CHẾ VĂN CHÁNH QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN VẬT LÝ THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC TẠI CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN TIỂU CẦN TỈNH TRÀ VINH Chuyên ngành: Quản
Mục tiêu, mục đích và phạm vi nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu: Đề ra những biện pháp quản lý hoạt động ĐMPPDH môn Vật lí tại các trường THPT huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh
- Mục đích nghiên cứu: Nâng cao hiệu quả quản lý, chất lượng dạy học môn Vật lí tại các trường THPT huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh
+ Giới hạn về thời gian: Khảo sát thực trạng QL hoạt động ĐMPPDH từ năm 2011 đến 2015; Đề ra biện pháp QL ĐMPPDH môn Vật lí từ năm
+ Giới hạn về qui mô: Nghiên cứu quản lý các trường THPT.
Giả thuyết khoa học
Nếu vận dụng một cách sáng tạo, linh hoạt, phù hợp các biện pháp như luận văn đã đề xuất thì sẽ nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác QL hoạt động ĐMPPDH môn Vật lí theo định hướng PTNL người học ở các trường THPT huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động ĐMPPDH môn Vật lí theo định hướng phát triển năng lực người học ở trường trung học phổ thông
- Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động ĐMPPDH môn Vật lí ở các trường THPT huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh
- Xây dựng các biện pháp quản lý hoạt động ĐMPPDH môn Vật lí theo định hướng PTNL người học tại các trường THPT huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh trước yêu cầu về đổi mới giáo dục phổ thông.
Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận: Phương pháp phân tích, tổng hợp các tài liệu, văn bản, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp điều tra, khảo sát, phỏng vấn, trao đổi, PP quan sát sư phạm, PP tổng kết kinh nghiệm
- Nhóm phương pháp xử lý thông tin: Phương pháp so sánh, phân tích tổng hợp số liệu, phương pháp xử lý bằng thống kê.
Những đóng góp mới của luận văn
- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn Vật lí và ĐMPPDH môn Vật lí theo định hướng PTNL người học; Góp phần làm phong phú cơ sở lý luận hoạt động ĐMPPDH môn Vật lí và quản lý hoạt động ĐMPPDH môn Vật lí
- Khái quát, đánh giá được thực trạng ĐMPPDH môn Vật lí, thực trạng quản lý hoạt động ĐMPPDH môn Vật lí ở các trường THPT huyện Tiểu Cần; Xác định nguyên nhân những kết quả đạt được và những tồn tại
- Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động ĐMPPDH môn Vật lí theo định hướng PTNL người học ở các trường THPT huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh trước yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông.
Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của công tác QL hoạt động ĐMPPDH môn Vật lý theo định hướng PTNL người học ở các trường THPT
Chương 2: Thực trạng QL hoạt động ĐMPPDH theo định hướng PTNL người học ở các trường THPT huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh
Chương 3: Các biện pháp QL hoạt động ĐMPPDH môn Vật lí theo định hướng PTNL người học ở các trường THPT huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh.
CƠ SỞ LÝ LUẬN QL HOẠT ĐỘNG ĐMPPDH MÔN VẬT LÍ THEO ĐỊNH HƯỚNG PTNL NGƯỜI HỌC Ở CÁC TRƯỜNG
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Ngay từ thời cổ đại, tư tưởng về PPDH và quản lý PPDH đã được thể hiện trong những quan điểm của nhiều nhà triết học đồng thời là nhà giáo dục Đức Khổng Tử (551-479 TCN) đã giúp học trò phát triển bằng cách khuyến khích sở trường và phê bình sở đoản, phương châm chính của dạy học là khởi phát (gợi mở) Socrates (469-399 TCN) đã đề xuất thực hiện phương pháp đàm thoại trong dạy học và được sử dụng đến thời nay
Nhà sư phạm vĩ đại J.A.Comenxki (1592-1670) đã đưa ra những yêu cầu cải tổ nền giáo dục theo hướng phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của người học Theo ông, dạy học thế nào để người học thích thú học tập và có những cố gắng bản thân để nắm lấy tri thức Ông nói: “Tôi thường bồi dưỡng cho HS của tôi tinh thần độc lập trong quan sát, trong đàm thoại và trong việc ứng dụng tri thức vào thực tiễn” Ông còn viết: “Giáo dục có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán đúng đắn, phát triển nhân cách… Hãy tìm ra phương pháp cho GV dạy ít hơn, HS học được nhiều hơn”
Trong cuốn “Phát huy tính tích cực của HS thế nào”, I.F.Kharlamốp đã khẳng định vai trò to lớn của tính tích cực, chủ động trong việc tiếp thu tri thức mới
Nhiều nhà giáo dục tiêu biểu xuất hiện ở cuối Thế kỷ 19 đầu Thế kỷ 20 như John Dewey, A.Macarenco, Jean Piaget, các nhà khoa học giáo dục của
Liên Xô, … cũng có quan điểm hướng đến sự tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học
Các vấn đề có liên quan đến ĐMPPDH và Quản lý ĐMPPDH cũng rất được quan tâm, đặc biệt sau năm 1986 (được coi là mốc của đổi mới tư duy)
- Nhiều tác giả có các công trình nghiên cứu về vấn đề này như: Phạm Minh Hạc, Nguyễn Kỳ, Trần Bá Hoành, Trần Kiều, Nguyễn Hữu Chí và một số các nhà giáo giàu kinh nghiệm cũng quan tâm đến vấn đề PPDH và phát triển lý luận dạy học chung vào thực tiễn dạy học ở Việt Nam như: Văn Như Cương, Tôn Thân…
- Về quản lý ĐMPPDH và quản lý chất lượng, hiệu quả dạy học phải kể đến các công trình nghiên cứu của: Quách Tuấn Ngọc; Trần Kiểm; Trần Kiều; Trần Bá Hoành luôn lấy người học làm trung tâm với ý tưởng cốt lõi là người học phải tích cực, chủ động, sáng tạo trong quá trình học tập Quan điểm này hoàn toàn phù hợp với tinh thần nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII về GD & ĐT đã yêu cầu: “Đổi mới mạnh mẽ PPDH, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học”
- Về đề tài nghiên cứu quản lý ĐMPPDH có các luận văn Thạc sĩ QLGD: + “Một số giải pháp quản lý hoạt động ĐMPPDH ở các trường THPT huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa – Tác giả Phạm Văn Học
+ “Biện pháp QL công tác ĐMPPDH các môn Khoa học Xã hội và Nhân văn ở trường THPT trên địa bàn tỉnh Kon Tum” – Tác giả Phan Anh Khánh
+ “Biện pháp quản lý ĐMPPDH ở các trường THPT miền núi tỉnh Quảng Ngãi” – Tác giả Nguyễn Công Hòa
+ “Quản lý hoạt động đổi mới phương pháp dạy học môn Sinh học ở Trường Trung học phổ thông Mê Linh, Hà Nội” – Tác giả Đào Anh Phượng
* Các đề tài trên đã nghiên cứu Quản lý hoạt động đổi mới PPDH các môn Sinh, Khoa học Xã hội và Nhân văn, và các môn khác, chưa nghiên cứu Quản lý hoạt động ĐMPPDH môn Vật lí theo định hướng phát triển năng lực người học
* Đề tài Luận văn này sẽ nghiên cứu Quản lý ĐMPPDH môn Vật lí theo định hướng phát triển năng lực người học.
CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI
Có nhiều quan niệm khác về quản lý, tùy quan điểm, tùy góc độ nghiên cứu Tuy có cách tiếp cận và diễn đạt khác nhau nhưng chúng ta có thể nhận thấy khái niệm quản lý bao hàm những ý nghĩa chung, đó là:
+ Quản lý là các hoạt động thực hiện nhằm đảm bảo hoàn thành công việc qua những nỗ lực của mọi người trong tổ chức
+ Quản lý là một hoạt động thiết yếu đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm
Có thể khái quát một cách chung nhất: Quản lý được hiểu là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung
Có thể khái quát QLGD là sự tác động có chủ đích, có căn cứ khoa học, hợp quy luật và phù hợp các điều kiện khách quan của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm phát huy sức mạnh các nguồn lực giáo dục, từ đó đảm bảo các hoạt động của tổ chức, hệ thống giáo dục đạt được các mục tiêu giáo dục đã đề ra với chất lượng, hiệu quả cao nhất a Chức năng của quản lý giáo dục
- Chức năng lập kế hoạch: Là quá trình thiết lập các mục tiêu của hệ thống các hoạt động và điều kiện đảm bảo thực hiện được các mục tiêu đó
- Chức năng tổ chức: Là quá trình sắp xếp và phân bổ công việc, quyền hành và quyền lực cho các thành viên của tổ chức để họ có thể hoạt động và đạt được mục tiêu của tổ chức một cách hiệu quả
- Chức năng chỉ đạo (lãnh đạo, điều khiển): Là quá trình tác động đến các thành viên của tổ chức làm họ nhiệt tình, tự giác, nỗ lực phấn đấu đạt được các mục tiêu của tổ chức Trong chỉ đạo chú ý sự kích thích động viên, thông tin hai chiều đảm bảo sự hợp tác trong thực tế
- Chức năng kiểm tra đánh giá: Là quá trình hoạt động của chủ thể quản lý nhằm đánh giá và xử lý những kết quả của quá trình vận hành tổ chức Xây dựng định mức và tiêu chuẩn, các chỉ số công việc, phương pháp đánh giá, rút kinh nghiệm và điều chỉnh b Các nguyên tắc quản lý
- Nguyên tắc đảm bảo tính Đảng: Đảng cộng sản Việt Nam là Đảng lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối, vì thế trong quản lý chúng ta phải thường xuyên bám sát vào các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, các chủ trương, chính sách và Pháp luật của Đảng và Nhà nước
- Nguyên tắc tập trung dân chủ: Đây là nguyên tắc quan trọng đảm bảo sự thành công trong công tác quản lý Tạo khả năng quản lý một cách khoa học, có sự kết hợp chặt chẽ của cơ quan quyền lực với sức mạnh sáng tạo của quảng đại quần chúng trong việc thực hiện mục tiêu quản lý Trong thực tiễn người quản lý phải biết kết hợp hài hoà giữa tập trung và dân chủ, tránh tập trung dẫn đến quan liêu, độc đoán Song cũng phải biết sử dụng quyền tập trung một cách đúng lúc, đúng chỗ, phải dám quyết đoán và dám chịu trách nhiệm
- Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học và thực tiễn: Nguyên tắc này đòi hỏi người quản lý phải nắm được quy luật phát triển của bộ máy, nắm vững quy luật tâm lý của quá trình quản lý, hiểu rõ thực tế địa phương, thực tế ngành mình đảm bảo hài hoà lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân, đảm bảo hiệu quả kinh tế, đảm bảo vai trò quần chúng tham gia quản lý với tinh thần: Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra
Quản lí nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới đạt mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng HS QLNT chính là sự tác động QL có chủ đích của Hiệu trưởng tới tất cả các yếu tố, các mối quan hệ chức năng, các nguồn lực nhằm đưa mọi hoạt động của nhà trường đạt đến mức phát triển cao nhất
1.2.4 Phương pháp dạy học a Định nghĩa: PPDH bao gồm phương pháp dạy và phương pháp học
Như vậy, PPDH là sự kết hợp hữu cơ, biện chứng giữa phương pháp dạy của
GV và phương pháp học của HS PPDH là thành tố quan trọng của quá trình dạy học, là tổng hợp cách thức của GV và của HS trong quá trình dạy học, được tiến hành dưới sự chỉ đạo của GV nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học
* Có nhiều định nghĩa khác nhau về PPDH, nhưng về cơ bản đó là cách làm việc của thầy và trò để đạt được mục đích dạy học b Đặc điểm của phương pháp dạy học
- PPDH là sự thống nhất của phương pháp dạy và phương pháp học; PPDH thực hiện thống nhất nội dung đào tạo và GD;
- PPDH là sự thống nhất của cách thức hành động và phương tiện DH
1.2.5 Đổi mới phương pháp dạy học
Hiện chưa có định nghĩa về đổi mới PPDH nhưng quan niệm đổi mới PPDH rất đa dạng thể hiện trên các mặt khác nhau sau đây: Đổi mới PPDH là GV phải là người tổ chức, chỉ đạo, điều khiển hoạt động học tập tự giác, chủ động và sáng tạo của HS, với tư cách là người tổ chức, chỉ đạo, điều khiển quá trình học tập của HS vận dụng linh hoạt các PPDH theo hướng tích cực
- Đổi mới PPDH chỉ có kết quả trong điều kiện đổi mới một cách toàn diện quá trình dạy học Quá trình dạy học được tạo thành từ các thành tố: mục đích, nội dung, Thầy và hoạt động dạy, Trò và hoạt động học, phương tiện và đánh giá Tất cả thành tố này tồn tại trong mối liên hệ hữu cơ chặt chẽ với nhau, trong đó mục đích quyết định đến nội dung và phương pháp, nội dung quyết định phương pháp, phương tiện; ngược lại PPDH có tác động đến mục đích và nội dung dạy học
1.2.6 Quản lý đổi mới phương pháp dạy học
ĐMPPDH MÔN VẬT LÝ THEO ĐỊNH HƯỚNG PTNL NGƯỜI HỌC Ở BẬC THPT
1.3.1 Lý luận về dạy học theo định hướng PTNL người học
Giáo dục định hướng phát triển năng lực nhằm mục tiêu phát triển năng lực người học Giáo dục định hướng PTNL nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp Chương trình này nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thể của quá trình nhận thức
Khác với chương trình định hướng nội dung, chương trình dạy học định hướng PTNL tập trung vào việc mô tả chất lượng đầu ra, có thể coi là “sản phẩm cuối cùng” của quá trình dạy học Việc QL chất lượng dạy học chuyển từ việc điều khiển “đầu vào” sang điều khiển “đầu ra”, tức là kết quả học tập của HS (Phụ lục 1.1)
Trong chương trình định hướng PTNL, mục tiêu học tập, tức là kết quả học tập mong muốn thường được mô tả thông qua hệ thống các năng lực Kết quả học tập mong muốn được mô tả chi tiết và có thể quan sát, đánh giá được HS cần đạt được những kết quả yêu cầu đã quy định trong chương trình Việc đưa ra các chuẩn đào tạo cũng là nhằm đảm bảo QL chất lượng GD theo định hướng kết quả đầu ra
1.3.2 Định hướng ĐMPPDH môn Vật lí trong bối cảnh hiện nay a Yêu cầu đặt ra
Sự phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh toàn cầu hoá đặt ra những yêu cầu mới đối với người lao động, do đó cũng đặt ra những yêu cầu mới cho sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ và đào tạo nguồn nhân lực Một trong những định hướng cơ bản của việc đổi mới giáo dục là chuyển từ nền giáo dục mang tính hàn lâm, kinh viện, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục chú trọng việc hình thành năng lực hành động, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học Định hướng quan trọng trong đổi mới PPDH là phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo, PTNL hành động, năng lực cộng tác làm việc của người học Đó cũng là những xu hướng quốc tế trong cải cách PPDH ở nhà trường phổ thông
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, PTNL Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học” b Nội dung ĐMPPDH nhằm phát triển năng lực của học sinh ĐMPPDH đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gì qua việc học Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện chuyển từ phương pháp dạy học theo lối "truyền thụ một chiều" sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất
1.3.3 Xây dựng và phát triển năng lực môn Vật lí cho học sinh a Xây dựng các năng lực chung Để hình thành và PTNL cần xác định nội dung, thành phần và cấu trúc của chúng Mức độ và chất lượng hoàn thành công việc sẽ phản ánh mức độ năng lực của người đó Cấu trúc chung của năng lực hành động được mô tả là sự kết hợp của 4 năng lực thành phần: Năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội, năng lực cá thể Tương ứng với 4 trụ cột về giáo dục theo UNESCO: Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống, học để tự khẳng định mình
- Năng lực chuyên môn: Là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn
- Năng lực phương pháp: Là khả năng hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ khác nhau Năng lực
PP bao gồm năng lực PP chung và PP chuyên môn
- Năng lực xã hội: Là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống giao tiếp ứng xử XH, cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau trong sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác Nó được tiếp nhận qua việc học giao tiếp
- Năng lực cá thể: Là khả năng xác định, đánh giá được những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân, phát triển năng khiếu, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, giới hạn cá nhân, những quan điểm, chuẩn mực đạo đức và động cơ chi phối thái độ, hành vi ứng xử
Từ cấu trúc của khái niệm năng lực cho thấy giáo dục định hướng PTNL không chỉ nhằm mục tiêu PTNL chuyên môn bao gồm tri thức, kĩ năng chuyên môn mà còn phát triển năng lực phương pháp, năng lực xã hội và năng lực cá thể Những năng lực này không tách rời nhau mà có mối quan hệ chặt chẽ Năng lực hành động được hình thành trên cơ sở có sự kết hợp các năng lực này b Xây dựng các năng lực chuyên biệt trong môn Vật lí
Dựa trên cơ sở những năng lực chung, người ta sẽ phát triển thành những năng lực chuyên biệt phù hợp với yêu cầu mục tiêu, nội dung kiến thức của từng môn học khác nhau Với đặc điểm là môn khoa học thực nghiệm, môn Vật lí sẽ có những năng lực chuyên biệt (Phụ lục 1.2)
1.3.4 Một số PPDH nhằm PTNL chuyên biệt Vật lí a PP dạy học theo góc (DHTG)
Học theo góc là một hình thức tổ chức hoạt động học tập theo đó người học thực hiện các nhiệm vụ khác nhau tại vị trí cụ thể trong không gian lớp học, đáp ứng nhiều phong cách học khác nhau, nhằm đạt được mục tiêu học sâu một nội dung hoặc một bài học Có 4 loại góc học tập trong DHTG là: góc Phân tích, góc Quan sát, góc Trải nghiệm và góc Áp dụng b Dạy học theo phương pháp LAMAP (Bàn tay nặn bột)
Phương pháp LAMAP là một PPDH tích cực dựa trên thí nghiệm nghiên cứu, áp dụng giảng dạy môn Vật lí và các môn khoa học tự nhiên khác
Chương trình LAMAP là sự quy trình hóa một cách logic PP dạy học, dẫn dắt học sinh đi từ chưa biết đến biết theo một PP mới mẻ là để HS tự đặt mình vào tình huống thực tế, tiếp xúc với hiện tượng, sau đó giúp các em khám phá bản chất vấn đề bằng cách tự mình tiến hành quan sát qua thực nghiệm c PP dạy học theo tiến trình nhận thức khoa học
PP dạy học theo tiến trình nhận thức khoa học là quá trình hoạt động học tập của học sinh cần có sự định hướng của giáo viên PP định hướng của giáo viên cho học sinh trong quá trình tổ chức hoạt động học tập đóng vai trò r ất quan trọng Trong quá trình học tập, học sinh phải tự lực hoạt động để giải quyết vấn đề, giáo viên phải theo dõi, kiểm soát được hoạt động học, để có thể định hướng hoạt động học một cách thích hợp d PP dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề
Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là PPDH đặt ra trước HS các vấn đề nhận thức có chứa đựng mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết, chuyển HS vào tình huống có vấn đề, kích thích họ tự lực, chủ động và có nhu cầu mong muốn giải quyết vấn đề đ PP dạy học theo dự án
QL ĐMPPDH MÔN VẬT LÍ THEO ĐỊNH HƯỚNG PTNL NGƯỜI HỌC TIẾP CẬN LÝ THUYẾT QLSTĐ Ở TRƯỜNG THPT
1.4.1 Mục tiêu QL ĐMPPDH môn Vật Lí trong bối cảnh hiện nay
UNESCO đưa ra bốn trụ cột về GD thế kỷ XXI: "Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống và học để tự khẳng định mình" Mục tiêu quản lý của CBQL trường THPT phải đáp ứng được các yêu cầu của nền GD nước nhà kể cả đòi hỏi về sự hòa nhập, sự chung sống của thế hệ trẻ trong tương lai Mục tiêu QL đổi mới PPDH nói chung và môn Vật lí nói riêng là một mục tiêu bộ phận trong hệ thống các mục tiêu nâng cao chất lượng GD-ĐT, là mục tiêu ưu tiên hàng đầu của nhà trường trong giai đoạn hiện nay, đó là phát huy sự nỗ lực của GV, HS và các lực lượng trong và ngoài nhà trường để tiến hành hiệu quả quá trình cải tiến, phối hợp nâng cao chất lượng của các PPDH đang sử dụng; áp dụng các PP ưu việt hơn, nhằm đạt mục tiêu dạy học trong giai đoạn mới, đem lại hiệu quả dạy học cao hơn Để công tác QL ĐMPPDH môn Vật lí theo định hướng PTNL người học đạt hiệu quả cao, người CBQL cần áp dụng lý thuyết QLSTĐ
1.4.2 Lý thuyết quản lý sự thay đổi a Khái niệm “Thay đổi”
Về định nghĩa của từ điển: Thay đổi là thay cái này bằng cái khác hay là sự đổi khác, trở nên khác trước Thay đổi là quá trình vận động do ảnh hưởng, tác động qua lại của sự vật, hiện tượng, của các yếu tố bên trong và bên ngoài b Khái niệm “Quản lý sự thay đổi”
Có thể khái quát chung nhất: QLSTĐ là kế hoạch hóa, điều hành và chỉ đạo triển khai sự thay đổi để đạt mục tiêu đề ra cho sự thay đổi c Mô hình quản lý sự thay đổi trong trường học: có nhiều mô hình, nhưng trong thực hiện ĐMPPDH ở nhà trường, thì mô hình phù hợp nhất là mô hình chủ yếu theo sát “quá trình” QLSTĐ và chia giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: Nhận diện trạng thái hiện hành của tổ chức
+ Giai đoạn 2: Mô tả trạng thái mong đợi của tổ chức Trong thực hiện ĐMPPDH môn Vật lí ở nhà trường, đó là giai đoạn triển khai công việc cần thiết đã lựa chọn (hoặc bồi dưỡng nâng cao nhận thức cho GV Vật lí về ĐMPPDH, giúp họ có kiến thức, kỹ năng cơ bản về các kỹ thuật DH tích cực;
Bổ sung cơ sở vật chất, cung cấp các điều kiện cần thiết cho việc ĐMPPDH)
+ Giai đoạn 3: Xây dựng kế hoạch hành động tiến tới trạng thái mong đợi, thống nhất những kết quả có khả năng đạt được; chọn bước đi cụ thể thích hợp để đạt được kết quả đó; hiện thực hóa kế hoạch hành động
Trong ĐMPPDH môn Vật lí, ở bước này chính là việc xem xét khẳng định những việc thực hiện được của GV, tuyên dương, khen thưởng GV thực hiện tốt, nhân điển hình, tiếp tục XD môi trường thuận lợi cho việc ĐMPPDH diễn ra liên tục d Quy trình quản lý sự thay đổi
- Bước 1: Nhận diện sự thay đổi - làm cho mọi người hiểu đúng mục đích, nội dung sự thay đổi, tránh nhiễu không cần thiết
- Bước 2: Chuẩn bị cho thay đổi - Chuẩn bị tâm thế cho bản thân và cho mọi người; chuẩn bị các điều kiện tối thiểu để triển khai sự thay đổi và lập
KH cho sự thay đổi diễn ra một cách hợp lí, hiệu quả, đạt được mục đích dự kiến
- Bước 3: Thu thập số liệu, dữ liệu Đây chính là phân tích "SWOT" (Mặt mạnh/Yếu của tổ chức; thời cơ/thách thức của bối cảnh)
- Bước 4 Tìm các yếu tố khích lệ, hỗ trợ “sự thay đổi”
- Bước 5: Xác định mục tiêu cụ thể cho các bước chỉ đạo sự thay đổi
- Bước 6: Xác định trọng tâm của các mục tiêu
- Bước 7: Xem xét các giải pháp
- Bước 8: Lựa chọn giải pháp
- Bước 9: Lập kế hoạch chỉ đạo việc thực hiện
- Bước 10: Đánh giá thay đổi
- Bước 11: Đảm bảo sự tiếp tục đổi mới e Các thành tố tạo ra sự thay đổi
Muốn có sự thay đổi trong bất cứ một lĩnh vực XH nào đều cần đến sự thay đổi đồng bộ 5 thành tố, gồm: Tầm nhìn, kỹ năng, sự động viên, nguồn lực và kế hoạch
* Tầm nhìn: Là ý tưởng tương lai của tổ chức có thể đạt được, thể hiện mong muốn của tổ chức và cộng đồng Tầm nhìn chỉ rõ quang cảnh hiện thực, tin cậy và hấp dẫn của tương lai tổ chức Tầm nhìn là mục tiêu vẫy gọi, nó chỉ ra cầu nối từ hiện tại tới tương lai
* Kỹ năng là năng lực hay khả năng của chủ thể thực hiện thuần thục một hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết (kiến thức hoặc kinh nghiệm) nhằm tạo ra kết quả mong đợi Đối với CBQL, GV khi bắt đầu tham gia thực hiện sự thay đổi, họ có những cảm nhận khác nhau về những mong đợi sự thay đổi, một số lại thấy đó là sự đe dọa và lo ngại mọi người thấy điểm yếu của mình Việc thay đổi đòi hỏi phải học kỹ năng mới, thái độ mới, hành vi mới và bỏ đi những kỹ năng, thái độ cũ, hành vi cũ, ở đây tất yếu nảy sinh lo lắng, thiếu niềm tin
* Động viên là những gì khiến người khác hành động hay cư xử theo cách của họ Khuynh hướng tự nhiên của con người là chống lại và thậm chí phẫn nộ trước những ý kiến không phải của mình, khuynh hướng này còn mạnh hơn nếu sự thay đổi là áp đặt đối với họ Thấu hiểu và nhạy cảm với những người bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi là điều quan trọng, người ta ngại thay đổi, phản đối sự thay đổi vì những nguyên nhân rất khác nhau, CBQL có thấu hiểu và nhạy cảm với họ mới có biện pháp động viên phù hợp, tạo nên động lực thúc đẩy mỗi người hoạt động tích cực, sáng tạo và hiệu quả Thiếu sự động viên dẫn đến cá nhân sẽ làm việc kiểu chống đối
Trong nhà trường, CBQL cần chú trọng đến sự động viên các thành viên tham gia vào sự thay đổi bằng con đường sau: Động viên khuyến khích thông qua thiết kế công việc: chọn người phù hợp với công việc; phân bổ công việc phù hợp với người Động viên khuyến khích thông qua khen thưởng: có nhiều hình thức khen thưởng khác nhau nhưng phải đảm bảo, thúc đẩy mọi người làm việc vì mục tiêu chung Động viên khuyến khích thông qua sự tham gia của các thành viên nhà trường: Phát huy dân chủ cơ sở, khuyến khích thành viên trong nhà trường ở mức độ khác nhau tham gia vào xây dựng mục tiêu, kế hoạch, giải quyết vấn đề, điều này làm cho mỗi thành viên cảm nhận được vai trò của mình đối với sự thay đổi của nhà trường từ đó sẽ làm việc hết sức để đạt mục tiêu chung
* Kế hoạch là toàn thể những việc dự định làm, gồm nhiều công tác sắp xếp có hệ thống, qui vào một mục đích nhất định và thực hiện trong một thời gian tính trước CBQL cần chỉ đạo xây dựng kế hoạch trước khi đi vào hoạt động; Mục tiêu và kế hoạch chi tiết rõ ràng, sát thực tế sẽ tốt cho việc thực hiện sự thay đổi, làm cho làm cho quá trình thay đổi được kiểm soát; Kế hoạch phải tính đến sự kháng cự, đối lập; Mục tiêu kế hoạch phải gắn kết mọi người; Mục tiêu phải động viên, khuyến khích mọi người hành động
* Nguồn lực là khả năng cung cấp yếu tố cần thiết cho quá trình tồn tại và phát triển tổ chức Theo phân loại, có nguồn lực hữu hình và nguồn lực vô hình Nguồn lực hữu hình trong nhà trường phổ thông, gồm: nhân lực; vật lực; tài lực Nguồn lực vô hình, trong đó có hình ảnh và danh tiếng, chuẩn đạo đức, chuẩn kỷ luật, mối quan hệ và ủng hộ từ bên ngoài
Các thành tố trên có mối quan hệ hữu cơ, ảnh hưởng và tác động lẫn nhau Nếu có sự thiếu hụt một trong 5 thành tố sẽ dẫn đến những hậu quả nhất định QL sự thay đổi trong GD lấy sự “cân bằng động” các thành tố tạo ra sự thay đổi làm điểm tựa và có tính lộ trình là một đặc điểm quan trọng của QL sự thay đổi HT khởi xướng một sự thay đổi nào đó trong nhà trường, cần xác định rõ các thành tố có đảm bảo cho sự thay đổi hay không f Vai trò của chủ thể quản lý trong QLSTĐ
Là người cổ vũ, “xúc tác” kích thích sự thay đổi: Người QL là người khởi xướng hay tạo ra sự thay đổi
THỰC TRẠNG QL ĐMPPDH MÔN VẬT LÍ THEO ĐỊNH HƯỚNG PTNL NGƯỜI HỌC Ở CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN TIỂU CẦN
MÔ TẢ QUÁ TRÌNH KHẢO SÁT
Làm rõ thực trạng quản lý ĐMPPDH môn Vật lý theo định hướng PTNL người học ở các trường THPT huyện Tiểu Cần là cơ sở khoa học cho việc nhận định, đánh giá đúng đắn khách quan thực trạng về công tác quản lý ĐMPPDH hiện nay tại các trường THPT huyện Tiểu Cần Nó cũng là cơ sở để kiến nghị, đề xuất các biện pháp, các giải pháp có tính khả thi nhằm góp phần làm cho công tác quản lý ĐMPPDH môn Vật lý theo định hướng PTNL người học ở các trường THPT huyện Tiểu Cần đi vào nề nếp, đạt hiệu quả như mong muốn
2.1.2 Nội dung khảo sát a Thực trạng ĐMPPDH môn Vật lí theo định hướng PTNL người học
Nhận thức của GV Vật lí và HS về vai trò của hoạt động dạy và hoạt động học tập môn Vật lí; Thực trạng về kỹ năng tự học của HS; Thực trạng về PPDH của GV Vật lí theo định hướng PTNL người học b Thực trạng QL ĐMPPDH môn Vật lý theo định hướng PTNL người học tiếp cận lý thuyết QLSTĐ
Nhận thức về công tác thay đổi và QLSTĐ của đội ngũ GV và CBQL; Thực trạng công tác QLSTĐ ứng dụng vào QL ĐMPPDH môn Vật lí theo định hướng PTNL người học
- Phỏng vấn trực tiếp, phương pháp này chủ yếu áp dụng đối với CBQL,
GV ở các trường THPT huyện Tiểu Cần
- Sử dụng bảng hỏi (phiếu trưng cầu ý kiến), áp dụng để điều tra CBQL,
- Ngoài ra trong quá trình thu nhận và tập hợp thông tin tác giả còn sử dụng một số phương pháp khác như: Phương pháp quan sát sư phạm, phương pháp tổng kết kinh nghiệm quản lý giáo dục, phương pháp so sánh, phân tích tổng hợp số liệu, phương pháp xử lý bằng thống kê, …
2.1.4 Tổ chức khảo sát a Đối tượng khảo sát: CBQL, GV và HS các trường THPT huyện Tiểu
Cần trong năm học 2015-2016 b Tiến hành khảo sát
- Để tiến hành điều tra gián tiếp bằng bảng hỏi, tác giả tiến hành chọn mẫu điều tra đại diện Cụ thể trong 3 trường THPT, tác giả chọn tất cả 10 CBQL (gồm Hiệu trưởng, Phó HT, Tổ trưởng CM tổ Vật lý) và 18 GV môn Vật lí, chọn 330/1962 học sinh
- Qua phỏng vấn nhiều CBQL, GV, HS của các trường THPT, sau khi tổng hợp tác giả đã có cơ sở khoa học và khái quát về thực trạng công tác quản lý, QLSTĐ và QL ĐMPPDH môn Vật lí theo định hướng PTNL người học tại các trường THPT huyện Tiểu Cần trong nhiều năm học trở lại đây
- Tác giả đã phát ra 358 phiếu trưng cầu và thu về 358 phiếu (100%) Sau khi nhận được phiếu điều tra, tác giả tiến hành thống kê tổng hợp, phân tích thông tin và các số liệu thu nhận được thành các bảng, biểu để thuận lợi cho việc so sánh, đối chiếu nhận xét Kết quả điều tra và phân tích, nhận xét tác giả sẽ đưa vào các tiểu mục và các mục tương ứng trong luận văn c Thời gian khảo sát: từ ngày 01/02/2016 đến ngày 30/3/2016.
KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
2.2.1 Khái quát tình hình phát triển KT - XH của huyện Tiểu Cần
Huyện Tiểu Cần nằm về phía Tây của tỉnh Trà Vinh, cách trung tâm tỉnh lỵ 24 km theo Quốc lộ 60, thuộc tả ngạn sông Hậu
Toàn huyện có 09 xã, 02 thị trấn, với 114.918 người dân, 24.118 hộ, trong đó có 8.228 hộ đồng bào Khmer, chiếm gần 34,12% so với hộ dân trong huyện Các xã, thị trấn của huyện phần lớn đều nằm trên tuyến Quốc lộ 60, 54 Tỉnh lộ 912 cùng các hương lộ và đường trung tâm vào xã Nhìn chung, huyện Tiểu Cần có vị trí khá thuận lợi trong việc giao lưu phát triển kinh tế - xã hội với các địa phương khác trong và ngoài tỉnh
Huyện Tiểu Cần có địa hình tương đối bằng phẳng, ngoài những giồng cát có địa hình cao đặc trưng trên 1,6 m và khu vực ven sông Hậu, Cần Chông cao 1,0m, còn lại phần lớn diện tích đất trong huyện có cao trình bình quân phổ biến từ 0,4 - 1,0m Địa hình có hướng thấp dần về phía Đông
Nhìn chung, địa hình thích hợp cho canh tác lúa, hoa màu và cây lâu năm (cây Dừa) Tuy nhiên, ở khu vực gò thường thiếu nước canh tác trong mùa khô, có thể bố trí luân canh lúa màu và một số khu vực trũng thấp có điều kiện trao đổi nước rất thích hợp canh tác lúa kết hợp nuôi trồng thủy sản Kinh tế huyện Tiểu Cần vẫn còn chậm phát triển Tính tự phát, manh mún trong sản xuất, chăn nuôi còn phổ biến; Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ còn sơ khai; Hệ thống hạ tầng KT-XH còn yếu kém Người dân sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa (trên 70% dân số), đời sống của nhân dân trong vùng còn thấp so với các vùng khác trong tỉnh Trình độ dân trí thấp, điều kiện phát triển giáo dục, y tế khó khăn, HS bỏ học còn nhiều, … Văn hóa - Xã hội: Là huyện có các dân tộc Kinh, Khơ me, Hoa sinh sống, có nền văn hoá cổ truyền đa dạng, phong phú, đặc trưng cho bản sắc văn hoá các dân tộc, nhiều nét văn hóa truyền thống được lưu trữ và phát triển như: Thờ cúng Ông Bà, Lễ hội múa Lân, Tết cổ truyền của người Kinh, Hoa; lễ hội Ok-om-bok, Cholchnamthmay của Người Khơ me, … Những lễ hội truyền thống tiêu biểu của các dân tộc càng thắt chặt thêm tinh thần đoàn kết, yêu quê hương, đất nước của nhân dân các dân tộc trong huyện, góp phần lưu trữ và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc độc đáo cho huyện và cho đất nước
2.2.2 Tình hình phát triển các trường THPT huyện Tiểu Cần a Quy mô trường lớp
- Huyện Tiểu Cần có 3 trường THPT: Tiểu Cần, Cầu Quan, Hiếu Tử
- Số liệu về Cán bộ, Giáo viên, Nhân viên và Học sinh như sau:
Bảng 2.1 Số liệu về CB, GV, Nhân viên và HS trường THPT Tiểu Cần
(Nguồn do trường THPT Tiểu Cần cung cấp)
Bảng 2.2 Số liệu về CB, GV, Nhân viên và HS trường THPT Cầu Quan
(Nguồn do trường THPT Cầu Quan cung cấp)
Bảng 2.3 Số liệu về CB, GV, Nhân viên và HS trường THPT Hiếu Tử
(Nguồn do trường THPT Hiếu Tử cung cấp) Qua số liệu cho thấy số học sinh tăng hằng năm, do đó gây áp lực lên Lãnh đạo địa phương cũng như Sở Giáo dục cần phải xây dựng cơ sở vật chất đủ về số lượng và chất lượng Trong những năm gần đây với nhiều cố gắng của ngành GD&ĐT cộng với sự quan tâm đầu tư của Nhà nước về xây dựng cơ sở hạ tầng, cung cấp trang thiết bị dạy học, cơ sở vật chất GD&ĐT của tỉnh đã có bước phát triển mới, đáp ứng tốt nhu cầu học tập của HS trong địa bàn, nhất là công tác đổi mới PPDH ở các cơ sở giáo dục b Chất lượng giáo dục
Chất lượng GD toàn diện của học sinh các trường THPT Tiểu Cần trong những năm học qua được giữ ổn định, tỷ lệ HS tốt nghiệp hàng năm đạt xấp xỉ 98%; Tỷ lệ đậu Đại học, Cao đẳng khoảng 40%; Kết quả học tập cuối năm chưa cao, số HS khá giỏi chưa nhiều, số HS đạt giải trong các kỳ thi còn ít Nhìn chung, chất lượng học tập của HS của huyện Tiểu Cần còn thấp so với chất lượng học tập của HS các trường THPT trọng điểm của tỉnh Trà Vinh
Về mặt đạo đức, hầu hết HS các trường trong huyện Tiểu Cần đều ngoan, có nề nếp nên chất lượng đạo đức tương đối ổn định, tỷ lệ HS đạt đạo đức khá, tốt chiếm tỷ lệ lớn c Tình hình CBQL và GV Vật lí các trường THPT huyện Tiểu Cần
- Nhìn chung, đội ngũ CBQL của các trường đạt chuẩn và trên chuẩn về chất lượng, đều là Đảng viên Về trình độ chuyên môn có 100% đạt ở trình độ đại học Đa số CBQL đều có kinh nghiệm trên 5 năm về quản lý, đây là lực lượng tương đối ổn định, đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm và thành thạo trong công tác quản lý, thực sự là lực lượng nòng cốt, đầu đàn; 30% có trình độ lý luận trung cấp
- Đội ngũ GV Vật lý đa số có tuổi đời và tuổi nghề khá trẻ, năng động nhiệt tình, dễ thích nghi với cái mới, yêu nghề, đoàn kết, ham học hỏi có ý thức phấn đấu vươn lên trong công tác giảng dạy cũng như trong công tác khác, có phẩm chất tốt, lập trường tư tưởng vững vàng Nhiều GV có kiến thức vững chắc, PP giảng dạy tốt 100% GV đạt chuẩn (trình độ Đại học) d Cơ s vật chất của các trường THPT huyện Tiểu Cần
Trong các năm học gần đây, các trường đã mua sắm, sửa chữa Thiết bị phục vụ dạy học môn Vật lý, nhưng số lượng còn thiếu, chất lượng các thiết bị còn yếu, đặc biệt là chưa có phòng học bộ môn Vật lí.
THỰC TRẠNG ĐMPPDH MÔN VẬT LÍ THEO ĐỊNH HƯỚNG PTNL NGƯỜI HỌC TẠI CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN TIỂU CẦN
Để xác định được thực trạng về ĐMPPDH Vật lí của Tổ chuyên môn Vật lí, tác giả đã dùng phương pháp quan sát (dự họp tổ chuyên môn, nghiên cứu hồ sơ) đối với các trường THPT huyện Tiểu Cần Kết quả cho thấy:
Tổ chuyên môn Vật lí đã lập được kế hoạch hoạt động từng tháng, từng kỳ và kế hoạch năm học, trong kế hoạch đã có đề cập đến việc ĐMPPDH môn Vật lí, khâu kiểm tra - đánh giá theo định hướng PTNL người học được tập huấn từ Sở GD&ĐT, đã triển khai nhiều năm nên khá bài bản, xây dựng ma trận hợp lý, mức độ tương đối phù hợp với đối tượng học sinh Tuy nhiên kế hoạch thiếu sự sâu sát và cụ thể, thiếu tính đồng bộ giữa các nhà trường trong địa bàn hoặc thiếu đồng bộ ngay ở các GV trong tổ chuyên môn Vật lí trong một nhà trường Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình, Tổ chuyên môn Vật lí còn nặng về hình thức quản lý hành chính, chưa phát huy được nội lực của các thành viên trong tổ, còn thụ động theo kế hoạch định sẵn của nhà trường Nhìn chung Tổ chuyên môn Vật lí mới dừng lại ở tính hình thức nặng về đối phó; Nội dung sinh hoạt tổ chuyên môn còn nghèo nàn, mang nặng tính hành chính, chưa mang màu sắc chuyên môn
2.3.2 Thực trạng về phương pháp dạy của GV Vật lý theo định hướng PTNL người học Để xác định được thực trạng về ĐMPPDH Vật lí theo định hướng PTNL người học hiện nay, tác giả đã dùng phương pháp điều tra (phát phiếu hỏi và phiếu xin ý kiến) đối với 18 GV ở các trường THPT huyện Tiểu Cần, kết quả như sau:
Bảng 2.4 Thực trạng về sử dụng PPDH môn Vật lí theo định hướng PTNL người học của GV Vật lí
TT Thực trạng về sử dụng PPDH môn Vật lí theo định hướng PTNL người học của GV Vật lí
Thường xuyên Đôi khi Không rất ít
1 GV sử dụng những câu hỏi gây tò mò hơn là chỉ cung cấp dữ liệu
2 GV tận dụng khả năng sáng tạo và biểu đạt của học sinh
3 GV thường xuyên thay đổi hoạt động của HS 9 50,0 5 27,8 4 22,2
TT Thực trạng về sử dụng PPDH môn Vật lí theo định hướng PTNL người học của GV Vật lí
Thường xuyên Đôi khi Không rất ít
4 GV thường xuyên xem xét các công việc của HS để tìm hiểu mức độ học của HS
5 GV Biểu dương những thành công của HS dù là nhỏ nhất
6 GV đặt ra mục tiêu học cho
7 GV Kích thích tư duy và hứng thú học tập của HS
8 HS được GV khuyến khích học tập, tự do đặt câu hỏi
9 GV sử dụng các PPDH tích cực đặc thù của môn Vật lí 2 11,1 3 16,7 13 72,2
Qua phiếu điều tra và tổng hợp các nội dung, tác giả nhận thấy đa số GV thường xuyên thực hiện một số biện pháp và kết quả về việc áp dụng các biện pháp để PTNL học tập của HS tại các trường THPT huyện Tiểu Cần
Về mặt tạo hứng thú (nội dung khảo sát thứ 7 trong bảng), dù có 83%
GV thường xuyên quan tâm tới việc động viên HS trong học tập, nhưng trong thực tế các biện pháp để PTNL tự học trong dạy học còn thấp Tỉ lệ GV quan tâm đến phát huy tính tích cực của HS trong học tập tương đối cao nhưng nhiều GV còn sử dụng những câu hỏi không gây tò mò cho HS, mặt khác chưa khuyến khích HS hoạt động bằng cách biểu dương HS khi HS thành công GV áp dụng các PPDH tích cực đặc thù của môn Vật lí với tỉ lệ rất thấp và Xtb 1,39 , … Những hạn chế này cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng chất lượng học tập môn Vật lí của HS còn thấp
Bảng 2.5 Thực trạng định hướng của GV cho hoạt động học tập của
Thực trạng định hướng của
GV cho hoạt động học tập của Học sinh
Thường xuyên Đôi khi Không, rất ít
1 Thông báo trước nội dung cần học cho học sinh 13 72,2 5 27,8 0 0,0 2,72
2 Hướng dẫn cho học sinh nội dung cần học, cần nghiên cứu 12 66,7 4 22,2 2 11,1 2,56
3 Hướng dẫn cho học sinh kỹ năng tự kiểm tra
- Qua số liệu điều tra cho thấy đa số GV chưa thường xuyên rèn luyện cho HS các kỹ năng học tập tích cực; số GV thường xuyên sử dụng các thủ pháp dạy học tích cực, hướng dẫn cho HS đọc trước nội dung sẽ học, hướng dẫn HS tự học, tự nghiên cứu, tự kiểm tra chiếm tỷ lệ còn thấp (22,2%) Điều đó chứng tỏ việc sử dụng các PPDH tích cực, giúp HS biết tự học trong các trường THPT trên địa bàn huyện Tiểu Cần chưa được quan tâm đúng mức
* Nhận xét thực trạng về PPDH môn Vật lí của GV ở các trường THPT:
- Hoạt động về ĐMPPDH chưa mang lại hiệu quả cao Truyền thụ tri thức một chiều vẫn là PPDH chủ đạo của nhiều GV; Số GV thường xuyên chủ động, sáng tạo trong việc sử dụng các PPDH phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh còn chưa nhiều Dạy học vẫn còn nặng về truyền thụ lý thuyết Việc rèn luyện kỹ năng sống, kỹ năng giải quyết các tình huống thực tiễn cho học sinh thông qua khả năng vận dụng tri thức tổng hợp chưa thực sự quan tâm
Việc ứng dụng CNTT - Truyền thông, sử dụng các phương tiện dạy học chưa được thực hiện rộng rãi và hiệu quả trong các trường THPT
- Chính sự nhận thức chưa thật đầy đủ và chưa thấy hết sự cấp thiết về ĐMPPDH theo định hướng PTNL người học nên GV chưa thực sự đầu tư nghiên cứu tìm hiểu và vận dụng vào trong dạy học hoặc rơi vào sự lúng túng trong thực hiện ĐMPPDH theo định hướng PTNL người học, chưa quan tâm tới việc giúp HS tự mình phát hiện, khám phá, đi đến kết luận
- Chưa đặt vấn đề tự học vào đúng vị trí của nó nên không chú ý đến hình thành các kỹ năng cơ bản cho HS, đó là kỹ năng tự học và kỹ năng hợp tác với người khác, điều này có ảnh hưởng đến chất lượng học tập của HS Đây là điểm khó khăn trong chỉ đạo thực hiện trong ĐMPPDH theo định hướng PTNL người học, bởi người dạy cần nhận thức đúng, hiểu biết đúng về ĐMPPDH theo định hướng PTNL người học để từ đó vận dụng vào thực tế giảng dạy có hiệu quả Và phải làm như thế nào để HS biết cách tự học, biết tìm ra kiến thức bằng hoạt động của chính mình và có năng lực tự thể hiện mình, năng lực hợp tác với nhau, tự kiểm tra, tự đánh giá, tự điều chỉnh
- Trong thực tế dạy và học hiện nay, bên cạnh những thuận lợi cơ bản ở trên, những khó khăn cũng không phải là nhỏ, đặc biệt là thái độ học tập, động cơ học tập của HS là khó khăn thách thức trong ĐMPPDH theo định hướng PTNL người học Để có những con người hoàn toàn chủ động trong học tập và học tập một cách tự giác, chủ động tìm tòi khám phá kiến thức, là một trong những việc làm không hề dễ dàng, đòi hỏi CBQL, GV giảng dạy cần phải có những biện pháp đồng bộ nhằm tạo được hiệu quả trong dạy học nói chung, ĐMPPDH theo định hướng PTNL người học nói riêng
2.3.3 Thực trạng về phương pháp học môn Vật lý của Học sinh
Yêu cầu cao của ĐMPPDH môn Vật lí theo định hướng PTNL người học là hình thành cho HS năng lực, kỹ năng tự học và kỹ năng hợp tác với người khác Để có được những kỹ năng đó, GV chính là người tổ chức, hướng dẫn để HS có thể phát huy toàn diện những kỹ năng cơ bản này
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu đề tài, tác giả đã điều tra khảo sát sơ bộ ở các trường THPT huyện Tiểu Cần bằng phương pháp phát phiếu điều tra, phiếu xin ý kiến, phỏng vấn GV và HS, dự giờ, thăm lớp để biết được thực trạng tình hình học tập của HS
* Về mục đích và động cơ học tập
Qua điều tra 330 HS của các trường THPT huyện Tiểu cần, kết quả:
Bảng 2.6 Thực trạng nhận thức của Học sinh về vai trò học tập
Thực trạng nhận thức của
Học sinh về vai trò học tập
Mức độ thực hiện Rất đồng ý Đồng ý Băn khoăn
1 Học là để thi và kiểm tra đạt kết quả cao 293 88,8 37 11,2 0 0,0
Học là để ghi nhớ tài liệu và nắm kiến thức có hệ thống 171 51,8 159 48,2 0 0,0
Học là để vận dụng kiến thức đã học vào giải các bài tập và vận dụng vào thực tiễn
4 Học để làm phong phú thêm hiểu biết cho mình 46 13,9 122 37,0 162 49,1
Những số liệu trên cho thấy, phần lớn HS vẫn chưa hiểu rõ mục đích của việc học Đa số cho rằng học là để đối phó với các kỳ thi, kiểm tra của Thầy, chưa thấy được sự học có vai trò quan trọng trong việc ghi nhớ, tái hiện, nắm kiến thức có hệ thống Số HS nhận thức học là biện pháp quan trọng nhất làm phong phú thêm hiểu biết cho mình là thấp chỉ có 13,9% Số băn khoăn và không xác định được động cơ học tập khá cao chiếm tới 49,1% Đây là biểu hiện của việc lúng túng, không xác định được mục đích, động cơ học tập đúng đắn của HS, là hạn chế lớn nhất trong thực hiện công tác ĐMPPDH theo định hướng PTNL người học tại các trường học hiện nay
* Về các kỹ năng học tập:
Bảng 2.7 Thực trạng về kỹ năng tự học của học sinh
TT Thực trạng về kỹ năng tự học của học sinh
Mức độ thực hiện Thường xuyên
1 Học sinh tự xây dựng cho mình kế hoạch hàng ngày 112 33,9 138 41,8 80 24,2
2 Học sinh tự xác định tiến độ học tập theo kế hoạch
3 Học sinh lựa chọn và xây dựng phương pháp học tập cho mình 102 30,9 135 40,9 93 28,2
4 Học sinh tự điều chỉnh, bổ sung kế hoạch học tập 43 13,0 109 33,0 178 53,9
5 Học sinh tự đánh giá, rút kinh nghiệm về thực hiện kế hoạch học tập 59 17,9 96 29,1 175 53,0 Qua số liệu trên cho thấy:
- Có 24,2% HS ở Nội dung 1 không tự xây dựng cho mình kế hoạch học tập hàng ngày, hầu hết là các em thực hiện theo kế hoạch học tập do Thầy, Cô và nhà trường đặt ra; có 25,2% HS ở Nội dung 2 không tự xác định tiến độ học tập theo kế hoạch; có 28,2% HS ở Nội dung 3 không lựa chọn và xây dựng phương pháp học tập cho mình; có 53,9% HS ở Nội dung 4 không có sự tự điều chỉnh, bổ sung kế hoạch học tập; có 53,0% HS ở nội dung 5 không tự đánh giá, rút kinh nghiệm về thực hiện kế hoạch tự học
- HS chưa quan tâm và chưa thấy rõ vai trò của lập và thực hiện kế hoạch học tập của cá nhân, chỉ có nội dung 1 được HS quan tâm nhiều nhất là kế hoạch học tập hàng ngày là 33,9%, tuy nhiên vẫn ở mức độ thấp Kết hợp phiếu hỏi và phỏng vấn 28 CBQL và GV Vật lí của các trường THPT huyện Tiểu Cần về vấn đề tự học của HS, các Thầy Cô giáo đều có ý kiến chung: + HS bị lệ thuộc lớn vào kế hoạch học tập của Thầy, Cô giáo và nhà trường đề ra
THỰC TRẠNG QL ĐMPPDH MÔN VẬT LÍ THEO ĐỊNH HƯỚNG
2.4.1 Thực trạng công tác tổ chức nâng cao nhận thức cho các đối tƣợng về vị trí, tầm quan trọng của ĐMPPDH môn Vật lí theo định hướng PTNL người học
Kết quả khảo sát 28 người về việc nhận thức trong GV Vật lí và CBQL về ĐMPPDH môn Vật lí theo định hướng PTNL người học ở các trường THPT huyện Tiểu Cần như sau:
Bảng 2.8 Thực trạng nhận thức trong GV Vật lí và CBQL về ĐMPPDH môn
Vật lí theo định hướng PTNL người học
Cần thiết 6 21,4% Ít cần thiết 4 14,3%
Qua số liệu cho thấy tỷ lệ nhận thức của CBQL, GV Vật lí về sự cần thiết và tầm quan trọng của việc ĐMPPDH môn Vật lí theo định hướng PTNL người học là cao, chiếm 50% Việc ĐMPPDH môn Vật lí theo định hướng PTNL người học đã trở thành nhiệm vụ quan trọng của các trường THPT, là nhân tố chính thúc đẩy chất lượng giáo dục phát triển Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận không nhỏ GV chưa hiểu rõ cũng như ngại thực hiện ĐMPPDH môn Vật lí theo định hướng PTNL người học với tỷ lệ 21,4% cho rằng hoạt động này là ít cần thiết Mặt khác khi khảo sát họ đánh giá là cần thiết, nhưng qua điều tra, khảo sát thì họ lại rất lúng túng và không thường xuyên thực hiện các yêu cầu nội dung của công tác ĐMPPDH môn Vật lí theo định hướng PTNL người học trong giảng dạy Phải chăng là công tác chỉ đạo ĐMPPDH môn Vật lí theo định hướng PTNL người học hiện nay ở các đơn vị trường học còn nhiều hạn chế, bất cập, hay do nguyên nhân nào khác ? Do đó, việc tìm hiểu rõ nguyên nhân của những hạn chế trong quản lý hoạt động ĐMPPDH môn Vật lí theo định hướng PTNL người học là cần thiết nhằm quán triệt nhất quán trong CBQL và
GV Vật lí thực hiện tốt việc ĐMPPDH môn Vật lí theo định hướng PTNL người học góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của trường THPT
2.4.2 Thực trạng chuẩn bị cho ĐMPPDH môn Vật lí theo định hướng PTNL người học a Chuẩn bị tâm thế cho bản thân CBQL và cho mọi người về khả năng đón nhận ĐMPPDH môn Vật lí theo định hướng PTNL người học
- Hiệu trưởng các trường THPT đã tổ chức cho CBQL học tập rèn luyện nâng cao kỹ năng QLSTĐ, xây dựng quy trình QL đảm bảo khách quan, hệ thống, khoa học, đồng thời có trách nhiệm truyền đạt tầm nhìn, tổ chức cho CBQL học tập phát triển và rèn luyện kỹ năng QL ĐMPPDH môn Vật lí theo định hướng PTNL người học Tuy nhiên, Hiệu trưởng thực hiện công tác này ở thời gian đầu năm học mà không làm thường xuyên, nên chưa làm cho GV giảm thiểu sự băn khoăn, lo sợ, tạo dựng niềm tin quyết tâm thực hiện ĐMPPDH môn Vật lí theo định hướng PTNL người học
- Công tác quán triệt và tuyên truyền của Hiệu trưởng nhằm nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ giáo viên về vị trí, tầm quan trọng của ĐMPPDH môn Vật lí theo định hướng PTNL người học đã được đưa vào kế hoạch năm học hàng năm Trong năm học chủ yếu giao phó cho tổ chuyên môn, chưa có sự phối kết hợp giữa ban giám hiệu với tổ trưởng trong kiểm tra về hồ sơ sổ sách của giáo viên Một số cán bộ quản lý vẫn còn lờ mờ trong nhận thức, do đó triển khai đến giáo viên thiếu sự thường xuyên, chu đáo
- Mặc dù đã được chỉ dẫn, quán triệt rất nhiều lần ở các hội nghị, các đợt tập huấn, bồi dưỡng nhưng có một bộ phận CBQL và GV, nhất là những người lớn tuổi, vẫn còn thể hiện rõ sự bảo thủ, trì trệ, hạn chế nhiều trong nhận thức Họ suy nghĩ rằng: “Những phương pháp dạy học mới có gì đâu, cũng thế thôi Ta cứ dạy phương pháp truyền thống mà đạt hiệu quả, học sinh hiểu bài và thi đậu cao là được” Nhận thức, suy nghĩ đơn giản như vậy ảnh hưởng, tác động tiêu cực đến những GV luôn cầu tiến, muốn tiếp cận và khát khao đổi mới cách thức dạy học để thu hút, hấp dẫn học sinh b CBQL chuẩn bị các điều kiện tối thiểu để triển khai ĐMPPDH môn Vật lí theo định hướng PTNL người học
- Công tác tập huấn về ĐMPPDH môn Vật lí theo định hướng PTNL người học đã được Bộ Giáo dục triển khai từ năm 2014, nhưng đến nay những
Tổ trưởng chuyên môn Vật lí sau khi tập huấn về trường chỉ triển khai theo yêu cầu của Sở Giáo dục, chưa thực hiện sâu sát, có hiệu quả đến các GV Vật lí
- Cơ sở vật chất phục vụ dạy học: Ngay từ đầu các năm học, các trường đã trang bị được các thiết bị chuẩn trong các phòng học bộ môn, trang bị phòng máy tính, máy chiếu Projecter, đã phát huy tốt hiệu quả trong việc dạy theo phương pháp mới
- Tuy nhiên bên cạnh những chuyển biến tích cực đó, một số trường còn gặp nhiều khó khăn về cơ sở vật chất phục vụ dạy học như: chưa có phòng học bộ môn Vật lí, dụng cụ thí nghiệm thực hành môn Vật lí còn thiếu và chất lượng thấp; Các phòng học đã xây dựng đã trên mười năm nên không còn đảm bảo điều kiện, tiêu chuẩn để học tập và giảng dạy theo phương pháp mới c CBQL lập kế hoạch ĐMPPDH môn Vật lí theo định hướng PTNL người học: Kết quả khảo sát (tổng số khảo sát là 28 người) việc lập kế hoạch của CBQL về ĐMPPDH môn Vật lí theo định hướng PTNL người học ở các THPT huyện Tiểu Cần như sau:
* Qua bảng khảo sát sau cho thấy:
- Với kết quả khảo sát ở ND1 với X tb = 2,46 ta thấy CBQL các trường đã chưa chủ động xây dựng kế hoạch ĐMPPDH môn Vật lí
- Đánh giá chung các nội dung còn lại ta thấy mức độ thực hiện các nội dung đã được thực hiện tốt, như công tác tổ chức thăm lớp dự giờ; sinh hoạt chuyên môn; sinh hoạt chuyên đề, Tuy nhiên, các nội dung 7, nội dung 8 về tham quan các đơn vị điển hình và tổ chức báo cáo sáng kiến kinh nghiệm vẫn còn thấp, chỉ đạt X tb = 2,21 Điều này cho thấy các trường chưa phát huy được hết khả năng, năng lực của GV trong thực hiện nhiệm vụ
Bảng 2.9 Thực trạng việc lập kế hoạch của CBQL về ĐMPPDH môn Vật lí theo định hướng PTNL người học
CBQL thực hiện lập kế hoạch
QL ĐMPPDH môn Vật lí theo định hướng PTNL người học
Mức độ, hiệu quả đạt đƣợc X
1 Xây dựng kế hoạch đổi mới
Tập huấn nâng cao năng lực cho GV Vật lí về PPDH định hướng PTNL người học
4 Tổ chức sinh hoạt chuyên đề môn Vật lí
5 Tổ chức thăm lớp, dự giờ của
CBQL thực hiện lập kế hoạch
QL ĐMPPDH môn Vật lí theo định hướng PTNL người học
Mức độ, hiệu quả đạt đƣợc X
6 Sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn hàng tuần, tháng
Tổ chức tham quan học tập kinh nghiệm giảng dạy tại các trường điển hình
8 Tổ chức báo cáo sáng kiến kinh nghiệm của GV
Tổ chức KT-ĐG việc thực hiện đổi mới PPDH Vật lí theo định hướng PTNL người học
- Qua thực tế ta cũng thấy ở góc độ chuyên môn vẫn còn nhiều mặt chưa đồng bộ, nhất là khâu bồi dưỡng CBQL và GV Thời gian tiếp xúc với tài liệu, với nội dung bồi dưỡng là quá ngắn chưa đủ sức thay thế cho hệ thống PPDH áp đặt trong GV, đặc biệt đối với đội ngũ CBQL (Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, Tổ trưởng chuyên môn) vốn là người chỉ đạo, hướng dẫn, đánh giá GV thực hiện đổi mới, thì chính họ lại cùng học tập, tiếp xúc tài liệu bồi dưỡng như dành cho GV Chính vì vậy CBQL ở các trường rơi vào sự lúng túng trong việc chỉ đạo ĐMPPDH môn Vật lí có hiệu quả
- Ngay trong đội ngũ các nhà quản lý cũng không tránh khỏi tư tưởng trông chờ, chỉ đạo cụ thể của cấp trên, chỉ đạo ra sao ? Làm như thế nào ? Vì vậy nhiều đơn vị chưa thực sự chủ động trong xây dựng kế hoạch, tổ chức chỉ đạo thực hiện ĐMPPDH môn Vật lí ở trường mình
- Trong kế hoạch các trường cũng đặt ra các vấn đề cần thiết để phục vụ cho chỉ đạo thực hiện ĐMPPDH môn Vật lí như: Kinh phí đầu tư cho cơ sở vật chất; Trang thiết bị dạy học; Xác định nhu cầu đào tạo GV và bồi dưỡng đội ngũ (theo kế hoạch đào tạo ngắn hạn hoặc dài hạn), còn các yêu cầu khác trong xây dựng mục tiêu ĐMPPDH môn Vật lí như: Điều kiện làm việc; Chế độ chính sách; Thu nhập của GV là những vấn đề nằm ngoài khả năng của công tác kế hoạch của các trường học
Như vậy, trên thực tế cho thấy, hầu hết các nhà trường khi xây dựng kế hoạch và thực hiện kế hoạch gặp những khó khăn như ngân sách, đặc biệt là kinh phí đầu tư cho chỉ đạo thực hiện ĐMPPDH nói chung và ĐMPPDH môn Vật lí nói riêng Đây cũng là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến thực hiện kế hoạch nói chung, ĐMPPDH môn Vật lí nói riêng ở các trường THPT huyện Tiểu Cần
2.4.3 Phân tích SWOT các trường THPT huyện Tiểu Cần a Điểm mạnh:
ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG QL ĐMPPDH MÔN VẬT LÍ
LÍ THEO ĐỊNH HƯỚNG PTNL NGƯỜI HỌC TIẾP CẬN LÝ THUYẾT QLSTĐ
- Tinh thần ĐMPPDH môn Vật lí theo định hướng PTNL người học đã được một bộ phận không nhỏ CBQL, GV, HS trong huyện biết và quan tâm thực sự Ở các nhà trường, CBQL triển khai khá bài bản
- Là một huyện còn nghèo nên được sự quan tâm của lãnh đạo các cấp, sự hỗ trợ nhiều mặt của các tổ chức, doanh nghiệp trong huyện, tỉnh nên công cuộc ĐMPPDH môn Vật lí theo định hướng PTNL người học trên địa bàn đã bắt đầu có chiều hướng khởi sắc và dự báo sẽ phát triển với tốc độ cao
2.5.2 Tồn tại a Nhận thức của đội ngũ CBQL, GV Vật lí về vị trí, tầm quan trọng của ĐMPPDH môn Vật lí theo định hướng PTNL người học:
- Một số giáo viên chưa xác định rõ lý tưởng nghề nghiệp, thiếu sự nhạy bén, thiếu khả năng thích ứng trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay
- Trong quá trình thực hiện kế hoạch bồi dưỡng và tự bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn của bản thân, vẫn còn một số GV thờ ơ, thiếu sự học hỏi, cũng như sự cầu tiến không cao b QL ĐMPPDH môn Vật lí theo định hướng PTNL người học đối với tổ chuyên môn Vật lí:
Một số trường còn sinh hoạt lồng ghép ở các tổ chuyên môn (Vật lí + Công nghệ, hoặc Vật lí + Tin học), chưa tổ chức có hiệu quả các chuyên đề về ĐMPPDH môn Vật lí theo định hướng PTNL người học Công tác chỉ đạo lập kế hoạch, xây dựng quy định nội bộ về hoạt động của tổ chuyên môn nhằm ĐMPPDH môn Vật lí theo định hướng PTNL người học chưa được chú trọng Công tác tổ chức, chỉ đạo đổi mới hoạt động của các tổ chủ yếu mang tính hành chính chưa được quan tâm sâu sát của Ban Giám hiệu các nhà trường c QL Đổi mới phương pháp dạy của giáo viên:
Quản lý việc xây dựng kế hoạch dạy học còn lỏng lẻo Chỉ đạo việc thực hiện ĐMPPDH môn Vật lí theo định hướng PTNL người học chưa quyết liệt Chưa đổi mới cách kiểm tra, đánh giá giờ dạy của giáo viên, và cách kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh Chưa đổi mới công tác bồi dưỡng và tự bồi dưỡng về chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm cho GV Chưa tạo động lực cho người dạy d QL Đổi mới phương pháp học của học sinh:
- Công tác quản lý hoạt động học tập của học sinh, đặc biệt là học tập ở nhà, chưa được chú ý đúng mức Học sinh chưa xây dựng kế hoạch tự học
- Việc đánh giá học sinh còn quan liêu, phó thác cho giáo viên giảng dạy Chưa tổ chức tiếp xúc trực tiếp để tìm hiểu nguyện vọng và tâm lí chung của học sinh, từ đó khai thác để luyện cho học sinh khả năng tự học, tự nghiên cứu theo chiều hướng sáng tạo, biến kiến thức của Thầy Cô, của sách vở thành của chính mình e QL công tác phối hợp giữa các tổ chức, đoàn thể, hội cha mẹ HS
- Công tác kiểm tra chất lượng của nhà trường mới chỉ nêu ra kế hoạch, phó mặc cho các tổ chuyên môn, chưa có sự phối kết hợp giữa Ban giám hiệu với các Tổ trưởng trong kiểm tra về hồ sơ sổ sách của Giáo viên Một số ít cán bộ quản lý chưa có kế hoạch chu đáo trong việc triển khai công tác kiểm tra chất lượng dạy học đến Giáo viên
- Hiệu trưởng chưa truyền đạt kĩ nội dung đổi mới phương pháp học tập của học sinh, để gia đình có biện pháp giáo dục, giúp đỡ học sinh trong học tập và rèn luyện
- Sự liên hệ thường xuyên với các cơ quan, các đoàn thể như: Công an, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội khuyến học… để nắm bắt tình hình của học sinh tại gia đình, cộng đồng còn mờ nhạt Chưa biểu dương khen thưởng các cá nhân, tập thể có thành tích trong việc phối hợp giáo dục học sinh
- Việc lập kế hoạch, xây dựng các quy định nội bộ và tổ chức thực hiện kế hoạch của GV chủ nhiệm còn mang tính thời vụ Hoạt động của các đoàn thể còn nặng tính phong trào Tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá thi đua hoạt động của GV chủ nhiệm, của đoàn thanh niên còn chưa kịp thời f Đảm bảo các điều kiện để ĐMPPDH môn Vật lí theo định hướng PTNL người học và thực hiện các chế độ chính sách đối với công tác này
- Cơ sở vật chất, phương tiện, thiết bị dạy học chưa đồng bộ, thiếu thốn Hiệu trưởng chưa có biện pháp hỗ trợ GV sử dụng PTDH một cách hiệu quả
- Trang bị chưa đầy đủ sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, các tạp chí chuyên ngành, phòng học bộ môn, phòng thực hành, thí nghiệm Vật lí,
2.5.3 Nguyên nhân và bài học
Trong những năm gần đây giáo dục của huyện Tiểu Cần nói chung và giáo dục THPT nói riêng đã có những chuyển biến tích cực đạt nhiều thành tựu đáng kể, nhìn chung giáo dục THPT huyện Tiểu Cần vẫn chậm đổi mới và còn bộc lộ nhiều hạn chế; Chậm khắc phục những yếu kém trong nhiều mặt trong đó có công tác quản lý ĐMPPDH môn Vật lí theo định hướng PTNL người học a Nguyên nhân khách quan:
- Đội ngũ giáo viên ở các trường do Sở GD - ĐT tuyển dụng điều động nên các nhà trường không chủ động được về chất lượng, cơ cấu giáo viên, mặt dù tỷ lệ giáo viên trên lớp cao nhưng trong thực tế tỷ lệ giáo viên đứng lớp thấp vì đa số giáo viên còn trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm giảng dạy