Với mong muốn nhỏ bé góp phần vào việc nâng cao hiệu quả học tập môn Địa lý cho học sinh phổ thông và tích lũy kinh nghiệm trong việc nghiên cứu khoa học, tôi đã lựa chọn đề tài: “ Phươn
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
năng lực tự học cho học sinh
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
SƯ PHẠM ĐỊA LÝ
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Ngày nay sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật đã kéo theo những thay đổi lớn lao về kinh tế - xã hội, sự phát triển mạnh mẽ của toàn cầu hóa đã đặt ngành giáo dục đứng trước hàng loạt thách thức và cơ hội mới Trong bối cảnh như vậy, nhà trường phải đào tạo ra những con người năng động sáng tạo, nhạy bén có phẩm chất có năng lực để lĩnh hội được khối lượng thông tin lớn luôn biến động của nhân loại Như vậy vấn đề đặt ra là phải đào tạo, bồi dưỡng cho học sinh những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, phong cách học tập tự lực, tích cực trong quá trình học Với yêu cầu đó phát triển năng lực tự học cho học sinh trong nhà trường phổ thông là một yêu cầu bắt buộc
Những đổi mới về mục tiêu, nội dung, chương trình, SGK và phương pháp dạy học Địa lý ở trường phổ thông theo những cải cách giáo dục đã được tiến hành Tuy nhiên chất lượng và hiệu quả dạy học nói chung và dạy học Địa lý lớp 10 ở các
Trang 3trường THPT nói riêng vẫn chưa được nâng cao Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng đó bên cạnh việc đổi mới phương pháp dạy của thầy còn chậm chạp, còn nguyên nhân khác là do người học vẫn chưa biết cách tự học, chủ yếu là tiếp nhận thông tin một cách thụ động mà không chịu tìm tòi học hỏi, giáo viên trong quá trình dạy không chú ý nhiều đến việc trang bị kĩ năng, phương pháp tự học cho học sinh
Với học sinh lớp 10, các em đang đững trước ngưỡng cửa của cuộc đời, và
có định hướng nghề nghiệp cho tương lai, để đáp ứng yêu cầu mới của xã hội hiện đại thì việc tìm ra một phương pháp dạy học mới nhằm rèn luyện năng lực tự học cho học sinh ngày càng có ý nghĩa to lớn Sơ đồ tư duy là một công cụ rất hữu ích trong học tập, mang lại hiệu quả cao cho người học Hiện nay sơ đồ tư duy đang được ứng dụng rộng rãi trong cuộc sống, góp phần rèn luyện năng lực tư duy, nâng cao hiệu quả học tập cho người học Do vậy việc sử dụng sơ đồ tư duy (SĐTD) trong dạy học góp phần tạo cho học sinh hứng thú học tập về lâu dài còn giúp các
em tự học suốt đời
Điều quan trọng nhất trong dạy học là người thấy không chỉ dạy cho HS kiến thức về khoa học mà còn phải chỉ cho các em biết cách tự học, tự tìm tòi để chiếm lĩnh tri thức đó Với mong muốn nhỏ bé góp phần vào việc nâng cao hiệu quả học tập môn Địa lý cho học sinh phổ thông và tích lũy kinh nghiệm trong việc nghiên cứu khoa học, tôi đã lựa chọn đề tài: “ Phương pháp thiết kế và sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Địa lý lớp 10 – BCB nhằm rèn luyện năng lực tự học cho học sinh” làm đề tài nghiên cứu
2 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
2.1 Mục đích
Thiết kế và sử dụng SĐTD trong quá trình dạy học Địa lý lớp 10 – BCB để rèn luyện năng lực tự học cho học sinh
2.2 Nhiệm vụ
- Nghiên cứu cơ sở lí luận thực tiễn của việc sử dụng SĐTD trong dạy học Địa
lý lớp 10 để rèn luyện năng lực tự học cho học sinh
Trang 4- Sử dụng SĐTD trong quá trình dạy học Địa lý lớp 10 để rèn luyện năng lực
tự học cho học sinh
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm xác định tính khả thi và hiệu quả của việc sử dụng SĐTD trong quá trình dạy học Địa lý lớp 10 để rèn luyện năng lực tự học cho học sinh
- Đưa ra các kết luận và kiến nghị
3 Giới hạn của đề tài
Đề tài: “ Phương pháp thiết kế và sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Địa lý lớp 10 – ban cơ bản để rèn luyện năng lực tự học cho học sinh”, là một đề tài tương đối rộng Do hạn chế về thời gian nghiên cứu và vốn hiểu biết của bản thân chưa nhiều đề tài này tôi chỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề sau:
1 Những yêu cầu và nguyên tắc cơ bản trong quá trình sử dụng SĐTD trong dạy học Địa lý lớp 10 – THPT để rèn luyện năng lực tự học cho học sinh
2 Sử dụng SĐTD trong dạy học Địa lý lớp 10 – THPT để rèn luyện năng lực
tự học cho học sinh
3 Quy trình thiết kế và hướng dẫn học sinh vẽ và sử dụng SĐTD để rèn luyện năng lực tự học cho học sinh
4 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Các tư tưởng quan điểm về hoạt động tự học và ứng dụng của SĐTD đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử phát triển giáo dục trên thế giới và trong nước Có thể kể đến một số tư tưởng, quan điểm và các công trình nghiên cứu về tự học và ứng dụng của SĐTD trong học tập sau đây:
a Các nghiên cứu về vấn đề tự học
Theo Thaillerirent người Pháp, ông rất chú trọng tới việc phát huy tính sáng tạo và tính độc lập suy nghĩ của học sinh Ông cho rằng “ Chỉ có khi nào người ta tự tìm tòi, tự phát minh điều gì đó thì người ta mới thực sự là biết, thực sự nhìn rõ điều đó”
Ở nước ta, vấn đề tự học và bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh nhằm nâng cao chất lượng và hiệu qủa giáo dục nói chung, hiệu quả bài học nói riêng là vấn đề lớn đã và đang thu hút sự quan tâm của các nhà giáo dục, các nhà nghiên cứu
Trang 5lí luận dạy học Trong : “ Hoạt động tự học của sinh viên đại học” của Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức – NXB ĐHSP Hà Nội, 1990 đã coi hoạt động tự học như là một bộ phận hữu cơ trong việc học tập của sinh viên
- Trong “ Qúa trình dạy học – tự học” của GS Nguyễn Cảnh Toàn – NXB GD năm 1997 đã đi sâu tìm hiểu hoạt động dạy học của thầy, tự học của trò trong quá trình dạy học
- GS Đặng Văn Đức – Nguyễn Thị Thu Hằng trong cuốn “ Phương pháp dạy học Địa lí theo hướng tích cực” – NXB ĐHQG Hà Nội, 2003 đã đề cập tới phương hướng, biện pháp để nâng cao chất lượng dạy học Địa lý ở trường phổ thông hiện nay Trong đó nhấn mạnh tới vấn đề phát huy năng lực tư duy, năng lực tự học của học sinh
Vấn đề tự học đã được bàn luận sôi nổi trên các tạp chí như: giáo dục thời đại, giáo dục và nhà trường…vv, có nhiều bài viết đã đi sâu vào các vấn đề khác nhau của phương pháp dạy học Địa lý và các bài có liên quan đến vấn đề tự học Địa
lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học bộ môn
b Các nghiên cứu về sơ đồ tư duy
Trong cuốn sách “ The Mind Map” của Tony Buzan và Bary Buzan, hai ông
đã đề cập tới lý thuyết về sơ đồ tư duy, và khả năng ứng dụng của sơ đồ tư duy vào các lĩnh vực của cuộc sống Đặc biệt hai ông có đề cập tới ứng dụng của sơ đồ tư duy vào hoạt động dạy và học nhằm phát triển năng lực tư duy của người học, đây
là một trong những ứng dụng to lớn nhất của sơ đồ tư duy
Trong cuốn sách “ Sắp xếp ý tưởng với sơ đồ tư duy” của nhóm tác giả: Jean – Lucdelaqdric Le Bihan – Piere Mongin – Denis Rebaud, các tác giả đã đề cập tới cách đưa ra các ý tưởng và cách sắp xếp chúng theo cách riêng của bản thân để mang lại hiệu quả tốt nhất Khẳng định vai trò vô cùng quan trọng của việc ứng dụng SĐTD trong rèn luyện phát triển năng lực tự học cho người học
Tóm lại các công trình nghiên cứu trên là những gợi mở quý báu về mặt lí luận giúp tôi tìm được hướng giải quyết các nhiệm vụ của đề tài Tuy nhiên, cơ sở lí luận chung cũng như việc ứng dụng SĐTD trong dạy học một môn học cụ thể, đặc biệt là môn Địa lý chưa được các tác giả đề cập tới
Trang 65 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp thu thập, phân tích tổng hợp, so sánh tài liệu
Là phương pháp cần thiết cho việc hoàn thành một khóa luận Với đề tài này tôi đã tiến hành thu thập, phân tích, lựa chọn tài liệu từ các nguồn khác nhau như: Sách giáo khoa, sách tham khảo, các luận văn, các công trình nghiên cứu khoa học, các phàn mềm tin học có nội dung liên quan…Sau đó tổng hợp phân tích, so sánh các tài liệu để làm tư liệu cho bài viết của mình
5.2 Phương pháp khảo sát, điều tra thực tế
Phương pháp tìm hiểu thực tế ở trường phổ thông nhằm thu thập tài liệu thực tế cần thiết cho đề tài, thông qua dự giờ, thăm dò, điều tra tình hình dạy và học của giáo viên và học sinh lớp 10 – THPT
5.3 Phương pháp thực nghiệm
Phương pháp này được thực hiện nhằm kiểm chứng các kết quả nghiên cứu
lí thuyết, thu thập thông tin, kiểm tra, phân tích mức độ tin cậy của các giả thuyết và
bổ sung những vấn đề mà lý thuyết chưa đề cập tới
6 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục nội dung khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng SĐTD trong dạy học
Địa lý lớp 10 để rèn luyện năng lực tự học cho học sinh
Chương 2: Sử dụng SĐTD trong dạy học Địa lý lớp 10 để rèn luyện năng lực
tự học của học sinh
Chương 3 : Thực nghiệm sư phạm
Trang 7PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ SUY TRONG
DẠY HỌC ĐỊA LÝ LỚP 10 1.1 PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC ĐỊA LÝ
1.1.1 Khái niệm về phương tiện dạy học
Khái niệm về phương tiện hạy học (PTDH) được nhiều tác giả đề cập:
Nguyễn Hải Châu – Phạm Thị Sen đã nêu ra một số định nghĩa về PTDH:
- PTDH là tất cả những thiết bị và tài liệu được sử dụng trong quá trình dạy học, gồm các loại: Tài liệu in (sách giáo khoa, tài liệu tham khảo…), phương tiện nhìn (vật thật, tranh ảnh, bản đồ, biểu đồ…), phương tiện nghe nhìn (phim ảnh, video, tivi…), dụng cụ trình bày (các loại bảng phấn, bảng từ…), phương tiện kĩ thuật (máy vi tính, máy chiếu đa phương tiện…)
- PTDH là tập hợp những đối tượng vật chất được giáo viên sử dụng với tư cách là những phương tiện điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh và đối với
Trang 8học sinh phương tiện còn là nguồn tri thức phong phú để lĩnh hội tri thức và rèn luyện kĩ năng Có thể phân loại theo 3 nội dung: Tài liệu học tập (sách, tạp chí, video, đĩa từ…), thiết bị kĩ thuật day học (máy chiếu hình, máy tính, tivi…) và cơ
sở vật chất(lớp học, phòng bộ môn…)
Còn theo Nguyễn Trọng Phúc trong cuốn “ Phương tiện, thiết bị kĩ thuật trong dạy học Địa lý” : PTDH đồng nghĩa với phương tiện trực quan, đó là các vật thật, vật tượng trưng và các vật tạo hình được sử dụng để dạy học
+ Các vật thật như động vật sống trong môi trường tự nhiên, các loại khoáng vật…giúp cho học sinh hứng thú tìm tòi trong học tập
+ Các vật tượng trưng giúp cho học sinh thấy được một cách trực quan các sự vật, hiện tượng được biểu hiện dưới dạng khái quát hoặc đơn giản: sơ đồ, lược đồ, bản đồ giáo khoa…
+ Các vật tạo hình kể cả phương tiện hiện đại như tranh ảnh, mô hình, băng video, phim đèn chiếu thay cho các sự vật và hiện tượng khó thấy trực tiếp (biển, đại dương…), các sự vật và hiện tượng không thể thấy (cấu tạo của Trái Đất…) Tác giả Nguyễn Đức Vũ cũng nêu lên định nghĩa PTDH trong “ Phương tiện dạy học địa lý ở trường phổ thông” : PTDH là “ hình ảnh kép” của phương pháp dạy học (PPDH) Mỗi PPDH, với đặc trưng là hệ thống các hoạt động của giáo viên (GV) và học sinh (HS) nhằm đạt mục đích – đòi hỏi phải có phương tiện hoạt động phù hơp PPDH được thực hiện bằng các hoạt động với các phương tiện cụ thể Từ
đó có thể đi đến kết luận, PTDH chính là sự tích hợp của nội dung dạy học và phương pháp dạy học Quan niệm này đề cao chức năng nguồn tri thức của PTDH bên cạnh chức năng truyền thống là trực quan
Từ các khái niệm trên, có thể thấy là tất cả các đối tượng vật chất được sử dụng trong quá trình dạy học, là công cụ giúp GV hướng dẫn, chỉ đạo hoạt động nhận thức của HS, đồng thời PTDH cũng là nguồn tri thức để HS tìm tòi khám phá kiến thức mới Như vậy nói đến PTDH là nói đến PPDH và ngược lại PTDH là tích học của nội dung dạy học và PPDH
1.1.2 Chức năng của phương tiện dạy học
a Chức năng minh họa
Trang 9- Các PTDH địa lý có tính trực quan cao, dùng để minh họa cho các sự vật, hiện tượng địa lý
- PTDH là hình ảnh rõ nét của các đối tượng địa lý Nhờ vào PTDH, HS có các biểu tượng rõ ràng và đúng đắn về các đối tượng địa lý
- Đối tượng địa lý trải rộng trong một khoảng không gian rộng lớn Nhờ vào PTDH HS mới có thể tăng hiểu biết về các đối tượng địa lý
b Chức năng nguồn tri thức
- PTDH địa lý không chỉ là hình ảnh bên ngoài của sự vật, hiện tượng địa lý
mà còn chứa đựng nội dung bên trong của đối tượng địa lý Ví dụ, hình ảnh quả Địa cầu, nó không chỉ biểu hiện hình ảnh bên ngoài của Trái Đất, mà còn cho biết sự phân bố của các đối tượng địa lý trên bề mặt Trái đất
- PTDH chứa đựng tri thức địa lý, là công cụ khám phá tri thức, tìm tòi kiến thức Do đó trong dạy học chúng được làm công cụ cho HS khám phá, tìm tòi tri thức
- PTDH chứa đựng các khái niệm, mối liên hệ nhân quả, quy luật địa lý Ví dụ, trên bản đồ tự nhiên Việt Nam bên cạnh các khái niệm chung như sông, hồ, núi, biển, còn có các khái niệm riêng như sông Hồng, dãy Trường Sơn… các mối quan
hệ nhân quả như nơi mưa nhiều, mưa ít trên lãnh thổ là kết quả của mối liên hệ giữa địa hình và hướng gió…
1.1.3 Vai trò của phương tiện dạy học
- PTDH tạo cơ hội để hình thành biểu tượng về sự vật, hiện tượng địa lý rõ nét hơn, giúp HS nắm vũng kiến thức hơn Một kết quả nghiên cứu thực tế cho thấy, HS nhớ được kiến thức 30% nếu chỉ được nghe, còn nếu cả nghe lẫn nhìn sẽ nhớ được 50% kiến thức Do vậy sử dụng PTDH sẽ làm cho HS vừa hiểu bài nhanh hơn, vừa nhớ được nhiều kiến thức hơn
- PTDH được xem là “ điểm tựa” cho hoạt động trí tuệ của học sinh, góp phần nâng cao năng lực của các em Thực hiện các nhiệm vụ do giáo viên yêu cầu trên cơ
sở quan sát, phân tích PTDH đòi hỏi HS phải sử dụng các thao tác tư duy Đó là một trong những cơ hội để HS rèn luyện và phát triển tư duy
Trang 10- PTDH là cơ sở quan trọng để HS rèn luyện các kĩ năng địa lý và các phẩm chất cẩn thận, trung thực,…Làm việc với các PTDH, HS cần phải có các kĩ năng khai thác kiến thức chứa đựng trong bản thân các PTDH
1.1.4 Phương hướng sử dụng phương tiện dạy học
Có thể sử dụng PTDH theo nhiều cách khác nhau, phù hợp với chức năng của PTDH:
- Phù hợp với chức năng trực quan: PTDH dùng để minh họa cho việc trình bày kiến thức Ví dụ, khi dạy về sự phân bố các loại cây công nghiệp GV vừa giảng bài vừa chỉ trên bản đồ cho HS thấy vị trí và tên của các loại cây Cách này ít phát huy được tính tích cực học tập của HS nên không được khuyến khích sử dụng trong dạy học ngày nay
- Phù hợp với chức năng nguồn tri thức: PTDH được sử dụng như một công cụ
để HS tìm tòi, khám phá tri thức dưới sự tổ chức, chỉ đạo của GV Phương pháp thông dụng là GV soạn thảo những câu hỏi, bài tập, nhiệm vụ gắn với PTDH, yêu cầu (kèm theo tổ chức hướng dẫn) HS thực hiện (theo cá nhân, nhóm, lớp)
Ví dụ: Quan sát bản đồ phân bố dân cư, nêu nhận xét về sự phân bố dân cư nước ta Trong dạy học đề cao vai trò chủ thể nhận thức của HS hiện nay hướng sử dụng này được coi trọng Sử dụng theo hướng này, các PTDH đóng vai trò đắc lực trong việc góp phần phát huy tính tích cực, chủ động học tập của HS
1.1.5 Quy trình sử dụng phương tiện dạy học
Để sử dụng các phương tiện dạy học địa lý đạt hiệu quả cao trong mỗi tiết học, người GV cần tiến hành theo trình tự sau:
- Tìm hiểu nội dung bài dạy trong sách giáo khoa Trước hết, GV cần nghiên cức, nắm vững nội dung kiến thức bài dạy, sau đó định ra các vấn đề cần giảng dạy + Bài học đề cập đến nội dung học vấn nào?
+ Dự kiến nhũng kĩ năng cần rèn luyện, bổ sung cho HS trong khi dạy các chương, mục của bài
+ Dự kiến trước các PTDH (tài liệu, bản đồ, tranh ảnh…) cần thiết cho mỗi bài học
Trang 11- Soạn giáo án lên lớp: Trong giáo án ngoài phần nêu mục đích, yêu cầu, các bước lên lớp, GV cần ghi rõ những phương tiện dạy học được sử dụng vào từng nội dung của bài (lúc nào? Dùng như thế nào? Hệ Thống câu hỏi kèm theo thuộc dạng nào?)
GV cần nêu ra được trình tự của các hoạt động tương tác giữa nội dung – phương pháp – phương tiện dạy học và hoạt động của thầy và trò tương ứng với nội dung và những phương tiện dạy học đó
1.1.6 Nguyên tắc sử dụng phương tiện dạy học
Khi sử dụng PTDH phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Sử dụng PTDH phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Sử dụng PTDH phải đáp ứng với mục tiêu và phù hợp với nội dung của việc dạy học
- Phải luôn đề cao vai trò hoạt động chủ động, tính tích cực của HS GV phải tạo điều kiện tối đa cho HS tự giác làm việc với PTDH để khám phá kiến thức, đảm bảo cho toàn bộ HS trong lớp được tiếp xúc với các PTDH
- Sử dụng PTDH đúng lúc Chỉ trình bày phương tiện vào lúc cần thiết Không đưa vào trước làm phân tán sự chú ý của HS cũng không nên để quá lâu khi đã sử dụng xong
- Sử dụng PTDH đúng chỗ Chọn vị trí đặt PTDH sao cho hợp lý nhất để HS nào cũng quan sát được, và nếu cần có thể dễ dàng tiếp cận Đặc biệt những phương tiện nghe nhìn phải chọn vị trí để HS sử dụng thuận lợi các giác quan trong khi hoạt động
- Sử dụng PTDH đúng cường độ Tùy theo đối tượng HS, việc sử dụng PTDH diễn ra trong một thời lượng thích hợp, bảo đảm có tác dụng tích cực đối với việc học tập
- Phối hợp nhiều loại PTDH khác nhau trong một bài học, không nên sử dụng liên tục chỉ một phương tiện nào đó, điều đó sẽ gây nhàm chán cho HS
- Khai thác tối đa công dụng của PTDH, bên cạnh đó tích cực tìm tòi, tự tạo các PTDH đơn giản, rẻ tiền, HS cũng có thể làm được
Trang 121.1.7 Sự phát triển của phương tiện dạy học
Sự phát triển của phương tiện dạy học liên quan đến nhiều yếu tố, trong đó quan trọng nhất có phương pháp dạy học trong nhà trường và sự tiến bộ khoa học
kỹ thuật của nhân loại Trong PPDH truyền thống, với ưu thế của việc cung cấp cho học sinh những kiến thức có sẵn, các PTDH đóng một vị trí quan trọng trong việc minh họa, hoặc cụ thể hóa các kiến thức địa lý trừu tượng đối với HS
Khi đổi mới dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của HS,
mà hoạt động độc lập của HS với các nguồn tri thức được xem như một dấu hiệu quan trọng, thì các PTDH càng có một vị trí hết sức cần thiết, tạo điều kiện cho dạy học đề cao chủ thể nhận thức của HS Yêu cầu đủ về PTDH và đa dạng về thể loại trở nên có tính bắt buộc
Sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học – kĩ thuật, đặc biệt vào những năm cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI đã tạo nên những kĩ thuật hiện đại về nghe, nhìn, công nghệ thông tin và kĩ thuật vi tính Các kĩ thuật hiện đại đó được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực hoạt động của con người Địa lý nhà trường không bỏ qua cơ hội sử dụng chúng vào dạy học Càng ngày nhiều thiết bị càng được nghiên cứu và
sử dụng rộng rãi trong quá trình dạy học địa lý theo những PPDH thích hợp Các phương pháp này, một mặt làm thay đổi PPDH truyền thống, mặt khác góp phần đổi mới nội dung dạy học và mở rộng thêm nhiều khả năng lĩnh hội tri thức khoa học hiện đại
1.2 TỰ HỌC VÀ NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH
1.2.1 Một số quan điểm về vấn đề tự học
Theo quan điểm của Mác – Lê Nin, nét độc đáo trong hoạt động học tập của
HS ở trường phổ thông là lĩnh hội những tri thức của nhân loại dưới sự hướng dẫn, chỉ đạo, tổ chức của giáo viên, nhằm đạt được mục tiêu: kiến thức, kĩ năng, tình cảm, tư tưởng, thái độ Trong đó tự học là quá trình tiếp thu, gia công lưu trữ thông tin từ thầy, sách báo, tài liệu, tham khảo để tự mình chế biến, chuyển hóa thành sản phẩm trí tuệ, nhân cách của bản thân Tự học là yếu tố trực tiếp quyết định đến chất lượng giáo dục
Trang 13Quan niệm về tự học của Hồ Chí Minh: Trong tự học điều quan trọng hàng đầu là xác định rõ mục đích học tập và xây dựng động cơ học tập đúng đắn Do vậy phải hiểu rõ “ học để làm gì”? Việc xác định đúng mục đích, động cơ học tập là điều kiện tiên quyết đối với hiệu quả của việc tự học
Trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước Đảng ta đã xác định mục tiêu cơ bản của giáo dục, đào tạo là: “ tạo ra những người lao động có năng lực thực hành, tự chủ , năng động sáng tạo” Nhấn mạnh năng lực tự học, tự sáng tạo của học sinh Trong giáo dục đào tạo cần phải giúp HS thay đổi quan niệm
về phương pháp học tập cho phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước
1.2.2 Năng lực tự học
a Khái niệm năng lực
Theo từ điển Tiếng Việt : “ Năng lực là phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó có chất lượng cao”
Như vậy, năng lực là một thuộc tính tâm lí phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố tri thức, kĩ năng, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động, thông qua hoạt động là phương thức cơ bản để phát triển năng lực Không có tổ chức hoạt động cũng như tự bản thân mình không tham gia vào hoạt động thì năng lực không thể hình thành, phát triển và bộc lộ
b Khái niệm về tự học
Trong quá trình học tập bao giờ cũng có tự học, nghĩa là tự mình lao động trí
óc để chiếm lĩnh kiến thức mà không có thầy cô ở bên cạnh để trực tiếp trao đổi Theo GS.TS Đặng Vũ Hoạt thì “ Tự học là một hình thức hoạt động nhận thức và kĩ năng do chính bản thân người học tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, hoặc không theo chương trình SGK quy định Tự học có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học nhưng nó có tính độc lập cao và mang tính cá nhân”
Theo GS Nguyễn Cảnh Toàn: “ Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ ( quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan như trung thực, khách quan, có trí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì nhẫn nại, lòng say mê khoa học, muốn thi đỗ,
Trang 14biến khó khăn thành thuận lợi… để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vự đó thành sở hữu của mình”
Như vậy, khái niệm tự học có thể được tổng hợp như sau : Tự học là một bộ phận của học, nó được tạo thành bởi những thao tác, cử chỉ, ngôn ngữ, hành động của người học trong hệ thống tương tác của hoạt động dạy – học; Là quá trình tự người học hoạt động để chiếm lĩnh kiến thức, rèn luyện kĩ năng
c Năng lực tự học trong nhà trường phổ thông
Đối với học sinh phổ thông, tự học trong nhà trường là tự học có hướng dẫn Đó là tích cực trong học tập, biết phát huy cao độ năng lực hiểu biết, tự tổ chức, tự nghiên cứu kết hợp với sự hướng dẫn của giáo viên nhằm biến những kiến thức của nhân loại thành của mình Khi hoạt động tự học không có giáo viên điều khiển trực tiếp, học sinh tự lập kế hoạch, sử dụng những điều kiện vật chất và nhất
là huy động năng lực bản thân để ôn tập, củng cố, đòa sâu, mở rộng và hoàn chỉnh tri thức, hoàn thành nhiệm vụ học tập do giáo viên giao cho, đồng thời lĩnh hội tri thức mới
1.2.3 Tự học Địa lý trong nhà trường phổ thông
Trong quá trình dạy học địa lý, việc xác định đúng quan niệm về tự học địa
lý của HS là một vấn đề rất quan trọng nhằm để giúp GV xác định PPDH thích hợp
Tự học địa lý của HS không chỉ là biết tóm tắt nội dung SGK, nhớ một số hiện tượng địa lý, biết vẽ một số biểu đồ đơn giản mà HS cần phải tự nắm vững kiến thức, kĩ năng địa lý một cách sâu sắc và có thể vận dụng một cách thành thạo những kiến thức đó
Có thể quan niệm việc tự học địa lý của học sinh là việc các em chủ động, tích cức trong việc hoành thành những nhiệm vụ học tập được giao với sự giúp đỡ, hướng dẫn, kiểm tra của giáo viên
Vậy bản chất của việc tự học địa lý ở trường phổ thông là sự tự lực của người học trong việc tìm kiếm tri thức Địa lý cho bản thân, tức là tự tổ chức, tự điều khiển, tự kiểm tra, đánh giá quá trình học tập của mình dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn của giáo viên nhằm đạt được mục đích, nhiệm vụ học tập
Trang 15Năng lực tự học Địa lý là khả năng tự mình tìm tòi, nhận thức và vận dụng kiến thức địa lý vào tình huống mới hoặc tình huống tương tự với chất lượng cao Đối với học sinh THPT việc rèn luyện năng lực tự học địa lí chính là rèn luyện tính tích cực chủ động trong quá trình nhận thức, khát vọng học tập, sự cố gắng trong học tập, biết cách học hiệu quả Năng lực tự học địa lý của học sinh được ví như nội lực quan trong trong quá trình dạy và học địa lý Năng lực tự học địa lý bao gồm những dấu hiệu đặc trưng sau:
+ Năng lực nhận biết, tìm tòi, phát hiện vấn đề Địa lý
+ Năng lực giải quyết vấn đề
+ Năng lực xác định các kết luận đúng từ giải quyết vấn đề (cách thức, biện pháp, kiến thức, giải pháp…)
+ Năng lực vận dụng kiến thức Địa lí vào thực tiễn
+ Năng lực tự kiểm tra, đánh giá
1.3 SƠ ĐỒ TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÝ
1.3.1 Khái niệm sơ đồ
Sơ đồ là hình vẽ thể hiện được những đặc điểm chủ yếu nhất về cấu trúc và mối quan hệ bên trong của các sự vật, hiện tượng
Dấu hiệu cơ bản của sơ đồ:
- Thể hiện cấu trúc của các sự vật, hiện tượng
- Thể hiện mối quan hệ giữa các bộ phận của các sự vật, hiện tượng
- Chỉ thể hiện các đặc điểm chủ yếu nhất, bộ phận quan trọng nhất của sự vật, hiện tượng
1.3.2 Phân loại sơ đồ
Trong dạy học địa lý phổ biến các loại sơ đồ sau:
- Sơ đồ cấu trúc: Biểu hiện các thành phần và yếu tố trong một chỉnh thể và mối quan hệ giữa chúng
- Sơ đồ quá trình: Biểu hiện vị trí các thành phần, yếu tố và mối quan hệ giữa chúng trong quá trình vận động
- Sơ đồ địa đồ học: Biểu hiện mối liên hệ về mặt không gian của các sự vật, hiện tượng địa lý trên biểu đồ, lược đồ
Trang 16- Sơ đồ logic: Biểu hiện mối liên hệ về nội dung bên trong của các sự vật hiện tượng địa lý
1.4 SƠ ĐỒ TƯ DUY
1.4.1 Sự ra đời và phát triển của sơ đồ tư duy
Sinh năm 1942 tại London – Anh, Tony Buzan là cha đẻ của phương pháp tư
duy Mind – Map (giản đồ ý) và khái niệm xóa mù tư duy Ông là cực học sinh của trường Kitsilano, ông được nhận bằng danh dự về Tâm lý học, Văn chương Anh Toán học và các môn khoa học tự nhiên khác của trường Đại học British Columbia năm 1964 Ông bắt đầu suy nghĩ về trí não và thấy rằng cách đầu tiên chúng ta nhớ là tưởng tượng và liên tưởng Do đó muốn ghi nhớ một trang giấy đầy những ghi chú, trí nhớ chúng ta sẽ nhớ tới hình ảnh, màu sắc, kí hiệu, mã
số, sự liên tưởng và liên kết Cách tốt nhất để liên kết hình ảnh trên một trang giấy
là sử dụng các mũi tên khoảng cách, kí hiệu mà bạn nhớ được Đó là “ mind – map”
và ông cho rằng “ bộ não sinh ra là để ghi nhớ thì nó cần phải tập luyện giống như tay, chân nếu không vận động lâu ngày sẽ bị teo đi vậy” Tony Buzan chính thức
giới thiệu phần mềm Imind Map vào tháng 12/2006 Tại Việt Nam vào tháng
03/2006, chương trình thời sự của Đài truyền hình Việt Nam đã thực hiện một phóng sự về hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và phổ biến sơ đồ tư duy của nhóm tư duy mới (New Thinking Group - NTG) khi nhóm thực hiện dự án: “ Ứng dụng công
cụ hỗ trợ tư duy – Sơ đồ tư duy” cho sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội Dự án đã nhận được sự ủng hộ sâu rộng từ lãnh đạo ĐHQG Hà Nội, lãnh đạo Viện nghiên cứu con người, các thầy cô và đông đảo học sinh, sinh viên
Từ đó đến nay, sơ đồ tư duy đã được ứng dụng rộng rãi trên nhiều lĩnh vực của cuộc sống, đặc biệt là trong học tập Học tập bằng sơ đồ tư duy thực sự đã mang lại những hiệu quả to lớn, góp phần đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực
Trang 171.4.2 Khái niệm sơ đồ tư duy
Sơ đồ tư duy hay còn gọi là bản đồ tư duy, lược đồ tư duy, … được phát minh
bởi Tony Buzan là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng,
hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức,…bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực
Sơ đồ tư duy chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng liên tưởng (các nhánh) Là một công cụ tư duy nền tảng, có thể miêu tả nó là một kĩ thuật hình họa với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não, giúp con người khai thác tiềm năng vô tận của bộ não Đây là phương pháp dễ dàng nhất để chuyển tải thông tin vào bộ não của bạn rồi đưa thông tin ra ngoài bộ não Nó là một phương tiện ghi chép đầy sáng tạo và rất hiệu quả
1.4.3 Cấu trúc của sơ đồ tư duy
Một cách điển hình sơ đồ tư duy (SĐTD) có cấu trúc như sau:
Không giống như cách viết thông thường, Sơ đồ tư duy không xuất phát từ trái sang phải và từ trên xuống dưới theo
kiểu truyền thống
Thay vào đó, sơ đồ tư duy được
vẽ, viết và đọc theo hướng bắt nguồn
từ trung tâm di chuyển ra phía ngoài và
sau đó là theo chiều kim đồng hồ Do
Trang 18đó, các từ ngữ nằm bên trái sơ đồ tư duy nên được đọc từ phải sang trái (bắt đầu từ phía trong di chuyển ra ngoài) Các mũi tên xung quanh sơ đồ tư duy bên dưới chỉ
ra cách đọc thông tin trong sơ đồ Các số thứ tự cũng là một cách hướng dẫn khác Bốn kết cấu chính I, II, III, IV trong sơ đồ tư duy phía trên được gọi nhánh chính Sơ đồ tư duy này có bốn nhánh chính vì nó có bốn tiêu đề phụ Số tiêu đề phụ là số nhánh chính Đồng thời, các nhánh chính của sơ đồ tư duy được đọc theo chiều kim đồng hồ, bắt nguồn từ nhánh I tới nhánh II, rồi nhánh III, và cuối cùng là nhánh IV
1.4.4 Ý nghĩa của việc sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Địa lý
Sơ đồ tư duy (SĐTD) là một kĩ thuật hình họa đóng vai trò là chìa khóa vạn năng để khai phá tiềm năng của bộ não Có thể áp dụng SĐTD trong rất nhiều lĩnh vực của cuộc sống, đặc biệt là trong quá trình giảng dạy và học tập ở nhà trường Phát hiện ban đầu của GS Roger Sperry thuộc đại học Califonia cho thấy hai vỏ bán cầu não có khuynh hướng phân chia thành hai nhóm có chức năng tư duy như hình vẽ bên dưới Bán cầu não phải dường như trội hơn trong các hoạt động tư duy sau: nhịp điệu, nhận thức về không gian, tính toàn thể, tưởng tượng, mơ mộng, màu sắc và kích thước Còn bán cầu não trái lại trội hơn trong các hoạt động: lời nói, suy luận, số, xâu chuỗi, quan hệ tuần tự, phân tích, liệt kê
Hình 1.1: Các chức năng khác nhau của 2 vỏ bán cầu não theo
Trang 19Sơ đồ tư duy có 4 đặc điểm chính sau:
- Đối tượng quan tâm được kết tinh thành một hình ảnh trung tâm
- Từ hình ảnh trung tâm, những chủ thể chính của đối tượng được tỏa rộng thành các nhánh
- Các nhánh đều cấu thành từ một hình ảnh chủ đạo hay từ khóa trên một dòng liên kết Những vấn đề phụ cũng được biểu thị bằng các nhánh gắn kết với những nhánh
có thứ bậc cao hơn
- Các nhánh tạo thành một cấu trúc nút liên hệ nhau
Màu sắc, hình ảnh, mã số, kích thước có thể được sử dụng để làm nổi bật và phong phú SĐTD, khiến nó tăng thêm sức thu hút, hấp dẫn, cá tính Nhờ vậy mà giúp HS phát huy tính sáng tạo, khả năng ghi nhớ, đặc biệt là sức gợi nhớ thông tin Với cách thể hiện gần như cơ chế hoạt động của bộ não, SĐTD mang lại rất nhiều lợi ích cho người học và góp phần to lớn trong việc rèn luyện năng lực tự học cho HS:
- Sử dụng SĐTD trong quá trình học tập giúp HS tiết kiệm thời gian học vì nó chỉ tận dụng những từ khóa Nhờ vào việc tận dụng những từ khóa và những hình ảnh sáng tạo, một khối lượng kiến thức lớn có thể được HS ghi chép thể hiện hết sức cô đọng chỉ trên một trang giấy
- Sử dụng SĐTD giúp HS tăng khả năng tiếp thu và nhớ bài nhanh hơn SĐTD có rất nhiều hình ảnh để bạn hình dung về kiến thức cần nhớ Đối với não bộ, SĐTD giống như một bức tranh lớn nhiều màu sắc, hình ảnh nó phong phú hơn là một bài học khô khan, nhanh chán SĐTD thể hiện sự liên kết giữa các ý tưởng một cách rõ
Trang 20ràng Việc sử dụng những màu sắc, kích cỡ, hình ảnh đa dạng cho phép HS làm nổi bật các ý trọng tâm
Sơ đồ tư duy có tác dụng rất lớn trong việc góp phần phát huy tính tích cực, sự
tự lực của người học trong việc tìm kiếm tri thức địa lý cho bản thân và thông qua
đó góp phần rèn luyện năng lực tự học cho HS, nâng cao chất lượng hiệu quả học tập
Việc giảng dạy và học tập môn Địa lý có sử dụng SĐTD mang lại rất nhiều lợi ích cho người học
* Lợi ích của việc giảng dạy Địa lý với SĐTD :
- SĐTD làm công cụ, phương tiện trong quá trình tổ chức các hoạt động nhận thức cho HS, gợi hứng thú cho người học một cách tự nhiên nhờ đó giúp HS tiếp thu nhiều hơn và tích cực hơn khi học trên lớp
- SĐTD làm cho bài học, cách trình bày bài học trở nên ngẫu hứng, sáng tạo và lý thú hơn đối với cả GV và HS
- Nhờ SĐTD, ghi chú bài giảng của GV trở nên linh hoạt Trong thời đại mà mọi thứ đều thay đổi và phát triển nhanh chóng, GV cần có khả năng làm mới, đồng thời
bổ sung ghi chú bài giảng một cách dễ dàng, nhanh chóng
- Sử dụng SĐTD trong quá trình dạy học giúp biểu thị nội dung thích hợp dưới hình thức rõ ràng và dễ nhớ nên HS sẽ có khuynh hướng đạt điểm cao hơn trong các kì thi
- Khác với văn bản trình bày nội dung theo cách tuần tự, SĐTD không những biểu thị các kiến thức địa lý mà còn cho thấy mối liên hệ giữa các kiến thức, các vấn đề
đó, nhờ đó HS sẽ hiểu sâu hơn về các vấn đề mà GV trình bày
* Lợi ích của việc học tập Địa lý với SĐTD
Học sinh có thể sử dụng SĐTD trong các hoạt động học tập Địa lý như : trình bày bài học trên lớp; tự ôn bài ở nhà ; ghi chú khi đọc SGK, sách tham khảo; tự ôn tập; tự hệ thống lại kiến thức đã học để chuẩn bị cho các kì thi, kiểm tra, sử dụng SĐTD khi cần trình bày, tìm hiểu về một vấn đề địa lý cụ thể…vv
Trang 21Trong quá trình học tập nếu HS sử dụng SĐTD sẽ mang lại hứng thú học tập,
HS sẽ sáng tạo hơn, ghi nhớ dễ dàng hơn, phát huy tính sáng tạo của người học trong việc tìm hiểu các kiến thức địa lý Bởi vì khi sử dụng SĐTD :
- Ý chính sẽ được tập trung và xác định rõ ràng
- Quan hệ tương hỗ giữa mỗi ý được chỉ ra tường tận, ý càng quan trọng thì sẽ nằm
ở vị trí càng gần với ý chính
- Liên hệ giữa các khái niệm then chốt sẽ được tiếp nhận lập tức bằng thị giác
- Ôn tập và ghi nhớ kiến thức địa lý sẽ hiệu quả và nhanh hơn
- Thêm các thông tin (ý) dễ dàng hơn bằng cách chèn thêm các nhánh vào SĐTD
- Mỗi sơ đồ sẽ phân biệt nhau tạo sự dễ dàng cho việc ghi nhớ
1.5 ĐẶC ĐIỂM TÂM SINH LÝ VÀ TRÌNH ĐỘ NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH LỚP 10
1.5.1 Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi
Lứa tuổi HS lớp 10 là lứa tuổi thuộc giai đoạn đầu của tuổi mới lớn (tuổi thành niên), đây là giai đoạn phát triển rất quan trọng trong cuộc đời con người Ở giai đoạn này, các em bước vào tuổi có nhiều biến đổi về đặc điểm tâm sinh lý, nhận thức, tư duy, tình cảm giao tiếp, ứng xử…Các em đã nảy sinh được ý thức tự bản thân, giao tiếp với bạn bè và phát triển tư duy, phát triển tình cảm ở mức độ cao hơn, bên cạnh đó là sự phát triển của óc lý luận, sáng tạo, tính phê phán, thẩm mỹ…
Ở lứa tuổi này các em có sự thay đổi về đặc điểm tâm sinh lý rất quan trọng
- Có sự phát triển nhanh về tâm lý, đặc biệt phát triển về mặt xã hội Có sự chín chắn và kinh nghiệm hơn các em tuổi thiếu niên Nảy sinh và nhạy cảm hơn trong chuyện tình cảm, giao tiếp với bạn bè…Có thể nắm bắt và phân biệt các mặt trái của một vấn đề một cách nhanh chóng và tinh tế hơn
- Thích khám phá cái mới và tự khẳng định mình, đồng thời các em đã bắt đầu có những xu hướng cá biệt, có quan điểm riêng và nhân cách đã được định hình Khả năng tiếp thu của các em nhạy bén hơn, sự trưởng thành về tâm sinh lý khác biệt với trước đây
Trang 221.5.2 Đặc điểm hoạt động học tập của học sinh Trung học phổ thông
1.5.2.1 Đặc điểm hoạt động học tập
- Nội dung và tính chất của hoạt động học tập ở học sinh Trung học phổ thông đòi
hỏi tính năng động, độc lập ở mức độ cao hơn, khả năng tư duy thiên về lý luận hơn
- Thái độ học tập có ý thức đã thúc đẩy sự phát triển có tính chủ định của các quá trình nhận thức và năng lực điều khiển bản thân của HS trong hoạt động học tập
1.5.2.2 Đặc điểm hoạt động của sự phát triển trí tuệ
- Ở lứa tuổi HS Trung học phổ thông, tính chủ định được phát triên mạnh ở tất cả các quá trình nhận thức Ghi nhớ có chủ định giũa vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ, đồng thời vai trò của ghi nhớ logic trừu tượng, ghi nhớ có ý nghĩa ngày một tăng lên rõ rệt
- Tri giác có mục đích đã đạt được ở mức rất cao Quan sát trở nên có hệ thống và toàn diện hơn
- Khả năng tư duy lí luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập, sáng tạo hơn Tư duy ngày càng chặt chẽ, có căn cứ và nhất quán hơn Đồng thời tính phê phán của tư duy cũng phát triển, thế giới quan dần được hình thành
Hiện nay, khối lượng kiến thức Địa lý trong SGK lớp 10 tương đối lớn Trong khi đó thời gian học tập và giảng dạy ở trên lớp còn hạn chế nên chỉ có thể cung cấp
và trang bị cho HS những kiến thức cơ bản Do đó việc sử dụng SĐTD như một công cụ, phương tiện đắc lực trong quá trình dạy học Địa lý lớp 10 để HS chủ động chiếm lĩnh tri thức, mở rộng vốn hiểu biết của mình, qua đó sẽ góp phần rèn luyện năng lực tự học cho HS Hơn nữa đây cũng là tiền đề quan trọng để các em tiếp tục nghiên cứu, học tập bộ môn Địa lý cấp cao hơn một cách hiệu quả nhất
Trang 23Tóm lại, đặc điểm tâm sinh lí và đặc điểm nhận thức của học sinh THPT ngày nay đã có sự thay đổi về chất Năng lực quan sát sâu sắc, nhạy bén hơn và khả năng
tư duy trừu tượng cao hơn đặc biệt là khả năng phân tích tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa Trên cơ sở đặc điểm tâm lí và trình độ nhận thức của HS lớp 10 hiện nay, việc thiết kế và sử dụng SĐTD trong quá trình dạy và học tập Địa lý sẽ có tác dụng làm nổi bật và nhấn mạnh các kiến thức Địa lý cả về tự nhiên và kinh tế - xã hội Qua đó có thể dễ dàng so sánh, đối chiếu với những điều đã biết, tìm ra mối liên hệ mật thiết giữa các kiến thức Địa lý và nắm được kĩ năng suy nghĩ độc lập, nắm được phương pháp và kĩ thuật hoạt động trí tuệ độc lập, tự trau dồi kiến thức, biết cách tự học
1.6 ĐẶC ĐIỂM CHƯƠNG TRÌNH SÁCH GIÁO KHOA ĐỊA LÝ LỚP 10 – BAN CƠ BẢN
1.6.1 Đặc điểm chương trình
1.6.1.1 Mục tiêu
Địa lý lớp 10 là phần mở đầu cho chương trình Địa lý Trung học phổ thông Nội dung chủ yếu của chương trình đề cập đến các khái niệm cơ bản, các quy luật chung về địa lý tự nhiên và địa lý kinh tế - xã hội Mục đích chủ yếu là hoàn thiện
và nâng cao các kiến thức HS đã học ở Trung học cơ sở và tạo ra cơ sở để HS tiếp thu tốt Địa lý Thế giới (lớp 11) và Địa lý Việt Nam (lớp 12)
Mục tiêu của chương trình sách giáo khoa Địa lý lớp 10 là:
- Góp phần hoàn thiện học vấn phổ thông cho HS, đáp ứng mục tiêu phát triển giáo dục và phát triển con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Củng cố và tiếp tục phát triển ở mức độ nhất định các năng lực chính mà HS đã hình thành ở bậc trung học cơ sở như: năng lực hành động có hiệu quả trên cơ sở kiến thức, kĩ năng đã có trong quá trình học tập rèn luyện Năng lực hợp tác, phối hợp hành động trong học tập và đời sống, năng lực sáng tạo có thể thích ứng với những thay đổi, năng lực tự khẳng định mình
* Mục tiêu cụ thể như sau:
HS nắm được:
Trang 24- Về kiến thức:
Trang bị cho HS những kiến thức, những khái niệm chung cơ bản về các mặt: + Môi trường và các loại tài nguyên (tiền đề vật chất của các hoạt động sản xuất của con người trên Trái Đất)
+ Dân cư và các nguồn lực về kinh tế - xã hội
Các hoạt động kinh tế của con người ở các lĩnh vực khác nhau như công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, thương mại dịch vụ…
- Về kĩ năng:
Phát triển ở HS các kĩ năng trí tuệ và kỹ năng thực hành như:
+ Kỹ năng qaun sát, nhận xét, phân tích, so sánh, đánh giá, giải thích các hiện tượng địa lý
+ Kỹ năng phân tích các số liệu thống kê, sơ đồ, biểu đồ, bản đồ, tranh ảnh, lát cắt + Kỹ năng thu thập, xử lý và trình bày các thông tin địa lý
Điều đó được thể hiện:
- Bổ sung toàn bộ kiến thức cơ bản về địa lý tự nhiên đại cương cho tương xứng với phần địa lý kinh tế - xã hội đại cương
- Ngay trong phần địa lý kinh tế - xã hội đại cương, bản thân nó cũng được hàn thiện để trở nên khoa học và cập nhập hơn
Nội dung cụ thể: Chương trình gồm 2 phần: Địa lý tự nhiên và địa lý kinh tế -
xã hội
- Địa lý tự nhiên tập trung vào các nội dung
Trang 25+ Bản đồ: Để các em hộ tốt môn này, các kiến thức tối thiểu về bản đồ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nó được sử dụng không chỉ với lớp 10 mà còn ở các lớp sau nữa Chương trình này cung cấp các kiến thức về phép chiếu hình bản đồ, một số phương pháp biểu hiên các đối tượng địa lý trên bản đồ, cách sử dụng bản đồ… + Vũ trụ và hệ quả các chuyển động của Trái Đất
+ Cấu trúc của Trái Đất và các quyển của lớp vỏ địa lý
+ Một số quy luật chủ yếu của lớp vỏ địa lý
Về thực hành, các nội dung giúp làm rõ hơn lí thuyết và rèn luyện kĩ năng đọc, phân tích bản đồ các thành phần tự nhiên cũng như kỹ năng vẽ và phân tích biểu đồ liên quan đến các hiện tượng địa lý
- Địa lý kinh tế - xã hội tập trung vào các nội dung sau:
+ Các vấn đề địa lý dân cư thế giới
+ Cơ cấu nền kinh tế và các ngành kinh tế chính
+ Môi trường và sự phát triển bền vững
1.6.1.3 Cấu trúc chương trình
Chương trình địa lý ở phổ thông được được thiết kế theo kiểu đồng tâm Về kiến thức Địa lý lớp 10 là chương trình Đại lý đại cương Chương trình này đề cập đến 2 phần: Địa lý tự nhiên và địa lý kinh tế - xã hội Cụ thể:
- Phần Địa lí tự nhiên : chiếm 1/2 thời lượng của chương trình, gồm 4 chương, 21 bài (trong đó riêng bài 9 là 2 tiết, còn lại các bài đều 1 tiết), bao gồm 18 bài lí thuyết
và 3 bài thực hành)
Cấu trúc của phần Địa lí tự nhiên như sau:
Chương
Số tiết
Trong đó
Lí thuyết Thực hành
Trang 26Trong đó
Lí thuyết Thực
hành
Trang 271.6.2 Đặc điểm sách giáo khoa Địa lý lớp 10 cơ bản
1.6.2.1 Đặc điểm kênh chữ
- Kênh chữ là phần quan trọng của sách khoa Nét đặc trưng của chương trình Địa lý lớp 10 là kiến thức lý thuyết chiếm tỉ trọng lớn Vì vậy thông qua kênh chữ các khái niệm cơ bản, quy luật, hiện tượng địa lý…được trình bày giúp HS nhận thức được nội dung chính của bài học
- Phần kênh chữ được trình bày ngắn gọn, súc tích, rõ ràng, bố cục chặt chẽ trong từng chương, từng bài Nhũng khái niệm và quy luật được đề cập đến được giải thích hoặc trình bày dưới dạng các định nghĩa, được sắp xếp theo một trình tự nhất định
- Chữ được in màu chủ yếu là màu đen, còn lại mục bài, phần câu hỏi, các bảng số liệu, bảng kiến thức được trình bày màu khác (thường là màu xanh) giúp
HS dễ dành nhận thấy những điểm nhấn, những nội dung chính của bài Điều này làm cho tính trực quan cao hơn, HS dễ xác nhận và nhớ lâu hơn
1.6.2.2 Đặc điểm kênh hình
So với sách giáo khoa được biến soạn trước đây, kênh hình trong sách giáo khoa mới được tăng cường nhiều hơn và tăng lên rõ rệt, nó liên hệ tốt hơn với kênh chữ trong việc trình bày kiến thức địa lý
- Kênh hình trong sách giáo khoa địa lý tương đối nhiều, phong phú đa dạng với các lược đồ, biểu đồ, sơ đồ, tranh ảnh…Nó không chỉ có chức năng minh họa
mà quan trọng hơn chính là nguồn tri thức để HS khai thác
Qua kênh hình giúp HS hiểu rõ hơn các sự vật hiện tượng, bên cạnh đó rèn luyện khả năng tư duy và các kĩ năng địa lý cần thiết Ưu điểm này tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên rèn luyện kĩ năng cho HS Nhất là kĩ năng làm việc với bản
đồ, biểu đồ…
- Trong quá trình biên soạn kênh hình, việc lựa chọn các hình ảnh vừa đảm bảo tính thẩm mỹ, tính khoa học và tính sư phạm Nó có ý nghĩa đặc biệt với quá trình nhận thức của học sinh
- Kênh hình được in màu làm tăng tính trực quan, dễ dàng nhận biết, phân biệt các đối tượng, giúp HS làm việc dễ dàng
Trang 281.6.2.3 Cách thức trình bày
- Được trình bày theo thứ tự gồm chương, bài, bài thực hành, ôn tập
- Có hệ thống câu hỏi ở giữa bài và cuối bài Hệ thống này gồm hơn 100 câu hỏi và bài tập khác nhau Đặc biệt các câu hỏi ở giữa bài, chủ yếu là những câu hỏi dẫn dắt HS quan sát kênh hình hoặc dựa vào kiến thức đã có để trình bày hoặc giải thích kiến thức mới
- Các bộ phận kênh hình, kênh chữ, câu hỏi, bài tập là một thể thống nhất Việc trình bày kênh chữ không tách biệt với kênh hình tạo điều kiện thuận lợi trong việc rèn luyện kỹ năng địa lý cho HS Các câu hỏi trình bày dưới dạng câu hỏi mở bắt buộc HS phải tìm ra kiến thức cần thiết
- Kiến thức được trình bày dưới nhiều dạng khác nhau, có thể từng đoạn hoặc dưới dạng câu hỏi
Tóm lại, với đặc điểm của SGK theo chương trình mới với việc đảm bảo tính khoa học, hiện đại, phản ánh được những thành tựu mới của khoa học địa lý, những vấn đề cảu thế giới hiện đại và đảm bảo định hướng đổi mới phương pháp dạy học Việc biên soạn chương trình mới đã hoàn thiện với việc tăng cường hệ thống kênh hình, các câu hỏi, bài tập phát huy tính tích cực của HS, giảm hệ thống kênh chữ xuống, nội dung súc tích, ngắn gọn, dễ hiểu và dễ nhớ, giúp HS dễ dàng nhận thức và nắm bài lâu hơn
1.6.3 Những thuận lợi và khó khăn của sách giáo khoa Địa lý lớp 10 cơ bản với việc thiết kế và sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Địa lý
a Thuận lợi:
- Kênh chữ và kênh hình được trình bày rõ ràng, súc tích, cô đọng, có định lượng kiến thức vừa phải, số lượng sơ đồ trong sách giáo khoa nhiều, điều đó giúp
GV thuận lợi trong việc giảng dạy
- Phần địa lý kinh tế - xã hội chủ yếu là dạy các kến thức gồm khái niệm, đặc điểm quy luật…Đây là những vấn đề khó vì tính trừu tượng của chúng Để HS nắn được kiến thức GV cần có những minh họa, mô hình, sơ đồ… để cụ thể làm rõ vấn
đề Có những bài có thể sử dụng gần như toàn bộ sơ đồ tư duy để minh họa, làm rõ
Trang 29Đây chính là điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng SĐTD phù hợp với nội dung của bài học
b Khó khăn:
- Việc thiết kế và thành lập SĐTD trong dạy học cũng không phải là công việc
dê dàng, nó phải tìm tòi, chọn lọc những nội dung phù hợp và sử dụng các SĐTD phù hợp Bên cạnh đó việc thiết kế SĐTD cũng cần phải có thời gian, dụng cụ, in ấn tốn kém…Đây cũng là yếu tố hạn chế việc thiết kế SĐTD của GV để phục vụ cho việc giảng dạy
1.7 HIỆN TRẠNG CỦA VIỆC THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÝ LỚP 10 – BAN CƠ BẢN
1.7.1 Quan điểm của giáo viên về thiết kế và sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy
học Địa lý lớp 10
Thực trạng của việc xây dựng và sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Địa lý lớp 10 hiện nay qua việc thăm dò ý kiến của một số GV trong đợt thực tập sư phạm vừa qua đã thu được kết quả như sau : Đối với việc thiết kế và sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Địa lý 10 ở trường phổ thông 98 % GV cho rằng đây là việc làm cần thiết Các GV đều ghi nhận có nhiều khả năng thiết kế sơ đồ tư duy trong Địa lý lớp 10 nhất là phần Địa lý kinh tế - xã hội,vì nhiều nội dung của bài học có mối liên
hệ logic chặt chẽ với nhau
Bảng 1.2: Ý kiến của GV về việc thiết kế và sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Địa lý
Qua điều tra cho thấy việc thiết kế và sử dụng SĐTD trong quá trình dạy học được đa số các giáo viên sử dụng, chỉ có 2 giáo viên là không sử dụng SĐTD Tuy nhiên ở mức độ thiết kế và sử dụng SĐTD có sự khác nhau Ở mức độ thường
Trang 30xuyên chiếm tỉ lệ ít khoảng 20 % Cách thức thiết kế sơ đồ cũng khác nhau, có GV chỉ vẽ nháp trên bảng, có GV chuẩn bị trước ở nhà (vẽ bằng tay hoặc sử dụng phần mềm) Việc sử dụng sơ đồ vào trong dạy học cũng rất ít, ở mức độ thường xuyên chỉ có 20 % còn lại thì thỉnh thoảng mới sử dụng
100 % GV khẳng định SĐTD có vai trò rất lớn trong việc phát huy tính tích cực học tập của học sinh, giúp học sinh nắm kiến thức của bài học nhanh và sâu sắc Nhưng để thiết kế và sử dụng SĐTD có hiệu quả, GV cho rằng 12,2 % là do sự chuẩn bị của GV ; 8,5 là do thái độ, phương pháp, hình thức dạy học phù hợp; 78,3
% khẳng định do cả 3 yếu tố tác động
Theo các GV, việc thiết kế và sử dụng SĐTD để phục vụ cho dạy học gặp rất nhiều khó khăn như tốn thời gian chuẩn bị, kinh phí thiết kế…Mặc dù gặp những khó khăn như vậy nhưng hầu hết các GV đều thấy được vai trò của SĐTD và khẳng định đây là một phương tiện nên đưa vào trong dạy học Địa lý Tuy nhiên, để mang lại hiệu quả trong học tập nên kết hợp sử dụng SĐTD với nhiều phương tiện khác và các hình thức dạy học phù hợp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh
1.7.2 Quan điểm của học sinh đối với việc học tập bằng SĐTD
Việc thăm dò ý kiến của HS trong việc thiết kế và sử dụng SĐTD đã thu được kết quả như sau:
Bảng 1.3: Múc độ hứng thú của học sinh khi được học bằng SĐTD
Mức độ GV sử dụng sơ đồ để dạy Học sinh sử dụng sơ đồ để học
Bảng 1.4: Ý kiến của HS về mức độ sử dụng SĐTD của thầy, cô giáo
Trang 31Khi được học Địa lý bằng SĐTD qua thăm dò cho thấy có 90,7 % HS thích thú, 9,3 % thấy bình thường, không có HS nào cảm thấy chán nản, căng thẳng Đây
là một thuận lợi cho GV để có thể thiết kế và sử dụng SĐTD trong dạy học Địa lý
100 % học sinh cho rằng việc sử dụng SĐTD trong dạy học Địa lý là rất cần thiết Khi giảng dạy Địa lý 10 điều tra về mức độ thầy, cô sử dụng SĐTD để dạy học, các em cho rằng có: 26, 7 % GV thường xuyên sử dụng SĐTD, 60 % thỉnh thoảng sử dụng và 13,3% chưa bao giờ sử dụng
Qua đó ta thấy, các em rất mong muốn thầy, cô của mình thường xuyên sử dụng SĐTD để dạy học Điều này rất cần thiết, bổ ích cho các em trong việc tiếp thu kiến thức, giúp cho các em tiếp thu bài nhanh hơn, dễ nhớ, dễ hiểu và bài học trở nên sinh động, trực quan, không nhàm chán Qua đó tiết kiệm được thời gian tiếp thu kiến thức, phát huy khả năng tư duy tối đa của HS, thuận tiện cho việc nắm bài trên lớp cũng như ở nhà
Thật vậy, qua điều tra thực trạng thiết kế và sử dụng SĐTD trong dạy học Địa lý lớp 10 cơ bản tại trường THPT Thái Phiên cho thấy: Hầu hết GV và HS đều nhận thấy được vai trò của SĐTD và cho rằng việc thiết kế và sử dụng SĐTD là cần thiết nhằm phục vụ cho việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực của
HS , nâng cao hiệu quả dạy học trong địa lý
Trang 32CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG
SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÝ LỚP 10 – BAN CƠ BẢN ĐỂ RÈN LUYỆN NĂNG LỰC TỰ HỌC
CHO HỌC SINH 2.1 NHỮNG YÊU CẦU, NGUYÊN TẮC CẦN ĐẢM BẢO KHI SỬ DỤNG SƠ
ĐỒ TƯ DUY ĐỂ RÈN LUYỆN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH
Như chúng ta đã biết SĐTD có vai trò rất quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học Địa lý ở trường phổ thông Thông qua việc hướng dẫn HS sử dụng SĐTD chúng ta có thể xây dựng cho HS một phong cách học tập mới Chúng
ta không chỉ cung cấp cho các em hệ thống tri thức khoa học mà chúng ta còn chỉ ra con đường để lĩnh hội kiến thức và rèn luyện cho HS phương pháp học tập hợp lý, hình thành nhân cách của con người lao động tự lực, tích cực, sáng tạo Tuy nhiên
để phát huy tối đa khả năng học tập của các em, trong khi sử dụng SĐTD trong dạy học Địa lý để rèn luyện năng lực tự học, chúng ta cần đảm bảo được một số yêu cầu
cơ bản sau:
- Năng lực tự học Địa lý của HS chỉ được phát huy khi bản thân các em tích cực chủ động trong quá trình lĩnh hội kiến thức khoa học Do vậy mà người GV phải nắm vững và thường xuyên áp dụng các phương pháp dạy học tích cực trong quá trình dạy kết hợp với việc sử dụng SĐTD, có như vậy mới thu hút được sự chú
ý của học sinh trong giờ học, tạo cho HS sự hứng thú, tự nguyện lĩnh hội tri thức mới Đồng thời GV phải thay đổi phong cách dạy của mình, áp dụng nhiều phương pháp dạy học tích cực như: thảo luận nhóm, dạy học các mối quan hệ nhân quả, động não, phương pháp dạy học nêu vấn đề, áp dụng các bài tập nhận thức…để tạo
Trang 33cơ hội cho HS tham gia nhiều hơn vào bài giảng; HS hiểu bài thì việc xây dựng SĐTD cho bản thân sẽ dễ dàng hơn
- GV cần có những hiểu biết sau sắc về SĐTD, lợi ích của việc sử dụng SĐTD trong việc rèn luyện năng lực tự học cho HS, cách vẽ SĐTD và các loại SĐTD để
có thể vận dụng vào từng bài giảng, từng nội dung dạy học cụ thể cũng như có thể
dễ dàng hướng dẫn HS vẽ các SĐTD
- Trong quá trình dạy trên lớp, GV phải khéo léo kết hợp các hoạt động hướng dẫn HS tự học, sử dụng SĐTD với việc trình bày nội dung kiến thức cơ bản của bài học, không vì qua chú ý tới việc hướng dẫn tự học mà không đảm bảo dung lượng kiến thức cơ bản của bài
- Cùng với việc sử dụng SĐTD để rèn luyện năng lực tự học cho HS ở trên lớp, ở nhà và trong các hoạt động ngoại khóa thì GV cũng nên có các hình thức kiểm tra, đánh giá biểu dương hoạt động tự học của HS và hoạt động tự học bằng SĐTD của các em, để từ đó điều chỉnh cách dạy cho có hiệu quả
Như vậy, khi sử dụng SĐTD trong dạy học Địa lý lớp 10 phải đảm bảo góp phần tích cực vào đổi mới phương pháp dạy học Địa lý, góp phần thực hiện mục tiêu của bộ môn Địa lý trong nhà trường Sử dụng SĐTD phải linh hoạt, phù hợp với đối tượng và khả năng nhận thức của HS lớp 10, đảm bảo tính vừa sức, phải tuân thủ theo phương pháp bộ môn – con đường nhận thức kiến thức địa lý của học sinh
2.2 PHƯƠNG PHÁP THIẾT KẾ SƠ ĐỒ TƯ DUY
2.2.1 Nguyên tắc thiết kế
Sơ đồ tư duy là một công cụ hiệu quả trong dạy học nói chung và trong dạy học bộ môn Địa lý nói riêng, vì nó vừa thể hiện một cách ngắn ngọn, cô đọng các kiến thức cơ bản, vừa thể hiện được mối quan hệ giữa các nội dung kiến thức của bài
Các sơ đồ trong dạy học Địa lý thường được GV thiết kế phục vụ cho công việc dạy học những nội dung bài học, mục phù hợp với ý tưởng bài dạy
Trang 34Quá trình thiết kế sơ đồ cũng là quá trình hình thành mối liên hệ nhân quả cần kết hợp các phương pháp khác nhau như so sánh, đàm thoại, gợi mở, nêu vấn đề…để đạt được kết quả tốt nhất
Muốn thiết kế SĐTD một cách hợp lý, có hiệu quả trong dạy học cần đảm bảo các nguyên tắc sau:
- Tính khoa học : Nội dung sơ đồ phải bám sát nội dung dạy học, các mối liên
hệ phải là bản chất khách quan chứ không áp đặt, gượng ép
- Tính sư phạm : Có tính khái quát cao, lược bỏ các chi tiết phụ, dễ nhớ, dễ đọc Qua sơ đồ, HS thấy được các mối liên hệ khách quan biện chứng
- Tính thẩm mỹ : Bố cục hợp lý, cân đối, nổi bật trọng tâm và các nhóm kiến thức, dùng các màu sắc khác nhau để làm rõ
2.2.2 Các bước thiết kế sơ đồ tư duy
Việc thiết kế SĐTD trong dạy học địa lý được tiến hành qua các bước:
Bước 1: Vẽ chủ đề ở trung tâm
Đây là bước đầu tiên khi vẽ SĐTD GV hướng dẫn HS vẽ chủ đề trung tâm lên một mảnh giấy nằm ngang
- Có thể bổ sung từ ngữ vào hình vẽ chủ đề nếu chủ đề không rõ ràng
- Một bí quyết vẽ chủ đề là chủ đề cần được vẽ to khoảng 5cm * 5cm
Hình 2.1 Chủ đề của SĐTD cho bài 26 “ Cơ cấu nền kinh tế”
Trang 35Bước 2 : Vẽ thêm các tiêu đề phụ vào chủ đề trung tâm
Quy tắc vẽ tiêu đề phụ:
- Tiêu đề phụ nên được viết bằng chữ in hoa nằm trên các nhánh dày để làm nổi bật
- Tiêu đề phụ được vẽ gắn liền với trung tâm
- Tiêu đề phụ được vẽ theo hướng chéo góc (không nằm ngang) để nhiều
nhánh phụ khác có thể được vẽ tỏa ra một cách dễ dàng
Hình 2.2: Các nhánh tiêu đề phụ từ chủ đề trung tâm khi vẽ SĐTD trong bài
26 “ Cơ cấu nền kinh tế”
Bước 3: Trong từng tiêu đề phụ, vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ trợ
Quy tắc vẽ ý chính và các chi tiết hỗ trợ:
- Chỉ nên tận dụng các từ khóa và hình ảnh
- Bất cứ lúc nào có thể, hãy dùng các biểu tượng, các viết tắt để tiết kiệm không gian vẽ và thời gian Mọi người ai cũng có cách viết tắt riêng cho những từ thông dụng
Trang 36- Mỗi từ khóa, hính ảnh nên được vẽ trên một đoạn gấp khúc riêng trên nhánh Trên mỗi khúc nên chỉ có tối đa một từ khóa Việc này giúp cho nhiều từ khóa mới
và nhũng ý khác được nối thêm và các từ khóa sẵn có một cách dễ dàng
- Tất cả các nhánh của một ý nên tỏa ra từ một điểm
- Tất cả các nhánh tỏa ra từ một điểm (thuộc cùng một ý) có cùng một màu
Hình 2.3 : Các ý chính và chi tiết hỗ trợ của tiêu đề phụ về “ Cơ cấu ngành kinh tế”
Khi hướng dẫn HS vẽ SĐTD giáo viên cần lưu ý cho các em SĐTD không phải chỉ đơn giản là tóm tắt nội dung trong SGK, nó không chỉ bao hàm những ý chính mà còn chứa đựng tất cả những chi tiết hỗ trợ khác
GV hướng dẫn HS cách đọc SĐTD , chúng ta sẽ đọc theo hướng từ trong ra ngoài Nói cách khác, ý tưởng được phân tán từ trung tâm Theo cách này các ý tưởng và từ khóa nằm bên trái của SĐTD sẽ được viết và đọc từ bên phải sang bên trái
Bước 4: Thêm nhiều hình ảnh giúp các ý quan trọng thêm nổi bật và giúp chúng ta lưu vào trí nhớ tốt hơn
Trang 37Sau khi đã hoàn thiện sơ đồ, kiểm tra lại các công việc đã thực hiện Điều chỉnh sơ đồ cho phù hợp với nội dung dạy học và logic nội dung, đảm bảo tính thẩm
+ Tiếp theo, GV phân tích nội dung từng bài học, tìm ra khái niệm cơ bản, kiến thức trọng tâm cần truyền đạt, hình thành
+ Sắp xếp các kiến thức theo một trình tự hợp lý, phù hợp với logic phát triển của nội dung kiến thức
+ Mã hóa các kiến thức chính để đưa vào các nhánh của SĐTD
+ Vẽ các nhánh chính, phụ căn cứ trên mối quan hệ liên quan giữa chúng Các mối quan hệ trong địa lý có thể là những mối quan hệ nhân quả, quan hệ so sánh…
Sơ đồ là tổng thể các thành tố nội dung bài học, thể hiện logic nội dung bài học
và mối liên hệ đa dạng giữa các nhánh của sơ đồ
Để đảm bảo các nguyên tắc, GV phải phác thảo sơ đồ trên giấy nháp trước và tiến hành thiết kế sơ đồ theo các bước đã được định sẵn Sau đó điều chỉnh lại sơ đồ cho phù hợp Quan trọng hơn cả là khi thiết kế SĐTD là mục đích sử dụng của GV
để định hướng phương pháp giảng dạy đạt hiệu quả cao nhất GV phải xác định mục đích sử dụng, dựa vào mục tiêu yêu cầu của bài học và nội dung cụ thể của từng bài
GV có thể xác định sẽ thiết kế các loại SĐTD như thế nào (đơn giản hay phức tạp)
2.2.4 Một số mẫu thiết kế sơ đồ tư duy trong dạy học Địa lý 10 – ban cơ bản
Mẫu số 1: Bài 23: Cơ cấu dân số
I – Mục tiêu:
Sau bài học, HS cần nắm được
- Về kiến thức
Trang 38+ Hiểu và phân biệt các loại cơ cấu dân số cơ bản như cơ cấu dân số theo tuổi, theo giới, theo lao động và theo trình độ văn hóa
+ Nhận biết được ảnh hưởng của cơ cấu dân số đến sự phát triển dân số và phát triển kinh tế - xã hội
- Về kĩ năng: Rèn luyện kĩ năng phân tích và nhận xét bảng số liệu, biểu đồ,
sơ đồ, lược đồ cơ cấu dân số
- Về thái độ: HS nhận thức được dân số nước ta trẻ, nhu cầu về giáo dục và việc làm ngày càng lớn Vai trò của giới trẻ đối với dân số, giáo dục, lao động và việc làm
II – Phương pháp thiết kế sơ đồ trong quá trình dạy học
1 Xác định kiến kiến thức trọng tâm (chủ đề trung tâm - từ khóa) đó là: CƠ CẤU DÂN SỐ
2 Xác định các mối liên hệ của từ khóa và các nhánh (các ý phụ)
+ Cơ cấu sinh học: Cơ cấu dân số theo giới
Cơ cấu dân số theo tuổi
* Cơ cấu dân số theo giới: Nam
Nữ
* Cơ cấu dân số theo tuổi: 0 – 14 tuổi
15 – 59 tuổi
60 tuổi trỏ lên + Cơ cấu xã hội: Cơ cấu dân số theo lao động
Cơ cấu dân số theo trình độ văn hóa
* Cơ cấu dân số theo lao động: Nông – Lâm – Ngư nghiệp (Khu vực I)
Công nghiệp và xây dựng (Khu vực II) Dịch vụ (Khu vực III)
* Cơ cấu dân số theo trình độ văn hóa: Tỉ lệ người biết chữ
Số năm đi học
3 Thiết kế và hoàn thành sơ đồ
Trang 39Hình 2.4 : Ghi chú bằng SĐTD cho bài giảng “ Cơ cấu dân số”
Mẫu số 2: Bài 31: “ Vai trò và đặc điểm công nghiệp Các nhân tố ảnh
hưởng tới phát triển và phân bố công nghiệp”
Mục II: Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển và phân bố công nghiệp
- Kỹ năng nhận xét, phân tích sơ đồ, lược đồ, tranh ảnh
II – Phương pháp thiết kế SĐTD trong quá trình dạy học
1 Xác định kiến thức trọng tâm (chủ đề trung tâm - từ khóa) đó là: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ PHÁT TRIỂN VÀ PHÂN BỐ CÔNG NGHIỆP
2 Xác định các mối liên hệ của từ khóa và các nhánh (các ý phụ)
+ Các nhân tố tự nhiên: Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
+ Các nhân tố kinh tế - xã hội: Dân cư – lao động, tiến bộ khoa học kĩ thuật, thị trường, cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, đường lối chính sách
3 Thiết kế và hoàn thành sơ đồ
Trang 40Hình 2.5 : Ghi chú bằng SĐTD cho bài giảng “ Vai trò và đặc điểm công nghiệp Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển và phân bố công nghiệp” mục II Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển và phân bố công nghiệp
2.3 PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC ĐỊA
- Sử dụng sơ đồ cần kết hợp với các phương tiện dạy học địa lý khác nhau như bản đồ, tranh ảnh, phiếu học tập, lược đồ…
- Sử dụng sơ đồ cần phải phù hợp với các hình thức dạy học: Cá nhân, nhóm, lớp…
- Sử dụng sơ đồ phải phát huy tính tích cực học tập của học sinh đồng thời phải đảm bảo các kiến thức cơ bản HS cần nắm
2.3.2 Phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Địa lý lớp 10 – ban cơ bản nhằm rèn luyện năng lực tự học cho học sinh
Muốn HS có thể sử dụng SĐTD trong quá trình học tập thì người GV khi dạy trên lớp phải hướng dẫn cho HS cách sử dụng SĐTD như thế nào Quy trình hướng dẫn này bao gồm nhiều bước khác nhau và phải thực hiện thường xuyên, liên tục trong suốt chương trình Địa lý lớp 10
1 GV cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản về SĐTD, lợi ích của việc sử dụng SĐTD trong quá trình học tập, đặc biệt là trong việc ghi chú Sử dụng SĐTD