28 CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG GIẢNG DẠY MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG .... Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi ch
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, trên cơ sở của sự tham khảo có chọn lọc và đầu tư cẩn thận được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Vương Thị Bích Thủy và chưa từng công bố trong bất kì công trình nào khác
Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về nội dung khoa học của công trình này
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2017
Tác giả
Trần Thị Hằng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để nghiên cứu và hoàn thiện khóa luận của mình, đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến TS Vương Thị Bích Thủy – người đã tận tình hướng dẫn, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận Bên cạnh đó, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa Giáo dục chính trị, Trường Đại học Sư phạm và khoa Lý luận chính tri, khoa Kinh tế chính trị Trường Đại học kinh tế - Đại học Đà Nẵng đã truyền đạt những kiến thức lý luận và thực tiễn quý báu cho tôi trong những năm học vừa qua Cuối cùng, xin được gửi lời cảm ơn đến tập thể sinh viên lớp 13SGC khoa Giáo dục chính trị đã có những góp ý chân thành, động viên kịp thời để tôi làm tốt khóa luận này Trong quá trình nghiên cứu khóa luận, bản thân tôi không tránh khỏi những thiếu sót Tôi mong nhận được sự góp ý quý báu từ quý thầy giáo, cô giáo và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2017
Sinh viên thực hiện
Trần Thị Hằng
Trang 5MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 7
2.Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 7
3.Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 8
4.Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 8
5.Bố cục của đề tài 8
6.Tổng quan tài liệu nghiên cứu 9
B NỘI DUNG 13
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG 13
1.1.Cơ sở lý luận 13
1.1.1.Cơ sở triết học 13
1.1.2.Cơ sở tâm lý, giáo dục học 14
1.2 Khái quát chung về phương pháp dạy học 17
1.2.1.Khái niệm phương pháp dạy học 17
1.2.2.Cấu trúc của phương pháp dạy học 19
1.2.3.Phân loại phương pháp dạy học 20
1.3.Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông 22
1.3.1.Đường lối, chủ trương của Đảng về đổi mới giáo dục hiện nay 22
1.3.2 Những đổi mới về nội dung, phương pháp dạy học môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông hiện nay 25
Kết luận chương 1 28
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG GIẢNG DẠY MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 29
2.1 Quan niệm phương pháp dạy học phát huy tính tích cực 29
2.2.Chương trình môn giáo dục công dân lớp 11 31
2.3 Phương pháp dạy học phát huy tính tích cực môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông 33
2.3.1 Phương pháp thuyết trình 33
2.3.2 Phương pháp vấn đáp (đàm thoại) 34
Trang 62.3.3 Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề 36
2.3.4 Phương pháp hoạt động nhóm 38
2.3.5 Phương pháp động não 39
2.3.6 Phương pháp trực quan 41
2.4 Điều kiện để vận dụng phương pháp dạy học phát huy tính tích cực 42
Kết luận chương 2 44
CHƯƠNG 3: VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG GIẢNG DẠY MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 11 QUA THIẾT KẾ BÀI GIẢNG 45
3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 45
3.2 Đối tượng thực nghiệm 45
3.3 Giáo viên thực nghiệm 45
3.4 Địa điểm thực nghiệm sư phạm tại trường THPT Thanh Khê TP.Đà Nẵng 46
3.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 46
3.6 Một số giáo án thực nghiệm 47
3.7 Đánh giá của giáo viên và học sinh sau khi thực nghiệm 65
Kết luận chương 3 66
C KẾT LUẬN 67
PHỤ LỤC 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
ĐỀ TÀI CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN KHÓA LUẬN ĐÃ CÔNG BỐ 76
Trang 7A MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhận thức việc đổi mới phương pháp dạy học là một trong những vấn đề cấp thiết hiện nay của đất nước ta, Đảng và Nhà nước đã quan tâm và ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị nhằm thúc đẩy việc đổi mới phương pháp dạy học ở nhiều cấp bậc học
Luật giáo dục (2005), điều 5 khoản 2 đã ghi: “phương pháp giáo dục phải phát huy
tính tích cực, tự giác, chủ động tư duy sáng tạo cho người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê và ý chí vươn lên”
Nằm trong định hướng đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo môn giáo dục công dân đã có những thay đổi nhất định, bước đầu thu được những kết quả
và chuyển biến tích cực Môn giáo dục công dân có nhiệm vụ quan trọng là giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cho học sinh, là môn học có tác dụng giáo dục một cách có hệ thống và trực tiếp nhất mà không một môn học nào có thể thay thế
Trước yêu cầu thực tiễn đặt ra, sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học môn giáo dục công dân ở trường phổ thông là cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Môn giáo dục công dân lớp 11 ở trường trung học phổ thông cung cấp cho học sinh những hiểu biết về các vấn đề kinh tế và các vấn
đề chính trị - xã hội Đó là những kiến thức rất gần gũi và thiết thực đối với các em học sinh, đồng thời giúp học sinh trong quá trình học tập nắm bắt tri thức một cách toàn diện Điều quan trọng là cần phải khơi dậy những hiểu biết từ bản thân các em và
sự tìm tòi, chủ động, tích cực về nhiều vấn đề kinh tế - xã hội của đất nước Điều này đòi hỏi người dạy ngoài việc cung cấp nội dung tri thức cho học sinh, thì cần sáng tạo, vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học tích cực theo hướng đổi mới của Bộ giáo dục và Đào tạo để giúp học sinh phát huy năng lực bản thân
Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi chọn đề tài: “Vận dụng phương pháp
dạy học phát huy tính tích cực vào giảng dạy môn giáo dục công dân lớp 11 ở trường trung học phổ thông” làm đề tài khóa luận của mình
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích: Qua nghiên cứu việc vận dụng phương pháp dạy học phát huy tính
tích cực trong giảng dạy học môn giáo dục công dân lớp 11 ở trường trung học phổ
Trang 8thông, đề tài hướng đến mục đích đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn giáo dục công dân ở trường phổ thông
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Phương pháp dạy học phát huy tính tích cực trong giảng dạy môn
giáo dục công dân cho học sinh lớp 11 ở trường trung học phổ thông
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: dạy học môn giáo dục công dân lớp 11 ở trường trung học phổ thông
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Lý luận dạy học hiện đại; Đường lối, chính sách và quan điểm
của Đảng về đổi mới giáo dục
- Phương pháp nghiên cứu:
+ Nhóm Phương pháp nghiên cứu lý luận gồm các phương pháp sau: Phân tích,
so sánh, hệ thống hóa, khái quát hóa những tài liệu liên quan đến đề tài
+ Nhóm Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Phương pháp quan sát: dự giờ, chủ động quan sát việc dạy và học môn giáo dục công dân ở trường phổ thông
Phương pháp đàm thoại, phỏng vấn, trò chuyện
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: trao đổi kinh nghiệm với các thầy cô giáo, các đồng nghiệp và chính bản thân mình
Phương pháp thực nghiệm
5 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, đề tài bao gồm 3 chương, 9 tiết và cuối cùng danh mục tài liệu tham khảo
Trang 96 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Phương pháp dạy học phát huy tính tích cực không mới nhưng đó là một trong những nội dung quan trọng nằm trong chương trình đổi mới giáo dục của nước nhà Việc sử dụng phương pháp dạy học tích cực đối với tất cả các môn học nói chung và môn giáo dục công dân nói riêng ở trường phổ thông là việc làm cần thiết trong quá trình dạy và học Việc làm này phát huy năng lực của người học cũng như giúp học sinh có sự chủ động, sáng tạo và linh hoạt trong học tập hơn, đảm bảo lấy học sinh làm trung tâm cho quá trình dạy học
Ở nước ta từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về đổi mới phương pháp dạy học, dạy học tích cực, sử dụng phương pháp tích cực trong dạy học… Những kết quả trên bước đầu thu được những thành tựu rất đáng trân trọng Trên cơ sở tiếp cận các nguồn tài liệu khác nhau, chúng tôi nhận thấy liên quan đến đề tài có hai hướng nghiên cứu chính như sau:
Hướng nghiên cứu thứ nhất, bao gồm những công trình nghiên cứu về lý luận và
thực tiễn phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, tiêu biểu trong số đó là:
Nguyễn Thùy An, (2013), Khóa luận Đại học Vận dụng phương pháp trực quan
trong dạy học học phần I môn GDCD lớp 10 trường THPT Hương Sơn, Huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh Công trình nhằm góp phần nâng cao nhận thức về việc vận dụng
phương pháp trực quan trong dạy học phần Công dân với việc hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học môn GDCD lớp 10 ở trường THPT Đồng thời, công trình phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và hứng thú học tập trong học sinh
Vũ Đình Bảy (chủ biên), Đặng Xuân Điều, Nguyễn Thành Minh, Vũ Văn Thục
(2012), Lý luận dạy học môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông Công
trình này tổng quan khá đầy đủ về lý luận dạy học môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông, ngoài việc trình bày khái quát về vai trò, nhiệm vụ, chức năng của môn học bám sát thực tiễn đổi mới dạy học môn giáo dục công dân hiện nay, ngoài ra công trình này còn định hướng phát triển năng lực nghề nghiệp cho sinh viên trong quá trình rèn luyện nghiệp vụ sư phạm để trở thành một người giáo viên dạy môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông
Nguyễn Ngọc Bảo với cuốn sách: “Phát triển tính tích cực, tính tự lực của học
sinh trong quá trình dạy học”, tác giả đưa ra quan niệm học là hoạt động tích cực, tự
Trang 10lực, là trung tâm của quá trình dạy học và đã nêu lên các phương pháp dạy học nhằm tích cực hóa hoạt động của học sinh
Nguyễn Văn Cư, Nguyễn Duy Nhiên (Đồng chủ biên) (2007), Dạy và học môn
giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông những vấn đề lí luận và thực tiễn đã
đề cập đến những vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn dạy học môn giáo dục công dân trong nhà trường hiện nay
Đinh Văn Đức, Dương Thị Thúy Nga (Đồng chủ biên), (2011), Phương pháp dạy
học môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông Công trình cập nhật những
thay đổi về nội dung, chương trình môn học và sự phát triển của đời sống xã hội nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo giáo viên giáo dục công dân trong giai đoạn hiện nay; đã khái quát lý luận và giới thiệu các phương pháp day học môn giáo dục công dân ở trường phổ thông
Trần Bá Hoành với các bài: “Dạy học lấy người học làm trung tâm”, đăng trên tạp chí NCGD số 1/1994, bài: “Phương pháp tích cực” đăng trên tạp chí NCGD số 3/1996 hay bài “Phát triển sáng tạo của học sinh và vai trò của giáo viên” đăng trên tạp chí NCGD số 9/1999, nêu rõ thế nào là dạy học lấy người học làm trung tâm, thế nào
là phương pháp tích cực, thế nào là phương pháp hợp tác Đồng thời, tác giả chỉ rõ những đặc trưng của phương pháp tích cực
Nguyễn Kỳ với cuốn sách “Thiết kế bài học theo phương pháp tích cực” Tác giả
đã thực nghiệm thành công và có hiệu quả phương pháp này ở trường Tiểu học Lê Văn Tám, Hà Nội Trong cuốn sách này tác giả chỉ ra mối quan hệ giữa thầy và trò trong nhà trường, đó là mối quan hệ thầy – trò – lớp
Nguyễn Thị Nga, (2014), Luận văn Thạc sĩ Vận dụng phương pháp đóng vai vào
dạy học môn giáo dục công dân phần “công dân với pháp luật” ở trường trung học Lê Qúy Đôn – Hà Đông, thành phố Hà Nội Luận văn đề cập, làm rõ phương pháp đóng
vai, các kiểu hình thức đóng vai và quy trình thực hiện, cũng như tìm hiểu về thực trạng việc vận dụng phương pháp đóng vai vào dạy học môn giáo dục công dân lớp 12
ở trường THPT Lê Qúy Đôn – Hà Nội, từ đó tìm ra biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học của trường
Võ Thái Ngân, (2008), Khóa Luận Đại học Tích cực hóa phương pháp thuyết
trình trong dạy học môn giáo dục công dân phần Công dân với các vấn đề chính trị -
xã hội ở trường THPT Chuyên Ngọc Hầu, tỉnh An Giang
Trang 11Công trình nghiên cứu làm sáng tỏ bản chất, vai trò quan trọng của phương pháp thuyết trình trong dạy học môn GDCD trên cơ sở đó luận chứng sự cần thiế khách quan phải tích cực hóa phương pháp thuyết trình Đồng thời thông qua thực nghiệm sư phạm dạy học phần Công dân với các vấn đề chính trị - xã hội đề xây dựng quy trình tích cực hóa phương pháp thuyết trình trong dạy học môn GDCD ở trường THPT
Phạm Thị Thúy Phương, sáng kiến kinh nghiệm Một số phương pháp giảng dạy
giáo dục công dân theo hướng giáo dục tích cực (2010) Đây là công trình nghiên cứu
thiết thực, mang tính thực tiễn, nhằm hướng đến một giải pháp cụ thể trong việc dạy học môn giáo dục công dân
Công trình chủ yếu làm rõ việc đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức dạy học môn giáo dục công dân hiện nay Đồng thời, tác giả còn nhận được sự quan tâm từ học sinh và phụ huynh có hứng thú với các phương pháp dạy học hướng đến sự giáo dục tích cực qua áp dụng vào giảng dạy một số bài trong chương trình môn giáo dục công dân lớp 10 Ngoài ra, tác giả cũng đưa ra những kiến nghị hết sức thiết thực nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn giáo dục công dân trong sự đổi mới hiện nay
Công trình Kết hợp phương pháp thảo luận nhóm và phương pháp nêu vấn đề
trong phần đạo đức môn giáo dục công dân lớp 10 ở trường THPT Cẩm Thủy III tỉnh Thanh Hóa Công trình nghiên cứu nhằm mục đích để hiểu biết đầy đủ và sâu sắc hơn
về việc sử dụng và kết hợp các phương pháp dạy học môn giáo dục công dân ở trường THPT, đặc biệt là việc kết hợp phương pháp thảo luận nhóm và phương pháp nêu vấn
đề trong phần đạo đức môn giáo dục công dân lớp 10 Ngoài ra, công trình còn đề cập đến thực trạng của việc vận dụng các phương pháp trên ở trường THPT Từ đó đề xuất quy trình và điều kiện vận dụng việc kết hợp các phương pháp dạy học trong dạy học môn giáo dục công dân
Hướng nghiên cứu thứ hai trong số đó là các công trình, bài viết nghiên cứu về
đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp dạy học môn giáo dục công dân ở
trường phổ thông Tiêu biểu Đề án đổi mới giáo dục Việt Nam giai đoạn 2006-2020 của Bộ Giáo dục và Đào tạo Hà Nội tháng 11/2005 Thái Duy Tiên (2008), Phương
pháp dạy học truyền thống và đổi mới, Nxb Giáo dục, Hà Nội
Vũ Đình Bảy, Nguyễn Như Tùng (2007), Đổi mới phương pháp dạy học Giáo
dục công dân lớp 11, Tài liệu tập huấn “Nâng cao năng lực giáo viên cốt cán môn
Trang 12GDCD các tỉnh Quảng Bình, Quảng Ngãi, Ninh Thuận, Sóc Trăng”, Trường ĐHSP Huế
Tác giả Nguyễn Thị Hà (2011), trong Luận văn Một số vấn đề về đổi mới phương
pháp dạy học môn giáo dục công dân trong trường trung học phổ thông ở Việt Nam hiện nay đã đề cập một số vấn đề lý luận chung về phương pháp dạy học và yêu cầu
đổi mới phương pháp dạy học môn giáo dục công dân ở trường phổ thông hiện nay Hầu hết các công trình, bài viết đều khai thác, tìm hiểu về lý luận và thực tiễn dạy học môn giáo dục công dân, có những công trình đi sâu nghiên cứu về chương trình,
về nội dung, và cả phương pháp dạy học của bộ môn này Song, về vận dụng phương pháp dạy học phát huy tính tích cực môn giáo dục công dân ở trường phổ thông chưa được khai thác nhiều mà chỉ mới được đề cập một cách chung chung, chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về phương pháp dạy học phát huy tính tích cực mà chủ yếu chỉ dừng lại ở sự vận dụng một phương pháp cụ thể vào dạy học một phần cụ thể nào đó Từ thực tế trên, bản thân tôi mong muốn đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu về việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào dạy học môn giáo dục công dân
ở lớp 11 trường THPT, vì vậy tôi chọn đề tài đó để làm khóa luận cho mình
Trang 13Socrat (469 – 399 TCN) nhà triết học, người thầy vĩ đại của Hy Lạp cổ đại đã từng dạy các học trò của mình bằng cách luôn đặt ra các câu hỏi gợi mở nhằm giúp
người học dần dần phát hiện ra chân lý Vì vậy, Socrat đưa đến câu nói: “… sự tự nhận
thức, nhận thức chính mình…”[33] Khổng Tử (551 – 479 TCN) nhà triết học, nhà
giáo dục vĩ đại của Trung Hoa cổ đại đòi hỏi người ta phải học và tìm tòi, suy nghĩ,
đào sâu trong quá trình học Ông nói: “Không tức giận vì muốn biết, thì không gợi mở
cho, không bực tức vì không rõ được thì không bày vẽ cho Vật có bốn góc, bảo cho biết một góc mà không suy ra ba góc kia thì không dạy nữa…” [31]
Montaigne (1533 – 1592) nhà quý tộc Pháp, người chuyên nghiên cứu lý luận, đặc biệt là về giáo dục, ông đề ra phương pháp giáo dục “học qua hành”, ông nói:
“Muốn đạt được mục tiêu này, tốt nhất, kiến hiệu nhất là bắt trò liên tục hành để học,
học qua hành Vậy vấn đề không phải là giảng dạy một cách giáo điều, thầy nói liên tục, thao thao bất tuyệt Trái lại, chủ yếu là bắt trò hoạt động, vận dụng khả năng xét đoán của mình…” [32] Komenskly (1592 – 1670) là một nhà tư tưởng Clovakia, nhà
lý luận giáo dục, đã đưa ra bí quyết về phương pháp giảng dạy: “Bí quyết của giáo dục
là rèn luyện cho các em một tâm hồn dễ dàng, tích cực, tự do, ngăn cản được các điều
mà các em muốn làm, ngược lại đẩy được các em làm những điều mà chúng không muốn”, ông nêu rõ: “Chủ yếu dạy các em qua việc làm chứ không phải qua lời giảng”
[32]
J.J.Rousseau (1712 – 1778) nhà triết học Pháp thời kỳ khai sáng, kịch liệt phê phán nhà trường đương thời lạm dụng lời nói, ông coi trọng sự phát triển tự do, coi trọng tự giáo dục của trẻ, phản đối việc chèn ép cá tính của trẻ Ông cho rằng giáo dục con người tốt phải bằng hoạt động tiếp cận đối tượng với hoạt động, với thực tế Ông
Trang 14nhận xét, cách giảng dạy ba hoa sẽ tạo nên những con người ba hoa, đừng cho trẻ em khoa học mà chỉ khiêu gợi tinh thần yêu chuộng khoa học phát triển hơn nữa Đó là nguyên tắc căn bản của mỗi nền giáo dục tốt
Phải khẳng định rằng, trong thập kỷ XX, các nhà giáo dục Đông, Tây đều tìm đến con đường phát huy tính tích cực học tập, chủ động, sáng tạo của người học cụ thể như: Kharlamop, nhà giáo dục Xô Viết, trong cuốn: “Phát huy tính tích cực học tập
của học sinh như thế nào” đã viết trong phần lời nói đầu: “.Một trong những vấn đề
căn bản mà nhà trường Xô Viết hiện đang lo lắng và giải quyết là phát huy tính tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học” [32]
Ngoài ra, nhà giáo Ba Lan nổi tiếng V.Ôkon đã đúc kết ra những kết quả tích cực của công trình thực nghiệm hàng chục năm về dạy học phát huy tính tích cực Ông đã nêu lên tính quy luật chung của dạy học nêu vấn đề, cách áp dụng phương pháp vào một số ngành khoa học và điều đó được thể hiện cụ thể ở cuốn sách “Những cơ sở của việc dạy học nêu vấn đề”…
Đối với quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng: mọi sự vật tồn tại trong thế giới khách quan luôn vận động và phát triển không ngừng Trong quá trình dạy học cũng vậy, mọi thành tố cấu trúc của quá trình dạy học luôn vận động, có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau Sự đổi mới trong giáo dục nói chung và trong môn giáo dục công dân nói riêng thường được bắt đầu và biểu hiện rõ nét trong lĩnh vực đổi mới cả nội dung dạy học và phương pháp dạy học
1.1.2 Cơ sở tâm lý, giáo dục học
Khi xét về mặt tâm lý học theo quan điểm tiếp cận hoạt động – nhân cách – giao tiếp của người học về phát huy tính tích cực có những nội dung cơ bản đó là:
Tính tích cực gắn liền với hoạt đọng hay nói cách khác tính tích cực phải thể hiện trong trạng thái hoạt động và được biểu hiện trong những hành động hành vi cụ thể của con người
Tính tích cực để chỉ tính sẵn sàng với hoạt động, là nhu cầu đối với hoạt động Yếu tố nhu cầu có mối liện hệ chặt chẽ với tính tích cực đây chính là nguồn gốc của tính tích cực
Tính tích cực để chỉ tính chủ động, hành động một cách có ý thức, theo chủ ý của chủ thể để đối lập với sự bị động, thụ động
Trang 15Như vậy tính tích cực của người học là một thuộc tính có ý thức của chủ thể trong hoạt động Đó là một thuộc tính của cá nhân được đặc trưng bởi sự chi phối mạnh mẽ của các hành động đang diễn ra với đối tượng, tính trương lực của những trạng thái bên trong của chủ thể ở thời điểm hành động, tính quy định của mục đích hành động trong hiện tại, tính siêu hoàn cảnh và tính bền vững tương đối của hành động trong sự tương quan với mục đích đã thông qua
Theo X.L Rubinstein (1902 – 1960) “con người chỉ thực sự nắm vững cái mà bản
thân dành được bằng lao động của mình”, điều đó có nghĩa là người học sẽ thông hiểu
và ghi nhớ những gì đã trải nghiệm, qua trong quá trình hoạt động của bản thân bằng cách này hay cách khác Đồng thời, con người chỉ bắt đầu tư duy tích cực khi đứng trước một khó khăn về nhận thức, điều này đòi hỏi cần phải tích cực khắc phục và thay vào đó cần một tình huống gợi mở vấn đề để người học chủ động hơn trong quá trình dạy học Việc làm này nhằm hướng người học vào quá trình học tập để thúc đẩy hoạt động nhận thức cũng như giải quyết vấn đề một cách chủ động, tránh tình trạng thụ động, dồn hết kiến thức cho người dạy
Dạy và học, phát huy tính tích cực của người học phù hợp với nguyên tắc phát huy tính tích cực, tự giác trong giáo dục, vì nó gợi được động cơ, động lực học tập của chủ thể, phát huy nội lực bên trong giúp người học có năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề Trong phương pháp dạy học môn giáo dục công dân có thể tìm thấy các nguyên tắc cơ bản của Lí luận dạy học: nguyên tắc giáo dục và phát triển của dạy học, nguyên tắc vừa sức, nguyên tắc tính khoa học, nguyên tắc hệ thống, nguyên tắc tính thực tiễn, nguyên tắc trực quan, nguyên tắc tính vừa sức nguyên tắc tiếp cận cá thể và phân hóa trong dạy học…
Phương pháp dạy học môn giáo dục công dân vận dụng những nguyên tắc này trong giảng dạy nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục Chẳng hạn, nguyên tắc tính khoa học trong giảng dạy môn giáo dục công dân là đảm bảo cung cấp đầy đủ, chính xác hệ thống tri thức cơ bản, thiết thực hiện đại phù hợp thực tiễn của môn học và đặc điểm nhận thức của học sinh Ngoài ra, nội dung của môn giáo dục công dân bao gồm những vấn đề cơ bản nhất là triết học Mác – Lenin, đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, pháp luật… Vì thế môn giáo dục công dân mang tính khoa học sâu sắc
Trang 16Bên cạnh đó, nguyên tắc này còn được đảm bào và trình bày dưới dạng khái niệm, phạm trù, nguyên lí, quy luật của từng đơn vị kiến thức có trong bài học
Tiếp theo, nguyên tắc tính thực tiễn Các tri thức của môn giáo dục công dân ở trường THPT liên quan trực tiếp với những vấn đề đang diễn ra trong đời sống chính trị, kinh tế, xã hội… do đó các tri thức này đều có sự tương tác với nhận thức, hành động của học sinh, thông qua hành động học sinh tiếp xúc thường xuyên với xã hội Đối với môn giáo dục công dân, thực tiễn là đường lối, chủ trường, chính sách của Đảng và Nhà nước… ngoài ra, thực tiễn của môn giáo dục công dân còn bao gồm cả đời sống của bản thân học sinh Vì vậy, những nội dung tri thức của môn học đều thể hiện tính thực tiễn, làm cho môn học thực sự gần gũi, thân thuộc và cả sự trải nghiệm của bản thân người học vào quá trình học tập
Đối với nguyên tắc tính vừa sức Vừa sức trong dạy học chính là xác định mức độ trong dạy học nhằm hướng vào việc phát triển các khả năng vốn có của học sinh, phát huy tính độc lập, sáng tạo và tính tích cực trong học tập của học sinh Khối lượng nội dung tri thức môn giáo dục công dân khá trừu tượng và khái quát, do đó sẽ là một khó khăn đối với người dạy và người học Tuy nhiên, để đảm bảo được tính vừa sức, người dạy cần xác định khối lượng, mức độ kiến thức trong dạy học; giáo viên phải có sự hiểu biết về đặc điểm tâm sinh lí của học sinh; đồng thời giáo viên phải chú ý đến các học sinh cá biệt
Như vậy, việc đảm bảo tính vừa sức trong dạy học môn giáo dục công dân là cẩn thiết, đảm bảo nội dung truyền tải và hợp lí đến người học cũng như tránh tình trạng cứng nhắc, giáo điều hạn chế sự chủ động, sáng tạo của học sinh
Để quá trình dạy học đạt hiệu quả cao nhất, cần phải đảm bảo cho hoạt động của thầy và trò thống nhất với nhau Vì vậy, một mặt phải phát huy đúng mức vai trò tự giác, tích cực, tự tổ chức, tự điều chỉnh hoạt động nhận thức của trò Chỉ có sự phối hợp hữu cơ và sự liện hệ qua lại chặt chẽ giữa những tác động bên ngoài của giáo viên, biểu lộ trong quá trình trình bày tài liệu chương trình và tổ chức công tác học tập của học sinh, với sự động não bên trong của người học mới tạo nên được cơ sở của sự học tập có kết quả
A.Đixtervec đã viết trong tác phẩm: Hướng dẫn việc đào tạo của giáo viên Đức: “
Không thể ban cho hoặc truyền đạt đến bất kì một người nào sự phát triển và sự giáo dục Bất cứ ai muốn được phát triển và giáo dục cũng phải phấn đấu bằng hoạt động
Trang 17của bản thân bằng sức lực của mình, bằng sự cố gắng của chính bản thân Anh ta chỉ
có thể nhận được từ bên ngoài sự kích thích mà thôi Vì thế hoạt động tự lực là phương tiện và đồng thời là kết quả của sự giáo dục”[32]
Học sinh với tư cách là chủ thể nhận thưc, chủ thể của hoạt động phải tự mình tìm ra kiến thức bằng hành động của chính mình dưới sự hướng dẫn của thầy cô giáo Tuy nhiên tri thức do học sinh tìm ra dễ mang tính chủ quan, phiến diện, thiếu khoa học Vì vậy, người thầy cần tổ chức để trò được thể hiện, trình bày sản phẩm của mình
ở tập thể lớp học, trao đổi thảo luận với bạn để tăng thêm tính khách quan khoa học trong tri thức do họ tìm ra Trên cơ sở ý kiến của thầy, của bạn trò tự kiểm tra, đánh giá, sửa chữa sai sót, rút kinh nghiệm về cách học, cách giải quyết vấn đề
Để thể hiện đầy đủ vai trò chủ thể của mình khi tham gia quá trình học, người học phải có sự hứng thú rõ rệt với tri thức thu nhận được, có ý thức trách nhiệm với việc học của mình và tham gia tích cực trong suốt quá trình học Người học phải tự tham gia nhiệm vụ học tập bằng tất cả khả năng, tất cả tri thức và kinh nghiệm sống của mình đã tích lũy được Như vậy, trong quá trình dạy học hiện đại, học sinh vừa là đối tượng của hoạt động dạy, vừa là chủ thể nhận thức nhưng chỉ khi nào học sinh thực hiện tốt vai trò chủ thể thì các em mới tiếp thu một cách có ý thức và có hiệu quả sự tác động sư phạm của thầy để chiếm lĩnh tri thức và biến chúng thành tài sản cá nhân Hoạt động của giáo viên và hoạt động của học sinh luôn song song tồn tại, nếu thiếu một trong hai thì đó không được xem là quá trình dạy học
1.2 Khái quát chung về phương pháp dạy học
1.2.1 Khái niệm phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học là một khái niệm cơ bản của lý luận dạy học Thuật ngữ
“phương pháp” theo tiếng Hy Lạp là “Methodos” có nghĩa là con đường, cách thức hoạt động đạt được mục đích nhất định
Vấn đề phương pháp ngay từ đầu đã được triết học đề cập khá sớm Với các triết gia tiêu biểu như Heghen và C.Mác, Ăngghen… Theo Heghen, phương pháp là hình thức vận động của nội dung sự vật Mỗi sự vật trong quá trình tồn tại của nó đều gắn với một hình thức vận động đặc trưng Cũng vấn đề về phương pháp nhưng C.Mác lại tiếp cận theo một hướng khác C.Mác cho rằng: Các thời đại kinh tế khác nhau không phải là ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì, mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với
tư liệu lao động nào Mỗi một hoạt động đều có cấu trúc ba thành phần: chủ thể hoạt
Trang 18động, đối tượng và tư liệu lao động, trong đó, phương pháp và phương tiện là thước đo trình độ lao động [17] Với cách tiếp cận này, C Mác cho ta thấy trong dạy học phương pháp có tính độc lập tương đối với nội dung và trình độ, hiệu quả của việc dạy học được quyết định bởi phương pháp và phương tiện dạy học Còn đối với Ăngghen thì phương pháp là cách thức con đường đạt tới mục đích
Việc xác định, nắm vững vận dụng được những phương pháp trong hành động có tác dụng quyết định thành công và hiệu quả công việc: “Một anh lành lặn có thể thua một anh thọt khi mà người đó không biết đường đi Vai trò của phương pháp luận như ngọn đèn soi đường trong đêm tối” (Becon) Ngoài ra, theo Páp – lốp: “Với một phương pháp tốt, một người tài năng vừa phải có thể làm được nhiều việc Còn đối với một phương pháp không tốt thì ngay cả thiên tài cũng không thể làm được gì và cũng không có thành công gì có giá trị và chính xác” [14]
Với những cách tiếp cận khác nhau về phương pháp mà mỗi nhà triết học đề cập đều cho chúng ta những bài học quý báu để áp dụng vào quá trình dạy học môn giáo dục công dân Vì thế, tùy theo đặc thù tri thức của môn học mà đòi hỏi người dạy vận dụng những phương pháp dạy học phù hợp Những phương pháp dạy học đều có tác dụng hỗ trợ lẫn nhau và chúng tạo nên hệ thống các phương pháp dạy học để nhằm truyền tải nội dung tri thức khoa học của các môn học đến người học Theo Nguyễn Ngọc Quang “Phương pháp giảng dạy là cách thức làm việc của thầy và trò dưới sự chỉ đạo của thầy nhằm làm cho trò nắm vững kiến thức, kỹ năng kỹ xảo một cách tự giác tích cực tự lực, phát triển năng lực nhận thức và năng lực hành động hình thành thế giới quan duy vật khoa học…” [14]
Cho đến nay, phương pháp dạy học vẫn đang là một phạm trù được các nhà lí luận dạy học quan tâm Có nhiều định nghĩa, khái niệm khác nhau về phương pháp dạy học Tuy nhiên, dù ở những phạm vi, mức độ khác nhau, nhưng các quan niệm đó đều thống nhất và cho rằng:
Phương pháp dạy học là cách thức, con đường hoạt động thống nhất giữa giáo viên và học sinh trong những điều kiện dạy học xác định nhằm thực hiện mục tiêu dạy học môn học
Phương pháp dạy học là những cách thức hoạt động có trình tự, phối hợp, tương tác của giáo viên và học sinh đạt được mục đích đề ra
Trang 19Phương pháp giảng dạy phản ánh cách thức tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của thầy: kích thích và xây dựng động cơ, tổ chức hoạt động nhận thức và kiểm tra đánh giá kết quả nhận thức của sinh viên; phản ánh cách thức tổ chức, tự điều khiển, tự kiểm tra đánh giá của trò
1.2.2 Cấu trúc của phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học có một số đặc điểm sau:
Thứ nhất, phương pháp dạy học định hướng thực hiện mục tiêu dạy học
Thứ hai, là sự thống nhất giữa phương pháp dạy và phương pháp học
Thứ ba, thực hiện thống nhất chức năng đào tạo và giáo dục
Thức tư, là sự thống nhất của logic nội dung dạy học và logic nhận thức
Thứ năm, phương pháp dạy học có mặt bên ngoài và bên trong Trong đó mặt bên ngoài của phương pháp dạy học bao gồm các hình thức cơ bản của phương pháp dạy học và các hình thức xã hội hay hình thức hợp tác Còn mặt bên trong của phương pháp dạy học bao gồm tiến trình dạy học và các phương pháp logic
Thứ sáu, phương pháp dạy học có mặt khách quan và chủ quan:
Mặt khách quan: Vai trò sáng tạo, vận dụng phương pháp linh hoạt tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể
Mặt chủ quan: Việc sáng tạo, vận dụng phương pháp phải xuất phát từ thực tế khách quan, khách thể và đối tượng nghiên cứu hoặc tác động để lựa chọn phương pháp phù hợp
Thứ bảy, phương pháp dạy học là sự thống nhất giữa cách thức hành động và phương tiện dạy học
Ngoài đặc điểm trên, mô hình ba bình diện theo độ rộng của phương pháp dạy học bao gồm: Quan điểm dạy học, phương pháp dạy học và kỹ thuật dạy học
Đầu tiên đối với quan điểm dạy học: Là những định hướng tổng thể cho các hành động phương pháp, trong đó có sự kết hợp giữa các nguyên tắc dạy học, những cơ sở
lý thuyết của lí luận dạy học đại cương hay chuyên ngành, những điều kiện dạy học và những định hướng về vai trò của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học Quan điểm dạy học là những định hướng mang tính chất chiến lược dài hạn, có tính cương lĩnh của phương pháp dạy học, là mô hình lí thuyết của phương pháp dạy học Ví dụ như: Dạy học kiến tạo, dạy học hướng vào người học, dạy học hợp tác, dạy học cùng tham gia…
Trang 20Phương pháp dạy học được hiểu theo nghĩa hẹp đó là các phương pháp cụ thể, các mô hình hành động Phương pháp dạy học cụ thể là những cách thức hành động của giáo viên và học sinh nhằm thực hiện những mục tiêu dạy học xác định phù hợp với nội dung và điều kiện dạy học cụ thể Phương pháp dạy học cụ thể quy định những
mô hình hành động của giáo viên và học sinh Ví dụ như: phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp đóng vai, phương pháp trò chơi…
Kỹ thuật dạy học: Kỹ thuật dạy học là những động tác, cách thức hành động của giáo viên và học sinh trong các tình huống hành động cụ thể nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học Các kỹ thuật dạy học chưa phải là các phương pháp dạy học độc lập Có rất nhiều kỹ thuật dạy học, ví dụ như: Kỹ thuật bể cá, kỹ thuật Tia chớp,
kỹ thuật XYZ, kỹ thuật Bắn bia…
Như vậy, quan điểm dạy học là khái niệm rộng, định hướng cho việc lựa chọn các phương pháp dạy học cụ thể Các phương pháp cụ thể là khái niệm hẹp hơn, đưa ra mô hình hành động Kỹ thuật dạy học là khái niệm nhỏ nhất, thực hiện các tình huống hành động Mỗi quan điểm dạy học có những phương pháp dạy học phù hợp, mỗi phương pháp dạy học có các kỹ thuật dạy học đặc thù Tuy nhiên, một phương pháp dạy học có thể phù hợp với nhiều quan điểm dạy học, cũng như một kỹ thuật dạy học
có thể dùng cho nhiều phương pháp dạy học khác nhau Việc phân biệt giữa quan điểm dạy học, phương pháp dạy học và kỹ thuật dạy học chỉ mang tính chất tương đối
1.2.3 Phân loại phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học rất đa dạng và phong phú, vì bản thân nó chịu sự chi phối
về mặt nội dung, mục tiêu Nhìn chung mỗi cách phân loại dựa theo các căn cứ sau: Căn cứ vào mục đích lý luận dạy học
Phương pháp dạy học nghiên cứu tài liệu mới, hình thành kỹ năng, kỹ xảo
Phương pháp dạy học củng cố, hoàn thiện kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo
Phương pháp dạy học ứng dụng kỹ năng, kỹ xảo
Phương pháp dạy học kiểm tra, đánh giá kỹ năng, kỹ xảo
Căn cứ vào nguồn kiến thức và tính đặc trưng của sự tri giác thông tin
Phương pháp dạy học dùng ngôn ngữ
Phương pháp dạy học trực quan
Phương pháp dạy học thực hành
Căn cứ vào hoạt động nhận thức của học sinh
Trang 21Phương pháp dạy học giải thích minh họa, tái hiện
Phương pháp dạy học trình bày nêu vấn đề
Phương pháp dạy học tìm tòi
Phương pháp dạy học nghiên cứu
Căn cứ vào mức độ tích cực, sáng tạo của học sinh
Phương pháp dạy học lấy giáo viên làm trung tâm: Trong quá trình dạy học diễn
ra hoạt động chủ yếu là của người giáo viên
Phương pháp dạy học lấy người học làm trung tâm: Phương pháp này nhằm giúp phát huy tính tích cực của người học và giáo viên đóng vai trò chỉ dẫn, học sinh chủ động trong việc nắm kiến thức
Đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi phải chuyển đổi từ phương pháp dạy học truyền thống sang phương pháp dạy học hiện đại nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và nghiên cứu khoa học của người học
Ở đây có thể so sánh đặc trưng của phương pháp truyền thống và phương pháp hiện đại như sau:
Phương pháp truyền thống Phương pháp hiện đại
Quan niệm
Học là quá trình tiếp thu và lĩnh hội, qua đó hình thành kiến thức,
kỹ năng, tư tưởng, tình cảm
Học là quá trình kiến tạo, học sinh tìm tòi, khám phá, phát hiện, giải quyết vấn đề… tự hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất
Bản chất
Truyền thụ tri thức, truyền thụ và chứng minh chân lí của giáo viên
Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh Dạy học sinh cách tìm ra chân lí
Mục tiêu
Chú trọng cung cấp tri thức, kỹ năng, kỹ xảo Học để đối phó với thi cử Sau khi thi xong thường những kiến thức có thể bị bỏ rơi hoặc ít dùng đến
Chú trọng các hình thành năng lực như sáng tạo, hợp tác… dạy phương pháp và
kỹ thuật lao động khoa học, dạy cách học Học để đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống hiện tại và tương lai
Trang 22Các tài liệu khoa học, các thí nghiệm, bảo tàng, thực tế… gắn với:
+ Vốn hiểu biết, kinh nghiệm và nhu cầu của học sinh
+ Tình huống thực tế, môi trường địa phương
+ Những vấn đề của học sinh
Cơ động, linh hoạt: học ở lớp, ở phòng thí nghiệm, ở hiện trường, trong, ngoài thực tế… học cá nhân, học đôi bạn, học theo nhóm và đồng thời giáo viên đối diện với học theo hai chiều
1.3 Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông
1.3.1 Đường lối, chủ trương của Đảng về đổi mới giáo dục hiện nay
Từ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội là cơ sở quan trọng để tiến hành đổi mới giáo dục, đào tạo Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo phải gắn chặt với quá trình chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế
Mục đích trực tiếp của giáo dục, đào tạo là tạo ra nguồn lực lao động và quản lý phù hợp với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Giáo dục là nhân tố
Trang 23quan trọng nhất bảo đảm để một quốc gia phát triển kinh tế theo con đường phát triển rút ngắn Chất lượng giáo dục, đào tạo phải đặt bên cạnh yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phát triển khoa học công nghệ trong thời đại kinh tế tri thức đang diễn ra trên phạm vi toàn thế giới
Xu thế phát triển của thời đại, nhu cầu học tập của nhân dân, truyền thống giáo dục, đào tạo của đất nước là cơ sở không thể bỏ qua khi tiến hành đổi mới giáo dục, đào tạo của nước ta hiện nay Do vậy, đổi mới giáo dục, đào tạo ở nước ta cần phải nắm bắt được xu thế phát triển của thời đại, yêu cầu của đất nước, nhu cầu của nhân dân, truyền thống hiếu học, trọng học của dân tộc; phải tiếp biến và phát huy được truyền thống lịch sử giáo dục Việt Nam, nhất là những thành tựu của nền giáo dục, đào tạo cách mạng từ năm 1945 đến nay
Nghị quyết Đại hội VI xác định: “giáo dục nhằm mục tiêu hình thành và phát triển toàn diện nhân cách xã hội chủ nghĩa của thế hệ trẻ, đào tạo đội ngũ lao động có
kỹ thuật đồng bộ về ngành nghề, phù hợp với các yêu cầu phân công lao động của xã hội Sự nghiệp giáo dục, nhất là giáo dục đại học và chuyên nghiệp, trực tiếp góp phần vào việc đổi mới công tác quản lí kinh tế và xã hội…” [36]
Đến Nghị quyết Đại hội VII nêu rõ: “mục tiêu giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có tri thức
và có tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ, năng động và sáng tạo, có đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước…” [36]
Có thể nói, những quan điểm trên là nhưng tư tưởng chỉ đạo rất quan trọng cho sự phát triển giáo dục nước ta trong những năm vừa qua
Xuất phát từ quan điểm chỉ đạo Giáo dục và Đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
Đại hội XI của Đảng xác định "Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế, trong đó đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo,
kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục Thực hiện
Trang 24kiểm định chất lượng giáo dục, đào tạo ở tất cả các bậc học Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội” [13]
Việc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo; phát triển nguồn nhân lực là yêu cầu cấp thiết Đó vừa là yêu cầu, vừa là giải pháp giúp chúng ta vượt qua khó khăn, thách thức của thời cuộc và phát triển bền vững Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực, đã từng khẳng định trong các văn kiện của Đảng trước đây, đặc biệt là Nghị quyết số 29 của Hội nghị TW 8 khóa XI, về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo được ban hành tạo dấu mốc quan trọng trong thực tiễn giáo dục gắn với cuộc sống hiện nay nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Nghị quyết đã cho thấy những ưu vượt của nền giáo dục nước nhà trong những năm vừa qua cũng như tiếp tục đổi mới trên nhiều phương diện để đáp ứng mục tiêu giáo dục đưa ra
Nghị quyết có tính chất quyết định đến toàn bộ chất lượng của giáo dục nước nhà, đánh vào những mặt trọng tâm của giáo dục cần phải được đổi mới để giáo dục và đào tạo không tụt hậu mà thực sự trở thành quốc sách hàng đầu mà chính là chìa khóa
mở ra con đường đưa đất nước tiến lên phía trước
Trong Văn kiện đại hội Đảng lần thứ XII, kế thừa quan điểm chỉ đạo các kỳ Đại hội trước, Đảng ta đưa ra đường lối đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, xác định đây là một kế sách, quốc sách hàng đầu mang tính đột phá, khai mở con đường phát triển nguồn lực Việt Nam trong thế XXI
Không dừng lại ở đó, trong những năm qua nền giáo dục nước nhà thực sự quan tâm đến các vấn đề thi cử, kiểm tra và đánh giá chất lượng giáo dục Kỳ thi THPT Quốc gia hiện nay được tổ chức theo tinh thần Nghị quyết 29-NQTW về đổi mới căn bản và toàn diện GD-ĐT, trong đó đổi mới kì thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh ĐH,
CĐ theo hướng giảm áp lực, giảm tốn kém cho thí sinh, gia đình và xã hội nhưng kết quả vẫn đảm bảo độ tin cậy để xét tốt nghiệp THPT và làm căn cứ cho các ĐH, CĐ sử dụng trong tuyển sinh đại học
Việc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới đang đặt ra ngày càng cấp thiết Đó là việc đổi mới giáo dục, đào tạo cần bắt đầu từ đổi mới quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện đảm bảo thực hiện; đổi mới từ sự
Trang 25lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục – đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới cả các bậc học, ngành học… Rõ ràng, khi mục tiêu giáo dục và đào tạo được thay đổi căn bản thì bắt buộc chương trình, phương pháp, hình thức giáo dục, đào tạo cũng phải thay đổi phù hợp
Phương pháp dạy và học mới không chỉ làm cho người học phát triển tư duy độc lập, sáng tạo Cùng với đó, đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan và công bằng Cần gắn chặt giáo dục và đào tạo với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, với sản xuất, kinh doanh; gắn với nhà trường, việc nghiên cứu với các cơ sở sản xuất, nhà máy, xí nghiệp; gắn lý luận với thực tiễn công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đó
là những bước đi đầu tiên trong việc đổi mới căn bản giáo dục và đào tạo nước nhà nhằm phát huy hiệu quả tốt nhất những phương cách đó
Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực ở nước ta được đề cập trong Văn kiện Đại hội XII, đó là cuộc cách mạng trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, hiệu quả của nó sẽ làm thay đổi tích cực nhiều mặt của đời sống
xã hội Việt Nam Làm cho nền giáo dục nước nhà hưng thịnh, đất nước phát triển bền vững
Ngoài ra, cần phải chú trọng vào việc đổi mới chương trình, nội dung giáo dục, công tác biên soạn sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu dạy học theo hướng đa dạng hóa, cập nhật tri thức mới nhằm đáp ứng yêu cầu của từng bậc học, các chương trình giáo dục, đào tạo và nhu cầu học tập suốt đời của từng đối tượng Bên cạnh đó trong xây dựng cấu trúc chương trình môn học cần chú trọng nghiên cứu, biên soạn bổ sung các sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu riêng cho phù hợp với từng loại đối tượng, đáp ứng nhu cầu phát triển phẩm chất, năng lực, năng khiếu cá nhân…
1.3.2 Những đổi mới về nội dung, phương pháp dạy học môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông hiện nay
Đổi mới môn giáo dục công dân ở trường THPT là sự thay đổi toàn diện cả về nội dung, phương pháp dạy học, phương pháp kiểm tra đánh giá và những điều kiện về
cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học cần thiết nhằm đạt hiệu quả giáo dục cao nhất Có thể nói, cốt lõi của đổi mới dạy và học môn giáo dục công dân theo hướng tích cực là
Trang 26làm cho hoạt động học tập của học sinh mang tính chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động
Dạy và học môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông đã và đang được Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo, các cấp, các ngành, các bậc phụ huynh, học sinh và đặc biệt đội ngũ giáo viên trực tiếp giảng dạy rất quan tâm Trong những năm qua, việc cải tiến nội dung chương trình, đổi mới phương pháp dạy học môn giáo dục công dân đã được đẩy mạnh thực hiện và bước đầu thu được những kết quả tốt, có những chuyển biến tích cực
Tại Điều 27.1 Luật Giáo dục của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2005 xác định: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam XHCN, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân…” Hay Điều 28.2 Luật Giáo dục xác định:
“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo cuả học sinh; phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”[23] Quán triệt những quy định của Luật Giáo dục, nhà trường THPT đã có những bước định hướng đổi mới giáo dục đối với môn giáo dục công dân
Môn giáo dục công dân giữ có vị trí quan trọng và được xác định trong Chỉ thị số 30/1998/CT – BGD và ĐT ngày 20 tháng 5 năm 1998, theo đó: “Môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông có vị trí hàng đầu trong việc định hướng phát triển nhân cách học sinh thông qua việc cung cấp hệ thống tri thức cơ bản về giá trị đạo đức – nhân văn, đường lối chính sách lớn của Đảng, Nhà nước và pháp luật, kế thừa các truyền thống đạo đức, bản sắc dân tộc Việt Nam; trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; tiếp thu những giá trị tốt đẹp của nhân loại và thời đại”[1] Xuất phát từ vị trí đó, trong thời gian qua, Bộ giáo dục và Đào tạo đã có những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn giáo dục công dân như:
Thứ nhất, cải tiến nội dung chương trình bằng cách tích hợp với nhiều nội dung như nội dung về môi trường, nội dung biến đổi khí hậu, nội dung giáo dục pháp luật v.v…
Trang 27Thứ hai, khuyến khích giáo viên bộ môn tích cực đổi mới phương pháp, chủ yếu đổi mới phương pháp dạy học theo hướng “dạy học lấy người học làm trung tâm” Điều này nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh
Thứ ba, về chương trình và sách giáo khoa, hướng đến việc khắc phục tình trạng quá tải về kiến thức nhằm tạo điều kiện cho thầy, trò tổ chức những hoạt động học tập tích cực; giảm bớt những thông tin buộc học sinh phải ghi nhớ máy móc, tăng cường các bài toán nhận thức đề học sinh tập giải; giảm bớt những câu hỏi tái hiện, tăng cường loại câu hỏi phát triển trí thông minh; giảm bớt những kết luận áp đặt, tăng cường những gợi ý để học sinh nghiên cứu phát triển bài học
Thứ tư, thiết bị dạy học: thiết bị dạy học là điều kiện không thế thiếu cho việc triển khai đổi mới phương pháp dạy học hướng vào hoạt động tích cực, chủ động của học sinh Việc sử dụng các thiết bị dạy học trong quá trình giảng dạy là một nhân tố góp phần phát huy hiệu quả lĩnh hội tri thức của học sinh
Thứ năm, đổi mới đánh giá kết quả học tập của học sinh: đánh giá là một khâu quan trọng không thể thiếu được trong quá trình giáo dục Đổi mới phương pháp dạy học bao hàm trong đó cả sự đổi mới phương pháp đánh giá, kết quả kiểm tra đánh giá phản ánh rõ nét phương pháp dạy của thầy và phương pháp học của trò Hơn nữa nếu
có phướng pháp đánh giá phù hợp và chuẩn xác sẽ tác động tích cực trở lại đối với đổi mới phương pháp dạy và học
Đổi mới kiểm tra, đánh giá phải nhằm hướng tới phát triển trí thông minh, sáng tạo của học sinh, khuyến khích học sinh vận dụng linh hoạt các kiến thức, kỹ năng đã học vào thực tế đời sống với những xúc cảm và thái độ và niềm vui của sự khám phá Việc đổi mới nội dung và phương pháp dạy học môn giáo dục công dân ở bậc trung học phổ thông cần đảm bảo về các mặt kiến thức, kỹ năng và thái độ Cụ thể như sau:
Về kiến thức: Cần trang bị cho học sinh thế giới quan, nhân sinh quan và phương
pháp tư duy khoa học về tự nhiên, xã hội và con người Đồng thời, học sinh cần hiểu được nội dung cơ bản của những giá trị, chuẩn mực đạo đức, pháp luật; đường lối quan điểm của Đảng và các chính sách quan trọng của Nhà nước về phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của đất nước để chủ động tham gia giải quyết hợp lí các mối quan
hệ giữa cá nhân với gia đình, cộng đồng, Nhà nước, dân tộc, nhân loại
Trang 28Về kỹ năng: Cần rèn luyện cho học sinh khả năng phân tích, vận dụng những nội
dung học tập vào giải quyết những vấn đề gần gũi của thực tiễn đời sống; biết lựa chọn, điều chỉnh, tổ chức thực hiện và đánh giá đúng hành vi của bản thân và của người khác phù hợp với chuẩn mực xã hội, nghĩa vụ của công dân
Về thái độ: Cần giáo dục cho học sinh tình yêu quê hương đất nước Việt Nam
XHCN, yêu cái đẹp, cái thiện; trân trọng, kế thừa, phát huy những truyền thống tốt đẹp của gia đình, quê hương và dân tộc; có thái độ đấu tranh kiên quyết với những thói hư tật xấu, tiêu cực; tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và có ý chí vươn lên góp phần thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
Vì vậy, môn giáo dục công dân hướng đến việc đổi mới nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước, thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước và phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN Đổi mới nội dụng, phương pháp dạy
và học, hình thức tổ chưc dạy học môn giáo dục công dân phải góp phần tích cực vào việc đào tạo nguồn nhân lực và những công dân mới có tính năng động, sáng tạo, thích ứng với kinh tế, có phẩm chất và năng lực thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở nước ta hiện nay và phù hợp với xu thế phát triển chung của thời đại
Kết luận chương 1
Tóm lại, chương 1 đã khái quát những vấn đề lý luận và thực tiễn chung nhất về phương pháp dạy học môn giáo dục công dân nhằm phát huy tính tích cực của học sinh ở trường trung học phổ thông Chương đã làm rõ nhiều vấn đề như các khái niệm
về phương pháp môn cũng như định hướng của Đảng đối với bộ môn … Trên cơ sở
đó, môn giáo dục công dân ở phổ thông đã có những thay đổi tích cực cả về nội dung
và phương pháp Đứng trước yêu cầu đổi mới hiện nay, môn giáo dục công dân đang dần khẳng định vị trí và vai trò của mình trong nhà trường phổ thông, đó vừa là dấu hiệu tốt nhưng lại là một thách thức lớn đối với bộ môn Đặc biết, đối với đội ngũ giáo viên dạy học môn giáo dục công dân, điều này đòi hỏi người giáo viên phải không ngừng làm mới phương pháp dạy học để hướng tới chất lượng dạy và học, phù hợp với quan điểm: “Lấy học sinh làm trung tâm”
Trang 29CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG GIẢNG DẠY MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
2.1 Quan niệm phương pháp dạy học phát huy tính tích cực
Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước
để chỉ những phương pháp giáo dục hay dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học
“Tích cực” trong phương pháp tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động trái nghĩa với không hoạt động, thụ động chứ không dùng theo nghĩa trái với tiêu cực Phương pháp dạy học tích cực là những phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh Phương pháp tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào việc phát huy tính tích cực của người học, người dạy với sự hướng dẫn, chỉ bảo nhằm giúp người học đạt được mục tiêu học tập tốt nhất
Như vậy, phương pháp dạy học tích cực là cách dạy hướng tới việc học tập chủ động, chống lại thói quen thụ động Nói cách khác, phương pháp dạy học tích cực hướng tới việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học Trong dạy học tích cực có mối quan hệ chặt chẽ qua lại giữa hai đối tác: người dạy và người học Dạy là giúp cho quá trình học tập của học sinh được dễ dàng Vì vậy, đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học phải có sự hợp tác của thầy và trò, sự phối hợp giữa hoạt động dạy và hoạt động học mới thành công Bên cạnh đó, bản thân phương pháp dạy học tích cực còn có những dấu hiệu đặc trưng cơ bản đó là:
Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh Đặc trưng này đòi hỏi trong phương pháp dạy học tích cực dựa trên cơ sở tâm lý học cho rằng nhân cách được hình thành và phát triển thông qua các hoạt động chủ động, hành độngc có
ý thức Trí tuệ của con người phát triển nhờ sự “đối thoại” giữa chủ thể với đối tượng
và môi trường Trong phương pháp dạy học tích cực, người học được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá
Trang 30những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt
Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học: Phương pháp dạy học tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho người học không chỉ là một biện pháo nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là mục tiêu của người dạy Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kỹ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học hỏi, khơi dậy tiềm năng vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân
lên gấp bội, sẽ “học một, biết mười” như cha ông ta thường nói Vì vậy, người ta nhấn
mạnh mặt hoạt động trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động
Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với hoạt động hợp tác: từ xưa bên cạnh câu:
“không thầy đố mày làm nên”, cha ông ta còn có câu “học thày không tày học bạn” đã
nhấn mạnh việc tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác trong nhóm, lớp
Áp dụng phương pháp dạy học tích cực ở trình độ cao thì sự phân hóa này càng lớn Việc sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin trong nhà trường sẽ đáp ứng yêu cầu cá thể hóa hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi học sinh Trong học tập không phải mọi tri thức, kỹ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động cá thể của cá nhân Lớp học là môi trường giao tiếp giữa thầy và trò, trò và trò tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa cá nhân trên con đường chiếm lĩnh tri thức Thông quan thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên trình độ mới
Trong nhà trường, phương pháp dạy học tập hợp được tổ chức ở cấp nhóm, tổ lớp hoặc trường Nhưng được sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ 4 đến 6 người Học tập hợp tác sẽ làm tăng hiệu quả học tập, nhất là giải quyết vấn đề gây cấn sẽ xuất hiện nhu cầu phối hợp giữa cá nhân để hoàn thành nhiệm
vụ được giao Trong hoạt động theo nhóm sẽ không thể có hiện tượng ỷ lại; năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn; phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tình thần tương trợ
Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò: Trong dạy học, việc đánh giá người học không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động của
Trang 31trò mà còn tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của giáo viên
Theo các phương pháp dạy học truyền thống, giáo viên thường giữ độc quyền trong đánh giá người học Trong phương pháp dạy học tích cực, bản thân người giáo viên với vai trò là người hướng dẫn, chỉ bảo người học phát triển những kỹ năng, giúp hình thành thái độ đúng đắn Điều này, đòi hỏi bản thân người dạy cần tạo điều kiện thuận lợi để người học tham gia đánh giá lẫn nhau Tự đánh giá và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống sau này
Theo hướng phát triển phương pháp tích cực để đào tạo những con người năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội thì việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở việc tái hiện, lặp lại các kỹ năng đã học mà cần phải khơi dậy sự năng động, sáng tạo và thích nghi cũng như tìm tòi các kiến thức, giải quyết vấn đề trong thực tế Từ dạy học thụ động sang dạy học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành người tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập, hoặc theo nhóm để người học tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kỹ năng và thái độ theo yêu cầu của chương trình Trong quá trình dạy học, người học vừa là đối tượng của hoạt động dạy vừa là chủ thể hoạt động học Thông qua hoạt động học, dưới sự chỉ đạo của thầy, người học phải tích cực chủ động cải biến chính mình về kỹ năng, kiến thức, thái độ và không ai làm thay cho mình được Nếu người học không tự giác chủ động, không chịu học, không có phương pháp học tốt thì hiệu quả của việc dạy sẽ rất hạn chế
Như vậy, đã coi trọng vị trí hoạt động học và vai trò của người học thì đương nhiên phải phát huy vai trò tích cực, chủ động của người học
2.2 Chương trình môn giáo dục công dân lớp 11
Chương trình môn giáo dục công dân lớp 11 nằm trong chuỗi chương trình môn giáo dục công dân ở trường phổ thông nói chung, đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp kiến thức, kỹ năng và thái độ cho học sinh
Cấu trúc chương trình chia làm hai nội dung chính, bao gồm:
Thứ nhất, phần công dân với kinh tế, gồm có 14 tiết lý thuyết
Thứ hai, phần công dân với các vấn đề chính trị - xã hội, phần này gồm 13 tiết lý thuyết
Trang 32Nội dung cụ thể của phần công dân với kinh tế, chủ yếu giúp học sinh có những hiểu biết cơ bản về một số phạm trù, quy luật kinh tế và phương hướng phát triển kinh
tế ở Việt Nam nước ta Vì vậy, có thể xác định phương pháp thuyết trình, đàm thoại sẽ chiếm ưu thế hơn so với các phương pháp còn lại Tuy nhiện, không có phương pháp nào được gọi là vạn năng, phương pháp đó thực sự phát huy được hiệu quả khi có sự kết hợp giữa phương pháp này đối với phương pháp khác Ngoài ra, một số bài trong phần Công dân với kinh tế vận dụng phương pháp dạy học tích cực để phát huy tính tích cực của học sinh Chẳng hạn trong bài 6: Công nghiệp hóa, hiến đại hóa đất nước (tr.48), gồm ba đơn vị kiến thức lớn đó là: thứ nhất, khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa; tính tất yếu khách quan và tác dụng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; thứ hai, nội dung cơ bản của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta; thứ ba, trách nhiệm của công dân đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Với những đơn vị kiến thức như vậy, cần vận dụng phương pháp động não và phương pháp thảo luận nhóm để nhằm phát huy sự năng động, chủ động trong việc học hơn Nội dung cụ thể của phần công dân với các vấn đề chính trị - xã hội giúp cho học sinh có những hiểu biết cơ bản về chủ nghĩa xã hội và một số chính sách quan trọng của Nhà nước để học sinh xác định được trách nhiệm của mình trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay Đối với phần Công dân với các vấn đề chính trị - xã hội, phần này bao gồm bài 8 đến hết bài 15 Trong đó, các bài 8, 9 và 10 nội dung trực tiếp liên quan các vấn đề chính trị; các bài 11, 12, 13, 14 và 15 nội dung trực tiếp liên quan đến vấn đề xã hội đối nội trong nước; Còn bài 15 liên quan đến vấn đề đối xã hội đối ngoại Các đơn vị kiến thức trong bài đều có thể vận dụng các phương pháp dạy học tích cực Ví dụ cụ thể đơn vị kiến thức Mục tiêu và phương hướng cơ bản để thực hiện chính sách dân số trong bài 11: Chính sách dân số và giải quyết việc làm Bản thân tôi sẽ khai thác và vận dụng phương pháp động não trong mỗi ý nội dung cho phần này
Bên cạnh đó, trong bài 12: Chính sách tài nguyên và bảo vệ môi trường, với đơn
vị kiến thức tình hình tài nguyên, môi trường ở nước ta hiện nay, sẽ vận dụng phương pháp trực quan, minh họa, dân chứng đầy đủ cho học sinh trong quá trình học tập… Đồng thời, chương trình còn dành một số lượng thời gian cho các hoạt động ngoài giờ lên lớp, thực hành và một số bài tìm hiểu về địa phương Về vấn đề này, Sở
Trang 33giáo dục và Đào tạo đã ủy thác cho các trường THPT lựa chọn các nội dung cho các tiết mục thực hành ngoại khóa dựa trên các vấn đề sau:
Những vấn đề cần thiết của địa phương tương ứng với các bài học đã học
Những vấn đề cần được giáo dục cho học sinh ở địa phương như: Trật tự an toàn giao thông; giáo dục môi trường; phòng chống HIV/AIDS, ma túy, tệ nạn xã hội v.v… Các hoạt động chính trị - xã hội của địa phương
Tuy nhiên, có một số bài học trong chương trình đã được giảm tải về nội dung nhằm loại bỏ đi những kiến thức không cần thiết mà thay vào đó tích hợp nhiều nội dung cần thiết cho chương trình môn học như nội dung bảo vệ môi trường, dân số, phòng chống tham nhũng v.v…
2.3 Phương pháp dạy học phát huy tính tích cực môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông
2.3.1 Phương pháp thuyết trình
Quan niệm về phương pháp thuyết trình:
Phương pháp thuyết trình là phương pháp dạy học trong đó giáo viên sử dụng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ để truyền tải tri thức đến học sinh, học sinh tiếp nhận và xử
lí tri thức theo yêu cầu của giáo viên
Phân loại phương pháp thuyết trình:
Thuyết trình kể chuyện
Thuyết trình giảng giải
Thuyết trình diễn giảng
Ưu điểm và hạn chế của phương pháp thuyết trình
Trang 34Học sinh dễ rơi vào trạng thái thụ động, gây mệt mỏi, gây ra sự tương tác không tốt giữa giáo viên và học sinh
Mặc dù tồn tại những hạn chế như trên nhưng trong thực tế phương pháp thuyết trình vẫn đóng vai trò quan trọng trong giảng dạy, bởi bất kì bài học nào đều chứa đựng những nội dung liên quan đến lí thuyết, lí luận nên đòi hỏi giáo viên phải phân tích, so sánh, phê phán các quan điểm để bày tỏ chính kiến, cảm xúc của cá nhân Đồng thời, nhiều bài thuyết trình của giáo viên vẫn để lại những ấn tượng tốt đối với người học cả về mặt nội dung, nhận thức và mặt tinh thần, đạo đức
Yêu cầu sự phạm khi sử dụng phương pháp thuyết trình
Khi lên lớp, giáo viên phải giữ tư cách mẫu mực trước học sinh Điều này có tác dụng to lớn đến tâm tư, tình cảm, khả năng lĩnh hội tri thức của học sinh
Lời giảng của giáo viên phải chính xác, gợi cảm và có ngữ điệu Trong phương pháp thuyết trình lời giảng của giáo viên giữ vai trò quyết định tới việc lĩnh hội tri thức của học sinh
Lựa chọn kiến thức, cơ bản và thiết thực trình bày chính xác các sự kiện hiện tượng, khái niệm, phạm trù
2.3.2 Phương pháp vấn đáp (đàm thoại)
Quan niệm về phương pháp đàm thoại (vấn đáp):
Phương pháp đàm thoại được khởi thủy từ nhà hiền triết Hy Lạp cổ đại: Xocrat (469 – 339 TCN) Phương pháp đàm thoại (vấn đáp) là người dạy sử dụng hệ thống câu hỏi để dẫn dắt người học giải quyết nhiệm vụ học tập Kết quả là dưới sự dẫn dắt của người dạy, người học thể hiện được suy nghĩ, ý tưởng của mình, có cảm giác tự mình phát hiện kiến thức mới, tạo niềm vui khám phá, làm cho người học trưởng thành hơn về trình độ tư duy
Phương pháp vấn đáp có ba mức độ:
Vấn đáp tái hiện
Vấn đáp giải thích minh họa
Vấn đáp tìm tòi
Căn cứ vào tính chất hoạt động nhận thức, vào mục đích sử dụng những câu hỏi
do giáo viên nêu ra, có thể chia đàm thoại theo những hình thức cơ bản sau: đàm thoại
có chủ đích và đàm thoại tự do
Trang 35Đối với môn giáo dục công dân thì phương pháp đàm thoại sẽ giúp học sinh tiếp cận hiểu và từng bước nắm kiến thức mang tính phổ biến, khái quát và trừu tượng cao nhưng lại rất thiết thực và gắn bó với cuộc sống hiện tại và tương laic của học sinh Đồng thời dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh sẽ hình thành, phát triển năng lực
tư duy độc lập, sáng tạo và tư suy logic Thông qua đàm thoại giáo viên có thể kiểm tra, đánh giá kết quả giảng dạy của mình, kết quả thu nhận tri thức của học sinh và bổ sung những khiếm khuyết của bản thân của học sinh trong giờ giảng trong quá trình giảng dạy toàn bộ chương trình
Yếu tố quyết định thành công của phương pháp này là hệ thống câu hỏi, cách hỏi, thời điểm hỏi của giáo viên Nói tóm lại đặt câu hỏi và giúp người học trả lời tốt các câu hỏi là trọng tâm của phương pháp vấn đáp
Ưu điểm và hạn chế của phương pháp đàm thoại
Ưu điểm:
Phương pháp đàm thoại kích thích tư duy độc lập của học sinh, dạy học sinh cách suy nghĩ đúng đắn và giúp cho học sinh hiểu được nội dung học tập hơn là học vẹt, học thuộc lòng
Khuyến khích lôi cuốn học sinh vào môi trường học tập, tạo không khí sôi nổi trong lớp học, rèn luyện cho học sinh kỹ năng tư duy độc lập, kỹ năng trình bày ý tưởng của mình bằng ngôn ngữ, tạo nên sự mạnh dạn, tự tin trước nơi đông người cho học sinh
Phương pháp còn kích thích và tạo động cơ học tập mạnh mẽ cho học sinh đặc biệt trong những trường hợp học sinh có câu trả lời đúng được giáo viên và bạn bè thừa nhận, khen ngợi đồng thời tạo cơ hội cho học sinh học hỏi lẫn nhau
Hạn chế:
Thiết nghĩ hạn chế lớn nhất của phương pháp này chính là soạn thảo và sử dụng
hệ thống câu hỏi gợi mở, dẫn dắt học sinh đi đến kết quả cuối cùng theo một chủ đề nhất quán
Qúa trình tổ chức cho học sinh giải quyết các vấn đề đặt ra qua hệ thống các câu hỏi thường mất nhiều thời gian, nhiều khi giáo viên khó kiểm soát vì có nhiều tình huống ngẫu nhiên xảy ra khi trao đổi, do đó dễ lệch hướng so với chủ đề
Trọng điểm của phương pháp đàm thoại là hệ thống các câu hỏi, vì vậy khi sử dụng phương pháp dạy học này giáo viên phải chuẩn bị kĩ về câu hỏi
Trang 36Yêu cầu sư phạm khi sử dụng phương pháp đàm thoại
Để sử dụng có hiệu quả phương pháp đàm thoại, bản thân người dạy cần lưu ý một số yêu cầu sau:
Sử dụng các hình thức của phương pháp đàm thoại một cách linh hoạt sao cho phù hợp với các mục tiêu bài dạy, nội dung tri thức và đối tượng tiếp thu
Các câu hỏi đặt ra cần sắp xếp theo một hệ thống xác định, hợp lí giúp học sinh theo dõi, lĩnh hội đầy đủ kiến thức mới
Câu hỏi phải ngắn gọn, rõ ràng, chính xác cả về nội dung và hình thức
Cần khuyến khích học sinh mạnh dạn đặt ra những câu hỏi, vấn đề liên quan đến nội dung bài học và thực tiễn đang diễn ra xung quanh
Phối hợp với các phương pháp khác, nhất là các phương pháp mới để tăng cường phát huy tính tích cực của học sinh, đặc biệt là phương pháp thảo luận nhóm, trò chơi, đóng vai
2.3.3 Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề
Quan niệm về phương pháp nêu và giải quyết vấn đề:
Phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề là phương pháp mà trong đó giáo viên tạo ra các tình huống mâu thuẫn, đưa học sinh vào trạng thái tâm lý tìm tòi, khám phá, từ đó hướng dẫn giúp học sinh tìm cách giải để nắm được kiến thức, phát triển trí tuệ và thái độ học tập
Các hình thức của phương pháp nên và giải quyết vấn đề
Đầu tiên, trình bày nêu vấn đề
Thứ hai, tìm tòi bộ phận
Cuối cùng, nêu vấn đề toàn bộ phận
Cách thức tiến hành phương pháp nêu vấn đề:
Xây dựng tình huống có vấn đề Tình huống có vấn đề là tình huống mà trong quan hệ với các chủ thể hành động, nảy sinh mâu thuẫn giữa một bên là chủ thể hành động có nhu cầu giải quyết tình huống đó với một bên là tri thức, kỹ năng và phương pháp hiện Nguồn gốc của tình huống có vấn đề là từ hoạt động thực tiễn, tình huống
đó có biểu thị mâu thuẫn giữa thực tiễn đã biến đổi, phát triển và trình độ hạn chế của tri thức cũng như giữa nhu cầu nhận thức cái mới với khả năng hạn hẹp của tri thức cũ Giải quyết vấn đề Sau khi đã nêu vấn đề và đưa học sinh vào tình huống có vấn
đề, giáo viên phải hướng dẫn học sinh giải quyết vấn đề cùng với giáo viên Giải quyết
Trang 37vấn đề trong môn giáo dục công dân ở trường THPT thường học sinh phải vận dụng một khối lượng tri thức tương đối lớn Các tri thức bao gồm các tri thức của khoa học
xã hội, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và vốn sống chưa nhiều cũng được sử dụng tới
Khi giải quyết vấn đề học sinh sẽ phải sử dụng các phương pháp suy luận, chứng minh… để giải quyết vấn đề Do đó, để giúp học sinh từng bước vượt qua khó khăn đó giáo viên phải hướng dẫn học sinh giải quyết từng điểm một thông qua các câu hỏi gợi
ý tức là kết hợp sử dụng phương pháp đàm thoại, sát với nội dung kiến thức và đối tượng học sinh
Kết luận Kết luận vấn đề không có nghĩa là liệt kê kiến thức mà là sắp xếp chúng theo một trình tự xác định, có liên quan với nhau
Trong dạy học theo phương pháp nêu và giải quyết vấn đề, học sinh vừa nắm được tri thức mới, vừa nắm được phương pháp lĩnh hội tri thức đó, phát triển tư duy tích cực, sáng tạo được chuẩn bị một năng lực thích ứng với đời sống xã hội, phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lí các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống
Ưu và hạn chế của phương pháp nêu và giải quyết vấn đề
Ưu điểm: học sinh tiếp nhận nội dung bài học gắn với những tình huống cụ thể, điển hình; tăng cường khả năng độc lập suy nghĩ, phát triển tư duy sáng tạo, kỹ năng vận dụng kinh nghiệm của mình và người khác vào giải quyết các vấn đề trong học tập
và trong các lĩnh vực khác cho học sinh…
Hạn chế: Xây dựng tình huống có vấn đề trong dạy học là việc là khó khăn, không phải giáo viên nào cũng làm được Điều đó, đòi hỏi giáo viên phải có kinh nghiệm chuyên môn, có trình độ sâu rộng và am hiểu những vấn đề thực tiễn liên quan đến bộ môn; học sinh dễ bị lạc hướng trong quá trình giải quyết tình huống, dễ nản khi gặp tình huống khó…
Yêu cầu sư phạm
Lựa chọn các kiểu dạy học nêu vấn đề ở mức độ khó, dễ khác nhau phù hợp với trình độ nhận thức và khả năng giải quyết của học sinh
Vấn đề lựa chọn phải phù hợp khả năng của học sinh, đồng thời tình huống phải chứa đựng mâu thuẫn và có tính thời sự, gắn với thực tiễn của học sinh nhằm huy động vốn kiến thức đã có của học sinh để việc giải quyết vấn đề trở nên dễ dàng hơn
Trang 38Chú trọng đến tính độc lập, tự lực của học sinh trong quá trình tiếp nhận và giải quyết tình huống dưới sự hướng dẫn của giáo viên
Khuyến khích học sinh phát hiện và tham gia giải quyết những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống
2.3.4 Phương pháp hoạt động nhóm
Quan niệm về phương pháp thảo luận nhóm:
Phương pháp thảo luận nhóm được sử dụng nhằm giúp cho mọi học sinh tham gia một cách chủ động vào quá trình học tập, tạo cơ hội để tất cả mọi người được tham gia Mục đích của thảo luận nhóm là tăng tối đa cơ hội để học sinh được làm việc và thể hiện khả năng của mình được chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết một vấn đề có liên quan đến nội dung bài học
Các hình thức nhóm được sử dụng khi thảo luận:
Cách tiến hành phương pháp thảo luận nhóm:
Chia nội dung bài dạy thành những vấn đề nhỏ Mỗi vấn đề nhỏ được coi là một chủ đề thảo luận
Chia lớp học thành nhiều nhóm nhỏ, cách chia nhóm tùy thuộc vào nội dung và tính chất của vấn đề thảo luận cũng như các điều kiện phục vụ khác và quy định thời gian cụ thể cho mỗi nhóm
Mỗi nhóm cử ra nhóm trưởng điều khiển và duy trì hoạt động của nhóm và thư
ký ghi đầy đủ các phát biểu trong thảo luận
Sau đó giao nhiệm vụ cho mỗi nhóm, các nhóm thảo luận giải quyết nhiệm vụ được giao
Đại diện từng nhóm trình kết quả thảo luận của nhóm Các nhóm chú ý quan sát, lắng nghe, chất vấn, bình luận và bổ sung ý kiến
Bất kỳ cuộc thảo luận nào cũng phải có kết luận của giáo viên
Ưu điểm và hạn chế:
Ưu điểm: