1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cuộc vận động tẩy chay khách trú ở Nam Kỳ năm 1919 trên báo Nông cổ mín đàm và Lục tỉnh tân văn

10 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 429,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết tìm hiểu nguồn gốc dẫn đến sự bùng nổ của phong trào “Tẩy chay khách trú”; hoạt động “tẩy chay Khách trú” trên báo Nông cổ mín đàm và Lục tỉnh tân văn.

Trang 1

ĐẠI HỌC SÀI GÒN OF SAIGON UNIVERSITY

Email: tcdhsg@sgu.edu.vn ; Website: http://sj.sgu.edu.vn/

CUỘC VẬN ĐỘNG TẨY CHAY KHÁCH TRÚ Ở NAM KỲ NĂM 1919

TRÊN BÁO NÔNG CỔ MÍN ĐÀM VÀ LỤC TỈNH TÂN VĂN

The Chinese “Khach tru” (Guest residents) movement in Cochinchine in 1919 on

the “Nong co min dam” and “Luc tinh tan van” newspapers

TS Phạm Phúc Vĩnh

Trường Đại học Sài Gòn

TÓM TẮT

Trong quá trình khai thác thuộc địa ở Nam Kỳ, chính quyền thực dân Pháp đã tạo điều kiện thuận lợi cho các thương nhân Hoa kiều, giúp họ vươn lên và nắm quyền chi phối nhiều lĩnh vực kinh tế ở Nam

Kỳ, nhất là trong hoạt động thương mại Trong bối cảnh đó, giới tư sản người Việt ở Nam Kỳ đã khởi xướng cuộc vận động góp vốn thành lập các cơ sở sản xuất, kinh doanh để cạnh tranh với các thế lực tư sản Hoa kiều Cuộc vận động này đã khơi dậy những bức xúc của người Việt do tình trạng lũng đoạn kinh tế của các thương nhân Hoa kiều (Khách trú) dẫn đến sự bùng nổ của phong trào tẩy chay Khách trú ở Nam Kỳ vào cuối năm 1919 Hoạt động chính của phong trào là kêu gọi cộng đồng người Việt góp vốn mở cửa tiệm, lập công ty để kinh doanh, cạnh tranh với Khách trú, tẩy chay hàng hóa của Hoa kiều, chỉ sử dụng hàng hóa và dịch vụ của người Việt

Từ khóa: Khách trú, Nam Kỳ, thương nhân Hoa kiều, Việt Nam

ABSTRACT

During colonial exploitation process in Cochinchine, the French colonial government created favorable conditions for Chinese merchants, helping them to rise up and take control of many economic sectors in Cochinchine, especially in commercial activities In that situation, the Vietnamese bourgeoisie in Cochinchine initiated a campaign of capital contribution to the establishment of production and businesses to compete with the bourgeois powers of the Chinese This campaign stimulated the frustration of the Vietnamese people due to the economic manipulation of the Chinese merchants (Guest Residents), which led to the outbreak of the boycott of Cochinchine in late 1919 The main activity of the movement is to call on the Vietnamese community to contribute capital to open shops, set up companies to compete with Guest Residents, boycott Chinese goods, and use the Vietnamese goods and services only

Keywords: Guest Residents, Cochinchine, Chinese merchants, Vietnam

1 Nguồn gốc dẫn đến sự bùng nổ

của phong trào “Tẩy chay khách trú”

1.1 Vị thế của thương nhân Hoa

kiều ở Nam Kỳ thời Pháp thuộc

Trong quá trình xâm lược Việt Nam,

thực dân Pháp chiếm đóng đến đâu là thiết

lập bộ máy kiểm soát đến đó Sau Hiệp ước năm 1862, bộ máy cai trị của Pháp chính thức được thiết lập ở ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ (Gia Định, Định Tường, Biên Hòa) Sau khi Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ năm 1867 (Vĩnh Long,

Trang 2

An Giang và Hà Tiên), Nam Kỳ về cơ bản

trở thành thuộc địa của Pháp, do Pháp trực

tiếp quản lý về mọi phương diện, nhà

Nguyễn về cơ bản không còn quyền hành

gì ở Nam Kỳ nữa(1)

Sau khi hoàn thành xâm lược và tổ

chức bộ máy quản lý Nam Kỳ, thực dân

Pháp bắt tay vào việc đầu tư khai thác Sự

đầu tư của chính quyền thực dân và hoạt

động xuất khẩu tư bản của Pháp vào Nam

Kỳ đã thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát

triển, các đồn điền, nhà máy, một số công

trình hạ tầng giao thông và liên lạc quan

trọng ở Nam Kỳ ra đời Đặc biệt, hoạt động

thương mại ở Nam Kỳ được chính quyền

thuộc địa rất chú trọng phát triển, nhất là

trong lĩnh vực xuất khẩu lúa gạo Ngay sau

khi Pháp đánh chiếm miền Đông Nam Kỳ,

cảng Sài Gòn được Pháp tuyên bố là một

cảng mở cho tất cả thuyền buôn của mọi

quốc gia và khuyến khích ngoại thương(2)

Ngày 30/9/1868, Thống đốc Nam Kỳ

ký nghị định thành lập phòng Thương mại

Sài Gòn để tư vấn, quản lý và hỗ trợ cho

hoạt động thương mại ở đây Việc buôn

bán hàng hóa hai chiều giữa Pháp với Nam

Kỳ nói riêng và Đông Dương nói chung

tăng lên nhanh chóng Bên cạnh việc xuất

khẩu gạo, từ năm 1902 trở đi, Nam Kỳ đã

có thêm các sản phẩm khác như thuốc lá,

cà phê, xi măng, đồ thêu, xà phòng…

(Nguyễn Đình Tư, 2016, tr 256)

Trong quá trình thúc đẩy hoạt động

thương mại ở Nam Kỳ, thực dân Pháp đã

sử dụng lực lượng tư sản người Hoa làm

trợ thủ đắc lực để lũng đoạn thị trường nội

địa và hoạt động xuất khẩu, “tư bản Trung

Hoa có đại diện rất mạnh trong việc buôn

bán gạo, trong việc nhập khẩu vải bông và

một phần khá lớn việc buôn bán lẻ ở Nam

Kỳ tập trung trong tay người Trung Hoa”

(Lê Hữu Phước, 2013, tr 143) Nhờ vậy, lực lượng thương nhân Hoa Kiều ở Nam

Kỳ đóng vai trò rất lớn trong việc xuất nhập khẩu và tiêu thụ nội địa, góp phần đáng kể cho sự phát triển của nền kinh tế Nam Kỳ thời Pháp thuộc

Các thương nhân Hoa kiều(3) chiếm vị trí số một trong việc thu gom, xay giã và xuất khẩu lúa gạo ở Nam Kỳ, mà trung tâm

là Chợ Lớn, nơi quy tụ nguồn lúa gạo của toàn đồng bằng Nam Bộ Theo Nguyễn Đức Hiệp (2014), người Hoa ở Chợ Lớn hầu như nắm hết các đầu mối thu mua lúa

từ các tỉnh miền Tây Nam Kỳ, chủ các nhà máy xay xát lúa và buôn bán gạo trong nước cũng như xuất khẩu đi các nước, từ cuối thế kỷ XIX đến thập niên 1930, không

có ai cạnh tranh lại được với họ (Nguyễn Đức Hiệp, 2014, tr 50)

Không chỉ nắm vai trò chi phối trong lĩnh vực buôn bán lúa gạo ở Nam Kỳ, trong thời gian đầu cai trị, chính quyền thực dân Pháp còn khoán cả việc sản xuất và phân phối thuốc phiện cho người Hoa để gia tăng ngân sách(4) Sau này, khi chính quyền thực dân đã thiết lập hệ thống hành chính

và ổn định tình hình ở Nam Kỳ, người Pháp mới quyết định độc quyền kinh tế (Régies) trong sản xuất, buôn bán muối, rượu và thuốc phiện (Nguyễn Đức Hiệp,

2014, tr 52)

Hoạt động sản xuất theo phương thức

tư bản chủ nghĩa của người Việt ở Nam Kỳ trong cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX

còn khá mờ nhạt, trong Niên giám Đông

Dương phát hành năm 1910, chính quyền

thực dân nhìn nhận thực trạng các nghề thủ công truyền thống ở Nam Kỳ cuối thế kỷ

XIX đầu thế kỷ XX: “Nghề thủ công bản

xứ chẳng có gì đáng kể Người bản xứ chỉ chế tác một ít đồ kim hoàn, các vật dụng

Trang 3

đan bằng mây tre, chiếu và các loại túi

cói… Kỹ nghệ bản xứ hiện đang tồn tại

thoi thóp… Hiện nay, người ta chỉ đang

tập trung vào những ngành kỹ nghệ của

người Hoa hoặc người Pháp vừa nhập vào

Nam Kỳ Các nghề thủ công bản xứ nổi

tiếng một thời thì đang suy thoái hoặc biến

mất dần” (Lê Hữu Phước, 2013, tr 142)

Tình trạng các thương nhân Hoa kiều

(Khách trú) trở thành lực lượng nắm giữ và

chi phối hoạt động thương mại Nam Kỳ đã

làm cho những người Việt cảm thấy bị thua

thiệt trên chính quê hương bản xứ của

mình Trong thập niên đầu thế kỉ XX, lực

lượng tư sản người Việt ở Nam Kỳ mới

hình thành vốn nhỏ yếu về kinh tế đã vấp

phải sự cạnh tranh, chèn ép gay gắt của các

thế lực thương nhân Hoa kiều, từ đó họ nảy

sinh tâm lí đố kị, bức xúc với lực lượng

này Thực tế này đã thể hiện khá rõ nét

trong cuộc vận động tranh thương trên các

tờ báo Nông cổ mín đàm, Lục tỉnh tân văn

ngay từ khi mới xuất bản Sau Chiến tranh

thế giới thứ nhất, cuộc khai thác thuộc địa

lần thứ hai của thực dân Pháp đã góp phần

làm cho lực lượng tư sản bản xứ phát triển

và những mâu thuẫn này được khoét sâu

thêm, biến nó thành một cuộc xung đột lợi

ích thực sự trên thực tế

1.2 Cuộc vận động người Việt phát

triển kinh doanh và tranh thương trên

báo chí

Trước sự cạnh tranh gay gắt của các

thế lực thương nhân Hoa kiều (Khách trú),

nhất là trên lĩnh vực mua bán, xay xát lúa

gạo, tín dụng(5), giới tư sản người Việt ở

Nam Kỳ đã thể hiện tinh thần đoàn kết

trong việc góp vốn phát triển kinh doanh

và tranh thương với các thế lực Khách trú

Trong những năm 20 của thế kỷ XX, trên

báo Nông cổ mín đàm, Lục tỉnh tân văn,

nhiều nhà báo có tinh thần dân tộc đã đăng bài vận động người Việt hùn vốn lập tiệm buôn, lập trường học, mở trường nghề, lập các hội tương tế nông nghiệp và công nghệ, nhà in, xây dựng nhà máy xay lúa, mở tiệm

cà phê, mở lò bánh, lò đường, lò ươm tơ dệt lụa, lò nấu xà bông… để cạnh tranh buôn bán với các thương nhân Ấn kiều (Chà), Hoa kiều (Chệc)

Thứ nhất, trên báo Nông cổ mín đàm,

chủ bút Nguyễn Chánh Sắt viết và đăng nhiều bài báo(6) kêu gọi mọi người chấn chỉnh nghề nông, phải biết phát huy lợi thế nông nghiệp của Nam Kỳ, đoàn kết và hỗ trợ nhau để phát triển nông nghiệp Trong

bài “Bàn về nông thương kỹ nghệ nước ta” đăng trên Nông cổ mín đàm số 112 (1919), ông viết: “trong Nam Kỳ dân ít mà đất đã

tốt lại nhiều, thì tất nhiên dân chẳng cần phải lo làm nghề chi khác nữa, chỉ chuyên lấy một nghề nông thì cũng đủ mà kinh dinh sự nghiệp Xưa nay người Nam Kỳ không lo thương mãi và công nghệ là bởi

cớ đó” (Lưu Hồng Sơn, 2011, tr 8)

Trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, Nguyễn Chánh Sắt tiếp tục cuộc vận động người Việt đoàn kết, hùn vốn để mở công

ty sản xuất kinh doanh(7) Đặc biệt, trong

bài Nông thương thiệt luận đăng trên Nông

cổ mín đàm số 2 (1917), ông cho rằng,

người Việt Nam “muốn cho nghề thương

tấn bộ mà tranh cạnh cùng người thì quốc dân ta phải ráng lo học hành những phương thiệt nghiệp, ngõ hầu chế tạo ra những đồ vật của ta thường dùng hằng ngày đây, cho khỏi mua đồ của các nước, rồi lần lần ta lại học qua nhiều nghề khác nữa (…)” (Lưu Hồng Sơn, 2011, tr 10) Tư

tưởng này của ông đã khởi đầu cho cuộc vận động tranh thương giữa tư sản người Việt với người Hoa tạo thành làn sóng tẩy

Trang 4

chay Khách trú diễn ra ở Nam Kỳ và nhiều

nơi trong cả nước sau này

Thứ hai, cùng với báo Nông cổ mín

đàm, báo Lục tỉnh tân văn cũng cho đăng

tải một số bài viết thể hiện tinh thần cải

cách, phê phán những hạn chế trong tư

tưởng kinh tế của người Việt và kêu gọi

người Việt phát triển công thương Lục tỉnh

tân văn số 531 (ngày 09/5/1918) đăng bài

Thương mãi luận cho rằng người Việt nên

đầu tư học kiến thức kinh doanh và ngoại

ngữ để phục vụ cho việc kinh doanh buôn

bán Lục tỉnh tân văn số 610 (ngày

27/3/1919) đăng bài Chớ nên để bọn kiều

thương khinh dễ, chỉ ra những hạn chế của

người Việt ở Nam Kỳ trong lĩnh vực công

thương: “Người Nam Kỳ trên cõi thương

thường, công nghệ còn khuyết điểm

nhiều… Nhắm lại bổn xứ ta đây, nói về

thương trường thì chẳng có nhà nào gọi là

nhà cự thương, nói đến công nghệ thì

chẳng có người nào gọi là người tinh

nghệ… Than ôi! Một sợi tơ, một tấc vải,

một chút lửa, một cái đinh, vật nhỏ mọn

như thế mà ta cũng chẳng khỏi dụng của

nước người, chẳng Tây thời Chệc, chẳng

Chệc thời Chà; xứ ta nào ai có lưu tâm xét

đến nỗi ấy, mà kịp khuyên nhau nỗ lực ra

học đường chế tạo mau mau” (Lục tỉnh tân

văn, 1919a) Từ đó, bài báo kết thúc bằng

lời kêu gọi: “Xin khuyên đồng ban, ai nấy

có tử đệ, khá toan lẹ công nghệ làm đầu;

mai sau thành nghệ thành tài, thì nào ai

dám khinh khi, bĩ bạc; tiếng người cười

vẫn có, ta đừng ganh gỗ, ta hãy tự hối lấy

ta” (Lục tỉnh tân văn, 1919a)

Lục tỉnh tân văn số 616 (ngày

17/4/1919) đăng trên mục “Tự do diễn

đàn” bài viết của Nguyễn Thị Minh gửi

cho chủ bút Lê Hoằng Mưu Bài viết nêu ý

kiến phê phán hạn chế của đàn ông Nam

Kỳ trong việc kinh thương: “Tôi đọc nhựt

báo Lục tỉnh tân văn, thấy có ấn hành mấy câu của Huê kiều báo khỉ thị bọn nam nhi Annam, đem lòng giận mà làm bài này.… Cái bọn đàn bà tôi đây, thường chuyện vãn với nhau hoài mà nực cười cho bọn nam nhi rồng rồng cả mấy triệu mà không thấy làm một cái nhà buôn gì cho xứng đáng, cho ngoại quốc dòm vô gọi là cái hãng buôn Annam, được biết kêu rên om sòm trong nhựt báo mà không biết cách làm sao

mà làm cho được Thiệt có một việc lúa gạo là nguồn mạch của Annam, huê lợi rất lớn, mà không biết cách làm sao mà thâu huê lợi ấy, để cho Chệc thâu ráo, rồi cứ kêu rên hoài, còn lợi thì cho chúng hưởng

Vì cớ sao mà Chệc làm được còn Annam làm không được?” (Lục tỉnh tân văn,

1919b) Ngoài ra, trong năm 1919, báo Lục

tỉnh tân văn còn đăng nhiều bài hướng dẫn

kỹ thuật canh nông như cách lập vườn trồng trà (số 610, ngày 27/3/1919), cách lập vườn trồng cau (số 613, ngày 06/4/1919), trồng cà phê (số 619, ngày 27/4/1919)…

Cuộc vận động phát triển kinh tế công thương và tranh thương với các thế lược

ngoại bang trên báo Nông cổ mín đàm của Nguyễn Chánh Sắt và trên báo Lục tỉnh tân

văn của Mộng Huê Lầu (tức Lê Hoằng

Mưu) và một số cây bút khác có tinh thần dân tộc trong những năm 1918 và 1919 đã một lần nữa khơi dậy tinh thần yêu nước và

ý thức tự cường dân tộc, dẫn đến sự bùng

nổ của phong trào Tẩy chay Khách trú ở

Nam Kỳ, sau đó lan rộng ra khắp cả nước vào cuối năm 1919

2 Hoạt động “tẩy chay Khách trú” trên báo Nông cổ mín đàm và Lục tỉnh tân văn

Trong bối cảnh tồn tại nhiều bức xúc

Trang 5

giữa giới tư sản người Việt với thương

nhân Hoa Kiều như trên, tháng 8/1919,

nhân có vụ một số cửa hàng cà phê của

Hoa kiều ở Sài Gòn tự ý tăng giá và có thái

độ miệt thị đối với khách hàng người Việt,

hành động đó đã làm bùng nổ phong trào

“Tẩy chay Khách trú” ở Nam Kỳ Trong

thời gian đầu, giới thương nhân người Việt

phản ứng bằng cách tự mở quán cà phê và

hô hào người Việt Nam không vào các

quán của Hoa kiều, sau đó, phong trào lan

rộng ra nhiều lĩnh vực khác, hô hào không

tiêu thụ hàng hóa của Hoa kiều, đẩy mạnh

các hoạt động kinh tế của người Việt

Ngày 11/8/1919, báo Lục tỉnh tân văn

số 658 đăng bài “Khách trú khi ta” của

Đoàn Vô Cậng, bài báo viết:

“Cuộc thương mãi ở xứ ta xưa nay

Chệc, Chà nó choán hết,… Từ ngày Âu

châu nổi cơn khói lửa cho đến nay, Chệc

cứ lấy nể đó mà tăng giá hàng hóa lên

hoài, Annam cứ cong lưng chịu mãi, chớ

biết làm sao… Như mới đầu tháng Tám tây

đây, khi không nó rủ nhau tăng giá cà phê

bằng hai khi trước

…Vậy thì ta phải làm sao cho Chệc

biết ta ngày nay đã có đoàn thể nhau cho

khỏi nó áp chế nữa… hãy đồng lòng nhau

noi gương Chệc tẩy chay hàng Nhựt-bổn,

mà tẩy chay Chệc một món đồ ăn điểm tâm

là cà-phê, cháo, bánh, thử coi có đặng

không???

…Nếu đồng bang ta đồng lòng nhau

làm như vậy ít lâu thì sẽ thấy tiệm chúng ta

nổi lên buôn bán thua gì của Khách trú,

nhưng mà cần nhất bây giờ đây hãy tẩy

chay cà-phê của Chệc như mấy thầy làm

việc Ty Thiết lộ đã làm rồi đó Từ hôm 1er

có một người đến tiệm cà-phê của Chệc”

(Lục tỉnh tân văn, 1919c)

Tiếp tục trên Lục tỉnh tân văn số 559 (ngày 13/8/1919) đăng bài “Khách trú thị

nhục ta - đồng bang mau thức dậy” của

Mộng Huê Lầu phân tích:

“Khách trú từ xưa đến nay qua kí ngụ trong xứ ta, xứ của người Annam, thuộc địa của Lang sa, làm ăn thong thả, buôn bán thạnh thời, nhờ ta thuận cho mà ở an,

ta hòa cho mà thủ lợi,… đã chẳng ơn ấy

mà kính trọng ta, lại trở mà khi thị ta là người Annam, nhục mạ dòng giống ta là dòng giống Annam, buông nhiều lời nặng

nề thới quá

Cũng vì Khách trú dòm thấy đàng thương mãi của ta còn bơ thờ, nghĩ cho ta không mua bán với nó thì mua bán với ai, nên mới dám đuổi xua ta, bạc đãi ta, có của muốn mua mà nó thị tuồng như tới xin của nó

Vì biết thẹn chung, hổ chung bởi lời Khách trú ở đậu với ta mà khinh khi ta, nên mấy ngày sau đây, Annam phần nhiều đã tẩy chay Khách trú; không thèm uống cà phê của Khách trú nữa

Cái tiếng “Annam tẩy chay Khách trú” nghe đã rùm thành phố Sài Gòn rồi, nếu Annam không chịu đồng nhục đồng tâm với nhau, làm không nên việc gì, để cho hư thì cái danh giá chủng tộc của ta, chủng tộc người Annam, từ đây kể bỏ”

(Lục tỉnh tân văn, 1919d)

Từ đó, Mộng Huê Lầu đưa ra lời kêu gọi:

“Nầy anh lớn, em nhỏ, sáng rồi thức dậy nà, mê giấc chi mà trễ Dậy, hãy ngồi dậy, giúp, mở lòng giúp, đưa tay giúp, giúp anh em ta, đồng bang ta, tẩy chay đám cụt đuôi này, mà vớt danh giá ta, nòi giống ta, chớ để nó khi cả xứ ta, cả nước ta là đoàn con nít…

Tẩy chay nó đi cho nó cười!

Trang 6

Chẳng những tẩy chay một món cà phê

của nó mà thôi, hễ món nào Annam có bán,

Annam có làm, thì tẩy chay Khách trú…

Hãy tẩy chay Khách trú đi đồng bang,

đồng lòng nhau, hiệp ý nhau, làm cho nên

chớ có làm mưa mứa mà mang điều, mang

tiếng cười chê, cười ta, chê ta, nhục nòi

giống ta, nước Đông hải rửa nhơ không

sạch” (Lục tỉnh tân văn, 1919d)

Cùng với những bài kêu gọi tẩy chay

Khách trú trên Lục tỉnh tân văn, báo Nông

cổ mín đàm cũng đăng nhiều bài vận động

tẩy chay Khách trú Trên Nông cổ mín đàm

số 125 (1919), trong bài Cách buôn bán

phải làm thế nào cho bền vững, Nguyễn

Chánh Sắt viết: “nay chúng ta mới phấn

khích chen chúc ra giữa đám thương

trường mà tranh đua quyền lợi Mà ta có

tranh đua thì tranh đua với Khách; chớ

không phải tranh đua với ta Vậy hổm rày

đồng bào ta ở tại Sài Gòn đây đã lập ra

nhiều quán cà phê mà vãn hồi quyền lợi

được chút đỉnh rồi Nhưng cũng chưa gọi

làm đủ, phải lập thêm đôi ba chục tiệm nữa

thì mới đủ cho thiên hạ dụng” (Lưu Hồng

Sơn, 2011, tr 9) và kêu gọi: “hễ ta chẳng

làm thì thôi, nếu đã làm rồi thì cứ việc

xông lướt cho đến cùng, đừng sè sụt mà họ

nhạo cười, hổ lắm đa các ông à!” (Lưu

Hồng Sơn, 2011, tr 9)

Trên Nông cổ mín đàm số 127 (1919),

Nguyễn Chánh Sắt phân tích: “nếu nay mà

chúng ta muốn làm cho cái cơ sở của

Khách trú lung lay, cho họ hết khinh dễ ta,

hết hân hủi ta; mà lại phải chìu lụy lại ta,

kinh tâm tán đởm với ta, thì chỉ có ba cái

vấn đề rất quan trọng hơn hết là (phải lập

cho được 3 công ty): 1 Nam Kỳ nông

nghiệp tương tế tổng cuộc (hãng lúa); 2

Nam Việt ngân hàng (hãng bạc); 3 Nam

Việt luân thoàn công ty (hãng tàu)”(Lưu

Hồng Sơn, 2011, tr 12) để mua hết lúa gạo của Nam Kỳ gom về một mối, hỗ trợ vốn cho những đại thương gia và điền chủ, mua sắm tàu vận tải hàng hóa và hành khách, từ

đó giành được quyền chủ động trên thương trường, xóa bỏ thế độc quyền của thế lực Khách trú

Trong khi phong trào Tẩy chay Khách trú đang lên cao, ngày 30/8/1919, tờ

Tribune Indigène (Diễn đàn bản xứ) xuất

bản ở Sài Gòn đăng bức thư của một thương nhân Hoa kiều ký tên là Lý Thiên gửi các báo ở Nam Kỳ sỉ nhục người Việt Nam và thách đố phong trào tẩy chay Bức thư đã gây ra sự phẫn nộ dữ dội trong cộng đồng người Việt ở Nam Kỳ

Ngay trong ngày bài báo trên được đăng, trong một cuộc diễn thuyết ở Sài

Gòn, Nguyễn Chánh Sắt, chủ bút tờ Nông

cổ mín đàm đã lên tiếng hô hào người Việt

Nam hùn vốn để thành lập “Annam

Thương cuộc Công ty” nhằm thực hiện ý

tưởng đầu tư xây dựng các kho hàng, lập ngân hàng, mua sắm các phương tiện vận tải, cơ sở xay xát, để cạnh tranh với tư sản Hoa kiều trong việc thu mua và xuất cảng lúa gạo, hoạt động vận tải,… mà xưa nay tư sản Hoa kiều lũng đoạn

Theo biên bản của Nhóm sáng lập

Annam Thương cuộc Công ty ngày

01/9/1919 đăng trên Lục tỉnh tân văn số

670 (ngày 10/9/1919), công ty dự kiến huy động 100.000 đồng với mục đích tổ chức kinh doanh và cạnh tranh với thế lực Khách trú Hội trưởng là ông Nguyễn Phú Khai, Hội phó gồm có Trần Quang Nghiêm

và Nguyễn Chánh Sắt; Trần Văn Chim và Nguyễn Văn Hội làm Thủ bổn, Huỳnh Văn Nhung làm Phó Thủ bổn và năm phái viên

là Nguyễn Văn Toàn, Nguyễn Hữu Sanh, Bùi Văn Gio, Hồ Văn Lang và Nguyễn

Trang 7

Kim Đính Nhóm vận động thành lập

Annam thương cuộc công ty bắt đầu đăng

lời kêu gọi góp vốn trên Lục tỉnh Tân văn

số 674 (ngày 19/9/1919)

Cùng với cuộc vận động thành lập

Annam thương cuộc công ty của Nguyễn

Chánh Sắt, còn có cuộc vận động thành lập

“Tâm bổn mễ thương” và “Tâm bổn tân

thương” của Đặng Thúc Liêng và Lê

Hoằng Mưu đăng trên báo Lục tỉnh tân văn

các số: 672 (ngày 15/9/1919), 674 (ngày

19/9/1919), 675 (ngày 22/9/1919), 676

(ngày 24/9/1919) kêu gọi người Việt hùn

hạp để lập hội buôn bán lúa gạo ở Nam Kỳ

nhằm cạnh tranh với Khách trú

Ngoài ra, để hỗ trợ cho việc kêu gọi

tẩy chay hàng hóa của các thương nhân

Hoa kiều, báo Lục tỉnh tân văn còn đăng

bài viết có ý bôi bác, hạ thấp uy tín các loại

hàng hóa của Khách trú, kêu gọi mọi người

không mua hàng của Khách trú để đảm bảo

vệ sinh và giữ gìn sức khỏe:

“Những hủ-tiếu, hoành thánh, cháo

muối, cháo lòng trừu, mì, cháo vịt, bò bía,

hồng-tàu-xá, xương-xáo, tàu hủ, bánh bò,

bánh tiêu,… những món ấy, đều là tay

Khách trú làm ra; xem lấy nhà họ ở, chỗ

họ ngủ thì đủ biết dơ-dáy lạ lùng, ăn đã

tốn tiền lại thêm sanh bịnh Nếu nhà có

con mà mỗi bữa cứ cho nó ăn các món đó,

thì chớ trách sao nó èo uột, bịnh hoạn

thường thường, mà cũng chớ trách sao nó

ngu, nó dại

Thử xem, Khách trú bán đồ đó, mười

tên mắc bịnh phong tình hết chín, lại thêm

ăn ngủ không phân biệt, làm-lụn chẳng kỹ

càng, tay mới xức thuốc kia, lại bốc bột

nhồi, chẳng cần phải rửa Một miếng ván

dùng hai phía, ngày thì cán bột làm mì,

đêm thì làm giường ngủ Nghĩ đến dường

ấy há chẳng nhờn lắm ru! còn mấy chú

bán tàu hủ, xương-xáo thì thôi, úy châu cha, nói ra rồi, ai lỡ ăn cũng ngậm mà nghe, khó mà nuốt vô khỏi cổ

Chẳng cần kể trăm sự dơ dáy khác chúng nó đã làm trong hóc tối, kể lấy một điều đi bán về, những thùng, những việm dùng ngâm đồ mà giặt, hoặc đựng nước

mà rửa… cũng đủ cho người nghe rởn ốc

Cớ nên, từ ngày Annam, muốn tuyệt đường thương mãi với dân nhà Hán, tôi muốn cần kiệm, chả muốn mất tiền mua cho trẻ ăn thêm ngu, thêm bịnh, tôi mới chịu nhọc ngồi làm bánh, làm mứt; trước là giúp sức cho đồng bang, sau té lợi cho nhà” (Lục tỉnh tân văn, 1919e)

Phong trào tẩy chay Khách trú mở rộng sang kêu gọi tẩy chay luôn cả cộng

đồng Ấn kiều ở Nam Kỳ Lục tỉnh tân văn

số 662 (ngày 22/8/1919) đăng bài “Ngỏ

cùng bạn đồng ban” của Phan Trường

Mạnh viết: “Luôn dịp tôi xin nói luôn, một

giống hại nữa, ta phải chừa Ngoại trừ Khách trú còn có cả giống đỉa đen (Chà và Chetty) mới là tôi độc cho quốc dân… Nó

đi qua nước ta, cho vay, trước nhỏ, lần lần lớn, cất nhà ngang dãy dọc, lại làm hơi nghinh ngang Nay kiếm thế này, mai thế khác, nay tịch gia tài ông này, mai thi hành

sự sẳn ông nọ Nhớ không mấy ông?” (Lục

tỉnh tân văn, 1919f)

Từ Sài Gòn, phong trào lan rộng ra cả nước, đặc biệt ở các tỉnh, thành phố tập trung đông Hoa kiều ở Bắc Kỳ như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định(8), Họ nêu ra các khẩu hiệu có tính cực đoan hơn như:

“Người An Nam không gánh vàng đi đổ sông Ngô”, “Người An Nam mua bán với người An Nam”,

Lúc đầu, thái độ của chính quyền thực dân là lợi dụng để hướng phong trào quần chúng vào những mục tiêu không có ảnh

Trang 8

hưởng đến nền thống trị thuộc địa Nhưng

đến cuối năm 1919, sợ phong trào vượt ra

khỏi sự kiểm soát(9), thực dân Pháp đã đưa

ra những biện pháp ngăn cấm Sau vài vụ

bắt bớ của chính quyền Pháp, phong trào

lắng xuống và kết thúc

Đánh giá về sự kiện này, báo cáo

chính trị của Phủ Toàn quyền Đông Dương

năm 1919 viết: “Phong trào tẩy chay xảy

ra ở Sài Gòn này tuy rằng quá trớn, nhưng

cũng có ý nghĩa rằng tư tưởng đã đổi mới,

mới đây ít năm thì người Nam Kỳ chẳng

những không thích mà còn sợ cái việc buôn

bán, bây giờ thì họ thấy thương mại là

quan trọng cho họ và họ cần phải cố gắng

trên cái hướng này Những người chủ

chốt trong vụ tẩy chay này (ở Bắc Kỳ) nói

chung là thuộc vào hạng thương gia giàu

có, hạng thầu khoán lớn” (Nguyễn Đình

Tư, 2016, tr 16)

3 Kết luận

Phong trào tẩy chay Khách trú ở Nam

Kỳ là kết quả tất yếu xuất phát từ những

bức xúc của giới tư sản người Việt và nhân

dân Nam Kỳ trước tình trạng độc quyền

của các thương nhân Hoa kiều Bên cạnh

đó là sự miệt thị của một số chủ quán

người Hoa đối với người Việt, sự thách

thức, sỉ nhục của Hoa kiều Lý Thiên với

người Việt trên báo “Diễn đàn bản xứ” –

Tribune Indigène đã làm cho phong trào

bùng lên mạnh mẽ từ cuối năm 1919 và lan

rộng ra nhiều nơi trong cả nước

Phong trào là sự tiếp nối những tư tưởng của phong trào Minh Tân ở Nam Kỳ trong thập niên đầu thế kỉ XX, do những trí thức có tinh thần dân tộc (Nguyễn Chánh Sắt, Lê Hoằng Mưu) khởi xướng và lãnh đạo Phong trào một mặt đã tạo thành cuộc vận động mở mang các hoạt động kinh tế của người Việt, mặt khác lại phát động một cách thể hiện tinh thần dân tộc theo hướng cực đoan Tuy phong trào chưa đạt được thành công như mong muốn nhưng nó đã đánh dấu bước trưởng thành của giới tư sản

và trí thức có tinh thần dân tộc ở Nam Kỳ trong cuộc đấu tranh để bảo vệ quyền lợi của mình và là tiền đề quan trọng cho sự phát triển của phong trào yêu nước ở Nam

Kỳ sau này

Phong trào diễn ra mạnh mẽ trên các diễn đàn báo chí, trong đó đặc biệt là báo Nông cổ mín đàm và Lục tỉnh tân văn Thông qua những thông tin được đăng trên hai tờ báo này, chúng ta có thể hiểu được nhiều vấn đề liên quan đến phong trào Tẩy chay Khách trú ở Nam Kỳ năm 1991 Đồng thời qua phong trào này, báo chí được giới tư sản và trí thức ở Nam Kỳ sử dụng khá hiệu quả để phục vụ cho các hoạt động kinh tế, chính trị công khai để bảo vệ lợi ích của mình

Bài viết thực hiện trong khuôn khổ

đề tài “Phong trào tẩy chay Khách trú ở Nam Kỳ năm 1919”, Mã số CS2018-41 do Trường Đại học Sài Gòn tài trợ

Chú thích:

1 Ngày 17/10/1887, Tổng thống Pháp ký Sắc lệnh gộp ba “kỳ” của Việt Nam với Vương quốc Campuchia thành Liên bang Đông Dương (ngày 19/4/1899, Tổng thống Pháp ra sắc lệnh sáp nhập thêm Lào vào Liên bang Đông Dương) Nam Kỳ cũng như các xứ Trung Kỳ, Bắc Kỳ

và Campuchia là một bộ phận trực thuộc Liên bang Đông Dương, có bộ máy cai trị và ngân sách riêng Tuy nhiên, trong hệ thống đó, Nam Kỳ được cai trị trực tiếp theo “quy chế” thuộc địa, các xứ Trung Kỳ, Bắc Kỳ, Campuchia, Lào được cai trị theo “quy chế” bảo hộ

Trang 9

2 Từ tháng 02/1860, Cảng Sài Gòn bắt đầu hoạt động, đón nhận tàu vận tải, xuất nhập mọi loại hàng hóa (chủ yếu là lúa gạo), trở thành đầu mối của các tuyến hàng hải từ châu Âu sang Viễn Đông và ngược lại

3 Khi Pháp chiếm Nam Kỳ làm thuộc địa, do chính sách khuyến khích phát triển kinh tế của Pháp, người Hoa tiếp tục di dân vào Nam Kỳ Sau khi nhập cư ở cảng Sài Gòn và Chợ Lớn,

đa số họ đều định cư ở vùng Chợ Lớn Riêng ở Sài Gòn có 6.000 Hoa kiều và 200 Ấn kiều phần lớn làm nghề buôn bán (Trần Văn Giàu, 2003, tr 92)

4 Lúc người Pháp chiếm Sài Gòn và Nam Kỳ trong các thập niên 1860 và 1880, vì không đủ lực lượng để trồng, sản xuất và phân phối thuốc phiện, họ khoán cho người Hoa đặc quyền lập các trại trồng và sản xuất thuốc phiện Như công ty Vạn Hòa (Ban-Hap) của Nhan Vĩ Thiên, một người Hoa Singapore đã được cho khoán độc quyền sản xuất và phân phối thuốc phiện ở Nam Kỳ và ở vương Quốc Campuchia Sau này, vào đầu thập niên 1890, chính quyền thuộc địa Pháp lấy lại độc quyền và lập công ty chính phủ sản xuất và buôn bán thuốc phiện (gọi là Régie D’opium - R.O)(Nguyễn Đức Hiệp, 2014, tr 52)

5 Tại Nam Kỳ lúc bấy giờ, thương nhân Hoa kiều, Ấn kiều hầu như nắm độc quyền trong các lĩnh vực như: mua bán, xay xát, chuyên chở, xuất cảng lúa gạo, làm các nghề thủ công nghiệp (may mặc, dày dép, xà bông), ngân hàng, dịch vụ (nhà hàng, khách sạn)

6 Theo khảo sát của Lưu Hồng Sơn, 2011, trên Nông cổ mín đàm, có hơn một nửa các bài văn chính luận của Nguyễn Chánh Sắt tập trung bàn về vấn đề nông nghiệp Ví dụ: Thời nông tiểu thuyết, Nông nghiệp cải lương, Nông nghiệp tệ nguyên, Nam Kỳ nông nghiệp hưng vượng chi giai triệu, Nông nghiệp tương tế hội là một cuộc rất đáng cho quốc dân

ta ước vọng, Thuyết nông, Nông nghiệp tương tế hội, Phải lập Hội Nông nghiệp tương tế

mà giúp đỡ cho những người thiếu sức, Nghề làm ruộng xứ ta, Thuế xuất cảng gạo đối với nhà nông có quan hệ chăng?, Ta nên chấn chỉnh nghề nông

7 Những vấn đề này đã đã từng được Lương Khắc Ninh và Trần Chánh Chiếu khởi xướng trên báo chí ở Nam Kỳ trong những năm đầu thế kỷ XX

8 Phản ánh hiện tượng này ở Bắc Kỳ, tờ Nam Phong (9/1919) mô tả: “Các tin tức trong

Nam Kỳ truyền ra ngoài Bắc, người Bắc Kỳ hưởng ứng, ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định cũng thi nhau tẩy chay Nhất là ở Hà Nội, trong mấy ngày này, những phố Hàng Buồm, Hàng Ngang là nơi Khách trú buôn bán nhiều, người ta đi lại như nước chảy, ai nấy khuyên nhau không nên mua đồ hàng Khách, đừng nên ăn ở các hàng cao lâu Khách Hiệu Khách trong mấy ngày phải đóng cửa buổi tối Thành phố bày ra một cảnh tượng rất mới lạ Về sau, nhân có học sinh xung đột với cảnh sát mà quan thành phố phải yết thị cấm không được tụ họp đông người ở ngoài phố, sợ phương hại đến cuộc trị an”

(Dương Trung Quốc 2000, tr 16)

9 Trong kỳ họp của Hội đồng Chính phủ Đông Dương, Quyền Toàn quyền Đông Dương

Monguillot đánh giá: “cuộc tranh thương với người Khách thật ra là một việc bạo động

khinh suất” (Dương Trung Quốc, 2000, tr 16)

Trang 10

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trần Văn Giàu (2003) Tác phẩm được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh, Quyển 1 - Giai cấp

công nhân Việt Nam, Hà Nội: NXB KHXH

Nguyễn Đức Hiệp (2014) Kinh tế và xã hội người Hoa ở Chợ Lớn vào cuối thế kỷ XIX đến

đầu thế kỷ XX Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, Số 3-4 (110 - 111) 2014

Lục tỉnh tân văn (1919a) Số 610, ngày 27/3/1919

Lục tỉnh tân văn (1919b) Số 616, ngày 17/4/1919

Lục tỉnh tân văn (1919c) Số 658, ngày 11/8/1919

Lục tỉnh tân văn (1919d) Số 659, ngày 13/8/1919

Lục tỉnh tân văn (1919e) Số 670, ngày 10/9/1919

Lục tỉnh tân văn (1919f) Số 662, ngày 22/8/1919

Lê Hữu Phước (2013) Nhận diện di sản kinh tế thời thuộc địa ở Nam Kỳ Tạp chí Phát triển

khoa học và Công nghệ, Tập 16, Số X 3

Dương Trung Quốc (2000) Việt Nam những sự kiện lịch sử (1919-1945), Hà Nội: NXB

Giáo dục

Lưu Hồng Sơn (2011) Tư tưởng Minh Tân của Nguyễn Chánh Sắt Tạp chí Khoa học xã

hội - TP Hồ Chí Minh, Số 7/2011

Nguyễn Đình Tư (2016) Chế độ thực dân Pháp trên đất Nam Kỳ (1859-1954), Tập 2, NXB

Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh

Ngày nhận bài: 11/8/2019 Biên tập xong: 15/01/2020 Duyệt đăng: 20/01/2020

Ngày đăng: 12/05/2021, 22:45

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w