ 15 tuổi 3 tháng đến 16 tuổi 2 tháng) đang theo học ở chương trình phổ thông và giáo dục thường xuyên
Trang 281.6 Kết quả đánh giá học sinh quốc tế 2015 (PISA) của Tổ chức Hợp tác Phát triển quốc tế (OECD)
Năm 2015, OECD đã tiến hành khảo sát ở 72 quốc gia và vùng lãnh thổ về năng lực các môn đọc - hiểu, toán học và khoa học, trong đó chủ yếu là môn Khoa học Theo kết quả bài thi đánh giá học sinh quốc tế (PISA) 2015 được Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) công bố ngày 6/12/2016 thì năm nay, Việt Nam xếp thứ 8 trong 72 nước tham gia về Khoa học, 22 về Toán và 32 về Đọc hiểu, cao hơn nhiều nước phát triển
1.7 Thực trạng việc sử dụng bài tập hóa học nhằm phát triển năng lực ở một
số trường THPT tại Đà Nẵng
Để đánh giá được thực trạng sử dụng bài tập hóa học nhằm phát triển năng lực HS theo hướng tiếp cận PISA ở trường THPT, chúng tôi đã tiến hành điều tra một số GV và HS ở trường THPT Nguyễn Thượng Hiền và THPT Phạm Phú Thứ, thành phố Đà Nẵng
1.7.1 Mục đích điều tra
Tìm hiểu và đánh giá đúng thực trạng việc sử dụng bài tập hóa học nhằm phát triển năng lực HS theo hướng tiếp cận PISA ở trường THPT hiện nay thành phố Đà Nẵng và coi đó là căn cứ để xác định phương hướng trong nhiệm vụ phát triển tiếp theo của đề tài
Đồng thời, lấy kết quả đó làm cơ sở phân tích hiệu quả của quá trình dạy và học của GV và HS trường THPT, từ đó đưa ra giải pháp giảng dạy và học tập nhằm nâng cao chất lượng dạy và học hóa học ở nhà trường
Lấy được ý kiến quan niệm của GV và HS về việc sử dụng bài tập hóa học trong giảng dạy và học tập ở trường THPT
1.7.2 Nội dung điều tra
Điều tra về thực trạng sử dụng bài tập hóa học 10 chương trình chuẩn phần phi kim nhằm phát triển năng lực HS theo hướng tiếp cận PISA ở trường THPT hiện nay
Trang 291.7.3 Đối tượng điều tra
Các GV trực tiếp giảng dạy bộ môn hóa học ở một số trường THPT thuộc địa bàn thành phố Đà Nẵng
Các HS tham gia học các lớp thực nghiệm của đề tài
1.7.4 Phương pháp điều tra
- Gặp gỡ trực tiếp, trao đổi và phỏng vấn các GV và HS tham gia thực nghiệm
- Dự giờ, nghiên cứu giáo án của GV
- Gửi và thu phiếu điều tra cho GV và HS
1.7.5 Kết quả điều tra
- Dự giờ 4 tiết của các GV hóa học ở trường THPT Nguyễn Thượng Hiền, THPT Phạm Phú Thứ - thành phố Đà Nẵng
- Gửi phiếu điều tra đến 15 GV hóa học thuộc các THPT Nguyễn Thượng Hiền, THPT Phạm Phú Thứ - thành phố Đà Nẵng
Kết quả điều tra được tổng hợp bằng các bảng sau:
Bảng 1.2 Tình trạng GV sử dụng bài tập trong các giờ dạy học
Các giờ có sử dụng
bài tập hóa học
Số GV sử dụng (%) Thường xuyên Thỉnh thoảng Không sử dụng
Trang 30Bảng 1.3 Mức độ sử dụng các dạng bài tập hóa học trong dạy học
Từ các kết quả điều tra trên, có thể cho phép kết luận:
- Hầu hết sự đánh giá của GV chỉ dựa vào điểm số của các bài kiểm tra Nội dung của các bài kiểm tra lại theo một khuôn mẫu chung chung, lặp lại như: bài tập viết phương trình, bài tập nhận biết chất, bài tập tính toán Nội dung các bài tập ít sáng tạo, nên dễ tạo lối mòn trong suy nghĩ hoặc nhiều khi lại quá phức tạp trong so với trình độ của các em, làm cho môn hóa học trở nên khó, ít hứng thú với HS
- Đặc biệt, các bài tập mà hầu hết các GV hiện nay sử dụng mang tính hàn lâm, chỉ chú trọng đến đánh giá kiến thức lý thuyết hóa học Những dạng bài tập liên quan đến những vấn đề thực tế của cá nhân và cộng đồng, những dạng bài tập phát huy năng lực, tư duy khoa học của HS gần như chưa được GV sử dụng trong kiểm tra, đánh giá HS
- Chưa khai thác triệt để các ứng dụng của hóa học trong thực tế và các vấn
đề thực tiễn có liên quan đến kiến thức hóa học vào nội dung bài tập nên tính thực
Số GV sử dụng (%) Thường
xuyên
Thỉnh thoảng
2 Trình bày ý kiến của cá nhân về vấn đề liên
quan đến kiến thức hóa học
3 Hoạt động nhóm báo cáo về 1 vấn đề liên
quan đến hóa học
4 Đọc hiểu văn bản, nghiên cứu sơ đồ, bảng
biểu có liên quan đến kiến thức hóa học
5 Giải bài tập hóa học có liên quan đến vấn đề
thực tế
Trang 31tiễn của môn học chưa cao
- Chủ yếu GV sử dụng các nguồn bài tập có sẵn trong SGK và sách tham khảo mà chưa có phương pháp để thiết kế và xây dựng một cách đa dạng các loại bài tập, nên nội dung bài tập còn nghèo nàn, nhàm chán, chưa tạo hứng thú học tập cho HS
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Nội dung chính trong chương 1 gồm các vấn đề sau:
- Nêu được định hướng đổi mới giáo dục trên thế giới và ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
- Liệt kê 9 năng lực chung và 5 năng lực đặc thù cần hình thành và phát triển cho HS khi giảng dạy môn Hóa học ở trường THPT
- Giới thiệu về PISA
- Tìm hiểu và đánh giá mức độ hiểu biết và vận dụng các câu hỏi, bài tập hóa học nhằm phát triển năng lực HS theo hướng tiếp cận PISA của GV ở một số trường THPT Từ kết quả điều tra trên cho thấy nhu cầu của việc sử dụng hệ thống câu hỏi và bài tập hóa học theo hướng tiếp cận PISA nhằm hoàn thiện các năng lực chung và đặc thù cho HS là rất cần thiết
Trang 32CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HÓA HỌC PHẦN PHI KIM LỚP 10 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH
THEO HƯỚNG TIẾP CẬN PISA 2.1 Phân tích cấu trúc nội dung, phương pháp dạy học phần hóa học phi kim lớp 10
2.1.1 Phân tích cấu trúc nội dung phần hóa học phi kim lớp 10 [2]
Trong phạm vi giới hạn của đề tài tôi xin trình bày nội dung và phân phối chương trình phần phi kim hóa học 10 chương trình chuẩn
Bảng 2.1 Nội dung chương trình phần phi kim hóa học 10 chương trình chuẩn
Bảng 2.2 Phân phối chương trình phần phi kim hóa học 10 chương trình chuẩn
Chương V : Nhóm Halogen (12 tiết)
Tiết 37 Khái niệm về nhóm halogen
Tiết 38 Clo
Tiết 39, 40 Hidro clorua - Axit clohidric và muối clorua
Tiết 41 Luyện tập: Hidro clorua - Axit clohidric và muối clorua
Tiết 42 Sơ lược về hợp chất có oxi của clo
Tiết 43, 44 Flo, brom, iot
Tiết 45, 46 Luyện tập : Nhóm halogen
Tiết 47 Bài thực hành số 2: Tính chất hóa học của khí clo và hợp chất của clo
Bài thực hành số 3: Tính chất hóa học của brom và iot Tiết 48 Kiểm tra viết
Nội dung
Số tiết
Lí thuyết
Luyện tập
Thực hành
Ôn tập Kiểm tra
Trang 33Chương VI : Oxi- Lưu huỳnh (12 tiết)
Tiết 49 Oxi - Ozon
Tiết 50 Lưu huỳnh
Tiết 51 Bài thực hành số 4: Tính chất của oxi, lưu huỳnh
Tiết 52 Hidro sunfua
Tiết 53 Lưu huỳnh đioxit - Lưu huỳnh trioxit
Tiết 54,55 Axit sunfuric Muối sunfat
Tiết 56 Luyện tập: Axit sunfuric Muối sunfat
Tiết 57,58 Luyện tập: Oxi và lưu huỳnh
Tiết 59 Bài thực hành số 5: Tính chất các hợp chất của lưu huỳnh
Tiết 60 Kiểm tra viết
2.1.2 Đặc điểm về phương pháp dạy học phần hóa học phi kim lớp 10
Phần hóa học phi kim lớp 10 được nghiên cứu sau khi HS đã được học các lí thuyết chủ đạo (cấu tạo nguyên tử, bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học, định luật tuần hoàn, liên kết hóa học, phản ứng hóa học), vì vậy PPDH chung khi dạy học phần này là phương pháp diễn dịch và được xây dựng theo mô hình sau:
Các thí nghiệm biểu diễn trong phần phi kim lớp 10 chủ yếu được tiến hành theo phương pháp kiểm chứng để khẳng định những dự đoán tính chất của các chất
Khi nghiên cứu về tính chất của các chất trong cùng nhóm có thể sử dụng phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề để suy ra ngoài những tính chất chung thì các chất còn có những tính chất riêng
Trong bài tập luyện tập cần sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu, phương pháp lập sơ đồ tư duy để khắc sâu, hệ thống hóa kiến thức cho HS
Xác minh những điều
dự đoán về tính chất bằng các thí nghiệm, thực hành hóa học
Vận dụng kiến
thức chủ đạo
Dự đoán tính chất hóa học của đơn chất và hợp chất
Trang 34Trong dạy học hóa học phần phi kim lớp 10, tăng cường sử dụng các phương pháp dạy học và kỹ thuật dạy học hiện đại như: dạy học theo nhóm, dạy học dự án, dạy học theo phương pháp góc… nhằm phát huy tính tích cực, phát triển tư duy HS
từ đó hoàn thiện các năng lực chung và đặc thù cho HS
2.2 Xây dựng hệ thống bài tập hóa học phần phi kim lớp 10 nhằm phát triển năng lực học sinh theo hướng tiếp cận PISA
- Căn cứ vào nội dung kiến thức hóa học phi kim lớp 10
- Mục tiêu đánh giá của PISA
Như vậy, để xây dựng bài tập hóa học theo hướng tiếp cận PISA có thể xuất phát từ:
- Những kiến thức và kỹ năng cần kiểm tra
- Những tình huống, vấn đề thực tế trong đời sống có liên quan đến kiến thức hóa học
- Những năng lực chung và năng lực đặc thù cần hình cho HS
- Một số bài tập mẫu của PISA
- Một số bài tập hóa học cơ bản có sẵn
Trang 352.2.1.2 Nguyên tắc
Khi xây dựng BTHH nhằm phát triển năng lực HS theo hướng tiếp cận PISA cần đảm bảo các nguyên tắc sau:
- Nội dung bài tập phải bám sát mục tiêu môn học
Khi xây dựng bài tập cần phải lấy mục tiêu môn học làm cơ sở Có như vậy, thông qua làm các bài tập HS thực hiện được các mục tiêu mà bài tập đề ra
- Nội dung bài tập phải đảm bảo tính chính xác,tính khoa học và hiện đại Nguồn thông tin, nội dung kiến thức trong bài tập cần cần đảm bảo tính chính xác, tính khoa học và phải được cập nhật thường xuyên để HS đạt được chuẩn kiến thức, kỹ năng phù hợp với thời cuộc
- Nội dung bài tập phải đảm bảo tính logic và hệ thống
Các bài tập được xây dựng theo các mức độ từ dễ đến khó phù hợp với trình
độ của HS
- Nội dung bài tập phải đảm bảo tính thực tiễn
BTHH cần buộc người học phải vận dụng các kiến thức đã biết hoặc các kinh nghiệm thực tiễn, sử dụng các hành động trí tuệ hay hành động thực tiễn để giải quyết các nhiệm vụ đó nhằm chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng một cách tích cực, hứng thú và sáng tạo
- Các loại hình bài tập cần được đa dạng hóa
Các BTHH được xây dựng dưới hình thức tự luận hoặc trắc nghiệm với nhiều thông tin, nhiều hình ảnh, bảng biểu, câu hỏi mở, câu hỏi đóng
- Nội dung bài tập phải nhằm hình thành và phát triển năng lực HS xây dựng được BTHH phù hợp
2.2.2 Quy trình xây dựng hệ thống bài tập theo hướng tiếp cận PISA
2.2.2.1 Lựa chọn đơn vị kiến thức, xác định nội dung kiến thức và thiết lập bảng
mô tả các mức độ cần đạt
Khi xây dựng hệ thống bài tập hóa học phi kim lớp 10 hướng cách tiếp cận PISA, cần lựa chọn những đơn vị kiến thức, xác định nội dung kiến thức không chỉ
Trang 36có ý nghĩa về mặt hóa học mà còn gắn liền với thực tiễn, với đời sống của cá nhân
từ đó thiết lập bảng mô tả các mức độ cần đạt
2.2.2.2 Xác định các năng lực cần hình thành và phát triển cho HS
Sau khi lựa chọn được đơn vị kiến thức, giáo viên cần xác định các năng lực tương ứng cần hình thành và phát triển cho HS
2.2.2.3 Xây dựng ngữ cảnh của phần dẫn
Mỗi bài tập PISA cần có ngữ cảnh đi kèm.Ngữ cảnh được xây dựng theo các bối cảnh, tình huống trong cuộc sống có liên quan đến nội dung kiến thức đang học
2.2.2.4 Lựa chọn các kiểu câu hỏi theo mẫu của PISA
Tùy theo từng đơn vị kiến thức, ngữ cảnh có thể lựa chọn các kiểu câu hỏi theo mẫu PISA cho phù hợp Việc sử dụng đa dạng các kiểu câu hỏi theo mẫu PISA
sẽ góp phần phát triển năng lực đối với mỗi học sinh
2.2.2.5 Xây dựng hệ thống bài tập
Từ các bài tập hóa học và các bài tập của PISA đã có, cũng như các ý tưởng, nội dung kiến thức hóa học, xây dựng hệ thống bài tập hóa học theo các hướng như:
* Xây dựng các bài tập tương tự các bài tập đã có
Khi một bài tập có nhiều tác dụng đối với HS, ta có thể dựa vào bài tập đó để tạo ra những bài tập khác tương tự theo các cách như:
- Giữ nguyên hiện tượng và chất tham gia phản ứng, chỉ thay đổi lượng chất
- Giữ nguyên hiện tượng và thay đổi chất tham gia phản ứng
- Thay đổi các hiện tượng phản ứng và chất phản ứng, chỉ giữ lại những dạng phương trình hóa học cơ bản
- Từ một bài toán ban đầu, ta có thể đảo cách hỏi giá trị của các đại lượng đã cho như: khối lượng, số mol, thể tích, nồng độ
- Thay các số liệu bằng chữ để tính tổng tổng quát
- Chọn những chi tiết hay ở các bài tập để phối hợp lại thành bài mới
* Xây dựng bài tập hoàn toàn mới
Thông thường, có hai cách xây dựng bài tập mới là:
Trang 37- Dựa vào tính chất hóa học và các quy luật tương tác giữa các chất để đặt ra bài tập mới
- Lấy những ý tưởng, nội dung, những tình huống hay và quan trọng ở nhiều bài, thay đổi nội dung, cách hỏi, số liệu để phối hợp lại thành bài mới
2.2.2.6 Xây dựng đáp án trả lời của bài tập
Đáp án của bài tập theo hướng PISA được xây dựng ở các mức độ khác nhau: mức tối đa, mức chưa tối đa và mức không đạt Các mức độ này sẽ được mã hóa bằng các con số cụ thể đã được trình bày ở phần trên Tuy nhiên vì trong phạm
vi nghiên cứu của khóa luận để tiện cho việc sử dụng chúng tôi không mã hóa đáp
2.2.2.9 Hoàn thiện hệ thống bài tập
Các bài tập sau khi xây dựng theo 9 bước trên sẽ được sắp xếp, hoàn thiện một cách khoa học
Trang 382.3 Hệ thống bài tập phần phi kim hóa học lớp 10 nhằm phát triển năng lực học sinh theo hướng tiếp cận PISA
2.3.1 Hệ thống bài tập chương 5 "Nhóm Halogen”
2.3.1.1 Mô tả các mức yêu cầu cần đạt cho chủ đề
Các mức độ kiến thức, kỹ năng, thái độ của chủ đề trong chương trình hiện hành trên quan điểm định hướng phát triển năng lực học sinh được mô tả theo bảng sau:
Trang 39Bảng 2.3 Bảng mô tả các mức yêu cầu cần đạt cho chủ đề “Nhóm Halogen”
Nội dung Loại bài
tập
cao 1.Khái quát
Bài tập định lượng
- Nêu được vị trí nhóm halogen trong bảng tuần hoàn; Sự biến đổi
độ âm điện, bán kính nguyên tử và một số tính chất vật lí của các nguyên tố trong nhóm
- Nêu được sự biến đổi tính chất hóa học của các đơn chất trong nhóm halogen
- Nêu được tính chất vật lí, trạng thái tự nhiên, ứng dụng của clo, phương pháp điều chế clo trong PTN, trong CN
- Viết được cấu tạo phân tử của khí hidroclorua
- Nêu được tính chất vật lí, trạng thái tự nhiên, ứng dụng, điều
- Viết được cấu hình lớp electron ngoài cùng của nguyên tử các nguyên tố halogen tương tự
- Viết được PTHH thể hiện tính chất hoá học cơ bản của clo là phi kim mạnh, có tính oxi hoá mạnh Clo còn thể hiện tính khử
- Viết được phương trình phản ứng điều chế clo trong PTN và trong CN
- Phân biệt được các halogen, axit clohidric và muối clorua với dung dịch axit và muối khác
- Nêu được tính chất của khí hiđro clorua (tan rất nhiều trong nước tạo thành dung dịch axit clohiđric); của dung dịch axit clohdric
- Viết được các phương trình phản ứng thể hiện tính chất hoá học cơ bản của các nguyên tố halogen
là tính oxi hoá mạnh
- Viết được các PTHH chứng minh tính chất oxi hoá mạnh của các nguyên tố halogen, quy luật biến đổi tính chất của các nguyên tố trong nhóm
- Dự đoán tính chất hóa học một số halogen cùng nhóm
- Viết được các PTHH chứng minh tính chất hoá học của axit HCl
- Tính thể tích hoặc khối lượng dung dịch chất tham gia hoặc tạo thành sau phản ứng
- Dự đoán, kiểm tra và kết luận được
về tính chất hóa học cơ bản
của clo, của axit
clohidric, của flo, brom, iot
- Giải được các bài tập liên quan
Trang 40Bài tập thực hành/Thí nghiệm/
gắn với hiện tượng thực tiễn
chế flo, brom, iot và một vài hợp chất của chúng
- Mô tả và nhận biết được các hiện tượng
TN
- Viết được các PTHH thể hiện tính chất hóa học và điều chế nước Gia-ven, clorua vôi
- Cân bằng phản ứng oxi hóa khử từ đơn giản đến phức tạp Viết được các PTHH chứng minh tính chất hoá học của flo, brom, iot và tính oxi hóa giảm dần từ flo đến iot
- Giải thích được các hiện tượng thí nghiệm
- Tính thể tích khí clo
ở đktc tham gia hoặc tạo thành trong phản ứng
- Tính nồng độ hoặc thể tích của axit HCl tham gia hoặc tạo thành trong phản ứng
- Tính khối lượng brom, iot và một số hợp chất tham gia hoặc tạo thành trong phản ứng
- Giải thích được một
số hiện tượng TN liên quan đến thực tiễn
hiện tượng thực tiễn
- Giải được các bài toán liên quan đến nồng độ dung dịch, hiệu suất phản ứng
- Sử dụng có hiệu quả, an toàn nước Gia-ven, clorua vôi trong thực tế
- Phát hiện được một số hiện tượng trong thực tiễn và sử dụng kiễn thức hóa học
để giải thích