Tuy nhiên sau năm 1975, nhất là từ 1986 đến nay, hiện thực đất nước, con người đã thay đổi; văn học nước ta cũng chịu ảnh hưởng của các quan niệm, lý thuyết du nhập, trong đó có lý thuyế
Trang 1(QUA TUYỂN TẬP TRUYỆN NGẮN 1975 – 1995)
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM
ĐÀ NẴNG – NĂM 2017
Trang 2(QUA TUYỂN TẬP TRUYỆN NGẮN 1975 – 1995)
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học:
TS Nguyễn Khắc Sính
ĐÀ NẴNG – NĂM 2017
Trang 3Công trình được hoàn thành tại TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM – ĐHĐN Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN KHẮC SÍNH
Phản biện 1: TS Lê Thị Hường
Phản biện 2: TS Bùi Bích Hạnh
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Văn học Việt Nam họp tại Trường Đại Học Sư Phạm – ĐHĐN vào ngày tháng năm
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Trung tâm Thông tin – Học liệu, Đại học Đà Nẵng
- Thư viện trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của thầy giáo TS Nguyễn Khắc Sính Những nội dung nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào trong và ngoài nước
Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về nội dung khoa học của công trình này
Đà Nẵng, ngày 01 tháng 10 năm 2017
Tác giả luận văn
Lê Thị Thúy Hằng
Trang 5MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
2.1 Các nghiên cứu lý thuyết “nữ tính”, “nữ quyền” nói chung 2
2.2 Các công trình nghiên cứu về “nữ tính”, “nữ quyền” trong văn học Việt Nam 5
2.2.1 Trong văn học Việt Nam nói chung 5
2.2.2 Trong các công trình nghiên cứu riêng về truyện ngắn nữ 7
3 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu 9
3.1 Đối tượng nghiên cứu: 9
3.2 Phạm vi nghiên cứu: 9
4 Phương pháp nghiên cứu 9
5 Đóng góp của luận văn 10
6 Cấu trúc luận văn 10
Chương 1 11
VẤN ĐỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG 11
TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU1975 11
1.1GIỚI THUYẾT KHÁI NIỆM 11
1.1.1 Khái niệm về nữ tính, nữ quyền 11
1.1.2 Đặc điểm về nữ tính, nữ quyền trong văn học Việt Nam 15
1.2 BỨC TRANH NỮ TÍNH NỮ QUYỀN TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU 1975 25
1.2.1 Hiện thực đất nước, con người sau 1975 25
1.2.2 Nữ tính, nữ quyền trong truyện ngắn Việt Nam sau1975 26
1.2.2.1 Nỗi đau của số phận người phụ nữ sau chiến tranh 27
1.2.2.2 Tình người và những mối quan hệ nhiều chiều 29
1.2.2.3 “Chuyện về Hạ” - dấu nối của nữ tính-nữ quyền trong truyện ngắn sau năm 1975 36
Trang 6BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG TRUYỆN NGẮN NỮ VIỆT NAM SAU 1975
NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN KẾT CẤU VÀ TỔ CHỨC NHÂN VẬT 40
2.1 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SÁNG TÁC CỦA NHÀ VĂN NỮ LIÊN QUAN ĐẾN BÌNH ĐẲNG GIỚI 40
2.1.1 Sự phát triển mạnh mẽ, đồng đều về đội ngũ 40
2.1.2 Những đổi thay căn bản trong tư duy nghệ thuật 41
2.2 TỔ CHỨC KẾT CẤU TRONG TRUYỆN NGẮN NỮ 43
2.2.1 Kết cấu tâm trạng 43
2.2.2 Kết cấu mảnh vỡ 47
2.2.3 Kết cấu mở 49
2.3 TỔ CHỨC NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN NỮ 51
2.3.1 Dạng nhân vật “trải nghiệm giới tính nữ” 52
2.3.2 Dạng nhân vật trải nghiệm tình yêu nữ giới 58
2.3.3 Dạng nhân vật với những nỗi niềm riêng không dễ nói ra 63
Chương 3 72
BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG TRUYỆN NGẮN NỮ VIỆT NAM SAU1975 NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT 72 3.1 NGÔN NGỮ TRẦN THUẬT 72
3.1.1 Ngôn ngữ của người trần thuật nữ 72
3.1.1.1 Ngôn ngữ kể 72
3.1.1.2 Ngôn ngữ tả 74
3.1.1.3 Trữ tình ngoại đề 75
3.1.2 Ngôn ngữ của nhân vật nữ 76
3.1.2.1 Ngôn ngữ đối thoại 77
3.1.2.2 Ngôn ngữ độc thoại 78
3.1.3 Ngôn ngữ thân thể và hệ từ thông tục 79
3.2 GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT NỮ GIỚI 83
3.2.1 Giọng đắm say, ngọt ngào 83
3.2.2 Giọng đau đớn, điên dại 85
3.2.3 Giọng lạnh lùng, tỉnh táo 87
Trang 7KẾT LUẬN 92 TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1 Dù phương Tây hay phương Đông, dù trước đây hay bây giờ, tuy mức độ
có khác nhau, sự biểu hiện cũng không giống nhau, nhưng nhìn chung vấn đề bình
đẳng giới vẫn chưa đi đến giới hạn cuối cùng Tư tưởng “trọng nam khinh nữ” hay bất bình đẳng giới nói chung vẫn còn tồn tại trong quan niệm xã hội, cho dù xã hội
ấy là văn minh hiện đại hay dã man Văn chương viết về thân phận người nữ trong lịch sử văn học thế giới khá nhiều song thường là do nam giới viết về nó chứ không
nhiều lắm việc tự nó viết về mình Bởi vậy không thể tránh khỏi cái nhìn từ “trên
xuống”, từ “ngoài vào”, chủ yếu là ngợi ca vẻ đẹp ngoại hình hoặc bộc lộ cái nhìn thương cảm về số phận như một sự “ban ơn” Thảng hoặc có những tiếng nói bênh vực thì cũng chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay và cũng thường mới dừng lại ở lòng trắc ẩn Rất hiếm khi xuất hiện các nhà văn nữ viết về hiện thực đời sống bình đẳng giới hay viết về chính thân phận mình kiểu như Bronthy (Anh), Elfriede Jelinek (Áo), Julia Kritéva (Bulgarie, Pháp), Marguerite Duras (Pháp), hay Đoàn Thị Điểm,
Hồ Xuân Hương, Đoàn Lê, Dạ Ngân… ở Việt Nam Phải đến thời kỳ hiện đại (từ cuối thế kỷ XIX), đội ngũ nhà văn nữ mới xuất hiện một cách rầm rộ và tiếng nói của họ mới có vị thế rõ rệt trên văn đàn mỗi nước Nhưng sức mạnh của tiếng nói ấy cũng ở mức độ khác nhau tùy theo nền văn minh của mỗi quốc gia, dân tộc
2 Ở Việt Nam, trong lịch sử văn học có sự vênh lệch khá lớn giữa nhà văn nam với nhà văn nữ Nằm trong quan niệm phương Đông, đặc biệt là ảnh hưởng Nho giáo của Trung Quốc, thân phận người phụ nữ luôn là thân phận “kẻ dưới” (từ
ca dao Việt với motif “thân em” cho đến nền văn học viết, tình hình cũng không
được cải thiện hơn là bao) Mãi đến thời kỳ 1945-1975 trong thể chế đời sống mới của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, người phụ nữ mới thực sự được giải phóng, được tham gia vào mọi lĩnh vực công tác xã hội, bộc lộ năng lực cụ thể và đóng góp rất lớn vào công cuộc giải phóng đất nước cũng như xây dựng chủ nghĩa xã hội trên một nửa nước Từ đó, xã hội mới hiểu hơn vai trò của người phụ nữ là không thể không ghi nhận Trên mặt trận văn nghệ, nền văn học cách mạng Việt Nam cũng đã khẳng định những đóng góp to lớn của văn học viết về giới nữ nói chung, đặc biệt là của chính các nhà văn nữ viết về đất nước, con người, sự nghiệp cách mạng và càng
về sau càng thể hiện tiếng nói về số phận của chính mình Lịch sử văn học, theo đó,
đã hình thành đông đảo các thế hệ nhà văn nữ, tạo nên một lực lượng hùng hậu chiếm lĩnh văn đàn không thua kém nam giới: Vũ Thị Thường, Nguyễn Thị Ngọc
Tú, Lê Minh Khuê, Nguyễn Thị Thu Trang, Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn….Tuy nhiên, do đặc điểm lịch sử bây giờ (cả nước đánh “hai đế quốc to” là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc) và đặc điểm lịch sử văn học (nền “văn học sử thi”) nên chủ yếu vẫn là ngợi ca “tính nữ” Chỉ đến
Trang 9sau 1975, với các thế hệ của những Võ Thị Hào, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Y Ban, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Thanh Song Cầm, Đoàn Minh Phượng, Lý Lan, Phong Điệp, Phan Huyền Thư, Ly Huyền Ly, Vi Thùy
Linh… việc phản ánh bình đẳng giới mới biểu hiện đầy đủ và rõ rệt hơn
3 Vấn đề bình đẳng giới trong văn học Việt Nam đã được nói đến khá nhiều
và khá lâu Chung quy, thuật ngữ này đề cập đến hai phương diện lớn: “nữ tính” - là
thuộc tính của giới nữ gồm, ngợi ca vẻ đẹp bên ngoài (vóc dáng mềm mại, duyên dáng, mái tóc đen mượt, làn môi đỏ thắm, làn da trắng hồng) và phẩm chất cao quý bên trong (sự dịu dàng, thủy chung, nhân hậu, tính vị tha, nhường nhịn và khi cần
cũng hết sức quyết liệt) Các hình tượng văn học như chị Sứ (Hòn Đất - Anh Đức), Nguyệt (Mảnh trăng cuối rừng - Nguyễn Minh Châu), Phước (Hoa rừng - Dương
Thị Xuân Quý)… là những biểu hiện sinh động Tuy nhiên sau năm 1975, nhất là từ
1986 đến nay, hiện thực đất nước, con người đã thay đổi; văn học nước ta cũng chịu
ảnh hưởng của các quan niệm, lý thuyết du nhập, trong đó có lý thuyết Nữ quyền
luận, dẫn đến sự đổi thay của những quan niệm giá trị khiến cho khái niệm “tính
nữ” cũng không còn giữ nguyên nội hàm như cũ mà đã có những dịch chuyển, biến đổi theo hướng khai thác sâu hơn vào thế giới bản nguyên để thể hiện những góc cạnh, cung bậc cảm xúc cũng như những khát vọng, đòi hỏi có thực và đích thực của người nữ, đồng thời đấu tranh giành bằng được những quyền của giới mình, trong đó có những quyền về chính trị, kinh tế, sắc tộc, giới tính, tự do hôn nhân, tự
do thân thể… Đây chính là biểu hiện của phương diện “nữ quyền” trong thực tế và
trong văn học của các cây bút nữ Việt Nam và trở thành đối tượng nghiên cứu rất được quan tâm, đặc biệt là nửa sau thế kỷ XX ở trên thế giới và từ sau 1986 ở Việt Nam
Từ những lý do trên, cùng với sự tiếp thu những thành tựu sáng tác của văn
học nữ và các lý luận về “nữ tính”, “nữ quyền”, chúng tôi chọn đề tài Vấn đề bình
đẳng giới trong truyện ngắn nữ Việt Nam sau 1975 (qua Tuyển tập truyện ngắn
1975 - 1995) làm luận văn tốt nghiệp
2 Lịch sử nghiên cứu
2.1 Các nghiên cứu lý thuyết “nữ tính”, “nữ quyền” nói chung
- Trong trào lưu Chủ nghĩa giải cấu trúc, nhất là khuynh hướng “giải cấu
trúc cánh tả” với các tên tuổi lớn như Jacques Derrida, Jacques Lacan, Julia Kristeva… bên cạnh những đóng góp về mặt lý luận (“giải” những bế tắc, hạn chế
của Chủ nghĩa cấu trúc trước đó) thì một trong những đóng góp to lớn của khuynh
hướng này đưa ra khái niệm “Phê bình nữ quyền” và đòi hỏi phải giải quyết rốt ráo
nó Các nhà nữ quyền này, một mặt, bảo vệ luận đề về bản chất “trực giác”, “nữ tính” của “sự viết” (văn học) khi khẳng định sự viết không phục tùng “logic nam tính”; phê phán những “khuôn thước” được gọi là “tâm thức đàn ông” đã và đang thống trị trong văn học (1), mặt khác, họ mạnh mẽ khẳng định “vai trò đặc biệt, đặc quyền của phụ nữ trong việc tạo lập cấu trúc ý thức con người”(2), từ đó đề xuất nguyên tắc một phê bình mang tính nền tảng lúc bấy giờ rằng: sẽ là một “văn hóa sai lầm” nếu lấy tâm lý học đàn ông làm luận điểm nổi trội hơn tâm lý học phụ nữ!
[(1và 2), 33]
Trang 10- Liên quan đến “lối viết nữ”, các nhà nữ quyền luận phương Tây (chủ yếu ở Pháp) đã đề xuất và đặc biệt quan tâm đến phương diện tự thuật và ngôn ngữ thân thể Biểu hiện của phương diện này là việc các nhà nữ quyền luận đề cao tinh thần
và chú trọng đến diễn ngôn thân thể thông qua kinh nghiệm dục tính nữ (điều mà
sau này các nhà văn nữ Việt Nam rất ưa chuộng khi vận dụng nó vào thể loại tự sự
hư cấu hay tiểu thuyết tự truyện) Rất nhiều nhà nữ quyền luận là các nữ triết gia,
nữ lý luận gia, nữ luật gia đã nêu lên những tuyên ngôn về giải phóng nữ giới thông
qua các hoạt động và viết các tác phẩm như Julia Kristéva (Tính nữ và lối viết, 1977), Béatrice Didier (Lối viết nữ giới, 1981), Hélène Cixous (Giữa lối viết,
1986)… đã nói lên tinh thần đó
- Nữ GS Judith Lorber trong bài viết Sự đa dạng của chủ nghĩa nữ quyền và
những đóng góp vào sự bình đẳng giới, [39] đã lược thuật và phân tích cụ thể 3 giai
đoạn của phong trào nữ quyền trong lịch sử Theo bà, “Đợt sóng thứ nhất” của
phong trào này là thế kỷ XIX khi châu Mỹ nói chung, Hoa Kỳ nói riêng chỉ thừa nhận quyền bình đẳng thuộc về đàn ông, còn đàn bà được xếp chung với đàn ông nô
lệ, đầy tớ nam là những kẻ không được hưởng quyền bình đẳng Vì thế họ đấu tranh đòi các quyền này, cụ thể là quyền đi bỏ phiếu, quyền “sở hữu thân thể” của người
đàn bà “Đợt sóng thứ hai” xuất hiện thời Hậu chiến (1949) khi phong trào nữ quyền đã mang tên gọi hẳn hoi: Phong trào giải phóng phụ nữ, có lãnh tụ phong trào (S.de Beauvoir), có tuyên ngôn, có những quyền cụ thể đòi hỏi, có sách xuất bản nội dung của phong trào: cuốn sách Giới thứ hai (Le Deuxième Sexe) của S.de
Beauvoir vạch rõ sự bất công của nhà nước đối với phụ nữ Lúc này các nước phương Tây vẫn giữ lập luận: đàn ông là người thiết lập những tổ chức và giá trị
còn đàn bà là kẻ Khác (the Othe), đàn ông là người hành động còn đàn bà là kẻ phản
ứng và vì thế, đàn ông là “giới thứ Nhất” còn đàn bà là “giới thứ Hai” Simone de Beauvoir kịch liệt lên án quan niệm vô lý này Bà cho rằng việc sinh ra “đàn ông”,
“đàn bà” không phải là hiện tượng sinh học mà chỉ là sự “sáng tạo” (!) của xã hội:
“Người ta không sinh ra làm đàn bà mà đúng hơn trở thành đàn bà” [69] Thời kỳ
đương đại (những năm 90/ XX lại nay) được coi là “Đợt sóng thứ ba”, còn gọi là giai đoạn Hậu - nữ quyền: Giai đoạn tiềm ẩn những áp chế ngầm đối với phụ nữ từ
những chiến lược chính trị của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, các mưu đồ toàn cầu hóa (vấn đề chủng tộc, sắc tộc ngay trong từng nước) Trên tổng thể, từ thập kỷ 90/
XX lại nay, những cuộc đấu tranh nữ quyền, ngoài tiếp tục những vấn đề cũ chưa được giải quyết triệt để, đồng bộ ở các nước, thì đã bước sang “tập trung đặc biệt vào tính vật chất của thân thể, coi bản sắc giới chỉ như là một sự trình diễn, đồng thời có một sự chuyển dần từ nghiên cứu phụ nữ đến sự mở rộng sang lý thuyết
đồng tính và nghiên cứu giới” (GS Chris Weedon, Lý thuyết và phê bình nữ quyền
từ 1990 đến nay, Tạp chí Sông Hương, số 320) Trong công trình của mình, Judith
Lorber cũng đã có lập luận tương đối thống nhất với nữ GS này khi bà cho rằng:
“Một số trong những lý thuyết nữ quyền bây giờ đang được gọi là đợt sóng thứ ba”
Trang 11là các vấn đề về tính dục (sex), dục tính (sexuality) và giới tính (gender) và sự giao thoa đa phức của nó
- TS Trần Huyền Sâm trong chuyên luận Nữ quyền luận ở Pháp và tiểu
thuyết nữ Việt Nam đương đại đã dành 136/ 276 trang để tổng quan vấn đề nữ
quyền ở Pháp trong suốt chiều dài lịch sử của nó Chẳng hạn, các chương: Dẫn luận
về phê bình nữ quyền và lối viết nữ giới; Simone de Beauvoir và phong trào giải phóng nữ giới ở Pháp; Phê bình nữ quyền hậu cấu trúc ở Pháp Cuối cùng, chuyên luận vận dụng những lý thuyết ấy để soi chiếu tinh thần nữ quyền trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, từ hai góc nhìn: dạng thức trần thuật, và, phương diện diễn ngôn Đặc biệt, chuyên luận dành khá nhiều trang cho các nhà Nữ quyền luận tiêu biểu Simone de Beauvoir, Julia Kristéva, Hélène Cixous Nhìn chung, chuyên luận của Trần Huyền Sâm là một sự tổng quan đầy đủ và chọn lọc về lịch sử nữ quyền ở phương Tây, cụ thể là ở Pháp Đặc biệt, trên cơ sở lý thuyết này, tác giả chuyên luận đã vận dụng để làm sáng tỏ hơn phương thức trần thuật và diễn ngôn của tiểu thuyết nữ Việt Nam gần đây Có nhiều chỗ trong chuyên luận được tác giả viết rất táo bạo mà xác đáng: “Simone de Beauvoir là một người đàn bà ngoại cỡ: ngoại cỡ
về tư tưởng nữ quyền, ngoại cỡ về tình yêu - khoái lạc Đàn bà trên cõi đời này hiếm ai có thể đạt đến tầm vóc của bà Tuy nhiên, thái độ hiện sinh của Simone de Beauvoir là bài học cho bất kỳ phụ nữ nào muốn vươn đến tự do, bằng việc xác lập
một vị thế tự chủ trong cuộc sống” [63, tr.74]; hoặc: “Điều đáng trân trọng là các
nhà văn nữ sinh trước 1975 luôn có ý thức vượt thoát sự kìm hãm của hoàn cảnh, họ tranh đấu, dấn thân để được sống là chính mình”, “Viết với các nhà văn trẻ được xem là một thái độ hiện tồn, một cuộc chơi, một cuộc phiêu lưu để “chứng tỏ bản thân” Họ sẵn sàng dấn thân vào những chủ đề nhạy cảm như tính dục, đồng tính
luyến ái…” [63, tr.151]
- Trong tiểu luận Bình đẳng đối với nữ giới ở Việt Nam - thực trạng và giải
pháp của học viên Hồ Vũ Linh Đan (Viện nghiên cứu phát triển ĐBSCL, Đại học
Cần Thơ) cũng đã giới thiệu tương đối đầy đủ (về mặt xã hội học) các vấn đề: Giới
và bình đẳng giới, Bất bình đẳng giới, Nguồn gốc của bất bình đẳng giới, Rào cản trong việc nâng cao vị thế và vai trò của phụ nữ Đồng thời, công trình cũng nêu lên thực trạng về bất bình đẳng giới trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, văn hóa, y tế, gia đình Nhưng có lẽ do quy mô một tiểu luận nên công trình chưa đề xuất được giải pháp nào để khắc phục thực trạng bất bình đẳng giới ở Việt Nam
Nói về nghiên cứu nữ tính và nhất là nữ quyền trên thế giới và ở Việt Nam,
còn phải đề cập tới những công trình khác nữa như: Bí ẩn nữ tính của Betty Friedan;
Lý thuyết và phê bình nữ quyền: từ phê bình xã hội đến phân tích diễn ngôn của
Davidow Ellen Messer; Phê bình nữ quyền của Selden Raman; hoặc Phẩm hạnh
người đàn bà; Chức vụ người đàn bà của Đạm Phương nữ sĩ…
Trang 12Bất bình đẳng giới, dù hiện nay đã gần hai thập niên đầu ở thế kỷ XXI,
nhưng vẫn còn nhiều nhức nhối Quả là ngạc nhiên khi chỉ nhìn một mặt thôi (nạn hiếp dâm) trên thế giới đã thấy danh sách 10 nước có tỷ lệ hiếp dâm cao nhất mà đứng đầu đang là các nước có nền văn minh tiên tiến! Thứ tự xếp hạng: Mỹ (99%), Nam Phi (chỉ trong năm 2012 đã có 65.000 vụ cưỡng hiếp), Thụy Điển (tháng 4 năm 2009, tội phạm tình dục đã tăng 58% trong khoảng 10 năm), Ấn Độ (bình quân
22 phút có 1 vụ hãm hiếp), Anh (hàng năm có 85.000 phụ nữ bị hãm hiếp ở Anh và
Xứ Wales), Đức (chỉ riêng thống kê năm 2013 đã có 6.507.394 ca hãm hiếp), Pháp (có bình quân 75.000 vụ cưỡng hiếp trong 1 năm), Canada (tổng số trường hợp ghi nhận bị hãm hiếp tới 2.516.918), Sri Lanka (14,5% số phụ nữ từng bị hãm hiếp trong cuộc đời họ, 96,5% đàn ông tham gia hãm hiếp mà không chịu hậu quả pháp
lý nào), Ethiopia (gần 60% phụ nữ đã bị bạo lực tình dục)! (nguồn: PNNews,
05/7/2017) Rõ ràng là nhức nhối và khủng khiếp! Tuy nhiên, do giới hạn của luận văn cũng như khan hiếm của tài liệu nên chúng tôi tạm dừng ở các công trình nêu trên
2.2 Các công trình nghiên cứu về “nữ tính”, “nữ quyền” trong văn học Việt Nam
2.2.1 Trong văn học Việt Nam nói chung
- GS Hoàng Ngọc Hiến trong bài viết “Tôi không chúc bạn thuận buồm xuôi gió”, sau khi “đánh giá” những nhân vật nam trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
“hầu hết là đốn mạt, chí ít là những kẻ bất đắc chí, vô tích sự, nói chung là không ra gì”, đã dành một đoạn rất dài viết về các nhân vật nữ (nàng Bua, nàng Sinh, chị Thắm, Xuân Hương ) Ngược lại với các nhân vật nam, “trong các nhân vật nữ, có những con người ưu tú, nhiều người đáng gọi là liệt nữ Nó là sự hiện thân của
nguyên tắc tính nữ hoặc thiên tính nữ” [23, tr.237] Từ đây GS đã vạch ra rất nhiều
những “tiêu chí” của thuật ngữ “tính nữ”
- TS Lê Thị Hường trong bài viết “Khuôn diện tiểu thuyết của các nhà văn
nữ Việt Nam thập niên đầu thế kỷ XXI nhìn từ một số lý thuyết hiện đại” (in trong
Kỷ yếu Hội thảo quốc gia Văn học Việt Nam trong xu hướng toàn cầu hóa, NXB
TT&TT, 2016) cho rằng: “Trong xu thế hội nhập, một hiện tượng nổi rõ, dễ nhận dạng là sự hình thành dòng văn học nữ, tập hợp được nhiều thế hệ nhà văn với những phong cách độc đáo” (tr 192) Từ nhận định: “Các lý thuyết hiện đại xâm nhập vào cảm thức, sáng tác các nhà văn nữ bởi sự đón nhận, đồng thuận trong cái
nhìn về con người, trong quan niệm viết”, tác giả bài viết vận dụng thuyết Phân tâm
học của Sigmund Freud soi chiếu vào sáng tác của các nhà văn nữ Về cái viết (viết
như là sự thăng hoa vô thức; viết là ném một tiếng gọi; viết- sự hiện sinh của xác
thịt), Về thân phận (cảm thức về cô đơn/ lưu đày, với tiểu thuyết nữ Việt, vấn đề
thân phận được đặt ra rốt ráo, thẳng thắn mà cũng lấp lánh nhân tình)
- Cũng trong bài viết “Văn xuôi nữ lưu đầu thế kỷ XX nhìn từ một số phương
diện của trần thuật học (khảo sát qua 3 tác giả: Đạm Phương nữ sử, Huỳnh Thị Bảo
Hòa, Phan Thị Bạch Vân)” (tlđd, tr.794), TS Trần Văn Trọng nhìn nhận từ 3
Trang 13phương diện của lý thuyết trần thuật học (Ngôi kể, điểm nhìn; Xây dựng nhân vật;
Cốt truyện, kết cấu) để khảo sát văn xuôi 3 tác giả nữ đầu thế kỷ XX, từ đó rút ra kết luận: “về mặt nghệ thuật, các cây bút Đạm Phương nữ sử, Huỳnh Thị Bảo Hòa, Phan Thị Bạch Vân này chưa có nhiều đổi mới như các nhà văn nam giới cùng thời
mà đóng góp của họ chủ yếu ở mặt nội dung tư tưởng và ý nghĩa phong trào” (tr.803)
- Trần Huyền Sâm trong hai công trình mang tính chuyên biệt về giới nữ:
Chuyên luận Nữ quyền luận ở Pháp và tiểu thuyết nữ Việt Nam đương đại, NXB
Phụ nữ, 2016 [63] và bài viết “Vấn đề chối bỏ thân thể trong tiểu thuyết nữ Việt
Nam - Nhìn từ lý thuyết phê bình nữ quyền” (tlđd) đã dành rất nhiều trang viết công
phu về lịch sử Nữ quyền luận, đặc biệt là về việc nhà văn nữ Việt Nam dưới tác
động của thuyết Nữ quyền luận ra sao từ phương diện dạng thức trần thuật và diễn ngôn Chuyên luận dành sự khảo sát hàng chục nhà văn nữ ở trong nước cũng như ngoài nước, tập trung chú ý vào sự khảo sát một số tác giả viết tự truyện: Lê Vân
với Lê Vân yêu và sống, Nguyễn Song Thanh Cầm với Cánh chim trong bão tố, Dạ Ngân với Gia đình bé mọn, Đoàn Lê với Tiền định Tuy nhiên, do tính mục đích của công trình nên tác giả chỉ tập trung vào thể loại tự truyện Ở bài viết “Vấn đề chối
bỏ thân thể trong tiểu thuyết nữ Việt Nam - Nhìn từ lý thuyết phê bình nữ quyền”,
tác giả tập trung chú ý vấn đề nữ quyền trong một trạng huống cụ thể ở người nữ:
vấn đề chối bỏ thân thể (nạo thai) Sau khi phân tích khá nhiều về: Phê bình nữ
quyền và cuộc chiến chống thuyết độc tôn dương vật; Quan niệm của Ki-tô giáo và Phật giáo về việc nạo thai ở phụ nữ; Diễn ngôn về nỗi đau “chối bỏ thân thể”: vấn
đề nạo thai trong tiểu thuyết nữ Việt Nam đương đại, tác giả đi đến: “Có thể khẳng định rằng, phần lớn văn bản nữ giới luôn hằn sâu những sự kiện vừa nêu Nỗi sợ hãi
“mất phẩm tiết” và sự sám hối vì đã chối bỏ một phần thân thể của mình đã trở thành cảm thức xuyên suốt trong sáng tác nữ giới Đây là một trong những nội dung quan trọng mà lý thuyết nữ quyền quan tâm (…) Đối với Việt Nam, quan điểm trinh tiết gắn liền với phẩm tiết thì “quyền” của phụ nữ chỉ dừng lại trên những văn bản của luật lệ” [tlđd, tr.347] Đồng thời tác giả cũng không quên khi nhắn nhủ: “So với thế giới, ít ra trong tương quan với Pháp, việc nghiên cứu nữ quyền luận của chúng
ta quá hạn hẹp” [tlđd, tr.347]
- Tác giả Đặng Thị Thái Hà trong bài Con đường chính thống hóa lý
thuyết-phê bình nữ quyền [17], sau khi nêu việc M Foucault khẳng định “trật tự của sự
vật” (tức là sự hiện diện của diễn ngôn) đã đề cập đến hiện trạng: “Sự áp chế của nam giới trong trật tự giới bao giờ cũng kéo theo nó là loạt diễn ngôn thống trị về nam quyền, làm cho nó trở thành một quyền lực tất yếu, định hướng và ép buộc diễn ngôn về những “cái Khác” (phi-nam tính) và cuối cùng, đẩy mọi diễn ngôn của những “cái Khác” ấy ra vị trí ngoại vi” Từ đây tác giả cho rằng: “Xem xét văn xuôi trong bối cảnh đương đại nói riêng, chính vì thế, cũng không thể bỏ qua mối tương quan với những hệ thống lý thuyết - phê bình nữ quyền đã/ đang được hình thành và
Trang 14tiếp nhận Nó liên quan sâu sắc đến việc đặt ra và mở rộng những lối phê bình với những cách tiếp cận mới, và quan trọng hơn, nhu cầu về lối viết mới đối với những cây bút nữ”
- Tác giả Nguyễn Trọng Hiếu trong bài “Yếu tố vô thức trong truyện ngắn của các nhà văn nữ Việt Nam đương đại” (tlđd) cũng đã nhìn nhận: “Là những cây bút nữ, nên điều mà họ quan tâm nhiều nhất trong sáng tác của mình là thân phận của những người cùng giới được đan cài trong những câu chuyện thường ngày, những vấn đề về tình yêu, gia đình, tính dục, và đặc biệt là yếu tố vô thức (…) Phần lớn truyện ngắn của các nhà văn nữ hướng vào cõi riêng tư, tâm linh vô thức, những cảm xúc bộc phát, những hành vi sai lạc, bất ngờ, để phơi bày bao nỗi sâu kín trong tâm hồn, phản ánh bi kịch của con người dưới góc độ tâm lý, tạo nên giá trị nhân văn cho tác phẩm” (tr.347)
Vấn đề “Tính nữ”, “Nữ quyền” được bàn đến trong lịch sử văn học và nghiên
cứu văn học đã có lịch sử hàng trăm năm, đặc biệt nổi lên khoảng hơn sáu mươi năm nay (tính từ cuộc cách mạng về nữ quyền ở Pháp, khi Simone de Beauvoir viết
Giới thứ hai, 1949) nên trong khuôn khổ một luận văn không thể nào điểm hết
được Gần gũi hơn cũng phải kể đến các công trình của Nguyễn Đăng Điệp, “Vấn
đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam đương đại”, Tham luận
tại Hội thảo quốc tế: Văn học Việt Nam trong bối cảnh giao lưu văn hóa khu vực và quốc tế, 2006 Nguyễn Việt Phương, 2012, Nhận diện chủ nghĩa nữ quyền Pháp thế
kỷ XX qua một số đại diện tiêu biểu của nó, http://phebinhvanhoc.com.vn Nguyễn
Thị Minh Thương, Ảnh hưởng của lý luận thân thể của Foucault đối với chủ nghĩa
nữ quyền, http://phebinhvanhoc.co.vn Hồ Khánh Vân, 2010, Ý thức nữ quyền và sự phát triển bước đầu của văn học nữ Nam Bộ trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc đầu thế kỷ XX, http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn v.v…
2.2.2 Trong các công trình nghiên cứu riêng về truyện ngắn nữ
Số lượng các công trình nghiên cứu riêng về truyện ngắn nữ cũng khá đồ sộ
và rất phong phú Có thể kể đến
- Nhà văn Hồ Anh Thái có 3 bài viết về sáng tác truyện ngắn của nữ giới
[73], đó là các bài: Đoàn Lê “chị tôi” (tr.34) viết về người phụ nữ đa tài: diễn viên
múa, đạo diễn, họa sĩ, nhà văn… (mà cũng đa cảm, đa đoan, đa khổ…) Đoàn Lê Nhưng bài viết như là một sự ghi lại cuộc trò chuyện giữa Hồ Anh Thái với tác giả,
trong đó đề cập đến các truyện ngắn của chị như Giường đôi xóm Chùa, Nghĩa địa
xóm Chùa, Lên ruồi, Người đẹp xóm Chùa,…để kết lại “Chị là nhà văn, văn xuôi
mới đúng là chị, đúng nhất” Bài Lê Minh Khuê - người đàn bà “viễn thị” viết về
“nhà truyện ngắn” viết vắt ngang hai thời kỳ trước và sau năm 1975 (tr 60) Điểm
qua sáng tác của Lê Minh Khuê trước 1975 (Bạn bè tôi, Những ngôi sao xa xôi, Anh
kỹ sư dạo trước…) để nói cái “trong trẻo hồn nhiên đến lạ kỳ” trong truyện ngắn Lê
Minh Khuê; và những truyện ngắn sau 1975 (Thợ làm móng tay, Bi kịch nhỏ, Đồng
đô-la vĩ đại, Cơn mưa cuối mùa…) để nói về cái “tâm trạng xã hội qua những thời
Trang 15kỳ khác nhau” nên trong truyện của chị gần đây “đã trở nên hơi duy lý, hơi lạnh” Bài thứ ba của Hồ Anh Thái viết về hai nữ nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Tú và
Nguyễn Thị Thu Huệ: Hai nữ văn sĩ ở một nhà (tr.111) “Nữ văn sĩ mẹ” Ngọc Tú nổi tiếng với hàng vạn trang tiểu thuyết Đất làng, Hạt mùa sau, Buổi sáng, Chỉ còn
anh và em… “Cuốn nào cũng dày dặn như cục gạch trên giá sách”; đồng thời là một
biên tập viên thiện nghệ của tạp chí Tác phẩm văn học trước kia cho đến tạp chí
Nhà Văn khi về hưu “Nữ văn sĩ con” Thu Huệ là một “cây” truyện ngắn nổi tiếng
với những Hậu thiên đường, Tình yêu ơi, ở đâu?, Bảy ngày trong đời, Của để
dành…“cũng là kể chuyện, nhưng chuyện có duyên, ngôn ngữ linh hoạt, ào ào
không tiếc lời”; đồng thời là biên tập viên điện ảnh, viết kịch bản phim sắc sảo, nổi tiếng, ấn tượng
- PGS.TS Nguyễn Thị Đức Hạnh trong bài viết: “Những tác phẩm tiêu biểu
của một cây bút nữ” [19, tr.209] viết về tác giả Nguyễn Thị Ngọc Tú trên cả hai thể
loại: truyện ngắn và tiểu thuyết “Trên 40 năm cầm bút, dù viết truyện ngắn hay tiểu thuyết, viết về một nỗi lòng, một mảnh đời, hay nhiều con người, trong những bối cảnh hạn hẹp hay bộn bề, Nguyễn Thị Ngọc Tú vẫn luôn luôn đảm bảo được tính chân thực Bởi chị thường chỉ viết về những gì được nghe, được trải nghiệm và đã nghiền ngẫm suy nghĩ” (tr.216) như là một sự tổng kết đời văn Nguyễn Thị Ngọc
Tú của công trình nghiên cứu này
- Bùi Việt Thắng trong cuốn sách Bình luận truyện ngắn [74] đã có hàng
chục bài viết về nhà văn cùng các truyện ngắn của họ viết về tính nữ, đặc biệt là các nhà văn nữ viết về chính giới mình Có thể đề cập đến một số bài tiêu biểu Bài
“Trong tấm gương - truyện ngắn” khi nhận xét về giải nhất cuộc thi truyện ngắn do
báo Văn nghệ và Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh tổ chức (1991) trao cho truyện Kẻ
sát nhân lương thiện của Lại Văn Long “là xứng đáng”, “Nhưng nếu được quyền so
sánh, liên hệ thì tôi cho rằng nếu so với Thư gửi mẹ Âu Cơ của Y Ban (…) thì rõ
ràng cái “tầm” và “tính vĩnh hằng nghệ thuật”, thấp hơn” (tr.162-163) Trong bài
“Người đàn bà tóc trắng” (Tập truyện của Nguyễn Quang Thiều, NXB Hội Nhà văn 1993), khi phân tích hình ảnh hai người đàn bà Mật và Ân, cưới chồng được một ngày rồi hai người con trai ra đi biền biệt, duy nhất một lần trở về lại gặp cảnh éo le
“ông nọ bà kia” và thế là, đời họ chỉ còn chuỗi ngày tháng vô tận mỏi mòn chờ chồng Họ già, lú lẫn, quên hết tất cả, chỉ nhớ duy nhất một điều: ngày tết nấu nồi bánh chưng thật đầy đợi hai người đàn ông về ăn tết cùng, hơn 30 năm không năm nào họ quên điều đó, cũng ngần ấy năm bánh ấy phải đổ bỏ Quả là “Nguyễn Quang Thiều là nhà văn có ý thức chắt chiu cái đẹp của đời sống Nhưng cái đẹp trong tác phẩm của anh luôn mang bộ mặt buồn” (tr.306) Ở bài “Năm truyện ngắn dự thi của một cây bút nữ trẻ”, Bùi Việt Thắng viết về 5 truyện ngắn dự thi và đoạt giải A
cuộc thi tiểu thuyết và tập truyện ngắn của NXB Hà Nội của Nguyễn Thị Thu Huệ
Nhận xét về nữ tác giả này, anh cho rằng “Truyện ngắn của Thu Huệ hấp dẫn rộng
rãi bạn đọc trước hết vì giàu chất đời” (tr.321), “Nhân vật nữ của Thu Huệ thường
Trang 16cô đơn, dường như tác giả quan niệm nó là một “mặt trái của tình yêu thương” (tr.323), “Thu Huệ có lối văn táo tợn - cái táo tợn nhiều khi gây cảm giác ít “tính nữ” Nhưng đã là “tạng” thì lại là chuyện khác, chúng ta chấp nhận” (tr.324) vv… Ngoài ra, Bùi Việt Thắng còn là nhà nghiên cứu có nhiều bài viết khác liên quan
đến việc bàn về tính nữ, về nhà văn nữ như: Một giọng nữ trầm trong văn chương;
“Cô gái hoàng hôn” của Việt Hùng; Ấn tượng truyện ngắn trẻ; Khả năng lớn của
thể loại nhỏ; Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân; Những vùng lặng của Phạm Sông Hồng; Một thể nghiệm mới của Lê Minh Khuê; Duyên văn; Sức bền của ngòi bút…
- TS Nguyễn Thanh Tú trong bài viết “Bi kịch hóa trần thuật - Một phương
thức tự sự” (trên cứ liệu Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư Và khi tro bụi của
Đoàn Minh Phượng) đã nêu lên và so sánh các dạng thức “bi kịch hóa” trong tác
phẩm của hai nhà văn nữ này như: Bi kịch hóa tình huống; Bi kịch hóa không-thời
gian; Bi kịch hóa hoàn cảnh, tâm lý, tính cách nhân vật để dẫn đến kết luận: “cách
kể bi kịch hóa trần thuật đã góp phần làm nên thành công của Cánh đồng bất tận và
Và khi tro bụi Một cách kể mang đậm dấu ấn của “tôi”, nhân vật - người kể
chuyện” (tr 483-484)
Những công trình trên, do tính mục đích riêng của nó, nên hoặc là chỉ bàn chuyên về lý thuyết mang tính xã hội học hoặc chỉ nhắc đến vấn đề “nữ tính”, “nữ quyền” chứ chưa đi sâu vào vấn đề cụ thể, hoặc nếu đi vào vấn đề cụ thể thì lại chú trọng vào thể loại khác.Nhưng đây sẽ là những chỉ dẫn rất cần thiết cho luận văn của chúng tôi trong việc nghiên cứu về sáng tác của riêng giới nữ được tập hợp trong một tuyển tập, trong đó dành riêng 19 truyện ngắn của nhà văn nữ Tiếp thu thành tựu ở những công trình đi trước, chúng tôi mạnh dạn tiến hành đề tài luận văn
này
3 Đối tƣợng và Phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Là vấn đề bình đẳng giới trong các truyện ngắn của tác giả nữ Việt Nam (luận văn đi sâu vào 2 phương diện cụ thể của vấn đề bình đẳng giới: nữ tính và nữ quyền)
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Là các truyện ngắn tiêu biểu của nhà văn nữ được tuyển chọn qua Tuyển tập
truyện ngắn 1975-1995, gồm 2 tập: tập I (1995), tập II (1996), NXB Hội Nhà văn,
Nguyễn Thị Thu Huệ)
4 Phương pháp nghiên cứu
Quá trình triển khai vấn đề, người viết sử dụng các phương pháp và thao tác sau đây:
Trang 17- Phương pháp phân tích tổng hợp: Phân tích những yếu tố nội dung và nghệ thuật trong các truyện ngắn, từ đó tổng hợp lại, đưa ra cái nhìn bao quát, đồng thời tìm hiểu các nhận định, đánh giá của giới phê bình, chuyên môn và các nhà văn xung quanh vấn đề được nghiên cứu
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Tìm chỗ tương đồng và khác biệt trong các sáng tác của nhà văn nữ trong giai đoạn 1975 - 1995 so với các giai đoạn văn học trước
và sau nó về phạm vi nữ tính đến nữ quyền trong truyện ngắn
- Phương pháp cấu trúc - hệ thống: Nghiên cứu vấn đề nữ tính đến nữ quyền trong truyện ngắn nữ từ 1975 -1995 như một chỉnh thể hoàn chỉnh
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học: phân tích cấu trúc bên trong của tác phẩm nghệ thuật
5 Đóng góp của luận văn
- Luận văn là một công trình hệ thống hóa tương đối đầy đủ vấn đề bình đẳng giới trong truyện ngắn nữ Việt Nam ở một thể loại (truyện ngắn) trong một giai đoạn (1975-1995) Luận văn chỉ ra quá trình phát triển từ nữ tính đến nữ quyền biểu hiện qua truyện ngắn nữ 1975-1995
- Luận văn sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích với những ai quan tâm
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Thư mục tài liệu tham khảo, phần nội dung
luận văn được triển khai thành ba chương sau đây:
Chương 1: Vấn đề bình đẳng giới trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 Chương 2: Bình đẳng giới trong truyện ngắn nữ Việt Nam sau 1975 nhìn từ
phương diện kết cấu và tổ chức nhân vật
Chương 3: Bình đẳng giới truyện ngắn nữ Việt Nam sau 1975 nhìn từ
phương diện ngôn ngữ, giọng điệu trần thuật
Trang 18Chương 1
VẤN ĐỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU 1975
Bình đẳng giới là một khái niệm lớn của thế giới từ trước thế kỷ XX và ở
Việt Nam từ nửa sau thế kỷ XX, nhất là từ 1986 lại nay, gồm hai phương diện nữ
tính (“tính nữ”, “thiên tính nữ”) và nữ quyền Luận văn chúng tôi cố gắng làm rõ 2
phương diện này qua các nội dung
1.1 GIỚI THUYẾT KHÁI NIỆM
1.1.1 Khái niệm về nữ tính, nữ quyền
Nữ tính là một khái niệm chỉ thuộc tính của một giới - giới nữ Đứng về
phương diện sinh học, từ lâu, bằng trực giác, con người đã cho rằng trong tự nhiên
có 2 “giống”: giống đực, thường có vóc dáng lớn hơn, được gán cho “sứ mệnh” phải làm công việc nặng nhọc: kiếm sống, đánh nhau, duy trì nòi giống, và “giống cái”, thường có vóc dáng nhỏ hơn, được mặc định với “nghĩa vụ” giữ tổ (hang), sinh con và nuôi nấng chúng Cùng với đó, tự nhiên cũng gán cho các loài ấy thuộc tính: con đực có tư chất mạnh mẽ, màu lông sặc sỡ để quyến rũ con cái, còn con cái thì thường là mảnh mai, mềm mỏng, e ấp Trong quan hệ, tự nhiên cũng dường như mặc định con đực thường chủ động tỏ tình, tự coi là giữ địa vị thống trị con cái Tuy nhiên, cá biệt cũng có nhiều loài trong trong tự nhiên có hiện tượng đảo lộn vai trò: một số loài con cái khi sinh nở xong thì con đực có nghĩa vụ giữ con để con cái đi kiếm ăn (sư tử), thậm chí khi con đực ở thế bị động thì còn bị con cái ăn thịt nó (cua
lột xác); thành ngữ “sư tử cái” chỉ người đàn bà hung dữ, áp chế chồng…có phải
cũng từ đây sinh ra chăng?! Trong thế giới loài người, gần như là sự mô phỏng, sao chép tự nhiên Từ thời nguyên thủy (dù là chế độ mẫu hệ), đã mặc định sự phân công trong việc kiếm ăn: đàn ông đi săn bắt thú, đàn bà hái lượm hoa quả; đàn ông gắn với cung tên, đàn bà gắn với gùi, giỏ; đàn ông lo công việc lớn, nặng nhọc, đàn
bà lo nuôi nấng con cái; đàn ông thường đi xa, đàn bà thường quẩn quanh bếp núc Cũng vậy, đàn ông là người chủ động tỏ tình còn đàn bà ở thế chấp nhận Tục ngữ,
thành ngữ “Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm”, hay “Trâu đi tìm cọc chứ không
phải cọc đi tìm trâu” là muốn nói thế chăng?!
Từ đặc tính sinh học đó, khi đã hình thành xã hội được tổ chức từ bậc thấp lên cao, thậm chí cho đến tận thế kỷ XXI này, từ trên thế giới cho đến Việt Nam, xã
hội mặc nhiên gán cho người phụ nữ các “thuộc tính nữ” mà thường gọi là nữ tính Người có nữ tính là người có các phẩm chất (phẩm hạnh) như: đẹp, dịu dàng, duyên
dáng, đảm đang, chu đáo, khéo léo, mềm mỏng, thủy chung, chịu thương chịu khó,
yêu thương chồng con, nặng về cảm tính; đối lập với nam tính là mạnh mẽ, quyết
liệt, lạnh lùng, lý trí, rộng lượng, thô bạo… Từ đó sinh ra quan niệm đàn ông thuộc
về tính dương- sự cứng rắn, đàn bà thuộc tính âm - sự mềm mại Đời sống phải có dương có âm mới tạo ra sự hài hòa, sự cân bằng Thế nên trong gia đình, người ta quan niệm sinh con phải “có nếp có tẻ” mới là đẹp Ngày nay dù khoa học đã rất
Trang 19phát triển (thế giới phẳng, toàn cầu hóa, thời đại công nghệ 4.0…) nhưng người ta
vẫn còn lưu giữ quan niệm ấy dưới một thuật ngữ khác: “cân bằng giới tính”!
GS Hoàng Ngọc Hiến trong bài viết [24, tr.231] nhân bàn về truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp đã khái lược các thuộc tính (mà GS gọi là thiên tính nữ) của thế
giới nhân vật đàn bà qua các phẩm hạnh:
- “Thiên tính nữ trước hết là tinh thần của cái đẹp”: cái đẹp ngoại hình mỗi người một vẻ nhưng tất cả đều phải đẹp, đồng thời trong cái ngoại hình đẹp ấy là một thiên tính làm mẹ với “tình cảm hồn nhiên muốn che chở, đùm bọc, cứu giúp”,
- “Thiên tính nữ còn là tinh thần vị tha và đức tính hi sinh” Từ câu nói của Sinh khi được hỏi cảm tưởng của cô khi về làm dâu nhà này: “Khổ chứ Nhục lắm Vừa đau đớn vừa chua xót Nhưng thương lắm”, là biểu hiện của sự vị tha nhưng cũng bộc lộ sự nhẫn nhịn, đức hi sinh
- “Thiên tính nữ cũng phong phú bao la như tâm hồn phụ nữ”, GS Hoàng Ngọc Hiến cho rằng “ta tin ngay cuộc đời này có thể cải tổ được, sự tình này, dẫu
có tồi tệ hơn nữa, vẫn có thể cứu vãn được (…) Đó là sự siêu thăng trong tâm linh con người” có trong vẻ đẹp của Sinh, của Hồ Xuân Hương “hiện thân của những gì quá cao lớn”, gọi là CON NGƯỜI
Với quan niệm như thế, tác giả Hoàng Ngọc Hiến cho rằng “Thiên tính nữ lớn hơn nhân loại, có khi còn cổ xưa hơn nhân loại” và “Ai đó đã từng hi vọng:
“Cái đẹp cứu vãn thế giới”, đọc Nguyễn Huy Thiệp thì tin rằng thiên tính nữ sẽ cứu
vãn thế giới” [24, tr.240] Dù nói “đọc Nguyễn Huy Thiệp” nhưng chắc ai cũng
nghĩ: đấy cũng là thiên tính nữ nói chung trong văn học
Tuy nhiên, quan niệm về nữ tính không phải là “nhất thành bất biến” Mỗi
thời đại, tùy theo nền văn minh, tình hình lịch sử, nền văn hóa, tôn giáo, quan niệm
giá trị… sẽ kéo theo sự bổ sung, phát triển của tính nữ Ví dụ, tính nữ trong thời đại
phong kiến ở Việt Nam, dưới ảnh hưởng của Nho giáo với những luật lệ, định kiến khắt khe đã cấm đoán, bó hẹp cuộc sống của người phụ nữ, biến họ trở thành con người của gia đình với những luân lý lễ giáo và các quan niệm giá trị theo kiểu
phong kiến: trọng nam khinh nữ (“Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”), hay đạo lý
“tam tòng tứ đức”, quan niệm khắt khe đến tàn nhẫn về trinh tiết… dường như chỉ hạn định người phụ nữ trong cái việc sinh con đẻ cái để duy trì dòng giống nhà chồng, gánh vác “giang sơn nhà chồng”, hiếm khi được tham gia công việc lớn lao ngoài xã hội… Chính những định kiến, ràng buộc này đã là những rào cản của năng lực và khát vọng người phụ nữ Nhưng từ giai đoạn 1945 đến nay, trước quan niệm mới của một thể chế mới, trong một xã hội mới, người phụ nữ được nhổ bỏ những rào cản, tạo điều kiện cho họ phát huy năng lực để tham gia vào công tác xã hội, đặt lên vai họ những trách nhiệm lớn lao, cao cả hơn… khiến phụ nữ Việt Nam xứng đáng được tôn vinh “giỏi việc nước, đảm việc nhà” không thua gì nam giới Thậm chí, nói như bà Trương Mỹ Hoa, nguyên Phó Chủ tịch nước Cộng hòa XHCN Việt
Nam: “Có những vấn đề của phụ nữ phải được giải quyết từ quốc gia, có những vấn
Trang 20đề của quốc gia phải giải quyết từ người phụ nữ mà sự hi sinh của Huyền Trân Công chúa là một thực tế” (Lưu bút của bà Trương Mỹ Hoa tại đền thờ Huyền Trân
Công chúa - Huế) Trong thực tiễn đời sống cũng như trong văn học nghệ thuật Việt Nam từ giai đoạn này về sau đã xuất hiện biết bao tấm gương dũng liệt và hình tượng đẹp đẽ vô ngần về người phụ nữ Những Võ Thị Sáu, Ngô Thị Tuyển, Trần Thị Lý, Nguyễn Thị Định (đánh giặc), Nguyễn Thị Bình, Tôn Nữ Thị Ninh (chính trị), GS.Trần Hồng Vân, PGS.TS Lê Thị Kim Phụng, GS.Nguyễn Thị Ngọc Phượng (khoa học), Xuân Quỳnh, Đoàn Lê, Nguyễn Thị Ngọc Tú (văn chương)… các hình
tượng văn học chị Sứ (Hòn Đất), má Bảy (Gia đình má Bảy), Nguyệt (Mảnh trăng
cuối rừng)… là những ví dụ
Tuy nhiên, khi nói nữ tính là mới chỉ đề cập đến một mặt của người phụ nữ
mà thôi Nó cho thấy hàm lượng về “thuộc tính” nhiều hơn chứ chưa cho thấy một
sự đấu tranh để giành lại các “quyền” của giới mình Nữ quyền mới thực sự là một
cuộc cách mạng, một sự chiến đấu quyết liệt và dai dẳng mang tầm vóc thế giới nhằm đòi hỏi sự bình đẳng trong các phương diện chính trị, kinh tế, việc làm, chế
độ hưởng thụ, tự do tôn giáo, tình yêu… và các quyền riêng của giới: quyền nạo thai, quyền sở hữu thân thể, bảo vệ phụ nữ và em gái khỏi bạo lực gia đình vv…
Lịch sử đấu tranh Nữ quyền, hay là phong trào hoạt động xã hội nhằm gắn nữ
tính với nhân quyền, như đã nói, trải qua một thời gian rất dài, được phân chia ra 3
thời kỳ (hay còn gọi là “3 làn sóng”)
- Thời kỳ thứ nhất (thế kỷ XVIII đến nửa đầu XX), là cuộc tranh đấu đòi
quyền bình đẳng giới trên các bình diện chính trị, xã hội, hôn nhân gia đình mà cụ thể là các quyền được bầu cử, được tham gia công việc xã hội như đàn ông, được học những ngành để hành nghề bình đẳng chứ không phải cấm kỵ, được tự do trong hôn nhân cũng như được ly dị Tiêu biểu cho thời kỳ này là các tên tuổi: Théroigne
de Méricourt, Claire Lacombe, Claire Démar và nhất là Margurite Durand
(1864-1936) với Bản tuyên ngôn về quyền của phụ nữ và công dân; bà cũng là người thành lập báo La Fronde, tờ báo riêng của phụ nữ Nhờ những hoạt động năng nổ và kiên
quyết của phong trào này, lần đầu tiên phụ nữ Pháp được công nhận quyền công dân (được đi bỏ phiếu bầu cử)
- Thời kỳ thứ hai (giữa thế kỷ XX đến thập niên 70/ XX), bên cạnh những
vấn đề chính trị, cuộc đấu tranh còn hướng đến những bình diện riêng của phụ nữ như quyền thân thể, vấn đề tình dục, vấn đề nạo thai…
Bởi vì lúc này tuy đã được thừa nhận về pháp luật nhưng trong cấu trúc xã hội vẫn còn nhiều bất bình đẳng (sự phân biệt nam - nữ trong nhà trường, trong công sở, trong gia đình, trong nội các của chính quyền Charles de Gaulle) Với những nhà nữ quyền Francoise Sagan, Antoni Fouque và tiêu biểu là Simone de Beauvoir làm
phong trào đấu tranh bùng cháy, nhất là khi tác phẩm Giới thứ hai của S.de
Beauvoir xuất hiện Thời kỳ này phong trào nữ quyền đạt được một sự kiện quan trọng: quyền được nạo thai (quyền mà trước đó chính quyền và tôn giáo cấm kỵ)
Trang 21“Kể từ đây, địa vị người phụ nữ, nhân vị đàn bà đã được chính thức thừa nhận bằng
văn bản pháp lý” trên một số lĩnh vực [69, tr.34]
- Thời kỳ thứ ba (thập kỷ 80/ XX đến nay), phong trào nữ quyền lan rộng và
đặt ra những vấn đề ở tầm vĩ mô Điểm chính mà những chủ nghĩa nữ quyền gần đây từng nhấn mạnh về bất bình đẳng giới là rằng nó không phải là vấn đề cá nhân, nhưng bị ăn sâu vào cấu trúc của những xã hội Bất bình đẳng giới được xây dựng thành tổ chức về hôn nhân và gia đình, công việc và kinh tế, chính trị, những tôn giáo, những nghệ thuật và những sản phẩm văn hóa khác (…) Những giải pháp đã được đặt khung thành chính trị nữ quyền Chúng hiện xuất từ những lý thuyết nữ
quyền về cái sản sinh bất bình đẳng giới” [39] Những vấn đề về tính dục (sex), dục
tính (sexuality), giới tính (gender) là những chủ nghĩa nữ quyền thách thức “điều mọi người đều biết” về tính dục và nó cũng là một trong những điểm tiêu biểu của thời kỳ thứ ba Các tên tuổi tiêu biểu của thời kỳ này là Antoinette Fouque, Luce Irigaray, Monique Wittig, Julia Kristeva… Điểm đặc biệt là sự hình thành khuynh
hướng Phê bình nữ quyền mà mục đích của nó là “giải cấu trúc những quan điểm
cực đoan của các nhà triết học phân tâm, đặc biệt là chủ nghĩa tôn sùng dương vật”
[69, tr.34]
Như vậy, có thể thấy “Chủ nghĩa nữ quyền (Chủ nghĩa nữ giới, chủ nghĩa
duy nữ) là một tập hợp của các phong trào và ý thức hệ nhằm mục tiêu xác định, xây dựng và bảo vệ quyền lợi chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội bình đẳng cho
phụ nữ” [39] Những người theo chủ nghĩa nữ quyền trong các thời kỳ chính là
những người kiên trì và kiên quyết vận động, ủng hộ cho quyền bình đẳng của phụ
nữ bao gồm quyền bỏ phiếu, được giáo dục, được trả lương như nhau, quyền sở hữu tài sản, tham gia các cơ quan công quyền, tự do tôn giáo, quyền sinh sản, quyền tránh thai và nạo thai, bảo vệ phụ nữ và trẻ em gái khỏi bạo lực gia đình hoặc quấy rối tình dục, tấn công tình dục… Những vấn đề trên không chỉ còn tồn tại ở các vùng, các lãnh thổ còn nền văn minh dã man, nghèo đói, lạc hậu hoặc tôn giáo hà khắc…mà còn có ở ngay các nước được coi là văn minh tiến bộ như Hoa Kỳ Cho đến nay ở các xứ sở Hồi giáo, đàn bà vẫn không được đi bỏ phiếu, không được rời
xứ sở khi đàn ông chưa cho phép, không được lái xe hơi vv… Dù luật Anh, Mỹ ngày nay không bắt buộc song phần đông những người phụ nữ xứ sở này vẫn đổi tên chuyển sang họ chồng sau kết hôn, bởi nếu không đổi, dư luận xã hội Mỹ vẫn coi việc họ làm là “hành vi bất thường” Khảo sát năm 2013 ở Mỹ vẫn có 90% phụ
nữ khi kết hôn chuyển sang họ chồng, số liệu năm 1994 ở Anh là 94% nhưng đến
năm 2013 “chỉ” còn có 54% (Nguồn: Huf fington post, Time, BBC, Vietnam Net,
11/6/2017) Ở Việt Nam chúng ta, rất nhiều quyền về phụ nữ đã được thể chế hóa
thành luật, thành chế độ… nhằm bảo vệ quyền lợi cho phụ nữ Tuy nhiên, đâu đó,
đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn, phụ nữ và trẻ em gái vẫn còn chịu
nhiều thiệt thòi: luật chưa thực sự đến với họ, chế độ còn xa vời đối với họ mà gần
Trang 22hơn với họ là nạn bạo hành, nạn thất học, nạn mua bán phụ nữ, nạn ấu dâm trẻ em
vị thành niên…
Rõ ràng, Phong trào giải phóng phụ nữ vẫn còn phải tiếp tục thêm nhiều thời
gian nữa trên mọi châu lục, mọi quốc gia và vùng lãnh thổ mới hi vọng thân phận người phụ nữ được bình đẳng trước xã hội một cách đúng nghĩa Điều này không chỉ là cuộc đấu tranh trong lĩnh vực chính trị mà còn đòi hỏi rất nhiều lĩnh vực khác
chung sức tham gia, trong đó văn học và các nghệ thuật khác giữ vai trò quan trọng,
cần thiết
1.1.2 Đặc điểm về nữ tính, nữ quyền trong văn học Việt Nam
Nữ tính, nữ quyền được thể hiện ở nhiều lĩnh vực nghệ thuật khác nhau
nhưng có thể nói, do đặc trưng của nó, không ở đâu nữ tính, nữ quyền được thể hiện một cách trọn vẹn, có chiều sâu như trong văn học
Trong văn học Việt Nam từ lâu đã có dấu hiệu của sự phản ánh về vấn đề bất
bình đẳng giới, nhất là ở phương diện nữ tính Từ bấy đến nay, theo tiến trình văn
học, mức độ đậm nhạt có thể khác nhau, sắc thái (“tiêu chí”) nữ tính có thể không giống nhau,…nhưng có thể nói, phương diện phản ánh vấn đề nữ tính chưa bao giờ
bị đứt gãy trong bất cứ giai đoạn lịch sử văn học nào Tiếp cận vấn đề nữ tính, nữ
quyền trong văn học có thể từ hai hướng: 1) Đồng đại (nêu đặc điểm của tính nữ, nữ
quyền và minh chứng nó xuyên suốt qua lịch sử văn học) và 2) Lịch đại (điểm qua
các giai đoạn trong tiến trình văn học, ở mỗi giai đoạn nêu các biểu hiện nữ tính, nữ quyền được phản ánh trong văn học giai đoạn ấy) Luận văn của chúng tôi tiếp cận vấn đề theo hướng thứ 2 Cụ thể
- Trong nền văn học dân gian
Nền văn học dân gian (Folklore) ở bất cứ dân tộc nào cũng vô cùng phong phú về loại hình, thể loại và do đặc điểm của nó (truyền miệng, nhuận sắc, dị bản) nên những gì còn lại đến nay là những tác phẩm có giá trị bất chấp thời gian Văn học dân gian ở đâu cũng sẽ là ngọn nguồn tinh túy, quý giá cho văn nghệ sĩ các thế
hệ học tập để sáng tác của họ thành công, bởi vậy họ không ngần ngại bộc lộ niềm
tự hào khi học tập được những tinh hoa của văn học dân gian (A.S Pushkin, S Esenin… ở Nga, Nguyễn Du, Nguyễn Trãi… ở Việt Nam) Trong tình hình ấy, nền
văn học dân gian Việt cũng không phải ngoại lệ Đặc điểm tính nữ trong văn học
dân gian được thể hiện ở rất nhiều thể loại, luận văn xin đề cập đến hai thể loại sau
+ Trong ca dao: đề tài về người phụ nữ chiếm một dung lượng khá lớn trong nhiều chủ đề của kho tàng văn học dân gian Ca dao viết về người phụ nữ trước hết
là ngợi ca vẻ đẹp của giới này Vẻ đẹp ấy thể hiện muôn hình vạn trạng: “Cổ tay em
trắng như ngà/ Con mắt em liếc như là dao cau/ Miệng cười như thể hoa ngâu/ Cái khăn đội đầu như thể hoa sen”; “Răng đen nhoẻn miệng em cười/ Dẫu trời nắng nực vẫn nguôi cơn nồng”… Nhưng trong xã hội cũ, người phụ nữ luôn bị xem là kẻ
“thấp cổ bé họng”, “phụ nhân nan hóa”… nên chùm ca dao có motif “thân em” chỉ
thân phận người nữ cũng vô cùng nổi bật: “Thân em như cái giếng bên đàng/ Người
Trang 23khôn rửa mặt người phàm rửa chân”; “Thân em như hạt mưa sa/ Hạt rơi xuống giếng hạt sa ngoài đồng”; “Thân em như cây quế giữa rừng/ Thơm tho ai biết ngát
lừng ai hay”… Thân phận như thế trong xã hội như thế chắc chắn người phụ nữ sẽ
không được làm chủ số phận mình mà phải chịu cảnh lênh đênh “mười hai bến nước”, may mắn được vào bến nào thì cũng hết sức cực khổ: “Có con phải khổ vì con/ Có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng” Tuy nhiên “có chồng” mà phải rơi vào phận lẽ mọn thì càng bi thảm hơn: “Làm lẽ như chổi chùi chân/ Chùi rồi lại vứt
ra sân/ Gọi mụ hàng xóm có chân thì chùi”… Thế nhưng dù đẹp như thế mà phải
chịu khổ đau như thế thì trong bản tính “thiên tính nữ”, người phụ nữ vẫn sống vị
tha, chung thủy: “Trăm năm lòng gắn dạ ghi/ Nào ai thay nút đổi khuy cũng đừng”;
“Thương nhau gặp khúc sông vơi/ Khó khăn, gian hiểm chẳng rời thủy chung”;
“Nghe tin anh đau đầu chưa khá/ Em băng rừng bẻ lá về xông/ Sống sao cho trọn nghĩa vợ chồng/ Cơn gió nam em quạt, ngọn gió lồng em che”… Tuy nhiên, “già néo đứt dây”, khi bị đẩy vào tận cùng của chốn khổ đau, người phụ nữ vẫn không
thể không cất lên tiếng kêu não nùng cho thân phận: Từ nhẹ nhàng, than thở:
“Chàng ơi phụ thiếp làm chi/ Thiếp như cơm nguội đỡ khi đói lòng” đến chán chường, hờn trách, pha chút giễu nhại: “Chồng em vừa xấu vừa đen/ Vừa kém con mắt vừa hèn chân đi…”; “Chồng người đi ngược về xuôi/ Chồng em ngồi bếp để b…chấm tro”… Và trong tình cảnh ấy, người phụ nữ, dù chưa thật quyết liệt song
cũng đã lóe lên, bừng dậy nỗi khát khao rất đỗi con người: “Lấy chồng chẳng biết
mặt chồng/ Đêm nằm tơ tưởng nghĩ ông láng giềng”; “Hai tay cầm hai quả hồng/ Qủa chát phần chồng quả ngọt phần trai/ Đêm nằm than ngắn, thở dài/ Thương chồng thì ít thương trai thì nhiều”…
+ Ở truyện dân gian: bên cạnh các chủ đề như ca dao viết về người phụ nữ, truyện dân gian còn dành một khối lượng khá lớn ngợi ca trí thông minh, sắc sảo của giới này bằng cách đặt người phụ nữ (người vợ) bên cạnh người đàn ông (người chồng), tạo ra sự đối sánh vợ - chồng theo motif chung là vợ khôn- chồng dại, vợ dạy- chồng nghe, vợ thông minh- chồng đần độn!… Chị nọ rất khôn nhưng rủi thay lấy phải anh chồng quá dại Dệt vải xong, chị đưa chồng đi bán nhưng anh ta rao suốt ngày mà chả ai mua Đến tối, may mắn có người đàn ông mua cho nhưng chưa trả tiền mà bảo mai đến lấy ở chỗ “chợ đông không ai bán, chỗ kèn thổi tò te, chỗ cây tre một mắt” Hôm sau chàng ngốc tìm mãi không ra, tối về nhà hỏi vợ, được vợ
“giải” cho rằng đó là ông thầy giáo dạy ở “trường học” (chợ đông không ai bán), gần trường có “đám sậy” (gió thổi nghe như tiếng kèn thổi tò te), sân trường có trồng “đám hành” (cây tre một mắt) Anh chàng đến tìm quả nhiên gặp đúng đối tượng! Thầy tấm tắc khen người vợ giỏi và gửi bông hoa nhài cắm trên cục phân trâu bảo chồng về đưa vợ Người vợ lập tức “giải” ra ý nghĩa món quà: vợ khôn chồng dại chẳng khác gì “bông hoa nhài cắm bãi cứt trâu!”, định tự tử… rồi được
cứu sống cũng bằng trí thông minh Rất nhiều truyện có chung motif như thế (Gái
Trang 24ngoan dạy chồng, Vợ khuyên chồng dại…) Đó là một kiểu khẳng định vẻ đẹp trí
tuệ người phụ nữ bằng lối nói hóm hỉnh, độc đáo!
- Trong nền văn học viết Trung đại
Đây chính là thời kỳ người phụ nữ bị trói buộc trong lễ giáo phong kiến một cách rõ rệt nhất Vì thế, biểu hiện của tính nữ trong văn học vẫn tiếp tục cảm hứng
về vẻ đẹp và thân phận khổ đau của người phụ nữ như trong nền văn học dân gian nhưng đã mang một vài sắc thái khác
Một điểm đáng chú ý, theo chúng tôi, văn học Trung đại đề cập đến khá
nhiều hình tượng liệt nữ: những người đàn bà ở lĩnh vực này hay lĩnh vực khác
(đánh kẻ thù xâm lược, giữ trinh tiết thờ chồng, hi sinh vì nghĩa lớn dân tộc… trở thành những tấm gương bất hủ) Những bài thơ, phú, vãn, truyện Nôm… ngợi ca các tấm gương oanh liệt, ngời sáng, truyền tụng mãi về sau, trở thành những hình tượng văn học đẹp, bất khuất của người phụ nữ Đó là những Triệu Thị Trinh với khí phách “muốn cỡi cơn gió mạnh, đạp ngọn sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông”,
xé phanh thây giặc mới hả Đó là Phạm Ngọc Trần, vợ cả chủ tướng Lê Lợi, người tâm phục và yêu ông ngay tự buổi đầu, hăng hái quên mình lo chuyện lương thảo cho nghĩa quân mà, nói như người anh trai Phạm Vấn của cô là hăng say lo việc quân lương “không chỉ do lòng thương dân thương nước mà còn có sự giục giã của
trái tim nóng bỏng tình yêu thanh nữ” [75, tr.166] Phạm Ngọc Trần muốn noi
gương bà Hoàng Thái Hậu, nàng tình nguyện nhảy xuống vực Nầm nơi dòng nước sâu thẳm, xoáy cuồn cuộn, nơi có lũ cá ăn thịt người đông nhung nhúc để hiến tế trong lễ xuất quân ra Bắc của Lê Lợi Đó là Ngọc Hân Công chúa với mối tình đầy thi vị và lãng mạn cùng nỗi đau thương và thủy chung với Quang Trung Nguyễn
Huệ qua bài Ai tư vãn bất hủ của bà Đặc biệt là Huyền Trân Công chúa, người phụ
nữ đã hi sinh mình vì xã tắc vững bền, giang sơn mở cõi Nếu không có Huyền Trân, nước Việt ta thời ấy không thể nào yên ổn (thậm chí là bị xâm lăng) bởi sự quấy rối của Chế Mân Một mình Huyền Trân đã làm được cho triều Trần hai sự nghiệp không dễ ai làm nổi: chẳng những ngăn người Chăm quấy phá, đe dọa đất Việt mà còn mở rộng đất Việt ra hai châu của cõi phía Nam Quả là, nói như bà
Trương Mỹ Hoa: “Có những vấn đề của quốc gia phải giải quyết từ người phụ nữ
mà sự hi sinh của Huyền Trân Công chúa là một thực tế” Hai người phụ nữ ấy quả
thật phản ánh một cách tiêu biểu phẩm giá thiên tính nữ trong đời sống cũng như
trong văn học Việt Nam trung đại Cũng là liệt nữ nhưng trong truyện Nôm, mỗi người lại chọn một cách biểu hiện khác nhau: Người con gái Nam Xương (Nam Xương nữ tử truyện) trẫm mình để tỏ nỗi oan phụ chồng; cô con gái út trong Lan
Quận công phu nhân lại kiên trì chấp nhận đói khổ nuôi chồng thi cử, trải bao kỳ
hỏng thi vẫn không nản, đến khi chồng “đỗ thi Hội, đến khi thi Đình đỗ đầu trong
hàng giáp thứ hai” mới thôi; cô ca sĩ họ Nguyễn trong Ca nữ họ Nguyễn lại có “con
mắt tinh đời” nhìn ra cậu trai nghèo khổ, tình nguyện đến với chàng Xã hội lúc ấy
mà cô dám “Chàng không phụ thiếp, thiếp sẽ tự tìm đến chàng” Từ đấy cô lấy tiền
Trang 25mình mua quần áo, vải lụa trân trọng tặng chàng, “cứ dăm ba tháng một lần cô đến thăm nơi Lân ở”, “lưu lại ban đêm thì, may vá, nấu nướng giúp Lân”… cho đến khi chàng đỗ đạt, làm đến Thượng thư, tước Quận công nhưng nghe lời cha, Lân lấy vợ khác Ca nương không hề trách cứ, chỉ nói “Đó là số mệnh của thiếp, đâu phải lỗi ở chàng” Gặp lại cô trong cảnh “dắt mẹ già phiêu bạt chốn Trường An”, Lân hối hận hậu tạ tiền bạc nhưng cô rất khảng khái không hề lấy, bởi “những thứ tiền bạc này đâu đủ phúc để tiêu dùng” v.v…
Nửa đầu thế kỷ XVIII, tính nữ trong văn học đã bắt đầu thể hiện một nét
mới: sự khẳng định giới một cách mạnh mẽ biểu hiện qua sự “chọc ngoáy” những gì được coi là đạo lý trong quan niệm xã hội; đặt để vị trí người phụ nữ ngang hàng (thậm chí là hơn) vị trí người đàn ông (“Ví đây đổi phận làm trai được/ Thì sự anh hùng há bấy nhiêu”); ngang nhiên bênh vực những người đàn bà lỡ “cả nể cho nên hóa dở dang”- một tội mà xã hội ấy trừng phạt rất thảm khốc và ghê tởm (“Quản bao miệng thế lời chênh lệch/ Không có, nhưng mà có, mới ngoan”); cất lên tiếng
thét, chửi thẳng vào cái quan niệm “truyền thống” của giai cấp phong kiến (trai năm
thê bảy thiếp gái chính chuyên một chồng) tồn tại hàng ngàn năm (“Kẻ đắp chăn
bông, kẻ lạnh lùng/ Chém cha cái kiếp lấy chồng chung”); giễu nhại lũ đàn ông ngu dốt nhưng lại huênh hoang (“Lại đây cho chị dạy làm thơ”; “Này này chị bảo cho
mà biết”); đập thẳng vào mặt những mỹ từ giai cấp phong kiến ưa dùng để trang trí cho địa vị của chúng (thiên tử, minh quân, thế thiên hành đạo, quan phụ mẫu…), rằng, tất cả chỉ là “Chúa dấu vua yêu một cái này” Nói cho lắm rốt cuộc cũng chỉ là
“một cái này” thôi! Cực kỳ thâm và độc! Đấy chính là Bà Chúa Thơ Nôm (chữ của
Xuân Diệu) Hồ Xuân Hương
- Trong nền văn học viết từ đầu thế kỷ XX đến 1945
Sau những chập chững ban đầu với việc “làm quen” với chữ quốc ngữ, tới khoảng những năm 30 của thế kỷ này, các nhà văn đã vững vàng trong việc sáng tác thơ ca và văn xuôi bằng tiếng mẹ đẻ Thời gian này đã có rất nhiều truyện viết về
người phụ nữ như Trùng Quang tâm sử của Phan Bội Châu hoặc các sáng tác của những nhà văn nữ Nam Bộ như Tây phương mỹ nhơn, Nhi nữ tạo anh hùng, Vì
nghĩa quên mình… của Huỳnh Thị Bảo Hòa; Phụ nghĩa tào khang, Gương nữ kiệt,
Để thảm cho hoa… của Phan Thị Bạch Vân; đặc biệt là các truyện Kim Tú Cầu, Hồng phấn tương tri, Chung Kỳ Vinh… của Đạm Phương nữ sử Mặc dù xét về các
kỹ thuật viết văn như sử dụng ngôi kể (đa số là người kể xưng “tôi” hơi đơn điệu),
xây dựng nhân vật (nhân vật thường lộ rõ tính tư tưởng “nữ kiệt”, “nữ hiệp”), kết cấu (thường dùng lối kể tuyến tính hoặc chương hồi) hay ngôn ngữ truyện vẫn còn
“dấu tích” Trung đại (văn biền ngẫu, sử dụng từ ngữ đôi chỗ “sáo” và ngây thơ),…không thể tránh khỏi của nền văn học Việt Nam đầu thế kỷ Thế nhưng, những đóng góp này là không hề nhỏ bởi tác phẩm của họ đã nồng nhiệt ngợi ca người phụ nữ với những nét đẹp truyền thống, tiếp tục cái nhìn nhân đạo sâu sắc đã
Trang 26đành mà giờ đây truyện của họ đã lóe lên ánh sáng của nét đẹp biết quyết liệt vượt
lên số phận (Bạch Lan trong Tây phương mỹ nhơn; Quế Anh trong Hồng phấn
tương tri) Truyện của các tác giả này, dù mới ban đầu, nhưng đã đưa ra được
những vấn đề bình quyền, bình đẳng, thúc dục giải phóng phụ nữ khỏi những thành kiến hẹp hòi của xã hội đang tồn tại đầu thế kỷ XX Họ đã “lồng” vào tác phẩm
những câu văn mang tư tưởng rất tiến bộ về vấn đề bình đẳng giới này Trong
Gương nữ kiệt xuất hiện tuyên bố: “Đương lúc nước mất dân tàn, trông mong vào
những bực trượng phu ra tay cứu chữa, mà cũng trông mong vào những trang nữ nhi ghé vai gánh lấy cái trách nhiệm chung; nước nào nam nữ giới đều có thì nước ấy hẳn không đến nỗi để cho người ngoài giày xéo” Thậm chí có những câu nghe cứ tưởng như lời của các chị, các mẹ của thời 1945-1975: “Cách mạng có cứ gì con trai
con gái” (Giám hồ nữ hiệp)…
Tiếng nói bình đẳng giới như một sự thức tỉnh có lẽ được cất lên trong
khoảng thời gian văn học Việt Nam, nhờ những yếu tố thuận lợi của văn hóa Pháp
tràn vào, làm nên “Một thời đại trong thi ca” những năm 1932-1945 Thời kỳ này bên cạnh Thơ Mới với sự nồng nhiệt ngợi ca tình yêu lứa đôi trên cơ sở tự do hôn
nhân của những Xuân Diệu, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính,
Vũ Hoàng Chương… là các sáng tác của nhóm Tiểu thuyết thứ Bảy và Tự lực văn
đoàn với những tên tuổi Lê Văn Trương, Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch
Lam… Nếu như trong thơ là dồn cảm xúc vào ngợi ca tình yêu cá nhân với tận cùng cung bậc của nó thì ở tiểu thuyết lại nghiêng về cổ vũ cho việc đập nát mẫu hình gia
đình phong kiến để “Đoạn tuyệt” với kiểu gia đình cũ, xây dựng mẫu hôn nhân tự
do lựa chọn hạnh phúc riêng của tuổi “Nửa chừng xuân” với thái độ “Lạnh lùng”
không khoan nhượng! Trong những truyện ngắn thời kỳ này, ngoài những thuộc tính truyền thống của người nữ nay đã phảng phất một không khí mới khi phản ánh
cái tinh thần văn hóa mới về tình yêu, về sự tự do Những truyện như Chân trời cũ (Hồ Dzếnh), Khói lam chiều (Lưu Trọng Lư), Tỏa nhị kiều (Xuân Diệu), Hoa vông
vang (Đỗ Tốn), Hoa ti-gôn, Truyện qua rồi (Thanh Châu)… là những ví dụ Chỉ
thời bấy giờ mới có được kiểu suy nghĩ hiện đại như Dũng (Đoạn tuyệt): “Chuyện
gia đình bao giờ cũng rắc rối: nào tự do kết hôn, nam nữ bình quyền, mẹ chồng nàng dâu, bao nhiêu thứ lôi thôi” hoặc cô dâu “Tây học” Loan dám nói trước tòa xử
cô vì tội ngộ sát chồng: “Tôi nói cốt để chị em gái mới đến đây nghe biết rằng nếu các chị em muốn được hưởng hạnh phúc với chồng con, thì điều trước nhất, các chị
em phải tìm cách sống một đời riêng, một đời tự lập (…) nhất là có vượt hẳn ra
ngoài quyền của cha mẹ chồng thì mới mong gia đình được hòa thuận” (46, tr.146)
Một câu nói mà phụ nữ cuối thế kỷ XX tưởng cũng còn dè dặt!
Thời kỳ này, bên cạnh dòng văn học lãng mạn còn có dòng chủ lưu khác: văn học hiện thực với những cây bút nam lúc bấy giờ như Ngô Tất Tố, Nam Cao, Nguyễn Công Hoan… cũng đã khai thác về đề tài người phụ nữ Nhìn chung, người phụ nữ trong dòng văn học này đa phần là những người khốn khổ: chị Dậu trong
Trang 27Tắt đèn của Ngô Tất Tố, con Thanh trong Thanh! Dạ!, con Đỏ trong Phành! Phạch!
của Nguyễn Công Hoan… đặc biệt là những người đàn bà trong các truyện ngắn của Nam Cao Với bậc thầy kỹ thuật truyện ngắn, với tấm lòng nhân đạo sâu sắc đối với những người cùng khổ sau lũy tre làng, nhất là phụ nữ và bằng một chủ nghĩa hiện thực nghiêm nhặt, Nam Cao đã “vẽ” nên bao số phận đàn bà khốn khổ dưới chế độ này (nhưng khác với những phụ nữ trong “thân em” của ca dao): đó là mụ
Lợi trong Nửa đêm, Dần trong Một đám cưới, Nhu trong Ở hiền, thị Nở trong Chí
Phèo…
Phải đến thời kỳ 1945-1975, sau khi nước ta giành được độc lập, khai sinh ra một chính thể mới: nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, mở ra một ý thức hệ mới, một quan niệm mới… vấn đề nữ tính, nữ quyền mới sang trang mới: quan niệm nữ tính bây giờ (cái đẹp, tình yêu, sự thủy chung, tình thương…) mang âm hưởng của
thời đại Hoàn cảnh lịch sử của dân tộc lúc này dẫn đến ý thức hệ mới: ý thức hệ vô
sản Mỗi người dân đều phải dốc lòng dốc sức cho sự nghiệp cao cả nhất: đánh
thắng “hai đế quốc to” là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đồng thời xây dựng XHCN
ở miền Bắc làm chỗ dựa cho cuộc chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Hoàn cảnh ấy khiến mỗi người, không phân biệt trai hay gái, là người dân của nước thì đều phải lấy tiêu chí chung của dân tộc, đất nước, chế độ làm mục đích cao
cả nhất, làm lý tưởng sống Hai nhiệm vụ đánh giặc và xây dựng đất nước là hai nhiệm vụ thiêng liêng, lớn lao, nặng nề chưa từng có trong lịch sử dân tộc, đòi hỏi phải huy động tất cả sức người sức của và sự hi sinh cao nhất của mỗi người mới có
thể hoàn thành Trong điều kiện ấy, con người hướng về cái “chung”, cái “ta” (dân
tộc, đất nước, chế độ…) là con người đẹp nhất, lý tưởng nhất Niềm vui hay nỗi buồn, hạnh phúc hay khổ đau, đẹp hay xấu, thiện hay ác, tiên tiến hay lạc hậu, đáng trọng hay đáng khinh… tất cả đều dựa trên tiêu chí ấy Đẹp là phải như chị Sứ
(trong tiểu thuyết Hòn Đất- Anh Đức), đẹp người, đẹp nết từ vẻ ngoài của làn da
mượt mà, mái tóc đen dày, khuôn mắt sáng và phúc hậu… đến phẩm hạnh bên trong của người vợ thủy chung, là linh hồn của du kích hang Hòn, là người mẹ tuyệt vời nhất trong mắt con Thúy và là người du kích kiên cường, hiên ngang đón nhận cái chết khốc liệt nhất, tàn nhẫn nhất trước kẻ thù để đập tan âm mưu của chúng hòng
lấy cái chết của chị lung lạc du kích Đẹp là phải như Hảo (Vùng trời- Hữu Mai),
người kỹ sư thủy sản có mối tình lý tưởng với chàng phi công Quỳnh, đã biết nén đau thương khi nghe người yêu hi sinh trong trận đánh giáp lá cà trên bầu trời để
tình nguyện về vùng biển nghiên cứu nuôi trồng thủy sản Đẹp phải như Mẫn (Mẫn
và tôi- Phan Tứ), cô du kích vùng biển Tam-sa từ vẻ ngoài “khuôn mặt trái xoan
trắng xanh, thân hình dẻo và thon, hơi mảnh khảnh” (tr.57), “mắt lóng lánh cười nhiều hơn miệng Sao Mẫn xinh vậy ta? Không, phải nói là đẹp” (tr.177) Nhưng con người có vẻ đẹp tưởng như yếu đuối đó lại là Bí thư chi bộ kiêm Xã đội trưởng
du kích vùng chiến sự ác liệt Mẫn yêu Thiêm tha thiết nhưng đúng kiểu tình yêu thời chiến: run sợ khi tình yêu mới đến (“tôi nắm tay Mẫn, nhận ra Mẫn run như sắp
Trang 28ngã”), say đắm khi đã ở bên nhau (“Những ngón tay búp măng siết tôi đến đau, lay
dữ (…) Mẫn đã quàng tay ôm ghì tôi Cả người Mẫn run bắn (…) Mẫn lả trong tay tôi”)… nhưng cũng thật dứt khoát, kiên định mục tiêu (“Mẫn yêu tôi mà vẫn thấy cái Chu-lai lù lù trước mặt”)…Cách yêu của Mẫn cũng thật quyết liệt (“lỡ hết gạo
em hớt thịt trên mình xào cho anh ăn liền (…) Đời xưa làm nổi, em còn dám gấp mấy kia chớ, coi như địch nó tra hay trúng mảnh pháo, dễ ợt”, “Em tính khi nào anh
đi xa, em chặt cho anh một đốt ngón tay út, bên trái này nè, anh đem theo làm kỷ niệm”) Nói như Thiêm “Mẫn không đùa đâu”, quả thật, “Mẫn rất dám nuôi tôi bằng thịt mình, nhưng cũng không ngần ngại xả cho tôi mươi viên đạn vào đầu nếu
tôi nhảy sang phía kẻ thù” (tr.481) Hoặc như chị Út Tịch (Người mẹ cầm súng- Nguyễn Thi), chị Kan Lịch (Kan Lịch- Hồ Phương)… đều là con người như thế Người phụ nữ trong truyện ngắn thời kỳ này cũng có vẻ đẹp tương tự Phước (Hoa
rừng- Dương thị Xuân Quý) với “làn mi đen chuyển động rất nhanh”, “cái bóng
dong dỏng cao”, cặp mắt “trong trẻo và long lanh sáng” Đặc biệt, cô giao liên này dẻo dai đến kỳ lạ: dẫn bộ đội hành quân đi mải miết không nghỉ, đến mức cả lính lẫn chỉ huy phải kêu trời vì mệt, quay ra oán trách nhưng cô vẫn: “Dạ, không được”
vì đoạn đường này địch thường xuyên ném bom, bắn pháo Đến chặng nghỉ, bộ đội lăn ra ngủ ngay vì mệt Sáng ra bộ đội dậy hành quân bỗng lại gặp Phước dẫn đoàn quân thứ hai đến chặng nghỉ Lúc ấy họ mới hối hận, cảm phục cô giao liên nhỏ bé
mà anh dũng này Trạm trưởng đã “giới thiệu” Phước thay lời nhà văn: Cô này
“Bom nổ bên cạnh: cười Ngày ăn hai bữa sắn, cũng cười” B52 ném bom làm Phước “như chui dưới đất lên Mặt mũi, quần áo, chân tay lấm đầy đất”… nhưng nghe hỏi, “cô ấy chỉ cười: Dạ, em đội một mớ bom mà không lãnh trái mô hết” Vẻ
đẹp này cũng có trong Nguyệt (Mảnh trăng cuối rừng- Nguyễn Minh Châu) Về
ngoại hình, dù là cô thanh niên xung phong chuyên đổ đá vá đường cho xe ra mặt trận nhưng Lãm kịp nhận ra Nguyệt một vẻ đẹp “giản dị và mát mẻ như sương núi tỏa ra từ nét mặt, lời nói và tấm thân mảnh dẻ (…) cô ta mặc áo xanh chít hông vừa khít, mái tóc dày tết thành hai dải”, “khuôn mặt sáng sủa”…Nhưng vẻ đẹp làm “dấy lên một tình yêu Nguyệt gần như mê muội lẫn cảm phục” trong Lãm chính là vẻ đẹp trong chiến đấu Máy bay giặc ập đến “bắn hai mươi ly đỏ lừ, nghe rát cả mặt”, song chính Nguyệt lại trở thành người chỉ huy cho xe qua ngầm Đá-xanh và dập lửa cứu xe với Lãm Nguyệt dẫu bị “hơi bom xô ngã dúi”, bị thương “vết máu chảy xuống đỏ cả cánh tay áo xanh” mà vẫn “nhìn vết thương, cười” Vẻ đẹp của chị Sứ, Phước, Nguyệt chỉ có đặt trên nền của chiến trường, trong cuộc chiến đấu mới trở nên ngời sáng Còn nhiều lắm những vẻ đẹp xuất hiện trong bối cảnh như thế: Mai
(Rừng xà nu- Nguyên Ngọc), Quế (Khói- Anh Đức), Thu (Chiếc lược ngà), Dung (Chị xã đội trưởng- Nguyễn Quang Sáng), Nhặt (Vợ chồng xã đội- Lê Khánh), Bích Hường (Hai giọt nước mắt của tiểu đội trưởng Bích Hường- Bùi Hiển), Ái (Đêm ấy
vùng than ai thức- Lý Biên Cương)…
Trang 29Cùng với vẻ đẹp là tình yêu Trong bối cảnh đất nước có chiến tranh, vẻ đẹp tình yêu cũng được hiện lên một cách độc đáo chưa bao giờ có (mà có lẽ sau này cũng không lặp lại?) Chiến tranh không chỉ có hào hùng và khốc liệt Chiến tranh còn có sự lãng mạn và bay bổng Chính điều này, nói như Chu Lai là “làm dịu đi vầng trán nóng bỏng của người lính” và cũng giải thích cho chúng ta hiểu rằng vì sao những người lính có thể chiến đấu dai dẳng suốt 30 năm như thế! Nhưng đây là
“tình yêu chiến trận” chứ không phải “tình yêu công viên”, “tình yêu nhà hàng”,
“tình yêu tiệm nữ trang”… Tình yêu của Mai và Tnú (Rừng xà-nu), Hựu và Quế (Khói), Khương và Dung (Chị xã đội trưởng), Lân và Út Diệu (Mùa gió), Cường và Trinh (Trinh), Thư và Luyến (Từ đấy sang đây và lá thư ngắn ngủi)… là những
kiểu tình yêu như thế Quế yêu Hựu từ những ngày cô đưa cơm cho anh khi anh nằm dưới hầm bí mật Có ngày bọn địch xăm hầm, ngọn thuốn sắc của chúng xuyên dần xuống đúng hầm hai người Nếu để mũi thuốn xuyên vào vùng trống, hẫng thì giặc sẽ phát hiện ra Trong lúc cấp bách, Quế đã đưa vai mình để mũi thuốn từ từ đâm vào, xoáy ngập vai Quế nghiến răng chịu đau đớn và khi địch rút mũi thuốn lên, cô còn kịp bình tĩnh lấy áo chùi vết máu để địch không biết rồi mới ngất xỉu Vì thế về sau mãi mãi vai cô bị lệch và chính cái vai lệch ấy lại làm Hựu yêu cô da diết Tình yêu ở đây là tình yêu đổi bằng máu, bằng cái chết nên nó mãnh liệt và bền chặt Song nếu người yêu phản bội, theo giặc thì cũng chính Quế sẽ kết liễu anh bằng một viên đạn các-bin! Không ai dám đánh giá tình yêu đó là ưu điểm hay
nhược điểm, chỉ biết đó là đặc điểm của một thời Có thế mới hiểu câu thơ của Tố
Hữu về trái tim tình yêu: “Rất chân thật chia ba phần tươi đỏ/ Anh dành riêng cho Đảng phần nhiều…” hay của Nguyễn Đình Thi “Anh yêu em như yêu đất nước”,
“Em/ Anh yêu em và yêu cả khẩu súng trường trên vai em”! Tính nữ thời ấy phải đặt trong bối cảnh hiện thực ấy mới có thể cảm nhận được, hơn thế, nhận ra nét đặc
trưng, nét mới trong quan niệm về “thiên tính nữ” Cũng từ tiêu chí này mới có thể
lý giải được những đặc điểm nữ tính khác: tình mẹ, sự bao dung, lòng vị tha, nỗi đau của những người phụ nữ Chẳng hạn, với cách nhìn ngày nay, nhiều người không sao hiểu nổi khi đọc truyện viết về người mẹ nửa đêm dẫn đoàn cán bộ bí mật sang sông, nhưng chị đang có con nhỏ nên phải ru nó ngủ rồi mới dẫn đoàn đi Bất ngờ đến giữa sông cháu bé thức dậy ú ớ khóc Tình huống quá bất ngờ, người
mẹ buộc phải thả ngay cháu bé xuống sông để khỏi lộ đoàn cán bộ! Một truyện khác cùng motif này nhưng là trong hầm bí mật với hai cán bộ chỉ huy khi giặc bất ngờ càn, họ không chạy kịp Một lúc, cháu bé tỉnh dậy Để giữ an toàn cho hai đồng chí chỉ huy, người mẹ du kích mật đành dùng tay bịt miệng cháu Khi giặc quay về thì cũng là lúc cháu bé chết ngạt trên tay mẹ! Quả thật, không thể dùng “thước đo” bình thường tình mẫu tử để đánh giá người chiến sĩ - người mẹ trong những tình
huống này Đúng là cái thời “Ra ngõ gặp anh hùng”, tất cả cuộc sống, con người
đều hiện lên đẹp đẽ, “đón sẵn dâng chờ” (GS Phong Lê)
Trang 30Tuy nhiên, trong thời kỳ này, dù quan niệm đã có nét mới hơn về thiên tính
nữ thì nó vẫn mới dừng ở tính nữ Bất bình đẳng giới chỉ căn bản đã xóa được
khoảng cách phân biệt nam-nữ; địa vị người nữ cùng sự đóng góp không thể chối cãi của họ vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng CNXH chứ chưa
phải là cuộc đấu tranh “giành” quyền bình đẳng theo tính chất của nữ quyền Nói
như Hồ Khánh Vân: “Thế nhưng, bản thể nữ tính chưa thực sự trỗi dậy một cách mạnh mẽ, chưa hình thành nên một giọng nói của chủ thể nữ trong sáng tác văn học thời bấy giờ Người phụ nữ ở đây vẫn nhìn mình như một đối tượng, tức là tự nhìn mình bằng cái nhìn bên ngoài vào hơn là nhìn mình bằng cái nhìn về chính bản thân chủ thể, cái nhìn từ bên trong Và đôi mắt của họ chủ yếu hướng ra thế giới bên ngoài, ra đời sống xã hội cùng với hiện thực sôi nổi của trào lưu đấu tranh giải
phóng dân tộc lúc bấy giờ” [92]
- Trong văn học viết từ sau 1975 đến nay
Sau năm 1975, quan niệm về hiện thực, con người đã thay đổi rất nhiều Với những cột mốc lịch sử lớn lao (giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Đại hội Đảng VI…) khiến đời sống văn học (và nghệ thuật nói chung) có bộ mặt hoàn toàn khác trước Việc nhận thức và phản ánh về nữ tính, nữ quyền cũng mang khuôn mặt
khác với thời kỳ 1945-1975: nữ tính dường như phát triển đến mức cao nhất, toàn
diện nhất của nó và đã bắt đầu chuyển sang một mức mới, mang dáng dấp một sự
vượt thoát, đấu tranh đòi lại những gì thuộc quyền của giới mình: nữ quyền
Một trong những truyện xuất hiện khá sớm sau 1975 là truyện Sương mù Đà
Lạt (Nguyễn Văn Bổng) kể về người đàn bà tên Lan, người thân của nhân vật “tôi”
Một cô gái đáng được coi là trí thức: tốt nghiệp tú tài, xuống học đại học ở Sài Gòn,
ra Huế học tiếp văn khoa… và cũng rất trải đời: biết hút thuốc lá, uống rượu Tây, đi bals, chơi tennis… Nhưng Lan có một tình duyên trắc trở: yêu Lương, bạn cùng học, được đi học Canada rồi ở lại bên đó, Lan làm vợ đại úy ngụy đang đi cải tạo, một nách hai con và không có việc làm…Qua những dòng tâm sự ấy của cô gái Đà Lạt, “tôi” thấy thương Lan vô cùng, không chỉ vì hai gia đình “tôi” với Lan có quan
hệ từ trước nhưng vì gia đình tôi tập kết ra Bắc, tôi được đi học ở Tiệp Khắc và giờ
về thăm gia đình nên mới gặp lại Lan…mà như là một niềm cảm thông cho người con gái miền Nam có học nhưng ngây thơ về những khái niệm “quốc gia”, “cộng sản”, “cách mạng”, “ngụy”, chỉ biết “đi học, đi làm, có con nuôi con, hưởng những
ưu đãi của cuộc đời mà em được phép hưởng, không xâm phạm đến của ai” [44,
tr.71] Bởi thế, nghe xong chuyện, nhân vật “tôi” thốt lên “Anh muốn vẽ em” vì trong “tôi” đã “sống dậy bao nhiêu kỷ niệm”, vì để “lòng Lan sẽ nhẹ dần đi” Truyện như thể muốn bắc một nhịp cầu cảm thông, chia sẻ, hiểu nhau giữa những con người từng sống trong hai miền, hai chế độ, hai lối sống…giờ cần hiểu nhau sau khi nước nhà đã thống nhất Cùng chủ đề này và cũng xuất hiện rất sớm (1976)
là Câu chuyện tình màu trắng của Tô Nhuận Vĩ Nhưng sự “giác ngộ” ở đây lại xẩy
ra trong tình huống mối quan hệ giữa anh bác sĩ “giải phóng” Lê với cô gái Huế
Trang 31Bảo Vân Cuộc gặp gỡ tình cờ và định mệnh ở đây là gặp gỡ trong sự đổi vai Chính
Lê đã chữa cho Bảo Vân lúc cô bị sức ép và đất cát đổ ập vào mắt trong trận Mậu Thân Huế và sau này chính Bảo Vân lại trở thành bác sĩ chính quyền cũ điều trị cho
Lê là người “của họ” Người cũ nhận ra nhau và kết thúc truyện là cô bác sĩ thì
thầm vào tai Lê: “Em sẽ đi cùng anh Đi suốt đời, anh Lê” [45, tr.636] Một sự hòa
hợp của hai miền, hai phía không thể nào đẹp hơn của tình yêu lứa đôi! Truyện
ngắn Thợ làm móng tay của Dương Thu Hương, Bài hát chim nhồng xanh của Ngô
Thị Kim Cúc… cũng tượng tự như thế Nói đến nữ tính trong truyện thời kỳ này,
trước hết phải đề cập đến nỗi đau, sự mất mát hạnh phúc của người phụ nữ sau
chiến tranh Người đàn bà sau giải phóng mới tìm được chồng khi tuổi đã cao
(Chiếc lục lạc- Nguyễn Quang Lập), may nhờ sự giúp sức của đồng đội và sự kiên
trì của đại tá Thân, cuối cùng chị cũng có thai- niềm khao khát suốt hàng chục năm
xa nhau đằng đẵng của anh chị, và cũng là mong ước của các sĩ quan, chiến sĩ trong đơn vị anh Mọi sự mừng vui, thương yêu, chăm lo, hi vọng của anh và cả bạn bè, thầy thuốc, đơn vị đều dồn tụ hết trong ngày chị lên bàn đẻ Đau đớn thay, chị sinh
ra một đứa bé tật nguyền: hai mí mắt kéo xuống che kín hết mắt, môi dài trễ xuống dính chặt vào ngực…hậu quả của chất độc da cam ngấm vào người hồi chị còn ở
chiến khu! Nỗi đau ấy còn hiện lên ở Thảo (Người sót lại của Rừng Cười- Võ Thị Hảo), ở bà Ân, bà Mật (Hai người đàn bà xóm trại- Nguyễn Quang Thiều), ở “Chị ” coi kho quân lương (Họ đã trở thành đàn ông- Phạm Ngọc Tiến), và phần nào đó là
ở cô y sĩ Quỳ (Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành- Nguyễn Minh Châu)… Bên
cạnh nỗi đau, các truyện viết khá nhiều về đề tài tình yêu với muôn vàn sắc thái, cung bậc Đó là những người đàn bà cho đến nay vẫn đành chịu số phận khổ đau
trong tình yêu: Gừng (Người đàn bà tóc trắng- Nguyễn Quang Thiều), người chị dâu (Chị dâu- Hoàng Tuấn), Hạ (Chuyện về Hạ- Nguyễn Thị Ngọc Tú), “Tôi” (Quãng đời xưa in dấu- Sương Nguyệt Minh), người thiếu phụ (Thiếu phụ say- Hòa
Vang) Nhưng nhiều hơn là những mối tình, từ tình yêu lứa đôi trẻ trung đến tình yêu không thành nhưng đẹp hay “ngoài chồng ngoài vợ” của sự lỡ làng mà sao vẫn
lãng mạn: Khắc dấu mạn thuyền (Bảo Ninh), Mùa hoa cải ven sông (Nguyễn Quang Thiều), Người đẹp bên suối (Nguyễn Mạnh Tuấn), Hiu hiu gió bấc (Nguyễn Ngọc Tư), Giấc mơ đến từ quá khứ (Chu Thu Hằng), Thị trấn hoa quỳ vàng (Trần Thùy Mai), Cuộc chia tay bất thành (Vương Tâm), Gà ấp bóng (Y Ban), Làm đẹp (Đoàn Lê), Trên cao nguyên mờ sương (Nguyễn Thị Minh Thái), Ngày xưa nơi đây là cửa
rừng (Sương Nguyệt Minh), Người tình của cha (Từ Nguyên Tĩnh)…
Thời kỳ này xuất hiện rất nhiều truyện ngắn mang dấu hiệu của tính nữ quyền Đó là ý thức tự quyết số phận mình của người phụ nữ nên dám chấp nhận
thách thức để được yêu, được thỏa mãn mà không dấu diếm: Bước qua lời nguyền (Tạ Duy Anh), Hậu thiên đường (Nguyễn Thị Thu Huệ), I’am đàn bà (Y Ban); đó
là nỗi đau chối bỏ thân thể và quyền được nạo thai: Đàn bà (Sương Nguyệt Minh),
Bức thư gửi mẹ Âu Cơ (Y Ban)… Nếu mở rộng sang cả tự truyện, tiểu thuyết thì có
Trang 32thể thấy, xu hướng này ngày càng phát triển mạnh mẽ: Lê Vân, yêu và sống (Bùi Mai Hạnh và Lê Vân), Tiền định (Đoàn Lê), Aó tím đồi sim (Phan Thị Thu Quỳ),
Gia đình bé mọn (Dạ Ngân)… Sau 1975, văn học Việt Nam hình thành hẳn một đội
ngũ nhà văn đông đảo, trong đó, các cây bút nữ là một lực lượng đáng nể Họ, bên cạnh phản ánh muôn mặt đời sống xã hội, con người của thế giới hiện thực thì cũng dành một khối lượng không nhỏ để viết về mình, về những đặc điểm riêng của giới
mình (kiểu “tự ăn mình”) trên tinh thần mới Trong bài viết Văn xuôi thế hệ các nhà
văn nữ sau 1975-từ diễn ngôn giới, tác giả Thái Phan Vàng Anh có nói: “Các nhà
văn nữ đã cùng nhau làm nên một dòng văn học nữ giàu bản sắc, tiếp tục cất lên tiếng nói của nữ nhân Việt Nam Tiếng nói nữ giới ấy không còn là tiếng nói cá nhân, nhỏ lẻ như những thời kì, giai đoạn văn học trước Tiếng nói phụ nữ trong 30 năm đổi mới đã là tiếng nói chung của giới nữ Nhờ sự tập hợp đông đảo ấy, các nhà văn nữ sau thế hệ 1975 đã không chỉ khẳng định ý thức giới tính mà còn tạo nên một diễn ngôn của giới mang đậm âm hưởng nữ quyền” (phebinhvanhoc.com.vn)
1.2 BỨC TRANH NỮ TÍNH NỮ QUYỀN TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU 1975
1.2.1 Hiện thực đất nước, con người sau 1975
Như đã nói, hiện thực đời sống, con người sau năm 1975 đến nay đã thay đổi mạnh mẽ Kể từ sau tháng 4/ 1975, khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, tổ quốc ta sạch bóng quân thù, Nam Bắc thống nhất, sum họp một nhà…đất nước mang khuôn diện khác Nhân dân cả nước hồ hởi, phơi phới niềm tin về một chế độ mới, cuộc sống mới tràn đầy tương lai ở phía trước Nhưng rồi, chỉ sau một thời gian ngắn, hiện thực đất nước phải đối mặt với bao nhiêu khó khăn, thách thức mà
có lẽ trước đây người ta không hình dung ra: chiến tranh ập đến ở cả hai đầu biên giới và ngoài hải đảo; tình trạng ngăn sông cấm chợ xuất hiện đã làm nơi khủng hoảng thừa lúa gạo, nơi “mặt vàng như nghệ” vì cái đói của những năm 80; đất nước thống nhất nhưng lòng người chưa hẳn đã thành một khối; biết bao nhiêu hậu quả của cuộc chiến 30 năm không phải ngày một ngày hai có thể khắc phục được; các thế lực bên ngoài bao vây cấm vận đất nước; toàn bộ tư duy sắc nhọn của chúng
ta dồn cả vào phục vụ chiến tranh nay tiến hành tư duy kinh tế không dễ gì áp dụng
được… Thế nên, sau những phút giây “Đất nước trọn niềm vui”, con người nhận ra
rất nhiều giá trị đã/ phải thay đổi: thay vì nói cái “ta” lý tưởng dân tộc chung, giờ phải nói nhiều hơn về cái “tôi” thân phận; thay vì chỉ nói cái hiện thực vĩ đại, chói lòa, giờ còn phải đề cập đến những nỗi đau, sự mất mát; thay vì phản ánh cái “chân thật”, “hùng hồn” được mặc định đồng nghĩa với mặt tươi sáng, kiểu “ta thắng địch thua”, giờ còn phải nói đến những góc khuất, điểm mờ của hiện thực; thay vì chỉ hiểu các phạm trù một cách siêu hình, cứng nhắc (không ta là địch, không tốt là xấu, không cách mạng là phản động…) mà phải hiểu nó một cách linh động hơn, uyển chuyển hơn, đa dạng hơn; không phải chỉ nói cái “đại tự sự” mà còn phải nói nhiều hơn cái tưởng là “vụn vặt”, “tiểu tiết”… Cứ thế, rất nhiều giá trị được khẳng định
Trang 33trước đây, nay đã bị đảo ngược Nhưng cần thấy, điều này không hoàn toàn sai và không phải thế hệ sau “hư hỏng”, quay ra phản bội thế hệ trước mà phải xem đó là biện chứng: Có cái thời đại này xem là đúng, hợp lý, là ưu điểm nhưng thế hệ sau
không thể giữ nguyên giá trị cũ Nói như Lê-nin “Nếu cứ kéo dài mãi cái ưu điểm
thì sẽ trở thành khuyết điểm” Hiện thực xã hội, con người thay đổi đã buộc văn học
không thể cứ phản ánh bằng cách nhìn cũ, tư duy cũ mà cần có sự nhận thức lại
Bởi thế, quan niệm về nữ tính, nữ quyền cũng phải chỉ đặt trên tinh thần ấy mới thỏa đáng Có thể nói, đến nay (sau 1975, và nhất là sau 1986) vấn đề nữ tính, nữ quyền đã được quan niệm đúng mức hơn trong xã hội và được phản ánh nhiều hơn trong văn học
Nếu như trong nhận thức của đời sống xã hội có một thời ta gọi là “quán tính
sử thi” kéo dài khoảng mười năm (1975 - 1985), thì trong văn học cũng có “quán
tính” như thế Nếu trong đời sống xã hội, “cột mốc” đánh dấu sự chuyển giao nhận
thức là Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI với tinh thần Đổi mới quyết
liệt, toàn diện, “cởi trói”, “tự cứu mình” trên nhiều lĩnh vực thì “cột mốc” trên địa
hạt văn chương có lẽ là tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu Hình tượng Giang
Minh Sài trong tác phẩm khiến người đọc phải “nhận thức lại” các giá trị trước đây (tiểu thuyết này thực ra cũng là kết quả của rất nhiều những tác phẩm ký, thơ, kịch,
truyện ngắn của mười năm trước) Đó cũng là lý do khi đề cập đến vấn đề nữ tính,
nữ quyền, luận văn chúng tôi tập trung khảo sát những truyện ngắn trong mười năm
này và mười năm tiếp theo (1975 - 1995)
1.2.2 Nữ tính, nữ quyền trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975
Bất bình đẳng giới mà cụ thể là hai phương diện nữ tính và nữ quyền đã nhận
được sự quan tâm của mọi giới, mọi quốc gia và vùng lãnh thổ Trong văn học, nó được đề cập đến từ lịch sử hàng ngàn năm, trên mọi thể loại Luận văn của chúng tôi chỉ mới giới thiệu một thể loại (truyện ngắn), trong một nền văn học (văn học viết Việt Nam), ở một giai đoạn (1975 -1995) nhưng đã cho thấy một bức tranh rộng lớn với muôn màu sắc Trong phạm vi luận văn, chúng tôi mới chỉ nhìn nhận
bức tranh ấy ở những mảng màu (trong truyện ngắn của cả nam lẫn nữ) như: về nỗi
đau thân phận người phụ nữ sau chiến tranh; về tình người và những mối quan hệ nhiều chiều của người phụ nữ sau năm 1975; về sự đấu tranh cho khát vọng và những “quyền” của người phụ nữ
Ở trên đã có đề cập, sau 1975, đất nước chúng ta, một mặt vừa mang đến cho con người những niềm vui lớn lao nhưng mặt khác, con người cũng phải đối mặt với những đổ vỡ, những sang chấn tâm lí của buổi giao thời, cái cũ mất đi nhưng cái mới chưa kịp hình thành Văn học thời kì này cũng là thời điểm mở đầu cho cuộc
hành trình “nhận thức lại” Nguyễn Minh Châu, người đọc lời “ai điếu” cho một
giai đoạn văn học minh họa, đồng thời mở ra một cái nhìn mới về hiện thực, con
người Chẳng hạn, chiến tranh không chỉ được nhìn ở góc độ “ngày hội”, “niềm
vui”, con đường ra trận không chỉ có “đẹp lắm”… mà còn được nhìn từ những mất
Trang 34mát hi sinh, từ “nỗi buồn chiến tranh” Nhà văn lúc này dám nhìn thẳng, nhìn thật
để nói thẳng nói thật Quan niệm nghệ thuật về con người cũng có sự thay đổi Không chỉ nhìn con người một cách phiến diện, một chiều mà góc nhìn trở nên đa chiều, đa diện với những tốt- xấu, vàng- thau lẫn lộn Đặc biệt là sự trở về của ý thức cá nhân và tinh thần đối thoại cao, hình mẫu nhân vật tự thú, nhân vật phản
tỉnh xuất hiện nhiều trong văn học Điều này thể hiện rõ trong thơ của Trần Vàng Sao, Nguyễn Trọng Tạo… ký của Minh Chuyên, Phùng Gia Lộc… kịch của Lưu
Quang Vũ v.v… Truyện ngắn là một thể loại xung kích trong đội quân đông đảo đó với những mảng màu nổi lên đáng chú ý
1.2.2.1 Nỗi đau của số phận người phụ nữ sau chiến tranh
Đề tài, motif này không mới, nhưng truyện ngắn lúc này đã có cách tiếp cận mới và có lối viết mới Chẳng hạn, nét thủy chung chờ chồng của người phụ nữ là
đề tài quen thuộc trong văn học ta Nhưng các nhà văn không khai thác nó nhằm
ngợi ca mà dường như là để chia sẻ, cảm thông với những tình cảnh éo le mà hậu quả chiến tranh đưa đến cho người phụ nữ Những bà Ân, bà Mật (Hai người đàn
bà xóm trại- Nguyễn Quang Thiều), bà Rúm (Vĩnh biệt con gà trống - Nguyễn
Quang Lập) đằng đẵng chờ chồng hàng chục năm chỉ biết đến Tết gói bánh chưng
đợi chồng về ăn Tết hoặc lấy tiếng gà gáy làm niềm vui; hoặc Hiên (Dòng sông
trinh nữ - Sương Nguyệt Minh, My (Hoa gạo tháng 3- Trần Thanh Cảnh), Hai Mật
(Trên mái nhà người phụ nữ- Dạ Ngân), Nhàn (Hồi ức làng Che- Nguyễn Đức
Thọ)… đâu phải mong được làm hòn Vọng phu mà là những “tượng đài không mong muốn”!
Chẳng hạn, Người sót lại của Rừng Cười của Võ Thị Hảo [44, 225] mô tả về
tình cảnh của các cô gái thanh niên xung phong làm nhiệm vụ coi kho quân nhu “im lìm nép trong vòng tay ma quái của rừng sâu Thỉnh thoảng mới có một đoàn quân tạt qua lĩnh quân trang quân dụng rồi vội vàng đi” Thảo và 4 người chị sống trong cảnh xa con người, xa đàn ông nhiều năm, nước suối và những rễ cây lim đã làm tóc
họ rụng gần hết, các chị cố giữ cho đứa em út Thảo bằng mọi cách cũng chỉ cầm cự được một thời gian thôi Ghê rợn hơn, họ đã không còn dễ phân biệt giữa người và vượn Ba người lính đến lĩnh quân trang đã hết hồn tưởng họ là vượn: “hình như có con vượn trắng vừa nhẩy từ chòi canh xuống và lẩn vào đám lá”, “một đôi tay từ đâu đã ghì chặt lấy cổ và sau gáy anh vang lên tiếng cười man dại lúc nãy”, khiến anh lính càng bàng hoàng gấp đôi khi nhận ra con vượn trắng kia “lại là một người con gái hoàn toàn trần truồng, tóc xõa, vẻ mặt bơ phờ và đang ngửa cổ ra sau cười khanh khách” Kinh hoàng hơn, lúc ấy “trên sàn chòi khấp khểnh, ba cô gái đang vừa cười vừa khóc, tay dứt tóc và xé quần xé áo” (tr.227) May mắn cho Thảo là chưa bị bệnh nặng đến mức ấy và Thảo cũng thoát được cảnh bị bọn địch giết hại dã man khi chúng phát hiện ra cái kho ấy Nhưng ai mà biết được Thảo sẽ ra sao nếu
cứ sống triền miên năm tháng trong không gian ấy?! Quả thật, như nhật ký của Hiên, người chiến sĩ cứu họ trong cơn điên loạn ấy (và về sau cũng hi sinh): “sau
Trang 35chín năm ở chiến trường, nay tôi đã nhìn thấy Rừng Cười cái cười méo mó man dại của chiến tranh Việc chiến tranh lôi những người phụ nữ vào chiến cuộc thật khủng khiếp Tôi sẵn sàng chết hai lần cho họ khỏi lâm vào cảnh ấy” (tr.231) Ta có thể tin
lời Hiên bởi anh và những người lính ấy là người trong cuộc, đúng giữa thời ấy
Tuy nhiên, số phận Thảo cũng không khá gì hơn Sau khi được trở về, trong hình hài “đôi mắt cô như mắt của người đang đi trong một giấc mộng dài Làn da tái xanh vì những cơn sốt rừng” Thành, người yêu cô ra đón ở sân ga, gặp Thảo “vai đeo ba lô”, “thân hình gầy gò trong bộ quân phục lạc lõng, làn môi nhợt nhạt, mái tóc xơ xác” khiến anh “ngỡ ngàng đến không thốt nổi một lời” Thảo thoắt nhận ra
và “mắt cô đong đầy nước hờn tủi” Giây phút ấy Thảo đã nhận ra, thế là hết, mình
sẽ không còn yêu Thành được nữa vì “anh sẽ thấy rằng yêu một người như em là hi sinh quá lớn” Và rồi, dù được vảo đại học văn khoa nhưng Thảo không còn được sống đời sinh viên vô tư nữa Giống như các chị trước đây, Thảo cũng phải trả
“món nợ của rừng”: “Thảo đã bị điên Esteris” trong đêm tân hôn của Thành với người con gái Hà nội cùng lớp ở đại học Tổng hợp Thảo bỏ đi đâu biệt tích không
ai biết Chiến tranh thì tất cả mọi người đều khổ Nhưng khổ nhất có lẽ là người phụ
nữ Và Thảo là người con gái trẻ nếm mùi đau khổ ấy
Hai người phụ nữ trong Hai người đàn bà xóm trại của Nguyễn Quang Thiều
[56,T3, tr.256] lại là nỗi đau thương khác Bà Ân và bà Mật thuở bé “đều mồ côi bố
mẹ và lớn lên lấy chồng” là hai anh Vệ quốc Chị em họ dắt díu nhau ra xóm bãi này lập nghiệp, còn hai người đàn ông của họ theo đơn vị bộ đội vượt sông, chỉ kịp nhắn với họ một câu: “hai chị em dọn về mà ở với nhau Đến Tết, kháng chiến thành công chúng tôi về” (tr.261) Lời dặn như một lời nguyền, một niềm tin bởi chuyện ấy xảy ra khi hai cô Ân, Mật mới chừng 20 tuổi mà giờ đã thành hai bà lão
“tóc đã bạc trắng”, lú lẫn quên hết mọi chuyện, ăn cơm với tép mà khi ho cứ kêu là
“hóc xương cá rồi”! Nhưng chỉ có câu “Đến Tết (…) chúng tôi về” là trở thành ký
ức ăn sâu vào họ Vậy nên Tết nào cũng “cả hai lại xuống bến rửa lá dong và vo gạo Má họ rực đỏ trong giá lạnh cuối đông”, luộc bánh rồi “chọn những chiếc bánh đẹp nhất, chắc nhất để phần hai người đàn ông của họ” Mấy chục năm sau, khi không nhớ gì nữa cả, nhưng Tết đến bà lão Ân vẫn hỏi: “Thế bà định Tết này gói bao nhiêu bánh?” và bà Mật: “Cứ bảo mẹ Phấn nó mua cho đủ lá gói ba chục cái Mình thì ăn là mấy, nhưng nhỡ có ai về…” (tr.270) Thử hỏi có nỗi đau nào, niềm thủy chung nào của những người đàn bà chờ chồng hơn thế? Truyện ca ngợi niềm thủy chung nhưng sao lại khiến người đọc thấy nó bùi ngùi từ phương diện bi kịch
của nỗi đau khổ?! Kiểu bi kịch này còn có ở Nhàn (Hồi ức làng Che- Nguyễn Đức Thọ), Ái (Sinh vào đêm trăng sáng- Trần Văn Thước), “Chị” (Họ đã trở thành đàn
ông- Phạm Ngọc Tiến)… và nhiều người đàn bà khác nữa
Trang 361.2.2.2 Tình người và những mối quan hệ nhiều chiều
Hiện thực cuộc sống, con người sau 1975 có rất nhiều giá trị bị đảo lộn Theo
đó, tình người cũng đảo lộn cung bậc làm cho lối sống giờ đây mang những gam màu khác
Truyện ngắn sau 1975 dung chứa muôn mặt cuộc sống được/ bị phơi bày:
tập thể - cá nhân (Bước qua lời nguyền- Tạ Duy Anh, Cái bóng cọc- Bùi Hiển,…); tình người sau chiến tranh (Giấc ngủ nơi trần thế- Nguyễn Thị Ấm, Con chó và vụ
li hôn- Dạ Ngân, Đùa của tạo hóa- Phạm Hoa, Tiếng khèn bè- Nguyễn Quang Lập, Kịch câm- Phan Thị Vàng Anh, Kẻ sát nhân lương thiện- Lại Văn Long…); những
mối quan hệ nhiều chiều (Kiêm ái- Phạm Thị Hoài, “Thủy chung”, bài ca của đàn
bà- Trần Thị Trường, Người sót lại của Rừng Cười- Võ Thị Hảo, Thị trấn hoa quỳ vàng- Trần Thùy Mai, Cơn mưa cuối mùa- Lê Minh Khuê, Không có vua- Nguyễn
Huy Thiệp,…); vượt qua những lề thói, quan niệm cũ (Mùa hoa cải ven sông- Nguyễn Quang Thiều, Xưa kia chị đẹp nhất làng- Tạ Duy Anh, Đi qua đồng chiều- Sơn Nguyệt Minh…); bi kịch tình yêu và khát vọng bản thể đàn bà (Tình yêu ơi, ở
đâu?, Hậu thiên đường- Nguyễn Thị Thu Huệ, Bức thư gửi mẹ Âu Cơ, Iam đàn bà-
Y Ban, Đàn bà- Sương Nguyệt Minh, Trăng nơi đáy giếng- Trần Thùy Mai) v.v…
Như trên đã nói, đề tài, motif không mới nhưng cách tiếp cận, lối viết đã khác Ví
dụ, lối viết đưa ngôn ngữ đời thường, thông tục hóa ngôn ngữ, sử dụng ngôn ngữ tính dục trong các truyện cũng là một yếu tố rất mới mà văn học 30 năm trước đó
rất ít, nếu không muốn nói là không hề xuất hiện (Bóng đè - Đỗ Hoàng Diệu, Iam
đàn bà - Y Ban, Cánh đồng bất tận - Nguyễn Ngọc Tư, Sang sông - Nguyễn Huy
Thiệp…) Cần phải hiểu, tính dục như một nhu cầu tất yếu của giới nữ, nơi thể hiện những khao khát nhân bản, khẳng định nhân vị của người phụ nữ, nó cũng là
phương diện biểu hiện rõ rệt của ý thức nữ quyền
Mặt khác, trong thực tiễn đời sống đã lộ diện một số giá trị từng được khẳng định trước đây (trong truyền thống và nhất là giai đoạn 1945-1975) nay trong hiện thực mới đã diễn ra không còn nguyên giá trị, thậm chí trái ngược hẳn Điều đó làm cho nội hàm của tình người giờ đây không còn hình ảnh đẹp đẽ kiểu như thuở trước Chẳng hạn, nếu như trước đây con người lấy cái tình làm trọng (tình làng nghĩa xóm, tình người ra trận với người hậu phương, tình đồng đội, tình yêu nam nữ…) thì nay dường như tiêu chí tình người không hẳn là tiêu chí duy nhất Ví như,
Nguyễn Thị Ấm viết Giấc ngủ nơi trần thế [44, tr.261] để bộc lộ nỗi đau về cái gọi
là tình mẫu tử bây giờ Những người đàn bà mà “nghề nghiệp” chỉ là suốt ngày
“chúi đầu vào một cỗ tam cúc” và đẻ con chỉ để cho kẻ khác thuê làm công cụ ăn xin Vì là “công cụ ăn xin” nên nó phải được nhét Xêduxen cho ngủ li bì Khi thằng
bé đang khóc ngằn ngặt, cô gái thuê nó đã dùng nước máy công cộng cho uống thuốc, nước nhỏ giọt yếu quá không kịp, cô ta “cậy mồm thằng bé Viên thuốc màu trắng được tọng vào họng nó Tay kia cô vớt nước ở vũng dưới vòi máy, đưa vào họng thằng bé Thằng bé sặc nước, nhưng rồi viên thuốc ngủ cũng trôi vào ruột”
Trang 37(tr.25) Và rồi, cái công cụ xin ăn đấy bị ngấm thuốc, ngủ trên tay cô “như một chiếc tã rách”, theo cô đến mọi nẻo đường, từ vỉa hè đến ga Hà Nội trong hình hài
mẹ con nhà quê cơ nhỡ đã gây nên lòng trắc ẩn của bao nhiêu người Họ móc những đồng tiền từ lao động của mình chia sẻ cho “mẹ con” cô: người lính già khi nghe cô
kể chồng cô cũng là lính hi sinh ở Campuchia, ở quê cô mất mùa, gia đình bỏ mặc…đã tách đôi xấp tiền của mình cho cô, năm phút sau một cụ già dáng quê cho
cô năm nghìn, mấy anh lính trẻ về phép cho cô năm nghìn nữa…Cứ thế, cô gái mê mải kiếm tiền trên thân đứa bé, trong khi trời mưa, “đùi thằng bé bắt đầu nước mưa chảy” và túi tiền cô “từ giờ đến sáng, có lẽ nó phải kiếm được hai trăm nghìn” (tr.28) Cho đến 12 giờ đêm, quá muộn giờ trả “công cụ” thì thằng bé đã lơ mơ tỉnh nhưng nó quá mệt và đói và ngấm thuốc ngủ, cô gái cũng chẳng kịp mua cho nó chút cháo nhưng vẫn nói với mẹ nó là cho ăn rồi nên đương nhiên, khi trời sáng, người mẹ đẻ sờ đến thì “Thằng bé thõng thượt Nó đã chết Người nó xám đen” (tr.29), nó sẽ được lên thiên đường chơi cùng bạn bởi “Hơn một năm nó sống dưới trần gian, nó toàn được ngủ!” Thiết nghĩ, không cần bình luận thêm về cái tình mẫu
tử của những kẻ đàn bà làm “mẹ” này! Hoặc Phan Thị Vàng Anh trong Kịch câm lại
bày ra những “trò chơi” văn chương giữa mình với người cha lỡ ngoại tình bị mình bắt gặp Từ đó hai cha con ký một “thông điệp” ngầm mà người sợ hãi đến nô lệ đứa con lại là người cha! Tờ giấy photocopy lời cha nó hẹn tình nhân được nó giữ
kỹ rồi trao cho cha một bản và “cười một cái cười ngang hàng, không phải của con dành cho bố Một trật tự mới ngay lập tức được thiết lập” Nó quan sát bố nó, ông Hiệu phó cấp III sáng sáng cắp cặp đến trường và mỉa “Đi giảng dạo đức đấy!” Nó quan sát mẹ nó, và ý nghĩ độc địa xuất hiện “Nếu bây giờ có một đám cháy, cho mẹ
cứu một người duy nhất, hẳn mẹ sẽ cứu bố”! [56, T1, tr.46-47] Rồi cái cảnh người
vợ kể tội chồng khi bà chị họ từ Bắc đến chơi trong ngày miền Nam vừa mới giải
phóng (Thợ làm móng tay - Dương Thu Hương): “tôi cứ lơ đi một chút là đem tiền
rủ ba con đĩ đi nhảy, đi xinê”, “Tao mà gặp thì tao đổ axit cho đui mắt, tao thuê ba
thằng du côn thí mạng luôn…” [45, tr.124-125]; hay cảnh người vợ Đoan hắt hủi
chị chồng khi chị bị bệnh lên Hà Nội ở nhờ nhà vợ chồng em trai Vợ Đoan đã vì sống trong cảnh nghèo khổ của thời bao cấp nên tạo ra thói quen “lĩnh lương xong, mỗi khoản chi, to nhất như mua gạo, mua dầu, nhỏ như tiền cắt tóc, xà phòng, kim chỉ, y đều chia, cho vào từng phong bì, phân miêng, không khoản nào dược lẹm sang khoản nào” Nay có chị chồng ra ở, thị sợ tốn kém trong cái thời “gạo châu củi quế” nên dặn con lường từng bơ gạo, từng giọt nước mắm, cố tình cho chị dâu nghe được một cách bất nhẫn mà không hề hiểu rằng người chị dâu “Hà Nội gốc” nhưng yêu rồi lấy chồng quê và giờ chồng sinh ra rượu chè, nợ nần, bán hết cơ ngơi và đẩy chị đang mang trong mình căn bệnh quái ác phải về lại Hà Nội chữa chạy (tr.313) Quả như lời Ma Văn Kháng trong truyện: “Trời ơi, mấy chục năm qua, sự cạnh tranh của đời sống khốc liệt đến mức nào mà cả những con người hiền lành, thân thuộc với nhau vẫn không thoát thói quen thường trước là phải xoi mói lẫn nhau,
Trang 38phải tìm ra sự khác biệt để đối lập nhau, trái ngược hẳn với đời sống hòa đồng vốn
dĩ nên bây giờ bà há miệng mắc quai?” (50, tr.333) Người đàn bà “suốt đời mang
trái tim thiếu nữ” dẫu đã ba mươi sáu tuổi, sống với con trong một căn phòng-ga tàu
trên tầng năm mà hành khách toàn đàn ông (Kiêm ái- Phạm Thị Hoài) [45, tr.93],
làm tình với các ông khách từ số 1 đến số 7 công khai trước con mình! Rồi còn
muôn cảnh đời, tình người, các mối quan hệ khác nhau như trong truyện Người đàn
bà choàng khăn của Đức Ban [56, T1, tr.133] kể về số phận cô Bờ bị tai nạn nên tật
nguyền từ nhỏ, kể cả khi xung phong vào bộ đội cô vẫn trùm khăn Bao nhiêu năm coi kho giữa rừng, hết chiến tranh cô về làng thì anh trai định cư nước ngoài không chịu về, cha chết để lại căn nhà khang trang do anh cô xây cho cha như một nghĩa
cử của chữ hiếu để từ nay biệt tích Nhưng căn nhà duy nhất ấy của gia đình cô được Ủy ban xã “mượn tạm” cho nơi làm việc Ngày cô về, chủ tịch xã thương lượng một cách trắng trợn và xúc phạm người nữ chiến sĩ này: “Chúng tôi sẽ cấp cho chị một suất đất tử tế, sẽ dựng cho chị một ngôi nhà tử tế chừng 10 mét vuông Một mình chị cần gì nhà to, rộng Hí” và câu nói tiếp theo của anh ta khiến “nổ tung trong lòng Bờ cái gì đó tích nén lâu nay”: “Một thân một mình, ở nhà rộng thêm lạnh lùng, cô Bờ hé! Chồng con thì không…” (tr.140) Thế đấy Người ta đã lạnh lùng và tàn nhẫn đối xử với một người đàn bà chẳng những bị lưỡi câu vương phải làm nét mặt ngang dọc đầy vết sẹo phải trùm khăn che mặt, “giờ có thêm vết bỏng
vì bom Mỹ nữa” khiến cô phải bỏ nhà, bỏ làng đi biệt tích “Từ ngày ấy, không ai gặp chị Bờ, không ai nghe tin tức gì về chị” Bao nhiêu năm sau người ta mới phát
hiện ra vị sư Bống trụ trì chùa Độ chính là cô Bờ! Chu Lai trong truyện ngắn Phố
nhà binh [44, tr.325] miêu tả mối tình của Hương và Thẩm được gắn kết từ trong
những ngày ở chiến trường Họ càng hạnh phúc hơn trong đời thường sau chiến tranh khi hai vợ chồng có bé Hương Thảo hết sức dễ thương Rồi Hương đi xuất khẩu lao động với mong muốn có tiền thì hạnh phúc sẽ viên mãn hơn Kết cục, cuối tác phẩm Hương sa vào vòng tay của “chú gì tre trẻ, nói tiếng Nam bộ, nghe nói là giám đốc hãng điện tử” thuê căn nhà mới của Hương-Thẩm làm cửa hàng Họ lén lút yêu nhau rồi cùng nhau ra bãi biển Sầm Sơn, đến ngày thứ năm Thẩm có giấy gọi ra nhận thân nhân bị nạn, chỉ được nghe nói “Chết đuối… Chết đuối cả hai! Chỉ tại không biết bơi mà lại đưa nhau ra xa nên bị sóng đánh tuột tay… Mãi ba ngày sau xác mới nổi, vẫn đang còn dính cứng vào nhau” (tr.347)! Từ đấy, Thẩm, một chàng sĩ quan “cao to như lực sĩ, cười ha hả, giọng oang oác, vui chửi tục, buồn cũng chửi tục, mặt mày lúc nào cũng tươi tỉnh rỡ ràng như sắp sửa vào cơn hưng phấn” (tr.327), nay biến thành “một người đàn ông râu ria xa lạ, tóc dài bờm xờm,
áo quần nhàu nát ngồi bên mâm cơm lỏng chỏng mấy cái bát, cái đĩa lạnh ngắt, bên cạnh có chai rượu trắng đã cạn gần sát đáy” và đang quát mắng đứa con gái tội nghiệp mà trước hai vợ chồng vừa yêu thương vừa tự hào: “Mày còn thương lắm à? Hử? (…) Cút! Cút đi theo con đĩ mẹ mày! Cút! Giời ạ! Sao tôi khổ nhục thế này?” (tr.345) Cái tình người sau chiến tranh nó sao mà phức tạp, mà nhiều khi tàn nhẫn,
Trang 39đớn đau! Tất nhiên, dù hiện thực thế nào thì có một mối tình bất tử, mãi mãi không
đổi thay, đó là tình đồng đội của những người lính đã đi qua chiến tranh đối với
những người trở về mình đầy thương tật, cảnh ngộ khó quên và nhất là đối với những đồng đội nằm lại rải rác nơi chiến trường Tiếc rằng, văn học viết về cái tình này hiện chưa nhiều lắm Có hai truyện ngắn mà số phận người phụ nữ gần gần như
nhau, đó là chị Túc trong Xưa kia chị đẹp nhất làng của Tạ Duy Anh và chị Quỳ trong Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành của Nguyễn Minh Châu Cả hai người
đàn bà này đều xinh đẹp và tài giỏi, rất nữ tính Chị Túc “Ở vào tuổi mười tám chị tươi rói như một bông hoa Với thân hình thon thả, bờ vai chị tròn trịa, lẳn trong chiếc áo màu nâu tươi Không biết bao nhiêu cặp mắt si mê đã đậu vào đó Không biết bao nhiêu lời mây gió đã thoảng qua tai chị”, “Tiếng cười của chị vô tư như
chính vẻ duyên dáng của chị” [56,T1, tr.86, 87] Chị Túc cũng là người con gái rất
giàu nữ tính kiểu “Công, Dung, Ngôn, Hạnh”: Hội làng thi nấu cơm với chủ đề “gái
đảm hậu phương”, từ vòng 1 (cô gái, nấu cơm trên cạn), đến vòng 2 (người vợ, nấu cơm dưới nước) và cả vòng 3 (người mẹ, nấu cơm trên thuyền thúng, bồng theo một
đứa trẻ rất nghịch) chị đều được Ban giám khảo “là các cụ rất khó tính, sành ăn chỉ việc xếp chị Túc lên hàng nhất” (tr 92) Chị y sĩ Quỳ của Nguyễn Minh Châu cũng
là người đàn bà đẹp đẽ và rất đỗi tài hoa Mười tám tuổi Quỳ vào lính, vẻ đẹp của Quỳ khiến từ người trạm trưởng đến những người lính hành quân qua nghỉ lại trạm đều trầm trồ, mong ước và dấy lên một tình yêu, một khát vọng Quỳ cũng là người được phân công nhiều công việc và việc nào chị cũng làm xuất sắc: từ y tá, giao liên, văn thư, cấp dưỡng,…chị đều được cấp trên tin tưởng và khẳng định Đặc biệt, giữa chị Túc và Quỳ đều say mê tình yêu và hướng cái say mê ấy của mình về một đối tượng: người lính Chị Túc được tất cả những chàng trai mới chớm tuổi mười tám trong các đơn vị bộ đội “ầm ầm kéo đến làng tôi, ở lại vài tháng đủ để thương
để nhớ” rồi lại vội vã ra đi, và cuối cùng là hàng trăm lá thư gửi về làng, lá thư nào cũng hoặc là viết cho chị Túc hoặc là viết cho người làng thì cuối cùng bao giờ cũng có tái bút “gửi lời chào cô Túc” Chị Túc chỉ đau đớn, ân hận một điều là
“Đêm chia tay…anh ấy…chỉ…xin cầm tay cháu một lần… mà không được…chắc anh ấy đau khổ lắm…hức hức…” (tr.90) và chị quyết dâng hiến cả vẻ đẹp, tuổi xuân để chờ anh trở về Nhưng rồi sau ngày hòa bình không có một người lính nào trở lại làng chị được và chị Túc thì đã bước sang tuổi ba lăm, hàng ngày “lặng lẽ đến bưu điện lục tìm điên cuồng trong đống thư gửi từ miền Nam Chị câm lặng làm việc mò kim đáy bể ấy suốt cả tháng ròng” mà “vẫn không thấy dấu hiệu nhỏ nào của những người từng hẹn” (tr.97) Còn chị Quỳ thì đã kịp được có rất nhiều tình yêu mãnh liệt như anh tiểu đoàn trưởng đã hi sinh, như Hậu, như kỹ sư P., đặc biệt Quỳ đã làm được cái việc “tày trời” lúc ấy là đáp ứng nguyện vọng của người lính trẻ ngày mai vào trận, không sợ chết, chỉ tiếc là chưa được biết thân thể một người con gái Quỳ đã là người chị, người mẹ, người yêu trong lần cho anh lính trẻ được biết mùi đàn bà Chỉ có tình yêu mạnh mẽ, cao thượng với người chiến sĩ lúc lâm
Trang 40trận mới có được sự ứng xử như Quỳ (trong một xã hội, một thời kỳ mà cái “trinh tiết” đồng nghĩa với “phẩm tiết”) Và những kẻ nào lúc ấy hay sau này lên giọng đạo đức phê phán hành động của Quỳ chính là những kẻ vô cảm và không hiểu gì trái tim, tâm hồn, tình cảm, sự dâng hiến của người phụ nữ cả! Đấy cũng chính là chỗ cao thượng của tính nữ Kết cục số phận, chị Túc “sắp tuổi bốn mươi”, “da mặt xanh xao, hơi có dấu hiệu phù nề”, trở thành một thân phận héo mòn, cô đơn, “rồi
cả làng lại thấy chị Túc ra đi, âm thầm như con vạc lẻ đàn Lần này chị đi là đi một biệt”! (tr.98) Còn người đàn bà đẹp đẽ, giỏi giang Quỳ thì trở thành người bệnh hoang tưởng, vật vờ đi lại, ban đêm nhòm ngó vào từng phòng của bệnh viện! Sau
này Chu Lai cũng viết tiếp một truyện ngắn Bức chân dung của người đàn bà lạ,
[50, tr.313] hồi ức về một cô giao liên trong lán nhỏ rừng già một đêm mưa với
người họa sĩ trẻ đã hiến dâng cho anh tất cả Sau đêm đó mỗi người ra đi vào chiến trận, đến cái tên cô anh cũng không biết Biền biệt nhau khi mỗi người đã có gia đình, cô từ giã anh khi cơn bạo bệnh đã vào độ cuối và để con gái cô đến gặp họa sĩ lấy bức chân dung mà cô đã lặn lội 200 cây số đến đặt anh vẽ sáu tháng trước đây
Cô không quên anh, dẫu chỉ là khoảnh khắc gặp anh trong chiến tranh, bởi “Đó là mối tình đầu, là lần dâng hiến thứ nhất, trọn vẹn và say đắm không bao giờ có được nữa” (tr.94) Chu Lai đã mượn lời của cô nói về giới mình: “Lạ thế! Trong trái tim yếu đuối của đàn bà chúng em, có những góc sâu lắng mà đàn ông các anh ồn ào không bao giờ hiểu nổi đâu” (tr.96) Đúng là phải hiểu như thế mới giải thích được
sự tận hiến của người đàn bà trong những cảnh huống cụ thể mà không được dung tục hóa, tầm thường hóa nó! Truyện ngắn còn viết về rất nhiều những tình người
cương quyết, mạnh mẽ như Vũ điệu địa ngục (Võ Thị Hảo), quyết liệt như Cát đợi (Nguyễn Thị Thu Huệ), dâng hiến không tính toán như Chiếc lá xanh hạnh phúc
(Nguyễn Thị Ấm),…Tất cả thể hiện cái tình người sao mà kinh sợ, mà tàn nhẫn
Phải chăng, nói như Võ Thị Hảo: “Thế hệ chúng con khác mẹ Chúng con đi đến tận
cùng nên nhiều khi tàn nhẫn”?! [cd 74, tr.192]
Dĩ nhiên, khi nói về tình cảm và những mối quan hệ nhiều chiều trong truyện ngắn sau 1975 không thể không đề cập đến tình yêu và hôn nhân - sự đắm đuối nhưng cũng đầy dang dở và bi kịch Truyện đã thể hiện mọi cung bậc cảm xúc của tình cảm này bằng đủ sắc màu và dạng thức
Có những tình yêu trẻ thơ, hồn nhiên mà đắm đuối, say mê đến bất chấp như
cô gái trong Hậu thiên đường của Nguyễn Thị Thu Huệ [44, tr.280] Người đàn bà
góa đã ở tuổi bốn mươi bao lâu nay chỉ vui sống ở những nơi “nhạc dìu dặt Những ngọn đèn mờ ảo và ngào ngạt trăm nghìn loại nước hoa” và “luôn ở ngoan ngoãn trong tay hết người đàn ông này đến người đàn ông khác nhưng của ai cụ thể thì không có” (tr.282, 283), đến nỗi “lâu nay tôi để tuổi thơ của con trôi qua trong nỗi buồn của sự cô đơn và hứng chịu nỗi cay đắng của người đàn bà bị phụ bạc” Sinh nhật mười sáu tuổi của cô gái cũng là thời khắc kết thúc cuộc đời của bà mẹ khi bà
đi tìm con trong tâm trạng hoang mang vô định và gặp tai nạn ô tô Nhật ký cô gái