1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng kĩ năng tổ chức trò chơi trong giờ sinh hoạt tập thể ở tiểu học của sinh viên ngành giáo dục tiểu học, trường đại học sư phạm – đại học đà nẵng

68 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng kĩ năng tổ chức trò chơi trong giờ sinh hoạt tập thể ở tiểu học của sinh viên ngành giáo dục tiểu học, trường đại học sư phạm – đại học đà nẵng
Tác giả Trần Thị Như
Người hướng dẫn ThS. Trần Thị Kim Cúc
Trường học Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Giáo dục tiểu học
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2017
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 1,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

6 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC RÈN LUYỆN KĨ NĂNG TỔ CHỨC TRÒ CHƠI TRONG GIỜ SINH HOẠT TẬP THỂ Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC CHO SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC, TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM – ĐẠI H

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian nghiên cứu, tìm hiểu và xử lí tài liệu mặc dù có gặp nhiều khó khăn nhưng đề tài của tôi đã hoàn thành Bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ lớn lao của các thầy cô giáo và bạn bè Trước tiên, tôi xin bày

tỏ lòng biết ơn và sự tri ân sâu sắc đối với các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học, trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo và góp

ý để tôi có thể thực hiện được đề tài khóa luận tốt nghiệp này

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cô giáo Trần Thị Kim Cúc, người

đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp

Tôi xin được cảm ơn các bạn sinh viên khoa Giáo dục Tiểu học khóa 13, trường Đại học Sư Phạm - Đại học Đà Nẵng đã nhiệt tình hợp tác, cung cấp những thông tin, đóng góp ý kiến cũng như bày tỏ những quan điểm của các bạn để giúp tôi hoàn thành đề tài

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè, những người đã động viên, giúp

đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Trong quá trình nghiên cứu, do kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên bài báo cáo khó tránh khỏi những sai sót Vì vậy, rất mong nhận được ý kiến, góp ý của thầy

cô và bạn bè trong khoa để tôi có thể học thêm được nhiều kinh nghiệm và hoàn thiện tốt hơn đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, tháng 4 năm 2017

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 2

3 Mục đích nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 4

4.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 4

4.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 4

4.2.1 Phương pháp quan sát 4

4.2.2 Phương pháp đàm thoại 4

4.2.3 Phương pháp điều tra bằng anket 4

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5.1 Đối tượng nghiên cứu 4

5.2 Phạm vi nghiên cứu 5

6 Cấu trúc đề tài 5

NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC RÈN LUYỆN KĨ NĂNG TỔ CHỨC TRÒ CHƠI TRONG GIỜ SINH HOẠT TẬP THỂ Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC CHO SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC, TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG 6

1.1 Một số vấn đề chung về trò chơi 6

1.1.1 Khái niệm 6

1.1.2 Mục đích của trò chơi 7

1.1.3 Lợi ích của trò chơi 7

1.1.4 Đặc điểm của trò chơi 8

1.1.4.1 Hoạt động vui chơi của HSTH là một hoạt động mang tính chất vô tư 8

1.1.4.2 Hoạt động vui chơi của HSTH là một hoạt động mô phỏng lại cuộc sống của người lớn, mô phỏng lại những mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và xã hội 8

Trang 4

1.1.4.3 Trò chơi mang tính tự do sáng tạo 9

1.1.4.4 Trò chơi mang tính tích cực hoạt động, độc lập và tự điều khiển 9

1.1.4.5 Trò chơi là một hoạt động tràn đầy cảm xúc 10

1.1.5 Bản chất của trò chơi 10

1.1.6 Vai trò của trò chơi 11

1.1.6.1 Trò chơi ảnh hưởng mạnh đến sự hình thành tính chủ định của quá trình hình thành tâm lý ở học sinh 11

1.1.6.2 Trò chơi giúp học sinh phát triển về thể chất và trí tuệ, hoàn thiện các quá trình tri giác, chú ý, ghi nhớ, tư duy, sáng tạo 11

1.1.6.3 Quá trình vui chơi ảnh hưởng lớn đến sự phát triển ngôn ngữ của HSTH… 11

1.1.6.4 Trò chơi tác động đến trí tưởng tượng của học sinh 12

1.1.6.5 Trò chơi có vai trò trong việc hình thành phẩm chất, ý chí cho học sinh…… 12

1.1.6.6 Trò chơi là phương tiện phát triển toàn diện nhân cách của học sinh12 1.1.7 Phân loại trò chơi 13

1.1.7.1 Trò chơi theo chủ đề 13

1.1.7.2 Trò chơi vận động (trò chơi sinh hoạt) 17

1.1.7.3 Trò chơi học tập (trò chơi giáo dục) 18

1.1.7.4 Trò chơi trí tuệ 19

1.1.8 Các nguyên tắc của việc tổ chức trò chơi ở Tiểu học 19

1.1.8.1 Nắm vững mục tiêu GDTH 19

1.1.8.2 Đa dạng hóa nội dung, hình thức hoạt động vui chơi giải trí của HSTH… 20

1.1.8.3 Kích thích hứng thú và tính tự nguyện, tự giác của trẻ trong hoạt động vui chơi dưới sự quản lý của GV 20

1.1.8.4 Hoạt động vui chơi diễn ra trong những điều kiện cần thiết một cách có tổ chức, có kế hoạch 20

1.2 Một số vấn đề chung về sinh hoạt tập thể 20

1.2.1 Khái niệm 20

Trang 5

1.2.2 Vai trò của hoạt động sinh hoạt tập thể ở trường Tiểu học 21

1.2.3 Mục tiêu của hoạt động sinh hoạt tập thể ở Tiểu học 22

1.2.4 Đặc điểm của giờ sinh hoạt tập thể ở Tiểu học 22

1.2.5 Nội dung của giờ sinh hoạt tập thể ở tiểu học 23

1.2.6 Đánh giá kết quả hoạt động của học sinh trong giờ SHTT ở tiểu học 27

1.2.6.1 Mục tiêu đánh giá 27

1.2.6.2 Nội dung đánh giá 27

1.3 Đặc điểm tâm sinh lí của HSTH 28

1.3.1 Đặc điểm nhận thức của HSTH 28

1.3.1.1 Đặc điểm tri giác 28

1.3.1.2 Đặc điểm chú ý 28

1.3.2 Đặc điểm tính cách của học sinh tiểu học 28

1.3.2.1 Nhu cầu nhận thức của học sinh tiểu học 29

1.3.2.2 Đặc điểm ý chí của học sinh tiểu học 29

1.3.3 Đặc điểm nhân cách sáng tạo của học sinh tiểu học 29

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1: 30

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KĨ NĂNG TỔ CHỨC TRÒ CHƠI TRONG GIỜ SINH HOẠT TẬP THỂ Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC CỦA SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC, TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG 31

2.1 Đặc điểm rèn luyện kĩ năng tổ chức trò chơi trong giờ SHTT ở tiểu học của sinh viên ngành GD tiểu học 31

2.1.1 Thuận lợi 31

2.1.2 Khó khăn 31

2.2 Thực trạng việc rèn luyện kĩ năng tổ chức trò chơi trong giờ SHTT ở tiểu học của sinh viên ngành GD Tiểu học 32

2.2.1 Mục đích điều tra 32

2.2.2 Đối tượng điều tra 32

2.2.3 Địa điểm điều tra 32

2.2.4 Thời gian điều tra 32

Trang 6

2.2.5 Nội dụng điều tra 32

2.2.6 Kết quả điều tra 34

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2: 42

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG TỔ CHỨC TRÒ CHƠI TRONG GIỜ SINH HOẠT TẬP THỂ Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC CHO SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC 43

3.1 Cơ sở đề xuất biện pháp 43

3.1.1 Đảm bảo tính giáo dục 43

3.1.2 Đảm bảo tính vừa sức 43

3.1.3 Đảm bảo điều kiện nhà trường, địa phương 43

3.2 Một số biện pháp rèn kĩ năng tổ chức trò chơi trong giờ SHTT ở Tiểu học cho sinh viên ngành GD tiểu học 44

3.2.1 Hệ thống hóa các kiến thức và kĩ năng tổ chức trò chơi trong giờ SHTT ở Tiểu học 44

3.2.1.1 Quy trình tổ chức trò chơi trong giờ SHTT 44

3.2.1.2 Thiết kế chương trình trò chơi trong giờ SHTT 48

3.2.1.3 Thiết kế một số trò chơi sử dụng trong giờ SHTT ở trường Tiểu học

50

3.2.2 Tham gia các câu lạc bộ để phát triển kỹ năng tổ chức trò chơi 53

3.2.3 Tham gia vào các hoạt động ngoài giờ lên lớp tại các trường Tiểu học để học hỏi, đúc rút kinh nghiệm 54

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 54

KẾT LUẬN 56

PHỤ LỤC 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO 60

Trang 7

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH ẢNH

Hình 1: Học sinh trường Quốc tế Việt – Úc Hà Nội, đóng vai xử lí tình huống 15 Hình 2: Học sinh tham gia trò chơi vẽ tranh về chủ đề “An toàn giao thông”, tại

trường Tiểu học Phan Thanh, Tam Kì, Quảng Nam 16

Hình 3: Học sinh đóng kịch tác phẩm “Cô bé quàng khăn đỏ” tại trường Tiểu Học

Nguyễn Huệ, Đông Triều, Quảng Ninh 17

Hình 4: Tổ chức trò chơi kéo co ở trường Tiểu học Thị trấn 1, An Ninh, tỉnh Kiên

Giang 17

Hình 5: Học sinh lớp 5/5 trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, thành phố Đà Nẵng, tổ

chức thi lắp ghép xe cần cẩu 18

Hình 6: Học sinh lớp 5/5, trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, thành phố Đà Nẵng,

tổ chức trò chơi “Rung chuông vàng” 19

Biểu đồ 1: Mức độ SV đã thực hành tổ chức trò chơi trong giờ SHTT 34 Bảng 1: Mức độ sử dụng trò chơi trong các môn học 35 Bảng 2: Bảng thống kê kết quả khảo sát mức độ sử dụng trò chơi trong các giờ học

của sinh viên 35

Biểu đồ 2: Mức độ sử dụng trò chơi trong các giờ học của sinh viên 36 Bảng 3: Bảng thống kê kết quả khảo sát mức độ sử dụng trò chơi trong các giờ

SHTT của sinh viên 36

Biểu đồ 3: Mức độ sử dụng trò chơi trong các giờ SHTT của sinh viên 37 Bảng 4: Ý kiến của SV về các quan niệm khi sử dụng trò chơi 37 Bảng 5: Bảng kết quả đánh giá của các bạn SV về vai trò của trò chơi trong giờ

SHTT 39

Bảng 6: Nguồn trò chơi các bạn SV sử dụng trong giờ SHTT 40 Biểu đồ 4: Tỷ lệ SV lựa chon các nguồn trò chơi 40 Bảng 7: Bảng thống kê ý kiến của sinh viên về những lưu ý khi lựa chọn trò chơi để

tổ chức trong giờ SHTT ở Tiểu học 41

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

GD: Giáo dục SHTT: sinh hoạt tập thể HSTT: học sinh tiểu học HS: học sinh GV: giáo viên

SV : sinh viên GDTH: Giáo dục Tiểu học

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục là một trong những tiền đề quan trọng cho sự phát triển của tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, quốc phòng và an ninh Con người nếu được giáo dục tốt và biết tự GD thì sẽ có khả năng giải quyết một cách sáng tạo và hiệu quả những vấn đề do sự phát triển của xã hội đặt ra

Bậc Tiểu học là bậc học đầu tiên và được xác định là “bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân” [Điều 2, Luật phổ cập GD Tiểu học] Bậc học này tạo những cơ sở ban đầu rất cơ bản và bền vững cho trẻ em tiếp tục học lên bậc học trên, hình thành những cơ sở ban đầu của nhân cách, trí tuệ, hành vi Trong chiến lược phát triển GD năm 2001-2010 đã chỉ rõ mục tiêu phát triển GD Tiểu học là: Thực hiện giáo dục toàn diện về đức, trí, thể, mĩ, phát triển những đặc tính tự nhiên tốt đẹp của học sinh, hình thành ở học sinh lòng ham hiểu biết và những kĩ năng cơ bản đầu tiên

để tạo hứng thú học tập và học tập tốt

Trò chơi là một hoạt động rất quen thuộc, gần gũi với con người Cũng như lao động, học tập trò chơi là một loại hình hoạt động sống của con người Đối với lứa tuổi trẻ em, trò chơi có ý nghĩa đặc biệt, nó tạo điều kiện để trẻ em thể hiện nhu cầu

tự nhiên về hoạt động, tạo cho các trẻ em những rung động thực tế trong cuộc sống Theo Sandra – nữ giáo sư tâm lý học thuộc Lase Wesstern University nhận xét:

“Những cháu khi còn nhỏ hay chơi các trò chơi sáng tạo khi trưởng thành là những người có đầu óc sáng tạo và biết giải quyết tốt các vấn đề trong cuộc sống” Thông

qua trò chơi có thể giáo dục kĩ năng sống cơ bản, phát triển khả năng tư duy logic, óc sáng tạo cho các em Trò chơi còn là một phương tiện nhằm thu hút, tập hợp và GD trẻ em nhanh nhất và có hiệu quả nhất Nó góp phần điều hòa phần năng lượng dư thừa trong quá trình trao đổi chất, đảm bảo sự hoạt động bình thường trong cơ thể trẻ

em Trò chơi vừa là nhu cầu tự nhiên, vừa là phương tiện giáo dục toàn diện cho HSTH Thực hiện theo phương châm “học mà chơi, chơi mà học”, trò chơi được coi

là một hình thức dạy học và GD hiệu quả Để thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện cần phải thực hiện đồng thời cả hai hoạt động trong chương trình đào tạo đó là hoạt động học tập và hoạt động GD ngoài giờ lên lớp Trong thực tế, ngành GD Tiểu học

Trang 10

sinh viên ít được làm quen, tiếp xúc với cách tổ chức các trò chơi trong giờ sinh hoạt tập thể ở trường tiểu học Sinh viên phần lớn được tìm hiểu về một số trò chơi để sử dụng trong một số môn học Vì thế, đa số sinh viên ngành GD Tiều học chưa nắm được về ví trí, tầm quan trọng cũng như phương pháp tổ chức, cách lựa chọn các trò chơi trong giờ sinh hoạt tập thể ở trường tiểu học sao cho phù hợp và mang tính giáo dục cho học sinh.

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Thực trạng kỹ năng

tổ chức trò chơi trong giờ sinh hoạt tập thể ở trường Tiểu học của sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học” để nghiên cứu

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Trò chơi là một trong những hình thức GD rất được quan tâm, bởi nhu cầu vui chơi là không thể thiếu của mỗi người ở bất kì lứa tuổi Ở bậc tiểu học, trò chơi được

sử dụng như một hình thức dạy học hiệu quả ở trong các môn học trên lớp và cả các hoạt động GD ngoài giờ khác Chính vì vậy, đã có một số tài liệu, công trình nghiên cứu đến vấn đề tổ chức trò chơi, tiêu biểu như:

Cẩm nang “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” – PGS.TS

Đặng Quốc Bảo – (2009 - NBX GDVN) đã giới thiệu một số trò chơi hấp dẫn được tổ

chức trong giờ sinh hoạt tập thể

“150 trò chơi thiếu nhi” của tác giả Bùi Sĩ Tụng và Trần Quang Đức, (2004 - NXB Giáo dục) đã Nêu ngắn gọn về nguồn gốc, ý nghĩa, tác dụng, đặc trưng, phân

loại, phương pháp tổ chức, hướng dẫn trò chơi cho thiếu nhi Giới thiệu 150 trò chơi được tổ chức trong lớp học, trong các buổi sinh hoạt, trò chơi được tổ chức ở sân chơi, bãi tập, trò chơi dùng để “phạt” những người chơi sai

“Những trò chơi vui nhộn trong SHTT” tác giả Trần Phiêu (2005-NXB trẻ) đã

giới thiệu và hướng dẫn tổ chức một số trò chơi hấp dẫn, sinh động trong giờ SHTT cho học sinh tham gia

Tài liệu bồi dưỡng phát triển năng lực nghề nghiệp giáo viên “ Phát triển năng lực tổ chức các hoạt động giáo dục của giáo viên”- Bộ Giáo dục và Đào tạo, NXB

GD Việt Nam đã trình bày những thuận lợi, hiệu quả của phương pháp trò chơi và

Trang 11

những điều cần chú ý khi sử dụng phương pháp trò chơi trong tổ chức các hoạt động

GD ngoài giờ lên lớp

“Tổ chức cho học sinh tiểu học vui chơi giũa buổi học” của đồng tác giả Trần Đồng Lâm, Trần Đình Thuận và Vũ Thị Ngọc Thư, (2010 - NXB Giáo dục Việt Nam)

đã giới thiệu một số trò chơi, phương pháp tổ chức một số trò chơi giữa buổi cho học sinh Tiểu học nhằm đem lại tinh thần thoải mái cho các em sau những giờ học căng thẳng, đa số đề cập đến các trò chơi vận động, các động tác thể dục nhẹ nhàng, các động tác theo bài hát

“Tổ chức hoạt động vui chơi ở Tiểu học nhằm phát triển tâm lực, trí tuệ và thể lực cho học sinh” do tác giả Hà Nhật Thăng (chủ biên), (2001- NXB Giáo dục)

đã phân tích một số vấn đề chung về tổ chức hoạt động SHTT cho học sinh TH, gợi

ý một số nội dung, hình thức hoạt động vui chơi, hoạt động xã hội, văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao

Các nguồn tài liệu trên đây, đã nêu lên những thuận lợi và hiệu quả của trò chơi tổ chức cho học sinh tham gia trong giờ SHTT, ngoài ra các tài liệu còn tập trung chủ yếu vào giới thiệu các trò chơi cho học sinh tiểu học trong giờ SHTT Chưa có tác giả nào đi sâu vào nghiên cứu đề tài rèn kĩ năng tổ chức trò chơi trong giờ SHTT cho sinh viên ngành GD Tiểu học Chính vì vậy, đề tài đã đi sâu tìm hiểu thực trạng việc rèn luyện kĩ năng tổ chức trò chơi trong giờ SHTT ở trường TH của sinh viên ngành GD Tiểu học, trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà nẵng Đồng thời, đề tài tham khảo nguồn tài liệu và đề xuất một số biện pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả trong việc rèn luyện kĩ năng tổ chức trò chơi trong giờ SHTT ở trường TH, để phục vụ tốt cho công tác giáo dục học sinh trong tương lai

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi tìm hiểu thực trạng về năng lực tổ chức trò chơi trong giờ SHTT ở tiểu học của sinh viên ngành GD Tiểu học và dề xuất một số biện pháp rèn kĩ năng tổ chức trò chơi trong giờ SHTT ở trường Tiểu học cho sinh viên ngành GDTH

Trang 12

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Đọc và phân tích, tổng hợp tài liệu tham khảo liên quan đến đề tài

4.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

4.2.1 Phương pháp quan sát

Quan sát cách xây dựng, tổ chức trò chơi của các bạn sinh viên ngành GD Tiểu học trong các giờ học lên lớp, các tiết tập giảng ở các môn học có liên quan đến việc thiết kế hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh tiểu học

4.2.2 Phương pháp đàm thoại

Trực tiếp phỏng vấn, trò chuyện với sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng để khảo sát về thái độ, sự quan tâm của sinh viên đối với việc rèn luyện kỹ năng tổ chức trò chơi trong giờ SHTT, đồng thời tìm hiểu thực trạng kỹ năng và việc tổ chức trò chơi trong giờ SHTT ở trường Tiểu học của sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng

4.2.3 Phương pháp điều tra bằng anket

Sử dụng phiếu điều tra để tìm hiểu:

- Kiến thức của sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học, trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng về kĩ năng tổ chức trò chơi trong giờ SHTT ở Tiểu học

- Thái độ, mức độ quan tâm của sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng đối với việc rèn luyện kĩ năng tổ chức trò chơi trong SHTT ở trường Tiểu học

- Thực trạng việc rèn luyện kĩ năng tổ chức trò chơi của sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng

- Những thuận lợi, khó khăn trong quá trình rèn luyện kỹ năng tổ chức trò chơi của sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học, trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Thực trạng việc rèn luyện kĩ năng tổ chức trò chơi trong giờ SHTT ở Tiểu học của sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học, trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng

Trang 13

5.2 Phạm vi nghiên cứu

- Giờ SHTT ở trường Tiểu học

- Sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học, trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng

2 Chương 2: Cơ sở thực tiễn của việc rèn luyện kĩ năng tổ chức trò chơi trong giờ SHTT ở trường Tiểu học của sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học, Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng

3 Chương 3: Một số biện pháp rèn kĩ năng tổ chức trò chơi trong giờ SHTT ở Tiểu học cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 14

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC RÈN LUYỆN KĨ NĂNG TỔ CHỨC TRÒ CHƠI TRONG GIỜ SINH HOẠT TẬP THỂ Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC CHO SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC, TRƯỜNG ĐẠI

HỌC SƯ PHẠM – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

1.1 Một số vấn đề chung về trò chơi

1.1.1 Khái niệm

“Trò” theo từ điển Tiếng Việt: một hình thức mua vui bày ra trước mặt mọi người;

“Chơi”: các hoạt động lúc nhàn rỗi, ngoài giờ làm việc nhằm mục đích giải trí là chính Như vậy, trò chơi là những hoạt động làm thỏa mãn những nhu cầu của con người, trước hết là vui chơi giải trí

Trò chơi có chứa đựng chủ đề, nội dung nhất định, có những quy tắc nhất định

mà người tham gia phải tuân thủ Trò chơi vừa mang tính chất vui chơi giải trí, vừa

có ý nghĩa giáo dưỡng và giáo dục đối với con người

Theo Karin Eden Hamman Christina Wakhend (một nhà tâm lí học người Đức) thì: “Cũng như cuộc sống và tình yêu, vui chơi là một khái niệm không thể định nghĩa được vì nó là một quá trình, mà đã là quá trình thì nó luôn sống động, luôn luôn đổi thay và phát triển”

Còn Huizinga lại miêu tả như sau: “Vui chơi là một chức năng văn hóa, là một trong những nền tảng của nền văn minh, có tính chất toàn cầu và hòa nhập trong cuộc sống của con người cũng như loài vật Vì vậy, vui chơi là trọng tâm không những cho trẻ em mà còn cho người lớn và cả xã hội ta đang sống”

Nếu vui chơi là một thuật ngữ chỉ một dạng hoạt động giải trí tự nguyện của mọi người, tạo ra sự sảng khoái, thư giãn về mặt thần kinh, tâm lý, thì trò chơi là sự vui chơi có nội dung, có tổ chức của nhiều người, có quy định luật lệ Trò chơi vừa mang tính chất vui chơi giải trí, vừa có ý nghĩa giáo dưỡng và giáo dục đối với con người Như vậy, trò chơi là một hoạt động rất quen thuộc, gần gũi với mọi người Thông qua trò chơi, học sinh có thể học hỏi được nhiều trí thức, hình thành kỹ năng Vui chơi tạo ra cơ hội nhiều nhất để các em rèn luyện các kỹ năng và tích lũy tri thức đời sống

Trang 15

1.1.2 Mục đích của trò chơi

Với người lớn, trò chơi sẽ mang tính chất giải trí, thư giãn, giúp đầu óc bớt căng thẳng sau những giờ làm việc mệt nhọc Với trẻ em, ngoài sự giải trí, trò chơi còn là một nhu cầu cần thiết cho sự phát triển Trí, Đức, Thể, và Nhân Cách con người Đối với các phong trào tập thể, trò chơi là một hình thức chính, làm cho các em khéo léo hơn, trí tưởng tượng phong phú hơn Trò chơi còn giúp các em biết quan sát và phản ứng nhanh, biết tôn trọng kỉ luật, biết tự chủ, từ đó nảy nở tình đồng đội, đoàn kết yêu thương nhau

Nhà tâm lí học Kunkel người Anh nói: “Trò chơi là một phương tiện để tái tạo lại tâm lý ổn định cho một số em khó tính, dở người, vô trật tự vì trong lúc chơi, trẻ

em không thu mình lại, chúng sẽ vui vẻ hẳn lên, thích hoạt động hơn Khi bị khép vào luật chơi, các em sẽ dần dần có trật tự, kỷ luật và sinh động hơn ”

Thông qua trò chơi, các nhà giáo dục sẽ hiểu rõ hơn về tính tình của từng em như: mạnh dạn, nhút nhát, ích kỷ, vị tha, nóng nảy, vụng về,

1.1.3 Lợi ích của trò chơi

Trò chơi mang những lợi ích trong việc giáo dục và rèn luyện nhất định:

- Tăng cường sức khỏe : Trò chơi thường được tổ chức ngoài thiên nhiên thoáng đãng, không khí trong lành Có nhiều trò chơi cần đến sự vận động cơ bắp như: chạy nhảy, kéo đẩy, mang vác,

- Luyện giác quan: Với những trò chơi phản ứng nhanh, ghi nhớ, nhanh mắt, thính tai, lẹ tay, tập trung ý tưởng sẽ giúp HS rèn luyện và phát triển những giác quan cho bản thân các em khi tham gia chơi

- Luyện ý chí và ý thức: Khi tham gia trò chơi, học sinh có thái độ hăng say đua tranh để giành chiến thắng Các em biết tự chủ, không rụt rè, sợ hãi, biết chấp hành

kỉ luật của trò chơi Kiên nhẫn trong khi chơi Biết sáng tạo, linh động trong mọi tình huống

- Luyện tính tình: Các em trở nên vui vẻ, sôi động Rèn luyện tính đồng đội, biết đoàn kết gắn bó với nhau để giành chiến thắng, phát triển năng khiếu tốt, sự can đảm, gan dạ và lòng vị tha

Trang 16

Bằng cách cùng với bạn thảo luận, vận động tham gia vào các trò chơi một cách hết mình và vui vẻ, trò chơi cũng có thể chữa trị cho các em bị trầm uất, bị căng thẳng hay suy nhược thần kinh cảm thấy được thoải mái và gần gũi hơn với cuộc sống Trò chơi còn giáo dục cho HS có ý thức công dân, những em biết tự giác tôn trọng luật chơi, khi lớn lên, cũng sẽ tự giác chấp hành và giữ đúng pháp luật của làng xóm, đất nước

1.1.4 Đặc điểm của trò chơi

1.1.4.1 Hoạt động vui chơi của HSTH là một hoạt động mang tính chất vô tư Trong khi chơi các em không chú tâm tới một lợi ích thiết thực nào cả Trong học tập, người học chủ tâm nắm vững tri thức khoa học và những kĩ năng, kĩ xảo cần thiết Trong lao động, người lao động chú tâm tạo ra những giá trị vất chất và tinh thần cho xã hội Còn trong trò chơi, lý do thúc đẩy các em tham gia vào trò chơi chính

là sự hấp dẫn của bản thân quá trình chơi chứ không phải là kết quả đạt được của hoạt động vui chơi Nhiều nhà tâm lí học cho rằng: “Động cơ của hoạt động vui chơi chính

là sự hấp dẫn của bản thân quá trình hoạt động chứ không nằm ở kết quả, hành động chơi mang mục đích tự nó” Điều này có nghĩa là chơi chỉ để mà chơi, chúng ta đễ dàng nhận ra điều đó khi quan sát trẻ chơi

Ví dụ: Trong trò chơi đóng vai “Em là bác sĩ”, điều hấp dẫn HS chính là các em khi được đóng vai “bác sĩ” sẽ được đeo cái ống nghe vào hai tai và đặt cái ống nghe

đó lên “người bệnh” còn việc khám có đúng bệnh không, hay chữa bệnh như vậy có đúng không thì HS hoàn toàn không để ý tới

Hiểu được hoạt động vui chơi của trẻ em mang tính chất vô tư như vậy để khi tổ chức, hướng dẫn cho trẻ chơi nên tránh việc gắn vào trò chơi những lợi ích thiết thực

và buộc trẻ phải gắng sức để đạt cho bằng được để tránh làm mất đi tính hồn nhiên

vô tư của các em trong khi chơi , như thế thì trò chơi không còn là chơi nữa

1.1.4.2 Hoạt động vui chơi của HSTH là một hoạt động mô phỏng lại cuộc sống của người lớn, mô phỏng lại những mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và

xã hội

Chơi là nhu cầu không thể thiếu được của trẻ em Trẻ em luôn mong muốn tham gia vào cuộc sống của người lớn, nhưng do chưa đủ khả năng về thể lực, trí tuệ, chưa

Trang 17

đủ tri thức để có thể tham gia vào quá trình lao động sản xuất của xã hội loài người nên chúng chỉ có thể tham gia vào cuộc sống đó theo cách riêng của mình thông qua trò chơi Hoạt động vui chơi chính là một hình thức biểu hiện thái độ tích cực của trẻ

em đối với môi trường xung quanh, đó là một hoạt động có ý thức, phù hợp với tâm sinh lý trẻ em và đáp ứng được nhu cầu tích cực hoạt động của chúng Khi chơi, chính trò chơi làm nảy sinh trí tưởng tượng của các em, kích thích cho trí tưởng tượng phát triển

1.1.4.3 Trò chơi mang tính tự do sáng tạo

Khác với các hoạt động khác, trò chơi là hoạt động không nhằm tạo ra sản phẩm nên hành động chơi không buộc phải tuân thủ theo một nguyên tắc chặt chẽ của hoạt động thực tiễn Điều này giúp các em có được những hành động tự do trong khi chơi Đối với những trò chơi có luật chơi là trò chơi mà mọi hành động của người chơi đều bị bắt buộc phải tuân theo luật chơi thì đứa trẻ vẫn có quyền tự do Tính tự do của hoạt động chơi được thể hiện ở chỗ hành động chơi hoàn toàn xuất phát từ nguyện vọng và hứng thú cá nhân, chứ không phải từ một sự áp đặt nào từ bên ngoài “Trò chơi là trò chơi bởi vì nó tự lập đối với trẻ em” (K.Đ.Usinxki) Tính tự do đã giúp trẻ

có được sự thoải mái, vui vẻ trong khi chơi Đó chính là điều kiện để trẻ hăng say tìm tòi, khám phá và làm nảy sinh nhiều sáng kiến

1.1.4.4 Trò chơi mang tính tích cực hoạt động, độc lập và tự điều khiển

Một đặc điểm nổi bật là khi tham gia trò chơi, trẻ em thể hiện rõ nhất tính độc lập, chủ động của mình Trong khi chơi, trẻ hoạt động tích cực, bộc lộ hết mình, trẻ

tự làm lấy mọi việc như chọn trò chơi, chọn vai chơi, đặc biệt là độc lập trong suy nghĩ để khắc phục những trở ngại và tìm kiếm cách chơi tốt hơn

Trò chơi không bao giờ có thể có sự lặp lại máy móc những động tác nào đó

“Trong mỗi một trò chơi tốt, trước hết phải có sự nỗ lực hoạt động có ý nghĩa” (A.X Makarencô)

Tính độc lập là một phẩm chất của trẻ được phát triển khá nhanh và khá rõ nét trong hoạt động vui chơi Một biểu hiện độc đáo của tính độc lập đó là sự điều khiển hành vi trong khi chơi Chính tính độc lập và sự tự điều chỉnh hành vi đó không những

Trang 18

gây cho trẻ niềm hào hứng và lòng tự tin trong cuộc chơi mà còn giúp chũng phát huy khả năng tự lập của mình trong cuộc sống

1.1.4.5 Trò chơi là một hoạt động tràn đầy cảm xúc

Hoạt động vui chơi luôn luôn gắn với những cảm xúc rất rõ rệt Trong trò chơi, trẻ em biết rung động với những cảm xúc rất đa dạng: thỏa mãn, vui sướng do nhu cầu hoạt động tích cực của bản thân mình được đáp ứng Trong trò chơi còn tạo ra cho các em những cảm giác xã hội: tình hữu nghị, tình đồng chí, sự giúp đỡ lẫn nhau, những cảm giác thẩm mĩ có liên quan đến nhịp điệu của các động tác chơi, đến yếu

tố sáng tạo nghệ thuật

1.1.5 Bản chất của trò chơi

Trò chơi là một hoạt động mang tính xã hội Trong lịch sử mỗi dân tộc đều có một kho tàng trò chơi, nó được tích lũy và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Các

em khi tham gia vào trò chơi, một mặt được giải trí, mặt khác lại được hiểu biết thêm

về thế giới xung quanh và hoàn thiện những khả năng của mình

Mỗi xã hội đều có ảnh hưởng đến nội dung trò chơi của trẻ em bằng con đường

tự phát hay tự giác Hơn thế nữa, trò chơi còn được sử dụng như một phương tiện truyền đạt kinh nghiệm xã hội từ thế hệ này sang thế hệ khác

Bản chất xã hội của trò chơi cũng được biểu hiện trong nội dung của trò chơi Đặc biệt là trong nội dung của trò chơi đóng vai theo chủ đề Trẻ em khi tham gia trò chơi này sẽ được mô phỏng lại cuộc sống của người lớn, trong đó có các nhân vật của trò chơi là những con người cụ thể, có tư tưởng đạo đức… phản ánh lối sống, nghề nghiệp của một xã hội nhất định

Như vậy, các trò chơi của trẻ em ở các dân tộc và ở mọi thời đại đều mang trong mình sự phát triển của xã hội Nhà tâm lý học nổi tiếng người Pháp, Henri Wallon trong khi nghiên cứu tâm lý trẻ em cũng đã xem trò chơi của chúng là một hiện tượng

xã hội đáng quan tâm Ông đã chỉ ra đặc tính phức tạp và đầy mâu thuẫn trong hoạt động vui chơi của trẻ và xác định một loạt mức độ phát triển hoạt động vui chơi qua các lứa tuổi Động cơ vui chơi của trẻ em theo Henri Wallon là sự cố gắng tích cực của đứa trẻ để tác động lại thế giới bên ngoài, nhằm lĩnh hội cho được những năng lực của con người trong thế giới đó Trong trò chơi, trẻ luyện tập được những năng

Trang 19

lực vận động, cảm giác và những năng lực trí tuệ, luyện tập các chắc năng và các mối quan hệ xã hội

Khẳng định bản chất của xã hội của trò chơi trẻ em cũng là khẳng định tác động tích cực của người lớn lên trò chơi trẻ em Trong vấn đề trẻ em chơi một cách tự nhiên chủ động, người lớn có thể hướng dẫn chúng chơi một cách có mục đích, có phương hướng và có kế hoạch nhằm tạo ra sự phát triển có hiệu quả nhất Nói cách khác, có thể sử dụng trò chơi như một phương tiện giáo dục quan trọng đối với trẻ em

1.1.6 Vai trò của trò chơi

Trò chơi nếu được tổ chức đúng đắn, hợp lý thì trò chơi sẽ là phương tiện rất tốt

để giáo dục toàn diện cho trẻ em nói chung và cho HSTH nói riêng

1.1.6.1 Trò chơi ảnh hưởng mạnh đến sự hình thành tính chủ định của quá trình hình thành tâm lý ở học sinh

Trong khi tham gia trò chơi, trẻ bắt đầu hình thành chú ý và ghi nhớ có chủ định Khi chơi các em tập trung chú ý tốt hơn và ghi nhớ được nhiều hơn bởi bản thân trò chơi đòi hỏi các em phải tập trung vào những đối tượng được đưa vào tình huống có trong trò chơi và nội dung của chủ đề Nếu trẻ không chú ý và không nhớ được những điều kiện của trò chơi thì sẽ hành động không đúng luật chơi Để trò chơi thành công buộc đứa trẻ phải tập trung chú ý và ghi nhớ một cách có mục đích

1.1.6.2 Trò chơi giúp học sinh phát triển về thể chất và trí tuệ, hoàn thiện các quá trình tri giác, chú ý, ghi nhớ, tư duy, sáng tạo

Các tình huống trong trò chơi có ảnh hưởng đến sự hoạt động trí tuệ của HSTH, góp phần rất lớn vào việc chuyển từ tư duy trực quan – hành động vào tư duy trực quan – hình tượng Trò chơi còn giúp các em tích lũy biểu tượng làm cơ sở cho hoạt động tư duy, đồng thời những kinh nghiệm được rút ra từ các mối quan hệ qua lại trong lúc chơi cho phép trẻ đứng trên quan điểm của những người khác để dự đoán hành vi tương lại của họ, trên cơ sở đó lập kế hoạch hành động và tổ chức hành vi của bản thân mình

1.1.6.3 Quá trình vui chơi ảnh hưởng lớn đến sự phát triển ngôn ngữ của HSTH Các tình huống trong trò chơi đòi hỏi các em tham gia vào trò chơi phải có một trình độ giao tiếp bằng ngôn ngữ nhất định Nếu HS không diễn đạt được mạch lạc

Trang 20

nguyện vọng và ý kiến của mình đối với trò chơi và không hiểu lời chỉ dẫn hay bàn bạc của các bạn cũng chơi thì các em sẽ không thể tham gia trò chơi được Để đáp ứng được những yêu cầu của trò chơi, thì trẻ phải phát triển ngôn ngữ một cách mạch lạc Chơi chính là điều kiện kích thích trẻ phát triển ngôn ngữ một cách nhanh chóng

và hiệu quả

1.1.6.4 Trò chơi tác động đến trí tưởng tượng của học sinh

Trong khi tham gia các trò chơi, HS có thể suy nghĩ, tìm tòi, mơ ước tưởng tượng Các em tham gia trò chơi với niềm lạc quan, say mê và hứng khởi, trong khi chơi trẻ

tỏ ra rất vui sướng và nhiệt tình khi phản ánh vào trò chơi những mối quan hệ giữa người với người, nhập vào các mối quan hệ đó để thể hiện trí tưởng tượng bay bổng

về cuộc sống bên ngoài và đưa ra cách giải quyết các tình huống trong trò chơi theo bản năng của mình

1.1.6.5 Trò chơi có vai trò trong việc hình thành phẩm chất, ý chí cho học sinh Khi tham gia vào trò chơi về những mối quan hệ với các bạn cũng chơi buộc trẻ phải đem những hành động của mình phục tùng những yêu cầu nhất định, bắt nguồn

từ ý đồ chung của cuộc chơi Do đó, các em buộc phải điều tiết hành vi của mình trong mối quan hệ qua lại với nhau, sao cho phù hợp với quy tắc của trò chơi Việc thực hiện quy tắc của trò chơi đã trở thành một trong những yếu tố cơ bản của trò chơi làm cho các thành viên trong nhóm hợp tác chặt chẽ với nhau, từ đó mà trẻ biết điều tiết hành vi của mình bằng ý chí để đạt mục đích chung của nhóm khi tham gia trò chơi Qua trò chơi, các em còn được hình thành những phẩm chất ý chí như tính mục đích, tính kỷ luật, tính dũng cảm

1.1.6.6 Trò chơi là phương tiện phát triển toàn diện nhân cách của học sinh Trò chơi có tác dụng đặc biệt đối với trẻ em Thông qua các trò chơi các em được phát triển mọi mặt theo tiêu chí giáo dục của tổ chức Đội, của nhà trường và của xã hội Đó là giáo dục đức, trí, thể lực, lao động và thẩm mĩ

Qua trò chơi, học sinh sẽ được rèn luyện những kĩ năng, những thao tác hành vi đạo đức, thể hiện được hành vi một cách đúng đắn, tự nhiên Ví dụ: trò chơi “vào vai giải quyết tình huống” sẽ giúp các em luyện tập cách nói năng, chào hỏi, cách ứng xử

và thể hiện quan điểm, đạo đức cá nhân trong các tính huống đặt ra ở trò chơi Qua

Trang 21

đó, HS sẽ tự nhận thấy hành vi, cách xử lí như thế nào là đúng, và tự chọn cho mình cách xử lí tình huống khéo léo và phù hợp

Trò chơi giữ một vai trò quan trọng trong việc giáo dục hành vi đạo đức cho học sinh Tiểu học Nội dung trò chơi sẽ minh họa một cách sinh động cho những mẫu hành vi đạo đức Nhờ vậy, những mẫu hành vi này sẽ tạo nên được những biểu tượng

rõ rệt ở học sinh, giúp cho các em ghi nhớ dễ dàng và lâu bền, đồng thời có thể tái hiện được những mẫu hành vi tương tự trong các tình huống đạo đức khác của cuộc sống Bên cạnh đó các em sẽ phát huy được tác phong nhanh nhẹn hoạt bát, đoàn kết, yêu thương giúp đỡ lẫn nhau, đặc biệt qua trò chơi, việc tuyên truyền giáo dục pháp luật rất có hiệu quả như luật An toàn giao thông, bạo lực học đường, phòng chống ma túy,…

Trò chơi giúp các em phát triển trí tuệ, suy nghĩ độc lập sáng tạo, hệ thống logic, quyết đoán…giúp các em tiếp thu bài học tốt hơn Ví dụ: trò chơi: “giải đố vui” sẽ giúp các em rèn luyện trí tuệ nhạy bén, tư duy chính xác và nhanh nhẹn khi tham gia chơi

Trò chơi còn đòi hỏi người chơi phải vận động, chạy nhảy giúp người chơi phát triển và rèn luyện sức khỏe dẻo dai, bền bỉ Ví dụ: nhảy bao bố, chạy tiếp sức, kéo co,

Thông qua trò chơi còn mô phỏng, mô tả lại cuộc sống lao động của xã hội chính

là làm cho các em hiểu lao động diễn ra như thế nào Từ đó các em hiểu, biết lao động, yêu và trân trọng những giá trị lao động Ví dụ: thi trồng cây, thi làm bánh,… Ngoài ra, trò chơi giúp trẻ nhận biết cái đẹp: chơi như thế nào cho đẹp, làm thế nào cho hay, từ đó vận dụng vào cuộc sống hằng ngày, giúp các em biến cái đẹp trong trò chơi thành cái đẹp trong cuộc sống Ví dụ: thi làm thơ, vẽ tranh, làm thiệp chúc mừng,…

1.1.7 Phân loại trò chơi

1.1.7.1 Trò chơi theo chủ đề

Trò chơi theo chủ đề rất đa dạng, phù hớp với cuộc sống muôn hình muôn vẻ xung quanh Các trò chơi theo chủ đề thể hiện sự sáng tạo tự do của trẻ em, đồng thời giúp trẻ nhận thức cuộc sống tốt hơn, sâu rộng hơn, phát triển khả năng quan sát và

Trang 22

tích cực sáng tạo của mình Do đó, các trò chơi theo chủ đề có vai trò quan trọng trong sự hình thành nhân cách trẻ em, trong sự phát triển trí tuệ, đạo đức và thẩm mĩ của chúng

Trò chơi theo chủ đề bao gồm:

a) Trò chơi sắm vai theo chủ đề

HS bắt chước người lớn, lặp lại trong trò chơi những hành động của người lớn, hoặc bắt chước động vật và lặp lại những “hành động” của động vật đã được nhân cách hóa Trẻ em càng lớn thì có tính độc lập càng rõ rệt trong trò chơi, càng thích sắm vai những người lao động gần gũi với những nghề nghiệp nhất định như: bác sĩ,

cô giáo, tài xế lái xe Nhờ vậy, trẻ em quen với hàng loạt quá trình lao động của người lớn

Ở lứa tuổi tiểu học, người ta nhận thấy các bạn nam và các bạn nữ có hứng thú sắm các vai khác nhau: các bạn nam thích sắm những vai mạnh mẽ (công an, bộ đội, người leo núi, ); các bạn nữ thích vào những vai dịu dàng (mẹ, cô, bác sĩ, ) Qua trò chơi sắm vai, trẻ em được nhập vai các nhân vật khác nhau với các mối quan hệ khác nhau Nhờ vậy, các em có thể:

- Dần dần làm quen với những sinh hoạt, những hoạt động lao động của người lớn mà sau này các em tham gia khi trưởng thành

- Bồi dưỡng được nhiều phẩm chất, phản ánh quan hệ ứng xử đúng đắn với những người xung quanh

- Bồi dưỡng được hứng thú và có thể hình thành những ước mơ về nghề nghiệp trong tương lai cho các em

Trang 23

Hình 1: Học sinh trường Quốc tế Việt – Úc Hà Nội, đóng vai xử lí tình huống

b) Trò chơi làm đạo diễn theo chủ đề

Các em tham gia một số trò chơi với vai trò “đạo diễn” chỉ đạo, điều khiển các hoạt động trò chơi, các cách xử lí các tình huống theo chủ đề với tư cách là những

“nhân vật”, những người tham gia thực hiện trò chơi Tùy theo đặc điểm tâm lí và lứa tuổi của học sinh mà những chủ đề của trò chơi ngày một phức tạp, ngày càng mở rộng phạm vi Từ chủ đề đơn giản đến chủ đề phức tạp hơn, rộng hơn với các nhân vật đa dạng hơn

Trò chơi làm đạo diễn thường được tổ chức theo nhóm Các em học sinh trong nhóm cùng thống nhất nội dung, tự phân công công việc cho từng cá nhân theo cùng một chủ đề chung

Trang 24

Hình 2: Học sinh tham gia trò chơi vẽ tranh về chủ đề “An toàn giao thông”,

tại trường Tiểu học Phan Thanh, Tam Kỳ, Quảng Nam c) Trò chơi đóng kịch theo chủ đề

Các em thường đóng kịch dựa trên một tác phẩm văn học nào đó Qua đóng kịch,

HS có cơ hội để phát triển ngôn ngữ hình tượng, phát triển óc thẩm mĩ và thể hiện những thái độ, hành vi đẹp một cách sâu sắc qua việc “nhập vai” thành công

Mở đầu, đối với học sinh ở giai đoạn 1 (lớp 1,2,3), giáo viên phải giúp đỡ các em lựa chọn những tác phẩm văn học, phân vai, hóa trang và đặc biệt là đạo diễn cho các

em thể hiện thành công tác phẩm trên sân khấu cả về mặt nội dung văn học, cả về mặt nghệ thuật Nhờ vậy, ý nghĩa giáo dục của trò chơi lại càng được nâng cao Về sau, đối với những học sinh lớn hơn ở giai đoạn 2 (lớp 4,5), GV có thể định hướng cho các em lựa chọn tác phẩm văn học tự phân vai

Những trò chơi theo chủ đề là những trò chơi sáng tạo, giúp cho trẻ em có năng lực xây dựng những hình tượng mới trong trò chơi Trẻ em càng chơi nhiều loại hình trò chơi này và sự hướng dẫn, điều khiển của người lớn càng khéo léo thì các em càng phát triển năng lực tưởng tượng sang tạo, càng có những ấn tượng mạnh mẽ đối với thể giới xung quanh

Trang 25

Hình 3: Học sinh đóng kịch tác phẩm “Cô bé quàng khăn đỏ” tại trường Tiểu

Học Nguyễn Huệ, Đông Triều, Quảng Ninh

1.1.7.2 Trò chơi vận động (trò chơi sinh hoạt)

Trò chơi vận động là loại trò chơi trong đó luôn có sự vận động cơ bắp Trẻ em rất thích loại hoạt động này, ngay cả ở lứa tuổi nhỏ nhất Các trò chơi vận động cũng

có nội dung trí tuệ phong phú, đòi hỏi ở người chơi sự chú ý, nhanh trí, biết phản ứng linh hoạt, có ý thức Do gắn với nhiều thao tác khác nhau dưới hình thức tự nhiên, trò chơi vận động có ảnh hưởng tốt tới sự phát triển cả thể chất lẫn trí tuệ của trẻ

Hình 4: Tổ chức trò chơi kéo co ở trường Tiểu học Thị trấn 1, An Ninh, tỉnh

Kiên Giang

Trang 26

1.1.7.3 Trò chơi học tập (trò chơi giáo dục)

Trò chơi học tập là một trong những phương tiện giáo dục trí tuệ cho trẻ em, trò chơi học tập giúp cho các em:

- Phát triển những khả năng về thị giác, thính giác, xúc giác,

- Chính xác hóa những hiểu biết về các sự vật và hiện tượng xung quanh

- Phát triển trí thông minh, sự nhanh trí, khả năng về ngôn ngữ,

Nhiều trò chơi học tập được tổ chức với các đồ vật, các vật liệu tự nhiên (hoa, quả, lá, ); các tranh; ảnh song cũng có nhiều trò chơi học tập đòi hỏi dùng lời Đối với những học sinh ở giai đoạn 1 (lớp 1,2,3), trò chơi học tập thường có nội dung giản đơn với yêu cầu thấp, vừa sức như trò chơi: “Đoán xem cây gì? Con gì?” Đối với những học sinh ở giai đoạn 2 ( lớp 4,5), trò chơi học tập có nội dung phức tạp với yêu cầu cao hơn, nên chúng thường gắn với nội dung các môn học (Toán, Khoa học, Lịch sử, Địa lý, )

Ở bậc tiểu học, học sinh nam và nữ bắt đầu có xu hướng khác nhau rõ rệt trong trò chơi học tập Học sinh nam thích những trò chơi kĩ thuật (thiết kế xây nhà cửa, cầu cống, ô tô, máy bay, ), còn học sinh nữ thì thích những trò chơi có liên quan đến công việc thủ công ( may quần áo, làm hoa giấy, cắt hoa, xé dán )

Hình 5: Học sinh lớp 5/5 trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, thành phố Đà

Nẵng, tổ chức thi lắp ghép xe cần cẩu

Trang 27

1.1.7.4 Trò chơi trí tuệ

Đây là trò chơi hoàn toàn dựa trên cơ sở hoạt động sáng tạo của trẻ em Nội dung các trò chơi này là sự thi đấu về một hoạt động trí tuệ nào đó: sự chú ý, sự nhanh trí, trí nhớ, sức tưởng tượng sáng tạo, các hoạt động phát minh Ví dụ: các câu đố, đố ghép chữ, trả lời câu hỏi, đóng kịch ngẫu hứng theo đề tài nào đó Trò chơi trí tuệ

sẽ giúp các em hoàn thiện các năng lực trí tuệ, phát triển tính tự lập và năng lực hoạt động tập thể, giáo dục tính kỷ luật, tính đồng đội

Trên đây là các loại trò chơi cơ bản, tuy nhiên sự phân loại này chỉ có tính tương đối, trên thực tế có nhiều loại trò chơi hỗn hợp, tổng hợp của hai hoặc nhiều loại trò chơi trên

Hình 6: Học sinh lớp 5/5, trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, thành phố Đà

Nẵng, tổ chức trò chơi “Rung chuông vàng”

1.1.8 Các nguyên tắc của việc tổ chức trò chơi ở Tiểu học

1.1.8.1 Nắm vững mục tiêu GDTH

Mục tiêu GD cũng chính là mục tiêu của tổ chức hoạt động vui chơi Nói cách khác, tổ chức hoạt động vui chơi phải quán triệt mục tiêu giáo dục toàn diện ở Tiểu học, nghĩa là trong hoạt động vui chơi đó phải phát triển được trí lực, tâm lực, thể lực

Trang 28

và góp phần nâng cao nhận thức, mở rộng hiểu biết cho trẻ, đồng thời phát triển tình cảm, ý chí, nghị lực ở trẻ

1.1.8.2 Đa dạng hóa nội dung, hình thức hoạt động vui chơi giải trí của HSTH Nguyên tắc này xuất phát từ mục tiêu GD toàn diện của Tiểu học đặt ra: Giúp HS phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản Ngoài

ra, còn xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi Tiểu học và xuất phát từ những đặc điểm nhất định của mỗi nội dung, hình thức hoạt động cần được đa dạng để có thể đáp ứng nhu cầu, quá trình phát triển nhận thức và dần dần hình thành các kĩ năng cho HS

1.1.8.3 Kích thích hứng thú và tính tự nguyện, tự giác của trẻ trong hoạt động vui chơi dưới sự quản lý của GV

Bất cứ hình thức vui chơi, giải trí nào cũng đều hấp dẫn và gây được hứng thú cho các em GV không nên áp đặt, gò bó hay đặt ra những quy định buộc các em phải tuân theo một cách máy móc Khi tổ chức cho các em vui chơi phải để cho các em tự

do, tự nguyện với tinh thần thoải mái Tổ chức cho các em vui chơi nghĩa là gợi ý, hướng dẫn để các em có thể tự mình chơi, có thể phát huy cao độ tính tự lực của mình

vì vui chơi giải trí là hoạt động độc lập của các em, qua đó các em sẽ có những sang kiến, nỗ lực vượt khó, điều đó giúp chúng trưởng thành về mọi mặt, nhất là về ý chí 1.1.8.4 Hoạt động vui chơi diễn ra trong những điều kiện cần thiết một cách có

tổ chức, có kế hoạch

Việc vui chơi của HS phải được tổ chức theo một kế hoạch nhất định, nhất là khi

tổ chức vui chơi ở trường Cần phải có sự tính toán hợp lí về thời gian, phương tiện,

có tổ chức tập thể, có hướng dẫn và phải có những điều kiện tối thiểu như sân chơi,

đồ chơi và các phương tiện cần thiết khác

1.2 Một số vấn đề chung về sinh hoạt tập thể

1.2.1 Khái niệm

Sinh hoạt tập thể thực chất là một hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp Trong Nghị quyết 133 của Bộ GD-ĐT khẳng định: “Trong nhà trường TH có hai kế hoạch hoạt động Đó là kế hoạch dạy học và kế hoạch chỉ đạo hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp” Hai hoạt động cơ bản này gắn bó chặt chẽ với nhau, tạo điều kiện để cho HS

Trang 29

củng cố những kiến thức đã tiếp thu được trên lớp, đồng thời từng bước phát triển sự hiểu biết của các em trong các lĩnh vực của đời sống

Tại điều 27, Điều lệ trường Tiểu học đã quy định: Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp bao gồm hoạt động ngoại khóa về khoa học, văn học, nghệ thuật, thể dục – thể thao nhằm phát triển năng lực toàn diện của HS và bồi dưỡng HS có năng khiếu, các hoạt động vui chơi, tham quan du lịch, giao lưu văn hóa, các hoạt động bảo vệ thiên nhiên, môi trường, các hoạt động lao động công ích, các hoạt động xã hội phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi HSTH

Vậy sinh hoạt tập thể là một trong những nội dung thuộc hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, là hoạt động mang tính toàn diện, có mục đích, nội dung, chương trình nhất định do Đội tổ chức, dưới sự điều hành, hướng dẫn của giáo viên nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh tiểu học

1.2.2 Vai trò của hoạt động sinh hoạt tập thể ở trường Tiểu học

Sinh hoạt tập thể (một HĐNGLL) là một bộ phận quan trọng của chương trình giáo dục nhà trường SHTT nối tiếp hoạt động dạy học các môn văn hóa, là con đường quan trọng để gắn học với hành, lí thuyết với thực tiễn, nhà trường với xã hội SHTT

ở trường TH tạo cơ hội cho HS thực hành, trải nghiệm những điều đã được học vào trong thực tiễn cuộc sống Trên cơ sở đó củng cố, khắc sâu, mở rộng những kiến thức,

kĩ năng các môn học cho HS

SHTT có vai trò quan trọng góp phần giáo dục nhân cách phát triển toàn diện cho HS Việc tham gia vào các giờ SHTT sẽ tạo cơ hội cho HS được thể hiện, bộc lộ,

tự khẳng định bản thân, tạo cơ hội thuận lợi cho HS được tham gia học hỏi bạn bè và mọi người xung quanh, các em được tham gia một cách tích cực vào đời sống cộng đồng… Từ đó sẽ tác động tích cực đến nhận thức, tình cảm, niềm tin và hành vi của

HS, giúp các em phát triển nhiều phẩm chất tích cực như: tinh thần đồng đội, tinh thần trách nhiệm, lòng nhân ái, khoan dung, sự cảm thông, tính kỉ luật, trung thực, mạnh dạn,…và giúp các em phát triển những kĩ năng hoạt động tập thể và kĩ năng sống cơ bản như: giao tiếp, nhận thức, xác định giá trị, ra quyết định và giải quyết vấn đề, quản lí thời gian, thu thập và xử lí thông tin,…

Trang 30

Thông qua các hoạt động như: trò chơi, tham quan du lịch, cắm trại, thể dục thể thao, văn hóa, nghệ thuật,…, SHTT còn giáo dục HS tình yêu thiên nhiên, đất nước, con người, giúp các em phát triển thể chất và thẩm mĩ, đồng thời giúp các em giải tỏa những mệt mỏi, căng thẳng sau quá trình học tập trên lớp

1.2.3 Mục tiêu của hoạt động sinh hoạt tập thể ở Tiểu học

- Củng cố, khắc sâu các kiến thức các môn đã học, đồng thời mở rộng và nâng cao hiểu biết cho HS về các lĩnh vực của đời sống xã hội, làm phong phú them vốn tri thức, kinh nghiệm hoạt động tập thể cho HS

- Hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng cơ bản, cần thiết phù hợp với lứa tuổi HSTH (kĩ năng giáo tiếp, kĩ năng nhận thức, kĩ năng tham gia các hoạt động tập thể, kĩ năng tự kiểm tra đánh giá…); đồng thời bước đầu hình thành cho HS các năng lực như năng lực tổ chức, năng lực tham gia các hoạt động xã hội… với tư cách

là chủ thể của hoạt động

- Bồi dưỡng thái độ tự giác, tính tích cực tham gia các hoạt động tập thể và hoạt động xã hội; tình cảm chân thành, niềm tin trong sáng với cuộc sống, quê hương và đất nước

1.2.4 Đặc điểm của giờ sinh hoạt tập thể ở Tiểu học

SHTT là giờ hoạt động giáo dục toàn diện, có mục đích, có nội dung cụ thể Thông qua các hoạt động này, có thể phát triển, củng cố hệ thống thái độ, hình thành cảm xúc, niềm tin, thẩm mĩ Vì thế, SHTT là một yếu tố, là điều kiện, phương tiện quan trọng để phát triển toàn diện HSTH

Chương trình hoạt động của giờ SHTT khép kín về mặt không gian, thời gian giáo dục đối với HS Bên cạnh đó tạo ra sự thống nhất tác động giáo dục vào quá trình phát triển nhân cách HS

Giờ SHTT là giờ các em được hoạt động và rèn luyện, đồng thời đây cũng là lúc các em có điều kiện thư giãn, có tâm thế thoải mái để sẵn sàng cho các hoạt động học tập tiếp theo Do đó, trong giờ SHTT, GV chủ nhiệm khéo léo lồng ghép các kiến thức các môn học vào trong hoạt động này, thì có thể vừa giúp các em ôn tập kiến thức, vừa tạo điều kiện kích thích tư duy sáng tạo và tính tích cực nhận thúc của HS

Trang 31

Nội dung của giờ SHTT mang nhiều màu sắc khác nhau, đa dạng về hình thức, phong phú về thể loại, phù hợp với hứng thú của các em

Các loại hình hoạt động trong giờ SHTT mà HS có hứng thú hơn cả là:

- Hoạt động vui chơi, giải trí

- Hoạt động văn hóa, văn nghệ

- Hoạt động tìm hiểu theo chủ đề

- Hoạt động làm sạch đẹp trường lớp

Mỗi loại hình hoạt động trên đều chứa đựng những hình thức hoạt động thể hiện khác nhau

1.2.5 Nội dung của giờ sinh hoạt tập thể ở tiểu học

Nội dung chương trình hoạt động của giờ SHTT được xây dựng dựa trên cơ sở mục tiêu, yêu cầu của cấp học, phối hợp giữa các nội dung, hình thức hoạt động mang tính xã hội chính trị, tính pháp luật, vui chơi giải trí, văn hóa nghệ thuật và hoạt động theo hứng thú, sở thích học tập của HS

Chương trình gồm có hai phần:

a) Chương trình phần bắt buộc

Chương trình phần bắt buộc yêu cầu các lớp và tất cả học sinh phải tham gia hoạt động vì đó là những nội dung góp phần thực hiện mục tiêu Giáo dục Tiểu học Mỗi khối lớp xây dựng chương trình hoạt động trong giờ SHTT với yêu cầu, nội dung khác nhau

Nội dung hoạt động được xây dựng theo các chủ điểm giáo dục Mỗi chủ điểm giáo dục được gắn với ngày lễ trong tháng, với chủ điểm trọng tâm của từng thời điểm giáo dục trong năm học Nó được tổ chức theo nguyên tắc phát triển các hình thức hoạt động từ đơn giản ở các lớp đầu cấp đến phức tạp ở các lớp cuối cấp, và nó được thực hiện trong suốt 9 tháng nhằm khép kín không gian, thời gian rèn luyện của HS, tạo ra quá trình chăm sóc giáo dục liên tục, hệ thống

Trang 32

Ví dụ: Chương trình hoạt động bắt buộc hàng tháng ở trường TH như sau:

Chăm ngoan học giỏi

-Đại hội Chi đội, Liên đội -Tăng cường kiểm tra nề nếp học đường -Làm vệ sinh khu trồng cây

-Duy trì phong trào “kế hoạch nhỏ”

-Tập huấn làm hồ sơ Đội

- Triển khai công tác Đội cho GV phụ trách Chi đội và Sao nhi đồng

- Triển khai múa hát sân trường

- Tổ chức sân chơi nhân 20-11

- Sơ kết thi đua đợt 1 và phát động thi đua đợt 2

- Triển khai Múa hát sân trường

11

Trang 33

- Tổ chức hội thi “Báo tường” Khối 4,5

-Luyện Nghi thức Đội cho khối 4,5

- Họp Ban chỉ huy Liên đội định kì tháng 12

- Làm vệ sinh khu trồng cây

- Tìm hiểu về đất nước, con người Việt Nam

- Các hoạt động chăm sóc, làm sạch đẹp nghĩa trang liệt sĩ

-Tìm hiểu về truyền thống văn hóa quê hương

- Tìm hiểu về Tết cố truyền Việt Nam

- Hoạt động tìm hiểu, tổ chức các trò chơi dân tôc

-Tham quan, (nghe kể chuyện, xem phim tư liệu,…) di tích lịch sử, văn hóa, viện bảo tàng quê hương, đất nước

- Văn nghệ ca ngợi quê hương, Đảng và Bác Hồ

-Giáo dục an toàn giao thông

-Giáo dục vệ sinh răng miệng

1-2

Trang 34

-Tổ chức hội vui học tập , câu lạc bộ khoa học, nghệ thuật

-Văn nghệ chào mừng ngày 30-4 và 1-5

-Hướng dẫn hoạt động hè cho học sinh

5

b) Chương trình phần tự chọn

Phần tự chọn là những hoạt động không bắt buộc, tùy theo điều kiện của từng trường, từng địa phương và khả năng, sở thích của HS mà lựa chọn những nội dung hoạt động cho phù hợp

GV có thể dựa vào chương trình bắt buộc theo chủ điểm hàng tháng để lựa chọn nội dung sinh hoạt trong mỗi giờ SHTT của lớp mình

- Mục tiêu hoạt động tự chọn:

+ Nội dung và hình thức hoạt động phải phù hợp với nhu cầu khả năng của HS + Bảo đảm tính linh hoạt về thời gian, không gian, địa điểm, quy mô hoạt động + Phải kích thích được hứng thú, tính sáng tạo trong hoạt động của HS

- Nội dung và hình thức tổ chức hoạt động tự chọn :

+ Sinh hoạt câu lạc bộ với các chủ đề, chủ điểm

Ngày đăng: 12/05/2021, 20:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1/ Cẩm nang “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” – PGS.TS Đặng Quốc Bảo – (2009 - NBX GDVN) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực
2/ “150 trò chơi thiếu nhi” của tác giả Bùi Sĩ Tụng và Trần Quang Đức, (2004 - NXB Giáo dục) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “150 trò chơi thiếu nhi
Nhà XB: NXB Giáo dục)
3/ “Những trò chơi vui nhộn trong SHTT” tác giả Trần Phiêu (2005-NXB trẻ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những trò chơi vui nhộn trong SHTT
Nhà XB: NXB trẻ)
4/ Tài liệu bồi dưỡng phát triển năng lực nghề nghiệp giáo viên “ Phát triển năng lực tổ chức các hoạt động giáo dục của giáo viên”- Bộ Giáo dục và Đào tạo, NXB GD Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển năng lực tổ chức các hoạt động giáo dục của giáo viên
Nhà XB: NXB GD Việt Nam
5/ “Tổ chức cho học sinh tiểu học vui chơi giũa buổi học” của đồng tác giả Trần Đồng Lâm, Trần Đình Thuận và Vũ Thị Ngọc Thư, (2010 - NXB Giáo dục Việt Nam) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức cho học sinh tiểu học vui chơi giũa buổi học
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam)
6/ “Tổ chức hoạt động vui chơi ở Tiểu học nhằm phát triển tâm lực, trí tuệ và thể lực cho học sinh” do tác giả Hà Nhật Thăng (chủ biên), (2001- NXB Giáo dục) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tổ chức hoạt động vui chơi ở Tiểu học nhằm phát triển tâm lực, trí tuệ và thể lực cho học sinh
Nhà XB: NXB Giáo dục)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w