1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan niệm về “hiếu” trong triết học phật giáo và giá trị của nó đối với giáo dục gia đình ở thành phố đà nẵng hiện nay

62 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cũng xuất phát từ lẽ đó hay hoàn cảnh của từng con người, nhóm người, khu vực, dân tộc … Nảy sinh nhiều giáo phái khác nhau như đạo Kito, Tin lành, Bà la môn, Nho Giáo, Phật giáo … Song

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

QUAN NIỆM “HIẾU” TRONG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VÀ GIÁ TRỊ CỦA NÓ ĐỐI VỚI GIÁO DỤC GIA ĐÌNH Ở THÀNH PHỐ

ĐÀ NẴNG HIỆN NAY

Giảng viên hướng dẫn: T.S Dương Đình Tùng Sinh viên thực hiện: Lê Thị Kim Hồng

Đà nẵng tháng 4/2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI: QUAN NIỆM “HIẾU” TRONG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VÀ GIÁ TRỊ CỦA NÓ ĐỐI VỚI GIÁO DỤC GIA ĐÌNH Ở THÀNH PHỐ

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Dương Đình Tùng, có kế thừa một số kết quả nghiên cứu

đã được công bố trước đó, các tài liệu trong khóa luận là trung thực đảm bảo tính khách quan và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước hội đồng khoa học về khóa luận của mình

Đà Nẵng, tháng 4/2017 Sinh viên thực hiện

Lê Thị Kim Hồng

Trang 4

Lời cảm ơn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến toàn bộ thầy cô giáo, giảng viên khoa giáo dục chính trị, các thầy cô đã trực tiếp giảng dạy trau dồi kiến thức cho tôi trong suốt những năm tháng ở giảng đường đại học

Tôi cũng xin cảm ơn chân thành đến gia đình và bạn bè luôn động viên và giúp đỡ tôi trong lúc khó khăn trong quá trình học tập cũng như làm nghiên cứu Đặc biệt, tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo Tiến sĩ Dương Đình Tùng người trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ dạy tôi và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng việc nghiên cứu không thể không tránh khỏi những thiếu sót Tôi mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy, cô giáo

và các bạn để khóa luận được hoàn thiện

Xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, tháng 4/2017 Sinh viên thực hiện

Lê Thị Kim Hồng

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Theo suốt thời gian mọi sự vật hiện tượng đều luôn vận động và biến đổi,

xã hội con người cũng chuyển biến từ chế độ này sang một chế độ mới tiến bộ hơn, nhu cầu vật chất dần được cải thiện thì người ta lại đòi hỏi thêm về sự an lành trong tâm hồn nghĩa là nhu cầu tinh thần cũng được chú trọng nhiều hơn Tôn giáo được hình thành và phát triển theo nhu cầu của con người, đó cũng là nhu cầu chính đáng của quyền con người Cũng xuất phát từ lẽ đó hay hoàn cảnh của từng con người, nhóm người, khu vực, dân tộc … Nảy sinh nhiều giáo phái khác nhau như đạo Kito, Tin lành, Bà la môn, Nho Giáo, Phật giáo …

Song khi nhắc đến phương Đông, người ta nghĩ nhiều đến sự ảnh hưởng của Phật giáo đối với con người, sự truyền bá giáo lý một cách sâu rộng củaPhật giáo đã giúp tinh thần con người được an ủi một phần nào Trong rất nhiều tôn giáo nói trên mục đích sau cùng cũng là giải thoát con người đến cõi an lạc nhưng trước đó đa phần đều dựa trên thần học, duy tâm siêu hình để nhìn nhận đánh giá sự vật điều đó cũng chỉ thực hiện chức năng đền bù hư ảo của tôn giáo Tuy nhiên khi nghiên cứu về Phật giáo người ta thừa nhận rằng đây không phải

là tôn giáo hữu thần, các giáo lí củaPhật giáo mang âm hưởng của trường phái duy vật chất phát, sơ khai … Phật giáo đã bàn đến tất cả mọi lĩnh vực của xã hội, những vấn đề của con người đang gặp phải, những giá trị sống và những quan hệ giữa người với người, với việc đối nhân xử thế của con người và trong

đó phải đề cập đến quan niệm về “ Hiếu” của triết học Phật giáo

Trong các tôn giáo, chữ “ Hiếu” cũng được hệ thống khá cụ thể song vẫn loanh quanh về quan niệm thường tình của nhân sinh Bởi lẽ phận làm con thì việc “ hiếu” với cha mẹ là lẽ thường tình Điều này cũng là quy luật của cuộc sống Tuy nhiên không phải là không có quan niệm, tư tưởng nào vượt lên trên quan niệm thường tình đó

Thật vậy, đối với bàn về “ Hiếu” thì quan niệm, tư tưởng của triết học Phật giáo đã triển khai và phát huy đưa giá trị về “ Hiếu” đến với sự hoàn bị của

nó Bởi lẽ, theo tư tưởng Phật giáo thì chữ “ Hiếu” không đứng trong phạm vi

Trang 7

chật hẹp của tình mẫu tử trong cuộc đời này, mà chữ hiếu còn liên quan đến các vấn đề của nhân loại, liên hệ đến cả vũ trụ nhân sinh

Cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học- kĩ thuật, con người với nhịp sống hối hả tất bật, mức sống ngày càng được cải thiện, trình độ dân trí được nâng cao, song thay vào đó những giá trị đạo đức tốt đẹp nhất là triết lý về

“ Hiếu” đang dần bị lãng quên giữa cái nhịp sống hiện đại, bị xói mòn bởi chủ nghĩa thực dụng, duy vật chất Đặc biệt hơn gia đình là tế bào của xã hội, việc phát huy được những truyền thống tốt đẹpvề đạo đức của con người Việt Nam thể hiện qua việc giáo dục gia đình của người Việt nói chung và mỗi vùng miền khác nhau nói riêng hết sức cần thiết, bắt kịp được điều đó tôi đã tìm hiểu và nghiên cứu về triết học Phật giáo bởi tôi tìm hiểu được rằng bàn về “ Hiếu” không thể bỏ qua triết học Phật giáo, đã trình bày rất sâu sắc lại phù hợp với đời sống nhân sinh nơi tôi sinh sống.Vì vậy tôi chọn đề tài “ Quan niệm về “ Hiếu” trong triết học Phật giáo và giá trị của nó đối với giáo dục gia đình ở thành phố

Đà Nẵng hiện nay ”làm khóa luận tốt nghiệp

2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng:

+ Nghiên cứu về triết học Phật giáo

+ Nghiên cứu triết lý về “ Hiếu” trong triết học Phật giáo đối với giáo dục gia đình ở thành phố Đà Nẵng hiện nay

3 Phạm vi nghiên cứu

Khóa luận chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề về quan niệm “Hiếu” trong triết học Phật giáo và giá trị của nó đối với giáo dục gia đình ở thành phố

Đà Nẵng hiện nay

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: Nhận thấy trong quan hệ gia đình hiện nay luôn nảy sinh nhiều vấn đề đặc biệt là tình cảm gia đình giữa cha mẹ con cái hay bà con trong dòng họ có sự xa cách Đề tài mong muốn sự gắn kết, lắng nghe thấu hiểu nhau giữa cha mẹ con cái, quan hệ lễ nghĩa mà chú trọng là chữ Hiếu mà phận

Trang 8

làm con đối với cha mẹ, từ đó có thể thay đổi được một số biện pháp truyền thống trong việc giáo dục con cái mà vẫn giữ được bản sắc của người Việt

Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài đã sử dụng phương pháp duy vật biện chứng trong đó còn có các phương pháp: so sánh, phân tích, hệ thống hóa, tổng hợp … cũng được chú trọng

5 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo thì đề tài gồm

có 2 chương và 5 tiểu tiết

Chương 1: Triết học Phật giáo và triết lý về “Hiếu” trong triết học Phật giáo

Chương 2: Giá trị của “Hiếu” trong triết học Phật giáo với giáo dục gia đình ở Đà Nẵng

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Ở mỗi giai đoạn lịch sử, những nền văn minh khác nhau với nhau, ngoài việc nghiên cứu về sự vận động của các điều kiện kinh tế tức là các vấn đề về vật chất, bên cạnh đó không thể bỏ qua các vấn đề về tinh thần, đặc biệt là tâm linh Việc nghiên cứu tôn giáo luôn thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, khoa học Đặc biệt ở phương đông mà cụ thể là Việt Nam tôn giáo được hình thành từ rất sớm qua rất nhiều giáo phái du nhập trong đó Phật giáo có sức ảnh hưởng rất lớn và các giáo lý của nhà Phật luôn là chủ đề bàn luận sôi nổi

Có những tác phẩm, những bộ kinh của nhà Phật như Kinh Vu Lan Bồn, Kinh Báo Ân Cha Mẹ … Các bộ kinh này đã bày tỏ các tư tưởng về “ Hiếu” trong giáo lý nhà Phật một cách khá phổ biến với phần lớn người dân theo đạo ở Việt Nam nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng

Ngoài ra còn có những đề tài nghiên cứu trước đó, trong nước như đề tài của TS Phạm Huy Thành với đề tài nghiên cứu “ Ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống tinh thần nhân dân thành phố Đà Nẵng hiện nay” Bài viết này đã nêu rõ những ảnh hưởng cơ bản của Phật giáo đối với mọi lĩnh vực trong đời

Trang 9

sống xã hội từ đó đưa ra một số phương hướng, giải pháp cụ thể để vấn đề về Phật giáo hay tôn giáo được người dân tiếp cận một cách khoa học và đúng đắn

Các đề tài khác cũng nghiên cứu về Phật giáo sâu sắc như đề tài “Đạo hiếu” trong Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đạo đức Việt Nam hiện nay – Luận văn thạc sĩ ( Nguyễn Thị Thu) Bài viết này trình bày khá cụ thể về đạo hiếu trong giáo lý nhà Phật và ảnh hưởng của nó đến với đạo đức người Việt Nam hiện nay từ đó có những đề xuất những giải pháp thay đổi tư tưởng đạo đức, phát triển nhân cách sống hoàn thiện

Bài viết “ Từ Đạo Hiếu truyền thống nghĩ về đạo hiếu ngày nay” của Nguyễn Thị Thọ đăng trên tạp chí triết học số 6- 2007, đã trình bày một cách khái quát đạo Hiếu từ truyền thống đến hiện và khẳng định vai trò của chữ Hiếu trong gia đình cũng như ngoài xã hội

Bên cạnh đó, bài viết của GS Nguyễn Tài Thư “ Hiếu và việc xây dựng đạo Hiếu trong xã hội ngày nay” đăng trên tạp chí triết học số 8- 2013, đã khẳng định đạo Hiếu là một tiền đề quan trọng trong việc xây dựng đạo Hiếu trong xã hội ngày nay

Luận văn Tiến sĩ triết học của Tạ Chí Hồng với đề tài nghiên cứu “Ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo trong đời sống đạo đức của xã hội Việt Nam hiện nay” ( Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2004) Nội dung của đề tài là đạo đức Phật giáo và giá trị của nó, ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo trong đạo đức Việt Nam truyền thống

Thiền sư Thích Nhất Hạnh trong cuốn sách Bông hồng cài áo Nxb Thanh Niên đã lí giải về ý nghĩa của bông hoa hồng cài áo trong ngày Vu Lan

“Đaọ hiếu trong Lễ Vu Lan của Phật giáo” của tác giả Nguyễn Thị Phương Hà trong được công bố trong luận văn thạc sĩ triết học, Đại học Khoa học Nhân văn- Đh Quốc gia Hà Nội Tác giả cũng muốn góp một tiếng nói nhỏ

về vấn đề này và qua đó để bày tỏ lòng tri ân đối với đấng sinh thành

Các đề tài tiêu biểu gần đây của sinh viên khoa giáo dục chính trị - ĐHSP – ĐHĐN khóa 10 SGC Phan Thị Cam với đề tài “ Đạo hiếu trong Phật giáo và việc nâng cao nhận thức về lòng hiếu thảo cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay”

Trang 10

Bên cạnh đó còn nhiều công trình nghiên cứu về con người miền Trung cụ thể là văn hóa xã hội con người thành phố Đà Nẵng mang nhiều giá trị sâu sắc về nhân văn và tính giáo dục cao

Nhìn chung các đề tài đã bày tỏ khá sâu sắc vấn đề về “ Hiếu” trong đời sống nhân sinh Song chưa có đề tài nào thực sự trình bày chi tiết về giá trị “ Hiếu” trong triết học Phật Giáo đối với giáo dục gia đình hiện nay

Trang 11

Chương 1: TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VÀ TRIẾT LÝ VỀ “HIẾU” TRONG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO

1.1 Khái quát về triết học Phật giáo

1.1.1 Sự hình thành và phát triển của Phật giáo

Phật giáo ra đời từ cuối thế kỉ thứ VI trước công nguyên tại một vùng đất thuộc phía Bắc Ấn Độ, người sáng lập ra là Thái tử Xicdata (Bubbha) pháp hiệu

là Thích Ca Mâu Ni Sự hình thành và phát triển của Phật giáo được chia làm hai giai đoạn: Thứ nhất từ thế kỉ thứ VI trước công nguyên đến giữa thế kỷ thứ IV trước công nguyên là thời kì hình thành Phật giáo,thứ hai từ thế kỷ IV trước công nguyên đến công nguyên là thời kỳ bắt đầu Phật giáo chia làm nhiều tông phái khác nhau trong đó có hai tông phái lớn là Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ

Từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ VII là thời kỳ Phật giáo Đại thừa đối lập với Phật giáo Tiểu thừa Sau thế kỷ thứ VIII Phật giáo đi vào suy tàn trước sự tấn công của Hồi giáo cho đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Phật giáo từng bước được khôi phục và trở thành tôn giáo của Ấn Độ

Giai đoạn thứ nhất: thời kì hình thành Phật giáo vào khoảng năm 566 đến năm 485 trước công nguyên ở miền Trung Bắc Ấn Độ lúc đó tại thành Ca tỳ la

vệ nằm giữa Ấn Độ và Nepan ngày nay, thái tử Tất Đạt Ma được sinh thành, phụ thân ngài là Tịnh Phạn, mẫu thân ngài là Ma Gia Thái tử tức Đức Phật được thụ thai một cách rất thần kì trong giấc mơ, bà Ma Gia thấy con voi trắng sáu ngà đi vào bên hông bà và lời tiên tri của nhà hiền triết rằng con bà sẽ trở thành một vị vua vĩ đại hoặc một nhà hiền triết cao quý Quả nhiên, tiên tri ứng nghiệm ngài được sinh thành tại thành với sự thanh tịnh qua lời nói “ Ta đã đến nơi” cùng với sự qua đời của mẫu thân ngài ngay sau đó

Thời thiếu niên, đức Phật hiện sinh trong thái tử có một cuộc sống hoan lạc, có sách cũng kể lại rằng ngài cũng lập gia đình và có một người con trai, mãi đến năm hai mươi chín tuổi, người rời bỏ cuộc sống hoàng cung và trở thành nhà hành khất lang thang đây đó

Thấy được sự khổ đau mà con người phải trải qua nhưng chưa tìm được lời giải, ngài quyết định đi tu để tìm ra chân lý về nỗi khỗ và cách giải thoát nỗi

Trang 12

khổ Ngài ngồi thiền dưới một gốc cây bồ đề trong vòng sáu năm và đã tìm ra chân lý của nỗi khổ đau cũng như con đường để giải thoát nỗi khổ đau của con người Khi sao mai vừa rạng ngài đã chứng quả vị giải thoát, ngài đã đi chu du khắp xứ thuyết pháp độ sinh, trải qua 49 năm hoằng hóa, năm 80 tuổi ngài nhập cõi niết bàn

Ra đời vào khoảng thế kỷ VI trước CN ở miền Bắc Ấn Độ, với những tư tưởng tiến bộ và tích cực, Phật giáo đã nhanh chóng chiếm được tình cảm và niềm tin của đông đảo quần chúng, trở thành ngọn cờ đầu của phong trào cách tân tư tưởng và xã hội ở Ấn Độ cổ đại Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, do cuộc đấu tranh tư tưởng giữa các trường phái triết học, tôn giáo khác nhau, cũng như sự thay đổi của cuộc sống, Phật giáo cũng có sự thay đổi, được hoàn chỉnh dần để thích nghi Qua quá trình này, đặc biệt là qua các cuộc kết tập kinh điển, Phật giáo phân ra thành nhiều phái khác nhau, với sự khác nhau về giới luật,

triết học, giáo lý, nghi thức mà điển hình là hai bộ phái Tiểu thừa và Đại thừa

Tiểu thừa (Hinayana), hay Cỗ Xe Nhỏ, nhấn mạnh đến sự giải thoát cá nhân, trong khi Đại thừa (Mahayana), hay Cỗ Xe Lớn, chú trọng đến việc tu tập thành một vị Phật toàn giác để phổ độ chúng sinh một cách hoàn hảo nhất Mỗi nhánh lại có nhiều phân nhánh Tuy nhiên, hiện nay, ba hình thức chính còn tồn tại: một là Tiểu thừa, được biết như Theravada, ở Đông Nam Á, và hai nhánh Đại thừa, đó là các truyền thống Phật giáo Trung Quốc và Tây Tạng

Truyền thống Tiểu thừa lan rộng từ Ấn Độ đến Sry Lankavà Myanmar vào thế kỷ thứ ba trước Công Nguyên, và từ đó đến Vân Nam phía Tây Nam Trung quốc, Thái Lan, Lào, Cao Miên, miền Nam Việt Nam và vùng biển phía nam (Do người Trung Quốc đặt cho phía nam TQ mà đặc biệt là vùng Đông Nam Á) Không lâu sau đó, những chiếc túi của các thương nhân người Ấn Độ theo đạo Phật đã được tìm thấy ở vùng duyên hải Bán Đảo Ả Rập, và thậm chí

xa hơn như Alexandria, Ai Cập Các hình thức khác của Tiểu thừa cũng lan đi từ thời đó đến Pakistan, Kashmir, Afghanistan vùng phía Đông và duyên hải của Iran, Uzbekistan, Turkmenistan và Tajikistan ngày nay Đây là những tiểu bang

cổ xưa của Gandhara, Bactria, Parthia và Sogdia Từ căn cứ này ở vùng Trung

Trang 13

Á, các hình thức đạo Phật Tiểu thừa này lan rộng hơn vào thế kỷ thứ hai sau công nguyên đến phía Đông Turkistanvà xa hơn vào Trung Quốc, rồi đến Kyrgyzstan và Kazakhstan vào cuối thế kỷ thứ bảy Các hình thức Tiểu thừa sau

đó được kết hợp với những nét đặc trưng của Đại thừa cũng đến từ Ấn Độ, để cuối cùng truyền thống Đại thừa trở thành hình thức chiếm ưu thế của Phật giáo tại hầu hết vùng Trung Á

Hình thức Đại thừa của Trung Quốc sau này lan đến Đại Hàn, Nhật Bản

và Bắc Việt Nam Một làn sóng khác sớm hơn của Đại thừa, kết hợp với các hình thức Shaivite của Ấn Độ giáo, lan truyền từ Ấn Độ đến Nepal, Nam Dương, Mã Lai và các vùng ở Đông Nam Á, bắt đầu vào khoảng thế kỷ thứ năm Truyền thống Đại thừa Tây Tạng, bắt đầu từ thế kỷ thứ bảy, kế thừa toàn

bộ lịch sử phát triển của Phật giáo Ấn Độ, trải rộng khắp các vùng Hy Mã Lạp Sơn và đến Mông Cổ, Đông Turkistan, Kyrgyzstan, Kazakhstan, phía Bắc Nội Trung Hoa, Mãn Châu, Siberia và vùng Kalmyk thuộc Mông Cổ gần biển Caspian, thuộc phần Châu Âu của nước Nga

Từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ VII là thời kỳ Phật giáo Đại thừa đối lập với Phật giáo Tiểu thừa.Sau thế kỷ thứ VIII Phật giáo đi vào suy tàn trước sự tấn công của Hồi giáo cho đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Phật giáo từng bước được khôi phục và trở thành tôn giáo của Ấn Độ

1.1.2 Phật giáo với tư cách là một trường phái triết học

“Không có giai cấp trong cùng dòng máu đỏ, trong cùng một nước mắt,

… Mọi đẳng cấp đều hòa tan trong tôn giáo của ta cũng như mọi con sông chảy

về biển cả Cũng như biển cả chỉ có một mùi vị - mùi vị của muối học thuyết của ta chỉ có một mục đích đối tượng là giải thoát khỏi sự đau khổ” (Trích Phật Thích Ca)

Với tư cách là một trường phái triết học, toàn bộ nội dung của giáo lý nhà Phật xoay quanh các vấn đề về nhân sinh, Những tư tưởng ấy thấm đượm triết lý sâu sắc về cuộc sống, về con người do đó dễ dàng ảnh hưởng đến nhận thức của con người Nhắc đến thế giới quan triết học của Phật giáo được chia thành bốn luận thuyết cơ bản bao gồm thuyết vô thường, thuyết vô ngã, thuyết nhân duyên

Trang 14

và thuyết nhân quả Các luận thuyết này đều mang màu sắc giải thích những trăn trở, suy tư mà con người chưa lí giải được về tâm linh, về cuộc đời, về những gì không biết được khi con người mất đi

Trong thuyết vô thường của Phật giáo có trình bày như sau, vô thường là không thường còn, là chuyển biến thay đổi Luật vô thường chi phối toàn bộ vũ trụ , thân và tâm ta, sự vật luôn luôn biến đổi không có gì là bất biến với vụ trũ bao la rộng lớn, những tưởng mọi vật xung quanh ta đều ở trạng thái tĩnh song chúng luôn vận động và tồn tại hai trạng thái cơ bản một là sự vô thường diễn ra trong thời gian cực ngắn, như một cái chớp mắt, một sự chuyển biến vừa mới khởi điểm đã kịp chấm dứt Hai là sự vô thường được chuyển biến qua từng giai đoạn mà Phật giáo cho rằng vạn vật trong vũ trụ đều tuân theo quy luật Thành - Trụ -Hoại - Không, tức là mọi vật đều được cấu Thành , Trụ theo thời gian sau

đó chuyển đến diệt thành Hoại rồi hư vô (Không) Ngoài ra vạn vật còn tuân thủ theo quy luật Sinh – Trụ - Di – Diệt Thuyết vô thường được xem là một trong những giáo lý cơ bản của Phật giáo, là cơ sở lí luận cho phương thức sống, cho triết lý sống của những tu sĩ Có thể nói rằng với thuyết vô thường này, nếu ta không có sự thấu hiểu sâu sắc, chỉ nhìn hời hợt dễ rơi vào tình trạng hấp tấp, vội

vã nghĩ rằng mọi thứ đều sẽ diễn ra rất nhanh nếu ta không nắm bắt Suy cho cùng đó chẳng phải là cuộc sống của ngũ dục, con người chìm đắm trong trụy lạc, bỏ qua quy luật tất yếu của vũ trụ mà đáng lẽ diễn ra hàng ngày

Trong thuyết vô ngã, Phật giáo cho rằng vô ngã tức là không có cái ta trong đó, thực chất như ta biết đấy, vạn vật đều có sự tồn tại cái ta trong đó, theo kinh Trung Quốc có viết rằng cái ta chỉ kết hợp với bốn yêu tố chính là địa, thủy, hỏa, phong Bằng trí tuệ thông thường khó mà nhận thức được cái ta chân thực và cái ta chân ngã, thuyết vô ngã làm cho người ta không còn tin vào cái gọi là linh hồn vĩnh cửu, tồn tại từ kiếp này sang kiếp khác và một khi đã tin sự hiện hữu của linh hồn vĩnh cửu, ta cũng dễ dàng dẫn đến sự mê tín trong tâm linh

Trong thuyết lý nhân duyên sinh, bàn về mọi hiện tượng tâm lý và vật lý tạo nên đời sống đều nằm trong một mối liên hệ với nhau, chúng là nguyên nhân

Trang 15

của một yếu tố này và là kết quả của một yếu tố khác, làm thành một vòng mười hai yếu tố hay còn gọi là thập nhị nhân duyên trong đó bàn nhiều đến vô minh, hành, thức, danh sắc, sáu xứ, xuất, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão(tử)

Trong thuyết nhân quả, nói đủ là nhân-duyên và quả là một triết lý mang tính khoa học, qui luật tự nhiên của vũ trụ, không mang tính chất hình thức của

sự thưởng phạt từ một đấng quyền năng nào Hiểu vậy, trong cuộc sống, chúng

ta vui vẻ đón nhận những khổ đau bất thường xảy đến với mình như một kết quả

do chính mình tạo nhân từ trước Từ đó suy nghiệm ra, lý nhân quả chi phối cả

vũ trụ nhân sinh Nếu tin sâu nhân quả, chúng ta sẽ được thăng hoa trên đời sống tâm linh, trở nên hiền thiện đạo đức Ngược lại, nếu không tin nhân quả, cuộc sống chúng ta trở nên liều lĩnh và bất chấp hậu quả

Khi nghiên cứu về Phật giáo, phải nhìn nhận rằng, Phật giáo là một tôn giáo không phải hữu thần, thuộc trường phái duy vật chất đơn sơ, “ Nếu có một tôn giáo nào dám đương đầu với các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo, Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để xu hướng theo khoa học vì Phật giáo bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học” (A.Einstern) Khi Phật giáo tiếp cận bàn về nhân sinh cũng đã đưa ra một số giáo lý, triết lý sâu sắc nó thể hiện qua bốn chân lý thiêng liêng, tuyệt diệu mà mọi người phải thực hiện Đó là tứ diệu đế bao gồm khổ đế, tập đế, diệt đế và đạo đế

Khổ đế, triết lý nhân sinh Phật giáo cho rằng, “ Đời là bể khổ, đời là cả những chuỗi bi kịch liên tiếp, bốn phương đều là bể khổ, nước mắt chúng sinh còn nhiều hơn nước biển, vị mặn của máu và nước mắt chúng sinh còn mặn hơn nước biển.” vậy bản chất của đời người là khổ Đây có thể được xem là một triết

lý khá tiêu cực, hạn chế bởi lẽ con người bị bó buộc trong một vòng luẩn quẩn đầy rẫy bi hài, cuộc đời của mỗi con người đều là bể khổ mà chẳng ai thấy tường tận nỗi khổ đó như thế nào Tất cả nỗi khổ ấy được phản ánh qua bát khổ ( Sinh, lão, bệnh, tử, ái biệt ly, oán tăng hội, sở cầu bất đắc, thủ ngũ uẩn khổ)

Có thể nói rằng, Phật giáo đã khái quát những nỗi khổ lớn nhất của con người

Trang 16

qua học thuyết khổ đế, với lòng bi thương sâu sắc của mình, Phật giáo đã chỉ ra cho chúng sinh thấy được những nỗi khổ ấy để chúng sinh nhìn nhận, suy xét đến khi gặp phải những nỗi khổ ấy mà không hoảng loạn tìm cách vượt qua, như vậy Phật giáo có một điểm hay tức là không bôi hồng mọi thứ mà dám nhìn thẳng vào hiện thực, không trốn tránh mà dũng cảm đối đầu

Từ khổ đế, Phật giáo cũng chỉ ra được nguyên nhân sinh ra cái khổ hay cách khác là theo Phật giáo là học thuyết tập đế, nói đến sự tích hợp, nguyên nhân đưa đến cái khổ, mọi sự vật đều chấp chứa nguyên nhân được khái quát thành mười hai nguyên nhân dẫn đến khổ ( Thập nhị nhân duyên) Trong mười hai nguyên nhân Phật giáo cũng chỉ ra rằng vô minh và ái dục là hai nguyên nhân chủ yếu đưa đến nỗi khổ của con người Vô minh là sự không thông suốt, nhìn nhận mọi sự vật hiện tượng trong vũ trụ này đều là thực mà không nhìn ra được sự ảo giả, không nhận thức được ngay chính bản thân mình, mọi thứ đều

vô ngã vô thường và nằm lẩn quẩn trong vòng luân hồi Chính vô minh kết hợp với ái dục bắt nguồn từ tam độc mà Phật giáo chỉ ra rằng đó là tham, thân, si Ngoài vô minh và ái dục còn các nguyên nhân sinh ra khổ đều nằm trong số còn lại của thập nhị nhân duyên

Phật giáo bàn đến nỗi khổ của con người và cũng đề cập đến nguyên nhân dẫn đến nỗi đó, cùng với những giáo lý nêu trên Phật giáo cũng đã chỉ ra và khẳng định tất cả những nỗi khổ mà con người gánh chịu đều có được loại bỏ được thông qua tư tưởng diệt đế Phật giáo khuyên chúng ta tâm thanh tịnh, tránh xa vô minh, thế giới được khai sáng bằng ngọn đèn của sự tu thân dưỡng tính, nỗi khổ được loại trừ, bể khổ được vượt qua thế giới không còn nỗi đau khổ ngự trị

Con đường giải thoát bể khổ được Phật giáo trình bày trong học thuyết đạo đế tập trung chủ yếu qua tư tưởng con đường bát chánh đạo mà thực chất là diệt trừ vô minh Không nên nhầm tưởng bát chánh đạo và đạo đế là một, Phật giáo chỉ ra rằng con đường bát chánh đạo

Chính kiến tức là : Cái thấy cái nhìn đúng với chân lý đúng với sự thật, một người có chính kiến là người đã thâm nhập được Phật đạo đã hòa nhập vào

Trang 17

bể tánh giác ngộ giải thoát toàn triệt để có cái trí tuệ phủ khắp tam giới trí tuệ vượt thoát khỏi không gian và thời gian, trí tuệ bát nhãhiển lộ, cái thấy biết không vướng mắc trong trần gian này nữa, không vướng kẹt trong bất kỳ lý luận nào, không vướng vào tri thức hiểu biết, vượt qua ngã và pháp vượt qua không gian và thời gian, cái phút giây mà thấy biết vượt qua ngã và pháp phút giây thấy biết vượt qua không gian và thời gian như thế được gọi là chính kiến Người có đủ chính kiến thì tất nhiên sẽ đủ luôn các "chánh" còn lại

Chính tư duy tức là : Suy nghĩ chân chính, những suy tư không vướng mắc trong tam giới nữa, những suy nghĩ tìm phưong tiện để cứu giúp chúng sanh trong tam giới ra khỏi sanh tử luân hồi

Chính ngữ tức là : Không nói dối, không nói lời độc ác, không mách lẻo

Là những lời nói thể hiện chân lý ngay tại đây và bây giờ, những lời nói để cho người nghe thấu hiểu được chân lý mà thoát li sanh tử luân hồi

Chính nghiệp tức là : Suy nghĩ lời nói hành động tương tầm với chính kiến, khi một người có chính kiến rồi thì suy nghĩ hành động đều là chính, hành động ngôn ngữ đều thể hiện đạo lý để người khác được nhận đạo lý để khai mở đạo lý của chính mình, những hành động được xuất phát từ nơi thân của mình, nơi lời nói của mình thể hiện trọn vẹn cái đạo lý giác ngộ giải thoát và khai mở trí tuệ cho mọi người để nhận chân ra được chân lý nhiệm màu đó được gọi là chính nghiệp

Chính mạng tức là "vị Thánh đệ tử đoạn trừ tà mạng, nuôi sống với chánh mạng Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh mạng."

Chính tinh tấn tức là "Với mục đích khiến cho các ác, bất thiện pháp từ trước chưa sanh không cho sanh khởi, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tấn, trì tâm; với mục đích khiến cho các ác, bất thiện pháp đã sanh được trừ diệt, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tấn, trì tâm; với mục đích khiến cho các thiện pháp từ trước chưa sanh nay được sanh khởi, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tấn, trì tâm; với mục đích khiến cho các thiện pháp đã được sanh

có thể duy trì, không có lu mờ, được tăng trưởng, được quảng đại, được tu tập,

Trang 18

được viên mãn, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tấn, trì tâm Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh tinh tấn."

Chính niệm tức là "Sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, với mục đích điều phục tham ưu ở đời; Tỷ-kheo sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm với mục đích điều phục tham ưu ở đời; Tỷ-kheo sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm với mục đích điều phục tham ưu ở đời; Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm với mục đích điều phục tham ưu ở đời Đây gọi là chánh niệm Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh niệm."

Chính định tức là luyện tập để đạt được các cấp độ trong tứ thiền định Với sự tập trung theo bát chánh đạo, nhận thức con người dần được hình thành có chiều sâu từ bỏ mọi tội lỗi mà vấp phải để đi theo con đường chánh đạo, đó cũng xem là động lực dẫn đến những an nhàn trong đời sống con người mặc khác cũng tạo nên cuộc sống bình yên và hạnh phúc Có thể nói rằng những giá trị, triết lý nhân sinh mà Phật giáo chỉ ra vô cùng hiện thực, chỉ ra được cái khổ, chỉ ra được nguyên nhân dẫn đến nỗi khổ, chỉ ra được quá trình để diệt khổ Suy cho cùng vạn vật đều có nhân quả nhưng chỉ ra được sẽ khiến con người không còn u tối trong một đống hôn độn giữa cái trần thế và cái tâm linh

Hệ thống giáo lý của Phật giáo vô cùng đồ sộ và mang nhiều giá trị khác nhau, mọi triết lý của Phật giáo suy cho cùng vẫn mong muốn giải thoát con người khỏi khổ đau, vượt qua khổ đau để tìm được con đường chân chính mà tinh thần trong những triết lý ấy đồi hỏi con người phải có trách nhiệm đạo đức, lấy đạo đức con người làm cốt cách không làm ngơ trước sự trần thế thái, trước những điều đau khổ mà chúng sinh gặp phải hoặc người thân ta gặp phải phàm

là con người thì ai cũng có trái tim và không thờ ơ trước mọi sự khổ đau, cứu khổ cứu nạn Ấy cũng chính là cứu rỗi trần thế, nhẹ nhỏm tâm can của chính mình, Phật giáo không lấy giáo lý làm cái trọng mà chỉ coi đó như phương tiện

để con người tìm được đến chân lý cuối cùng, cái chính vẫn là tự mỗi cá nhân tu dưỡng rèn luyện đạo đức Là một phạm trù triết học, Phật giáo đem lại cho chúng ta nhìu khía cạnh của cuộc sống bao gồm thế giới quan cùng nhân sinh

Trang 19

quan giáo lý Phật giáo cũng thấm đượm nhiều ý nghĩa và triết lý nhân sinh được xem là giá trị lớn nhất trong triết học Phật giáo

1.2 Nội dung “ Hiếu” trong triết học Phật giáo

Phật giáo là một trong những tôn giáo luôn đề cao vai trò của “ hiếu đạo” là luôn tôn trọng cha mẹ ở mức độ cao nhất “ Thờ trời đất quỷ thần, không bằng có hiếu với cha mẹ, vì cha mẹ là vị thần minh cao nhất trong các thần minh” (Kinh Tứ Thập nhị Chương) Theo Hán Việt “ Hiếu” có nghĩa là biết ơn, phận làm con thì phải hiếu thảo với cha mẹ ngoài ra đồ tang phục cũng được xem là hiếu, đạo làm con khi cha mẹ mất đi phải hết lòng thờ kính thể hiện qua tang phục Phật giáo xem chữ hiếu là giới hạn cao nhất, là điều thiện tối cao và bất hiếu là điều ác lớn nhất “ Điều thiện tối cao không gì hơn hiếu, điều ác, ác nhất không gì hơn bất hiếu” ( Kinh Nhẫn Nhục) Phận làm con cái phải hiếu kính với cha mẹ, phụng dưỡng ơn sinh thành nuôi nấng dạy dỗ từ khi lọt lòng mẹ đến khi tập đi, tập nói không ai khác chính cha mẹ đã cho ta hình hài và hiếu đạo với cha mẹ cũng là lẽ tự nhiên

Mặt khác, Phật giáo cũng chỉ ra rằng “ Hiếu” cũng phải được phận làm con hướng dẫn chamẹ mình không vướng vào tham thân sân si tức là phải sống

tu tâm dưỡng tính tròn đạo đức của con người như trong kinh vu lan bồn, Mục Kiền Liên đã giải thoát mẹ mình bởi sự thức tỉnh cũng với tấm lòng đạo hiếu của mình Đấy chính là hiếu hạnh của người xuất gia, trong các kinh của Phật chỉ ra rằng để làm tròn bổn phận làm con phải thực hiện hiếu hạnh, hiếu đạo, hiếu dưỡng và hiếu tâm đối với đấng sinh thành

Hiếu hạnh tức là biết giữ mình sống phải đạo phải phép không phải là gò

bó, sống để không hổ thẹn với mình với mọi người mà đặc biệt là với đấng sinh thành, không làm gì để mọi người chê trách ảnh hưởng đến cha mẹ mình như vậy chính là hiếu hạnh

Hiếu dưỡng tức là phụng dưỡng cha mẹ lúc tuổi già khi ốm đau bệnh tật, món ngon vật lạ kính cha mẹ đầu tiên

“ Làm con đối với cha mẹ, khi đem dâng vật dụng cho cha mẹ, dù nhỏ đi nữa thì được phước vô lượng Khi làm điều bất thiện đối với cha mẹ, dù một chỉ một phút thì tội cũng vô lượng” (Kinh Tập Bảo Tạng) Đức Phật, bậc giác ngộ,

Trang 20

bậc thấy của tất cả cõi trời và người, bậc Đại trí tuệ, bậc được khắp sáu cõi Tôn Kính, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác … Sau khi thành đạo đã thể thiện lòng từ hiếu của mình đối với phụ vương, mẫu hậu, kế mẫu vừa theo thường pháp vừa đúng Chính pháp

Với những giáo lý được Phật giáo đem lại từ hình ảnh Đức Phật vượt ngàn dặm đường xa trở về thăm phụ thân khi sắp lâm chung, để thể hiện lòng hiếu kính Đức Phật đã tự khiêng một góc linh sàng của cha ngài Bên cạnh việc thể hiện chữ hiếu thoe thướng pháp, lòng hiếu của đức Phật còn nhằm hướng tất

cả chúng sinh đến việc hiểu và hành chính pháp Quan niệm “ Hiếu” được Phật giáo chỉ ra nhằm thể hiện sự từ bi, hiếu đạo Dùng chính những giáo lý, học thuyết ấy để đưa con người trải qua những tăm tối đến nơi ánh sáng, những giá trị đạo đức của con người được khơi dậy trong tiềm thức để từ đó mà nung nấu, rèn luyện hoàn thiện những giá trị tốt đẹp ấy cho mỗi con người

Phật giáo cũng đã chỉ ra rằng con người tồn tại trên cuộc đời này đều có

sự tương quan tương duyên với nhau gọi là lý nhân duyên Thứ nhất đó chính là

sự tương quan trong mối quan hệ huyết thống giữa cha mẹ, ông bà, tổ tiên dường như luôn có một sợi dây vô hình rang buộc bao thế hệ, bao con người với

tổ tiên dòng họ đấy người ta gọi là truyền thống hoặc là nghiệp “Tích nhà Phật cũng đã kể lại rằng, trong một lần đi dạo thế sự nhân gian ĐứcThế Tôn bắt gặp hai cụ già vừa thấy ngài họ đã vội ôm chầm và khóc lóc gọi con ơi, các tỳ kheo lấy làm ngạc nhiên và kéo họ ra, song ngài không cho phép, ngài bảo rằng hãy

để họ tự nhiên, đấy chính là cha mẹ ta từ kiếp trước trong lúc quẫn cùng đã nhìn thấy được ta” Điều đó cho thấy rằng, mỗi người trong chúng ta đều có sự liên hệ với những con người, khi ta còn sống đó chính là sự liên hệ huyết thống khi ta mất đi vãn sanh lại kiếp khác và lại một nơi nào đó ta bắt gặp lại mỗi con người mnag tiền kiếp là đấng sinh thành ta hóa ra tương quan tương duyên Thứ hai đó

là sự liên hệ giữa con người với xã hội, con người khó mà sống tách biệt khỏi xã hội đây cũng được xem là một tư tưởng rất duy vật Thứ ba, Phật giáo cho rằng con người còn có sự liên hệ với các đấng bồ tát Như vậy phận làm con phải có

ý thức trách nhiệm đến công nuôi dưỡng sinh thành của cha mẹ, trải qua bao

Trang 21

nhiêu năm tháng cho chúng ta hình hài, nuôi dưỡng giáo dục chúng ta bao đêm

lo lắng bao ngày vất vả mưu sinh chỉ mong sao cho ta khôn lớn, khỏe mạnh Công ơn ấy lớn như trời bể, làm sao chúng ta có thể quên được

Vậy nội dung “ Hiếu” trong triết học Phật giáo được thể hiện qua những kinh Phật Chữ Hiếu chính là sự biểu hiện đức tính cao thượng của con người trong hầu hết các văn hóa của nhân loại Đó là thái độ sống bày tỏ sự biết ơn, nhớ ơn công đức sinh thành dưỡng dục đối với ông bà, cha mẹ hiện tại và trong

vô lượng kiếp này sang kiếp khác Hiếu cũng chính là sợi dây thân ái nối kết giữa mọi người, gia đình, thần tộc và tình dân tộc Như vậy nói đến hiếu là nói đến sự đáp đền ân nghĩa là một cách nói Thực sự, nếu cuộc sống và con người

là thiêng liêng vô giá thì hiếu đạo cũng thế, là nghĩa sống cao đẹp, do các nền văn hóa khác nhau nên quan niệm về chữ hiếu và hình thức báo hiếu cũng khác nhau Trong kinh Phật có trích “ Hiếu là trên hết, hiếu là tất cả, là Mẹ của tất cả công đức lành, Mẹ của tất cả những phương pháp tu hành để thành Phật”

Hiếu được đặt thành Kinh, đủ thấy tính chất của hiếu vô cùng quan trọng, hiếu không còn hạn hẹp trong vấn đề “ Tận tâm kính dưỡng phụ mẫu” Theo tinh thần Phật giáo, hiếu thảo với cha mẹ hiện đời cũng như cha mẹ trong quá khứ, đúng nghĩa nhất là phải biết kính trọng, vâng lời cha mẹ Khi cha mẹ còn sống, phải tranh thủ khoản thời gian quý báu này để ân cần chăm lo săn sóc, thăm viếng Như thế gọi là đúng lúc, nếu bằng không thì khi cha mẹ chết đi sẽ không còn cơ hội nào nữa Lúc ấy dù cho ta có hối hận, có tổ chức làm lễ, cúng giỗ to lớn đến thế nào đi nữa cũng không còn ý nghĩa gì “ Phụng dưỡng cha mẹ là vận may tối thượng” (Kinh Hạnh Phúc) Trong sách Đạo đức người xuất gia do tác giả Nguyên Hùng viết rằng “ Muốn báo ân đức dưỡng dục cao dày của cha mẹ, việc nhỏ thì tận tâm tận lực phụng thờ cha mẹ, khá hơn một chút thì làm cho cha

mẹ được vui, còn xa hơn nữa thì làm cho cha mẹ phát khởi tâm Bồ Đề, hướng dẫn tâm thức của cha mẹ đi vào chính pháp” “Hiếu” trong đạo Phật cũng được biểu hiện qua hai phương diện là vật chất và tinh thần Về vật chất, con cái phải chăm sóc nuôi dưỡng cha mẹ, nhất là khi cha mẹ già yếu Về tinh thần, người con phải biết làm cho cha mẹ an vui qua hành vi thái độ cư xử tốt đối với cha mẹ

Trang 22

và qua lối sống đạo đức của bản thân Cao hơn, người con phải biết hướng cha

mẹ đến với thiện pháp

1.2.1 Cơ sở hình thành quan niệm về Hiếu trong triết học Phật giáo

Xuất phát từ những triết lý nhân sinh cơ bản mà Phật giáo mang lại cụ thểlà những giáo lý cơ bản làm nên những bộ kinh có giá trị nhân văn sâu sắc Kinh sách Phật rất nhiều, thế nhưng giáo lý đạo Phật có một nguyên tắc căn bản,

do Đức Thế Tôn chứng ngộ, đó là đạo lý duyên sinh chi phối vũ trụ và nhân sinh Duyên sinh là nhân duyên sinh ra Các hiện tượng vũ trụ và nhân sinh đều

do nhiều mối quan hệ kết hợp với nhau mà sinh ra những giáo lý này thể hiện một phần nào tư tưởng Phật giáo đem lại cho nhân sinh Đặc biệt trong các tư tưởng ấy Phật giáo rất chú trọng về đạo đức của con người mà cụ thể là đạo hiếu Sở dĩ như vậy, Phật giáo cho rằng đối với công ơn sinh thành, dưỡng dục tạo nên hình hài cho con của cha mẹ là trời biển và phận làm con phải làm tròn đạo hiếu của mình Từ những giáo lý trên, Phật giáo có những bộ kinh hết sức tiêu biểu đó là Kinh Vu Lan Bồn vàKinh Báo Ân cha mẹ, đó cũng được xem là

cơ sở hình thành quan niệm về hiếu trong triết học Phật giáo

Đức Phật đã chỉ ra rằng công ơn sinh thành, nuôi dưỡng của cha mẹ đối với con cái như trời, như biển cho nên không thể nào lấy của cải vật chất để bù đắp lại được.Và phải chăng, mọi của cải vật chất, đều vô thường biến hóa, nay còn mai mất, không có giá trị trường cửu Trái lại, cha mẹ không có lòng tin đối với Tam Bảo, đối với chính pháp, mà con cái biết hướng dẫn, khuyến khích cha

mẹ có được lòng tin; nếu cha mẹ làm điều ác, mà con cái biết hướng dẫn, khuyến khích cha mẹ làm điều lành, nếu cha mẹ keo kiệt, tham lam mà con cái biết hướng dẫn, khuyến khích cha mẹ bố thí; nếu cha mẹ có ác kiến, tà kiến và sống theo ác kiến, tà kiến mà con cái biết hướng dẫn, khuyến khích cha mẹ từ bỏ

ác kiến; tà kiến có được chính tri kiến và sống theo chính tri kiến thì con cái đó

đã làm đủ và trả ơn đủ cho cha và mẹ

Tất nhiên, con cái muốn làm được như vậy, tự mình phải có đức tin chân chính, tin ở Tam Bảo, tin ở chính pháp; tự mình phải là người tốt lành và làm các điều tốt lành, tự mình thực hành các pháp bố thí: bố thí tài sản, bố thí pháp,

Trang 23

bố thí vô úy (tức là sẵn sàng bảo vệ và giúp đỡ người khác để họ khỏi sợ hãi), và

bố thí tùy hỉ (tức là luôn luôn làm cho người khác vui vẻ và chia sẻ niềm vui với họ), tự mình học, tu đúng pháp để có trí tuệ chân chính, hiểu biết chân chính, khuyến khích cha mẹ bỏ điều ác làm điều lành, hoan hỷ bố thí và có trí tuệ chân chính, một người con như vậy được Đức Phật tán thưởng là đã trả ơn đủ cho cha

và mẹ

Chúng ta cần chú ý là: Tự mình không tin thì làm sao xây dựng được lòng tin cho cha mẹ hay người khác được? Tự mình không làm điều lành, không bố thí, không có trí tuệ thì làm sao khuyến khích cha mẹ và người khác làm điều lành, bố thí và có trí tuệ được? Đó cũng chính là những điều đức Phật hướng đến mong mọi người hướng thiện và làm tròn đạo hiếu của mình

1.2.2 Nội dung “Hiếu” trong quan niệm của triết học Phật giáo

Hiếu thảo với cha mẹ là một đức tính tốt đẹp của mỗi con người, đức tính

ấy như nền tảng cho mọi đức hạnh, là nhân tố quan trọng để xây dựng đời sống hạnh phúc cho cá nhân gia đình và xã hội Đối với đạo Phật, thực hành hiếu thảo

là con đường giải thoát của chính pháp, là con đường của người phật tử Không hiếu thảo với cha mẹ thì không thể trở thành người phật tử chân chính được

Khi nghiên cứu về “ Hiếu” trong triết học Phật giáo không thể bỏ qua nội dung được thể hiện khá sâu sắc qua Kinh Vu Lan Bồn và Kinh Báo Ân của Phật giáo

Kinh Vu Lan Bồn với nội dung kinh gồm ba phần, xin được trình bày vắn tắt và khái quát Thứ nhất, nói về Ngài Mục Kiền Liên một đệ tử xuất sắc của của Đức Thế Tôn, sau khi đắc đạo thấy mẹ của mình sống trong cảnh giới quỷ đói, ngài sử dụng năng lực thân thông của mình đưa bát cơm dâng mẹ nhưng hỡi

ôi, mẹ ngài vì lòng tham che mờ cơm dâng đến miệng lại hóa thành than nên không thể tài nào ăn được Thứ hai, ngài Mục Kiền Liên xin Phật chỉ dạy phương pháp cứu mẹ ra khỏi cảnh tù đày nơi địa ngục quỷ đói Đức Phật dạy rằng phải nhờ đến uy lực của tập thể chúng tăng mới cứu được mẹ ông Vào ngày rằm tháng bảy là ngày chư tăng tập trung tứ tự sau ba tháng an cư kiết hạ thanh tịnh Hãy sắm sửa vật dụng cúng dường chư tăng, nhờ chư tăng chú

Trang 24

nguyện mẹ ông mới thoát được khổ, ngài Mục Kiền Liên vâng lời Phật dạy thực hiện phương pháp báo hiếu ấy nên đã cứu được mẹ Thứ ba, ngài Mục Kiền Liên cũng xin phép Phật cho các chư tăng, phật tử vào ngày đó thực hiện phương pháp cúng dường để bày tỏ báo hiếu và đáp ân cha mẹ Từ đó trở đi ngày rằm tháng bảy hằng năm trở thành ngày lễ Vu Lan báo hiếu lớn không chỉ riêng Phật giáo mà còn những người không theo đạo Phật

Có thế thấy rằng, hình ảnh “ Bát cơm hóa lửa” cho thấy một ý nghĩa triết

lý sâu sắc về bản tính con người, mẹ ngài Mục Kiền Liên bị đọa đày trong giới ngạ quỷ, đói khát do nghiệp nhân tham lam bỏn xẻn thì quả phải chịu cảnh thiếu thốn Kinh Tiếu Nghiệp Phân Biệt có viết rằng “ Nếu người tham lam bỏn xẻn, không bao giờ biết bố thí do tánh keo kiệt bám víu vào tài sản của mình, nếu tái sanh làm người sẽ bị nghèo nàn thiếu thốn” Trong Phật giáo hình ảnh ngọn lửa được ám chỉ những thế lực tối tăm như tham sân si Do lòng tham lam còn chi phối mạnh mẽ tâm thức của bà ( Mẹ Mục Kiền Liên) nên khi nhận bát cơm, bà vội vàng tay trái che bát, tay phải bốc ăn vì sợ người khác cướp mất Sự tham lam ích kỉ đó bùng lên mạnh mẽ hóa thành ngọn lửa thiêu thành than, lửa ở đây

là lửa của tâm thức chứ không phải lửa ở bên ngoài chính tâm thức đen tối của

bà đã sinh ra lửa bao trùm làm bà thấy lửa trong bát cơm của mình Mặt khác, như đã trình bày theo định luật chiêu cảm của nghiệp báo, khi dã tạo nghiệp đói, thì dù có cơm ngon canh lành thì vẫn thấy lửa, cũng giống như người đã tạo ra nghiệp ngu si, thì dù có gặp sách vở hay ho, họ cũng xem như giấy lộn mà thôi, bởi lẽ nghiệp nhân và nghiệp qua luôn tương quan tương đồng Ngài Mục Kiền Liên dù có thần thông đến đâu cũng không thể đưa mẹ ngài thoát khỉ cảnh ngạ quỷ điều đó cũng cho thấy rằng, không thể dung sức mạnh thần thánh mà thay đổi được nghiệp nhân quả khi đã gây ra Ngọn lửa được sinh ra ở đâu thì phải diệt ở đó, tức là mẹ ngài sinh ra nghiệp thì chính bà phải tự giải thoát khỏi nghiệp Đấy cũng chính là cái triết lý cơ bản mà mỗi người cũng thấy được

Không thể bỏ qua hình ảnh thứ hai trong kinh Vu Lan Bồn đó chính là sự chú nguyện của chúng chư tăng cúng dường Đức Phật dạy phương pháp cứu

mẹ ngài Mục Kiền Liên là phải nhờ đến sức mạnh tâm linh của chư tăng trong

Trang 25

ngày tự tứ, điều đó nói lên sức mạnh của tập thể bao giời cũng mạnh hơn sức mạnh cá nhân dù cho cá nhân ấy chính là Đức Phật Sau ba tháng an cư kiết hạ đến ngày rằm tháng bảy thì giải chế phải là ngày tự tứ, chữ “ Tự Tứ” được hiểu nôm na là tùy ý, tức là mong muốn chư tăng tùy ý chỉ trích những lỗi lầm của mình cho chư tăng thấy, nghe, nhìn để mình biết mà sám hối, nhờ sám hối nên thân khẩu ý được thanh tịnh thì công đức rất lớn Với tâm lực thanh tịnh, đầy đủ các đức tính từ bi an lạc, chư tăng hướng tâm mình vào cảnh giới khổ đau của ngạ quỷ luồng tâm từ của chư tăng hợp thành một nguồn năng lượng lớn có tác dụng làm dịu đi cái nóng bức của cảnh giới ngạ quỷ, ví như luồng gió mát thổi qua cảnh trưa hè oi bức, làm cho thân tâm của Mẹ ngài Mục Kiền Liên được nhẹ nhàng thanh thoát và bình tĩnh hơn, do đó tạo điều kiện cho thiên tâm của bà phát khởi, không những mẹ ngài Mục Kiền Liên được giải thoát khỏi chốn ngạ quỳ tù đày mà những người đang sống trong cảnh giới đó cũng được dịu mát tâm thức, nếu thiên tâm họ có phát khởi thì cũng sẽ được giải thoát như mẹ ngài Kiền Liên

Tóm lại, sự chú nguyện của chư tăng trong ngày tự tứ không phải xóa được luật nhân quả, không phải trực tiếp cứu rỗi chúng sinh mà điều đó chỉ có tác dụng trợ duyên, tạo những điều kiện thuận lợi cho chúng sinh phát tâm khởi thiện chính mình Thiện tâm của chính mình mới có thể cứu rỗi được chính họ

Thứ hai, Đức Phật dạy ân đức cha mẹ có 10 điều

- Ân giữ gìn mang thai trong 9 tháng

- Ân sinh sản khổ sở

- Ân sinh rồi quên lo

- Ân nuốt đắng nhổ ngọt

Trang 26

- Ân nhường khô nằm ướt

- Ân bú mớm nuôi nấng

- Ân tắm rửa chăm sóc

- Ân xa cách nhớ thương

- Ân vì con làm ác

- Ân thương mến trọn đời

Thứ ba, Đức Phật dạy về sự bất hiếu của con cái chính là ăn nói hỗn hào với cha mẹ, xấc xược với anh em chú bác bà con; không tuân theo lời dạy của cha mẹ và các bậc trưởng thượng trong gia tộc; theo bạn bè làm điều ác, từ bỏ gia đình đi hoang, gây bao tội lỗi làm cho cha mẹ bà con phải muộn phiền; không lo học tập, xao nhãng nghề nghiệp, không tạo dựng được một đời sống vững chắc làm cho cha mẹ phải lo lắng; không phụng sự cha mẹ về vật chất, không an ủi cha mẹ về mặt tinh thần, coi thường cha mẹ, coi thường vợ con Thứ tư, Đức Phật dạy rằng ân đức cha mẹ khó mà đền đáp được dù con cái cái báo hiếu bằng cách như “ Vai trái cõng cha, vai phải cõng mẹ, cắt da đến xương, nghiền xương đến tủy, máu đổ thịt rơi cũng không đền đáp được công ơn cha

mẹ Vì cha mẹ mà đốt thân làm đèn cúng dường cho chư tăng cũng không tài nào đền đáo được công ơn trời biển của cha mẹ…” Thứ năm, Đức Phật dạy về phương pháp báo hiếu ngoài việc phụng dưỡng cha mẹ về vật chất và an ủi về tinh thần chúng ta cần khuyến hóa cha mẹ thực hành thiện pháp Phải vì cha mẹ

mà thực hành tịnh giới, bố thí, làm các việc lợi ích cho mọi người, phải truyền

bá tư tưởng hiếu đạo này cho mọi người được lợi ích Thứ sáu, Đức Phật khích

lệ tinh thần báo hiếu, đại chúng phát nguyện vâng lời Phật dạy đặt tên kinh là Kinh Báo Ân Cha Mẹ

Qua Kinh Báo Ân Cha Mẹ, điểm nhấn đầu tiên chính là phần duyên khởi, hình ảnh đống xương khô được Đức Phật sát lễ bái lạy tạo nên điều xúc động, xót thương, hình ảnh này cũng nói lên phần nào quan niệm về hiếu đạo một cách rộng rãi và báo trước một phương pháp báo hiếu vô cũng thường tình của Phật giáo Đối với đạo Phật tất cả chúng sinh đều nằm trong vòng sinh tử luân hồi bất tận Một vòng luân hồi lần quẩn, Đức Phật dạy rằng: “ Ta thấy tất cả chúng sinh

Trang 27

không ai không phải là cha mẹ của nhau, hoặc ở trong quá khứ, hoặc ở hiện tại, hoặc ở tương lai” Cho nên nhìn thấy một đống xương mà liên tưởng đến hình ảnh của người thân ta không có gì là lạ đối với giáo lý Phật giáo Theo định luật luân hồi và duyên khởi thì quan niệm về cha mẹ không còn hạn hẹp trong phạm

vi gia đình nhỏ bé, với tầm nhìn sâu rộng giữa không gian vô tận và thời gian vô cùng thì tất cả chúng sinh đã từng làm cha mẹ bà con quyến thuộc với nhau, với

sự tồn tại chằng chịt tương quan tương duyên, Phật giáo không những đề cao công ơn cha mẹ mà còn mở rộng ra phạm vi nhớ ơn và báo án quốc gia Mặc dù khái niệm về cha mẹ rộng rãi như vậy nhưng trong kinh chỉ chỉ đề cập đến cha

mẹ hiện tại của chúng ta, đối tượng mà tất cả những người con hiếu thảo phải đền đáp sinh thành

Công ơn cha mẹ sinh thành dưỡng dục và giới thiệu con vào đời là không thể phủ nhận được Cha mẹ luôn luôn thương yêu con cái, hy sinh cuộc đời mình cho con cái về mặt tinh thần con cái là niềm hy vọng của cha mẹ, nên khi nói đến cha mẹ là nói đến những công ơn trời biển “ Công cha như núi thái sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra, một lòng thờ mẹ kính cha, cho tròn chữ hiếu mới là đạo con” Trong các kinh Phật giáo Nam tông và Bắc tông đều đề cao công ơn cha mẹ Kinh tăng Chi Phật dạy “Có hai hạng người, này các Tý kheo, ta nói không thể trả ơn được đó là mẹ cha

1.2.3 Vị trí của Hiếu trong hệ thống triết học Phật giáo

Trong hệ thống giáo lý của triết học Phật giáo bao gồm một loạt các học thuyết, các tư tưởng, các quan niệm suy về một mối đều giải thích những vấn đề của nhân sinh Trong đó nổi trội lên là các tư tưởng, quan niệm về Hiếu mà Phật giáo lấy làm cái cốt để răn dạy.Tiếp cận, đặc biệt nhấn mạnh công đức của cha

mẹ, răn dạy thế nào là báo hiếu và báo hiếu như thế nào trong Kinh Thai Cốt và Kinh Huyết Bồn hay Kinh Hiếu Tử

Ở một góc độ khác, Kinh Tâm Ðịa Quán với phẩm thứ hai là phẩm báo

ân, đi vào chi tiết răn dạy cách đền ơn cha mẹ của người xuất gia và người tại gia Kinh Ðịa Tạng kể về hiếu hạnh của bồ-tát Ðịa Tạng và thông qua đó hướng dẫn cách đền ơn cha mẹ ở hiện đời cũng như các đời sống quá khứ

Trang 28

Kinh Thiện Sanh hay Giáo thọ Thi-ca-la-việt (thuộc kinh điển Pali) dạy về đời sống và các mối quan hệ đạo đức của xã hội loài, trong đó có đề cập đến 5 nguyên tắc đạo đức của các bậc cha mẹ đối với con cái và 5 nguyên tắc đạo đức của con cái đối với cha mẹ Ngoài ra, những lời dạy về hiếu hạnh đã được đề cập rải rác trong kinh Tăng Chi, thuộc kinh tạng Pali

Từ đó cho thấy được quan niệm về Hiếu có một nền tảng rất lớn trong hệ thống triết học Phật giáo, mặt khác khi bàn về Phật giáo không thể bỏ qua các tư tưởng và quan niệm về hiếu Điều đó chứng minh rằng Phật giáo đã gửi gắm những triết lý sâu sắc của nhân sinh qua quan niệm về Hiếu

1.3 Giá trị của “Hiếu” trong triết học Phật giáo với giáo dục gia đình

ở Việt Nam hiện nay

Chữ hiếu là nền tảng của đạo đức Gia đình là nền tảng của xã hội Trong gia đình chữ hiếu là nền tảng để xây dựng hạnh phúc, đem đến sự an vui, an lạc cho tất cả mọi người

Con cái có hiếu với cha mẹ, ngoài việc mang lại niềm hạnh phúc chung trong gia đình, còn mang đến cho chính mình sự an lạc, bình an Mỗi cá nhân, mỗi gia đình trong xã hội, mỗi công dân của một quốc gia có an lạc, bình an thì

xã hội, quốc gia đó mới có an lạc bình an, và mỗi xã hội, mỗi quốc gia có an lạc bình an thì thế giới của chúng ta mới được an lạc, bình an

Không có tình yêu thương kính trọng vô điều kiện đối với cha mẹ thì không thể có tình yêu thương thật sự đối với người khác Một xã hội không có những cá nhân có tình yêu thương thật sự, chỉ có những cá nhân, mà lòng yêu thương trong họ chỉ tồn tại khi các điều kiện xuất phát từ lòng tham dục đã được thỏa mản, nếu không đúng theo sự ham muốn, nếu trái với ý muốn, thì tình thương đó sẽ tan biến, dể biến thành sự khinh khi, đố kỵ, ganh ghét và hận thù Như thế thì xã hội đó, sẽ không thể có được sự an lạc, sự an bình thật sự

Phong tục tập quán của các dân tộc, giáo lý của các tôn giáo đều khuyên dạy, đề cao và hướng con người đến việc nhận thức và thể hiện lòng hiếu hạnh của mình đối với đấng sinh thành Đặc biệt nước ta với nền văn minh phát triển

từ rất lâu, văn hóa Nho-Phật-Lão đã ảnh hưởng sâu đậm trong xã hội ngay từ

Trang 29

thời lập quốc Chữ hiếu đã hình thành và tồn tại trong từng cá nhân như là bản tính tự nhiên vốn có từ khi chúng ta mới chào đời

Gia đình là trường học đầu tiên với những bài học sống động Học đường

là nơi phát triển con người về văn hóa, tri thức, tình cảm… nhưng tất cả những

gì mà lớp trẻ học ở trường chỉ là nối tiếp công việc giáo dục của gia đình Mặc

dù gia đình không có một hệ thống lớp như ở trường, nhưng lại có một nền giáo dục đạo đức rất hữu hiệu, chính nhân cách của cha mẹ và hành động của cha mẹ

là tấm gương giáo dục lý tưởng thiết thực, luôn khắc sâu vào ký ức của tuổi trẻ

Vì thế giáo dục gia đình là yếu tố rất cần thiết cho đứa trẻ đủ can đảm bước vào đời Từ khi cơ cấu kinh tế có sự thay đổi thì gia đình cũng có sự thay đổi Xã hội

có những tác động lên môi trường bao nhiêu thì gia đình cũng ảnh hưởng lên đời sống con cái bấy nhiêu Nếu một gia đình ổn định, trong đó các thế hệ cùng chung sống hòa thuận với nhau, thì con trẻ sẽ ít có những sự thay đổi về giá trị đạo đức, hay nói cách khác, giới trẻ sống trong gia đình đó sẽ huân theo lối sống của ông cha họ Gia đình nào sống hạnh phúc, trong đó cha mẹ và con cái sống hài hòa với nhau, thì người trẻ sẽ cảm nhận những giá trị cao đẹp như: hạnh phúc, lắng nghe nhau, tha thứ cho nhau, chấp nhận những khác biệt của nhau, yêu thương nhau, nâng đỡ nhau, v.v Còn những gia đình nào không có hạnh phúc thì con cái sẽ không có nhận định đúng đắn về những giá trị đạo đức như: yêu thương, nâng đỡ, hòa thuận…Từ chỗ đó, họ dễ rơi vào tình trạng chán đời, thất vọng: bỏ nhà đi bụi, sốngbê tha, sống bất cần đời, v.v

Tục ngữ Việt Nam có nhiều câu nói về ảnh hưởng của cha mẹ gia đình đến con cái, mang tính răn dạy như:

“Giỏ nhà ai, quai nhà ấy”

“Họ nhà công, không giống lông cũng giống cánh”

Vai trò của bậc làm cha mẹ trong giáo dục con cái xưa cũng như nay, đời cũng như đạo, đều được đánh giá rất cao, không những chỉ có liên quan đến hạnh phúc gia đình, xã hội được yên vui trật tự, mà còn ảnh hưởng đến sự tiến thân trong sự nghiệp của con cái mình ngoài xã hội ở tương lai nữa Đức Phật đã thấy rõ tầm quan trọng của sự giáo dục trong gia đình nên đã dạy các bậc làm

Trang 30

cha mẹ đương thời phải dùng lý trí trong tình thương yêu dạy dỗ con cái, để con cái có mối quan hệ gần gũi và yêu mến cha mẹ nhiều hơn

“Cha mẹ có lòng thương tưởng đến con theo 5 cách:

Ngăn chặn con làm điều ác

Khuyến khích con làm điều thiện ”

Người Việt Nam, vốn chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Nho giáo và Phật giáo, coi đạo Hiếu là đạo lí cơ bản của con người, là gốc của nhân cách và

là nền tảng của đạo đức xã hội “Không trọn đạo với cha mẹ không đáng làm người” (Mạnh Tử) Trong cuộc sống đã có biết bao tấm gương hiếu thảo làm động lòng cả trời đất, song cũng có nhiều kẻ bất hiếu, vô luân làm lương tri xã hội nhức nhối Người xưa có câu: “Kính già, già để phúc cho” Người già là đối tượng cần được xã hội quan tâm chăm sóc, thương yêu Xã hội và mỗi gia đình, mỗi người cần quan tâm hơn đến người già để những người đã cống hiến, hi sinh cả cuộc đời cho xã hội, cho con cháu được sống thanh thản, hạnh phúc trong buổi hoàng hôn của cuộc đời Làm gì để giữ gìn, chấn hưng đạo Hiếu và những truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc trong xã hội công nghiệp hoá với sự lấn lướt của tâm lí thực dụng, chủ nghĩa cá nhân và lối sống hưởng thụ đang là mối quan tâm chung của xã hội

Nguyên nhân con cái không có ý thức thực hiện đạo Hiếu có nhiều, trong

đó có nguyên nhân chủ quan là do giáo dục đạo đức trong gia đình chưa được coi trọng Nhiều gia đình các bậc cha mẹ chưa thật chú trọng giáo dục đạo Hiếu cho con Có hiện tượng cha mẹ thiếu gương mẫu, không dành nhiều thời gian cho con cái, dung túng hành vi tham lam ích kỷ, ngang ngược của con cái Khi con cái có biểu hiện chưa tốt thì ít khuyên nhủ, nặng về trách mắng Nhiều con trẻ không nhận được sự dạy bảo quan tâm chăm sóc thường xuyên của cha mẹ nên bỏ học, chơi bời lêu lổng Sự buông lỏng giáo dục đạo đức gia đình của các bậc cha mẹ dẫn đến sự bất ổn trong cuộc sống gia đình

Giáo dục đạo đức nói chung và đạo Hiếu nói riêng trong nhà trường cũng không được coi trọng Nhà trường hiện nay nặng về truyền dạy kiến thức văn hóa, mà chưa chú ý nhiều đến luân lý đạo đức Tình trạng xuống cấp đạo đức

Trang 31

trong học sinh có chiều hướng gia tăng đến mức báo động Nhiều học sinh chỉ biết đòi hỏi, hưởng thụ mà không quan tâm tới người khác, thái độ dửng dưng đến vô cảm trước những người xung quanh trong đó có ông bà, cha mẹ không phải là ít Một bộ phận học sinh, sinh viên quen lối sống buông thả, xa dần các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp; hình thành tư tưởng cá nhân ích kỷ, thói ăn chơi đua đòi và sa vào các tệ nạn xã hội như cờ bạc, mại dâm, nghiện hút, trộm cướp, thậm chí giết người khiến các bậc cha mẹ đau lòng, cả xã hội nhức nhối

Tình hình đó khiến các bậc cha mẹ, các nhà quản lý giáo dục và cả xã hội không thể làm ngơ Vấn đề đặt ra là cần phải làm thế nào để giảm bớt và đi tới chấm dứt các hiện tượng suy thoái đạo đức lối sống nhằm phát huy giá trị đạo Hiếu trong xã hội hiện nay Đã đến lúc cả hệ thống chính trị phải vào cuộc trong

sự nghiệp giáo dục nói chung và giáo dục đạo đức gia đình trong đó có giáo dục đạo Hiếu cho lớp trẻ

Từ đó cho thấy được vấn đề giáo dục gia đình hiện nay cần có kết hợp của nhiều tư tưởng truyền thống và đặc biệt đó chính là quan niệm của Hiếu trong triết học Phật giáo, quan niệm đó không bị mai một theo thời gian, không gian Đặt trong bối cảnh đất nước việt nam hiện nay với sự phát triển nhanh chóng của đất nước, nhu cầu vật chất dần được cải thiện vô tình bỏ qua những giá trị tốt đẹp về mặt tinh thần để rồi làm toát lên cái giá trị to lớn mà Phật giáo đem lại- chính là giá trị về Hiếu

Ngày đăng: 12/05/2021, 20:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w