1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu thuyết bùi anh tấn từ góc nhìn liên văn bản

126 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 5,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong Bí mật hậu cung, Bùi Anh Tấn không những biết cách tháo gỡ sự căng thẳng của các tình tiết một cách bất ngờ, mà còn biết hãm và kéo dài sự căng thẳng đó bằng việc đan cài vào mạch

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

THÁI THỊ THU THỦY

TIỂU THUYẾT BÙI ANH TẤN

TỪ GÓC NHÌN LIÊN VĂN BẢN

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM

Đà Nẵng - Năm 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

THÁI THỊ THU THỦY

TIỂU THUYẾT BÙI ANH TẤN

TỪ GÓC NHÌN LIÊN VĂN BẢN

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60 22 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM

Người hướng n ho họ : TS BÙI BÍCH HẠNH

Đà Nẵng - Năm 2017

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Giới thuyết thuật ngữ 5

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Đóng góp của luận văn 7

7 Cấu trúc luận văn 8

CHƯƠNG 1 KHUYNH HƯỚNG SÁNG TÁC CỦA BÙI ANH TẤN TRONG DÒNG CHẢY VĂN XUÔI VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 9

1.1 TIỂU THUYẾT BÙI ANH TẤN - TỪ “ĐỘC SÁNG” ĐỀ TÀI ĐỒNG TÍNH 9 1.1.1 Văn học đồng tính – dòng chảy “lạc loài” trong văn xuôi Việt Nam đương đại 9

1.1.2 Bùi Anh Tấn - “Nhà văn của giới đồng tính” 12

1.2 …ĐẾN KHUYNH HƯỚNG NGOẠI BIÊN HÓA 19

1.2.1 Khái niệm ngoại biên và ngoại biên hóa 19

1.2.2 Tiểu thuyết Bùi Anh Tấn giữa lằn ranh trung tâm – ngoại biên 21

1.3 QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT CỦA NHÀ VĂN 24

1.3.1 “Nghệ thuật là sự không ràng buộc” 24

1.3.2 Viết văn là cơ duyên 27

1.3.3 “Không tô hồng hay bôi đen” 29

CHƯƠNG 2 TIỂU THUYẾT BÙI ANH TẤN - SỰ TƯƠNG TÁC CÁC MÃ TƯ DUY NGHỆ THUẬT 33

2.1 “VA CHẠM ĐÔNG –TÂY”- CỘNG SINH VĂN HÓA 33

2.1.1 Carnival hóa và tín ngưỡng bản địa 34

2.1.2 Lồng ghép diễn ngôn tôn giáo: Phật - Nho - Lão 50

2.2 GIẢI THIÊNG LỊCH SỬ VÀ TÍNH ĐỐI THOẠI 61

Trang 5

2.2.1 Con người đồng tính - quan niệm cởi mở tính dục 62

2.2.2 Con người hiện sinh - cảm thức cô đơn, lạc loài 67

CHƯƠNG 3 TIỂU THUYẾT BÙI ANH TẤN - SỰ “LIÊN PHỐI” CÁC MÃ HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT 71

3.1 LIÊN THỂ LOẠI – TRIỂN HẠN KHÔNG GIAN TỰ SỰ 71

3.1.1 Hòa phối các văn bản thể loại 72

3.1.2 Tương tác giữa các văn bản ngoài văn học 81

3.2 XẾP CHỒNG VĂN BẢN - MỔ XẺ HIỆN THỰC “THẬM PHỒN” 84

3.2.1 Từ cận văn bản 84

3.2.2 … đến chồng lấn trong các lớp văn bản nội tại 88

3.3 DUNG HỢP CÁC PHONG CÁCH NGÔN NGỮ 92

3.3.1 Sự xâm lấn ngôn ngữ dung tục, “phố phường” 92

3.3.2 Sự phối kết ngôn ngữ kính nhã, cổ trang 96

KẾT LUẬN 100 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Văn chương đến giờ đã không còn là “vườn cấm”, không còn là “địa hạt” chỉ dành cho những đề tài thanh cao, tao nhã mà đã là không gian nghệ thuật của những miền tâm thức/ tâm linh sáng tối của loài người, góc khuất trong cuộc sống cũng như trong tâm hồn con người Tiểu thuyết được coi là thể loại “chủ soái”, là cỗ

“máy cái”, là “xương sống” của văn học Bằng việc đổi mới tư duy nghệ thuật và quan niệm thể loại, tiểu thuyết sau năm 1986, vượt qua khung cấu trúc thể loạitruyền thống, đã đa dạng hoá các kiểu hình nhân vật, mở rộng khả năng khám phá nhiều mặt khác nhau trong con người; thể hiện sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người M Kundera cho rằng: “Tất cả tiểu thuyết, ở mỗi thời đại, đều liên quan đến cái ẩn mật của bản ngã” [dẫn theo 1] Có lẽ vì thế mà thế hệ nhà văn đầu thế kỉ XXI đã chọn tiểu thuyết để phản tư/ phản tỉnh, đối thoại/ giải thiêng, giễu nhại/ mô phỏng… như là cứu cánh của sự giải phóng/ vượt thoát cái tôi đầy “ẩn mật” Trong số đó ( Nguyễn Bình Phương, Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Ngọc Thuần, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Danh Lam, Trần Nhã Thụy, Nguyễn Đình

Tú, Đỗ Bích Thúy, Phong Điệp,…), Bùi Anh Tấn được coi là nhà văn mở đường

cho dòng văn học đề tài đồng tính (tiểu thuyết tính dục) với Một thế giới không có đàn bà Nhà văn còn không ngừng thể nghiệm ngòi bút đầy trăn trở qua những chủ

đề hiện sinh mang tính đối thoại ở tiểu thuyết Phố ba nhà Nỗ lực làm mới tiểu

thuyết lịch sử của ông cũng đã được các nhà nghiên cứu, phê bình đánh giá cao qua

các tiểu thuyết Nguyễn Trãi, Đàm đạo về Điều Ngự Giác Hoàng, Bí mật hậu cung

Trong vòng 10 năm, ông đã cho ra đời 3 tập truyện ngắn, 2 kịch bản truyền hình và một màn ảnh rộng, hơn chục tiểu thuyết ở hầu khắp các khuynh hướng tiểu thuyết đương đại Việt Nam Với những đóng góp đáng kể cho văn học đương đại, người đọc không thể không nhắc đến một cây bút đầy tâm huyết và nỗ lực cách tân mang tên Bùi Anh Tấn Với chúng tôi, Bùi Anh Tấn là gương mặt tiểu thuyết mới mẻ, hứa

Trang 7

hẹn những nẻo tiếp nhận đồng sáng tạo ở độc giả đương đại Đó là lí do chúng tôi tìm đến trong xu hướng đối thoại với các tác phẩm tiểu thuyết của ông

1.2 Cũng như các loại hình nghệ thuật, văn chương không nằm ngoài dòng chảy vận động và phát triển Ở thế kỉ XX, người ta chứng kiến sự ra đời, phát triển của nhiều trường phái văn học vốn tiếp biến, ảnh hưởng thậm chí phủ nhận nhau khiến đời sống văn học trở nên sôi động, đa dạng, phức tạp Một trong những phương diện đáng quan tâm và làm nên đặc trưng của văn học hậu hiện đại là lý thuyết về liên văn bản (intertext) “Liên văn bản (tiếng Pháp: Intertextualité; tiếng Anh: Intertextuality) là một trong thuật ngữ cơ bản trong việc giải mã tác phẩm nghệ thuật hậu hiện đại Nó không chỉ được dùng như một phương tiện phân tích văn bản văn học mà còn để xác định cảm quan về thế giới và bản thân con người đương đại, đó là cảm quan hậu hiện đại” [26] Như một xu hướng tất yếu của thời đại, văn học Việt Nam đương đại đã từng bước tiếp nhận và có những thể nghiệm lý thuyết liên văn bản vào trong sáng tác cũng như nghiên cứu, phê bình văn học Tiếp bước những lối viết như Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái, Phạm Thị Hoài, Võ Thị Hảo,… Bùi Anh Tấn đã có nhiều dụng công trong việc vận dụng thủ pháp liên văn bản trong sáng tác của mình

1.3 Việc tìm hiểu tính liên văn bản trong sáng tác của các nhà văn hiện đại Việt Nam là một vấn đề không mới Đã có nhiều bài báo, nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về liên văn bản trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái, Võ Thị Hảo,… Đối với sáng tác của Bùi Anh Tấn, cho đến nay, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào tiếp cận một cách hệ thống tính liên văn bản trong tiểu thuyết của ông Để thấy được nỗ lực cách tân trong bút pháp cũng như dấu ấn hậu hiện đại trong sáng tác của nhà văn còn nhiều bỏ ngỏ này, chúng tôi quyết định

lựa chọn thực hiện đề tài: Tiểu thuyết Bùi Anh Tấn từ góc nhìn liên văn bản

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Mặc dù gần 20 năm Bùi Anh Tấn trình làng văn xuôi với số lượng tiểu thuyết đáng kể, song vẫn còn ít công trình nghiên cứu bài bản về tiểu thuyết của ông như một hiện tượng văn học ngoại biên trong đời sống văn học đương đại Việt Nam

Trang 8

Nghiên cứu tiểu thuyết Bùi Anh Tấn dưới góc nhìn hậu hiện đại mới chỉ dừng lại ở một số bài báo

Trong bài viết Khuynh hướng “ngoại biên hóa” trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1986, Nguyễn Văn Hùng đánh giá khái quát về tiểu thuyết lịch sử của Bùi

Anh Tấn cùng với các tác giả từ “khuynh hướng ngoại biên hóa”: “Trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh, Võ Thị Hảo, Nguyễn Quang Thân, Nguyễn Mộng Giác, Bùi Anh Tấn,… các tác giả đã không hài lòng với cái nhìn phiến diện, một chiều khi viết về các vĩ nhân, anh hùng trong lịch sử Họ không quan tâm nhiều đến

“tư thế lịch sử” của nhân vật, không miêu tả con người trong khi mặc quân phục diễu hành, mà chú trọng khai thác yếu tố đời tư cũng như tấn bi kịch cá nhân trong dòng chảy lịch sử” [25] Bùi Việt Thắng xếp tác phẩm của Bùi Anh Tấn vào dòng

“tiểu thuyết thân xác” khi đưa ra những đánh giá về dòng văn học này trong văn học

đương đại Việt Nam [73] Thái Phan Vàng Anh đặt Bí mật hậu cung vào khuynh

hướng tiểu thuyết lịch sử với ý nghĩa “phản tư lịch sử”: “Không nhằm kể lại lịch sử

và giáo huấn, không tuân thủ mô hình của tiểu thuyết lịch sử truyền thống theo kiểu chương hồi khách quan, khuynh hướng tiểu thuyết tân lịch sử hướng đến luận giải quá khứ trên tinh thần đối thoại, giải thiêng cùng với những hoài nghi về những “đại

tự sự” của lịch sử (các tư tưởng, học thuyết, các tôn giáo, tín ngưỡng, các huyền thoại, cổ mẫu )” [2] Nguyễn Văn Hùng cũng có ý kiến về tác phẩm tiểu thuyết lịch sử này ở phương diện diễn ngôn [27]

Nghiên cứu về liên văn bản trong tiểu thuyết Bùi Anh Tấn, cho đến nay, chỉ

mới có tác giả Nguyễn Văn Hùng với bài viết Liên văn bản thể loại và tính đối thoại trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1986 [26] có đánh giá yếu tố liên văn

bản trong tiểu thuyết Bùi Anh Tấn nhằm chứng minh vấn đề Bài viết xoay quanh hai luận điểm:

- Thứ nhất, về “sự tương tác các văn bản thể loại và loại hình nghệ thuật”, tác

trong tiểu thuyết lịch sử giai đoạn đổi mới sau 1986: “Thơ được “motif hóa”, do nhân vật đọc hoặc hát, một mặt là phương thức “trưng bày” tâm trạng, bộc lộ suy

Trang 9

nghĩ một cách gián tiếp, mặt khác là hình thức để tác giả chuyển tải tư tưởng, triết lí

nhân sinh sâu sắc Trong Bí mật hậu cung, Bùi Anh Tấn không những biết cách

tháo gỡ sự căng thẳng của các tình tiết một cách bất ngờ, mà còn biết hãm và kéo dài sự căng thẳng đó bằng việc đan cài vào mạch phát triển của câu chuyện những bài thơ vô cùng thú vị (27 bài thơ Đường và 2 bài thơ Việt)”.Tác giả còn minh họa tác phẩm Bùi Anh Tấn ở sự tương tác các loại hình nghệ thuật và mở rộng đường

biên đề tài: “(…) các thủ pháp, kĩ thuật dán ghép, đồng hiện của điện ảnh (Hội thề, Giàn thiêu, Bí mật hậu cung, Bức huyết thƣ)… Đường biên thể loại được mở rộng,

xóa nhòa khi các nhà văn có nhiều thể nghiệm rất thú vị khi có sự kết hợp giữa đề

tài đồng tính, võ hiệp huyền ảo với đề tài lịch sử (Bí mật hậu cung, Bức huyết thƣ)”

- Thứ hai, “Tính đối thoại và mối tương liên nhà văn – văn bản – độc giả” Khi bàn về tính đối thoại trong tiểu thuyết lịch sử sau 1986, tác giả nhận định: “Bên cạnh những đối thoại về lịch sử, văn hóa, tư tưởng, các tiểu thuyết gia còn đối thoại với người đọc những vấn đề liên quan đến các nhân vật, đặc biệt là những thần tượng của dân tộc Ở đây, chúng tôi nhấn mạnh đến hai xu hướng đối thoại, một là

xu hướng nhằm chiêu tuyết, “thiêng hóa” vai trò, công tích của các nhân vật, hai là

xu hướng “giải thiêng” các thần tượng, anh hùng dân tộc (…)Với cùng một cảm

thức đó, Bùi Anh Tấn trong Bí mật hậu cung đã “giải thiêng” anh hùng dân tộc Lí

Thường Kiệt bằng việc xây dựng nên mối tình đồng tính kì lạ giữa Lí Thường Kiệt

và đương kim thái tử Nhật Tông”

Nhìn chung, dựa vào nguồn tài liệu chính từ các tham luận và những bài báo khoa học, chúng tôi nhận thấy vẫn còn thiếu những công trình nghiên cứu chuyên sâu về liên văn bản trong tiểu thuyết Bùi Anh Tấn Đề tài của chúng tôi sẽ tiếp thu những nghiên cứu trước, đồng thời tiếp tục khám phá, đào sâu, mở rộng những tầng vỉa còn ẩn tàng trong tác phẩm Bùi Anh Tấn nhằm giải mã vấn đề liên văn bản trong tiểu thuyết của ông một cách toàn diện hơn

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1.Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tiểu thuyết Bùi Anh Tấn, cụ thể, đề tài tập

trung vào 7 tiểu thuyết:

Trang 10

- Một thế giới không có đàn bà (2000), Nxb Công an nhân dân, Tp Hồ Chí Minh

- Les - vòng tay không đàn ông ( 2005), Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh

- Phố ba nhà (2007), Nxb Công an nhân dân, Tp Hồ Chí Minh

- Phương pháp của A.C Kinsey (2008), Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh

- Không và Sắc ( 2008), Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh

- Bí mật hậu cung (2012), Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội

- Thám tử yêu (2014), Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là những biểu hiện của liên văn bản trong tiểu thuyết Bùi Anh Tấn; trong đó, chúng tôi tập trung vào những vấn đề chính là liên văn bản xét từ góc độ tư duy nghệ thuật: văn hóa, lịch sử và tương tác trong những biểu hiện hình thức nghệ thuật

4 Giới thuyết thuật ngữ

Liên văn bản (intertextuality) là một khái niệm lí luận xuất hiện tại phương Tây từ những năm 60 Lịch sử khái niệm liên văn bản cho thấy bản thân khái niệm này đã có sức hút rất lớn với nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ và lí luận văn học, từ F.de Saussure, M.Bakhtin, đến J Kristeva, R Barthes, Genette Nhìn chung mỗi người có những trường nhìn khác nhau, cách giải thích khác nhau nhưng tựu trung lại có hai trường phái chính: một bên coi liên văn bản như thủ pháp tổ chức văn bản, một bên liên văn bản được hiểu như là thuộc tính bản thể của mọi văn bản

Coi liên văn bản như thủ pháp tổ chức văn bản là hướng tiếp cận mang tính thực tiễn, giới hạn tiếp cận liên văn bản qua nghiên cứu mối quan hệ giữa văn bản này và các văn bản khác Các mối quan hệ liên văn bản như thế thường được quy về các hình thức như sự mô phỏng, ám chỉ, trích dẫn, đạo văn, giễu nhại, pha trộn thể loại…

Với quan niệm coi liên văn bản là thuộc tính bản thể của mọi văn bản, trên cơ

sở nền tảng : “không có gì ở ngoài văn bản”, các nhà lí luận đi đến chỗ cho rằng mọi văn bản đều là liên văn bản Các văn bản được xem như là “bức khảm các trích

dẫn” và “ không gian tiếng vọng”/ không gian văn hóa của các hình thức diễn ngôn

Trang 11

khác nhau được di truyền Chính vì vậy, khi xếp chồng lên nhau các văn bản, cho phép người nghiên cứu tìm thấy những mã văn bản: mã văn hóa, mã lịch sử… mà trung tâm của nó là mã của hình tượng văn học Đồng thời, “ tác giả không còn ở vị trí người khai sáng hay độc quyền chi phối tư tưởng phát sinh từ các lớp văn bản”/

“tác giả đã chết” Quyền lực duy nhất của người viết là “trộn lẫn” các văn bản lại với nhau và không có văn bản nào là thống trị ở đó

“Tính liên văn bản như mối quan hệ giữa các văn bản, như một tiến trình tạo tác những kết nối giữa các văn bản hiện tại và quá khứ bằng những đường nối liên văn bản (intertextual links); như quá trình đồng vị hóa các văn bản khác nhau trong không gian một văn bản mà trải nghiệm của người đọc có vai trò quan trọng” [31, tr.17]

Như vậy, cho đến nay, nội hàm cụ thể của liên văn bản vẫn chưa thể gọi là

“đông cứng” Trong khuôn khổ nghiên cứu này, dựa trên những nét tương đồng cơ bản trong các quan niệm trên, chúng tôi đưa ra cách hiểu về liên văn bản như sau: Liên văn bản là sự tương tác giữa các văn bản với nhau; một văn bản được dẫn dụ

từ nhiều ý tưởng của các tiền văn bản, là sự đan dệt bởi rất nhiều những mối tương

hệ khác nhau; tạo thành sự chồng chất các mã văn bản, hay còn gọi là “văn bản đa bội” Trong một khung cảnh văn bản luôn trầm tích thông tin từ những tiền văn bản,

ở đó chúng tự “đối thoại”, soi chiếu và “đáp ứng” lẫn nhau trong mạch ngầm văn bản; hoặc biểu hiện như những thủ pháp văn học: motif, hình tượng; sự mô phỏng, giễu nhại, nhại, vay mượn, đạo văn, trích dẫn, dẫn dụ, ám chỉ, chuyển dịch, biến đổi, pha trộn thể loại, đọc sai,…

Sự ra đời của khái niệm liên văn bản đã làm thay đổi nội hàm khái niệm này Liên văn bản tạo nên sức sống vững bền cho sự tồn tại tác phẩm Liên văn bản mở rộng biên độ giao tiếp giữa nhà văn và độc giả, độc giả và tác phẩm; trong đó vai trò của độc giả được nhấn mạnh trong quá trình tiếp nhận và phái sinh văn bản khai sinh Liên văn bản mở ra hướng nghiên cứu đi sâu khai thác những tiềm năng ngữ nghĩa đa tầng vỉa của văn bản văn học Chúng tôi cho rằng hướng nghiên cứu này hứa hẹn những gặp gỡ, va chạm không chỉ trong nội tại không gian văn học mà mở

ra những tương tác liên văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa

Trang 12

5 Phương pháp nghiên ứu

5.1 Vận dụng lý thuyết liên văn bản : Vận dụng lý thuyết liên văn bản để

tìm hiểu, khảo sát và chỉ ra các biểu hiện của tính liên văn bản trong tiểu thuyết Bùi

Anh Tấn

5.2 Phương pháp cấu trúc - hệ thống : Đặt tiểu thuyết Bùi Anh Tấn trong

bối cảnh văn học - văn hóa Việt Nam, trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam đương đại; từ đó thấy được bản sắc của tiểu thuyết Bùi Anh Tấn trong mạng lưới văn bản

văn bản tiểu thuyết Bùi Anh Tấn như một liên văn bản, đặt nó trong mạng lưới quan

hệ với các văn bản khác và xem xét nó qua những quan hệ và đối thoại liên văn bản

(intertextual relationship/dialogues); từ đó có những đánh giá, kết luận cần thiết

5.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp: Từ các liên văn bản trong tiểu thuyết

Bùi Anh Tấn, người viết phân tích hiệu quả thẩm mĩ của các dấu chỉ nghệ thuật đó

để khái quát những dạng thức liên văn bản và ý nghĩa của chúng trong việc tạo nên diện mạo tiểu thuyết Bùi Anh Tấn

5.4 Phương pháp so sánh, đối chiếu: Vận dụng sự tham chiếu đồng đại, lịch

đại để thấy sự tương đồng và khác biệt giữa Bùi Anh Tấn với một số hiện tượng tiểu thuyết khác, đồng thời tham chiếu trong nội tại những tiểu thuyết của tác giả để phát hiện những đặc trưng liên văn bản trong tiểu thuyết Bùi Anh Tấn nói chung; qua đó, làm rõ những nỗ lực cách tân trong kĩ thuật viết của nhà văn này

5.5 Phương pháp loại hình: Do tính chất liên văn bản của tiểu thuyết có

những đặc trưng khu biệt về những dấu chỉ thể loại; vì vậy, để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng phương pháp loại hình để làm cơ sở lí thuyết thể loại phân định

đặc trưng liên văn bản trong tiểu thuyết Bùi Anh Tấn

Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp bổ trợ khác trong quá trình thực hiện đề tài

6 Đóng góp ủa luận văn

Luận văn là một tập hợp có hệ thống, có chọn lọc và có nhiều phát hiện về hiện tượng văn xuôi Bùi Anh Tấn qua cái nhìn nghiên cứu liên văn bản

Nghiên cứu tiểu thuyết Bùi Anh Tấn từ góc nhìn liên văn bản, chúng tôi mong rằng người đọc sẽ tiếp nhận tác phẩm Bùi Anh Tấn với một tâm thế mới Từ đó,

Trang 13

nhận ra một ý thức lao động nghệ thuật tận tụy, chấp nhận thử thách để làm mới ngòi bút; một tấm lòng thấu cảm, tri âm với những thân phận lạc loài; một vốn tri thức uyên bác về văn hóa, tôn giáo và một tư tưởng đối thoại sắc sảo, thẳng thắn;… Trên những nẻo đường tiếp nhận của bạn đọc hiện đại/ đương đại, chúng tôi tin tinh thần liên văn bản trong tác phẩm Bùi Anh Tấn sẽ làm nên sức vẫy gọi

những tâm hồn đồng sáng tạo

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Khuynh hướng sáng tác của Bùi Anh Tấn trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam đương đại

Chương 2: Tiểu thuyết Bùi Anh Tấn - Sự tương tác các mã tư duy nghệ thuật Chương 3: Tiểu thuyết Bùi Anh Tấn - Sự “liên phối” các mã hình thức nghệ thuật

Trang 14

CHƯƠNG 1 KHUYNH HƯỚNG SÁNG TÁC CỦA BÙI ANH TẤN

TRONG DÒNG CHẢY VĂN XUÔI VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

1.1.1 Văn học đồng tính – dòng chảy “lạc loài” trong văn xuôi Việt Nam đương đại

Theo Wikipedia, đồng tính luyến ái, gọi tắt là đồng tính, là thuật ngữ chỉ việc

bị hấp dẫn trên phương diện tình yêu, tình dục hoặc việc yêu đương hay quan hệ tình dục giữa những người cùng giới tính với nhau trong hoàn cảnh nào đó hoặc một cách lâu dài Nếu là nam với nam thì gọi là “gay”, nữ với nữ gọi là “lesbian”, gọi tắt là les Họ được coi là “thiểu số tình dục” Với vai trò là một thiên hướng tình dục, đồng tính luyến ái là một mô hình bền vững của sự hấp dẫn tình cảm, tình yêu,

và / hoặc hấp dẫn tình dục một cách chủ yếu hoặc duy nhất đối với người cùng giới tính Đồng tính luyến ái cùng với dị tính luyến ái và song tính luyến ái, là ba dạng chủ yếu của thiên hướng tình dục con người, thuộc thang liên tục dị tính - đồng tính (Thang Kinsey) Đồng tính luyến ái bản chất là một biến thể bình thường và tích cực của tính dục con người, không phải là một "bệnh" hay sự lệch lạc tâm lý, và không phải là nguyên nhân gây ra các hiệu ứng tâm lý tiêu cực Đồng tính luyến ái được chia làm hai dạng: kín và mở Những đối tượng thuộc dạng mở không che giấu tình trạng của mình, thường thích mặc trang phục của người khác giới Người thuộc dạng kín, ngược lại, không dám công khai tình trạng của mình Họ có bề ngoài hết sức bình thường nhưng trong thâm tâm chỉ thích quan hệ tình dục với người cùng giới

Có nhiều giả thuyết về các yếu tố hình thành nên thiên hướng tình dục đồng tính, trong đó có hai yếu tố mang tính xã hội Thứ nhất là “Sự tương quan với môi trường sống”: đồng tính luyến ái có tương quan với sự đô thị hóa của nơi đối tượng

ở lúc 14 tuổi (độ tuổi bắt đầu dậy thì và có sự định hình về hấp dẫn giới tính) Sự tương quan ở nam cao hơn ở nữ Mức đô thị hóa càng cao thì tỷ lệ đồng tính càng

Trang 15

có xu hướng tăng, nguyên nhân vì ở các thành phố lớn có các chuẩn mực đạo đức lỏng lẻo hơn, lối sống cá nhân cao hơn cũng như có nhiều tác động văn hóa - xã hội khó kiểm soát, khiến vị thành niên tại đó dễ có thiên hướng đồng tính hơn Thứ hai

là “Ảnh hưởng từ văn hóa xã hội: Khuôn mẫu tình dục của mỗi cá nhân là một sản phẩm của văn hóa xã hội Những xã hội có xu hướng chấp nhận đồng tính thì sẽ có nhiều cá nhân có khuynh hướng đồng tính hơn”

Xuất phát từ những yếu tố hình thành ấy, đồng tính luyến ái đã trở thành một hiện tượng xã hội, “mảnh ghép” hiện thực tất yếu trong đời sống con người từ xưa đến nay Vì thế, đồng tính cũng là đề tài của văn học Việt Nam, đặc biệt là văn học đương đại

Sau năm 1986, văn xuôi đương đại Việt Nam đã có những bước chuyển mình đầy năng động mang tinh thần hiện đại của một thể loại “chưa hoàn kết” Như một cuộc chạy tiếp sức bền bỉ, các thế hệ nhà văn Việt Nam lấy điểm mốc 1986 làm “cú hích” hoặc “điểm xuất phát lại” cho hành trình “thay máu” văn xuôi dân tộc trong thời kì đổi mới Trong từng chặng đường, hành trình của văn học đã có những chuyển động qua sự tiếp nối các thế hệ nhà văn tạo nên dòng chảy chung để văn học Việt có thể vươn tới biển lớn hội nhập

Dấu hiệu chuyển đổi cơ bản đầu tiên của văn xuôi đương đại Việt Nam là sự đổi mới trong quan niệm về nhà văn gắn với những chuyển đổi về bản chất, chức năng của văn học Từ chỗ hiện diện như người chiến sĩ, nhà văn đã dần ý thức sâu sắc về vai trò “người nghệ sĩ - nhà tư tưởng”, nhập cuộc bằng cả nhiệt tình, ý thức công dân và tư tưởng riêng của mình Tiếp đến là sự đổi mới quan niệm về hiện thực Hiện thực trong văn xuôi đương đại là hiện thực đa dạng, nhiều chiều, ẩn chứa biết bao điều phức tạp, đòi hỏi nhà văn phải “suy ngẫm”, phải đi sâu khám phá Chính sự đổi mới quan niệm về hiện thực đã mở rộng biên độ, đem lại cho văn xuôi nhiều nội dung phong phú, mới mẻ Cái nhìn thế sự - đời tư thực sự giữ vai trò cốt

yếu trong cảm quan nghệ thuật của nhà văn “Văn xuôi đã nghiền ngẫm những vùng thẩm mĩ mới mẻ, gai góc mang tính đối thoại, phản tƣ, thậm chí những vấn đề kiêng

kị trước đó: đời sống bản năng tính dục,…” [22] Đó là mảng hiện thực, mạch ngầm

Trang 16

đã tồn tại trong đời sống hiện đại như dòng chảy “lạc loài”, chờ ngày ra được biển rộng Văn xuôi đương đại còn đổi mới sâu sắc trong quan niệm nghệ thuật về con người: từ con người lịch sử, con người cộng đồng đến con người cá nhân đầy phức tạp và bí ẩn Con người là một “tiểu vũ trụ” được khám phá trên nhiều bình diện: con người xã hội, con người tự nhiên (bản năng) và con người tâm linh

Cùng với những đổi mới là sự kế thừa, tiếp nối các thế hệ nhà văn Xuất hiện trong cao trào đổi mới, thế hệ nhà văn mới vừa là sản phẩm của thời đại vừa góp phần đáng kể tạo nên sự đổi mới tư duy và thành tựu của văn học đổi mới Một số cây bút thuộc thế hệ này như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái … đã tạo được những “đột biến” trong đời sống văn học Sáng tác của họ đã đem lại cho văn xuôi cả cái “mới” và cái “lạ” Ở đó, văn chương thực sự là tiếng nói của ý thức cá nhân với tinh thần thẩm mĩ mới, trong tinh thần và yêu cầu đổi mới của thời đại

Một thế hệ kế tiếp đã hình thành trong giai đoạn hội nhập với Bùi Anh Tấn, Nguyễn Ngọc Thuần, Nguyễn Ngọc Tư, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Danh Lam, Trần Nhã Thụy, Nguyễn Đình Tú, Đỗ Bích Thúy, Phong Điệp,… “Đây là thế hệ nhiều giằng níu (…) mạnh mẽ quyết liệt và dứt khoát hơn Những tác phẩm của họ xoay quanh trạng thái day dứt, tự vấn, hoài nhớ, buồn đau,… của con người cá nhân Họ rời bỏ thế giới huyễn tưởng, phi thực của thế hệ trước để trở về với cái tôi

cá nhân, đào sâu vào cái mong manh, mơ hồ của thế giới tâm hồn, theo dấu những cuộc kiếm tìm, những mất mát nhằm tái dựng lại cái căn cước bản thân” [41].Trong nguồn mạch ấy, văn học viết về đề tài đồng tính xuất hiện như một nhu cầu tự thân

Trong bài viết Trao đổi về văn học đồng tính, cây bút trẻ Nguyễn Quỳnh

Trang khi được hỏi: “Chị nhìn nhận như thế nào về “thế giới thứ ba” đã và đang tồn

tại trong cuộc sống và trong văn chương?”, chị đã khẳng định: Người viết văn có khả năng viết lên không chỉ những cái hiện hữu tồn tại mắt thấy tai nghe tay sờ trong cuộc sống, mà còn cần biết tìm ra nhiều góc khuất ẩn giấu phía sau những hiện tượng, hành động, sự lựa chọn cách sống của từng cá nhân Khi chúng ta còn thiếu thốn từ bữa ăn, manh áo, thì nhu cầu viết/ nói ra những ẩn ức tâm lý cá nhân

Trang 17

là điều xa xỉ Khi vật chất đủ đầy, con người được sống giữa tự do ngôn luận hơn hẳn so với ngày trước, thì vấn đề đồng tính được phơi bày [43]

Quả thật, đã đến lúc văn học tự làm giàu có, bồi đắp những giá trị mới mẻ cho mình bằng những chắt chiu, trân trọng các mảng tối của cuộc sống con người và con người đồng tính Mười năm trở lại đây, độc giả Việt Nam không còn xa lạ với khái niệm văn học đồng tính Hiện tượng văn chương này đã tồn tại trong tác phẩm từ nghệ thuật văn chương đến nghệ thuật điện ảnh, âm nhạc Dấu ấn nó để lại mạnh

mẽ nhất là trong thể loại văn xuôi bao gồm truyện ngắn và tiểu thuyết như: Một thế giới không có đàn bà, Les–Vòng tay không đàn ông, Phương pháp của A.C.Kinsey,

Bí mật hậu cung, Thám tử yêu (Bùi Anh Tấn), Sông (Nguyễn Ngọc Tư), Nháp (Nguyễn Đình Tú), Vân Vi (Thuận), 1981 (Nguyễn Quỳnh Trang),… Những tác

phẩm này đã tạo ra cơn sóng trong dòng chảy của văn học Việt Nam những năm đầu thế kỉ XXI và đã nhận được sự phản hồi đa chiều từ cộng đồng tiếp nhận Trần Ngọc Hiếu trong một bài báo nghiên cứu về văn học đồng tính đương đại đã có nhận xét: “Tuy chưa có điều kiện khảo sát kỹ nhưng chúng tôi cho rằng về số lượng, các tác phẩm văn học được xếp vào dòng “queer” hiện nay khá phong phú Thậm chí đã bắt đầu có những tác giả thực sự bắt đầu đi sâu vào mảng đề tài đồng tính như Bùi Anh Tấn, Vũ Đình Giang, ” [22] Bùi Anh Tấn cũng khẳng định:

“Dòng văn học đồng tính sau gần hai chục năm vận động cũng đã đạt đến những

“độ chín” nhất định, đặt ra những đòi hỏi lớn hơn, bình đẳng với các đề tài khác…” [47] Phải chăng, dòng chảy “lạc loài” đã “ra biển rộng”?

1.1.2 Bùi Anh Tấn - “Nhà văn của giới đồng tính”

Bùi Anh Tấn là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hội viên Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh Hiện, ông công tác tại Nhà xuất bản Công An Nhân Dân TP.HCM Ông

bắt đầu sáng tác từ những năm đầu thập niên 90 Năm 1999, cuốn tiểu thuyết Một thế giới không có đàn bà ra đời đã lập tức đưa Bùi Anh Tấn trở thành cái tên "hot"

trên văn đàn và đoạt hai giải thưởng: Giải A Cuộc vận động viết tiểu thuyết và ký

về đề tài Vì An ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống 1999-2001; giải A Văn học 10 năm 1995-2005 của Bộ Công an và Hội Nhà văn Việt Nam Từ đó đến nay, ông đã

Trang 18

xuất bản hơn 15 cuốn sách, gồm 10 tiểu thuyết và 5 tập truyện ngắn, sách tư liệu, 1 sách biên soạn, 2 kịch bản phim truyền hình và 1 kịch bản phim màn ảnh rộng Những tác phẩm tiêu biểu:

- Một thế giới không có đàn bà (Tiểu thuyết, chuyển thể thành phim TH 10 tập

trong loạt phim cảnh sát hình sự)

- Bước chân hoàn vũ (Tiểu thuyết)

- Bước chân hoàn vũ (Kịch bản phim truyền hình TH 40 tập, FPT Media)

- Kí ức chiến tranh (Truyện ngắn, HTV dựng thành kịch truyền hình “Món quà tình yêu”)

- Phương pháp của A.C.Kinsey (Tiểu thuyết)

- Les – Vòng tay không đàn ông (Tiểu thuyết)

- Không và sắc (Tiểu thuyết)

- Hành trình của sói (Tiểu thuyết)

- Đàm đạo về Điều Ngự Giác Hoàng (Tiểu thuyết)

- Bí mật hậu cung (Tiểu thuyết)

- Cô đơn (Tập truyện ngắn)

- Thám tử yêu (Tiểu thuyết)…

Bùi Anh Tấn say mê ba mảng đề tài nhạy cảm: đồng tính, tôn giáo, các nhân vật lịch sử gây tranh cãi… sự kiện nóng Với 50% số lượng tác phẩm viết về “thế giới thứ ba” nên ông được mệnh danh là “Nhà văn của giới đồng tính” Đó là “cá tính sáng tạo” và cũng là khuynh hướng nổi bật của nhà văn công an trong dòng chảy văn xuôi đương đại

Không phải ngẫu nhiên mà Sơn Nam gọi Bùi Anh Tấn là “Nhà văn Việt đầu tiên viết tiểu thuyết về người đồng tính” [40] Và hàng loạt những đánh giá khác của báo chí và các nhà nghiên cứu đều có chung nhận định: “Bùi Anh Tấn nổi tiếng với các tiểu thuyết về đề tài đồng tính” [16]; “Phải khẳng định, nhà văn Bùi Anh Tấn là người viết nhiều, viết sâu nhất về những người LGBT trong làng văn Việt Nam đương đại” [37]; “Nhà văn Bùi Anh Tấn được công nhận là nhà văn Việt Nam đầu tiên viết và viết chuyên về đề tài đồng tính (4 tiểu thuyết gây chú ý)” [29]; “Có thể

Trang 19

nói, Bùi Anh Tấn là nhà văn Việt Nam đầu tiên viết tiểu thuyết về người đồng tính” [43]; …Chính tác giả cũng thừa nhận rằng: “Tôi tự hào là mình viết khá đa dạng đề tài, nhưng dĩ nhiên viết về đồng tính chiếm đến 50%” [47] Với những đánh giá trên, chúng tôi có đủ cơ sở để gọi ông là nhà văn “độc sáng” đề tài đồng tính

Nhìn lại văn học hiện đại Việt Nam, người đọc ghi nhận những sáng tác về đề tài đồng tính đã xuất hiện từ trước 1945 ở thể loại thơ trữ tình Nhà thơ Xuân Diệu

nổi tiếng chủ yếu qua thơ tình của ông, và bài thơ Tình trai vẫn là một trong những

phát ngôn sớm nhất về tình yêu đồng giới nam trong văn chương Việt Nam hiện đại Bài thơ đã viết về nhân vật đồng tính trong thơ ca lãng mạn Pháp là Rimbaud

với Verlaine Đặc biệt, với bài thơ Em đi (lời đề tặng Hoàng Cát), Xuân Diệu đã cho

người đọc thấy tình cảm chân thành, tha thiết của ông dành cho người bạn đồng giới Đó không phải là tình bạn thông thường mà trên hết đó là nỗi nhớ, là tình yêu:

Một tấm lòng em sâu biết bao/ Để anh thương mãi, biết làm sao!/ Em đi xa cách,

em ơi Cát/ Em chớ buồn, nghe! Anh nhớ, yêu/ Độc giả cũng có thể thấy được bóng dáng của tình yêu đồng tính trong thơ Huy Cận với những tác phẩm như Vạn lí tình, Mai sau, Ngủ chung Chàng đã giãi bày tình cảm nhớ nhung của mình với Xuân Diệu: Rất thương yêu xin nhớ gọi giùm tên/ Rất an ủi của bạn chàng: Xuân Diệu (Mai sau), bày tỏ những khát khao da thịt: Ân ái xưa kia kiếp ngủ giường/ Đâu nữa tay choàng làm gối ấm/ Còn đâu đôi lứa chuyện canh sương ( ) Nệm là hơi thở, da: chăn ấm/ Xương cọ vào xương bớt nỗi hàn ? (Ngủ chung)

Với thể loại kí, trong Cát bụi chân ai, Tô Hoài đã không ngần ngại khi viết về

tình dục đồng giới của Xuân Diệu: “Giọt gianh lách tách mái nứa gọi đêm về ma quái, rùng rợn, say đắm Bàn tay ma ở đâu sờ vào Không phải Tay người Bàn tay người đầy đặn âm ấm Hai bàn tay đầy đặn xoa lên mặt, lên cổ rồi xuống dần, xuống dần khắp mình trần truồng trong mảnh chăn dạ Chẳng còn biết đường ở đâu, mình là ai, ta là ai, hai cơ thể con người quằn quại, quấn quýt, cánh tay, cặp đùi thừng chão trói nhau lại, thít lại, giằng ra Niềm hoan lạc trong tôi vỡ ra, dữ dội lên, dằn ngửa cái xác thịt kia Rồi như chiêm bao, tôi ngã ra, thống khoái Im lặng Nghe mưa rơi xuống tàu lá chuối trong đêm và cái mệt dịu dàng trong mình Giữa lúc ấy,

Trang 20

hai bàn tay mềm như lụa lại vuốt lên mặt Bàn tay và hơi thở nóng như than bò vào mắt, xuống vú, xuống rốn, xuống bẹn Cơn sướng lại cồn lên cho đến lúc ngã cả

ra, rúc vào nhau Rồi bàn tay dịu dàng lại vuốt lên mặt Lúc này thì tôi lừ lả, tôi nhuôi ra rên ư ử như con điếm mê tơi không nhớ nổi người thứ mấy, thứ mấy nữa ” [24, tr 64 - 65] Những chia sẻ “thật thà” này đã đem lại những cảm xúc tiếp nhận khác nhau trong lòng độc giả: Có sự hẫng hụt, đổ vỡ khi nghĩ về biệt danh

“ông hoàng thơ tình” một thuở; có sự thấu cảm, tri âm với một thân phận lạc loài

mà yêu sống mãnh liệt; có sự phủ nhận “không tin được dù đó là sự thật” Và cũng

có ý kiến cho rằng Tô Hoài đã bất nhẫn với Xuân Diệu… Nhưng phải nói đúng là

Tô Hoài đã dám chạm vào những sự thật “đến tàn nhẫn” mà chính ông là người trong cuộc Để thấy vấn đề đồng tính đã được tự thú trong văn học như một tiếng kêu thương nhức nhối đầy ẩn ức Có lẽ đó chính là những cơn đau “trở dạ” tất yếu của đời sống văn học trước khi ra đời một hiện tượng văn học (văn học đồng tính) được công chúng đón nhận vào những năm đầu thế kỉ XXI

Tiểu thuyết đương đại ghi nhận tác phẩm đầu tay Một thế giới không có đàn

bà của Bùi Anh Tấn là tác phẩm mở đầu cho văn học đồng tính Việt Nam và làm

nên tên tuổi của nhà văn công an, như nhận xét của Trần Thủy: “Với tác phẩm “Một thế giới không có đàn bà” (năm 1999), có thể nói anh đã là người mở đường, khai sáng cho dòng văn học đồng tính tại Việt Nam Để cho đến bây giờ, cứ nhắc đến nhà văn Bùi Anh Tấn, người ta lại nghĩ đến các tác phẩm văn học về người đồng tính” [78] Vài năm sau, tác phẩm đã nhận được giải A trong một cuộc thi do Hội nhà văn Việt Nam kết hợp với Bộ công an tổ chức Thời điểm mà cuốn sách ra đời thì chuyện về những người đồng tính vẫn còn được nói đến rất ít “Người ta có thái

độ nghi kỵ, cấm đoán với những câu chuyện mà người ta không hiểu nổi và không

có bất cứ thông tin nào để hiểu” Đó là những điều nhà văn Bùi Anh Tấn nhớ đến khi nhắc về cuốn sách “định mệnh” của mình, cuốn sách như ông đã từng nói, không chỉ làm ông trở nên nổi tiếng mà còn “lấy đi hết mọi người đàn bà tôi yêu” Như vậy, Bùi Anh Tấn không kì thị người đồng tính, mà trái lại nhà văn viết về họ

với sự cảm thông, thấu hiểu Một thế giới không có đàn bà đã đặt nền móng cho

Trang 21

một chuỗi tác phẩm viết về đề tài này và mang tên tuổi Bùi Anh Tấn đến gần với bạn đọc Nguyễn Quốc Vinh quan sát thấy: “Những bước tiên phong của Một Thế Giới Không Có Đàn Bà đã dẫn đến một sự bùng nổ về văn học với chủ đề đồng tính tại Việt Nam trong thập niên vừa qua, từ tiểu thuyết cho đến tự truyện, một hiện tượng đã khiến một số nhà phê bình khó tính phải nhíu mày” [89] Có thể nói, tác phẩm đã đặt mình đúng vị trí và làm đầy một phần cái “khoảng trống khó gọi tên” (Ngô Thị Kim Cúc) của “thế giới thứ ba” trong đời sống đương đại

Sau khi gây được tiếng vang và nhận được sự hưởng ứng của độc giả, Bùi Anh

Tấn tiếp tục cho ra đời cuốn tiểu thuyết thứ hai Les - vòng tay không đàn ông

(2005) Nhà văn đã phát biểu trong một bài phỏng vấn trên vietbao.net: “Đã có những đồng tính nữ gặp anh phàn nàn “nhà văn quan tâm đến đồng tính nam nhiều quá trong khi bản thân chúng tôi vẫn tồn tại, vẫn hiện hữu, chúng tôi cũng mong

một tiếng nói” Vì vậy, Một thế giới không có đàn bà nói về đồng tính nam (gay)

thì ở đây ông tập trung vào thế giới của những les – đồng tính nữ Đó là những doanh nhân thành đạt (Kiều Thu, Hương Trang), giảng viên đại học (Yên Thảo), sinh viên (Hoàng Châu) Cuốn tiểu thuyết này ra đời đã đáp ứng lòng mong mỏi của những người yêu thích văn chương cũng như chính những người trong cuộc Nhà văn viết trực diện và thẳng thắn, song không đi sâu vào những tình tiết cụ thể trong đời sống tình dục của họ, mà đề cập một cách khơi gợi, sâu kín Bùi Anh Tấn

đã từng tâm sự: “Phụ nữ - bất kể họ là ai thì vẫn luôn luôn giữ được sự mềm mại, dịu dàng, nữ tính Và dĩ nhiên những trang viết về họ cũng sẽ như vậy Không có vụ

án, không có máu đổ nhưng nhiều nước mắt” [16]

Khi tiểu thuyết Phương pháp của A.C.Kinsey (2008) ra đời, nó đã làm thay đổi

suy nghĩ về người đồng tính Cuốn sách đề cập đến đời sống tinh thần của những

“gay” khá thành đạt (Bằng, Cường, kĩ sư Trung, giám đốc Trần Anh ) Họ luôn khát khao được sống thật với bản thân nhưng luôn phải chịu những giằng xé nội tâm đau đớn Tác phẩm là sự chia sẻ của những người đồng tính "kín" không được sống thật với bản thân mình vì bị “đánh mất bản thể”

Trang 22

Như vậy, có thể nói, Bùi Anh Tấn là nhà văn Việt Nam đầu tiên đề cập đến đề tài đồng tính và gặt hái được nhiều thành công; đồng thời nhà văn đã có đóng góp đáng kể trong địa hạt này Đây là sự gợi hướng, mở đường cho các nhà văn khác tiếp tục hành trình đến với những con người thuộc về “thiểu số”

Thứ nhất, Bùi Anh Tấn đã chứng minh một quy luật tồn tại tự nhiên của “thế giới thứ ba” như là một quy luật tất yếu của cuộc sống Theo lẽ thông thường của Tạo hoá, con người sinh ra chỉ có hai giới: nam và nữ, thảng hoặc có nghe người này người khác nói về những người nam nhiều tính nữ, nữ nhiều tính nam nhưng dường như những giả thuyết ấy không tồn tại phổ biến Tác phẩm của Bùi Anh Tấn

đã hiện thực hoá được những dư luận về người đồng tính, cung cấp cho công chúng nhiều thông tin, giúp họ có cái nhìn thiện cảm hơn về LGBT (cộng đồng những người đồng tính luyến ái) Qua tác phẩm, nhà văn muốn khẳng định: “Dù “gay” hay

“les”, thế giới ấy đáng được biết đến, đáng được thông cảm hơn người ta tưởng” (Ngô Thị Kim Cúc) Chính vì vậy, tác phẩm Bùi Anh Tấn ít nhiều đã tạo hiệu ứng tích cực trong đời sống đương đại Một độc giả đã bộc lộ: “Tôi rất cám ơn nhà văn

Bùi Anh Tấn với tác phẩm Một thế giới không có đàn bà Đó là một tác phẩm rất đông người đồng tính tìm đọc… Nói gì thì nói, cuốn Một thế giới không có đàn bà

cũng mang lại cho người đọc bình thường ít nhiều hiểu biết khoa học về thế giới

của người đồng tính Sau khi được dựng thành phim truyền hình, Một thế giới không có đàn bà càng nổi tiếng thêm và giúp nhiều người hiểu hơn về đồng tính

luyến ái” [43]

Thứ hai, tác giả đã bênh vực, đấu tranh cho quyền yêu, cho khát vọng hạnh phúc của những con người mang thân phận lạc loài giữa xã hội ngày càng văn minh, nhân bản Thông điệp trong các tác phẩm của nhà văn giúp xóa nhòa ranh giới vốn tồn tại bấy lâu nay, hướng tới sự công bằng trong cuộc sống Hình tượng người đồng tính trong văn học từ chỗ là một thân phận bị xua đuổi, phủ nhận, lên án, phải giấu giếm đã giành được quyền nói, quyền xuất hiện “là chính mình” trên mặt giấy, trên một số phương tiện truyền thông Tác giả từng tuyên bố: “Đã là năm 2012 của thế kỷ 21 rồi, đã đến lúc bạn đọc đồng tính của tôi có “quyền” đòi được yêu công

Trang 23

khai, được sống công khai, được xã hội thừa nhận họ như mọi thực thể khác (…) bằng ngòi bút của mình tôi cố gắng “giúp đỡ” những bạn đọc đồng tính của tôi trong khả năng cho phép, nhằm xóa bỏ những ngăn cách thiên kiến xã hội đối với người đồng tính” Và nhà văn có nhận định lạc quan rằng: “Việc tác phẩm của tôi được trao giải thưởng chứng tỏ có sự cởi mở của xã hội Việt Nam về cái nhìn với hiện tượng đồng tính” [22]

Thứ ba, nhà văn không chỉ đã thành công trong việc bênh vực quyền được yêu thương, được bình đẳng của những người thuộc "giới tính thứ ba" mà còn cảnh báo con người về những lầm lạc, đau khổ nếu ngộ nhận về cuộc sống đồng tính Tư duy lưỡng diện này đã giúp tác giả có cái nhìn táo bạo song cũng chừng mực, đồng cảm song cũng không sa đà tán tụng về thế giới “không có đàn bà” trong tư duy nghệ thuật tiểu thuyết về đề tài đồng tính “Đồng tính luyến ái vốn được xem là một dị biệt văn hóa, dị biệt về tình dục, một thứ bệnh hoạn nảy sinh trong xã hội Đó là một thế giới "ngầm" nhiều nước mắt hơn niềm vui, nhiều nỗi buồn hơn nụ cười Vì thế, khó khăn nhất của những người đồng tính là làm sao được dư luận xã hội và chính họ chấp nhận họ Thậm chí có người sống đến 60 tuổi vẫn còn hoang mang, sau đó thấy mình không giống ai, họ luôn sống trong cảm giác sợ hãi như đang lừa dối ai, họ đeo mặt nạ, đè nén khát khao trong lòng từ tình dục đến tình yêu, có người chạy trốn bằng cuộc sống giả tạo: lấy vợ sinh con nhưng vẫn không thoát được con người thật của mình Có người “sống để dạ, chết mang đi” không nói được với cha mẹ, vợ con, bạn bè ” [48] Xây dựng các nhân vật có học thức, có nghị lực trong tác phẩm của ông như những “hình mẫu” là nhằm định hướng cho bạn đọc đồng tính cách sống, cách ứng xử tích cực như quan điểm mà nhà văn từng bộc bạch: “Tôi cho rằng đây là điều quan trọng nhất đối với một người đồng tính, là bạn phải tự đối diện với chính mình, tự hỏi tôi là ai và phải làm gì để vượt qua nó” (…)“Tôi lên án những kẻ suy đồi đạo đức, buông thả bản thân, lợi dụng đồng tính luyến ái để sống trụy lạc” [71, tr 87] “Hãy dũng cảm phấn đấu vượt qua và chiến thắng chính bản thân mình, đừng để sa vào những dục vọng thấp hèn, trái tự nhiên, sa đọa, để rồi ăn năn hối tiếc Còn nếu, đây là sự thật, là những thôi thúc bản năng của

Trang 24

cá nhân, xin hãy sống và ngẩng cao đầu đón bình minh, để tin vào một ngày mai cuộc

sống bạn tốt đẹp hơn” (trích Lời tác giả sách Một thế giới không có đàn bà)

Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp đáng kể, tiểu thuyết đề tài đồng tính của Bùi Anh Tấn vẫn còn những khiếm khuyết nhất định, không thể khác Hầu hết các tác phẩm còn nặng về tuyên truyền lý thuyết đồng tính “Tiểu thuyết sẽ gọn và hiệu quả nghệ thuật hơn nếu tác giả gạt bỏ những chỗ thừa (…) giải thích về “đồng tính luyến ái” và các biểu hiện phức tạp của đời sống tình dục” [71, tr 83] Cốt truyện

Một thế giới không có đàn bà được xây dựng kết thúc còn “dễ dãi” Bùi Việt Thắng

cho rằng: “Về cái kết thúc của tiểu thuyết có vẻ “dĩ hòa vi quý” Dường như suốt tác phẩm, nhà văn đã “cho chết” nhiều nhân vật từ Bàng, Hải…nên tấn kịch cuối cùng

cả Thành Trung và Hoàng đều sống” [71, tr 84] Về điều này, tác giả đã có những

“cải chính” trong cuốn sách Đối thoại với Một thế giới không có đàn bà ra đời không lâu sau khi tiểu thuyết Một thế giới không có đàn bà xuất bản Ở đó, tác giả

đưa ra ba kết thúc truyện đã xây dựng và tác giả chỉ được quyền lựa chọn kết thúc

“đẹp” nhất

1.2 …đến huynh hướng ngoại biên hóa

1.2.1 Khái niệm ngoại biên và ngoại biên hóa

Tác giả I.P Ilin giải thích: Ngoại biên (marginalism) – theo nghĩa đen: “phía ngoài”, “ngoài phạm vi” của một hiện tượng nào đó (chính trị, đạo đức, tinh thần, tư tưởng, tôn giáo v.v…) trong hoạt động xã hội của con người xét theo quan hệ với khuynh hướng chủ đạo của thời đại hoặc của truyền thống triết học, đạo đức [31, tr 454 - 455]

M Bakhtin quan niệm bản chất văn hóa nằm ở ngoại biên Ngoại biên của ông trong tiếng Nga là граница (granitxa), có nghĩa là ranh giới, biên giới, lằn ranh,

giáp ranh, đường biên, sự tiếp giáp, giáp giới Trong công trình Vấn đề nội dung, hình thức và chất liệu của văn học, ông cho rằng: “Một lĩnh vực văn hóa nào đó

(như nhận thức, luân lí, đạo đức, nghệ thuật…) với tư cách là vấn đề do chỉnh thể

đó tạo nên, có thể hiểu là vấn đề về biên giới của lĩnh vực đó” [dẫn theo 61]

Trang 25

“Giống như con người cụ thể có biên giới phân biệt với “người khác”, xã hội, quốc gia cũng có biên giới Văn hóa, văn học, nghệ thuật với tư cách là sự sống của con người, xã hội cũng tồn tại theo cơ chế đó Toàn bộ văn hóa, văn học… đều tồn tại trên đường biên, đường ranh giới Từ đó, chúng ta hiểu văn học “ngoại biên” ở đây là loại hình văn học ngoại vi, “bên lề”, văn học không chính thống trong tương quan với loại hình văn học trung tâm, chính thống, được thừa nhận Đây là một khái niệm có tính lịch sử cụ thể, tùy thuộc rất nhiều vào yếu tố như thị hiếu, quan niệm thẩm mĩ, thiết chế văn học đương thời và môi trường sinh thái văn học” [30] Việc tồn tại hiện tượng văn học “bên lề”, “ngoại biên” là một nhu cầu tất yếu của xã hội, nơi mà con người luôn phải gánh chịu nhiều áp lực, khuôn mình vào những giới hạn khắt khe mà kinh nghiệm và truyền thống cộng đồng thiết lập nên Đó là tiền đề nảy sinh những khát vọng “vượt thoát” bằng tinh thần, giải phóng ý tưởng, khẳng định diễn ngôn của cá nhân hay nhóm người trong xã hội Trong sự va chạm tư tưởng chúng ta chứng kiến sự áp đảo, lấn lướt của diễn ngôn trung tâm và sự yếu thế tất yếu của diễn ngôn ngoại biên Nhưng trên thực tế, luôn có sự tồn tại song hành giữa hai loại hình diễn ngôn này trong đời sống văn học của dân tộc

Theo đó, “ngoại biên hóa” là “quá trình tiệm tiến từ ngoại biên vào trung tâm hay sự xâm nhập của yếu tố ngoại vi trong dòng văn học chính thống (và ngược lại) Quá trình này có thể xảy ra ở nhiều góc độ: đề tài, chủ đề, hình tượng nhân vật, diễn ngôn, khuynh hướng, phong cách sáng tác… Khi một trật tự thế giới không còn khép kín tự tại, chuyển động này mang ý nghĩa như một sự giải phóng bản thân, thách thức tâm linh của người sáng tạo và ngưỡng tiếp nhận của độc giả Từ sự phi trung tâm hóa, phi độc sáng mang đặc trưng của xã hội và văn hóa hậu hiện đại, những kiểu sáng tạo huyền ảo, hậu hiện đại, phi lí cùng những đề tài, chủ đề nhục cảm, chấn thương, đồng tính, võ hiệp… vốn trước đây bị coi là “bên lề”, nay bỗng tiệm tiến về phía trung tâm” [25] Khi xã hội càng phát triển, các giá trị văn hóa mỗi ngày mỗi tiếp biến, ý tưởng nhà văn được khai phóng, các diễn ngôn bình đẳng với nhau đã là điều kiện để quá trình này tồn tại Trên thực tế, luôn có những hiện tượng văn học vượt qua những định kiến về “thành phần xuất thân” của mình để kiêu hãnh

Trang 26

vươn lên, cũng như luôn có những tác phẩm tụt khỏi “vị thế” chính thống của mình

Đó là quy luật tất yếu của đời sống văn học khi mà vai trò cũng như tài năng của chủ thể sáng tạo được khẳng định

1.2.2 Tiểu thuyết Bùi Anh Tấn giữa lằn ranh trung tâm – ngoại biên

Không dừng lại ở đề tài đồng tính, Bùi Anh Tấn thử sức mình với những đề tài cũng không kém phần “nhạy cảm”, gai góc khác “Độc giả tìm đến các sáng tác của ông như đón chờ một thứ gia vị lạ trong món ăn tinh thần của mình Để có thể tiếp cận với nhiều mảng đề tài, nhiều số phận con người khác nhau, trong nhiều cảnh đời, Bùi Anh Tấn phải nỗ lực trở thành một chuyên gia về giới tính, về tôn giáo, về giáo dục Từ những đề tài, chủ đề có khuynh hướng “ngoại biên hóa” (đồng tính,

võ hiệp, lịch sử, tôn giáo), các hình tượng nhân vật mang gương mặt xa lạ, cô đơn giữa đám đông, đến cơ chế diễn ngôn biến đổi… Bùi Anh Tấn và tác phẩm của anh

đã tạo thành những “dòng nước ngược” [25] trong nguồn chung của đời sống văn học đương đại

Trong nguồn mạch chung mang khát vọng đổi mới, “vượt thoát” đó, tiểu

thuyết lịch sử của Bùi Anh Tấn như một dòng riêng độc đáo, mới lạ Tiểu thuyết Bí mật hậu cung đã phục dựng nhiều sự kiện, biến cố xoay quanh các nhân vật lịch sử

có thật: vua Lí Thái Tông và Lí Thánh Tông, Linh Nhân Hoàng thái hậu, Lí Thường Kiệt,… trên nền không gian nghệ thuật là cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược của vua tôi nhà Lí thế kỉ XI “Không gian được trải rộng qua nhiều vùng đất, thời gian vừa được dồn nén, vừa được kéo căng, tạo nên một bức tranh thời đại lịch

sử chân thực và vô cùng sinh động Từ chân dung lịch sử đến chân dung nghệ thuật, nhà văn đã phục sinh các nhân vật lịch sử, làm cho họ một lần nữa được “trở mình”, bước lại những bước đi trong quá khứ, làm sống lại cả một triều đại oai hùng với những chiến công lừng lẫy, ghi dấu trong lịch sử dân tộc” [25]

Song song với tuyến truyện về lịch sử, Bùi Anh Tấn đã lồng vào đề tài đồng tính như là phương thức “ngoại biên hóa”, thể hiện ý thức làm mới thể loại, đồng thời cũng là cách để nhà văn luận giải, khơi mở những bí ẩn nơi “góc khuất” của

lịch sử Tác giả của Bí mật hậu cung đã xây dựng nên mối tình kì lạ, lãng mạn và vô

Trang 27

cùng trắc trở giữa Ngô Thuấn, một mĩ nam tử nổi tiếng của kinh thành Thăng Long, sau này trở thành danh tướng kiệt xuất Lí Thường Kiệt và đương kim thái tử Nhật Tông, hết mực tài hoa, tinh tế, sau này kế vị ngai vàng trở thành vua Lí Thánh Tông Tác giả từng bộc bạch: “Dưới góc độ một nhà văn, tôi muốn góp một phần mình vào việc mang đến lịch sử vốn khô khan một cuộc sống sinh động hơn, hấp dẫn hơn Ở phía người đọc, bạn có thể chấp nhận hay không hình ảnh do nhà văn xây dựng nên, thậm chí có thể là phản bác ý tưởng của nhà văn Đó là điều đáng mừng vì như vậy, tác phẩm đã giúp bạn đọc quan tâm hơn đến lịch sử, đó đã là một điều thành công của người viết” [25]

Ở đề tài tôn giáo, trong Không và Sắc, tác giả đã khai thác thế giới nội tâm của

những con người mang sứ mệnh “phổ độ chúng sinh” nhưng cũng chứa đầy những phức tạp của cõi nhân sinh Với cốt truyện “hư cấu 100%”[17], tác phẩm phản ánh

sự thay đổi, xáo trộn của đạo Phật ở Huế một thời kỳ, thông qua thay đổi tâm lý của một thanh niên (pháp danh Thiện Tài) trước khi đi tu Vốn sống phong phú, nhận thức, tư duy Phật học khá cơ bản, cộng với bản lĩnh của một tâm hồn văn chương nhạy cảm và một niềm tin tha thiết vào con người, tác giả đã đi từ cái khó nắm bắt trở về với những điều gần gũi, thân quen Tác giả xây dựng thành công rất nhiều nhân vật: một trưởng lão Chân Tâm hành động kì quặc, nói năng vu vơ một cách rất diệu kỳ; một thượng tọa Thiện Luật có vẻ lạnh lùng nhưng mau nước mắt; một sa di Thiện Tuệ nỗ lực tu hành đến mức hoá điên; một Thiện Tài mong được xuất gia cống hiến cả cuộc đời mình cho Phật pháp nhưng vẫn không vượt ra ngoài những khát khao nhục cảm mãnh liệt; một Tiểu Vân Tử không rõ là nam hay nữ…Đó đích thực là cuộc tìm kiếm, cuộc đối thoại với chân lý, và với chính bản thể con người Đời sống tôn giáo trong tác phẩm của Bùi Anh Tấn vì thế rất "đời", rất chân thật, gần gũi Thành công của tác giả chính là ở chỗ mở đầu bằng tư tưởng Bát Nhã và kết thúc cũng bằng tư tưởng Bát Nhã, cho nên những điều khẳng định hoặc phủ định trong cốt truyện vẫn có sức mạnh thay nghĩa, biến nghĩa Vì thế, độc giả, ở nhiều trình độ khác nhau đều có thể tìm ra cho mình một ý nghĩa riêng nào đó:

…Đừng xét những sai lầm của người khác, mà hãy sửa đổi những sai lầm của

Trang 28

chính mình Đừng xét những khuyết điểm của người khác, hãy xét những khuyết điểm của chính mình Điều xấu nhất là có thành kiến tôn giáo và phê phán người khác trong khi không biết rõ tâm trí của họ Vậy hãy bỏ thành kiến như bỏ thuốc độc “Với sự giao hòa vô bờ của không – sắc, có lẽ, cả những lý thuyết đa trị và bất

trị đều trở nên lạc điệu” [74]

Tuy nhiên, tác phẩm đôi lúc còn dừng lại ở tư duy khái niệm, nặng về minh họa, và không khỏi có những tham vọng muốn bao quát hết tư tưởng Phật giáo Chính vì giới hạn này, mà nhiều vấn đề đặt ra còn nông, lấn cấn ở một vài câu nói mang tính chất “an ủi”, khiến cho tác phẩm có phần loãng

Thám tử yêu dường như lại có một sự kết hợp mới: đồng tính và trinh thám

hình sự Tác phẩm đã bao quát một hiện thực cuộc sống rộng lớn, những tầng ngầm của cuộc sống đương đại luôn tiềm ẩn sự công phá của những xung đột thiện – ác, tốt – xấu, trắng – đen,… Đó là đường dây tội phạm xuyên quốc gia với hệ thống rộng khắp và cách thức tổ chức chuyên nghiệp, là thế giới xã hội đen với những quy tắc vận hành bí ẩn chằng chịt, là thế giới của những sát thủ chuyên nghiệp tưởng như không thể có trong đời sống này… Đồng tính chỉ là một yếu tố trong cuốn sách, tuy nhiên nó được gắn với một môi trường của những “siêu X-men”, môi trường của những cảnh sát hình sự dũng cảm, của những thám tử tư siêu đẳng, của mafia… môi trường mà ngay cả những người đàn ông đích thực cũng cảm thấy run sợ khi

nhắc đến Bởi thế, yếu tố đồng tính trong Thám tử yêu như một thứ gia vị “nêm

nếm” vừa phải, tạo sức hấp dẫn vô cùng mới mẻ cho tác phẩm Nguyễn Văn Hùng

đã có nhận xét: “Với kiến thức uyên thâm trên nhiều lĩnh vực, trí tưởng tượng phong phú cùng với việc vận dụng các thủ pháp hiện đại, hậu hiện đại, tác phẩm của Bùi Anh Tấn trở thành món ăn lạ trong thực đơn tinh thần của độc giả” (Lời giới

thiệu sách Thám tử yêu)

Có một quãng thời gian nhà văn “chán đề tài đồng tính” vì những áp lực, phiền toái từ phía công chúng, bạn đọc đồng tính và báo chí,…Bùi Anh Tấn thể hiện mình ở đề tài đời tư –thế sự mang khuynh hướng hiện sinh, đối thoại tư tưởng

qua tiểu thuyết Phố ba nhà Trên nền không gian đời tư của một khu chung cư thời

Trang 29

bao cấp ở Hà Nội, nhà văn đã tái hiện cả một xã hội người với đủ giai tầng, lối sống, tư tưởng, quan niệm khác nhau Đặc biệt, yếu tố thân xác và tính dục được tác giả tô đậm như một cách “ngoại biên hóa” đề tài Từ xưa đến nay, tìm kiếm bản thể trong thế giới của thân xác không xa lạ gì với con người trong đời sống, cũng không mới mẻ gì trong văn chương Tuy vậy, trong văn chương, cùng với sự thống lĩnh của các diễn ngôn đạo đức, văn hóa, tôn giáo, chính trị một thời …, diễn ngôn tính dục/ tiếng nói của thân xác không phải lúc nào cũng có thể được vang lên tự tin, mạnh mẽ Minh chứng cho khuynh hướng “ngoại biên hóa”, tính dục/ đời sống thân xác từ chỗ thường bị xem là yếu tố “ngoại biên” đã dần được xem là “trung tâm” của sự thể hiện con người trong văn học, lấn át các hình thức biểu hiện tình cảm còn

lại Trong Phố ba nhà, kiểu con người nghịch dị, truy tìm bản thể và bị đè nén dục

tính được nhà văn thể hiện rất “đời”, rất “người” qua hàng loạt nhân vật: Cầu “chó”, ông giáo sư, bà giáo già, vợ ông tổ trưởng dân phố,…Tác giả còn đưa ra những tuyên ngôn mang tính phản tư, đối thoại về tư tưởng xã hội, quan niệm văn chương,

nhân cách của người viết văn,…Có thể nói, Phố ba nhà là một hiện tượng ngoại

biên hóa trong chính hệ thống sáng tác của Bùi Anh Tấn Người đọc thật sự thú vị khi được đối thoại với một giọng văn “đa thanh”, đa âm sắc và đầy nhân bản

Như vậy, dù sáng tác ở bất cứ đề tài nào, văn chương Bùi Anh Tấn luôn đứng giữa lằn ranh trung tâm – ngoại biên của văn học như là nỗ lực cách tân, đổi mới tư duy nghệ thuật, làm mới thể loại của mình Qua những đứa con tinh thần đó, nhà

văn đã khẳng định một quy luật, “dù là ngoại biên hay trung tâm, câu chuyện của

văn học muôn đời vẫn là câu chuyện của tâm hồn con người, của những đau đớn,

yêu thương và lầm lạc của kiếp người, của những khát khao vƣợt thoát đầy nhân

bản” [25]

1.3 Quan niệm nghệ thuật củ nhà văn

1.3.1 “Nghệ thuật là sự không ràng buộc”

“ Nghệ thuật là cái gì, là tìm kiếm và phô bày cái đẹp, đến với nghệ thuật đó là

sự thoát li tất cả, bất kể chính kiến hay tôn giáo, tất cả chỉ có nghệ thuật, nghệ thuật

mà thôi Nghệ thuật là sự không ràng buộc để chúng ta vươn đến đỉnh cao của cái

Trang 30

đẹp vĩnh cửu” [66, tr 146] Đó là quan niệm nghệ thuật mà Bùi Anh Tấn đã “tuyên

bố” qua nhân vật Phan tiên sinh trong Phố ba nhà Tư tưởng cốt lõi “Nghệ thuật là

sự không ràng buộc” đã được thể hiện rõ trong lao động sáng tạo của nhà văn công

an, biểu hiện ở hai phương diện

Thứ nhất, với Bùi Anh Tấn, người viết văn cần nhất là cảm hứng sáng tạo, sự thăng hoa cảm xúc nghệ thuật Nó gần như “lối viết tự động”/vô thức, hồn nhiên, không lí giải được Chateaubriand cho rằng cảm hứng là “sức mạnh huyền bí của thế giới” Khi được hỏi về cảm hứng sáng tác tiểu thuyết đề tài tôn giáo: “Sách anh viết dạng tiểu thuyết tư liệu Vừa hư cấu vừa trung thành với sự thật của tư liệu, anh theo phương pháp sáng tác nào?” Bùi Anh Tấn thú thật: “Tôi không trả lời được Viết là viết, không đặt ra phương pháp, không đề cương Khó nhất là tìm tên cho tác phẩm Khi tìm được rồi thì nó như cánh buồm dắt tôi cứ thế đi theo Nghĩ gì, cứ nói hết là cũng xong tiểu thuyết” [29] Chính lối viết nhập tâm đầy phóng khoáng ấy đã đem lại thành công cho ông khi thử sức với đề tài lịch sử qua tiểu thuyết về danh

nhân Nguyễn Trãi (Oan khuất và Bức huyết thƣ) Tác giả tâm sự: “Với tôi, viết là

viết thôi và khi viết hãy cố hết lòng mình, trải hết lòng mình để chia sẻ với nhân vật

và đề tài mà mình viết Với Nguyễn Trãi cũng vậy, ông là một trí thức, một nhân cách lớn, một lòng trung thành với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, vì dân, vì nước… Tiếc thay lòng trung ấy không phải lúc này cũng được "vỗ tay" mà thậm chí là phải trả giá đắt, rất đắt đó chính là sinh mạng của ông lẫn cả dòng họ Nguyễn với cái án giết Vua, để phải bị tru di tam tộc Đó là nỗi đau, uất ức của một người anh hùng, tôi cố gắng hiểu để chia về ông với bạn đọc, có lẽ nhờ vậy mà thành công chăng?” [16] Cảm hứng nghệ thuật khởi phát tự nhiên như một mạch ngầm được nuôi dưỡng từ lúc hoài thai đến khi khai sinh tác phẩm, với Bùi Anh Tấn, còn bắt đầu từ niềm đam mê chân chính, đặc biệt với những đề tài gay go, thách thức như tôn giáo, lịch sử “Nghiên cứu về lịch sử và tôn giáo là niềm yêu thích của tôi từ thời trẻ, tôi

đã tích lũy cho mình một nguồn vốn “kha khá”, thế nên khi cầm bút viết, dĩ nhiên tôi sẽ chuyển tải niềm yêu thích ấy lên những tác phẩm của mình Tôi không nghĩ đây là năng khiếu mà là điều tự nhiên từ bản thân mình khi cầm bút viết thôi [29];

Trang 31

“Với tôi thì đương đại hay lịch sử tôi đều có thể viết được với điều kiện là tìm thấy

sự đam mê trong đó” [16] Tác giả đã tự nhận mình là “sống nhạt, không đam mê, chỉ mê viết thôi” [17] Trong sáng tạo, sự ràng buộc lớn nhất của nhà văn chính là không dám “vượt thoát” Vì vậy, “không ràng buộc” còn chính là khả năng vượt qua thử thách của bản thân để lập kì tích Bùi Anh Tấn đã có những cuộc “vượt thoát” ngoạn mục và gặt hái không ít thành công từ chính quan niệm về sự dấn thân

“không ràng buộc” ấy “Với tôi càng khó khăn thách thức khi viết lại càng thôi thúc mình lao vào” [48] Có lẽ từ năng lực dấn thân ấy đã mang lại sự tự do trong sáng tạo ở nhà văn Tự do chính là “không ràng buộc” như cách nói hồn nhiên của tác giả: “Tôi thấy mình tự do khi viết, cho thỏa lòng mình” [17]

Như vậy, dù viết bằng sáng tạo vô thức hay ý thức thì nhà văn đều phải nung nấu, ấp ủ điều muốn viết như người mẹ mang thai đứa con chín tháng mười ngày với bao nhiêu yêu thương, nâng niu thì mới có ngày nhìn thấy khuôn mặt đứa con tinh thần ấy chào đời trong rạng ngời Cảm hứng chính là kết quả của quá trình làm việc vất vả, là kết quả của năng lực lao động hàng ngày

Thứ hai, “không ràng buộc” trong sáng tạo đòi hỏi nhà văn từ bỏ mọi định kiến để vươn tới “cái đẹp vĩnh cửu” Dù sáng tác đề tài nào, Bùi Anh Tấn cũng

“dâng hiến” một tấm lòng chân thành vô biên cho đối tượng được phản ánh để mang lại những hiệu ứng tiếp nhận tích cực từ độc giả “Tôi luôn mở rộng đề tài, đa dạng cách viết lẫn đề tài, tuy nhiên luôn hiểu rằng, chỉ viết những gì mình yêu thích

và thật “hiểu” về nó” [29] Đôi khi, hành động sáng tạo của nhà văn trở thành nghĩa

cử đồng cảm của kẻ may mắn dành cho kẻ kém may mắn trong cuộc đời vốn nhiều góc khuất, khiếm khuyết đáng được sẻ chia Vì thế, giá trị của “cái đẹp” trong tác phẩm Bùi Anh Tấn không thuần túy mang ý nghĩa văn chương mà mang ý nghĩa nhân bản đời thường Đặc biệt, với những tác phẩm về đề tài đồng tính, nhà văn phải giữ được một tấm lòng chân nguyên yêu mến như những thổ lộ của ông: “Tôi viết từ chính thôi thúc tự nhiên trong tâm hồn mình: muốn chia sẻ, thông cảm với giới đồng tính nữ; muốn thể hiện sự thiện chí của một người cầm bút, đem những gì mình đã tự nghiên cứu và tìm hiểu được về thế giới của họ để mọi người trong xã

Trang 32

hội hiểu, thông cảm, chấp nhận và có cái nhìn khác hơn về giới này” [37] Và khi đến với văn chương bằng một tâm hồn thanh sạch, nhà văn trở thành “đứa trẻ” hồn nhiên giữa cuộc sống vốn chật chội những ham muốn của “người lớn”: “Tôi viết văn đến nay cũng hơn 20 năm, viết trong cảm giác cô đơn, lơ ngơ với cuộc đời Thậm chí trong công việc, đôi lúc tôi cũng lơ ngơ với quyền lực lẫn tiền bạc, cứ viết

và thành nhà văn Được gọi là nhà văn chứ tôi cũng không biết quá trình tạo nên một nhà văn tên là Bùi Anh Tấn bắt đầu như thế nào" [63] Việc xây dựng những hình tượng nghệ thuật không cứng nhắc, khuôn mẫu của ông cũng là sự thoát li định kiến văn chương để làm mới tác phẩm, đem lại hiệu quả nghệ thuật trọn vẹn Phục sinh hình tượng nhân vật lịch sử, tôn giáo, nhà văn cần nhất điều ấy “Nhìn chung quan điểm của tôi khi viết về lịch sử như thế này: tùy hoàn cảnh, nhân vật, sự kiện… mà mình dựa vào đó hư cấu, làm “sống” lại bầu không khí lịch sử khi đó, nặng nhẹ tùy mình biết tính toán nhưng luôn luôn tôn trọng sự thật của lịch sử Không nên mượn A nói B và vẽ “râu” những điều không thật Khi viết là viết, chứ quá chú trọng nặng nhẹ này kia sẽ làm mất đi cái không khí huyền ảo, hãy tự nhiên viết thôi [63]

M Kundera, cho rằng: “Nhà tiểu thuyết không phải là nhà sử học cũng chẳng phải là nhà tiên tri, anh ta là nhà thám hiểm cuộc sống” [dẫn theo 72, tr 80] Quả thật, Bùi Anh Tấn đã chấp nhận những hiểm nguy bất ngờ của một “nhà thám hiểm cuộc sống”, vượt qua những định kiến và thử thách, trở thành người sáng tạo

“không ràng buộc” để vươn tới “cái đẹp vĩnh cửu”!

1.3.2 Viết văn là cơ duyên

Khi được hỏi về con đường đến với văn chương và các đề tài gai góc, nhạy cảm cũng như sự chung thủy của nhà văn với đề tài đồng tính, Bùi Anh Tấn nhiều

Trước hết là đề tài đồng tính Trần Thư diễn giải thay cho nhà văn rằng: Nhà văn Bùi Anh Tấn luôn trăn trở tìm cho người đồng tính một cuộc sống tốt đẹp hơn bằng chính những trang văn của mình Xuất phát từ những nỗi buồn giấu kín, không bày tỏ được cùng ai từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, trong lòng chàng trai trẻ

Trang 33

Bùi Anh Tấn đã nung nấu những ngọn lửa muốn được viết ra thành lời Mặt khác, đứng trước nỗi cô đơn của người trẻ trong bộn bề cuộc sống lại càng thôi thúc anh

viết ra những mạch văn thể hiện tấm lòng của mình Duyên đến với làng văn của

nhà văn Bùi Anh Tấn cũng từ đó được bắt đầu [79] Với sự nhạy cảm của một nhà văn, Anh Tấn luôn tò mò về những điều mới lạ, cái thế giới bí ẩn về tình yêu, tình dục của những người đồng tính - một vấn đề đang khiến cả xã hội phải xôn xao, bàn tán Điều đó đã thôi thúc nhà văn cầm bút sáng tác Sau những tác phẩm nổi đình nổi đám của mình, ông được xem là nhà văn tiên phong của làng văn Việt Nam viết

về đề tài đồng tính Nói chuyện với nhà báo về cơ duyên tìm đến đề tài đồng tính, ông cho biết: "Đúng là gần một nửa những tác phẩm của tôi viết là về đồng tính hoặc có liên quan đến vấn đề đồng tính Đến giờ tôi cũng chẳng biết điều gì "xúi dại" tôi nữa Thói quen chăng hay là một cái gì đó "ẩn sâu" như nhiều người tò mò

Thôi hãy cứ xem như đó là cơ duyên của người cầm bút may mắn tìm được đề tài đúng sở trường” [82] Đặc biệt, từ tiểu thuyết đầu tay Một thế giới không có đàn bà đến Thám tử yêu là chặng đường dài mười lăm năm chung thủy của nhà văn với đề

tài đồng tính Nhà văn coi như đó là sự gắn bó “duyên- nghiệp”: “Giờ đây tôi cũng

không biết nói sao về vấn đề này nữa, thời gian đầu là duyên nhưng có thể là nghiệp Có lẽ nó “ngấm” vào người như thói quen mà bạn đã hỏi Cũng đã từng có

thời gian tôi “né” tránh đề tài bởi thấy mệt mỏi và lặp lại với những cung nhạc buồn của giới này Tuy nhiên bạn đọc luôn mong muốn tôi đến với họ, chia sẻ nên cuối

cùng tôi lại đến với họ thôi ( ) không biết có phải là số phận không? (…) Ôi, đồng tính nó “vận” vào thân tôi rồi hay sao ấy” [56]

Đề tài lịch sử, tôn giáo cũng vậy Nhà văn bày tỏ thật lòng những khó khăn, vướng mắc khi mạo hiểm chọn những đề tài “nhạy cảm” về chính trị, xã hội như thế, nhưng rồi ông vẫn “dang díu” với nó như là “định mệnh”: “Viết về lịch sử hay tôn giáo vừa cực khổ về khối kiến thức khổng lồ phải có, sự thận trọng của ngòi bút,

mà rồi, viết ra cũng rất ít được bạn đọc chú ý tán thưởng bởi đây là loại sách “khó đọc”, kén bạn đọc, chưa kể viết xong gửi cho NXB cũng hồi hộp bởi trong thời buổi kinh tế thị trường hiện nay, các NXB cũng không mặn mà gì với các loại tác phẩm

Trang 34

này… tôi từng tự nhủ rằng, tránh xa viết về lịch sử và tôn giáo ra, nhưng rồi như

định mệnh, đến nay tôi đã viết tiếp được 2 tác phẩm nữa về lịch sử và tôn giáo rồi (…) Viết về lịch sử và tôn giáo là tình yêu, là niềm đam mê yêu thích và còn là “trả nghiệp” của đời người nữa” [29] Để sáng tác cuốn Không và sắc, nhà văn kỳ công

đến mức theo học hẳn một khóa bốn năm về Phật học Điều này làm nhiều người tò

mò Tác giả trả lời: “Có lẽ phải nói đến chữ duyên Từ nhỏ đi học, tôi đã có đam mê

về tôn giáo, thích suy ngẫm về ảnh hưởng đặc biệt của tôn giáo đối với đời sống con người Sau này khi đến với văn chương, phải đi tìm cái mới, con đường chưa ai đi, chưa có lối mòn - nguyên tắc của sáng tạo đã giúp tôi chấp nhận thách thức, đó là phải cực kỳ am hiểu, như một chuyên gia trong lĩnh vực, vượt qua bằng sự kiên

nhẫn, học, đọc, suy nghĩ ( ) Văn chương vốn là cái duyên thôi, trời cho viết được

thì cố viết, rồi cũng sẽ đến một ngày cạn sạch vốn chữ nghĩa, ai viết chả vậy” [29] Cách lí giải bằng học thuyết nhà Phật của nhà văn một phần xuất phát từ những căn duyên có thật trong cuộc sống riêng của ông Điều này khác với tư tưởng yếm thế về định mệnh “Đã mang lấy nghiệp vào thân…” (Nguyễn Du) Thật ra, nhà văn muốn nhấn mạnh yếu tố thiên bẩm, năng khiếu đã ẩn tàng trong mỗi nghệ sĩ, chỉ chờ dịp “bén duyên” với cuộc sống thì tự khắc sinh thành những sản phẩm tinh thần Cuộc tác thành ấy mang màu sắc tâm linh Phật giáo như “duyên nợ vợ chồng” vậy Có lẽ, đây không phải là quan niệm của riêng nhà văn công an Nhưng nó là sự

lí giải nhất quán cho những lựa chọn “khác người” đầy phiêu lưu của ông Đó là dấu

ấn hồn nhiên của Bùi Anh Tấn trong dòng chảy văn xuôi đương đại

1.3.3 “Không tô hồng hay bôi đen”

“Tô hồng” hay “bôi đen” đều là những thái cực trong sáng tác khiến tác phẩm không chạm đến được giá trị nhân sinh/ nhân bản Văn học sau 1986 trả lại những phẩm chất đời thường, chân thật, giàu nhân bản cho tác phẩm văn học Bùi Anh Tấn quan niệm “không tô hồng hay bôi đen” chính là phản ánh chân thực cuộc sống, trung thành với lịch sử, tôn giáo dù bản chất tiểu thuyết là hư cấu “Tôi quan niệm rằng, viết về lịch sử thì phải tôn trọng những sự thật của lịch sử đã từng diễn ra, tuy nhiên đây là viết một tiểu thuyết chứ không phải là “chép” sử (…)Thế nên viết tiểu

Trang 35

thuyết tức là hư cấu nhưng điều hư cấu ấy nằm trong “vòng cung sự thật” chứ không phải dành cho mình quyền hư cấu tức muốn đẩy nhân vật của mình đi đâu làm gì cũng được, hoặc mượn nhân vật của mình để “nói” điều khác” [29] Khi viết một tác phẩm có liên quan đến yếu tố lịch sử, tôi luôn chủ trương tuyệt đối trung thành với lịch sử Thế nhưng, tuyệt đối trung thành không đồng nghĩa là cứng ngắc Tất cả những sự kiện, diễn biến lịch sử trong tác phẩm tôi đều lấy từ chính sử Thế nhưng, chính sử của Việt Nam lại ít khi nào ghi chép lại những vấn đề cá nhân của các nhân vật lịch sử Với tôi, đó chính là mảnh đất để nhà văn xây dựng nên những con người sống, ít nhất là theo quan điểm của tác giả” [88] Nhà văn cho rằng tôn trọng sự thật là một quyền năng và trách nhiệm của người cầm bút, bởi trước khi vươn tới cái đẹp (“Mĩ”), văn chương phải xuất phát từ thiên tính lương thiện (“Thiện”) và gần gũi với con người (“Chân”) Với đề tài tôn giáo, tính chân thật như

là uyên nguyên của mọi giáo lí, vì thế nhà văn không thể “tô hồng” hay “bôi đen” Bùi Anh Tấn ý thức rất rõ điều này: “Với tôi, về tổng thể, tôn giáo là tốt Tôi là người cầm bút, nên có nhiệm vụ là "cái gì là sự thật của nó thì trả lại cho nó" Tôi kính trọng cả Chúa, cả Phật và muốn viết để chia sẻ nhiều góc nhìn cụ thể về những vấn đề còn chìm khuất trong lịch sử (…)Tôn giáo sẽ còn mãi với con người Đó là nhu cầu tâm linh, niềm tin, ước nguyện nằm trong mỗi cá nhân Không phủ nhận, trả nó về vị trí đúng thì nó sống lại bình thường” [17]

Đối với đề tài “nhạy cảm” như đồng tính, sự thật về cuộc sống của những người “thiểu số tính dục” không phải là dễ dàng phản ánh trong bối cảnh định kiến,

kì thị giới tính vẫn còn nặng nề Nhưng với cái tâm của một nhà văn công an từng

va chạm với những vấn đề “nóng” của xã hội, Bùi Anh Tấn cẩn trọng và trân trọng đối tượng phản ánh, vì thế sự thật khuất lấp đã hiện ra đầy nhân văn Khi chuẩn bị

bắt tay viết tiểu thuyết thứ hai, Les – vòng tay không đàn ông, lúc mà tên tuổi của

Bùi Anh Tấn đã trở nên phổ biến, nhiều người đồng tính nữ đã tìm đến với tác giả

để chia sẻ những tâm tư và mong muốn có được một cuốn tiểu thuyết viết về giới của mình Phải cố gắng để làm sao không lặp lại chính mình, làm sao phản ánh trung thực cuộc sống của người đồng tính, đáp lại những lo lắng, chờ đợi và phản

Trang 36

hồi từ phía độc giả chính là những trăn trở của nhà văn Với quan niệm không “vẽ đường cho hươu chạy” hay cổ vũ tình dục đồng tính, nhà văn chỉ muốn nói lên sự đồng cảm và sẻ chia của mình, ông đã không tô hồng hay bôi đen giới đồng tính mà phản ánh một cách chân thực “ một thực tế, thực tế đồng tính đã, đang và sẽ tồn tại trong xã hội này , không thể từ chối hay phủ nhận nó được” [43] Về cách xây

dựng cốt truyện Les – vòng tay không đàn ông, tác giả vượt lên sự khiên cưỡng của kết thúc truyện Một thế giới không có đàn bà để chấp nhận sự thật “như nó vốn có”

– những bi kịch không tránh khỏi của những thân phận lạc loài: “Trong tác phẩm của tôi có nhiều đoạn có thể gây sốc cho một số người nào đó, nhất là những người

tỏ vẻ cao đạo, nghiêm cẩn (…) Tôi không tô hồng hay bôi đen thế giới les Tôi cũng không cố ý làm “to chuyện” về thế giới của những người đồng tính Một cái kết với

sự ra đi của 3 nhân vật nữ là cách lựa chọn của tôi, nhưng tôi vẫn dành chỗ để độc giả nghĩ đến những cái kết khác tuỳ theo cảm nhận của mình Nếu 3 nhân vật đó ở lại, họ cũng sẽ tiếp tục sống trong dằn vặt và day dứt Đó chính là bi kịch của người đồng tính” [43]

nào cũng có tính hiện thực vì bất kỳ tác phẩm nào cũng phản ánh hiện thực Nhưng, không phải tác phẩm nào cũng có tính chân thực Văn nghệ có chân thực hay không, không phải tùy thuộc vào đối tượng mà tùy thuộc vào chủ thể Quan niệm nghệ thuật của Bùi Anh Tấn chung quy cũng vì mục đích mang lại giá trị chân thực nhất cho tác phẩm Nó kết hợp cả hai yếu tố quan trọng nhất của tính chân thực văn chương là sự thống nhất giữa tính tất yếu và tự do sáng tạo của nghệ sĩ Quan niệm nghệ thuật ấy sẽ qui định tư tưởng nhà văn thông qua tài năng xây dựng thế giới nghệ thuật mang tính “cống hiến”/ sáng tạo đầy tâm huyết

* *

* Đặt tiểu thuyết Bùi Anh Tấn trong dòng chảy chung của văn học đương đại, đề tài đồng tính như một con sóng cồn lên rõ nét và bền bỉ, làm nên dấu ấn của nhà văn

Trang 37

công an giữa văn xuôi đầu thế kỉ XXI Hiện tượng văn học Bùi Anh Tấn đã có được

vị trí nhất định trong “bản đồ” tiếp nhận của độc giả thời hiện đại, đặc biệt là độc giả đồng tính Nỗ lực làm mới, cách tân nghệ thuật qua khuynh hướng “ngoại biên hóa” các tiểu thuyết lịch sử, tôn giáo, hiện sinh của ông đã góp thêm những phương diện để hoàn thiện hơn một phong cách sáng tạo “chưa hoàn kết” Quan niệm nghệ thuật tích cực của nhà văn thể hiện tâm huyết, cá tính của nhà văn xuất thân nghành công an vừa tôn trọng quy luật tất yếu của cuộc sống vừa muốn thử thách, phiêu lưu, “vượt thoát” bản thân khỏi những khuôn mẫu, ràng buộc Đó là những dấu chỉ khẳng định sự có mặt của nhà văn giữa cuộc sống văn học đương đại

Trang 38

CHƯƠNG 2 TIỂU THUYẾT BÙI ANH TẤN -

SỰ TƯƠNG TÁC CÁC MÃ TƯ DUY NGHỆ THUẬT

2.1 “V hạm Đông –Tây”- cộng sinh văn hó

Văn học, nghệ thuật cùng với triết học, chính trị, tôn giáo, đạo đức, phong

hiện quan niệm và cách ứng xử của con người trước thế giới, thì văn học là hoạt động lưu giữ những thành quả đó một cách sinh động nhất Để có được những thành quả đó, văn hoá của một dân tộc cũng như nhân loại từng trải qua nhiều chặng đường tìm kiếm, chọn lựa, đấu tranh và sáng tạo để hình thành những giá trị trong cộng đồng xã hội Văn học vừa thể hiện con đường tìm kiếm đó, vừa là nơi định hình những giá trị đã hình thành Một nền văn hoá cởi mở, bao dung mới tạo điều kiện thuận lợi cho văn học phát triển Văn học là văn hoá lên tiếng bằng ngôn từ nghệ thuật” [57] Văn học biểu hiện văn hoá, cho nên văn học khúc xạ văn hoá Trong tác phẩm văn học, ta tìm thấy các hình ảnh/ mã (code) văn hoá qua sự tiếp nhận và tái hiện của người nghệ sĩ Sự hình thành các mã văn hóa theo hai chiều lịch đại và đồng đại Một mặt, những giá trị từ nguồn văn hoá truyền thống rì rầm chảy trong mạch ngầm của nó và thấm vào thế giới hình tượng và ngôn từ của tác phẩm mà đôi khi chủ thể sáng tạo không ý thức một cách tự giác Mặt khác, những giá trị văn hoá mới hình thành vào lúc đương thời không thôi cám dỗ, kêu gọi, thách thức, đòi hỏi nhà văn phải trả lời, trực tiếp hay gián tiếp, bằng ngôn ngữ nghệ thuật trong tác phẩm của mình Hơn nữa, văn hoá không bao giờ là một hiện tượng thuần nhất Sự đan xen văn hoá có khi dẫn đến sự pha tạp, trộn lẫn, nhưng cũng có thể dẫn đến sự kết tinh, chưng cất nên những giá trị mới Vì thế, mã văn hóa trong văn bản văn học thực sự là những sợi chỉ “kết tinh” nên “tấm thảm ngôn từ” Liên văn bản,

ở một phương diện, là sự trầm tích những lớp “thảm” văn hóa ấy trong một văn bản, như một tất yếu không thể khác

Trang 39

Không gian văn hóa Việt Nam hiện đại là giao hưởng văn hóa Đông –Tây/ ngoại lai – bản địa/ hiện đại – truyền thống,…Từ đó, văn học hiện đại / hậu hiện đại Việt Nam đã sinh thành nên những sản phẩm tinh thần mang “tinh huyết” của một

“cuộc hôn phối quốc tế, rồi lớn lên trên mảnh đất Việt Nam, hít thở khí trời, dầm mưa tắm nắng Việt Nam, (…) hoài niệm quá khứ khôn nguôi, cắm rễ sâu vào các cấu trúc biểu nghĩa của tư duy truyền thống…,” [6, tr 226 - 227] Đó là nét riêng của văn học hậu hiện đại Việt Nam khi hòa vào biển lớn văn học toàn cầu Tiểu thuyết Bùi Anh Tấn cũng nằm trong khuynh hướng chung ấy của văn học đương đại

Bùi Anh Tấn đã dung hợp màu sắc văn hóa phương Tây qua không gian văn hóa lễ hội carnival/ tinh thần đề cao tự do, dân chủ trong việc thể hiện bản ngã tồn tại người với những triết thuyết tôn giáo Nho, Phật, Lão và tín ngưỡng dân gian/ văn hóa bản địa Đại Việt như một cuộc “tác thành” đầy mới mẻ trong nỗ lực cách tân tư duy nghệ thuật

2.1.1 Carnival hóa và tín ngưỡng bản địa

2.1.1.1 Nhân vật “mặt nạ hóa” và không gian “hội hè”

Từ tư duy lí luận tiểu thuyết của Bakhtin, carnival hóa có thể xem là hiện tượng mã hóa tác phẩm văn học dưới nhãn quan văn hóa lễ hội trung cổ phương Tây Carnival không thuần túy là lễ hội mà theo cách giới thuyết của Bakhtin, còn hàm nghĩa là nhu cầu vượt khỏi cuộc sống lề lối tôn ti trật tự phong kiến, chủ nghĩa cấm dục tăng lữ [19] Trò giả trang, giễu nhại, hạ bệ các đối tượng thờ phụng chính thức diễn ra với sự hỗ trợ của việc chuyển nghĩa những nghi lễ tối linh sang bình diện cơ thể vật chất, mặt nạ, trang phục,…Tại hội cải trang mọi người đều bình đẳng với nhau Ở đây- trên quảng trường hội cải trang- ngự trị một hình thức giao tiếp phóng khoáng thân mật giữa những con người trong đời thường, tức là cái cuộc đời ngoài hội hè “Thực chất, đó là bản thân cuộc sống, nhưng được tổ chức một cách đặc biệt như một trò chơi” [4, tr.156]

Thoát thai từ văn hóa lễ hội phương Tây, thế giới nhân vật “giả trang” – kiểu nhân vật “mặt nạ hóa” là thủ pháp carnival hóa ở phương diện hình tượng nhân vật trong tác phẩm văn học của Bùi Anh Tấn, nhằm thể hiện nghệ thuật khai thác tâm lí

Trang 40

nhân vật từ những góc khuất đầy “ẩn mật” Nhân vật đồng tính trong hầu hết tác phẩm Bùi Anh Tấn là kiểu nhân vật “mặt nạ hóa” Ngay từ khi biết mình là đồng tính, người đồng tính đã mang sẵn trong mình sự khác biệt so với số đông Chính vì vậy, họ luôn sợ hãi, bất an và mặc cảm về sự dị biệt đó Họ trốn chạy bằng cách co

đều “tự vệ” với thế giới bên ngoài bằng những “mặt nạ” giả tạo chứa đầy dồn nén, u

uẩn Bàng trong Một thế giới không có đàn bà luôn mặc cảm về thân phận Từ khi

còn nhỏ, Bàng đã “sống lặng lẽ như cây cỏ”, ít nói hay buồn, lại hay khóc một mình Khi phát hiện ra mình là gay thì Bàng mặc cảm về mình và hoảng sợ vô cùng Anh sợ nếu ai đó biết được “sự thực về mình” thì “cả thế giới sẽ phỉ nhổ vào” Vì vậy, anh càng sống khép kín, càng giữ khoảng cách với mọi người xung quanh để thu hẹp vào “ốc đảo” của riêng mình, “tự hành xác bằng một cuộc sống khổ ải, bằng những công việc liên miên bất tận cho đến kiệt sức” Anh đã không tìm đến để tâm

sự với bất cứ ai mà chỉ kí thác vào những trang nhật kí: “Tôi cũng không tìm đến kết thân với bất kì một gã pêđê nào hay lượn lờ ở đâu đó ( ) Làm sao mọi người có thể hiểu được sự phi lí và mâu thuẫn đau khổ đến cùng cực, tuyệt vọng trong tâm hồn tôi không? Cũng chính vì vậy, tôi che giấu mình dưới một vỏ bọc của một gương mặt lạnh lùng, khó tính, bẳn gắt, cao ngạo không gần gũi bất cứ ai Tôi đã tự tạo nên xung quanh một rào cản và không cho phép ai xâm nhập vào Cứ thế tôi sống trong khổ hạnh như một tu sĩ” [64, tr 239] Với đồng nghiệp, Bàng cũng có thái độ thờ ơ, lạnh lùng, khó hiểu Điều đó đã khiến họ thấy sợ Bàng Hầu hết mọi người trong cơ quan anh công tác, hàng xóm nơi anh ở đều cho rằng anh “sống kín đáo quá”, “khép mình”, “cao ngạo, lạnh lùng, cô độc, có nhiều bí ẩn trong đời sống riêng tư”

Nếu Bàng là tiêu biểu cho gay về sự mặc cảm thì Kiều Thu trong Les-vòng tay không đàn ông lại tiêu biểu cho những les về sự dồn nén tâm lí Là tổng giám đốc

công ty nhập khẩu dược phẩm A, thông minh, mạnh mẽ là một Kiều Thu bên ngoài nhưng khi nhận ra mình là “một người đàn bà thích quan hệ đồng tính nữ, là một lesbian đúng nghĩa”, Kiều Thu mặc cảm và luôn sống trong lo sợ bị người khác phát

Ngày đăng: 12/05/2021, 20:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Thái Phan Vàng Anh, “Các khuynh hướng tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI”, nguồn: vannghequandoi.com.vn › Bình luận văn nghệ › Phê bình văn nghệ, truy cập ngày 24/12/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các khuynh hướng tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI
[2]. Thái Phan Vàng Anh, “Khuynh hướng hiện sinh trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986”, nguồn: annghequandoi.com.vn › Bình luận văn nghệ, truy cập ngày 20/4/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuynh hướng hiện sinh trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986
[3]. Thái Phan Vàng Anh, “Tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉ XXI từ góc nhìn hậu hiện đại”, nguồn: www.chungta.com › Tư liệu nguồn & tra cứu, truy cập ngày 24/12/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉ XXI từ góc nhìn hậu hiện đại
[4]. Bakhtin (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Nxb Bộ Văn hóa thông tin và thể thao, Trường viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: Bakhtin
Nhà XB: Nxb Bộ Văn hóa thông tin và thể thao
Năm: 1992
[5]. Lê Huy Bắc, “Đôi điều về văn chương hậu hiện đại Việt Nam”, nguồn: tonvinhvanhoadoc.vn › Văn học Việt Nam, truy cập ngày 5/12/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi điều về văn chương hậu hiện đại Việt Nam
[6]. Lê Huy Bắc (Chủ biên, 2013), Phê bình văn học hậu hiện đại Việt Nam, Nxb Tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình văn học hậu hiện đại Việt Nam
Nhà XB: Nxb Tri thức
[7]. Nguyễn Như Bình, “Đề tài đồng tính trong một số tác phẩm văn học Việt Nam”, Tạp chí Khoa học ĐHSP TPHCM, tr. 151- 159 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề tài đồng tính trong một số tác phẩm văn học Việt Nam
[8]. Cao Huy Du dịch (2013), Đại Việt sử ký toàn thƣ, Nxb Thời đại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn thƣ
Tác giả: Cao Huy Du dịch
Nhà XB: Nxb Thời đại
Năm: 2013
[9]. Trương Đăng Dung (2001), Tác phẩm văn học nhƣ là quá trình, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn học nhƣ là quá trình
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2001
[10]. Nguyễn Hồng Dũng (2012), “Thơ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp – ranh giới và sự xâm nhập thể loại, hiệu ứng thẩm mĩ”, Tạp chí khoa học, Đại học Huế (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp – ranh giới và sự xâm nhập thể loại, hiệu ứng thẩm mĩ
Tác giả: Nguyễn Hồng Dũng
Năm: 2012
[11]. Nguyễn Dữ (Trúc Khê, Ngô Văn Triện dịch, 2016), Truyền kỳ mạn lục, Nxb Trẻ, Nxb Hồng Bàng, Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền kỳ mạn lục
Nhà XB: Nxb Trẻ
[12]. Drukpa (2011), Hành trình tâm linh siêu việt, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành trình tâm linh siêu việt
Tác giả: Drukpa
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2011
[13]. Trịnh Bá Đĩnh (2002), Chủ nghĩa cấu trúc và văn học, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa cấu trúc và văn học
Tác giả: Trịnh Bá Đĩnh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2002
[14]. Freud (Nguyễn Xuân Hiến dịch, 2002) , Phân tâm học nhập môn, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tâm học nhập môn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
[15]. Hoàng Cẩm Giang (2006), “Vấn đề thể loại và ranh giới thể loại trong một số tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉ XXI”, (Kỷ yếu Hội thảo khoa học nhân kỷ niệm 50 năm thành lập Khoa Văn học), Nxb Đại học Quốc gia, Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề thể loại và ranh giới thể loại trong một số tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉ XXI
Tác giả: Hoàng Cẩm Giang
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2006
[16]. Nguyệt Hà, “Thượng tá, nhà văn Bùi Anh Tấn: Đề tài đồng tính cũng là... cơ duyên”, nguồn: Nwww.baomoi.com/thuong-ta-nha-van-bui-anh-tan-de-tai-dong.../9893809.epi, truy cập ngày 5/12/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thượng tá, nhà văn Bùi Anh Tấn: Đề tài đồng tính cũng là... cơ duyên
[17]. Nguyễn Thị Ngọc Hải, “Tôi chia sẻ về thân phận con người”, nguồn: www.tuanvietnam.net/2011-12-09-toi-chia-se-ve-than-phan-con-nguoi, truy cập ngày 24/12/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôi chia sẻ về thân phận con người
[18]. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên, 1992), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
[19]. Bùi Bích Hạnh (2014), “Lý thuyết mặt nạ carnival – một lối dẫn vào tiểu thuyết Việt Nam đương đại”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng (4, tr. 74 – 77) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết mặt nạ carnival – một lối dẫn vào tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Tác giả: Bùi Bích Hạnh
Năm: 2014
[20]. Vũ Thị Mỹ Hạnh, “Văn hóa dân gian trong văn xuôi đương đại Việt Nam”, nguồn:toquoc.vn/van.../van-hoa-dan-gian-trong-van-xuoi-duong-dai-viet-nam-105986.html, truy cập ngày: 7/5/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian trong văn xuôi đương đại Việt Nam

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w