Nếu Truyện Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự là một trong các tác phẩm mở đường thì Truyện Kiều của Nguyễn Du là đỉnh cao của truyện thơ nôm diễm tình cũng như là đỉnh cao của loại hình truyện
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRẦN THỊ PHƯƠNG TRANG
ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN THƠ NÔM DIỄM TÌNH
(QUA TRƯỜNG HỢP TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU
VÀ TRUYỆN HOA TIÊN CỦA NGUYỄN HUY TỰ)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Đà Nẵng – Năm 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRẦN THỊ PHƯƠNG TRANG
ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN THƠ NÔM DIỄM TÌNH
(QUA TRƯỜNG HỢP TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU
VÀ TRUYỆN HOA TIÊN CỦA NGUYỄN HUY TỰ)
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN PHONG NAM
Đà Nẵng – Năm 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trần Thị Phương Trang
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3 Phương pháp nghiên cứu 3
4 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 4
5 Đóng góp luận văn 9
6 Bố cục của luận văn 10
CHƯƠNG 1: TRUYỆN THƠ NÔM DIỄM TÌNH TRONG LOẠI HÌNH TRUYỆN THƠ NÔM VIỆT NAM 11
1.1 TRUYỆN THƠ NÔM DIỄM TÌNH – MỘT HIỆN TƯỢNG VĂN HỌC ĐỘC ĐÁO 11
1.1.1 Khái niệm truyện thơ nôm diễm tình 11
1.1.2 Vấn đề phân loại truyện thơ nôm diễm tình 18
1.1.3 Truyện Kiều, Truyện Hoa Tiên – những trường hợp tiêu biểu cho truyện thơ nôm diễm tình 23
1.2 QUÁ TRÌNH VẬN ĐỘNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRUYỆN THƠ NÔM DIỄM TÌNH 30
1.2.1 Những tiền đề cho sự ra đời của truyện thơ nôm diễm tình 30
1.2.2 Sự phát triển của truyện thơ nôm diễm tình 36
CHƯƠNG 2: CON ĐƯỜNG HÌNH THÀNH TRUYỆN THƠ NÔM DIỄM TÌNH (QUA KHẢO SÁT TRUYỆN KIỀU, TRUYỆN HOA TIÊN)41 2.1 HIỆN TƯỢNG TIẾP BIẾN CỐT TRUYỆN ĐỐI VỚI TRUYỆN THƠ NÔM DIỄM TÌNH 42
2.1.1 Sáng tạo dựa trên cốt truyện có sẵn 42
2.1.2 Khai thác tối đa các phiến đoạn tâm lý 44
Trang 52.1.3 Tiết giản chất tự sự, gia tăng chất trữ tình 49
2.2 SỰ THAY ĐỔI HÌNH THÁI CỦA TÁC PHẨM 55
2.2.1 Từ tác phẩm văn xuôi đến truyện thơ nôm 55
2.2.2 Từ truyện kể đạo lý đến tiểu thuyết tâm lý 62
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT TRUYỆN THƠ NÔM DIỄM TÌNH (QUA KHẢO SÁT TRUYỆN KIỀU VÀ TRUYỆN HOA TIÊN) 68
3.1 NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT 68
3.1.1 Tái tạo nhân vật mang sắc thái tâm lý 68
3.1.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật “chức năng” 75
3.2 BÚT PHÁP TẢ CẢNH NGỤ TÌNH 80
3.2.1 “Tâm trạng hóa” thiên nhiên 80
3.2.2 Lối tả cảnh dùng màu sắc và âm thanh 84
3.3 NGHỆ THUẬT SỬ DỤNG NGÔN TỪ 88
3.3.1 Sáng tạo trong cách dùng từ 88
3.3.2 Phong cách “khẩu ngữ” 92
3.4 THỂ THƠ LỤC BÁT VÀ TRUYỆN THƠ NÔM DIỄM TÌNH 95
3.4.1 Cách gieo vần 95
3.4.2 Cách ngắt nhịp 100
KẾT LUẬN 104 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (bản sao)
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Truyện thơ nôm là loại hình tự sự bằng thơ, mang những nét đặc trưng của dân tộc, được định hình vào khoảng thế kỷ XVII và nở rộ, phát triển nửa sau thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX Bộ phận văn học này sáng tác bằng chữ Nôm và phần lớn được viết theo thể lục bát, số ít khác viết theo thể thất ngôn bát cú (thơ Ðường luật) Truyện thơ nôm đã có nhiều thế hệ học giả tìm tòi, khám phá ở những góc độ khác nhau Tuy vậy, muôn ngả đường đến với loại hình này vẫn còn nhiều chuyện để bàn và nhiều vấn đề để khai thác
Dựa trên tiêu chí về nội dung, ý nghĩa cốt truyện truyện thơ nôm, chúng ta
có những nhóm truyện khác nhau, trong đó có truyện thơ nôm diễm tình Nhóm truyện này thường được viết nên từ những vần thơ mô tả tình yêu - một thứ duyên nợ của kiếp người với những sắc thái, cung bậc cảm xúc khác nhau Truyện thơ nôm diễm tình gắn với sự phát triển cao nhất của lịch sử phát triển truyện thơ nôm cũng như lịch sử phát triển văn học Việt Nam Tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu đạt thành tựu và giá trị nhất định, nhưng đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào khảo sát cụ thể về nhóm truyện này Và nếu có thì cũng gộp chung vào tìm hiểu loại hình truyện thơ nôm hoặc đi sâu phân tích từng tác phẩm cụ thể
Chính vì vậy, ở luận văn này thông qua việc khảo sát trường hợp cụ thể,
chúng tôi sẽ tìm hiểu Đặc điểm truyện thơ nôm diễm tình, minh chứng cho sự
phong phú về loại hình truyện thơ nôm, giúp cho việc hình dung diện mạo truyện thơ nôm rõ ràng - một nét đẹp dân tộc Đây là công việc “nhặt, gom các kiến thức về đời Như nhặt tìm bông lúa gặt còn rơi Dẫu không toàn ngọc, mà lẫn nhiều sỏi trắng ” (Saađi) thì chúng tôi cũng hy vọng được ít nhiều chiếu cố
Trang 72 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là đặc điểm truyện thơ nôm diễm
tình được thể hiện qua cốt truyện, kết cấu, ngôn ngữ, nhân vật, bút pháp nghệ
thuật, Để rút ra những kết luận về truyện thơ nôm diễm tình, chúng tôi khảo
sát trường hợp Truyện Kiều của Nguyễn Du và Truyện Hoa Tiên của Nguyễn
Huy Tự Việc làm này là một hướng đi có tính chọn lọc, vừa là để tìm hiểu về
đặc điểm truyện thơ nôm diễm tình nói chung vừa để tìm hiểu hai tác phẩm
này trên phương diện tiểu loại
Truyện Kiều và Truyện Hoa Tiên là hai kiệt tác văn học cổ điển Việt
Nam, được nhiều tác giả khai thác, phân tích và nghiên cứu Tuy nhiên trong luận văn này, chúng tôi sẽ nhìn hai tác phẩm ở góc độ loại hình truyện thơ
nôm để rút ra đặc điểm truyện thơ nôm diễm tình Bởi vì cả hai tác phẩm đều
có những nét tiêu biểu, có sự gần gũi và những điểm tương đồng rất lý thú Thứ nhất, cả hai đều là những tác phẩm vào loại xuất sắc của loại hình
truyện thơ nôm Nếu Truyện Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự là một trong các tác phẩm mở đường thì Truyện Kiều của Nguyễn Du là đỉnh cao của truyện
thơ nôm diễm tình cũng như là đỉnh cao của loại hình truyện thơ nôm Hai tác phẩm đã khẳng định vai trò trong tiến trình phát triển và hoàn chỉnh loại hình Thứ hai, cả hai truyện đều có đầy đủ tính chất của một tác phẩm đại diện cho tinh thần văn học viết thời trung đại, đó là những truyện thơ nôm được viết bằng nghệ thuật điêu luyện, chứa đựng nội dung phong phú, sâu sắc Ngoài ra, cả hai tác phẩm cũng khá minh bạch về lai lịch, đều là những
tác phẩm đã tìm được các văn bản liên quan lẫn nhau (Kim Vân Kiều
truyện và Truyện Kiều; Đệ bát tài tử Hoa tiên ký và Hoa Tiên truyện), có
nguồn gốc xuất xứ từ nước ngoài Đặc biệt, cả hai tác phẩm đều có sự đồng điệu trong cách dùng ngôn từ, những thủ pháp nghệ thuật, bộc lộ sức mạnh của thơ ca truyền thống Việt Nam
Trang 8Về văn bản, chúng tôi sử dụng: Truyện Kiều của Nguyễn Du (bản của Đào Duy Anh, NXB Văn học, 1999) và Truyện Hoa Tiên của Nguyễn Huy
Tự, Nguyễn Thiện (bản của Đào Duy Anh, NXB Văn học, 1976)
3 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn này đi vào nghiên cứu đặc điểm truyện thơ nôm diễm tình qua
hai trường hợp tiêu biểu Để nghiên cứu đạt hiệu quả, chúng tôi vận dụng, kết hợp các phương pháp: phương pháp chọn mẫu, phương pháp loại hình, phương pháp thống kê phân loại, phương pháp so sánh đối chiếu
Chúng tôi sử dụng phương pháp chọn mẫu để phân tích hai trường hợp
tiêu biểu, từ đó rút ra đặc điểm truyện thơ nôm diễm tình Những đặc điểm và
tính chất của mẫu có thể suy ra đặc điểm, tính chất tổng thể Quan trọng là mẫu (tức hai truyện này) có khả năng đại diện
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng dùng phương pháp loại hình trong cách phân loại tiểu loại truyện này với tiểu loại truyện khác Kết quả phân loại chứng minh cho sự tồn tại tiểu loại truyện thơ nôm diễm tình cũng như phát hiện những tính chất đặc thù, riêng biệt của hiện tượng văn học, mà cụ thể ở đây là đặc điểm truyện thơ nôm diễm tình
Trong quá trình làm luận văn này, chúng tôi cũng sử dụng phương pháp
so sánh, đối chiếu giữa các nhóm truyện trong loại hình truyện thơ nôm, từ đó làm nổi bật, khắc đậm cái riêng, tính mới lạ của vấn đề Mặt khác, nhờ mở rộng so sánh, tìm ra chỗ giống, chỗ khác nhau, chúng tôi có thể hiểu rõ hơn bản chất và vị trí của truyện thơ nôm diễm tình trong mối tương quan với loại hình truyện thơ nôm
Ngoài ra, chúng tôi cũng dựa vào phương pháp thống kê, phân loại để thu thập, tổng hợp và phân tích tần số xuất hiện các yếu tố liên quan trong tác phẩm, từ đó phát hiện ra bản chất vấn đề và lý giải để thấy được ý nghĩa, giá trị của chúng trong tổng thể
Trang 94 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Truyện thơ nôm ngay từ khi ra đời đã có sức cuốn hút mạnh mẽ các nhà nghiên cứu Đặc biệt từ những năm đầu thế kỷ XX, với việc vận dụng những
lý thuyết có tính phương pháp luận, nhiều nghiên cứu đã có tính đột phá
Từ rất sớm (năm 1979), trong công trình nghiên cứu Truyện Kiều và thể
loại truyện nôm, tác giả Đặng Thanh Lê đã dành một sự quan tâm lớn đối với
vấn đề truyện thơ nôm Trên cơ sở điểm qua con đường hình thành, phát triển truyện nôm, tác giả bàn khá cụ thể những đặc điểm về nội dung, nghệ thuật (nguồn gốc cốt truyện truyện nôm; bút pháp tự sự; chủ đề, đề tài) của thể loại này trên tiến trình phát triển của dòng tự sự Việt Nam Đặng Thanh Lê xem
“truyện nôm là một thể loại tiểu thuyết cổ điển Việt Nam” [27, tr.49] Nhưng
tác giả lại dành nhiều tâm lực để tìm hiểu Truyện Kiều - truyện thơ nôm tiêu
biểu nhất hơn là chú trọng nghiên cứu loại hình văn học này Ở đây, truyện thơ nôm chỉ được nghiên cứu với tư cách là một đối tượng làm sáng tỏ những
vấn đề của Truyện Kiều Tuy thế, những nhận xét về cách thức xây dựng nhân
vật, vai trò của ngôn ngữ độc thoại hay hình tượng thiên nhiên trong các tác
phẩm truyện thơ nôm viết về chủ đề tình yêu như Truyện Hoa Tiên, Truyện
Kiều hoặc ý nghĩa của tiếng nói tình yêu tự do trong Truyện Kiều là những
phát hiện có ý nghĩa
Trong khi đó, công trình Truyện nôm lịch sử phát triển và thi pháp thể
loại (năm 1993) của Kiều Thu Hoạch lại nghiên cứu truyện nôm khá toàn
diện Tác giả giải quyết những vấn đề cơ bản nhất của truyện nôm: nguồn gốc
và lịch sử phát triển thể loại truyện nôm; thi pháp của truyện nôm; chức năng
tư tưởng - thẫm mỹ của truyện nôm cũng như đặt truyện nôm trong tương quan so sánh loại hình với thể loại truyện thơ các dân tộc bản địa, khu vực Đặc biệt, ở chương III của công trình này, tác giả đi sâu tìm hiểu thi pháp truyện nôm Tác giả đề cập đến cấu trúc thể loại truyện nôm với mô hình hóa
Trang 10Gặp gỡ - Tai biến - Đoàn tụ, đây là một môtip trong nhóm truyện thơ nôm
diễm tình Còn ở chương V, khi phân loại, tác giả chỉ nói sơ qua cách phân chia đề tài từ các truyện cổ của Trung Quốc Dù đã chỉ ra những đặc điểm truyện nôm nhưng tác giả chỉ mới nói chung chung và chưa đi sâu vào từng nhóm truyện như tác giả đã phân loại Điều này một phần do tác giả mới đặt truyện nôm trong tương quan với truyện cổ tích mà chưa chú trọng nhiều đến
sự ảnh hưởng qua lại giữa truyện thơ nôm Việt Nam với các tiểu thuyết tài tử
- giai nhân của Trung Quốc Chính vì vậy, nhóm truyện thơ nôm diễm tình tác giả chưa thật sự quan tâm nhiều
Công trình nghiên cứu Truyện thơ nôm - những nghiên cứu hình thái
học, tác giả Nguyễn Phong Nam cho thấy nhiều điểm mới mẻ đối với loại
hình truyện thơ nôm Từ góc nhìn hình thái học, tác giả đưa ra cách phân loại truyện thơ nôm riêng Tác giả cho rằng truyện thơ nôm không thể gọi là thể loại mà phải là loại hình văn học - loại hình truyện thơ nôm Theo đó, tác giả chia truyện thơ nôm gồm hai loại: truyện nôm hư cấu và truyện nôm chuyển thể Có thể nói quan điểm phân loại mới mẻ này đã khắc phục được những hạn chế của các cách phân loại trước đó Nó là nguồn tư liệu góp phần định hướng tiếp cận tiểu loại truyện thơ nôm cho người viết Ở công trình nghiên cứu này, tác giả Nguyễn Phong Nam đưa ra một số đặc trưng của truyện thơ
nôm, trong đó ở phần V, tác giả đi sâu viết về Nét đặc sắc trong Truyện Kiều
của Nguyễn Du Những đặc điểm về môtip của loại hình truyện thơ nôm và
phần V là gợi ý cho người viết đối với các vấn đề liên quan đến luận văn, đặc biệt là trong cách phân loại khi nhìn truyện thơ nôm là một loại hình văn học Bên cạnh đó, một số công trình nghiên cứu khác trên thực tế cũng mang lại cho chúng tôi những hiểu biết nhất định về quá trình hình thành, phát triển cũng như những đặc điểm, giá trị nội dung và nghệ thuật của truyện thơ nôm Các công trình này trở thành những tài liệu tham khảo quý báu đối với người
Trang 11viết khi tiến hành làm luận văn: Với công trình Thi pháp Truyện Kiều, Trần Đình Sử đã đặt Truyện Kiều trong tương quan so sánh với Kim Vân Kiều
truyện Từ đó, tác giả khẳng định sức sống muôn đời của Truyện Kiều trong
lịch sử văn học dân tộc Tác giả giới thiệu khái quát về tiểu thuyết tài tử - giai nhân của Trung Quốc (dung lượng, mô hình cốt truyện, những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật ) Đồng thời, tác giả đặt ra vấn đề cần phải nghiên
cứu Truyện Kiều cũng như các tác phẩm truyện thơ nôm có cốt truyện từ nước
ngoài trong tương quan so sánh với các tiểu thuyết tài tử - giai nhân của Trung Quốc Theo tác giả “sự tiếp nhận loại tiểu thuyết tài tử - giai nhân gắn liền với nhu cầu giải phóng cá tính, tình yêu tự do đã tạo thành một loại truyện nôm tài tử - giai nhân trong văn học Việt Nam” [52, tr.51] Từ quan điểm so sánh này, Trần Đình Sử đi vào tìm hiểu những đặc điểm thi pháp của
Truyện Kiều: mô hình tự sự, ngôn ngữ nghệ thuật, nhân vật, cách kể chuyện
với mục đích tìm ra những sáng tạo của thi hào Nguyễn Du khi vay mượn cốt truyện từ một tác phẩm nước ngoài
Trong công trình Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế kỷ
XIX của Nguyễn Lộc, tác giả chia truyện thơ nôm làm hai loại: truyện nôm
bác học và truyện nôm bình dân Đối với truyện nôm bác học, Nguyễn Lộc đi vào nghiên cứu một số tác phẩm tiêu biểu, trong đó có những chương cụ thể,
tác giả nói đến Truyện Hoa Tiên (chương III), Truyện Kiều (chương IX), vốn
là những truyện thơ nôm mà người viết sử dụng trong phạm vi của luận văn
này Trong quá trình tiếp cận Truyện Hoa Tiên, ông cho rằng đây là “một câu
chuyện tình yêu có tác dụng chống phong kiến” [31, tr.231] và thành công chủ yếu là về phương diện nghệ thuật của tác phẩm: xây dựng nhân vật có bản sắc, trong đó tiếng nói tình cảm của nhân vật được thể hiện khá rõ nét
Cuốn Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII - đầu thế kỉ XIX (năm
1999) của nhóm tác giả Đặng Thanh Lê, Hoàng Hữu Yên, Phạm Luận cũng
Trang 12đề cập đến truyện thơ nôm Nhóm tác giả này trong quá trình khái quát những đặc điểm nội dung, nghệ thuật cùng những thành tựu nổi bật của một giai đoạn văn học Việt Nam đã đi vào tìm hiểu truyện thơ nôm Ngoài việc giới thiệu sơ bộ diện mạo bộ phận văn học này, các tác giả còn đi vào giới thiệu
một số tác phẩm truyện thơ nôm tiêu biểu, trong đó có tác phẩm Truyện Kiều
Nhìn chung ở khía cạnh văn học sử thì đây là công trình cung cấp cái nhìn sơ lược nhất về truyện thơ nôm trong quá trình vận động của nền văn học dân tộc Ngoài ra, ở công trình này, nhóm tác giả cũng dành những trang viết bàn
về các tác phẩm cụ thể đề cao tiếng nói tình yêu tự do, chống phong kiến của các nhân vật tài tử - giai nhân Đó là những ý kiến đáng chú ý, có ý nghĩa tham khảo quan trọng đối với người viết trong quá trình triển khai luận văn của mình, nhất là trên phương diện xây dựng nhân vật và giá trị nội dung của tác phẩm truyện thơ nôm Tuy nhiên nói về sự phân loại để đi đến đặc điểm, công trình này vẫn chưa khái quát một cách cụ thể
Hay trong công trình nghiên cứu Văn học trung đại Việt Nam, tác giả
Nguyễn Thị Nhàn đã viết riêng một chương về truyện thơ nôm Tác giả chỉ ra những đặc điểm về nội dung lẫn nghệ thuật của truyện thơ nôm Về nội dung, tác giả đề cập đến khát vọng hạnh phúc lứa đôi và sự chiến thắng của tình yêu
tự do ngoài khuôn khổ lễ giáo phong kiến; số phận con người trong cuộc đấu tranh chống lại các thế lực xã hội, Về nghệ thuật, tác giả đề cập đến kết cấu
truyện thơ nôm là Gặp gỡ - Tai biến - Đoàn tụ, đây là một công trình có ý
nghĩa tham khảo cho người viết
Trong Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam, Trần Đình Sử
dưới góc nhìn thi pháp đã tiếp cận hệ thống văn học trung đại Việt Nam, chủ yếu là thi pháp của các thể loại Trong đó, tác giả dành một phần để bàn về truyện thơ nôm Từ việc khái quát những nhận xét hoặc nghiên cứu của người
đi trước, tác giả đã nêu ra con đường đi của truyện thơ nôm, chia truyện thơ
Trang 13nôm thành hai loại: truyện thơ nôm bác học và truyện thơ nôm bình dân Đối với truyện nôm bác học, tác giả đã tinh ý khi nhận ra rằng hầu hết truyện thơ nôm văn nhân là tình yêu giữa tài tử và giai nhân Ở đây cũng có nhiều bất công xã hội, nhưng chủ yếu là những chuyện tình yêu, cho phép bộc lộ khía cạnh riêng tư thầm kín của con người Tuy vậy, tác giả lại chưa khái quát được những đặc điểm truyện thơ nôm diễm tình
Nhìn chung, lĩnh vực nghiên cứu truyện thơ nôm trong những năm gần đây đã có nhiều khởi sắc Những cuộc trao đổi, thảo luận trên các tờ báo và tạp chí chứng tỏ những mối quan tâm xã hội ngày càng tăng và cũng kích
thích những nghiên cứu tiếp tục như: luận văn Đặc điểm nghệ thuật “môtip
tài tử - giai nhân” trong truyện thơ nôm của tác giả Nguyễn Thị Loan (Đà
Nẵng) Luận văn đã tìm hiểu sự chi phối của môtip tài tử - giai nhân đối với
truyện thơ nôm trên hai phương diện là cốt truyện, nhân vật và tập trung khai
thác ở nhóm truyện thơ nôm vay mượn chuyển thể Hay luận văn Thi pháp
truyện kể truyện thơ Nôm của tác giả Võ Thị Yến Sương (Đà Nẵng) cũng đi
sâu nghiên cứu tính chất truyện kể của truyện thơ nôm: cốt truyện, mô hình cấu trúc, tổ chức hệ thống nhân vật, sự kiện và cách tổ chức văn bản, đặc điểm ngôn từ truyện kể Với những luận văn đã khái quát trên, các tác giả chủ
yếu tập trung nghiên cứu đặc điểm môtip tài tử - giai nhân của loại hình
truyện thơ nôm hoặc tính chất truyện kể của loại hình truyện thơ nôm mà chưa đề cập đến vấn đề đặc điểm truyện thơ nôm diễm tình
Ngoài ra, loại hình truyện thơ nôm cũng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong các bài báo khoa học, các chuyên luận, các giáo trình Hầu hết, những vấn đề được đặt ra chỉ ở một khía cạnh nhỏ, đi sâu phân tích yếu tố nào đó hoặc nghiên cứu một số tác phẩm cụ thể mà chưa có sự khái quát về nhóm truyện thơ nôm diễm tình Tuy vậy, đó là những bài viết có tính chất khơi gợi và tham khảo thêm cho chúng tôi: “Đặc sắc trong hình tượng
Trang 14Thúy Kiều của Nguyễn Du” của Hoàng Trọng Quyền (Nghiên cứu văn học số
4 - 2013); “Nghiên cứu motif trên bình diện mối quan hệ giữa motif và cốt
truyện” của La Mai Thi Gia (Nghiên cứu văn học số 7 - 2013); “Mô hình nhân vật từ Hoa tiên ký đến các truyện nôm bác học giai đoạn sau” của Ngô Thị Thanh Nga (Nghiên cứu văn học số 10 - 2011),
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu truyện thơ nôm hiện đang được lưu hành trong giới khoa học mức độ nông sâu đậm nhạt chất lượng có khác nhau, nhưng hầu như các tác giả đều thừa nhận sự tồn tại của nhóm truyện thơ
nôm diễm tình thông qua việc nhắc đến thuật ngữ tài tử - giai nhân - một đặc
điểm của nhóm truyện này
Song cũng đến nay, tiểu loại truyện này vẫn chưa được nghiên cứu định tính đầy đủ Trên tất cả các tiêu chí định hướng, chưa ai chỉ ra một cách cặn
kẽ vai trò của nhóm truyện thơ nôm diễm tình đóng góp như thế nào trong sự phát triển loại hình truyện thơ nôm nói riêng và sự phát triển văn học Việt Nam nói chung Dù vậy ý kiến của các nhà nghiên cứu trên là nguồn tài liệu
tham khảo vô cùng quý báu để người viết triển khai đề tài đặc điểm truyện thơ
nôm diễm tình
5 Đóng góp luận văn
Trên cơ sở kiến thức của những bậc tiền bối đi trước, chúng tôi sẽ cố gắng
áp dụng những phương pháp luận thích hợp để đi tìm đặc điểm của nhóm truyện này Có thể, trong luận văn còn nhiều chỗ lặp lại những vấn đề mà các nhà nghiên cứu trước đã kinh qua, nhưng những phương pháp chúng tôi áp dụng cho luận văn này sẽ làm cho những người quan tâm muốn tham khảo và đặt ra những câu hỏi mà công việc chúng tôi đang làm Dù đã có độ lùi về thời gian, nhưng việc đi tìm hiểu bất cứ một vấn đề gì là cả một cuộc hành trình,
nên việc làm của chúng tôi là chưa chấm dứt Nghiên cứu Đặc điểm truyện thơ
nôm diễm tình sẽ cung cấp cho chúng ta những kiến thức về truyện thơ nôm
Trang 15diễm tình; về hình ảnh xã hội thế kỷ XVIII - XIX, chỉ ra những nét vay mượn
và sáng tạo trong nghệ thuật Từ đó cho phép chúng ta hiểu sâu hơn, đầy đủ hơn về nhóm truyện cũng như những tác phẩm có giá trị Tìm hiểu hai tác phẩm tiêu biểu sẽ giúp chúng ta thấy được quá trình vận động và phát triển của loại hình truyện thơ nôm Nghiên cứu đề tài này, bản thân người viết sẽ có điều kiện sưu tầm, tìm hiểu sâu sắc hơn nhóm truyện thơ nôm diễm tình Người viết cũng hy vọng sẽ góp thêm một phần nghiên cứu cho loại hình truyện thơ nôm
6 Bố cục của luận văn
Luận văn này ngoài phần mở đầu, kết luận, phần mục lục và danh mục tài liệu tham khảo còn có ba chương chính như sau:
Chương 1 Truyện thơ nôm diễm tình trong loại hình truyện thơ nôm Việt Nam: Ở chương này, chúng tôi sẽ tìm hiểu khái niệm truyện thơ nôm diễm tình, phân loại nhóm truyện trong loại hình truyện thơ nôm, tìm hiểu quá trình vận động, phát triển của nhóm truyện Bên cạnh đó, chúng tôi cũng giới
thiệu những tác phẩm tiêu biểu của truyện thơ nôm diễm tình: Truyện Kiều,
Truyện Hoa Tiên, từ đó tạo cơ sở xây dựng một cách hiểu chung nhất cho
toàn bộ luận văn
Chương 2 Con đường hình thành truyện thơ nôm diễm tình: Trong chương này, chúng tôi tập trung tìm hiểu sự tiếp biến về cốt truyện và thay đổi về hình thái cấu trúc của truyện Tìm hiểu sự thay đổi đó như thế nào, ra sao, để hiểu được sự vận động và phát triển của truyện thơ nôm diễm tình Chương 3 Một số đặc điểm nghệ thuật truyện thơ nôm diễm tình: Bên cạnh những đặc điểm nghệ thuật loại hình truyện thơ nôm nói chung đều phải
có, chúng tôi chú ý một số đặc điểm nghệ thuật đặc sắc của nhóm truyện, đó là: nghệ thuật xây dựng nhân vật, bút pháp tả cảnh ngụ tình Ngoài ra, nhóm truyện này còn có một số đặc điểm nghệ thuật đáng chú ý khác như ngôn từ, thể thơ lục bát,
Trang 16Song khi đi sâu nghiên cứu nhóm truyện thơ nôm diễm tình, chúng ta sẽ gặp một số vấn đề khó giải quyết như: nguồn gốc, sự phát triển, thời điểm sáng tác, Bước đầu, các nhà nghiên cứu đã có ý kiến về những vấn đề trên, tuy mới dừng lại ở mức độ cơ bản nhưng đây là nền tảng để chúng tôi đi sâu nghiên cứu đặc điểm nhóm truyện này
1.1 TRUYỆN THƠ NÔM DIỄM TÌNH – MỘT HIỆN TƯỢNG VĂN HỌC ĐỘC ĐÁO
1.1.1 Khái niệm truyện thơ nôm diễm tình
Truyện thơ nôm diễm tình là gì? Câu hỏi tưởng chừng đơn giản, rất dễ trả lời nhưng khi tìm hiểu các công trình nghiên cứu của học giới viết về vấn
đề này mới thấy thật ra rất ít người đề cập tới và dường như đây vẫn là một vấn đề mở Hiện tại, chưa có một định nghĩa nào thực sự thuyết phục về khái niệm trên “Yêu cầu xác định một cách minh bạch tính chất của nhóm truyện thông qua thao tác định danh là vô cùng cần thiết” [39, tr.13] Bởi vì điều này
Trang 17có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm hiểu, phân loại loại hình truyện thơ nôm
và các nghiên cứu liên quan đến nhóm truyện
Trước khi tìm hiểu khái niệm truyện thơ nôm diễm tình, chúng tôi muốn nói sơ qua khái niệm “truyện thơ nôm” và “diễm tình” của một số nhà nghiên cứu từ tên gọi khởi thủy đến khi khái niệm “truyện thơ nôm diễm tình” định hình thành một thuật ngữ văn học
Trong lịch sử nghiên cứu văn học Việt Nam, hàm nghĩa của hai khái niệm trên đã có những biến đổi lớn Trước hết, đối với khái niệm “truyện thơ nôm”, đây là hình thức văn chương được gọi bằng nhiều tên nhất: truyện thơ, truyện diễn nôm, truyện ngắn, tiểu thuyết quốc ngữ, tiểu thuyết bằng văn vần,… nhưng có lẽ phổ biến nhất là “truyện nôm” Tên gọi này thông dụng
trong các sách giáo khoa và chuyên luận như Lược thảo lịch sử văn học Việt
Nam (1957), Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam (1957 - 1958), Giáo trình Lịch
sử văn học Việt Nam T.3 (1963), Lịch sử văn học Việt Nam tân biên giản ước
(1960), Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX, T.2 (1978), Truyện Kiều và thể loại truyện nôm (1979), Truyện Nôm nguồn gốc
và bản chất thể loại (1993),
Trong cuốn Thi pháp văn học Trung đại Việt Nam, GS Trần Đình Sử khi viết về vấn đề này, ông dùng thuật ngữ truyện thơ nôm Nhưng khi nghiên cứu
cụ thể chi tiết, ông lại sử dụng thuật ngữ truyện nôm Ông cho rằng truyện nôm
“là cách rút gọn của khái niệm truyện thơ nôm và cũng do điều kiện lịch sử văn xuôi nôm không phát triển, nghĩa là văn nôm chỉ tồn tại dưới dạng văn vần và biền ngẫu, cho nên gọi như vậy mà không sợ nhầm lẫn là truyện văn xuôi Nôm” [53, tr.332] Nhìn chung cho đến nay, người ta vẫn hay gọi tên với cách hiểu thông dụng như vậy Nhưng vấn đề nằm ở chỗ, theo cách hiểu và định danh trên liệu có nói hết được ý nghĩa của thuật ngữ này vì với hướng định danh đó “chưa gợi ra được nét khu biệt của loại hình” [39, tr.9] cũng như chưa
Trang 18định hình thành một thể tài với những thi pháp đặc trưng
Năm 2008, với công trình Truyện thơ nôm - những nghiên cứu hình thái
học, nhà nghiên cứu Nguyễn Phong Nam đưa ra sự định danh truyện thơ nôm
có biến đổi lớn so với các học giả trước đó Tác giả cho rằng truyện thơ nôm,
với tư cách một loại hình văn học phải bao hàm các tính chất: truyện (kể, nói) + (loại, thể) thơ + (lối văn) Nôm Sự khu biệt ở đây được thể hiện trong thế dung hợp tất cả các yếu tố” [39, tr.12] Với cách gọi tên như vậy tác giả cho thấy được đầy đủ tính chất của một loại hình văn học và ít nhất là đã hình thành một thuật ngữ khoa học chính thức
Chúng tôi nghĩ rằng, khái niệm truyện thơ nôm là cách hiểu đã quá phổ biến và có tính đặc định Như cách hiểu trên, truyện thơ nôm là một loại hình gắn với những tiêu chí cơ bản Vì vậy, trong việc định danh nên gọi rõ ràng,
không viết tắt và giữ nguyên tên truyện thơ nôm Với cách gọi tên và cách hiểu
như nhà nghiên cứu Nguyễn Phong Nam đã nêu, chúng ta có được một thuật ngữ sáng rõ, không phá vỡ tính loại hình, một yêu cầu hết sức quan trọng trong nghiên cứu văn học
Trong khi đó, diễm tình là từ ngữ mang tính mơ hồ theo tiêu chí tùy tinh thần mỗi thời đại Diễm tình theo nghĩa chung dịch từ Hán – Việt nghĩa là mối
tình đẹp Vậy như thế nào là mối tình đẹp theo cách hiểu lúc bấy giờ thì chưa
ai dám trả lời cho câu hỏi trên Vấn đề này sẽ được làm sáng tỏ thông qua việc định danh cho nhóm truyện
Cho đến nay vẫn có những cách hiểu đơn giản về truyện thơ nôm diễm tình và gộp chung nhóm truyện này với nhóm truyện tài tử - giai nhân Theo cách hiểu hiện nay thì truyện thơ nôm diễm tình là chỉ nhóm truyện thơ nôm lấy “chuyện tình yêu hôn nhân của tài tử và giai nhân làm chủ đề Do đó,
chúng ta thường hay gọi là truyện thơ nôm có quan hệ đến tài tử - giai nhân,
có thể gộp chung với nhóm truyện thơ nôm tài tử - giai nhân” [18] Về kết
Trang 19cấu tình tiết thì truyện tiến triển theo mô thức gặp gỡ - lưu lạc - đoàn viên Nhân vật chính là các tài tử - giai nhân, trong đó tài tử phải là những thư sinh phẩm hạnh, tài hoa hơn người, nhất là tài văn chương thi phú; còn giai
nhân là các tiểu thư hoàn hảo, “mạo, tình, tài” đều hoàn hảo cả Đây là tiêu
chuẩn phổ biến được giới nghiên cứu truyện thơ nôm từ đầu thế kỷ XX cho đến hiện tại công nhận là tiêu chuẩn giới định Chúng tôi thấy, cách hiểu như vậy đều có chỗ ưu và nhược của nó Vì vậy, chúng tôi không thể không cân nhắc chọn một cách hiểu thích đáng, có lợi cho việc nghiên cứu
Theo chúng tôi, “truyện thơ nôm diễm tình” bao gồm những tác phẩm thuộc loại hình truyện thơ nôm nói về chuyện tình yêu hôn nhân của nam nữ thanh niên Nhóm truyện này trước hết phải mang đầy đủ tính chất của loại hình truyện thơ nôm tức là phải mang “tính chất của truyện kể được đảm bảo bởi cốt truyện, tích truyện, hệ thống sự kiện, nhân vật, chất tự sự của tác phẩm, phải có chất thơ và lối văn nôm - vừa có yếu tố văn tự, vừa có yếu tố phong cách một lối tư duy đặc trưng của một thời đoạn văn hóa Việt (thời trung đại)” [39, tr.12]
Là nhóm truyện do “nhà nho tài tử” gia công, chỉnh lý, mượn cốt truyện sau đó chuyển thể; lấy sự tiếp nhận làm cơ sở, nhưng là “văn học thành văn” Nhóm truyện này dấy lên vào giữa thế kỷ XVIII, thịnh hành vào đầu thế kỷ XIX, là một
dòng khác của truyện thơ nôm tài tử - giai nhân Về kết cấu tình tiết truyện
không nhất thiết phải tuân theo mô thức gặp gỡ - lưu lạc - đoàn viên nghĩa là mô thức gặp gỡ - lưu lạc - đoàn viên vẫn là mô thức căn bản nhưng cũng không phải
là tiêu chuẩn giới định bắt buộc, nhất nhất phải tuân theo Truyện thơ nôm diễm
tình vẫn sử dụng môtip tài tử - giai nhân với những tiêu chí riêng nhưng không
có nghĩa nó thuộc nhóm truyện tài tử - giai nhân với hình thái cấu trúc truyện diễn biến phát triển theo quy luật nhân quả
Nhân vật chính của nhóm truyện thơ nôm diễm tình là những tài tử - giai
nhân, có vai trò quyết định quan trọng để tạo thành nhóm truyện mang tính
Trang 20chất như vậy Họ hiện lên với “vẻ đẹp từ hình thức bên ngoài đến phẩm chất tâm hồn và tài năng” [11, tr.128], trong đó nổi bật là tài thơ phú, đàn ca và
“đều đề cao hết mức giá trị của tình yêu đôi lứa” nhưng những câu chuyện tình yêu khi đến hồi kết thúc không hẳn tương đồng
Cặp nhân vật ấy cũng có những nét khác so với cặp nhân vật trong nguyên tác bởi tính cách tài tử phong lưu nhưng lại hết sức phong nhã, đoan trang Ở đó họ đề cao tài, tình nhưng “không rơi vào cực đoan, mà thường châm chước, sao cho ôn, nhu, đôn hậu, say mà biết dừng lại đúng chỗ, trang nhã” [11, tr.641] nghĩa là họ vẫn luôn trọng chữ “đức” “Họ đến với nhau để thỏa mãn khát vọng về một tình yêu tự do và đẹp chứ không hẳn từ những dục vọng chiếm đoạt theo kiểu “lạc nhi bất dâm” [11, tr.130] Vì thế trong suy nghĩ của những chàng trai cô gái ấy dường như không có chỗ cho sự phóng túng bản năng Điều này khác với các nhân vật trong cốt truyện của Trung Hoa Đây là những biểu hiện về một tình yêu đẹp của những người yêu đẹp Tình yêu của họ vừa “rạo rực, réo rắt, rộn ràng nhưng cũng đầy kín đáo, đằm
thắm và rất phải đạo” Đôi tài tử - giai nhân ấy dù khao khát một tình yêu tự
do, mãnh liệt, song không hề buông tuồng, phó mặc cho cảm xúc Họ tự do yêu đương, tự do thề nguyền đính ước, tự do lựa chọn người bạn trăm năm cho mình, nhưng “không buông thả theo tình cảm của mình mà phải biết giữ gìn” [11, tr.129] Nghĩa là họ có quyền tự do lựa chọn người yêu nhưng
“không có nghĩa là quá dễ dãi với người mình yêu hay với chính bản thân của mình” [65, tr.189] Tình yêu của những con người “rất có ý thức về mình, rất nhân tình và cũng rất Việt Nam”
Nhân vật tài tử phải là những thư sinh phẩm hạnh, tài hoa hơn người, nhất là tài văn chương thi phú Vào buổi ban sơ khi ra đời thì tài tử thường là một văn nhân có tài năng văn học kiệt xuất nhưng dần dần tài tử có thể là một anh hùng thời đại văn võ song toàn Trong không ít tác phẩm, tài tử không chỉ
Trang 21thi cử đỗ đạt cao, đạt được chức quan to, mà còn giỏi dùng binh khiển tướng, trừ gian dẹp loạn Quá trình biến chuyển ấy cũng “thể hiện sự biến đổi về nhận thức của văn nhân truyền thống đối với hình tượng bản thân” [18]
Giai nhân thường là những cô gái đẹp có thân phận, địa vị không giống
nhau Họ không nhất thiết là tiểu thư con nhà quan lại hào phú mà về sau
cũng có cả ca nhi, kỹ nữ nhưng phải có tình, mạo (dung mạo), tài Ban đầu,
hình tượng giai nhân trong văn học chỉ đơn thuần chú trọng dung mạo dần
chữ tình của giai nhân được văn nhân tô đậm lên và cái tài của giai nhân được dụng công khắc họa rõ nét Trong ba mặt đó, tình là cái trọng yếu nhất và là
đặc trưng khiến cho độc giả ấn tượng sâu sắc nhất Điểm này được chứng
minh cụ thể ở Truyện Hoa Tiên lẫn Truyện Kiều Giai nhân trong truyện thơ
nôm diễm tình đóng một vai diễn trọng yếu trong sinh hoạt xã hội Họ chủ động giao lưu thơ phú, tài văn chương có thể vượt cả tài tử; Họ chủ động gặp gỡ tình lang đính ước hôn nhân;… Đấy là sự chuyển biến hình tượng
giai nhân trong các thời kì lịch sử khác nhau Sự chuyển biến này phản ánh
rõ những biến đổi về tiêu chuẩn giá trị của văn nhân, sĩ phu thời xưa đối với
nữ giới
“Trong phần lớn truyện thơ nôm diễm tình, từ giai nhân không những
chỉ dáng vẻ bên ngoài đẹp, mà cái quan trọng hơn là tài trí phải xuất chúng
hơn người” [18] Đặc biệt, giai nhân là người chủ động chấp nhận hy sinh cho
những người thân với những nghĩa cử được coi là phẩm chất đạo đức có tính khuôn mẫu để mọi người noi theo, được xã hội tôn trọng Cái đẹp ở đây chính
là chấp nhận hy sinh cho một nửa kia hoặc những người thân dù số phận gặp nhiều khổ hạnh Có thể, tư tưởng này ảnh hưởng của văn hóa thời đại với
quan niệm người phụ nữ luôn luôn phải có đức tính công, dung, ngôn, hạnh
Tức là bản thân tình yêu đó phải đúng “nhân tình” hợp tình, hợp nghĩa mà theo cách nói của thánh hiền là “hiếu”, là “đễ”, là biết “tề gia” mà theo nhân
Trang 22tình là biết cư xử đúng cách, đó là nét đẹp của một phạm trù đạo đức, cái “đẹp của cái thiện”
Về khuôn khổ, truyện thơ nôm diễm tình đều không quá dài, phần lớn nằm trong khoảng từ 1.500 đến 3.000 câu lục bát, phần nhiều là 3.000 câu, số chữ ước khoảng 14 vạn trở xuống Vì vậy, một số người xếp chúng vào loại trung thiên tiểu thuyết Nhóm truyện này xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ
XVIII với ngôn ngữ hết sức uyển chuyển, thành thục về phương diện tự sự,
trau chuốt, điêu luyện về nghệ thuật Tác phẩm thuộc truyện thơ nôm diễm tình chiếm một số lượng không nhỏ trong kho truyện thơ nôm Việt Nam Trừ
truyện Sơ kính tân trang còn lại đều được vay mượn từ các tác phẩm thuộc
nhóm truyện tài tử - giai nhân của Trung Quốc: vay mượn từ tiểu thuyết chương hồi, tiểu thuyết bạch thoại đoản thiên, từ ca bản, Dù vậy, những tác phẩm đó vẫn chịu sự ảnh hưởng không nhỏ về mặt mô thức, môtip của loại truyện tài tử - giai nhân Trung Quốc
Nhưng cũng không ít quan điểm cho rằng truyện thơ nôm tài tử - giai nhân, truyện thơ nôm diễm tình là một Nếu cho rằng như vậy, người nghiên cứu đã hoàn toàn cắt rời mối quan hệ loại hình, sự tương quan, vận động của truyện thơ nôm trong lịch sử phát triển của nó Không thể vì cùng viết về đề tài tình yêu, hôn nhân gia đình mà chúng ta xem loại truyện thơ nôm tài tử - giai nhân cũng giống như truyện thơ nôm diễm tình bởi vì chúng hoàn toàn khác nhau về
tư duy nghệ thuật, thủ pháp, thi pháp Hiện nay, số lượng thống kê được của loại hình truyện thơ nôm nói chung và truyện thơ nôm diễm tình nói riêng đều hạn chế Ngay cả đối với truyện thơ nôm tài tử - giai nhân chúng tôi cũng chưa thể tiếp cận hết được Nhưng theo chúng tôi, truyện thơ nôm diễm tình và
truyện thơ nôm tài tử - giai nhân là hoàn toàn khác nhau, không nên xếp chung
vào một nhóm
Truyện tài tử - giai nhân là những tác phẩm thuộc loại hình tiểu thuyết
Trang 23tình yêu hôn nhân giữa các “tài tử - giai nhân”, có thể bao hàm cả yếu tố kỳ lạ được thể hiện trong tác phẩm như “tiên” yêu thương người dân thường Các yếu tố gia đình, vấn đề đạo lý trong các mối quan hệ giữ vai trò quan trọng Trong khi truyện thơ nôm diễm tình, vấn đề tình yêu song hành cùng với yếu
tố đạo lý, đạo đức nhưng chú trọng đến chữ “tình” nhiều hơn, yếu tố tình cảm
là yếu tố quan trọng nhất, là sợi chỉ xuyên suốt toàn bộ tác phẩm Tài tử - giai
nhân chỉ là một yếu tố, một môtip để tạo thành truyện thơ nôm diễm tình Rõ
ràng ngay ở tên gọi tài tử - giai nhân đã thể hiện phạm vi của nhóm truyện
Mặc khác, những tiểu thuyết mà các văn nhân vay mượn để chuyển thể thành các truyện thơ nôm diễm tình không phải là nhiều Huống gì, trong công trình “Tài tử giai nhân tiểu thuyết nghiên cứu” của Chu Kiến Du (Trung Quốc) cũng cho rằng “tiểu thuyết - tài tử giai nhân hoàn toàn không giống với loại truyện diễm tình”[18]
Như vậy, truyện thơ nôm diễm tình nằm trong loại hình truyện thơ nôm với những nội dung, đặc trưng và có thi pháp thể hiện riêng Nhóm truyện này vừa thể hiện yếu tố tự sự và cũng mang yếu tố trữ tình
1.1.2 Vấn đề phân loại truyện thơ nôm diễm tình
Truyện thơ nôm “đã góp đại công tạo nên bản sắc Việt trong nền văn học
cổ điển Việt Nam” Tuy nhiên, việc phân loại thể tài văn học này hiện tại hãy còn một số vấn đề bất ổn, chưa nhất trí Tình trạng bất ổn, không nhất trí đó, chúng tôi thấy nhiều trong các chuyên luận Mỗi nhà nghiên cứu đều đưa ra mổ
xẻ và nỗ lực đi tìm một hướng tiếp cận khả quan Trong đó truyện thơ nôm diễm tình vẫn còn luẩn quẩn và chưa có cách phân loại nào là chuẩn xác Có chăng, chúng tôi chỉ thấy gộp chung nhóm truyện này cùng với nhóm truyện thơ nôm tài tử - giai nhân và được gọi chung là nhóm truyện thơ nôm tài tử - giai nhân hoặc nhóm truyện nói về tình yêu - hôn nhân mà chưa có sự phân loại logic cho nhóm truyện này tồn tại trong loại hình truyện thơ nôm
Trang 24Vấn đề đặt ra không chỉ đơn thuần là việc phân loại mà còn liên quan đến đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu đối với một thể tài văn học Và trong chừng mực nào đó, nó đã phương hại đến tính khoa học trong việc nghiên cứu truyện thơ nôm Nếu chúng ta không phân loại một cách thích hợp, thì đối tượng nghiên cứu sẽ sai lệch và phương pháp nghiên cứu bất ổn, không hiệu quả Vấn đề này đặt ra không phải chỉ để giải quyết loại hình truyện thơ nôm mà còn liên quan đến thể tài văn học cổ điển khác nữa Thông thường, các nhà nghiên cứu chia truyện thơ nôm thành các nhóm truyện cùng chung một tính chất, đặc điểm, dạng thức nào đó Trong đó có 3 cách phân loại chủ yếu:
+ Nếu dựa vào nguồn gốc đề tài có ba loại là loại lấy đề tài từ truyện cổ dân gian, loại lấy đề tài, cốt truyện từ văn học Trung Quốc, loại lấy đề tài, cốt truyện từ những sáng tác chữ Hán hoặc những sự tích có thật ở Việt Nam; + Nếu dựa vào nội dung và hình thức, có hai loại là truyện thơ nôm bình dân và truyện thơ nôm bác học;
+ Nếu dựa vào mối quan hệ với tác giả, phân làm hai loại là truyện thơ nôm hữu danh và truyện thơ nôm khuyết danh
Với tiêu chí phân loại như vậy, có vẻ như rất dễ hình dung, tiện lợi cho việc mô tả, giải thích Tuy nhiên, một câu hỏi đặt ra là nhóm truyện thơ nôm diễm tình sẽ ở đâu trong hệ thống loại hình văn học này Nhóm truyện thơ nôm diễm tình sẽ thuộc nhóm truyện có tác giả hay khuyết danh, bình dân hay bác học, Cách phân loại như vậy chưa phải đã đủ làm chúng ta an tâm, không làm rõ được một loạt câu hỏi đặt ra và có những điểm không hợp lý: truyện theo phương thức sáng tác nào, do ai sáng tác, văn chương như thế nào Để tránh lâm vào tình trạng trên, chúng ta nên giải quyết những vấn đề đặt ra, ít nhất là mở ra một hướng tiếp cận mới đối với loại hình văn học còn nhiều phức tạp này
Trang 25Trước đây, trong bài viết “Từ thư tịch tục văn học Việt Nam nhìn đến
tương lai của việc nghiên cứu văn học Đôn Hoàng và nghiên cứu văn thể, nhà
nghiên cứu Vương Tiểu Thuẫn phân loại truyện thơ nôm thành 2 loại chủ yếu là: loại truyện kể chuyện tình duyên nam nữ và loại truyện kể lại cuộc đời của các nhân vật anh hùng” [17] Thế nhưng đó là cách phân loại của nhà nghiên cứu nhìn từ hướng văn học thông tục Hơn nữa, lại có phần khiên cưỡng khi lấy hình mẫu văn học của Trung Quốc tham chiếu vào văn học Việt Nam Sự phân chia này trước hết sẽ rất đơn giản, dễ hiểu nhưng không bộc lộ hết được những tính chất, đặc trưng về tiểu loại; không thỏa mãn yêu cầu chính xác: phát hiện các quá trình và quy luật chung của đối tượng Hơn nữa cũng là do
từ trước đến nay, hầu như chúng ta coi truyện thơ nôm là một thể loại nên việc thực hiện phân loại chưa được hiệu quả, có những hạn chế nhất định Những cách phân loại trên sẽ không tránh khỏi tình trạng một tác phẩm cùng nằm ở cả hai hoặc ba nhóm truyện khác
Từ thực tế cho thấy những lấn cấn, bất ổn, chúng tôi cảm thấy băn khoăn, không yên lòng và cho rằng việc phân loại truyện thơ nôm dầu sao cũng chỉ nên xem là một biện pháp tạm thời để tiện cho việc nghiên cứu trong chừng mực nào đó và đối với một số truyện thơ nôm mà thôi vì tùy theo cách nhìn ở mỗi khía cạnh và mỗi tiêu chí thì sẽ có ưu nhược điểm Một quan niệm tuyệt đối hóa ở đây sẽ là phi thực tế và do đó, cũng là phi khoa học Bởi thực
tế, cái ranh giới chủng loại ấy cũng chẳng có gì là rõ ràng, nếu không muốn nói là nó khá mù mờ như chúng ta đã thấy
Trên cơ sở những cách phân loại đã có, chúng tôi sẽ chọn cho luận văn cách phân loại thích hợp nhất vì dẫu sao chúng tôi cũng nghĩ rằng, mỗi bước
đi của mình đều phải dựa trên đôi vai của những người khổng lồ tuy tồn tại
những hạn chế nhất định
Muốn vậy, điều đầu tiên cần làm là phải thống kê số lượng tác phẩm của
Trang 26nhóm truyện này là bao nhiêu để so sánh tương quan với số lượng của loại hình truyện thơ nôm Tuy nhiên bước đi của chúng tôi có phần khó khăn khi
mà số lượng truyện thơ nôm cũng không một ai có thể trả lời đầy đủ và rõ ràng cụ thể là bao nhiêu ngoài những lời ước đoán không mấy ý nghĩa rằng di sản này rất “đồ sộ”, rất “phong phú” Không thể biết số tác phẩm đang “trôi nổi” trong cộng đồng đã đành ngay cả những tác phẩm đã được công bố cũng chẳng có một số liệu nào đáng tin cậy thực sự Và một thực tế là chúng tôi rất hạn chế không thể tiếp cận hết số lượng tác phẩm của loại hình văn học này
Trong chuyên luận Truyện Nôm - lịch sử phát triển và thi pháp thể loại,
nhà nghiên cứu Kiều Thu Hoạch thống kê được 120 tác phẩm truyện thơ nôm Cũng xin căn cứ vào số liệu được coi là có tính xác thực tương đối để lấy chuẩn cho việc phân loại Đây chỉ là con số tương đối, bởi một số tác phẩm vẫn còn lưu giữ trong dân gian hoặc lưu trữ trong các thư viện trong nước và ngoài nước mà chúng tôi không thể tiếp cận được Đó là chưa kể còn một số lượng truyện thơ nôm khá lớn do nhiều tầng lớp khác nhau sáng tác, nội dung cũng như nghệ thuật đều không thuần nhất và đến nay vẫn còn trong “tình cảnh bụi phủ đầy”
Dưới đây trên cơ sở gợi ý của nhà nghiên cứu Nguyễn Phong Nam, chúng tôi thử phân truyện thơ nôm thành các tiểu loại và xem truyện thơ nôm
là một loại hình văn học, tức là nó có phương thức, cách thể hiện riêng, thi pháp đặc trưng Căn cứ vào các tiêu chí căn bản, chúng tôi soi vào từng tác
phẩm cụ thể và định hướng cho mình cách phân loại truyện thơ nôm diễm
tình Như vậy, với sự liên kết, xâu chuỗi; nhận thức đối tượng sẽ dễ dàng hơn
cho chúng tôi
Căn cứ vào sự thể hiện nội dung và nghệ thuật, chúng tôi thấy rằng cần thiết có thể chia loại hình truyện thơ nôm thành 2 loại là loại truyện được chuyển thể (hoặc cải biên, diễn Nôm, ) từ các tác phẩm văn học Trung Quốc
Trang 27và loại truyện có nguồn gốc bản địa, gần gũi với tích truyện dân gian, hoặc có ảnh hưởng về mặt thể tài với các tác phẩm ở nhóm thứ nhất Trong loại thứ hai có thể chia thành 2 tiểu loại là tiểu loại truyện thơ nôm dựa vào truyện cổ tích, thần thoại, hay sự tích thần, Phật và tiểu loại truyện thơ nôm sáng tác hoàn toàn dựa vào thực tế Việt Nam Trong đó nhóm truyện thơ nôm diễm tình nằm ở loại truyện được chuyển thể (hoặc cải biên, diễn Nôm, ) từ các tác phẩm văn học Trung Quốc
Chúng tôi nghĩ nên chia nhỏ thành các lớp “xiết chặt dần” như vậy rất có giá trị cho việc nghiên cứu, từ đó ta có thể dùng thi pháp các tiểu thể loại này để nghiên cứu nhóm truyện Cái lợi thứ nhất dễ thấy là, chúng ta không vướng phải những trường hợp “khó xử” hay khiên cưỡng khi phân loại Ngoài
ra, mỗi một nhóm loại như thế có những đặc tính riêng và ta có thể thuận lợi hơn trong phương pháp tiếp cận từng nhóm loại Thứ nữa, chúng ta có thể xây dựng một phương pháp luận nghiên cứu thích hợp cho từng nhóm của loại hình truyện thơ nôm
Nhưng thực tế chúng tôi thấy một số truyện thơ nôm diễm tình không xếp được vào loại truyện được chuyển thể (hoặc cải biên, diễn Nôm, ) từ các tác phẩm văn học Trung Quốc hết được Ngoài những tác phẩm thuộc nhóm truyện thơ nôm diễm tình là vay mượn chuyển thể ra, còn có một số tác phẩm thuộc nhóm truyện có cốt truyện hoàn toàn dựa vào thực tế Việt Nam, là sáng tác của một cá nhân, không hề có sự vay mượn hay mô phỏng Cá biệt, ngoại
lệ là chuyện thông thường, chúng tôi không dám cầu toàn
Trên cơ sở sơ đồ gợi ý phân loại truyện thơ nôm của nhà nghiên cứu Nguyễn Phong Nam coi truyện thơ nôm với tư cách một loại hình văn học, chúng tôi thử phân loại truyện thơ nôm diễm tình thành sơ đồ như sau:
Trang 28
Hình 1.1: Sơ đồ phân loại truyện thơ nôm diễm tình
Với cách phân loại như vậy, chúng tôi thấy rằng, đối tượng của chúng tôi nghiên cứu được chia nhỏ dần thành từng lớp, từng nhóm nhỏ, hệ thống dễ dàng và rõ ràng, tạo sự logic cho đối tượng nghiên cứu hơn
1.1.3 Truyện Kiều, Truyện Hoa Tiên – những trường hợp tiêu biểu
cho truyện thơ nôm diễm tình
Cùng với truyện Song tinh của Nguyễn Hữu Hào, Hoa Tiên truyện của
Nguyễn Huy Tự được coi là tác phẩm mở đường cho sự xuất hiện của nhóm
truyện thơ nôm diễm tình Hoa Tiên truyện vừa mang ý nghĩa kế thừa, sáng tạo
vừa có ý nghĩa phát triển cho các tác phẩm về sau của nhóm truyện mà đỉnh
cao là Truyện Kiều của Nguyễn Du - tác phẩm được cho là “tập đại thành nghìn
năm văn học thời phong kiến” [38, tr.38] Ngoài việc tạo cho dòng văn học này
LOẠI HÌNH TRUYỆN THƠ NÔM
LOẠI
truyện được chuyển thể (hoặc
cải biên, diễn Nôm, ) từ các
tácphẩm văn học Trung Quốc
Truyện thơ nôm diễm tình (có tác giả)
hoàn toàn dựa vào thực tế Việt Nam
Truyện Song Tinh (Nguyễn Hữu Hào) Truyện Hoa Tiên (Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Thiện) Mai đình mộng ký (Nguyễn Huy Hổ)
Ngọc Kiều Lê (Lý Văn Phức) Nhị độ mai,Hảo cầu tân truyện, Sơ kính tân trang
Nữ tú tài, Tỳ bà quốc âm tân truyện
LOẠI
truyện có nguồn gốc bản địa, gần gũi với tích truyện dân gian, hoặc sáng tạo, hư cấu
dựa vào truyện cổ tích, thần thoại, hay sự tích thần, Phật
Trang 29sức sống lâu bền thì Hoa Tiên truyện còn tạo cảm hứng mới lạ trong cách thể
hiện cũng như phản ánh sự chân thực, sâu sắc đối với hiện tại và đặc biệt là hình thành một nhóm truyện mới trong loại hình truyện thơ nôm - nhóm truyện
thơ nôm diễm tình Như một nhà nghiên cứu đã viết “Hoa Tiên truyện - đó là
truyện thơ ái tình đầu tiên và Nguyễn Huy Tự đã có công mở đầu cho một con đường không phải không có ý nghĩa lớn trong cuộc sống tinh thần của xã hội phong kiến nước ta lúc đó”
Điều đáng quý có thể thấy ở hai tác phẩm là khá minh bạch về lai lịch văn bản trong số các tác phẩm thuộc nhóm truyện này Hiện giờ, những
trường hợp đã tìm được các văn bản liên quan lẫn nhau như Kim Vân Kiều
truyện và Truyện Kiều, Đệ bát tài tử Hoa tiên ký và Hoa Tiên truyện là khá
hiếm Hoa Tiên truyện được viết vào khoảng thời gian giữa thế kỷ XVIII (hiện
nay không có tài liệu nói cụ thể) và thư viện Pari Pháp còn giữ một cuốn, viết:
“Hoa tiên nhuận chính, bản in mới tháng 8 năm Ất dậu niên hiệu Tự Đức (1875), Đỗ Hạ Xuyên hiệu chú, Lễ đường tàng bản”, có tất cả 1.766 câu Tại Viễn đông Bác cổ Pháp ở Hà Nội có giữ một bản chép tay khác ghi là: “Hoa tiên quốc ngữ, Nguyễn Huy Tự ở Lai Thạch - La Sơn soạn, Nguyễn Thiện ở Tiên Điền nhuận sắc, Vũ Đãi Vấn ở Đường Giang mặc bình, Cao Chu Thần ở
Phú Thị chú bình”, tổng cộng có 1.858 câu so với Truyện Kiều của Nguyễn Du
có đến 3.254 câu, xuất bản nhiều lần và được cho là viết vào khoảng từ năm
1805 – 1809 (theo Đào Duy Anh)
Truyện Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự và Truyện Kiều của Nguyễn Du
đều là những tác phẩm có tính cách, lý tưởng thẫm mỹ khá tương đồng Nói
đúng hơn thì “Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng đã từng chịu ảnh hưởng Hoa
Tiên ký của Nguyễn Huy Tự (Nguyễn Huy Tự viết Hoa Tiên ký vào khoảng
thời gian Nguyễn Du ra đời) Có thể tìm thấy trong Truyện Kiều một số câu giống với những câu trong Hoa Tiên ký của Nguyễn Huy Tự Nhưng ảnh
Trang 30hưởng của Hoa Tiên ký đối với Nguyễn Du chủ yếu không phải là sự vay
mượn một số câu thơ, mà cách miêu tả thiên nhiên cũng như cách miêu tả tâm trạng nhân vật, Nguyễn Du chịu ảnh hưởng của Nguyễn Huy Tự và thành
công hơn Nguyễn Huy Tự” [31, tr.218]: Bụi hồng dứt nẻo chiêm bao đi về (Hoa Tiên truyện 258) và Bụi hồng lẽo đẽo đi về chiêm bao (Truyện Kiều 250) hay Thiên nhiên sẵn đúc dầy dầy (Hoa Tiên truyện 95) và Dày dày sẵn
đúc một tòa thiên nhiên! (Truyện Kiều 1310)
“Sự vay mượn đề tài, mô phỏng cốt truyện như là một phương pháp sáng tác thời trung đại, là một sự bắt chước những quy tắc và truyền thống trung đại, là một đặc trưng của văn học trung đại” [35, tr.342] M B Khrapchenkô
đã đúc kết như vậy Áp dụng vào Hoa Tiên truyện và Truyện Kiều đều có đề
tài và cốt truyện từ cuốn tiểu thuyết chương hồi của Trung Quốc Nhưng cả hai tác giả chỉ mượn đề tài, cốt truyện còn chủ đề và tư tưởng thì lại là một công trình hoàn toàn sáng tạo Ngay cả khi vay mượn đề tài và cốt truyện, bút pháp của nhà thơ cũng có sự cân nhắc, chọn lọc, thêm bớt Chính Nguyễn Du
đã không ngần ngại tuyên bố sự vay mượn đó: Cảo thơm lần giở trước đèn,/
Phong tình cổ lục còn truyền sử xanh Tuy vậy, nhiều tác phẩm như Ngọc Kiều Lê, Nhị độ mai, Phù dung tân truyện v.v thuộc truyện thơ nôm diễm
tình cũng vay mượn đề tài, cốt truyện từ tác phẩm văn học Trung Quốc nhưng
không thành công như Truyện Kiều Đó là một điều đáng để suy ngẫm
Nhìn chung, cả hai tác phẩm đều theo sát cốt truyện của ca bản, tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc Đôi chỗ có những cách thể hiện khác, tuy nhiên không thay đổi, thêm thắt gì lớn Khi diễn lại theo cách nhìn nhận mới
và theo tinh thần dân tộc, các tác giả thay thế bằng thể thơ dân tộc, bỏ đi nhiều chi tiết rườm rà, chú ý làm cho tác phẩm có màu sắc trữ tình đậm nét hơn, tạo cho tác phẩm có phần nhẹ nhàng, uyển chuyển và tinh tế hơn ca bản Trung Quốc Vừa mang tính chất tự sự vừa mang tính chất trữ tình, truyện thơ
Trang 31nôm nói chung và truyện thơ nôm diễm tình nói riêng được xây dựng theo mô
hình nhất định, cốt truyện đi theo diễn biến của mô hình nhân - quả Hoa Tiên
truyện, Truyện Kiều đều được coi là tác phẩm tiêu biểu thể hiện diễn biến cốt
truyện theo mô hình đó
Điều đặc biệt tạo nên dấu ấn của nhóm truyện này là các cặp tài tử - giai nhân Họ được coi là đẹp nhất, đáng trân trọng, để lại sự cảm thông yêu thương đối với chính tác giả và người thưởng thức Họ đẹp từ hình thức bên ngoài đến phẩm chất tâm hồn và tài năng, trong đó nổi bật là tài thơ phú, đàn ca Xúc cảm, đắm say mà chừng mực, đó là phong cách tiêu biểu của họ Trọng nhau vì tài sắc, cùng khát vọng tình yêu tuổi trẻ, họ đã đến với nhau vì trọng tài năng
mà chủ yếu là tài thi thơ Vì thế không có gì là lạ khi thơ, từ một mặt thể hiện
tài năng của khách tài tử - giai nhân, mặt khác đã trở thành phương tiện chủ
yếu để họ trao đổi ân tình, khát vọng tình cảm Bắt đầu từ cặp tài - tử giai nhân Lương Sinh - Dao Tiên đã tạo cảm hứng cho Nguyễn Du xây dựng cặp nhân vật Kim Trọng - Thúy Kiều Ở họ những khát vọng tình yêu tự do, những thú phong lưu tài tử cũng là những đặc điểm tiêu biểu
Hoa Tiên truyện và Truyện Kiều đều miêu tả giai nhân - tài tử là những
con người văn võ song toàn, đẹp từ hình thức bên ngoài Nếu miêu tả giai
nhân theo công thức khuôn mẫu có sẵn: Mếch xem chiều mỉm mỉm cười,/ Sóng dầm khóe hạnh chưa dời nét trông./ Môi đào hé mặt phù dung,/ Xiêm in bóng tuyết sen lồng ngấn rêu Hay: Làn thu thủy nét xuân sơn,/ Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh, thì các tài tử cũng phải thật đẹp và thật sự hào
hoa, danh giá: Gấm hoa tài mạo gồm hai,/ Đua chân nhảy phượng sánh vai
cưỡi kình / Nguyên người quanh quất đâu xa,/ Họ Kim tên Trọng vốn nhà trâm anh./ Nền phú hậu bậc tài danh,/ Văn chương nết đất thông minh tính trời./ Phong tư tài mạo tót vời
Trong tình yêu, Lương Sinh đến với Dao Tiên khá chủ động Chàng tìm
Trang 32mọi cách để được gần Dao Tiên Chàng nhờ Vân Hương và Bích Nguyệt mối lái, dọn nhà đến ở cạnh nhà Dao Tiên, tìm cách làm quen với cha nàng để được
qua lại Tình yêu tha thiết cuối cùng cũng chinh phục được Dao Tiên: Hoa lay
trúc động mơ chừng,/ Lần trong cửa tía, vội ngừng gác son./ Tiêu đâu rủ phượng véo von,/ Một xoan như gợi nước non mấy niềm./ Phất phơ tơ liễu buông rèm,/ Nửa sân lê lựu bóng thiềm xế ngang Tình yêu giữa Kim Trọng và
Thúy Kiều có phần chủ động hơn khi mà mới lần đầu gặp gỡ mà chàng và
nàng đã: Tình trong như đã mặt ngoài còn e Những mối tình “nhất kiến
chung tình” tuyệt đẹp
Nhưng điều chúng tôi đặc biệt chú ý ở đây là tình yêu họ dành cho nhau vừa rạo rực, réo rắt, rộn ràng mà cũng đầy kín đáo, đằm thắm, nho nhã, ý nhị, mặn mà và “rất phải đạo” “Họ đề cao tài, tình nhưng không theo cảm xúc tự nhiên, buồng tuồng theo cảm xúc mà thường châm chước, sao cho ôn, nhu, đôn, hậu, say mà biết dừng lại đúng chỗ” [11, tr.64] Họ luôn hướng về nhau
“đề cao hết mức giá trị của tình yêu đôi lứa”, trân trọng nhau, luôn dành cho nhau sự chân thành dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào, biết đặt chữ “đạo”, chữ “đức" lên trên hết Mọi người làm phận sự của mình và sống với nhau rất yên lành
Họ luôn thể hiện chữ hiếu với cha mẹ, chấp nhận hy sinh hạnh phúc cá nhân
Họ chịu trách nhiệm với hành động theo nguyên tắc luân thường đạo lý
Nhân vật giai nhân Dao Tiên trong tác phẩm của Nguyễn Huy Tự trên
hành trình đến với tình yêu và hạnh phúc còn nhiều do dự và có phần thụ động nhưng có một kết thúc êm đẹp Thúy Kiều của Nguyễn Du lại mạnh dạn
và chủ động hơn trong hành trình kiếm tìm tình yêu hạnh phúc, nhưng lại có
số phận “không lành” Trong tác phẩm Hoa Tiên truyện, nhân vật Lương Sinh
là một thư sinh: Gấm hoa tài mạo gồm hai, xuất thân trong một gia đình quý
tộc Tuổi trưởng thành, Lương Sinh cũng khao khát tình yêu, chàng đã không
ngần ngại đi để tìm kiếm Gặp Dao Tiên, là nhân vật tiêu biểu cho các giai
Trang 33nhân, con nhà quý tộc “kín cổng cao tường” Lương Sinh tương tư và tìm mọi
cách để đến được với trái tim Dao Tiên Tuy nhiên Dao Tiên là một giai nhân
bị vướng mắc trong khuôn khổ lễ giáo phong kiến nhưng nàng đã dần dần vươn lên thành con người biết yêu và thủy chung Họ yêu, chung thủy và vun vén cho tình yêu ấy – “một thứ tình yêu ngoài lễ giáo như một thứ triết lý, một thứ nhân sinh quan hồn nhiên, bất chấp lễ giáo”
Mối tình Kim - Kiều có thể nói đó là “mối tình đẹp nhất trong văn học cổ Việt Nam” như GS Lê Trí Viễn đã nói Mối tình ấy thật sự đẹp, họ thủy chung, luôn nghĩ, hướng về nhau và biết hy sinh cho nhau Trải qua mười lăm năm đoạn trường nhưng khi gặp lại Kim Trọng, Kiều đã nhận sự thiệt thòi để
mọi người được yên ổn và hạnh phúc Cái đẹp của giai nhân nằm ở chỗ đó
Đây là những biểu hiện về “một tình yêu đẹp của những người yêu đẹp” Tình yêu ấy thật trang nhã, kín đáo nhưng cũng thanh tao Xuất phát từ sự cảm mến đức, tài, tình, sắc họ đến với nhau để thỏa mãn khát vọng về một tình yêu tự
do và đẹp chứ không hẳn từ những dục vọng chiếm đoạt Vì thế trong suy
nghĩ của những tài tử - giai nhân ấy dường như không có chỗ cho sự phóng
túng bản năng Ðiều này khác với các nhân vật trong cốt truyện của Trung Hoa Dù có lúc Kim Trọng quá yêu sắc lại được thưởng thức tài năng xuất
chúng của Kiều qua một thiên hồ cầm tuyệt tác, Kim có biểu hiện: Xem trong
âu yếm có chiều lả lơi nhưng chàng đã dừng lại đúng mực trước lời khuyên
khéo léo, sắc sảo nhưng cũng rất chân tình đằm thắm của Kiều
Nếu tác giả Truyện Hoa Tiên đã khéo léo dẫn dắt câu chuyện tình từng bước đi vào con đường mòn của lễ giáo thì Truyện Kiều của Nguyễn Du xây
dựng cặp tình nhân mà theo Trần Đình Hượu đã nói rất có lý rằng “ thi sĩ Tiên Ðiền đã đưa nhân vật của mình vào đời sống xã hội, đặt Thúy Kiều không chỉ trước vấn đề tình yêu Thúy Kiều cũng không còn chỉ là giai nhân tài sắc mà
là một con người chịu mọi tủi nhục, đặc biệt sắc sảo khôn ngoan, ứng phó với
Trang 34mọi hoàn cảnh đau đớn để giành quyền sống mà vẫn không thoát được” Tình
yêu trong Hoa Tiên truyện là sự đấu tranh giữa tình cảm và lý trí, giữa khát
vọng yêu đương và những quan hệ chật hẹp của lễ giáo, đạo đức phong kiến
Tác giả Hoa Tiên truyện tập trung miêu tả những con người thuộc tầng
lớp trên trong mấy gia đình quý tộc như: gia đình họ Dương, họ Diêu, họ
Lương và vài cô nữ tỳ Vân Hương, Bích Nguyệt Trong khi Truyện Kiều của
Nguyễn Du, tác giả đã chú ý mở rộng nhân vật, miêu tả đủ các loại người khác nhau thuộc nhiều tầng lớp trong xã hội: quan lại, thư sinh, anh hùng, mỹ nhân,
sư sãi, con buôn, lính tráng, và ngay ở nhân vật giai nhân cũng không chỉ là
tiểu thư quý tộc mà còn mở rộng ra cả ca nhi, kỹ nữ Nó là biểu hiện bộn bề phức tạp của đời sống thường nhật mà ở đó không chỉ có một ông vua hay một vài người thuộc tầng lớp cao quý của xã hội phong kiến Ðặc biệt khi xây dựng đông đảo các loại nhân vật này, “các tác giả đã chú ý khắc họa khá rõ nét tâm
lý nhân vật tùy từng hoàn cảnh hoặc từng loại nhân vật Ðây là những nét sáng tạo độc đáo để từ đó tạo nên những mô hình nhân vật mới mà có nhà nghiên
cứu cho rằng đó là mô hình nhân vật giải thiêng Tất nhiên sự giải thiêng này
không chỉ xét trên góc độ hạ bệ những nhân vật tôn kính mà ở việc các tác giả
mổ xẻ tính cách và tâm lý nhân vật Nhân vật không chỉ là nhân vật loại hình phân chia ra thành chính - tà, thiện - ác một cách rạch ròi và lý tưởng Nhân vật được diễn tả đúng với tính chất phức tạp và phong phú của con người trong xã hội Ở đó người anh hùng Từ Hải không chỉ tồn tại với phẩm chất anh hùng, hành động anh hùng “đội trời đạp đất” mà có cả những nhu cầu thường nhật như khát khao tìm người tri kỷ cũng như tình yêu và hạnh phúc” [40, tr 134] Tuy nhiên, bên cạnh những nét dị biệt thể hiện tư duy sáng tạo của các tác giả cũng như sự va động của thực tế lịch sử thì chúng cũng có những tương đồng mà về mặt nội dung hay hình thức cũng tạo nên những cơ sở để nằm chung trên con thuyền truyện thơ nôm diễm tình Đó là “một bài thơ dài
Trang 35ca ngợi tình yêu” mà như Lại Ngọc Cang có viết là “nhân tố chủ yếu làm nên giá trị của nó là tình yêu và tác giả đã viết nên những cảm xúc dạt dào của một con tim đang hồi khao khát yêu đương”
1.2 QUÁ TRÌNH VẬN ĐỘNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRUYỆN THƠ NÔM DIỄM TÌNH
1.2.1 Những tiền đề cho sự ra đời của truyện thơ nôm diễm tình
Truyện thơ nôm diễm tình nằm trong quỹ đạo phát triển chung của loại
hình truyện thơ nôm, lấy đề tài về chuyện tình yêu giữa các tài tử - giai nhân
Điều đó không phải ngẫu nhiên, mà có ý nghĩa của riêng nó Tại sao trong muôn vàn các nhóm tiểu thuyết chương hồi của Trung Hoa, tiểu thuyết diễm tình lại có ảnh hưởng đáng kể đến vậy đối với các nhà Nho Việt Rõ ràng, các tác gia phải
có những kinh nghiệm cần thiết từ thực tiễn, thực tế tại một thời điểm nhất định nên mới “vay mượn và tìm kiếm kinh nghiệm nghệ thuật từ bên ngoài” Đó là
“việc làm do nhu cầu phát triển của bản thân nền văn học dân tộc” [54, tr.53] Trước hết, nhóm truyện này xuất hiện gắn liền với tiền đề về kinh tế xã hội (không gian thời gian lịch sử, kĩ thuật in ấn ) và những yếu tố nội sinh của hiện tượng văn chương (như ý thức nghệ thuật, đội ngũ sáng tác, tâm lý tiếp nhận ); nói cách khác là được đảm bảo bởi những điều kiện vật chất, tinh thần nhất định Một mặt, chúng chịu sự tác động toàn diện của hoàn cảnh, không khí thời đại, mặt khác bản thân hàm chứa rất nhiều thông tin, nhiều yếu tố lịch sử xã hội Đó
là cơ sở để đưa ra nhận định thời điểm xuất hiện của nhóm truyện này
Khi đề cập đến điều kiện ra đời của một thể loại văn học, đầu tiên phải đặt nó trong tiền đề lịch sử - xã hội cụ thể Truyện thơ nôm diễm tình xuất hiện không ngoài quy luật chung đó Trước hết ta nên xem xét nhóm truyện này là một sản phẩm tinh thần của xã hội Việt Nam đang có nhiều biến chuyển sâu sắc về kinh tế, tư tưởng, văn hóa, chữ viết
“Thế kỷ XVIII đầy những biến cố lịch sử quan trọng, con người trong
Trang 36thời đại này bắt đầu đặt ra nhiều vấn đề để suy nghĩ Bằng kinh nghiệm lịch
sử và bản thân, quần chúng bắt đầu nghi ngờ những tín điều của giai cấp phong kiến thống trị Chưa vươn lên nói đến những nỗi đau khổ, đói rét của quần chúng, cảnh áp bức bất công của giai cấp thống trị, nhiều tác giả chỉ đặt vấn đề trong một phạm vi nhỏ hẹp hơn, nhưng không kém phần bức thiết Đó
là vấn đề giải phóng tình cảm khỏi những ràng buộc của lễ giáo, đạo đức phong kiến Cách giải quyết của các tác giả không phải bao giờ cũng thỏa đáng Nhưng ở các tác phẩm có giá trị khuynh hướng toát lên từ nội dung hình tượng của tác phẩm thường vượt ra ngoài ý định chủ quan ban đầu của tác giả, để chan hòa trong tiếng nói chung của thời đại” [31, tr.231] Hiện thực
ấy đã được nhà thơ đúc kết: Trăm năm trong cõi người ta,/ Chữ Tài, chữ
Mệnh khéo là ghét nhau Truyện thơ nôm diễm tình hầu như được vay mượn
cốt truyện từ Trung Hoa, nhưng vấn đề đặt ra trong các tác phẩm lại là những vấn đề của xã hội Việt Nam bấy giờ Chính vì vậy, truyện thơ nôm diễm tình hấp dẫn người đọc một phần cũng là lý do này
Kinh tế nước ta ở giai đoạn này lại chuyển sang một giai đoạn phát triển mới Việc giao thương, buôn bán với nước ngoài phát triển Hệ thống chợ từ thôn quê đến thành thị phong phú, khá sầm uất Trao đổi hàng hoá trở thành nhu cầu, thúc đẩy, quan hệ của con người thay đổi Yếu tố thị dân xuất hiện
và phổ biến hơn trong cách sống, tình cảm, suy nghĩ của xã hội, con người cá nhân có mảnh đất nảy sinh Và văn hóa cũng từ đó được giao thoa, phát triển Đặc biệt kỹ thuật in khắc ván (kỹ nghệ tiên tiến nhất ở Đông Á trung đại, được du nhập từ Trung Hoa vào Việt Nam nhờ vị tổ nghề Lương Nhữ Hộc) là một may mắn mà không phải loại hình văn học nào cũng được hưởng Trong chiếc nôi của văn hóa đô thị phong kiến, “một biểu hiện của thị hiếu thị dân” (Trần Đình Sử): đề tài tình yêu li kì; cốt truyện vay mượn từ thoại bản là điều dễ hiểu
Trang 37Viện sĩ M.B Khrapchenkô nhận định “thời đại thay đổi sẽ có những mốc trong văn học và có sự phát triển các loại hình văn học” [35, tr 371] Đó là môi trường phi chính thống - một trong những điều kiện để truyện thơ nôm diễm tình ra đời Trong giai đoạn này, đời sống tinh thần nhiều biến động, những niềm vui “trần thế” của con người bị gò bó, cấm kỵ, xu hướng tìm về với cội nguồn của dân tộc là điều tất yếu Truyện thơ nôm diễm tình ra đời, vừa đáp ứng về nhu cầu giao tiếp vừa giữ vai trò dân chủ trong việc giữ gìn văn hóa nội sinh Thể thơ lục bát của dân tộc trở thành nhân vật chính, đảm nhận vai trò của loại hình văn học chủ yếu lúc bấy giờ
Trong lúc này, giao lưu văn hóa giữa các nước trong khu vực Đông Nam
Á, Trung Quốc, Ấn Độ, diễn ra phổ biến Nguồn gốc đề tài cốt truyện truyện thơ nôm diễm tình cũng chịu ảnh hưởng khá rõ từ văn học Trung Quốc (kể cả Ấn Độ) Quy luật tiếp biến văn hoá tác động trực tiếp đến truyện thơ nôm dựa trên một số nét tương đồng về điều kiện xã hội, quan niệm thẩm mỹ
nghệ sĩ hướng tới: Nguyễn Huy Tự vay mượn cốt truyện Đệ bát tài tử Hoa
tiên ký, Nguyễn Du vay mượn cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh
Tâm Tài Nhân
Văn chương là nghệ thuật của ngôn từ Nằm trong hệ thống loại hình truyện thơ nôm, nhóm truyện thơ nôm diễm tình ra đời vào lúc chữ Nôm đã được sử dụng khá lâu (chữ Nôm xuất hiện vào khoảng thế kỷ XIII) Các thế
kỷ XV - XVII chữ Nôm khẳng định vị trí và thành tựu trên văn đàn dân tộc qua thực tế sáng tác Chữ Nôm hiện diện trong khá nhiều thể loại văn học, diễn đạt những vấn đề lớn lao, cao nhã đồng thời cả nội dung thế tục Sang thế kỷ XVIII, XIX, chữ Nôm phát triển đạt đến hoàn thiện với những tác
phẩm có thành tựu kiệt xuất như Truyện Kiều làm nên chất cổ điển, tạo nên
một giai đoạn văn học rực rỡ nhất trong văn học trung đại Việt Nam Điều đó chứng tỏ ngôn ngữ tiếng Việt lúc này đã thực sự trưởng thành
Trang 38Hệ thống thế giới quan của mỗi giai đoạn trong lịch sử cũng ảnh hưởng đến quá trình sáng tác của một loại hình văn học Những tác phẩm trong giai đoạn này đều thuộc phạm trù văn học trung đại, nên “dấu vết của hiện tượng văn - triết bất phân không phải là không còn” Bản thân những Nho sĩ thời kỳ này đóng một vai trò quan trọng để hình thành nhóm truyện thơ nôm diễm tình với hệ thống thế giới quan đã có nhiều thay đổi Chẳng hạn, về mặt loại
hình tư tưởng Truyện Kiều vẫn còn mang nặng thế giới quan của ý thức hệ
chính thống Nho - Phật - Lão Trang Tám câu thơ mở đầu tác phẩm có thể coi
như là tuyên ngôn của thi hào về vấn đề này: Trăm năm trong cõi người ta,/
Chữ Tài chữ Mệnh khéo là ghét nhau./ Trải qua một cuộc bể dâu,/ Những điều trông thấy mà đau đớn lòng./ Lạ gì bỉ sắc tư phong,/ Trời xanh quen thói
má hồng đánh ghen./ Cảo thơm lần giở trước đèn,/ Phong tình cổ lục còn truyền sử xanh
Trên ba ngàn câu tiếp theo cũng là sự minh họa cho tư tưởng triết học được tác giả trực tiếp nêu lên ở mấy câu mở đầu Theo Nguyễn Đình Chú
“dấu vết tồn tại của hiện tượng văn - triết bất phân có liên quan đến tính chất tiên nghiệm trong tư duy nghệ thuật viết truyện trung đại là điều khác với tiểu thuyết hiện đại Về sau, không ai mở đầu tiểu thuyết bằng nội dung triết lý
như cách Nguyễn Du từng làm” [8, tr.45] Chính hiện thực này đã là “cái mốc
trong văn học và có sự phát triển các loại hình văn học” [35, tr.375] như M.B Khrapchenkô đã từng phát biểu, mà Nguyễn Du là người đã cắm cái mốc tạo nên sự phát triển ấy
Thế giới quan nghệ sĩ cũng có vị trí, ảnh hưởng, biểu hiện rõ nét trong sáng tác văn chương Truyện thơ nôm diễm tình chịu sự chi phối sâu sắc của
tư tưởng chính thống Nho giáo, Phật giáo, tư tưởng Lão - Trang, tín ngưỡng dân gian cũng tác động tới người cầm bút Nhìn chung, văn chương gắn với những chức năng cao cả và lớn lao
Trang 39Hơn nữa “sỡ dĩ có hiện tượng tiếp nhận ảnh hưởng là vì dân tộc tiếp nhận có nhu cầu nội tại mà nền văn học có ảnh hưởng đáp ứng được nhu cầu
đó Giao lưu ảnh hưởng văn học là một hiện tượng văn hóa, do đó tính chất lựa chọn một cách tự nguyện ảnh hưởng là hiển nhiên” [54, tr.51] Giai đoạn bắt đầu suy tàn, khủng hoảng của xã hội phong kiến (thế kỷ XVI - XIX), thế giới quan nghệ sĩ biến chuyển trong đó có nhóm tác gia của nhóm truyện thơ nôm diễm tình Từ hiện thực, họ cảm nhận, thay đổi sự đánh giá xã hội, nhân sinh, góp tiếng nói hiểu đời, cảm thông và chia sẻ, nêu lên những ước mơ, khát vọng
về quyền sống con người Văn học hướng đạo nhường chỗ cho văn chương ly tâm Nghệ sĩ vượt tính qui phạm của thi pháp trung đại, xích gần tới chủ nghĩa hiện thực
Chính bởi vậy, tác giả truyện thơ nôm diễm tình là những người “hoài tài bất ngộ, bất bình về việc mây xanh hết lối, căm giận giới quyền quý, chán ghét thói đời, giai nhân nan đắc, cảm khái đời người ảm đạm, chúng giăng mắc ở trong lòng, khiến cho họ không thể bình tâm, phải đi tìm sự giải tỏa thông qua văn học” Truyện thơ nôm diễm tình chính là “biểu hiện văn nhân, biểu hiện lí tưởng tình ý của văn nhân Dù ở trình độ nào cũng có thể nói, đấy
là kiểu loại văn học tự mình viết về mình” [18]
Những gì trình bày trên nhằm rút ra kết luận: vào khoảng thế kỷ XVIII những mâu thuẫn giai cấp quyết liệt của xã hội Việt Nam đã làm cho cuộc sống thay đổi, kéo theo sự đổi thay, sự chuyển biến về loại hình tư tưởng thế giới quan, loại hình thể loại, loại hình ngôn ngữ nghệ thuật, kể cả sự đổi mới trong chủ đề Truyện thơ nôm diễm tình là minh chứng cho sự chuyển hướng
trên mà Truyện Kiều là đỉnh cao Tiêu biểu cho bước chuyển hướng từ loại
hình văn học trung đại mang tính chức năng sang loại hình văn học hình tượng trong giai đoạn suy tàn của xã hội phong kiến Có thể coi tác phẩm truyện thơ nôm diễm tình là tiếng chuông báo hiệu, là cái bản lề, là bước quá
Trang 40độ của văn học trung đại để mở ra loại hình văn học mới: văn học hình tượng
của thời cận - hiện đại
Như vậy, nếu xét về thời điểm xuất hiện Hoa Tiên truyện và Truyện Kiều
thì đây là hai tác phẩm thuộc giai đoạn trung đại hậu kỳ với thể loại, nội dung thể hiện, ngôn ngữ biểu đạt, cơ chế mỹ học… của văn học trung đại mà dù muốn hay không, tác giả của nó vẫn chịu ảnh hưởng, không thể thoát khỏi những đặc trưng chung đó Hơn nữa “truyện thơ là một hiện tượng Đông Nam
Á Nếu như người Hán không có truyện thơ thì các dân tộc nằm trong không gian văn hóa như Tày, Nùng, Việt, Thái, lại đều có truyện thơ Vậy ảnh hưởng của tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc khi đi vào Việt Nam đã được lọc qua truyền thống văn hóa văn học bản địa” “Đây là những yếu tố có ảnh hưởng không nhỏ đến thi pháp tác phẩm cũng như việc tiếp nhận tác phẩm đó” [54, tr.50-51]
Một loại truyện mới ra đời thường do nhu cầu cần thể hiện một nội dung mới và đồng thời cũng thả rộng tự do cho người viết trước sức ràng buộc của truyền thống nghệ thuật Việc xuất hiện truyện thơ nôm diễm tình vừa thể hiện
sự tiến bộ trong đời sống ý thức, tinh thần của cộng đồng dân tộc vừa mang ý nghĩa tiếp nhận văn hóa Sử dụng thể thơ lục bát uyển chuyển nhằm khắc phục biên giới ngôn ngữ vốn tồn tại khách quan, đem các giá trị đã được tạo ra ở các dân tộc khác, các ngôn ngữ dân tộc khác chuyển vào sử dụng trong cộng đồng dân tộc mình Sự xuất hiện truyện thơ nôm diễm tình trong nền văn học dân tộc chính là một loại dấu hiệu về ý thức độc lập dân tộc trong văn hóa Dẫu còn chưa được thấy những so sánh cụ thể về văn bản, chúng tôi vẫn tin rằng hoạt
động diễn nôm nói chung, nhóm truyện thơ nôm diễm tình nói riêng chính là
vùng thượng nguồn, nơi ra đời của văn học dịch, một bộ phận cấu thành quan trọng của văn học trung đại Việt Nam