1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phong cách nghệ thuật truyện ngắn nguyễn công hoan

112 61 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 2,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong lịch sử nghiên cứu văn học, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về truyện ngắn Nguyễn Công Hoan nhưng riêng vấn đề đi sâu khảo sát có hệ thống phương diện nghệ thuật truyện ngắn

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

Y THƠM

PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT

TRUYỆN NGẮN NGUYỄN CÔNG HOAN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Đà Nẵng - Năm 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

Y THƠM

PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT

TRUYỆN NGẮN NGUYỄN CÔNG HOAN

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được

ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Y Thơm

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Phương pháp nghiên cứu 9

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

5 Đóng góp của luận văn 10

6 Bố cục luận văn 10

CHƯƠNG 1: NGUYỄN CÔNG HOAN – CÂY BÚT TRUYỆN NGẮN ĐẶC SẮC CỦA VĂN XUÔI VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX 12

1.1 CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN CÔNG HOAN 12

1.1.1 Cuộc đời 12

1.1.2 Sự nghiệp 14

1.2 NGUYỄN CÔNG HOAN – NHÀ VĂN TIÊU BIỂU GIAI ĐOẠN 1930 -1945 17

1.2.1 Cây bút truyện ngắn xuất sắc 17

1.2.2 Một đỉnh cao của văn chương trào phúng 23

Tiểu kết chương 1 28

CHƯƠNG 2: NÉT ĐỘC ĐÁO CỦA THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN CÔNG HOAN 30

2.1 QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT CỦA NGUYỄN CÔNG HOAN QUA TRUYỆN NGẮN 30

2.1.1 Quan niệm “cuộc đời là một sân khấu hài kịch” 31

2.1.2 Quan niệm về “con người tha hóa” 39

2.2 CÁI NHÌN NGHỆ THUẬT ĐỘC ĐÁO TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN CÔNG HOAN 43

Trang 5

2.2.1 Cái nhìn sắc sảo, nhạy bén trong việc khám phá, phát hiện

vấn đề 43

2.2.2 Cái nhìn phê phán, đả kích xã hội 45

2.3 THẾ GIỚI HÌNH TƯỢNG TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN CÔNG HOAN 47

2.3.1 Hình tượng nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan 48

2.3.2 Sự đa dạng của “Tấn trò đời” trong truyện ngắn Nguyễn

Công Hoan 54

Tiểu kết chương 2 59

CHƯƠNG 3: PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN NGUYỄN CÔNG HOAN NHÌN TỪ PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN 61

3.1 CỐT TRUYỆN VÀ KẾT CẤU TRUYỆN NGẮN NGUYỄN CÔNG HOAN 61

3.1.1 Đặc điểm cốt truyện 61

3.1.2 Nghệ thuật kết cấu 64

3.2 NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN CÔNG HOAN 71

3.2.1 Ngôn ngữ miêu tả hành động 75

3.2.2 Ngôn ngữ bình dân, suồng sã 78

3.2.3 Ngôn ngữ trào lộng 81

3.3 GIỌNG ĐIỆU TRÀO PHÚNG TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN CÔNG HOAN 88

3.3.1 Giọng trần thuật khôi hài 89

3.3.2 Giọng châm biếm, đả kích 93

Tiểu kết chương 3 97

KẾT LUẬN 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)

Trang 6

và nhiều công trình nghiên cứu văn học có giá trị Trong đó, truyện ngắn được coi là sở trường của ông Nói đến Nguyễn Công Hoan là nói đến một trong những tác giả nổi tiếng nhất về truyện ngắn ở nước ta từ trước tới nay

Thế giới truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan đa dạng, phong phú về những cảnh ngộ, những kiểu người đang múa máy, khóc cười trong xã hội cũ Những câu chuyện độc ác, tàn nhẫn; những chuyện thương tâm ai oán, cùng những câu chuyện nực cười, lố lăng trong xã hội thực dân nửa phong kiến đầy rẫy bất công ngang trái được nhà văn tái hiện một cách độc đáo Cùng với đó, bức chân dung của những vị tai to mặt lớn, đầy quyền thế sống phè phỡn trong thế giới thượng lưu cũng được nhà văn tái hiện và phê phán Bằng tài năng quan sát, kinh nghiệm văn chương vốn có của mình, Nguyễn Công Hoan

đã khái quát và liên hệ với những vấn đề đang hiện ra nhằm phơi bày bản chất của xã hội thực dân nửa phong kiến lúc bấy giờ Tái hiện bức tranh xã hội thực dân nửa phong kiến tạp nham, lố bịch, đầy rẫy bất công dưới ngòi bút trào phúng, đả kích, châm biếm mạnh mẽ và sâu cay, Nguyễn Công Hoan đã đạt được những thành công nhất định

Có thể khẳng định, với những gì đã đóng góp cho nền văn học nước nhà, Nguyễn Công Hoan đã tạo được dấu ấn về phong cách của mình, đặc biệt ở thể loại truyện ngắn Truyện của ông luôn tạo được một sự hấp dẫn đối với

Trang 7

người đọc, bởi một lối kể chuyện có duyên, chủ đề bao giờ cũng rõ ràng, bắt nguồn từ cuộc sống thực, tình tiết truyện luôn mang tính hài hước.

Nghiên cứu phong cách nghệ thuật của một tác gia là vấn đề có tính lí luận, sẽ giúp các nhà nghiên cứu có được một hệ thống những luận điểm quan trọng để đánh giá giá trị của tác phẩm, khám phá nét độc đáo trong sáng tác của nhà văn, cũng như sự đi lên của một nền văn học Hiểu biết về phong cách nghệ thuật của nhà văn cũng giúp cho người giáo viên dạy văn chọn giảng tác phẩm của họ chính xác hơn Mặt khác, khi nắm vững được nét độc đáo của người nghệ sĩ này so với nghệ sĩ kia, tác phẩm này với tác phẩm kia

sẽ có hướng dạy chuẩn mực và sáng tạo, tránh được sự đơn điệu nhàm chán trong bài giảng của mình

Trong lịch sử nghiên cứu văn học, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu

về truyện ngắn Nguyễn Công Hoan nhưng riêng vấn đề đi sâu khảo sát có hệ thống phương diện nghệ thuật truyện ngắn của ông để thấy được đặc điểm riêng, thấy được những yếu tố đặc sắc hình thành nên phong cách nghệ thuật của nhà văn vẫn chưa có công trình nào thực hiện triệt để

Với những lý do trên đây, chúng tôi đã lựa chọn đề tài Phong cách nghệ

thuật truyện ngắn Nguyễn Công Hoan để nghiên cứu, nhằm thấy được tài năng, sự cống hiến cũng như những nét độc đáo trong sáng tác của ông

2 Lịch sử vấn đề

Nói đến phong cách là nói đến dấu ấn cá nhân của người nghệ sĩ được in đậm lên tác phẩm: từ cách tổ chức tác phẩm, cách xử lí đề tài, cách xây dựng nhân vật, tạo tình huống đến giọng điệu, ngôn ngữ,…Nghệ thuật xây dựng tác phẩm, đặc biệt trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan đã gây được sự chú ý của dư luận Từ đó đến nay, đã có rất nhiều công trình tìm hiểu nội dung cũng như hình thức nghệ thuật của nhà văn Có thể chia quá trình nghiên cứu ra thành hai chặng:

Trang 8

2.1 Giai đoạn trước 1945

Trước cách mạng tháng Tám, khi truyện ngắn Nguyễn Công Hoan mới

ra mắt bạn đọc, đã có rất nhiều bài viết khen ngợi nội dung hiện thực và giá trị nghệ thuật truyện ngắn của nhà văn Như trong bài “Một ngọn bút mới” của Trúc Hà năm 1932 có viết: “không réo rắt như một khúc đàn, không nhẹ nhàng như một bài thơ, không man mác như gió thổi mặt nước, không bóng bẩy như cành hoa trong gương, văn ông có cái hay, rõ ràng, sáng sủa, thiết thực, hơi văn nhanh và gọn Lời văn hàm một giọng trào phúng, lại thường hay đệm vào một vài câu hoặc một vài chữ có ý khôi hài, bông lơn thú vị” [12, tr.47]

Nhà phê bình Trần Hạc Đình cũng có viết: “Nguyễn Công Hoan là nhà văn ưa tả, ưa vẻ cái xấu xa, hèn mạt, đê tiện của cả một hạng người xưa nay vẫn đeo cái mặt nạ giả dối” và ông cũng đã chỉ ra nét đặc sắc trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan: “cái đặc sắc của ông là cái giọng cười cợt có ý

vị chua chát, sâu độc lạ lùng”, “thật ra cái dấu vết của tác giả nó lộ ra cả trong tiếng cười Tiếng cười mỉa mai, lạnh lùng, trong đó ẩn cả một tấm lòng cảm động, đau đớn, ê chề vì những điều trông thấy.”[12, tr.283]

Thiếu Sơn cũng đánh giá cao nghệ thuật viết truyện của Nguyễn Công Hoan "Cái đặc sắc của ông Hoan là ở chỗ ông biết quan sát những cái chung quanh mình, biết kiểm tra những chuyện tức cười, biết vẽ người bằng những nét ngộ nghĩnh thần tình, biết vấn đáp bằng những giọng hoạt kê lý thú và biết kết cấu thành những tấn bi hài kịch" [12, tr.275]

Tập truyện ngắn Kép Tư Bền ra đời đã trở thành một sự kiện gây xôn xao

đời sống văn học và bắt đầu có những ý kiến khen chê trái ngược nhau “Phái nghệ thuật vị nghệ thuật” chê bai, tìm cách làm giảm đi giá trị của nhà văn Lê Tràng Kiều viết: “Ai có đọc hết các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan thì thấy

Trang 9

ông không đáng là nhà văn xã hội” và “Nguyễn Công Hoan theo chúng tôi chỉ

là một anh kép hát vài câu bông lơn có duyên thế thôi ”[12, tr.36]

Trong khi đó phái nghệ thuật vị nhân sinh lại chú ý nhiều đến phần biểu dương, khen ngợi, cổ vũ Nguyễn Công Hoan Hải Triều cho rằng: “Cái chủ trương nghệ thuật vị nhân sinh của tôi ngày nay đó biểu hiện bằng những bức tranh rất linh hoạt dưới ngòi bút tài tình của nhà văn sĩ Nguyễn Công Hoan”

và ông cũng đánh giá cao nội dung hiện thực, giá trị nghệ thuật của Nguyễn Công Hoan: “với những câu văn rất thành thực, chắc chắn, ngộ nghĩnh, nhiều khi cục cằn, thô bỉ nữa, chúng ta phải phục Nguyễn Công Hoan là một nhà kể chuyện rất thiệt và rất có duyên.” Nhưng mặt khác, ông lại có nhận định: “Về phương diện tả thực, có thể nói tác giả đã đạt đến mục đích phần lớn rồi vậy Nhưng về phương diện xã hội thì thật chưa hoàn toàn” [12, tr.279]

Phái vị nghệ thuật, với đại diện là Hoài Thanh cũng đã khen truyện ngắn Nguyễn Công Hoan Về nghệ thuật kể chuyện của nhà văn ông viết: “tài nghệ của nhà văn là ở cách kể chuyện Nguyễn Công Hoan đã khéo lấy những điều quan sát có ý vị lắp vào những cốt truyện không có gì Đó là cái đặc sắc của ông”, và “Tài quan sát của Nguyễn Công Hoan trước sau không thay đổi mấy nhưng nghệ thuật của ông thay đổi rất nhiều” [12, tr.266]

Dưới mắt của Trương Chính : “Nguyễn Công Hoan là một anh pha trò và một anh pha trò đậm Anh pha trò ấy đã hiểu nghề, đã thành thạo lắm, nên anh

đã được khán giả hoan nghênh” [12, tr.292] Trương Chính cho rằng: Nguyễn Công Hoan là một nhà văn có tài quan sát rất tinh vi, cách dùng chữ của ông ngộ nghĩnh, đôi khi đến vui và cách kể chuyện của ông có duyên

Năm 1944, Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại, cũng khen về cách

viết truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan: "Nguyễn Công Hoan sở trường về truyện ngắn hơn là truyện dài Trong các truyện dài, nhiều chỗ ông lúng túng, rồi kết thúc giản dị quá, không xứng một truyện to tát ông đã dựng Trở lại, ở

Trang 10

truyện ngắn, ông tỏ ra là một người kể chuyện rất có duyên Phần nhiều truyện ngắn của ông linh động lại có nhiều cái bất ngờ, làm người đọc khoái trá vô cùng Những truyện ngắn của ông tiêu biểu cho thứ văn vui, thứ văn mà

có lẽ từ ngày nước Việt Nam có tiểu thuyết viết theo lối mới, người ta chỉ thấy ở ngòi bút ông thôi”[12, tr.63] Ông quan niệm : “Chỉ trong phạm vi tả chân và trào lộng, cây bút của Nguyễn Công Hoan mới có thể vững vàng, còn ngoài phạm vi ấy, tôi e rằng nó sẽ lung lay” Ở nhận định này, những yếu tố

mà ông Vũ Ngọc Phan đã nói ra như: “Một người kể chuyện rất có duyên”, truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan “linh động”, “nhiều cái bất ngờ” khiến cho người đọc “khoái trá”, Nguyễn Công Hoan chỉ “vững vàng” trong “phạm

vi tả chân và trào lộng” theo chúng tôi đó là những yếu tố quan trọng tạo nên phong cách của Nguyễn Công Hoan

2.2 Giai đoạn sau 1945

Sau Cách mạng tháng Tám, sự nghiệp văn học của Nguyễn Công Hoan được đánh giá cao hơn, xác đáng hơn Các sách nghiên cứu, các giáo trình đại học, các bài báo, tạp chí, và những năm gần đây các luận án tiến sỹ, thạc sỹ , ngày càng khai thác nhiều mặt, nhiều khía cạnh, nhiều yếu tố trong sáng tác của ông Về cơ bản đều thừa nhận ông là nhà văn có biệt tài truyện ngắn và có một phong cách nghệ thuật truyện ngắn riêng biệt

Tác giả Nguyễn Đức Đàn nhận định: "Về nghệ thuật viết truyện ngắn phải nói rằng Nguyễn Công Hoan là người có nhiều khả năng và kinh nghiệm Truyện của ông thường rất ngắn Lời văn khúc chiết, giản dị Cốt truyện được dẫn dắt một cách có nghệ thuật để hấp dẫn người đọc Thường kết cục bao giờ cũng đột ngột Mỗi truyện thường như một màn kịch ngắn có giới thiệu, thắt nút và mở nút Cố nhiên không phải là tất cả mọi truyện đều đạt cả Nhưng thường thì những truyện không đạt chủ yếu là do nội dung tư tưởng"[12, tr.97] Về đặc trưng phương pháp sáng tác ông lại cho rằng: “Nguyễn Công

Trang 11

Hoan đã nhìn thấy bản chất thối nát xấu xa của bọn thống trị xuyên qua cái hình thức bề ngoài đẹp đẽ giả tạo của chúng Nhưng khi nhìn quần chúng nghèo khổ, có nhiều trường hợp cái nhìn ấy chỉ dừng lại ở hiện tượng mà không đi được vào bản chất”.[12, tr.110]

Trong Nhà văn Việt Nam 1945-1975, Phan Cư Đệ có nhận xét về truyện

ngắn của Nguyễn Công Hoan: “Truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan rất tập trung, cô đọng, cảm hứng đi liền một mặt từ đầu đến cuối: ngắn (là hình thức)

và thanh giản (là tinh thần), đó là hai đức tính cơ bản của tôi Mỗi truyện chỉ

mô tả một việc, một cảnh, một nỗi lòng”.[12, tr.180]

Năm 1977, Lê Thị Đức Hạnh cũng có những nhận xét về tư tưởng, chủ

đề của truyện ngắn Nguyễn Công Hoan: “Từ một thái độ sống dứt khoát, từ một động cơ viết rõ ràng, Nguyễn Công Hoan thường lập ý cho truyện của ông có tư tưởng, chủ đề cụ thể, rõ ràng khiến người đọc dễ nhận thấy” [12,tr.391] “Sau khi đã tìm được tư tưởng, chủ đề rồi, Nguyễn Công Hoan biết cách tạo dựng một cốt truyện, thường thường là sắc nhọn, ở đấy như đang

có gì xảy ra và bao giờ ông cũng tự nhiên, giản dị có vẻ như được nảy sinh một cách dễ dàng như một cái gì tự thân vốn có chứ không đòi hỏi một sự gắng gỏi nào hết” “Tạo được cốt truyện, Nguyễn Công Hoan mới tập trung sức mạnh của ngòi bút vào việc thể hiện những chi tiết.”[12, tr.392]

Trong Tạp chí văn học, số 6, 1993, Phong Lê đó nhận định về tiếng cười

của Nguyễn Công Hoan: “Nghĩ về Nguyễn Công Hoan tôi luôn nhớ đến một tiếng cười riêng, tiếng cười Nguyễn Công Hoan, tiếng cười gây cười, lập tức làm ta bật cười, cười không cản được, cười to lên hoặc tủm tỉm nhưng rồi sau

đó là một vị chát, có lúc như nghẹn đắng, có lúc làm cay nơi mắt ta”.[12, tr.246]

Năm 1978, trong Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, có

bài nghiên cứu của Nguyễn Đăng Mạnh về phong cách Nguyễn Công Hoan

Trang 12

Ông viết: Nguyễn Công Hoan “thích bốp chát, đánh vỗ ngay vào mặt đối phương Tiếng cười đã kích của Nguyễn Công Hoan thường là những đòn đơn giản mà ác liệt” “Mỗi truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan có một chủ

đề rõ ràng, đơn giản (…) gắn được với một mâu thuẫn trào phúng và một tình thế có tính hài hước” Ông chỉ ra chỗ mạnh và chỗ yếu của Nguyễn Công Hoan xung quanh việc xây dựng cốt truyện: "Đọc truyện ngắn Nguyễn Công Hoan thấy tài hoa của ông chủ yếu dồn vào cốt truyện và cách kể chuyện ( ) Ông có một cái duyên kể chuyện hết sức hấp dẫn ( ) Phương thức kể chuyện biến hóa, tài vẽ hình, vẽ cảnh sinh động, khả năng dựng đối thoại có kịch tính, giọng kể chuyện tự nhiên hoạt bát, lối ví von so sánh độc đáo, cách chơi chữ táo bạo, dí dỏm ( ) Về đại thể bí quyết chủ yếu vẫn là nghệ thuật dẫn dắt tình tiết sao cho mâu thuẫn trào phúng, tình thế hài hước bật ra ở cuối tác phẩm một cách đột ngột bất ngờ", nhưng: “nhiều khi để cho cốt truyện được

ly kỳ hấp dẫn, nhà văn sẵn sàng hy sinh cả tính hợp lý, tính chân thực của những quá trình diễn biến tâm lý nhân vật” [12, tr.171-172]

Theo dòng thời gian các công trình nghiên cứu truyện ngắn Nguyễn Công Hoan dần được khai phá sâu hơn về vấn đề lời văn nghệ thuật Trong số những người nghiên cứu về Nguyễn Công Hoan, Lê Thị Đức Hạnh và Nguyễn Thanh Tú đã dành nhiều tâm huyết cho truyện ngắn của ông Trong

công trình: Nghệ thuật viết truyện ngắn đặc sắc và độc đáo của Nguyễn Công

Hoan, Lê Thị Đức Hạnh nhận xét : "Nguyễn Công Hoan tiếp nhận phần lớn những hình ảnh hay, tốt, gạn lọc lấy những phần tinh túy, nhuần nhuyễn vào ngòi bút, tạo thành một phần máu thịt trong câu văn của ông ( ) Ngôn ngữ Nguyễn Công Hoan là ngôn ngữ của quần chúng được chọn lọc, và nâng cao, đậm hương vị ca dao, tục ngữ, có khi tác giả đưa ca dao, tục ngữ vào truyện một cách rất tự nhiên thoải mái Những chữ dùng của ông thường giản dị giàu

Trang 13

hình ảnh cụ thể, so sánh, ví von, làm cho người đọc dễ có liên tưởng thú vị" [12, tr.394]

Nguyễn Thanh Tú cũng đã nhận xét về một số thủ pháp nghệ thuật biểu hiện cái hài trong câu văn của Nguyễn Công Hoan: “Ngôn ngữ của Nguyễn Công Hoan là một thứ ngôn ngữ suồng sã để lật ngửa, lộn trái, nhòm ngó từ dưới và từ trên, đập vỡ vỏ ngoài để nhìn vào bên trong Đó chính là một thái

độ không biết sợ (…) câu văn của ông thường mang tính hài hước và đối chọi bên trong (…); ông có những lối ví von so sánh độc đáo những liên tưởng bất ngờ, thú vị (…); lối chơi chữ và ghép nghĩa rất phổ biến” [12, tr.426-427] Tóm lại, các nhận định về Nguyễn Công Hoan nhìn chung đều thống nhất ở chỗ: coi Nguyễn Công Hoan là nhà văn có biệt tài về truyện ngắn, đặc biệt là truyện ngắn trào phúng Truyện của ông luôn tạo ra được sự hấp dẫn đối với người đọc bởi một lối kết chuyện có duyên, chủ đề bao giờ cũng rõ ràng, tình thế truyện mang tính hài hước Nguyễn Công Hoan là người chịu ảnh hưởng nhiều của truyền thống văn học dân tộc, ông chú ý nhiều đến việc xây dựng cốt truyện hơn là xây dựng tính cách nhân vật

Phong cách nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Công Hoan là đề tài có ý nghĩa, giúp chúng ta hiểu sâu sắc, cụ thể hơn nhiều vấn đề về truyện ngắn và

về phong cách nghệ thuật của nhà văn Đã từ rất lâu, một số tác phẩm có giá trị của Nguyễn Công Hoan đã được tuyển chọn vào chương trình văn học ở nhà trường phổ thông Bởi vậy, đề tài còn có ý nghĩa góp phần đi sâu hơn về nhà văn, về tác phẩm trong nhà trường và là tài liệu hỗ trợ đắc lực cho việc giảng dạy của giáo viên Từ việc nghiên cứu lịch sử vấn đề chúng tôi nhận thấy tất cả những bài nghiên cứu về truyện ngắn Nguyễn Công Hoan trước và sau Cách mạng, kể cả những bài đã đi phân tích các vấn đề cơ bản của phong cách nhưng cũng chỉ dừng lại ở sự khái quát, chưa đi sâu phân tích cặn kẽ những yếu tố trạo nên phong cách nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Công

Trang 14

Hoan Và từ những kết quả nghiên cứu của người đi trước, chúng tôi có được những gợi mở, nhận xét, đánh giá tin cậy để triển khai nghiên cứu đề tài này

3 Phương pháp nghiên cứu

Căn cứ vào nội dung và mục đích của luân văn, người nghiên cứu lựa chọn những phương pháp chủ yếu sau:

3.1 Phương pháp tiếp cận hệ thống: xuất phát từ quan niệm phong cách

là một khái niệm chỉ phẩm chất cao của nghệ thuật, luận văn sẽ chú ý đi sâu vào những tác phẩm tiêu biểu, xuất sắc, biểu hiện được cá tính sáng tạo và sở trường của tác giả Vì vậy, chúng tôi chọn cách tiếp cận hệ thống nhằm nghiên cứu truyện ngắn Nguyễn Công Hoan trong tính chỉnh thể

3.2 Phương pháp so sánh đối chiếu: giúp cho chúng tôi chỉ ra những nét tương đồng và khác biệt giữa nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Công Hoan và nghệ thuật truyện ngắn của các nhà văn hiện thực cùng thời để thấy được nét khác biệt, đặc sắc hình thành nên phong cách truyện ngắn Nguyễn Công Hoan

3.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp:

Chúng tôi sử dụng phương pháp này để phân tích các tác phẩm cụ thể, qua đó khái quát lên những nhận định về đặc điểm sáng tác hình thành nên phong cách nghệ thuật của nhà văn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng khảo sát của chúng tôi là phong cách nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Công Hoan (gồm những nét độc đáo, đặc sắc về tư tưởng và hình thức nghệ thuật)

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, chúng tôi lựa chọn những truyện ngắn tiêu biểu

trong tập Truyện ngắn chọn lọc Nguyễn Công Hoan, Nhà xuất bản Thời đại,

Hà Nội, 2010 làm đối tượng khảo sát chính để viết luận văn này

Trang 15

5 Đóng góp của luận văn

Đề tài: “Phong cách nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Công Hoan” nhằm khẳng định những giá trị đặc sắc cũng như phong cách nghệ thuật đầy cá tính riêng trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, và đóng góp của ông vào truyện ngắn Việt Nam, văn xuôi Việt Nam hiện đại

Người viết tiến hành nghiên cứu đề tài này không dám mong có nhiều đóng góp mới mẻ cho lĩnh vực nghiên cứu về Nguyễn Công Hoan bởi đây là mảng nghiên cứu đã có nhiều thành tựu, người viết thực hiện đề tài nhằm mục đích góp phần cho thấy những đặc điểm nghệ thuật đặc sắc hình thành nên phong cách truyện ngắn Nguyễn Công Hoan và qua đó thấy được tài năng viết truyện ngắn của ông và vị trí danh dự mà Nguyễn Công Hoan có được trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc

6 Bố cục luận văn

Ngoài mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Nguyễn Công Hoan – cây bút truyện ngắn đặc sắc của văn xuôi Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX

Đây là chương chúng tôi đi vào giới thiệu những vấn đề liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp văn học của Nguyễn Công Hoan; vị trí của Nguyễn Công Hoan trong quá trình phát triển Văn học hiện đại Việt Nam

Chương 2: Nét độc đáo của thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan

Chương này, chúng tôi tập trung làm rõ những vấn đề liên quan đến quan niệm nghệ thuật, cái nhìn nghệ thuật của Nguyễn Công Hoan trong truyện ngắn Bên cạnh đó cũng đi sâu phân tích thế giới hình tượng trong tác phẩm của ông như hình tượng nhân vật và các loại hình tượng khác

Chương 3: Phong cách nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Công Hoan nhìn

từ phương thức thể hiện

Trang 16

Chúng tôi tập trung phân tích những biểu hiện phong cách nghệ thuật của Nguyễn Công Hoan thông qua cốt truyện, kết cấu, ngôn ngữ và giọng điệu nghệ thuật

Trang 17

CHƯƠNG 1 NGUYỄN CÔNG HOAN – CÂY BÚT TRUYỆN NGẮN ĐẶC SẮC CỦA VĂN XUÔI VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX

1.1 CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN CÔNG HOAN

1.1.1 Cuộc đời

Nguyễn Công Hoan sinh ngày 6 tháng 3 năm 1903 tại làng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh (nay là xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hải Hưng) trong một gia đình nho học, có truyền thống yêu nước và đóng góp cho cách mạng nhiều người con ưu tú Ông thân sinh ra Nguyễn Công Hoan

là Nguyễn Đạo Khang, đỗ tú tài, làm chức huấn đạo, lương ít lại đông con nên người anh ruột là Nguyễn Đạo Quán, đỗ phó bảng, làm tri huyện đã nuôi đỡ

em mấy người con, trong đó có Nguyễn Công Hoan Trong số các cháu, Nguyễn Công Hoan là một cậu bé thông minh, hóm hỉnh nên được bác yêu chiều nhất, coi như con đẻ và lo nuôi dạy cho đến khi trưởng thành Tuy con cháu nhà quan nhưng Nguyễn Công Hoan lại có tâm lý ghét quan, thấy được

sự bóc lột tàn nhẫn, dã man và đê tiện của bọn quan lại, đồng thời cũng tự cao

về sự “nghèo trong” của gia đình mình Ngay từ nhỏ, Nguyễn Công Hoan đã được bà nội dạy truyền khẩu nhiều thơ phú, truyện cổ dân gian, những giai thoại có tính chất trào lộng, châm biếm, đả kích bọn quan lại và người bác của ông luôn chăm sóc việc học hành cho con cháu, thích sưu tầm phương ngôn, tục ngữ, ca dao, ngụ ngôn, soạn sách dạy chữ Nho với đề tài Việt Nam Vì thế, niêm luật của thơ ca, thanh điệu của ngôn ngữ và sự say mê văn học đã thấm dần vào ông ngay từ hồi thơ ấu Những thơ ca và giai thoại trên đã ảnh hưởng sâu sắc đến lối viết của ông sau này

Trang 18

Năm lên 6 tuổi, Nguyễn Công Hoan học chữ Nho, rồi chuyển sang học chữ Pháp Khi 9 tuổi ông mới bắt đầu lên Hà Nội học trường Bưởi Trong những năm trọ học ở đây, ông đã quen biết được nhiều người, nhiều bạn bè, trong đó có Nguyễn Khắc Hiếu, sau là nhà thơ Tản Đà

Tháng 9 năm 1922, Nguyễn Công Hoan trúng tuyển vào trường Nam sư phạm ở Hà Nội Những năm ở trường, Nguyễn Công Hoan được học văn học một cách tương đối có hệ thống, nhất là văn học Pháp

Năm 1926, ông tốt nghiệp trường Cao đẳng Sư phạm, làm nghề dạy học

ở nhiều nơi (như Hải Dương, Nam Sách, Kinh Môn, Lào Cai, Nam Định, Trà Cổ…) cho đến ngày Cách mạng Tháng Tám thành công

Ông bắt đầu viết văn từ 1920 (17 tuổi) lúc đang học ở trường Bưởi Năm

1923 (20 tuổi), ông có tập truyện ngắn đầu tiên “Kiếp hồng nhan” được xuất

bản Đầu năm 1930, ông có nhiều truyện đăng báo, được mọi người chú ý và đến năm 1935, tập Kép Tư Bền ra đời thì nổi tiếng khắp Trung, Nam, Bắc

Do viết văn có đụng chạm đến bộ máy cai trị của thực dân, lại có một thời gian tham gia Quốc dân đảng của Nguyễn Thái Học, vào Đảng Xã hội Pháp và thời kỳ Mặt trận Dân chủ có liên hệ với những người cộng sản nên Nguyễn Công Hoan luôn bị mật thám theo dõi Ông đã mấy lần bị bắt và lần cuối cùng (do hiến binh Nhật bắt) bị giam cho đến ngày khởi nghĩa tháng Tám Sau cách mạng, ông giữ chức Giám đốc kiểm duyệt báo chí Bắc Bộ, kiêm Giám đốc Sở Tuyên truyền Bắc Bộ

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông gia nhập quân đội, là biên tập viên báo Vệ quốc quân, Giám đốc trường Văn hóa quân nhân, Chủ nhiệm và biên tập tờ Quân nhân học báo Năm 1948 ông được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam Năm 1952 ông làm việc ở Trại tu thư của ngành giáo dục, viết sách giáo khoa và biên soạn cuốn “Sử Việt Nam hiện đại từ Pháp thuộc đến năm 1950” dùng cho lớp 7 hệ 9 năm và viết báo “Giáo dục nhân dân” cơ quan

Trang 19

ngôn luận đầu tiên của Bộ Quốc gia giáo dục lúc bấy giờ Nguyễn Công Hoan cũng là một trong những nhà văn hiện đại mà tác phẩm đưa vào sách giáo khoa đã đáp ứng được yêu cầu quan trọng là dạy cho học sinh hiểu, nói, viết tiếng Việt đúng nhất, tốt nhất

Từ sau năm 1954, ông trở lại nghề viết văn với cương vị Chủ tịch Hội nhà văn (khóa đầu tiên 1957-1958), ủy viên Ban Thường vụ trong các khóa chấp hành Hội tiếp sau đó, đồng thời là ủy viên Ban chấp hành Hội liên hiệp

Văn học nghệ thuật Việt Nam Tên tuổi của ông đã được ghi trong Từ điển

Bách khoa toàn thư của Liên Xô từ những năm 60 và cũng ngay những năm

60 giáo sư tiến sĩ Niculin đã gọi ông là “bậc thầy về truyện ngắn châm biếm” Khi hòa bình lập lại (1954), ông trở về Thủ đô, làm việc ở Hội văn nghệ Việt Nam và từ đây ông mới thật sự trở lại viết văn liên tục Đến năm 1957, khi Hội nhà văn Việt Nam được thành lập, ông được bầu làm Chủ tịch Hội khóa đầu tiên và tiếp tục làm Uỷ viên thường vụ trong các khóa tiếp theo Sau gần 60 năm cầm bút, ngày 6/6/1977 Nguyễn Công Hoan mất tại Hà Nội, thọ

74 tuổi

Năm 1988, tại cuộc hội thảo khoa học “Nguyễn Công Hoan, con người

và sự nghiệp” tổ chức ở Hà Nội nhân 85 năm ngày sinh của nhà văn 1988), nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu văn học có tên tuổi trong nước đã tỏ

(1903-lòng trân trọng và đánh giá đúng mức giá trị bộ tiểu thuyết “Đống rác cũ” của

ông, bộ tiểu thuyết đó bị thu hồi năm 1963

Nhà văn Nguyễn Công Hoan đã vinh dự được là một trong 14 nhà văn xuất sắc của nền văn học Việt Nam thế kỷ XX được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I

1.1.2 Sự nghiệp

Nguyễn Công Hoan viết văn rất sớm, từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường và ngay từ những ngày đầu cầm bút, ông đã xác định được hướng đi

Trang 20

và phong cách viết Ông chuyên viết về những đề tài phản ánh hiện thực xã hội, sở trường là bút pháp hiện thực trào lộng Ông đã vẽ lên bức tranh sinh động về xã hội thực dân nửa phong kiến tàn ác, đầy rẫy bất công, giả dối Ông

đả kích không thương tiếc bọn quan lại tham lam, bỉ ổi, chức cao nhưng ít tài đức, bọn địa chủ cường hào keo bẩn, ngu dốt, bọn tư sản vô lương tâm chỉ biết chạy theo đồng tiền và lối sống tư sản lố lăng, đồi bại, đồng thời ông rất thương cảm với cảnh cơ cực của những người nghèo khổ, bênh vực họ

Ông được đánh giá là một trong những nhà văn xuất sắc nhất của dòng văn học hiện thực phê phán Văn của ông được người đọc yêu mến và trân

trọng Tác phẩm in đầu tay “Kiếp hồng nhan” (viết năm 1920, được Tản Đà

thư điếm xuất bản năm 1923) là một đóng góp cho nền văn xuôi Việt Nam bằng tiếng quốc ngữ Đến “Kép Tư Bền” (viết năm 1927, xuất bản năm 1935) thì ông thực sự trở thành “một nhà văn bậc thầy về truyện ngắn và nghệ thuật trào phúng (Lê Thị Đức Hạnh)” “Kép Tư Bền” đã gây lên một chấn động lớn trên văn đàn, 18 tờ báo suốt từ Nam đến Bắc đăng bài khen ngợi Đây cũng chính là đề tài cho cuộc bút chiến giữa hai quan điểm “nghệ thuật vị nghệ thuật” và “nghệ thuật vị nhân sinh”

Nguyễn Công Hoan viết nhiều trong những năm 1920 – 1945 Truyện dài của ông cũng chiếm khối lượng lớn, song cái phần đặc sắc chỉ riêng Nguyễn Công Hoan mới có lại ở truyện ngắn Trong số những truyện dài của

ông tiêu biểu là tác phẩm “Bước đường cùng” (xuất bản năm 1938), cuốn

truyện ra đời vào lúc phong trào Mặt trận Dân chủ lên cao, có ảnh hưởng rất sâu rộng Chính quyền thực dân đã phải ra lệnh cấm lưu hành Từ sau năm

1954, ông cũng có nhiều truyện ngắn viết về cải cách ruộng đất và chiến sĩ cách mạng

Cụ thể, những thành quả cống hiến của ông như sau:

Trang 21

a Truyện ngắn:

- Thời kỳ 1929 – 1935 có các truyện ngắn tiêu biểu: Thật là phúc, Cái

nạn ô tô, Đàn bà là giống yếu, Kép Tư Bền, Vợ, Ngậm cười, Kìa con!, Nhân tình tôi…

- Thời kỳ 1936 – 1939: Nội dung phản ánh phong phú, sâu sắc hơn với

các truyện ngắn: Vẫn còn trịch thượng, Chiếc đèn pin, Nạn râu, Ngượng

mồm, Gánh khoai lang, Quyền chủ, Phành phạch, Hai cái bụng, Lại chuyện con mèo, Chiếc quan tài, Được chuyến khách, Sáng, Chị phu mỏ, Đào kép mới, Tinh thần thể dục…

- Thời kỳ 1940 – 1945: Công dụng của cái miệng, Người thứ ba, Con

Ngoài ra cũng có nhiều tiểu thuyết nổi bật như: Lá ngọc cành vàng,

Bước đường cùng, Cái thủ lợn, Đống rác cũ

Có thể thấy, Nguyễn Công Hoan là một cây bút có sức sáng tạo dồi dào, dẻo dai với một khối lượng lớn tác phẩm với nhiều thể loại khác nhau, trong

đó nổi bật nhất là truyện ngắn và không ít được xếp vào truyện hay, có ý nghĩa tiêu biểu cho một nền văn học dân tộc, thu hút được sự quan tâm của bạn đọc trong và ngoài nước Đặc biệt tác phẩm của ông đã được dịch ra nhiều thứ tiếng như Liên Xô, Trung Quốc, Bungari, Ấn Độ, Nhật Bản,…điều này đó phần nào khẳng định vai trò, vị trí của ông trong nền văn học dân tộc

Trang 22

1.2 NGUYỄN CÔNG HOAN – NHÀ VĂN TIÊU BIỂU GIAI ĐOẠN

1930 -1945

Nguyễn Công Hoan là một trong những cây bút xuất sắc của nền văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX Ông có số lượng tác phẩm khá đồ sộ với nhiều thể loại và được đánh giá là tác giả có sức sáng tác dẻo dai vượt hơn hẳn so với các tác giả cùng thời như Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Thạch Lam,…Đặc biệt, giai đoạn 1930 – 1945 là giai đoạn đỉnh cao trong sáng tác,

cụ thể là ở thể loại truyện ngắn đã giúp ông trở thành một trong những nhà văn hiện thực tiêu biểu trong nền văn học dân tộc

1.2.1 Cây bút truyện ngắn xuất sắc

Ngay từ buổi đầu cầm bút, Nguyễn Công Hoan đã tự vạch cho mình một con đường đi riêng, một con đường được cho là tích cực nhất so với tình hình văn học công khai nước ta lúc bấy giờ và phản ánh thực trạng của xã hội là việc làm rất cần thiết của các nhà văn Hiện thực xã hội của ta dưới chế độ thực dân và phong kiến đầy rẫy những câu chuyện đáng khinh, đáng ghét và cũng đáng thương Những sự thật ấy thể hiện rất rõ và chiếm số lượng lớn trong sáng tác của Nguyễn Công Hoan Ông đã lựa chọn khuynh hướng văn học hiện thực phê phán mà trước đó được khơi nguồn từ một số sáng tác của Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, Hồ Biểu Chánh…; sau đó được định hình hoàn chỉnh và phát triển mạnh mẽ với sáng tác của Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao…Trong dòng chảy chung đó, Nguyễn Công Hoan đã tạo được cho mình một mạch riêng với những nét đặc sắc, độc đáo trong sáng tác Ông đã dùng ngòi bút của mình vạch toạc tất cả những sự thật đen tối của một chế độ xã hội tàn nhẫn và mục nát đến xương tủy, những

sự thật mà nhiều người có thể biết nhưng chưa nhận thức được hết cái tính chất vô đạo, bất nhân của nó

Trang 23

Nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Công Hoan nhuần nhuyễn, sinh động và hấp dẫn đã đóng góp to lớn vào quá trình hiện đại hóa văn xuôi tiếng Việt nửa đầu thế kỉ XX Tác giả Lê Thị Đức Hạnh trong cuốn “Nguyễn Công Hoan về

tác gia và tác phẩm” đã đánh giá: “Nguyễn Công Hoan không chỉ đơn thuần

với tư cách một sáng tạo cá nhân mà còn có tư cách đại biểu của một khuynh hướng, một thể loại, một phong cách có ý nghĩa về phương diện mỹ học.”[12, tr.17]

Trong các thời kỳ sáng tác của mình, thời kỳ 1930 – 1939 là thời kỳ sáng tác sung sức nhất và bắt đầu tự khẳng định được mình một cách mạnh mẽ và

vững chắc của Nguyễn Công Hoan Từ 1929 đến khi tập Kép Tư Bền ra đời

(1935), ông đã sáng tác được một số lượng truyện khá lớn, trong đó nhiều truyện có giá trị Riêng truyện ngắn đã lên tới con số trên 80 Đề tài mà Nguyễn Công Hoan tập trung khai thác trong thời kỳ này rất phong phú, đề cập đến nhiều tầng lớp, nhiều loại người, nhiều vấn đề, nhiều tình huống xã hội

Cụ thể chia làm 3 loại truyện chính:

Một loại tố cáo, lên án những bọn chuyên sống bằng cách áp bức, bóc lột những người nghèo khổ Chúng thường hành động vô lương tâm, nhân cách rất đê tiện nhưng lại làm ra vẻ đạo đức như bọn quan lại và tay sai cường hào, địa chủ, tư sản Nguyễn Công Hoan gọi chung những kẻ ấy là “bọn nhà giàu” Thứ hai là loại miêu tả những cảnh khổ cực của nông dân và của những người nghèo khác như kép hát, đi ở, phu xe,…cả những kẻ cắp, ăn mày, gái điếm,…nhằm mục đích phê phán xã hội đương thời

Thứ ba là loại đả kích những hạng người tuy không phải là tư sản nhưng nhờ đế quốc mà phong lưu, chịu ảnh hưởng lối sống tư sản đồi trụy ở Châu

Âu Đó là những công chức có lương cao, bổng hậu, một số ít tiểu tư sản, tiểu trí thức bám vào bọn thống trị sống đê tiện, mất nhân cách Loại truyện này,

Trang 24

nói chung mô tả và phê phán mọi cái xấu xa, thối nát của tầng lớp trên và trung lưu trong chế độ cũ

Nói đến tài năng của người nghệ sĩ thì trước hết phải nói tới con mắt và tấm lòng, cùng với năng khiếu nghệ thuật Giữa lúc xã hội đang đầy rẫy những biến động phức tạp, tuổi trẻ rất dễ mất phương hướng, thế mà Nguyễn Công Hoan đã có một quan niệm sống đúng đắn, lành mạnh Ông tự nhủ: Ngoài việc đi dạy học, cần phải làm một việc gì đó có ích, chứ không thể chỉ

“có mặt ở trên đời một cách buồn tẻ và vô tích sự” [28, tr.116] Từ quan niệm

này, ông đó định hướng cho sáng tác của mình một cách cụ thể: “Truyện phải

có nội dung bổ ích và trước hết truyện phải thực” [28, tr.132] Nguyễn Công Hoan không sa đà vào những truyện phù phiếm, vẩn vơ mà đều xuất phát từ cái hiện thực đông đặc trước mắt, do quan sát được và ông chỉ viết những điều cần viết Từ việc xác định đối tượng đả kích của mình là kẻ giàu, đương nhiên là có quyền, có thế và đứng về phía người nghèo bị lép vế, ông đã phanh phui được nhiều chuyện xấu xa, thối nát, cùng những sự đau thương, khổ nhục của đời người trong xã hội cũ và lựa chọn con đường đi riêng cho mình đó là con đường của chủ nghĩa hiện thực, con đường mà ông đã đi suốt cuộc đời cầm bút hơn nửa thế kỷ và đã làm cho tên tuổi ông trở nên sáng giá

Cụ thể, thời kỳ (1929 - 1935) là thời kỳ nở rộ với những sáng tác khẳng định vai trò, vị trí của Nguyễn Công Hoan trên văn đàn Đặc biệt, giai đoạn này đã mở ra thời kỳ sáng tác mới của ông Riêng về truyện ngắn, ông thường lấy đề tài từ những tin tức thời sự hằng ngày, hoặc mô tả những việc thật mắt thấy tai nghe hoặc đọc được ở trên sách báo Nhiều đề tài tác giả khai thác từ

sự đối lập giữa hai loại người như trong Hai thằng khốn nạn, tác giả đã đặt sự

khốn nạn về tinh thần của anh giàu bên cạnh sự khốn nạn về vật chất của anh nghèo rồi chĩa mũi dùi đả kích thẳng vào tên nhà giàu giữa lúc nó hiện nguyên hình là một thằng khốn nạn

Trang 25

Về đề tài quan lại, tác giả đã nói lên được phần nào bản chất xấu xa, đê

tiện của chúng như trong Thật là phúc, Đàn bà là giống yếu, Một tấm gương

sáng, Chánh bá mất giày, Răng con chó của nhà tư sản, Báo hiếu trả nghĩa cha, Báo hiếu trả nghĩa mẹ,….Ông đã công kích sâu cay bọn nhà giàu chuyên sống bằng cách áp bức, bóc lột những người nghèo khổ với những hành động

vô lương tâm nhưng lại ra vẻ đạo đức

Song, một nét nổi trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan trong thời

kỳ này là sự chú trọng nhiều đến các tầng lớp dưới của xã hội những người phải bán thân, bán sức lao động với giá rẻ mạt để nuôi miệng, nuôi gia đình

mà vẫn đói khát, cực khổ, đó là những kiếp sống, những lớp người từ nông

dân (Vợ, Hai thằng khốn nạn) đến những người đi ở (Thanh! Dạ!), kéo xe

(Ngựa người và người ngựa, Được chuyến khách ), kép hát (Kép Tư Bền), cả

đến những kẻ ăn cắp (Thằng ăn cắp, Bữa no đòn, Thế cho nó chừa…), ăn mày

(Cái vốn để sinh nhai),….Mỗi mẫu chuyện, mỗi con người, mỗi cảnh đời trong truyện đều như một biểu tượng sống về tội áp bức, bóc lột, bần cùng hóa nhân dân ta của bọn thực dân và tay sai của chúng

Có thể nói, thời kỳ này, riêng về truyện ngắn, Nguyễn Công Hoan sáng tác tương đối đều tay, đề tài được mở rộng và khá phong phú Ông chú ý nhiều về các lớp người bị áp bức, bóc lột Với số lượng truyện tương đối nhiều, nội dung hiện thực sâu hơn trước, nghệ thuật viết rất độc đáo Nguyễn Công Hoan đã vượt lên hàng đầu trong số những người viết văn hiện thực, góp phần thúc đẩy cho văn học này phát triển và tạo thành một trào lưu mạnh

mẽ

Đây là thời kỳ mà Nguyễn Công Hoan đã từng bước khẳng định mình với những thành quả nhất định, chiều sâu khi thể hiện các tư tưởng, chủ đề ngày càng điêu luyện trong nghệ thuật viết, xứng đáng là một nhà văn tiêu biểu của văn học hiện thực thời kỳ 1930 – 1935

Trang 26

Bước sang thời kỳ 1936 – 1939, được coi là thời kỳ nở rộ của những sáng tác xuất sắc nhất của Nguyễn Công Hoan Ông đã nhận được sự cổ vũ của phái “Nghệ thuật vị nhân sinh” và những ý kiến khen của phái “Nghệ thuật vị nghệ thuật” Điều đó giúp ông nghiêng về khuynh hướng hiện thực,

xa văn học lãng mạn kiểu Tự lực văn đoàn Thời kỳ này, Nguyễn Công Hoan đang dạy học ở Nam Định, là nơi tập trung nhiều công nhân của các nhà máy sợi, nhà máy tơ,…Ông đã có điều kiện tiếp xúc với công nhân và được rất nhiều người yêu mến, tín nhiệm Cũng ở đây, Nguyễn Công Hoan được dịp gần gũi các Đảng vên Cộng sản, nghe và học từ họ được rất nhiều điều Tất cả

đã ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng, tình cảm của nhà văn Mặt khác, bản thân ông cũng bị bọn thực dân đe dọa không cho dạy học và nếu cứ tiếp tục viết những truyện chạm đến bọn chúng Càng nhìn rõ đế quốc, phong kiến ông càng khinh miệt bọn chúng và ông lại càng xích gần nhân dân lao động, căm ghét những cái làm cho họ đau khổ Chính cách nhìn ấy đã tạo nên những nét mới, những sắc thái mới trong sáng tác của ông trong thời kỳ này Riêng về truyện ngắn, đối với bọn áp bức bóc lột, Nguyễn Công Hoan đã châm biếm,

đả kích cả tên đầu sỏ phong kiến (Bảo Đại), rồi thực dân Pháp, cả những vấn

đề chiến tranh chống phát xít và đối với tầng lớp lao động, ông đã viết nhiều

về công nhân

Về bọn quan lại, lúc này ông viết về nhiều khía cạnh, nhiều mặt, nhiều

vẻ và đi vào bản chất của chúng hơn trước Như trong các truyện: Đồng hào

có ma, Thằng ăn cướp, Thịt người chết, Chiếc quan tài, Phúc tinh, Ngượng mồm, Gánh khoai lang, Đội bạc, Hé! Hé! Hé!,…tác giả đã làm hiện lên hàng loạt quan lớn, quan bộ với cái nét “tinh túy nhất” của chúng đó là ăn tiền và bóc lột Nhưng lại có bọn đểu giả không hẳn là ăn tiền mà để lợi dụng một cái

gì khác, như các truyện: Sáu mạng người, Cấm chợ, Tôi tự tử, Chiếc đèn pin,

Nạn râu, Chính sách thân nhân,…

Trang 27

Không chỉ bản thân những tên quan khốn nạn, mà cả vợ con chúng cũng

có nhiều thủ đoạn xoay quanh tiền rất tài tình (Hé! Hé! Hé!) Nhà văn căm

ghét, khinh bỉ và đã khái quát lý lịch của tầng lớp quan lại qua lời một ông bố nói với con: “Ngày xưa, độ ba mươi năm trước, thời buổi nhốn nháo, ra làm quan dễ lắm kia Những hạng lính tập, bồi bếp được lòng ông chủ nào có thế lực một chút là xuất chính dễ như bỡn Ngày ấy, tao cũng bập bẹ tiếng Tây và

u mày lại có nhan sắc, người ta cứ dỗ dành tao mãi nhưng tao không thuận”

(Nạn râu) Có thể nói, chưa bao giờ ngòi bút của Nguyễn Công Hoan được viết thoải mái về giới quan lại, tạo thành những biểu tượng sống đặc sắc như trong thời kỳ này và nhà văn cũng tiếp tục phê phán, giễu cợt những hạng người bội bạc, không tình không nghĩa, chỉ nghĩ đến sự sung sướng cho bản

thân (Cho tròn bổn phận) Nhà văn cũng khai thác nhiều đề tài mà trước đây ông chưa viết tới, ông mô tả công nhân trong (Sáng, chị phu mỏ) Mặc dù

không đánh vào mặt bản chất bóc lột của thực dân Pháp, chỉ đả kích vào khía cạnh dâm ô của chúng, nhưng đó cũng là một cách bêu rếu hình ảnh của bọn quan trị lúc bấy giờ Ông sáng tác về công nhân còn ít nhưng truyện trên cũng đánh dấu một nét mới của ngòi bút ông

Cùng với Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan là người hiểu sâu vấn đề nông dân và cuộc sống nông thôn ta trước cách mạng nhưng chỗ mạnh của mỗi ngòi bút có khác nhau Ngô Tất Tố mô tả sâu săc và thành công hơn về người nông dân trong khi Nguyễn Công Hoan lại phê phán được nhiều góc cạnh hơn về bọn địa chủ, cường hào và phần nào đó nói lên tinh thần đấu tranh tích cực của nông dân

Chúng ta có thể khẳng định, Nguyễn Công Hoan là một bậc thầy của truyện ngắn hiện đại Có thể ví truyện ngắn hiện đại là một dòng chảy thì những người như ông vẫn ở thượng nguồn Mỗi truyện ngắn của ông có thể coi là một màn hài kịch được xây dựng trên cơ sở những tình huống gây cười

Trang 28

và kịch hóa trần thuật có thể xem là một yếu tố đổi mới nghệ thuật trần thuật trong văn học Việt Nam mà trước đó hầu như chưa xuất hiện và sau này cũng

ít ai theo kịp Nguyễn Công Hoan Tạo ra một quan hệ thân tình giữa người kể chuyện và độc giả là một trong những bí quyết thành công của nhà văn

1.2.2 Một đỉnh cao của văn chương trào phúng

Trong di sản văn học đồ sộ mà Nguyễn Công Hoan để lại, những tác phẩm trào phúng là phần tinh túy nhất đã làm nên gương mặt độc đáo của nhà văn Truyện ngắn trào phúng của ông đã mở ra một thế giới nghệ thuật mới lạ, hấp dẫn và từ lâu đã thu hút được sự chú ý của giới nghiên cứu phê bình Hầu hết các nhà nghiên cứu trong nước đều coi Nguyễn Công Hoan là nhà văn

“bậc thầy”, có “biệt tài” về trào phúng Tiến sĩ A.Niculin, nhà nghiên cứu văn

học Việt Nam người Nga đã đánh giá Nguyễn Công Hoan là “Nhà văn Việt

Nam nổi tiếng, bậc thầy truyện ngắn châm biếm” [50, tr.36]

Các nhà nghiên cứu với nhiều hướng tiếp cận khác nhau, đã có nhiều công trình nghiên cứu công phu về tiếng cười trào phúng của nhà văn nhưng

vẫn còn nhiều ý kiến chưa được thống nhất Sau khi tập Kép Tư Bền được

xuất bản (1935) đã có rất nhiều công trình tìm hiểu giá trị nội dung cũng như hình thức biểu hiện tiếng cười của nhà văn

Trong truyện ngắn của mình, ông luôn xây dựng tình huống gây cười Để làm rõ điều đó, tác giả truyện cười phải dẫn dắt tình tiết sao cho cốt truyện lên tới pha đỉnh điểm, căng thẳng, đầy kịch tính, tạo nên sự lôi cuốn hấp dẫn người đọc Tình huống gây cười trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan có rất nhiều nhóm như: Nhóm tình huống nghịch lý, phi lý; Nhóm tình huống ngẫu nhiên; Nhóm tình huống nhân vật “dựng mẹo”,… Để tạo nên tiếng cười, Nguyễn Công Hoan “lôi cuốn đối tượng” vào những tình huống phi lý, nghịch

lý về đạo lý

Trang 29

Ông chủ hãng ô tô Con cọp là một nhà tư sản, giàu có mời rất đông

khách khứa đến giỗ cha nhưng lại đuổi mẹ ra ngoài trời mưa giá rét (Báo

hiếu: Trả nghĩa cha) Cũng ông chủ hãng ô tô Con cọp cùng vợ giết mẹ đẻ ra mình rồi lại làm đám ma hết sức to tát để che mắt thiên hạ Nhưng đám ma càng to bao nhiêu, người đọc càng nhìn rõ thực chất bất hiếu của hắn bấy

nhiêu Không còn là “báo hiếu” nữa mà là bất hiếu, đại bất hiếu (Báo hiếu: trả

nghĩa mẹ)

Một nhà tư sản sẵn sàng đè chết người ăn mày vì người này đánh gãy hai

cái răng con chó của hắn rồi đền mạng “bất quá ba chục bạc là cùng!” Một

mạng người không bằng hai cái răng của con chó, không bằng ba chục bạc Tiếng cười ở đây chĩa vào sự mất nhân tính của tên tư sản nọ, đồng thời cũng

là tiếng cười xót xa cho thân phận con người yếu hèn trong xã hội vô nhân ấy

(Răng con chó của nhà tư sản)

Thằng ăn cắp ăn quỵt bát bún riêu, lấy trộm củ khoai lang mà bị “bữa

no…đòn” của đám đông “hằng chục”, “hằng trăm” người Đành rằng ăn cắp

là xấu, là đáng khinh nhưng chỉ vì “bát bún riêu”, “củ khoai lang” mà nó bị

trận đòn nhừ tử thì cũng là một nghịch lý, nghịch lý xót xa cho số kiếp con

người, giá trị không bằng “bát bún riêu”, “củ khoai lang” ấy Tiếng cười ở

đây lại chĩa vào đám đông vô hồn, chĩa vào tình trạng mất nhân tính của con

người trong xã hội phi nhân tính (Thằng ăn cắp, Bữa no đòn,…)

Bên cạnh những nghịch lý về đạo lý ấy, nhà văn Nguyễn Công Hoan cũng đã đưa các nhân vật của mình vào những hoàn cảnh nghịch lý để làm nổi bật thân phận, số kiếp của họ Ở đây thường là những nhân vật dưới đáy xã hội, muốn sống họ phải làm trái lẽ phải thông thường! Thằng ăn mày vì lành lặn nên không xin ăn được Để kiếm sống, nó phải kiếm “vốn sinh nhai” bằng cách tự làm mình bị thương Vì lành lặn thì nó đói Nó phải què cụt để có

miếng ăn (Cái vốn để sinh nhai)

Trang 30

Anh Tiêu ốm nặng đến nỗi ho ra máu mà vẫn phải đi kéo xe giờ Bởi vì không kéo thì không có tiền, anh đói, vợ con anh đói và không có tiền trả thuê

xe (Được chuyến khách)

Đêm ba mươi Tết, anh phu xe vẫn phải kéo cô gái điếm để mong kiếm

lại một hai hào về ăn Tết Cuối cùng cũng bị lỗ, mất công, mất tiền (Ngựa

người và Người ngựa)

Người ta chết thì được chôn dưới đất, nhưng anh Cu chết không có đất

mà chôn vì nước lũ đã ngập hết đất đai (Chiếc quan tài)

Anh Xích bị chết đuối mà vẫn chưa được vớt lên đưa ma vì quan nghi ngờ có chuyện “bức tử” Ông bà Cửu đứt từng khúc ruột khi xác con trương

phềnh dưới nước làm mồi cho cá rỉa (Thịt người chết) Kép Tư Bền lại phải

cười mua vui cho thiên hạ trong hoàn cảnh đáng khóc vì nghe tin cha ở nhà

sắp gần đất xa trời (Kép Tư Bền)

Bên cạnh đó, truyện cười phải sử dụng cái ngẫu nhiên Dùng cái ngẫu nhiên cho các yếu tố được gặp nhau để hình thành nên cốt truyện Trong

truyện (Đồng hào có ma) thì chi tiết “con mẹ Nuôi” đánh rơi đồng hào đôi là

bắt đầu cho biến cố phát triển

Để lôi cuốn sự chú ý của độc giả, nhà văn để cho nhân vật Samandji

ngẫu nhiên nói câu: “Anh không tốt” với nhân vật “tôi” Câu nói này lại đánh

trúng vào hoàn cảnh “bi đát” của “tôi” Người đọc chăm chú theo dõi, cuối

cùng té ra là sự hiểu nhầm của “tôi” và của cả độc giả (Samandji)

Bác phó lý ngẫu nhiên trúng xổ số cái ô tô của quan huyện Và phải là bác phó lý trúng xổ số thì tính cách đểu giả của quan cũng như cái vận hạn

mới bộc lộ rõ, bởi vì bác nghèo, lại là thuộc hạ quan (Cái nạn ô tô) Được xe

tưởng là sướng mà hóa ra khốn nạn

Nguyễn Công Hoan là nhà văn có biệt tài về truyện ngắn, đặc biệt là truyện ngắn trào phúng Khác với Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố luôn đi sâu

Trang 31

vào việc mô tả sự tha hóa của con người trước thế lực tiền bạc và tham ô thì ngòi bút của Nguyễn Công Hoan lại sử dụng bút pháp trào phúng hết sức độc đáo, xoay quanh tiếng cười mang đậm đà bản sắc dân tộc

Thực tế, tiếng cười Việt Nam là một đặc sắc, một truyền thống, một vốn quý, thể hiện tinh thần lac quan của dân tộc Nhân dân ta không chỉ cười trong niềm vui phấn khởi mà còn cười chua chát trong nỗi đau thương tê tái, cười phẫn nộ trong nỗi căm giận sâu lắng Chúng ta đã trải qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước với biết bao đổi thay của xã hội; trong đó có những khi nhân dân ta cười hả hê, cũng lắm lúc đau thương cay đắng mà vẫn cười và chính những tiếng cười đó đã được Nguyễn Công Hoan làm bật lên trong sáng tác của mình Đó là những tiếng cười mang ý nghĩa xã hội sâu sắc, tiếng cười như mũi tên nhằm vào một loạt đối tượng của xã hội

“Đề tài và các vấn đề xã hội mà Nguyễn Công Hoan nêu ra trong truyện trào phúng của ông rất đa dạng, tạo thành những bức tranh giàu sức sống và sáng tạo, đem lại cho độc giả những cảm giác lý thú, bất ngờ Đọc sáng tác của ông có thể bắt gặp nhiều loại người, thuộc nhiều tầng lớp xã hội, sừng sững hiện lên trên những trang sách: từ vua quan, cường hào, địa chủ tưu sản đến những người dân lao động, những kẻ nghèo khổ, khốn cùng Với cái nhìn mạnh dạn, khám phá, Nguyễn Công Hoan đã chiếu thẳng ống kính vào nhiều mặt nhiều vẻ, nhiều góc độ của những hình tượng mà ông xây dựng, nhất là đối với những nhân vật phản diện” Đồng thời, ở Nguyễn Công Hoan còn là

sự phong phú của thủ pháp nghệ thuật trong việc thể hiện tư tưởng, chủ đề, thủ pháp chủ yếu đó là cường điệu và phóng đại, mà Nguyễn Công Hoan gọi

là “nói quá lên một tí”

Khác với Ngô Tất Tố, nổi tiếng sau về trào phúng và chỉ ở một số tiểu phẩm chứ không thuộc phần sáng tác cơ bản của nhà văn “Tiếng cười của Ngô Tất Tố không giòn giã nhưng dí dỏm, sâu sắc và thủ pháp gây cười là

Trang 32

dùng lối tỉ dụ Ông thường dùng những điển tích xưa để nói chuyện nay, dùng

câu chuyện này để nói tới việc khác như trong các bài nổi tiếng: Ông thống xứ

với trận mưa hôm nọ, Ông Page chắc có đọc qua Trang Tử, Không phải đánh bốc, đánh bài Tây đấy!,…Ở Ngô Tất Tố, ngoài cái phần khỏe của dân gian còn có cái sâu sắc, tế nhị của Nho học và như có thềm phần tiếp hơi của văn học nước ngoài”

“Ở Vũ Trọng Phụng, như trong Số đỏ, tiếng cười lại đầy vẻ hài hước,

giễu cợt những cái buồn cười nhố nhăng, lố bịch, không chỉ của một hạng người mà của nhiều hạng người Vũ Trọng Phụng đã khiến cho người đọc như được chứng kiến tận mắt sự việc đang diễn ra của một đám báo hiếu ở một gia đình đại bất hiếu Hàng phố thì vui quá vì mấy khi được xem một đám ma to đến như thế Có cả lối “Ta, Tàu, Tây, có kiệu, bát cống, lợn quay

đi lọng, cho đến lốc cốc xoảng và bu dích và vòng hoa, có đến ba trăm câu đối, vài ba trăm người đi đưa, lại có cậu Tú Tân chỉ huy, những nhà tài tử chụp ảnh đã thi nhau như ở hội chợ” Đó là tiếng cười phủ định sâu sắc cả cái

xã hội thảm hại, đáng khôi hài” Có thể nói, mỗi nhà văn có những sắc thái riêng trong việc thể hiện tiếng cười và Nguyễn Công Hoan có chút khác biệt

so với hai nhà văn cùng thời Ông đã phác họa khá tài tình nhiều bức tranh hoặc chân dung sinh động với những nhân vật có lời ăn tiếng nói, điệu bộ, tính tình được cường điệu, phóng đại nhưng lại rất hiện thực, bộc lộ bản chất của sự vật, của con người Bằng ngòi bút của mình, Nguyễn Công Hoan đã đóng góp vào lịch sử văn học nhiều bức tranh trào lộng sinh động có khi đẫm nước mắt và máu của những ngày nhân dân ta phải sống cuộc đời nô lệ lầm than Chỉ với những truyện ngắn, chúng ta cũng đủ xác nhận một sức sáng tạo

to lớn, truyệt vời ở Nguyễn Công Hoan

Như vậy, văn chương trào phúng của Nguyễn Công Hoan chiếm một vị trí rất đặc biệt trong văn học Việt Nam hiện đại nói riêng và văn học Việt

Trang 33

Nam nói chung Tiếng cười Nguyễn Công Hoan như một luồng gió mới thổi vào miền đất văn học, đem lại một sức sống mới Tiếng cười ấy chĩa vào từng

sự tha hóa trong xã hội nhưng không giản đơn là chỉ cười vào tầng lớp nào, con người nào, mà còn là cười trạng thái tha hóa con người nói chung Tiếng cười Nguyễn Công Hoan thật đa dạng Có cái cười vui ngộ nghĩnh, có cái cười châm biếm kín đáo, có cái cười bốp chát mỉa mai, có cái cười xót xa ra nước mắt…đa dạng mà vẫn thống nhất trên cơ sở một giọng điệu chủ đạo: giọng hài hước

Có thể thấy Nguyễn Công Hoan có những cách tân độc đáo, đặc sắc về mặt nghệ thuật và có sự đổi mới về quan niệm, về cái nhìn nghệ thuật Truyện ngắn của ông đã đánh dấu một bước phát triển mới của Văn học hiện đại Việt Nam

Tiểu kết chương 1:

Như vậy, với những gì Nguyễn Công Hoan đóng góp cho nền văn học nước nhà, chúng ta có thể khẳng định vị trí, tài năng của ông trên văn đàn Việt Nam

Nguyễn Công Hoan đã tạo được cho mình một mạch riêng với những nét đặc sắc, độc đáo trong sáng tác Ông đã dùng ngòi bút của mình vạch toạc tất

cả những sự thật đen tối của một chế độ xã hội tàn nhẫn và mục nát đến xương tủy, những sự thật mà nhiều người có thể biết nhưng chưa nhận thức được hết cái tính chất vô đạo, bất nhân của nó

Nguyễn Công Hoan đã dần từng bước khẳng định mình với chiều sâu khi thể hiện các tư tưởng, chủ đề ngày càng điêu luyện trong nghệ thuật viết, xứng đáng là một nhà văn tiêu biểu của văn học hiện thực thời kỳ 1930 –

1935 Đặc biêt, hầu hết các nhà nghiên cứu trong nước đều coi Nguyễn Công Hoan là nhà văn “bậc thầy”, có “biệt tài” về trào phúng

Trang 34

Ông đã phác họa khá tài tình nhiều bức tranh hoặc chân dung sinh động với những nhân vật có lời ăn tiếng nói, điệu bộ, tính tình được cường điệu, phóng đại nhưng lại rất hiện thực, bộc lộ bản chất của sự vật, của con người trong xã hội lúc bấy giờ

Bằng ngòi bút của mình, Nguyễn Công Hoan đã đóng góp vào lịch sử văn học nhiều bức tranh trào lộng sinh động, xứng đáng là nhà văn hiện thực tiêu biểu giai đoạn 1930 – 1945, là cây bút truyện ngắn xuất sắc và là đỉnh cao của văn chương trào phúng Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX

Trang 35

CHƯƠNG 2 NÉT ĐỘC ĐÁO CỦA THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT

TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN CÔNG HOAN

2.1 QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT CỦA NGUYỄN CÔNG HOAN QUA TRUYỆN NGẮN

Quan niệm nghệ thuật là sự nhận thức, ý thức của người nghệ sĩ về bản chất của nghệ thuật, về tác phẩm, về vai trò, giá trị của nó trong cuộc sống; về thiên chức, về vị trí của nhà văn trên nền văn học dân tộc Hiện thực khách quan đầu thế kỷ XX là một xã hội thực dân nửa phong kiến với bao nhiêu áp bức nặng nề, phơi bày nhiều mặt bất công ngang trái Con người Việt Nam thời kỳ này chịu nhiều khổ cực: Sự đày đọa cuộc sống dưới ách đế quốc thực dân và phong kiến; sự hủy hoại văn hóa, đạo đức truyền thống dân tộc; sự xâm nhập của văn minh phương Tây trong ý đồ đen tối của thực dân Pháp Hoàn cảnh lịch sử trên đã tác động tới việc hình thành quan niệm nghệ thuật

về cuộc đời và con người của các nhà văn hiện thực phê phán Phản ánh hiện thực khách quan như nó tồn tại, chú trọng miêu tả con người gắn với hoàn cảnh, tính cách con người bị quy định bởi hoàn cảnh, văn học hiện thực phê phán đã tạo ra một bước ngoặt mới trong việc khám phá đời sống con người,

đề cập đến kiểu người tha hóa sâu sắc và toàn diện nhưng lại bao hàm khả năng hoàn thiện nhân cách của con người và của chính nhà văn

Quan niệm nghệ thuật về cuộc đời và con người của các nhà văn hiện thực phê phán là “nghệ thuật vị nhân sinh” Ngô Tất Tố phát hiện ra hình ảnh một người phụ nữ nông thôn Việt Nam trong sạch, đẹp đẽ và lung linh trong màn đêm của xã hội thực dân và phong kiến Những phẩm chất: thủy chung, hiền dịu, đảm đang, giàu sức quật khởi ở chị Dậu là tấm gương sáng mà bạn đọc mãi mãi đi tìm Còn Nguyễn Công Hoan, với quan niệm “Cuộc đời là một sân khấu hài kịch”, đã nhìn vào mặt trái của cuộc đời, của con người, để phỉ

Trang 36

nhổ vào những xấu xa, bỉ ổi của xã hội, để cười ra nước mắt những điểm xấu của con người dưới đáy nhằm lên án xã hội đảo điên.

2.1.1 Quan niệm “cuộc đời là một sân khấu hài kịch”

Nguyễn Công Hoan coi cuộc đời là “Một sân khấu hài kịch”, là cả một thế giới làm trò, cái gì cũng giả dối, lừa bịp, đáng khôi hài Tính kịch trở thành cảm hứng, thành phương thức xây dựng tác phẩm chi phối trực tiếp cấu trúc cùng các thành tố cơ bản trong các sáng tác của ông

Dường như ta không chỉ nghe mà còn thấy hiển hiện ra trước mắt một xã hội với những mối quan hệ cực kỳ phức tạp và sinh động, “như thực” của nó Truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan trở thành điển hình cho khuynh hướng

“Truyện ngắn - kịch” - Một loại hình truyện ngắn rất nổi bật trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945

Sân khấu hài kịch do Nguyễn Công Hoan dựng lên không chỉ tập trung phản ánh một đối tượng, một vấn đề xã hội mà còn tập trung vào nhiều vấn đề bức xúc của xã hội đương thời, từ chuyện mua bán chức tước, chuyện trăng hoa, quan lại hà hiếp dân cùng,…cho đến những kẻ trưởng giả tàn ác bất chấp luân thường, đạo lý, thói a dua học đòi,… Tất cả đều được phản ánh qua ngòi bút sắc nét và chân thực

Từ trong quan niệm, Nguyễn Công Hoan coi cuộc đời “là một sân khấu hài kịch”, là “cả một thế giới làm trò, cái gì cũng giả dối, lừa bịp, đáng khôi hài…” Cách nhìn cuộc đời như vậy tạo nên chất kịch rất đậm nét trong truyện ngắn của ông “Kịch hóa” thực sự trở thành cảm hứng, thành phương thức xây dựng tác phẩm, chi phối trực tiếp cấu trúc cùng các thành tố cơ bản trong sáng tác của Nguyễn Công Hoan “Truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan hiện ra trước mắt chúng ta với những lớp lang và đối thoại như trong một màn kịch” Đọc truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, trước mắt người đọc luôn hiện ra những cảnh đời nhốn nháo, đầy mâu thuẫn, xung đột với đầy

Trang 37

đủ các cung bậc bi hài của nó Tiếp xúc với chúng, người đọc không chỉ được nghe kể lại mà như đang được trực tiếp chứng kiến cuộc đời diễn ra với những mối quan hệ cực kì phức tạp và sống động như thực của nó Có thể nói chất kịch của bản thân cuộc sống hiện đại đó chi phối một cách “không tự giác quá trình xây dựng tác phẩm của nhà văn Và đặc tính của một nền văn học dân tộc vốn thiên về truyện kể, thiên về “hướng ngoại” cũng liên quan mật thiết đến vấn đề sáng tác Vì thế ở Việt Nam, các sáng tác đậm tính kịch thường thiên về phản ánh trực diện các mâu thuẫn, xung đột trong đời sống xã hội, phản ánh các quan hệ xã hội nổi lên trên bề mặt của cuộc sống với toàn

bộ sự phong phú, phức tạp của nó”

Ở truyện ngắn Nguyễn Công Hoan thực sự đã tạo ra những truyện ngắn hiện đại đầu tiên – những truyện ngắn mang đầy đủ tính kịch của cuộc sống hiện đại

a Xung đột – chất liệu kịch

Truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan rất tập trung, cô đọng, cảm hứng đi liền một mạch từ đầu đến cuối: “Ngắn (là hình thức) và thanh giản (là tinh thần), đó là hai đức tính cơ bản của truyện ngắn” Mỗi truyện chỉ mô tả, một việc, một cảnh, một nỗi lòng Và mỗi truyện ngắn Nguyễn Công Hoan là một xung đột trào phúng mang đậm chất kịch Ở đó, xung đột tồn tại với tư cách là

sự đối lập, sự mâu thuẫn được dùng như một nguyên tác để xây dựng các mối quan hệ tương tác giữa các hình tượng

Là người có trí tuệ sắc sảo, Nguyễn Công Hoan rất nhạy cảm trong việc nhận ra các mâu thuẫn trái tự nhiên vốn đầy rẫy trong xã hội đương thời Dưới con mắt nhà trào phúng, con người luôn tồn tại dưới dạng tương phản giữa tốt và xấu, chân thật và giả dối, đạo đức và vô đạo, tử tế và đểu giả, có lương tâm và bất lương tâm, công lý và bất công,…Đối với Nguyễn Công Hoan, con người luôn được nhìn nhận ở hai bình diện lủng củng, xung khắc

Trang 38

nhau: con và người, bản năng thân xác và trí tuệ lý tưởng, nói và làm, thực sự sống như thế nào và lẽ ra là sống như thế nào Tác phẩm của ông là sự nắm bắt con người ở xung đột giữa sự thuyết giáo và lối sống thực tại, giữa sự rao giảng đạo đức và hành động thực tiễn xấu xa, giữa lời nói trống rỗng và việc làm bậy bạ,…

Trên nền tảng tư tưởng trên, Nguyễn Công Hoan đã sáng tạo ra hai loại xung đột cơ bản:

Loại thứ nhất là xung đột bên ngoài giữa nhân vật này và nhân vật khác Được thể hiện ở nhiều dạng thức khác nhau có khi là xung đột giữa hình thức và nội dung, có khi là xung đột giữa phúc và họa, cũng có khi là xung đột giữa nguyên nhân nhỏ nhặt, kết quả to tát nghiêm trọng

Chẳng hạn ở truyện Xuất giá tòng phu, xung đột giữa hình thức và nội

dung được thể hiện dưới dạng ngôn từ rất đạo đức của người chồng “là vợ mà chồng bảo không nghe Luân lý để đâu? Giáo dục để đâu?” nhưng để đạt mục đích vô luân là “tết” quan trên bằng tấm thân của vợ mình

Ở truyện Đồng hào có ma thì xung đột giữa hình thức và nội dung lại thể hiện ở dạng bề ngoài oai nghiệm sang trọng nhưng thực chất là ăn cắp một cách rất ti tiện của viên quan tri huyện

Cũng như thế trong Thịt người chết xung đột giữa nội dung và hình thức

cũng được thể hiện ở dạng bề ngoài uy nghiêm, lạnh lùng của một ông quan huyện tư pháp với việc làm ti tiện cố tình dây dưa dọa dẫm không cho chôn cái xác người chết đó trương thối để kiếm chác thêm ít tiền bỏ túi

Trong truyện Đào kép mới xung đột giữa hình thức và nội dung được thể

hiện ở dạng hình thức bên ngoài có vẻ mới của gánh hát An Lạc quảng cáo rùm beng là có tích hát mới, rạp mới chấn chỉnh, đào kép mới nhưng thực chất bên trong là nội dung cũ: vẫn tích hát cũ, bọn đào kép cũ đổi vai cho nhau

Trang 39

Ở truyện Cái ví ấy của ai và Mất cái ví là một dạng thức khác của xung đột nội dung và hình thức Đó là vẻ bề ngoài lịch sự, sang trọng của những người có học, có quyền nhưng thực chất lại xỏ xiên, bần tiện và nhỏ nhặt Ở

truyện Báo hiếu trả nghĩa cha và Báo hiếu trả nghĩa mẹ là xung đột giữa hình

thức đại hiếu, thực chất lại đại bất hiếu

Trong Báo hiếu trả nghĩa cha, nhân vật ông chủ hiệu xe cao su kiêm chủ

hãng ô tô “Con cọp” có bộ dạng của con người chí hiếu (làm giỗ cha linh đình, mời toàn người giàu có sang trọng Khách đến, “Ông chủ” tiếp đón toàn bằng lời lẽ của con nhà “nề nếp”; “gia giáo”) Nhưng thực chất đó là một kẻ đại bất hiếu (ngay trong ngày dỗ cha ấy, mẹ đẻ ở quê ra “ông chủ” mắng nhiếc thậm tệ, vứt cho hai hào, rồi gọi bồi đuổi ra ngay Không những thế ông chủ còn ra lệnh cấm “Khụng đứa nào được kéo bà ấy cả! cho mà đi bộ để bận

sau chừa ”) Còn trong Báo hiếu trả nghĩa mẹ, vợ chồng ông chủ hãng xe ô tô

Con cọp hiện lên là những người con hiếu chủ vì đã làm đám tang cho mẹ hết sức linh đình, khóc thương mẹ thảm thiết rồi ngất đi, “cứ lăn ra đường, những muốn đi theo mẹ, còn hơn phải bơ vơ như chim mất tổ” nhưng thực chất lại à những đứa con đại bất hiếu, vì không muốn nuôi mẹ nên đã đầu độc cho mẹ chết

Ở truyện Thế là mợ nó đi Tây và Oẳn tà roằn lại là dạng bề ngoài tiết hạnh, thủy chung nhưng thực chất dối trá, hư hỏng

Như vậy, có thể thấy xung đột giữa nội dung và hình thức chiếm đại bộ phận trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan Ngoài kiểu chủ yếu này, ông còn sáng tạo ra hai kiểu xung đột khác, tuy xét đến cùng, về bản chất nó cũng là xung đột giữa hình thức và nội dung Đó là xung đột giữa phúc và họa và xung đột giữa nguyên nhân nhỏ nhặt bình thường nhưng kết quả lại to tát nghiêm trọng

Trang 40

Truyện ngắn Hé! Hé! Hé! là một ví dụ têu biểu cho kiểu xung đột giữa

phúc và họa Bà Chánh Tiền vợ Chánh Tổng Đồng Quân gặp vợ cụ lớn đầu tỉnh, được cụ vồn vã chào mời thân mật như chị em thân thiện, lại được cụ lớn mời vào nhà chơi và nhờ vả chuyện đong thóc Thế là gặp phúc vì có cơ hội làm thân với “vợ một cụ lớn đầu tỉnh” (Trời ơi! ai được thế mà chẳng thọ thêm mười năm) Nhưng cuộc làm thân ấy hóa ra lại là một tai họa vì cụ lớn

bà đong thóc của bà Chánh Tiền nhưng không đưa tiền, tức đong chịu và còn gửi ngay ở nhà bà Chánh nhờ giữ hộ để đến lúc thóc lên giá cao, cụ Tuần bà đưa thư xuống nhờ bà Chánh Tiền bán giúp, khi ấy cụ mới trả tiền đong thóc

và thu về khoản tiền lời 500 đồng

Còn truyện Thằng ăn cắp là ví dụ tiêu biểu cho kiểu xung đột giữa

nguyên nhân nhỏ nhặt bình thường nhưng kết quả lại to tát nghiêm trọng Trong truyện ngắn này, tác giả mô tả một thằng ăn cắp bị mọi người đuổi bắt và đánh đập một cách dã man (kết quả to tát, nghiêm trọng) chỉ vì nó ăn hai xu bún riêu cuả bà hàng bún rồi bỏ chạy, tức nó ăn quỵt tiền để bà bán bún riêu hô hoán ầm ĩ lên là “thằng ăn cắp” (nguyên nhân nhỏ nhặt)

Loại thứ hai là xung đột bên trong nội tâm của nhân vật Chẳng hạn,

truyện Kép Tư Bền, xung đột có tính trào phúng diễn ra trong nội tâm anh

Kép hát Tư Bền là phải cười (phải diễn những trò hề mua cười cho khán giả trên sân khấu) trong khi trong lòng muốn khóc (bố ở nhà ốm nặng, sắp chết)

Ở đây con người không được làm chủ, kể cả làm chủ tiếng cười tiếng khóc của mình

Ở truyện Ngựa người và người ngựa, xung đột diễn ra trong nội tâm nhân vật anh phu xe là hy vọng càng cao (kéo thêm giờ đưa cô gái giang hồ đi kiếm được khách để được trả tiền công) thì thất vọng càng lớn (đến tận lúc qua giao thừa đón xuân, cô gái giang hồ không tìm được khách, tính kế chuồn mất, anh phu xe trở về tay không)

Ngày đăng: 12/05/2021, 21:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Nguyễn Minh Châu (1994), Nhà văn Nguyễn Công Hoan - văn nghệ số 40- 1985 in lại trong "Trang giấy trước đèn", Nxb khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang giấy trước đèn
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: Nxb khoa học xã hội
Năm: 1994
[2] Trương Chính (1985), Đọc “Tuyển tập Nguyễn Công Hoan”, Tuần báo Văn nghệ, số 48, năm 1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: c “Tuy"ể"n t"ậ"p Nguy"ễ"n Công Hoan”
Tác giả: Trương Chính
Năm: 1985
[3] Lê Chí Dũng – Trần Đình Hượu (1988), Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 – 1930, Nxb Đại học và TH chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: V"ă"n h"ọ"c Vi"ệ"t Nam giai "đ"o"ạ"n giao th"ờ"i 1900 – 1930
Tác giả: Lê Chí Dũng – Trần Đình Hượu
Nhà XB: Nxb Đại học và TH chuyên nghiệp
Năm: 1988
[4] Nguyễn Đức Đàn (1968), Mấy vấn đề văn học hiện thực phê phán Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: M"ấ"y v"ấ"n "đề" v"ă"n h"ọ"c hi"ệ"n th"ự"c phê phán Vi"ệ"t Nam
Tác giả: Nguyễn Đức Đàn
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1968
[5] Phan Cự Đệ (1983), Nguyễn Công Hoan - Trong nhà văn Việt Nam 1945 - 1975 (tập 2), Nxb ĐH và TH chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguy"ễ"n Công Hoan - Trong nhà v"ă"n Vi"ệ"t Nam 1945 - 1975 (t"ậ"p 2)
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb ĐH và TH chuyên nghiệp
Năm: 1983
[6] Phan Cự Đệ (1999), Văn học Việt Nam 1900 – 1945, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: V"ă"n h"ọ"c Vi"ệ"t Nam 1900 – 1945
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
[7] Phan Cự Đệ (2001), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ti"ể"u thuy"ế"t Vi"ệ"t Nam hi"ệ"n "đạ"i
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
[8] Phan Cự Đệ (2004), Văn học Việt Nam thể kỷ 20, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: V"ă"n h"ọ"c Vi"ệ"t Nam th"ể" k"ỷ" 20
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
[9] Trần Hạc Đình (1936), “Phê bình Kép Tư Bền”, Hà Nội báo (số 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình Kép Tư Bền”, "Hà N"ộ"i báo
Tác giả: Trần Hạc Đình
Năm: 1936
[11] Hà Minh Đức (1971), Nhà văn và tác phẩm, Nxb văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà v"ă"n và tác ph"ẩ"m
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb văn học
Năm: 1971
[12] Lê Thị Đức Hạnh (2003), Nguyễn Công Hoan về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguy"ễ"n Công Hoan v"ề" tác gia và tác ph"ẩ"m
Tác giả: Lê Thị Đức Hạnh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
[13] Lê Thị Đức Hạnh (1979), Tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hi"ể"u truy"ệ"n ng"ắ"n Nguy"ễ"n Công Hoan
Tác giả: Lê Thị Đức Hạnh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1979
[14] Lê Thị Đức Hạnh (1969), “Ông chủ” một tác phẩm hay của Nguyễn Công Hoan về vấn đề nông dân trước cách mạng, Tạp chí Văn học số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Ông chủ” một tác phẩm hay của Nguyễn Công Hoan về vấn đề nông dân trước cách mạng, "T"ạ"p chí V"ă"n h"ọ"c s"ố
Tác giả: Lê Thị Đức Hạnh
Năm: 1969
[15] Lê Thị Đức Hạnh (1970), “Ảnh hưởng của Đảng đối với sáng tác của Nguyễn Công Hoan trong thời kỳ mặt trận dân chủ”, Tạp chí Văn học số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của Đảng đối với sáng tác của Nguyễn Công Hoan trong thời kỳ mặt trận dân chủ”, "T"ạ"p chí V"ă"n h"ọ"c s"ố
Tác giả: Lê Thị Đức Hạnh
Năm: 1970
[16] Lê Thị Đức Hạnh (1970), “Vấn đề nông dân và cuộc sống nông thôn trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan trước cách mạng”, Tạp chí Văn học số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề nông dân và cuộc sống nông thôn trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan trước cách mạng”, "T"ạ"p chí V"ă"n h"ọ"c s"ố
Tác giả: Lê Thị Đức Hạnh
Năm: 1970
[17] Lê Thị Đức Hạnh (1971), “Sáng tác của Nguyễn Công Hoan sau cách mạng”, Tạp chí Văn học số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng tác của Nguyễn Công Hoan sau cách mạng”, "T"ạ"p chí V"ă"n h"ọ"c s"ố
Tác giả: Lê Thị Đức Hạnh
Năm: 1971
[18] Lê Thị Đức Hạnh (1975), “Nghệ thuật trào phúng trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan”, Tạp chí Văn học số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật trào phúng trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan”, "T"ạ"p chí V"ă"n h"ọ"c s"ố
Tác giả: Lê Thị Đức Hạnh
Năm: 1975
[19] Lê Thị Đức Hạnh (1977), “Nghệ thuật viết truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan”, Tạp chí Văn học số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật viết truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan”, "T"ạ"p chí V"ă"n h"ọ"c s"ố
Tác giả: Lê Thị Đức Hạnh
Năm: 1977
[20] Lê Thị Đức Hạnh (1977), Nguyễn Công Hoan sau cách mạng in trong “Tác gia văn xuôi Việt Nam hiện đại”, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguy"ễ"n Công Hoan sau cách m"ạ"ng in trong "“Tác gia v"ă"n xuôi Vi"ệ"t Nam hi"ệ"n "đạ"i”
Tác giả: Lê Thị Đức Hạnh
Nhà XB: Nxb khoa học xã hội
Năm: 1977
[21] Lê Thị Đức Hạnh (1979), Tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, Nxb khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hi"ể"u truy"ệ"n ng"ắ"n Nguy"ễ"n Công Hoan
Tác giả: Lê Thị Đức Hạnh
Nhà XB: Nxb khoa học xã hội
Năm: 1979

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w