TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA NGỮ VĂN --- TÂM THỨC HIỆN SINH TRONG CHINH PHỤ NGÂM CỦA ĐẶNG TRẦN CÔN VÀ CUNG OÁN NGÂM CỦA NGUYỄN GIA THIỀU KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ V
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA NGỮ VĂN -
TRƯƠNG THỊ THUẬN AN
TÂM THỨC HIỆN SINH TRONG CHINH PHỤ NGÂM CỦA ĐẶNG TRẦN CÔN VÀ CUNG OÁN NGÂM
CỦA NGUYỄN GIA THIỀU
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Đà Nẵng, tháng 5/2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN -
TÂM THỨC HIỆN SINH TRONG CHINH PHỤ NGÂM CỦA ĐẶNG TRẦN CÔN VÀ CUNG OÁN NGÂM
CỦA NGUYỄN GIA THIỀU
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Người hướng dẫn:
ThS Nguyễn Quang Huy
Người thực hiện:
Trương Thị Thuận An (Khóa 2013-2017)
Đà Nẵng, tháng 5/2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực, khách quan và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây Trong khóa luận này đã sử dụng một số nhận xét, đánh giá của các tác giả khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc
Sinh viên thực hiện
(Ký và ghi rõ họ tên)
Trương Thị Thuận An
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Nguyễn
Quang Huy, đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình viết báo cáo tốt nghiệp
Em chân thành cảm ơn quý thầy cô trong Khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Sư phạm – ĐHĐN đã tận tình truyền đạt kiến thức trong những năm em học tập Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học tập không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu đề tài khóa luận mà còn là hành trang quý báu để em có thể vận dụng vào công việc của mình sau này
Mặc dù đã cố gắng song khóa luận tốt nghiệp không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong quý thầy cô giáo cùng toàn thể bạn bè góp ý để đề tài được hoàn thiện hơn
Cuối cùng em kính chúc quý thầy cô dồi dào sức khỏe và thành công trong sự nghiệp cao quý
Đà Nẵng, Ngày 28 tháng 4 năm 2017
Sinh viên thực hiện
(Ký và ghi rõ họ tên)
Trương Thị Thuận An
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3.1.Đối tượng nghiên cứu 2
3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
4.1 Những nghiên cứu về văn học Việt Nam từ tâm thức hiện sinh 3
4.2 Những nghiên cứu về Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm mang dấu ấn hiện sinh 7
4 Phương pháp nghiên cứu 11
5 Cấu trúc đề tài 13
NỘI DUNG 13
Chương 1 KHÁI QUÁT MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TÂM THỨC HIỆN SINH 13
1.1 Quan niệm về hiện sinh 13
1.2 Tâm thức hiện sinh 13
1.3 Các cảm trạng tâm lí của con người nhìn từ tâm thức hiện sinh 14
1.3.1 Cảm trạng tâm lí hiện sinh theo chiều phản tỉnh 14
1.3.2 Cảm trạng tâm lí hiện sinh theo chiều mù quáng 17
Tiểu kết chương 1 19
Chương 2 TÂM THỨC HIỆN SINH TRONG CHINH PHỤ NGÂM VÀ CUNG OÁN NGÂM THEO CHIỀU HƯỚNG PHẢN TỈNH 20
2.1 Tâm thức lựa chọn dấn thân 20
2.2 Tâm thức ưu tư và dự phóng về tương lai 31
2.3 Tâm thức phản kháng 36
2.4 Tâm thức vươn tới tự do 42
2.5 Tâm thức phản tỉnh 56
2.6 Tâm thức hướng đến hiện hữu 69
Trang 6Tiểu kết chương 2 77
Chương 3 TÂM THỨC HIỆN SINH TRONG CHINH PHỤ NGÂM VÀ CUNG OÁN NGÂM THEO CHIỀU HƯỚNG MÙ QUÁNG 79
3.1 Tâm thức cô đơn 79
3.2 Tâm thức ngụy tín 87
3.3 Tâm thức lưu đày 92
3.4 Tâm thức bất mãn trước số phận và cuộc đời 108
Tiểu kết chương 3 120
KẾT LUẬN 121
TÀI LIỆU THAM KHẢO 123
Trang 7phụ nữ đó chính là Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn và Cung oán ngâm của
Nguyễn Gia Thiều Hai khúc ngâm đã diễn tả sâu sắc bi kịch tâm thần của con người Mặt khác còn cho ta một cái nhìn cảm thương trước thân phận của những kẻ
phải gánh chịu nỗi thống khổ bi thiết giữa cuộc đời: gánh chịu truân chiên - Khách
má hồng nhiều nỗi truân chiên và gánh chịu định mệnh/ phận - Mà xui phận bạc nằm trong má đào Có nhiều vấn đề đã được đặt ra trong Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm không còn là những vấn đề ám ảnh với chúng ta ngày nay nữa, thế nhưng
đọc lại tâm hồn ta vẫn cứ thấy rụng động, xao xuyến trước những nỗi khổ và khát
vọng của con người Chính vì vậy sau khi tiếp cận Chinh phụ ngâm và Cung oán
ngâm, chúng tôi mong muốn thấu hiểu sâu sắc hơn về con người trong hai khúc
ngâm khi nhìn ở góc độ tâm thức, nên chúng tôi lựa chọn hướng nghiên cứu: soi rọi hai tác phẩm dưới góc nhìn của tâm thức hiện sinh Dự hướng về một tâm thức hiện sinh là kết quả của tri thức tổng hợp của các kinh nghiệm hiện tượng luận hiện sinh
về các cảm trạng tâm lí người, khi ấy hiển nhiên giúp chúng ta tiếp cận những vấn
đề của văn bản trong tính nội tại của nó chứ không thuần túy là đến từ bên ngoài
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm,
trong đó cố nhiên đã phát hiện ra nhiều vấn đề mới, nhưng đến ngày hôm nay hai tuyệt tác này vẫn là một mảnh đất màu mỡ cho nhiều nhà nghiên cứu khai phá để khẳng định thêm nhiều giá trị ý nghĩa Tuy nhiên, chưa có nhiều công trình nào tập
trung nghiên cứu cả Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm trong cùng một phạm vi đề
tài Do vậy, bước một bước đi mới, chúng tôi mạnh dạn đi sâu vào việc nghiên cứu
“Tâm thức hiện sinh” trong hai tác phẩm này
Từ những lí do trên chúng tôi đã chọn đề tài Tâm thức hiện sinh trong
Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn và Cung oán ngâm của Nguyễn Gia Thiều để
Trang 8nghiên cứu Theo hướng nghiên cứu đã chọn đề tài này sẽ giúp chúng ta khám phá
ra nhiều vấn đề mới mẻ từ hai kiệt tác - Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm và nới
rộng sự hiểu biết về một hệ hình lý thuyết triết học phức tạp và quan trọng bậc nhất của thế kỉ XX
2 Mục đích nghiên cứu
Thông qua nghiên cứu Tâm thức hiện sinh trong Chinh phụ ngâm và Cung oán
ngâm, đề tài mong muốn có một cái nhìn toàn diện hơn về con người - nhân vật trữ
tình trong hai tác phẩm khi phân tích dưới góc nhìn tâm thức hiện sinh Từ đó đi đến việc khẳng định vai trò và sự ảnh hưởng lớn lao của triết học đến đời sống văn học và tâm thức của con người Qua quá trình phân tích đối tượng nghiên cứu, giải
mã vấn đề, đề tài nhằm tạo ra cái nhìn so sánh, đối chiếu, liên hệ giữa hai tác phẩm -
Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm với các hiện tượng văn học Việt Nam trong
giai đoạn từ thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX khi tìm hiểu các vấn đề liên quan Và
mục đích cuối cùng là đi đến khẳng định giá trị của hai tác phẩm Chinh phụ ngâm
và Cung oán ngâm trong tiến trình phát triển văn học Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hai tác phẩm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn và Cung oán ngâm của Nguyễn Gia Thiều
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Tham chiếu các vấn đề cơ bản trong triết học hiện sinh, phân tâm học và hiện
tượng luận hiện sinh, sau đó vận dụng các lí luận cơ bản ấy để đi vào phân tích Tâm
thức hiện sinh trong Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm
Nghiên cứu văn học từ phương pháp hiện tượng luận hiện sinh, tâm thức hiện
sinh là đi tìm các hình ảnh thật của con người Điểm xuất phát, lấy văn bản văn học làm chủ thể - chủ thể của đời sống văn học Từ cách hiểu này, chúng tôi đi sâu
khám phá những cảm trạng tâm lí của con người trong Chinh phụ ngâm và Cung
oán ngâm dưới góc nhìn của tâm thức hiện sinh Với phạm vi đề tài này chúng tôi
tập trung phân tích hai kiểu dạng tâm thức sau: 1/ Tâm thức hiện sinh trong Chinh
Trang 9phụ ngâm và Cung oán ngâm theo chiều hướng phản tỉnh, 2/ Tâm thức hiện sinh
trong Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm theo chiều hướng mù quáng
4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
4.1 Những nghiên cứu về văn học Việt Nam từ tâm thức hiện sinh
Trong văn học Việt Nam, Hiện tượng luận xuất hiện chủ yếu ở lĩnh vực phê bình, khảo cứu với vai trò như một phương pháp Trước năm 1975, người “nổ phát súng” đầu tiên vận dụng phương pháp này vào phê bình văn học là Lê Tuyên Lê Tuyên đã tiến hành hàng loạt những nghiên cứu về ca dao, các hiện tượng văn học
Việt Nam trung đại như Nguyễn Khuyến, Truyện Kiều, Chinh Phụ Ngâm, qua hiện đại như Vũ Hoàng Chương [31] Lê Tuyên đã thử lửa, và thử lửa thành công với
phê bình hiện tượng học văn học qua các đối tượng văn học rất quen thuộc của dân tộc bằng phương pháp hiện đại Lê Tuyên đã đặt nền tảng cho phê bình hiện tượng luận văn học ở Việt Nam, qua cái nhìn mơ mộng được phóng xuất ý hướng tính về
đối tượng Trong Chinh phụ ngâm và tâm thức lãng mạn của kẻ lưu đày [30], qua
“cái nhìn về cuộc đời”, “cái nhìn vào số phận” với “không gian và hiện hữu lưu đày”, “không gian mơ về từ mộng”, “không gian và hiện thực ly bôi”, “không gian
và chủ thể yêu thương”, Lê Tuyên giải mã nguyên nhân tấm thảm trạng bi kịch lưu đày trong tâm thức của người chinh phụ Người thiếu phụ đã đem cái nhìn mơ mộng
về sự xuất hiện của người chồng lí tưởng nhằm hướng tới, phóng xuất về phía hình ảnh người chồng đang biệt xứ Đến khi nhận ra sự thực, chính người chồng lí tưởng
ấy đã “bóp méo” ý thức tiên nghiệm mà người chinh phụ hướng về chồng mình Chính khát vọng cuộc sống hạnh phúc đã trở thành “thiết chế thông tin” vây hãm, lấn át, che mờ con người thực, con người hoàn nguyên hiện tượng luận nơi người chinh phụ Khi nhận ra thì mọi sự đã rồi, người ra đi kẻ ở lại, ánh trăng trên đầu không soi tỏ nỗi lòng se thắt, quặn đau của tâm thức lưu đày tuyệt vọng ấy Trong
số những cuốn phê bình về Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn, đây là cuốn đáng
đọc nhất Từng lời, từng chữ như phóng chiếu, xuất thể những tinh anh và tâm thức
mơ mộng Chủ thể tính muốn vượt thoát hoàn cảnh, nhưng đời không cho vượt thoát, quy hồi nội giới để ẩn mình, sống trong cảnh lưu đày tình cảm
Trang 10Các tác giả như Nguyên Sa, Nguyễn Văn Trung, Đặng Phùng Quân, Huỳnh Phan Anh là những nhà văn kiêm nhà phê bình nhà nghiên cứu triết học, đã đưa Hiện tượng luận vào văn học trong vai trò lược khảo, nhận định, dẫn nhập những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống văn học, cần phải khai thác Nguyên Sa
(Trần Bích Lan) trong cuốn Quan điểm văn học và triết học đã dành hai mục lớn ở
phần 1 để giới thiệu về “Hiện tượng luận trong sáng tạo và phê bình văn học” [23]
Trong công trình này, Nguyên Sa đã áp dụng phương pháp giảm trừ của Hiện tượng
học để tẩy rửa đi từng lớp nghĩa, lần lần, làm lộ ra cái lõi bản chất sự sáng tạo của người nghệ sỹ Đặng Phùng Quân thì dành hai phần lớn trong ba phần của cuốn
sách Triết học và văn chương để chỉ bàn về văn học dưới cái nhìn “Hiện tượng luận
của Merleau Ponty” như các mục “Văn tự và siêu hình học”, “Đọc/ Viết”, “Bản
văn”, “Ngợi ca viết”… Huỳnh Phan Anh trong Đi tìm tác phẩm văn chương dành
hẳn một phần lớn, quan trọng để bàn về cái nhìn “Hiện tượng luận trong văn học” với các mục: “Hành trình tác phẩm”, “Ám ảnh của tác phẩm”, “Phê bình và chống phê bình” [1]
Lê Tuyên, từ những năm 60 thế kỉ trước, như vậy là rất sớm, ngay cả với các đồng nghiệp ở miền Nam, đã dịch chuyển thành công phê bình văn học vào hệ hình hiện đại lấy văn bản làm trung tâm, bằng phương pháp Hiện tượng học
Sau 1975, Phương Lựu trong cuốn Mười trường phái phê bình văn học
phương Tây đương đại đã dành một mục để giới thuyết về Hiện tượng luận từ triết
học tới mỹ học và phê bình văn học [19] Phạm Văn Sĩ trong Về tư tưởng và Văn
hóa phương Tây hiện đại cũng đã để một mục bàn về “Hiện tượng luận của
Husserl”, khi tác giả nhấn mạnh tới thân phận con người trong văn học [24] Trong
công trình Thi pháp hiện đại, Đỗ Đức Hiểu đã đưa ra những nhận định về ý hướng
hiện sinh trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp khi cho rằng nhân vật trong truyện
ngắn của Nguyễn Huy Thiệp là những con người mang thuộc tính của hiện sinh “bất
ổn, luôn luôn di động, đi tìm tự do, dân chủ, đi tìm cái đẹp, đi tìm bản thân nó, đó là nhân vật đa chiều, nhiều tầm vóc, không đơn điệu, không nhất phiến Nhân vật ấy
dù là Chương, là Nhâm, là “Tôi hay Bạc Kỳ Sinh” chỉ là một, con người cô đơn đầy lo âu và đầy khát vọng” [14]
Trang 11Công trình Tác phẩm văn học như là quá trình của Trương Đăng Dung là
chuyên luận “hiếm” trong hệ thống lý luận văn học ở Việt Nam [4] Được đào tạo bài bản trong tinh thần hiện tượng luận ở phương Tây, lại trực tiếp nghiên cứu chuyên sâu, Trương Đăng Dung có những đánh giá hợp lý về bản chất văn học cũng
như những giới hạn của nó Văn học giờ đây không phải/ không nên là tấm gương
tự nhiên, mà là tấm gương của thế giới tinh thần, phản ánh trung thực thế giới ý
niệm mà chủ thể thẩm mỹ có được khi hướng về đối tượng Thành công của công
trình là điều cần ghi nhận Ở các công trình của mình, nhất là Tác phẩm văn học
như là quá trình, Trương Đăng Dung đã nhấn đi nhấn lại tầm quan trọng lớn lao
của Hiện tượng học với Khoa học văn học hiện đại, hậu hiện đại [4] Với khoa học văn học, từ nay, hữu thể văn bản đã là một cấu trúc tự trị, một thế giới tự thân trọn
vẹn Mệnh đề nổi tiếng của Husserl trở về chính bản thân sự vật, đã được các nhà
hiện tượng luận nghiên cứu văn học hiểu như là hành động quay trở lại chính bản thân sự vật - văn bản Văn bản thay vì phải/ bị hiểu từ các văn cảnh ngoài nó như tiểu sử tác giả, hoàn cảnh xã hội… theo kiểu truyền thống tiền hiện đại, thì từ đây,
sẽ không phải chịu đựng bất cứ sự ràng buộc nào từ những quyền lực giải thích bên ngoài Văn bản từ quan điểm hiện tượng học, phải là vũ trụ đầu tiên và cuối cùng cho hoạt động diễn giải Đọc văn bản không phải là đem kinh nghiệm đã có đi vào văn bản, ngược lại, kinh nghiệm về văn bản sẽ đến trong quá trình đọc Hữu thể văn bản cũng luôn tồn tại, nhưng chúng không có nghĩa, hay đúng hơn, không có nghĩa
gì cho tôi, xa lạ với hiện hữu tôi vì không được tôi biết đến Văn bản chỉ có nghĩa
khi được ý hướng đọc của tôi chiếu vào Tôi đọc, nghĩa là tôi cấp nghĩa, kiến tạo
nghĩa cho văn bản, văn bản khi ấy không xa lạ nữa, mà hiện hữu sống động trong
tôi qua hành vi đọc Thế là, từ đây, văn bản trở thành tác phẩm Tác phẩm vì thế bao giờ cũng cụ thể, cá thể, gắn với hành vi đọc của tôi; và mỗi sự đọc khác nhau khi đi qua văn bản thì sẽ có những tác phẩm khác nhau Mỹ học tiếp nhận, như thế, đã đặt lại từ bản thể luận các vấn đề của khoa học văn học
Luận văn Tâm thức hiện sinh với lí luận văn học của Nguyễn Mạnh Tiến là
một công trình có những đóng góp nhất định về mặt lí luận Khởi đi từ Hiện tượng luận hiện sinh, tác giả lí giải về nền tảng của một thứ triết học hữu thể mới cũng
Trang 12như sự xuất hiện của những tầng bậc tâm lí hiện sinh và phi hiện sinh Song song với việc khẳng định lại những tầng bậc tâm lí hiện sinh - cũng tức là những chân lí với con người khi hiện hữu ở đời, người viết cũng đưa ra những chỉ dẫn cụ thể về tâm lí phi hiện sinh - các hình thức sinh tồn mà con người vấp ngã vào để đến nỗi đánh mất ý nghĩa làm người [49]
Đến năm 2013, tác giả Ngô Hương Giang đã xuất bản công trình Hiện tượng
luận về văn học đã giới thiệu những vấn đề căn cốt của Hiện tượng luận ở vai trò
triết học, đồng thời hướng cái nhìn cụ thể ấy vào một hiện tượng cụ thể trong thế giới hiện tượng là: Văn học Ở công trình này tác giả đã dành ra hai chương để viết
về: Bản thể luận của tác phẩm văn học và Giảm trừ hiện tượng luận văn học, trong
chương “Bản thể luận của tác phẩm” tác giả đi đến khẳng định bản thể của hoạt
động Hiểu và sáng tạo văn học là tri giác Yếu tố quy định chủ thể tính có được
quyền tự do lựa chọn biểu tượng cũng như xác lập khái niệm chính là tri giác và
không đi ra ngoài tri giác tính Trong chương Giảm trừ hiện tượng luận văn học: Từ
việc đi tìm lí luận sơ khởi để chứng minh nền tảng của sự Hiểu và sáng tạo nằm ở
tri giác tính, tác giả truy vấn tới vấn đề: Làm thế nào, thông qua tri giác, chủ thể
tính có thể trở về chính sự vật/ đối tượng như lập trường Hiện tượng luận xác lập? Câu trả lời cho truy vấn ấy đã có ở chương này: Chỉ bằng và thông qua con đường giảm trừ/quy hồi/quy giản hiện tượng luận, chủ thể tính có thể trở về với sự vẫy gọi, chào đón từ phía đối tượng sau khi đã vượt qua tri giác tiên nghiệm về nó Sáng tạo đi ra từ đây! Và lập thức cũng đi ra từ đây! Sự muôn màu muôn vẻ, sự tiến
bộ của tri thức, sự thông tuệ, lóe chiếu của tư tưởng văn học cũng đi ra từ đây Tất
cả những vấn đề ấy được gói gọn trong định đề triết học nổi tiếng của Edmund Husserl: “Hãy trở về với chính sự vật” [13]
Ngoài các tác giả trên còn có một số nhà nghiên cứu tập trung phân tích, lý giải những cảm trạng tâm lí người từ góc nhìn hiện sinh, tiêu biểu có thể kể đến một số bài như [49]: “Quan niệm con người cô đơn trong truyện ngắn hôm nay” (Tạp chí Văn học số 2/1994) của Lê Thị Hường; “Con người cô độc trong 17 tiểu thuyết đô thị miền Nam 1954 - 1975” (Tạp chí Văn học số 3/2012) của Nguyễn Thị Việt Nga;
“Cảm thức lạc loài trong sáng tác của Thuận” (Tạp chí Văn học số 8/2010) của
Trang 13Trịnh Đặng Nguyên Hương; “Cảm thức lạc loài trong văn xuôi đương đại” (Tạp chí Văn học số 11/2011) của Trần Hạnh Mai - Ngô Thị Thu Hiền; Mặc cảm chết trong tiểu thuyết của Thuận và Đoàn Minh Phượng (Luận văn thạc sĩ) của Ngô Thị Thanh; Các kiểu dạng nhân vật cô đơn trong văn xuôi Việt Nam đương đại (qua một số tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, Chu Lai và Nguyễn Danh Lam) (Luận văn thạc sĩ) của Mai Thị Bình, v.v Mai Thị Bình đã đi từ cái nhìn khái quát về phức cảm cô đơn đến việc định hình các kiểu dạng nhân vật cô đơn trong văn xuôi Việt Nam sau 1975, trong đó, tác giả tập trung khắc họa hai dạng chính là cô đơn bản thể và cô đơn vì không thể hòa nhập Một số bài viết khác lại lưu tâm đến cảm giác lạc loài - dạng thức tâm lí song trùng với nỗi cô đơn, tiêu biểu có thể kể đến “Cảm thức lạc loài trong sáng tác của Thuận” (Tạp chí Văn học
số 8/2010) của Trịnh Đặng Nguyên Hương; “Cảm thức lạc loài trong văn xuôi đương đại” (Tạp chí Văn học số 11/2011) của Trần Hạnh Mai - Ngô Thị Thu Hiền… Tồn tại người được soi chiếu từ nhiều góc độ khác nhau để hướng đến lý giải nguyên nhân của sự lạc loài
Một tâm thức hiện sinh xuất phát từ hiện tượng luận hiện sinh đi vào diễn giải
về những đặc điểm của khoa học văn học đã mở ra cho chúng ta những khả năng mới trong nghiên cứu văn học Thông qua đó, chúng ta có thể lý giải được tại sao lại có sự dịch chuyển từ mô hình tư duy văn học cổ điển quan niệm văn học như một thực thể tĩnh tại sang mô hình tư duy văn học xem văn học như một thực thể động – một cấu trúc tâm thần hoàn chỉnh
4.2 Những nghiên cứu về Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm mang dấu ấn hiện sinh
Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm là hai tác phẩm đặc sắc nhất của thể loại
ngâm khúc, thể hiện tài năng, tư tưởng của Đặng Trần Côn và Nguyễn Gia Thiều Đồng thời cũng là hai tác phẩm khởi đầu cho trào lưu nhân đạo của văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII, nửa đầu thế kỉ XIX Và đây cũng là nguồn cứ liệu phong phú để các nhà nghiên cứu khám phá ra nhiều khía cạnh mới từ hai tác phẩm này Cho đến nay đã có rất nhiều vấn đề được tìm hiểu, nghiên cứu trên cả mặt nội dung lẫn mặt nghệ thuật của hai tác phẩm
Trang 14Đầu tiên trong cuốn Chinh phụ ngâm và Tâm thức lãng mạn của kẻ lưu đày do
Lê Tuyên đảm nhiệm Trong công trình này Lê Tuyên đã vận dụng các phạm trù
của triết học hiện sinh để minh chứng cho luận đề: Tất cả những đặc tính về nội
dung tâm thức lãng mạn tôi nêu ra không ngoài mục đích minh định ý nghĩa của chủ đề Tôi minh định rằng người chinh phụ trong tâm trạng lãng mạn của mình đã sống một kiếp lưu đày tình cảm Cuộc đời nàng như một số phận bị bỏ quên và tiếng lòng khi vang lên là muốn nói với cuộc đời rằng mình đang hiện hữu [30, tr
17]
Trong cuốn Đến với Chinh phụ ngâm do Ngô Viết Dinh tuyển chọn và biên
tập, Thuần Phong đã nghiên cứu về “Không gian và thời gian của chinh phụ ngâm”:
Sau khi theo dõi chinh phụ và chinh phu từ giờ khắc từ bước đường, ta đã thấy thời gian vẫn được ấn định, tuy tản mác đó đây, những vẫn là một yếu tố không được bỏ qua vì nó hết sức quan trọng đối với người trong cuộc: Khắc giờ đằng đẳng như niên/ Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa (câu 203-204) [2, tr 199] Trong mục
“Chinh phụ ngâm với lời bình” đã nói về những vấn đề của người chinh phụ khi xa
chồng như: Những nỗi vất vả của người chinh phu, Buồn vì chồng sai hẹn, Cảnh cô
đơn của người chinh phụ, Nỗi nhớ nhung sầu muộn [2, tr 412-471] do Hà Như Chi,
Hoàng Hữu Yên nghiên cứu: Không được tin chồng, chinh phụ sống với một nỗi
trống trải cô đơn Cảnh vật tiêu điều làm cho lòng nàng thêm bi thương, và thêm tưởng nhớ đến chồng [2, tr 434] Trong mục “Những chân dung trong Chinh phụ ngâm” có những vấn đề được trình bày như: Những nhân vật trong Chinh phụ ngâm
[2, tr 498] do Đàm Quang Thiện và Thuần Phong phân tích, Đàm Quang Thiện
cũng đã nhắc đến vấn đề luân lý và triết lý trong tác phẩm Chinh phụ ngâm: Chinh
phụ ngâm đã vượt qua khuôn khổ đạo đức mà đi tới một vũ trụ quan và một nhân sinh quan để cắt nghĩa các điều mâu thuẫn trong số phận con người [2, tr 507]
Trong tiểu mục “Tâm hồn chinh phụ” do Hà Như Chi nghiên cứu, tác giả đã phân tích rõ về tâm trạng của người chinh phụ: Tâm hồn chinh phụ tiến triển theo một
chiều: nhớ chồng, mong chồng, hướng tất cả về người chồng ngoài chiến địa, bao nhiêu hoạt động tâm lý của nàng (tưởng tượng, mộng mị, tưởng nhớ cầu mong) đều
Trang 15chỉ có mục đích là làm khuây khỏa nỗi mong nhớ chồng Tâm hồn ấy lại đượm một màu sắc u sầu ảm đạm, buồn thương tê tái [2, tr 536]
Trong cuốn Đến với Cung oán ngâm khúc cũng do Ngô Viết Dinh tuyển chọn
và biên tập các bài viết đánh giá và phê bình của nhiều tác giả về Cung oán ngâm Trong đó, Minh Văn – Xuân Tước đã bàn về Một nét nhân sinh quan Nguyễn Gia
Thiều [3, tr 85], còn Nguyễn Hữu Sơn thì đi sâu vào “Cảm quan Phật giáo trong
sáng tác của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều”: Như thế theo cái nhìn nhất định thì
cuộc sống là một sự trói buộc, một sự chấp nhận, chịu đựng Mặt khác khi đặc cái Hữu trong sự dằng dặc của cái Vô, thì quả nhiên cái Hữu kia chỉ có ý nghĩa thoáng qua, thật nhỏ bé và đơn lẻ xiết bao [3, tr 121], hay Nguyễn Khoa cũng nghiên cứu
các vấn đề như: “Tình tuyệt vọng của cung phi”: Tuyệt vọng, vẫn bám lấy hi vọng
cuối cùng để gượng sống [3, tr 394] và Nhân sinh quan của thiếu nữ [3, tr 312] - đã
phân tích sâu sắc cái nhìn của người cung nữ về cuộc đời, kiếp người Đương nhiên trong công trình này vẫn còn rất nhiều vấn đề đã được nghiên cứu mà chúng tôi không thể đề cập hết
Trần Đình Sử đã phân tích sâu sắc về vấn đề “Con người cá nhân trong văn học Việt Nam thế kỉ XVIII - XIX” [25], trong đó ông chỉ rõ các vấn đề như: “Con người cá nhân với niềm lo sợ tuổi trẻ chóng tàn trong Chinh phụ ngâm (thế kỷ
XVIII) – Cả một khúc ngâm tràn trề nỗi “tiếc niên hoa”, thương “phận bạc”, sợ
“bạc đầu”, “tóc pha sương”, “Gái tơ mấy chốc mà ra nạ dòng”, “Lệch làn tóc rối, lỏng vòng lưng eo” Cùng với ý thức cá nhân vật chất, ý thức thời gian cũng thay đổi Thời gian tuổi trẻ trôi nhanh : “mấy chốc”, “đòi nau”, “thấm thoắt”, đã phân hoá ra khỏi thời gian xã hội, vũ trụ Giấc mộng “chim liền cánh”, “cây liền cành”,
“kiếp sau” trở thành vô nghĩa Tất cả đều cho thấy một cá nhân vật chất, trần thế duy nhất đang được ý thức, mọi huyễn hoặc siêu nghiệm đều đáng ngờ [25, tr 784]
Đồng thời ông cũng bàn đến: “Giá trị hư ảo, vô nghĩa của cá nhân con người trong
Cung oán ngâm của Nguyễn Gia Thiều (1741 – 1798)” – Cung oán ngâm khúc đặc biệt đau đớn với tính chất hư ảo, biến hoá của giá trị con người Tính chất biến ảo
vô thường của con người và thế giới đã được biết đến từ lâu Nếu là nhà thiền học
họ sẽ khuyên ta biết phá vật – ngã lưỡng chấp, bài trừ vọng niệm để được giải thoát
Trang 16và thanh thản tâm hồn Nhưng con người trần thế đã ý thức được mình là thực tại,
vì thế biến ảo mới đau lòng [25, tr 785]
Trong Tạp văn Võ Công Liêm [13], Võ Công Liêm đã dành mấy trang đầu để bàn đến “Quan niệm nhân sinh trong Cung oán ngâm”: Suốt đời sống trong khiêm tốn,
khép mình dưới trướng vẫn luôn “mơ về” cõi sáng để chứng minh lòng trung trinh cao cả, thế nhưng phải ôm gối chiếc chốn the phòng hay lạc lõng giữa cửa quan trường, thì chính trong cái giấc mơ về với cuộc đời đã có ngay cái chết của cuộc đời Tất nhiên đó là cái nhìn chủ thể của cung nữ về cuộc đời mà mỗi khi đi vào cuộc đời với những dự phóng khác nhau nhưng đã mang thân phận cung tần thì điều đó không thoát khỏi phũ phàng của đời cũng như sự tàn tạ, đìu hiu của số phận mà Ôn tiên sinh phải căm tâm gánh chịu với đời…Cuộc đời chỉ làm bằng những sự đã rồi, cung nữ cũng như sự đã rồi của an bài định mệnh và cái gì đã rồi
là hiện hữu u – buồn, hiện hữu cô – tịch; mất tương quan thì không còn gì để cứu vãn nữa Con người có một ý thức về số mệnh, về thân phận chung để thấy rằng không còn đợi gì được ở nơi cuộc đời, nơi cung cấm, không còn mong đợi và tự thân trở nên vô ngôn giữa cuộc đời này
Trần Nho Thìn trong cuốn Văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX đã dành một phần trong công trình của mình cho việc nghiên cứu về tác phẩm Chinh
phụ ngâm [26] Nổi bật trong phần ấy là vấn đề “Tiếng nói khát khao tình yêu lứa
đôi” Tác giả đã phân tích về những tâm tư nguyện vọng, nỗi niềm sâu kín của người phụ nữ xa chồng, khao khát chung sống trong tình yêu, hạnh phúc lứa đôi, kể
cả niềm hạnh phúc có màu sắc thân xác rõ nét Đồng thời lồng vào đó là các chi tiết nói về thời gian để tô đậm cho sự nhớ nhung, mong mỏi, lo sợ về tuổi trẻ trôi nhanh
của người chinh phụ khi xa chồng: Thời gian của chờ đợi là thời gian tâm lý, nó có
độ dài gấp trăm gấp ngàn lần thời gian vật lý… Tuổi trẻ là lương thì, là thời tiết lành, là nhan sắc đương độ rực rỡ như hoa nở Còn thời gian thì thấm thoắt, ruổi mau, lần lữa gieo qua, mấy chốc… Tuổi trẻ - tuổi hưởng thụ tình yêu và hạnh phúc của người phụ nữ là có hạn [26, tr 434-436]
Nhóm học viên: Hà Thị Hoài Phương - Nguyễn Thế Thạnh cũng đã tìm hiểu về
vấn đề “Con người trong ngâm khúc”: Con người trong ngâm khúc vì thế cũng khác
Trang 17với con người trong truyện Nôm và thơ trữ tình, thơ tự sự, không phải là con người cộng đồng sử thi hay con người nhà nho tài tử mà là con người cô độc, con người
vỡ mộng trước hoàn cảnh, trước thực tại xã hội [34, Đăng vào thứ 7 ngày 31 tháng
1 năm 2015]
Trong trang Blog chuyên văn cũng đã bàn đến vấn đề: “Số phận đau thương
của người chinh phụ”: Trên tất cả là tâm trạng cô đơn và sự ý thức về thảm trạng
mất đi niềm tin, đánh mất niềm vui sống và mối liên hệ gắn bó với cuộc đời rộng lớn Nàng trở nên chán làm tất cả mọi việc… Thời gian cứ dài dằng dặc và không gian thì mênh mông vô tận, người chinh phụ nhỏ bé và đơn độc trước không gian và thời gian, Chạm đến đâu cũng là chạm vào nỗi đau, cũng nhìn thấy cảnh lẻ loi đơn chiếc [45, Đăng vào tháng 7 năm 2016]
Các phạm trù trong triết học hiện sinh như: hư vô, lo âu, cô đơn, buồn nôn, phi
lý, lưu đày, tự do, dự phóng, dấn thân, v.v được các nhà nghiên cứu và phê bình xem như một hệ giá trị làm cơ sở để đi vào phân tích, đánh giá các tác phẩm văn học Nhiều hiện tượng văn học đã được các nhà nghiên cứu phân tích, lí giải dựa trên căn nền triết học hiện sinh từ đó khám phá thêm nhiều ý nghĩa mới, tạo nên sự
đa dạng trong nghiên cứu văn học Tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu, phê bình
về các hiện tượng văn học như đã nêu trên, nhưng cho đến nay vẫn chưa có công
trình nào nghiên cứu cả Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm trong cùng một phạm
vi đề tài theo khuynh hướng soi chiếu hai tác phẩm dưới nhãn quan của tâm thức hiện sinh Đến ngày hôm nay, trên cở sở tiếp thu những ý kiến của các nhà nghiên
cứu, chúng tôi đã đi sâu nghiên cứu “Tâm thức hiện sinh trong Chinh phụ ngâm và
Cung oán ngâm” nhằm góp một cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về vấn đề nhân
sinh quan trong Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn và Cung oán ngâm của
Nguyễn Gia Thiều
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:
Phương pháp phân tích tổng hợp: Phân tích từng tâm thức hiện sinh biểu hiện
cụ thể như thế nào trong hai tác phẩm Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm, từ đó
đưa ra một số nhận xét và bình luận chung
Trang 18Phương pháp so sánh đối chiếu: Khi phân tích “Tâm thức hiện sinh trong
Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm”, dưới góc nhìn của tâm thức hiện sinh chúng
tôi đã đưa vào một cái nhìn so sánh đối chiếu giữa tâm thức của nhân vật chinh phụ
trong Chinh phụ ngâm và tâm thức của nhân vật cung nữ trong Cung oán ngâm Cái
nhìn so sánh đối chiếu đó giúp chúng ta có thể nắm được sâu sắc và toàn diện hơn
về một tâm thức hiện sinh cụ thể nào đó biểu hiện trong hai tác phẩm
Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Dựa vào những lí luận của triết học hiện
sinh, tâm lí học để đi sâu vào việc phân tích “Tâm thức hiện sinh trong Chinh phụ
ngâm và Cung oán ngâm”
6 Cấu trúc đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, chúng tôi cấu trúc đề tài
trong ba chương:
Chương 1: Khái quát một số vấn đề về tâm thức hiện sinh
Chương 2: Tâm thức hiện sinh trong Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm theo
chiều hướng phản tỉnh
Chương 3: Tâm thức hiện sinh trong Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm theo
chiều hướng mù quáng
Trang 19NỘI DUNG
Chương 1 KHÁI QUÁT MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TÂM THỨC HIỆN SINH
1.1 Quan niệm về hiện sinh
Hiện sinh khác với sinh tồn, bám vào sự sống như rễ cây bám chặt vào đất đó
là sinh tồn Trái lại hiện sinh là vươn lên trên mức sống của sinh vật, vì hiện sinh là cuộc sống tinh thần Hiện sinh là ý nghĩa của đời sống; người ta chỉ vươn tới hiện sinh khi nào người ta đã ý thức được rằng mình sống để làm gì: sống để thể hiện cái định mệnh cao quý và độc đáo của mình, không sống để mà sống: đó là hiện sinh Hiện sinh là sinh hoạt tinh thần của một chủ thể đã giác ngộ và ý thức sâu xa về chủ thể tính của mình đồng thời đã ý thức về quyền lợi và nhiệm vụ lớn lao của chủ thể tính đó Hiện sinh của con người không phải là sự tồn tại lịch sử cụ thể của họ trong những quan hệ xã hội, mà là sự tồn tại tinh thần của nhân vị Hiện sinh lấy cuộc sống nội tâm, tâm linh làm tính hàng đầu chứ không phải lý trí Con người hiện sinh
là con người đã ý thức được khả năng tự chủ của bản thân mà không bị sai khiến bởi những quyền năng bên ngoài như vua chúa hay truyền thống… Hiện sinh là luôn cố gắng dùng ý thức để xác nhận ý nghĩa thực của mỗi người và mỗi vật Vậy thế nào một tư duy hiện sinh đúng nghĩa của nó? Đó là sự thấu hiểu bản thân mình và khả năng tự do thay đổi lập trường hiện sinh của mình, điều đó chỉ
Trang 20thực hiện được trên cơ sở một nền tảng văn hóa và một kinh nghiệm/trải nghiệm hiện sinh dày dặn và vững chắc Tất nhiên khái niệm văn hóa ở đây là khái niệm văn hóa được cá nhân hóa tuyệt đối, do mỗi cá nhân thu lượm và tích lũy trong hành trình sống, chứ không phải thứ “văn hóa chung” mà người ta đang cố gắng xây dựng
1.2 Tâm thức hiện sinh
Tâm thức
- Tâm thức: theo cách hiểu thông thường, là sự biết của tâm, là sự nhận biết,
sự ý thức bằng tâm hồn Là cách suy nghĩ, cảm nhận, phán đoán mọi sự mọi việc trong đời ta
- “Tâm thức là một chuỗi luân vũ của cái mà ta gọi là “diễn trình tư tưởng”,
bao gồm kí ức, nhận thức, phân biệt, tác ý, ý chí, tư duy nhận thức, tư duy trừu tượng, và cả những giấc mơ” [40]
- Trong trường nghĩa của Phân tâm học, tâm thức chỉ toàn bộ các hoạt động của tâm thần con người, cả ý thức, tiềm thức và vô thức (thuật ngữ Psychique); C Jung đưa ra một thuật ngữ rộng hơn – Psyché – mở rộng thuật ngữ của người tiền bối, tâm thức bao gồm cả vô thức tập thể
Tâm thức hiện sinh
Tâm thức hiện sinh: là khái niệm chỉ toàn bộ hoạt động tâm thần theo phương pháp phân tích của hiện tượng luận hiện sinh Hiện tượng luận hiện sinh ở đây được hiểu như một phương pháp, một cách thức để tư duy về đối tượng, nghĩa là phân tích chủ thể hiện sinh là con người Và trong khoa học văn học, là lý giải những đặc điểm của văn học, chọn lấy những cảm trạng tâm lí người Thêm nữa, văn bản văn học cũng cần được coi như một cấu trúc tâm thần hoàn chỉnh
Tâm thức hiện sinh hiểu từ tư duy: Là nhận thức luận mang dấu ấn tâm lí học
về các cảm trạng hiện sinh con người theo phép phân tích hiện tượng học Đúng ra, thuật ngữ tâm thức hiện sinh là một sự chuyển dịch cách hiểu về thế giới nghiêng ở phần tâm lí Từ đây, hướng đến việc giải mã văn học
1.3 Các cảm trạng tâm lí của con người nhìn từ tâm thức hiện sinh
1.3.1 Cảm trạng tâm lí hiện sinh theo chiều phản tỉnh
Trang 21mình; vượt thoát ra khỏi những “lối mòn”, cả trên đường đời lẫn trong vỏ não, mà
người khác hay chính mình đã “ấn định” và giúp con người có thể đạt đến giác ngộ
Tự quyết
Tự quyết là tự chứng minh rằng tôi là một chủ thể tự do và tự đảm nhận Tự chọn lấy, quyết định lấy cuộc hiện sinh của mình Con người hiện sinh ưu tư về định mệnh của mình và ưu tư tìm cách phát triển nhân cách của mình tới mức toàn hảo, cho nên tự quyết luôn luôn mang nặng những suy nghĩ, ưu tư và gắn liền với sự dấn thân
Phản kháng
Là hành động của tư duy nằm dưới dạng thức tiềm ẩn, là cơn dấy động trong nội thức của con người; nổi dậy để đương đầu với hiện hữu ngay cả đối đầu với vũ trụ hiện thể Phản kháng là chống lại mọi điều kiện mà trong đó con người tự tìm thấy chính mình đúng nghĩa làm người Tư tưởng phản kháng là một thúc bách của nội giới bởi ý niệm nhất thể, chống lại sự đau đớn cuộc đời và cái chết, phản đối, chống lại mọi điều kiện mà con người đưa ra như luật định; những thứ đó hoàn toàn không hợp lẽ Chính phản kháng nội tại là một cái “tôi suy tư”, một lãnh vực riêng tôi, phản kháng để thấy mình thật sự hiện hữu
Dự phóng
Dự phóng là tự tạo cho mình một đối tượng để mà theo đuổi, là dự tính để thành toàn hiện sinh, là ý hướng sinh hoạt của con người Sinh hoạt là diễn biến, là hướng về tương lai nên con người không thể không có dự phóng Bản tính con người là ý thức, mà bản tính của ý thức là hướng tới và luôn luôn phóng mình ra phía trước để đón nhận các đối tượng Tâm linh con người không nằm lỳ bất động như sự vật mà luôn hướng tới, khi hướng tới vật này, khi hướng tới người kia: không khi nào nó thôi hướng tới như vậy Con người không thể không có những dự
Trang 22định hoặc gần hoặc xa, hoặc quan trọng hoặc tầm thường; chính những dự định này
là hình ảnh hiển hiện của dự phóng căn bản kia Dự phóng luôn luôn thể hiện rồi luôn luôn dự phóng mãi thêm
Ưu tư
Ưu tư do thức tỉnh và suy nghĩ Ưu tư là vẻ đặc sắc của một cuộc hiện sinh đã
tự ý thức, muốn dứt mình ra khỏi cảnh sống thừa, sống an nhàn của sự vật và của những con người phóng thể Ưu tư là xao xuyến, băn khoăn về tương lai chưa rõ rệt Con người hiện sinh ưu tư vì biết rằng tương lai đầy huyền nhiệm, còn bao nhiêu yếu tố chưa hiện ra rõ rệt và mình sẽ quyết định lấy cho mình, không ai quyết định thay cho mình được
Dấn thân
Dấn thân, theo Sartre là một đức tính đạo đức và chính trị, xuất phát từ tiền đề: con người nhất thiết ở trong một không gian và thời gian nhất định Dấn thân là phiên bản chính trị của hiện sinh đích thực, đòi hỏi khẳng định sự tự do của ta bên trong bối cảnh xã hội
Dấn thân là thực hiện sự tự “quăng ném” mình lên phía trước Là tự đi vào, tự chọn vào các cảnh trạng sống của cuộc đời
Tự do của hiện sinh là một tự do bị giới hạn và bị điều kiện Bị giới hạn bởi một thân xác có những khả năng, sức khỏe hữu hạn, sức chịu đựng hữu hạn, v.v.; bị giới hạn bởi những khả năng suy nghĩ có hạn, nhớ có hạn, chú ý có hạn v.v.; rồi bị
Trang 23điều kiện, vì tự do của ta không phải là tự do trừu tượng mà là tự do cụ thể, nên tự
do chỉ là những phản ứng của ta đối với những hoàn cảnh cụ thể, tùy theo những tâm tình và giáo dục của ta Tâm tình và giáo dục cũng là những điều kiện đã đúc nên con người của mỗi chúng ta Thành thử “soi vào” tự do hiện sinh, chúng ta thấy
tự do đó bị giới hạn Tự do bị giới hạn là thứ tự do của thân phận làm người chúng
ta
Siêu nhân
Siêu nhân là vượt lên đầu con người thường, vượt lên tất cả những trói buộc của đời sống thông tục, trở thành chủ nhân đời sống của mình Người siêu nhân là người biết mình không còn bị trói buộc bởi một hạn chế nào nữa Đó là con người
đã tự giác và đã được giải thoát Chúng ta thấy con người siêu nhân là con người đã thực sự vươn tới mức hiện sinh tự do và tự chủ Con người siêu nhân là con người sáng suốt để luôn luôn ý thức về bước đi của mình
Hiện hữu
“Hiện hữu là cơ cấu hiển hiện nhất của con người Hiện hữu là hiện diện với thế giới, để làm cho thế giới đó đối diện với mình, và để rồi chính mình là sự làm cho có thế giới đó và làm cho nó thành môi trường hiện hữu của mình” [10, tr 357] Hiện hữu có thể được cảm nhận như là cái-biết – luôn - thường bất diệt ở trong
ta, vượt lên trên tên gọi và hình tướng Việc cảm nhận để biết được ta là cái gì và an trú thường xuyên ở trong trạng thái cắm rễ sâu xa đó chính là giác ngộ
1.3.2 Cảm trạng tâm lí hiện sinh theo chiều mù quáng
Cô đơn
Cô đơn - trạng thái tâm lí bản thể của con người Một tron những bất hạnh nhất của đời người, đó là không tìm ra được một đối tượng có thể chia sẻ và cảm thông với mình trong bất cứ lúc nào, về những điều thầm kín hay những cảm xúc vui buồn Trạng thái chơi vơi như bị tách biệt ấy gọi là nỗi cô đơn Cốt lõi của sự cô đơn là nỗi sợ bị bỏ rơi, nỗi sợ rằng bản thân cuộc sống dường như cũng đã lãng quên mình, cùng với đó là nỗi sợ hãi không được công nhận, không được thấu hiểu
và đồng cảm – sẽ kéo dài mãi mãi chẳng có ai đến cứu mình
Tự vẫn
Trang 24Về mặt tâm lí, mỗi người trong chúng ta có ngưỡng cảm xúc khác nhau cũng như sức chịu đựng trước những biến cố Tùy vào mức độ mà mỗi người có phản ứng về cảm xúc trước hành vi của mình Và khi không thể chịu đựng được trước những áp lực tâm lí, nhiều người thường tìm đến con đường chết thông qua việc “tự vẫn”
Tự tử là một sự lựa chọn quả quyết khi phải đối diện với một nỗi đau khổ cùng cực, dường như vượt quá mức chịu đựng của cá nhân và tự thân không thể nào giải quyết được Tự vẫn được xem như là một lối thoát, một giải pháp cho tình cảnh bế tắc của bản thân
Hư vô
Hư vô là một trạng thái của con người xem tất cả mọi sự đều là giả trá, vô ích, đời không đáng sống, thôi cứ sống cho qua ngày Sống chờ đợi, chờ chết, không có chủ đích và dự tính Căn bệnh hư vô ở tại người ta quen tin tưởng rằng mục đích cuộc đời ta không do ta đặt nên, nhưng do một quyền binh siêu phàm
Lưu đày
Cảm nhận về sự sống như một cơn lưu đày bất tận Thân phận con người lưu đày được thể hiện rất rõ: lưu đày trong thế giới của chính mình, lưu đày trong chính gia đình mình, lưu đày trong quan hệ với tha nhân
Buồn nôn
Đó là một trầm tư của con người trước cái phi lý của thế giới, là những tình cảm nặng nề khó chịu không lý giải được của con người trước sự tồn tại của thế giới Là trạng thái sinh hoạt lầm lì của thường nhật Nói rõ hơn: buồn nôn là cảnh sống của những người chưa vươn lên tới mức đích thực, còn cam sống như cây cỏ
và động vật Khi tôi sực tỉnh giấc phóng thể, khi tôi ý thức về địa vị và thiên chức làm người của tôi, tôi tự thấy nôn nao vì cuộc đời súc vật của tôi trước đây: tôi đã chỉ lo sống, lo ăn, lo mặc, lo cho mình đủ những tiện nghi
Sa đọa
Sống trong những chiều kích không có phản tư Khi hội ngộ với tha nhân tôi bị đánh đồng với hàng sự vật: tha nhân nhốt tôi vào một cái khung yếu tính nhưng tôi
Trang 25không phản ứng lại, tôi không khẳng định dứt khoát hiện hữu của tôi - khi ấy tôi rơi vào tình trạng sa đọa
Phi lý
Phi lý là không thể chứng minh: phi lý là thất bại không có lí do, phi lý là không có lí do, không có chuẩn đích và không dựa trên nguyên lí nào hết
“Bình diện lý luận nhận thức Nghĩa này mang tính chất khái quát hơn và nó
vượt ra ngoài địa hạt của lôgic học khi nó cho rằng tất cả những gì chống lại năng
lực nhận thức, chống lại lý trí, không thể lý giải được bằng tư duy, thì đều được coi
là phi lý Như vậy cái phi lý là cái phản lý tính” [50]
Camus tuyên bố rằng cả thế giới thực tại lẫn lý tính của con người đều không
phải là phi lý, mà phi lý chỉ nảy sinh từ sự bất hoà hợp giữa khát vọng của lý tính muốn tìm hiểu thế giới với cái thực tại u tối khó hiểu của thế giới đó, tức là sự tuyệt
giao giữa khát vọng lý tính với thực tại u tối Từ sự bất hoà hợp giữa hai phạm trù
này nảy sinh cái cảm giác về sự phi lý” [50]
Ngụy tín
Ngụy tín là hình thức phức tạp của tự lừa dối chính mình Ngụy tín là tôi ngụy
trang sự thực với chính tôi, tôi hoàn toàn biết rõ sự thực nhưng tôi quyết định lừa dối tôi Lừa dối chính mình với điều kiện chúng ta phân biệt sự lừa dối mình với sự lừa dối nói chung “Hành vi đầu tiên của ngụy tín là trốn tránh những gì có thể không trốn tránh, trốn tránh cái mà nó là” [9, tr 584] Trốn tránh là một hành vi chạy trốn, là một xử trí ma thuật chỉ cốt chối bỏ đối vật nguy hiểm với cả thân thể ta, hoặc để ta thực hiện một ý muốn nào đó Con người cần đến ngụy tín khi có vấn đề phải quyết định một thái độ phụ
Phóng thể
Phóng thể dịch chữ aliénation Nguyên chữ này có nghĩa là hóa thành cái
khác, thành người khác, là tình trạng đánh mất chính bản thân mình, xa lạ với chính
mình Cho nên phóng thể là tình trạng của những con người chưa tự ý thức mình là
Trang 26những nhân vị độc đáo Người phóng thể là người sinh hoạt như mọi người, và hành động chỉ vì người ta bảo mình làm hoặc nghĩ mình phải làm như thế
Tiểu kết chương 1
Với những vấn đề cơ bản đã trình bày ở phần trên sẽ giúp chúng ta có một cái nhìn khái lược về tâm thức hiện sinh: nắm được khái niệm tâm thức hiện sinh, những cảm trạng tâm lí của con người dưới góc nhìn tâm thức hiện sinh Tất cả những vấn
đề đó sẽ là cơ sở lý luận để đi vào phân tích làm rõ những nội dung có liên quan đến đối tượng và phạm vi nghiên cứu Các cảm trạng tâm lí hiện sinh theo chiều hướng phản tỉnh và các cảm trạng tâm lí hiện sinh theo chiều hướng mù quáng sẽ là cơ sở
quan trọng để đi vào phân tích chiều sâu tâm thức hiện sinh trong tác phẩm Chinh
phụ ngâm và Cung oán ngâm Với những vấn đề đã nêu trên sẽ cung cấp cho chúng
ta thêm một số tri thức mới, nới rộng sự hiểu biết về tâm thức hiện sinh
Trang 27Chương 2
TÂM THỨC HIỆN SINH TRONG CHINH PHỤ NGÂM
VÀ CUNG OÁN NGÂM THEO CHIỀU HƯỚNG PHẢN TỈNH
2.1 Tâm thức lựa chọn dấn thân
Adam và Eva bị con rắn dụ dỗ mà đã ăn “trái cấm”, bị đuổi ra khỏi “vườn địa đàng”, từ đây họ phải tự làm chủ vận mệnh của mình và chịu trách nhiệm cho sự lựa chọn của mình Và trong thế giới không phải “vườn địa đàng” ấy Adam và Eva phải đối diện với bao gian nguy, phải đối diện với sự sinh tồn, sinh diệt Thế nhưng họ trần truồng đi vào cuộc đời và chấp nhận dấn thân để chuộc tội, để duy trì sự sống của mình, để vươn tới khám phá ra ý nghĩa thực sự của cuộc sống Khi lựa chọn thái
độ chấp nhận, không tránh né hay chống đối tức là ta đã bắt tay vào tiến trình tìm hiểu sự thật của cuộc đời này “Với tư cách là chính tôi, tôi lại như ở ngoài cuộc đời mình, và từ đó tôi thâm nhập vào thế giới để định hướng tôi trong đó, không chỉ như hữu thể hiện sinh, nhắm đến những mục tiêu đặc thù trong những hoàn cảnh của riêng tôi, mà với tư cách là chính tôi để biết tất cả và cái toàn thể, một hiểu biết tự
đủ cho nó” [9, tr 524]
Ta đi vào cuộc đời với những dự ước tin rằng sẽ viên thành, nhưng rút cuộc ta không thấy dự ước viên thành, mà ta chỉ thấy mình đang chịu một hiện hữu khổ đau trước cuộc đời Nhưng dấn thân vào cuộc đời, đó là quyết định của ta, ta đã chọn và
phải theo Người chinh phụ trong Chinh phụ ngâm và người cung nữ trong Cung
oán ngâm đã chọn dấn thân khi đã thấy trước, biết trước cuộc đời Một sự thấy và
một sự biết trước cuộc đời là khổ đau, là gió bụi nhưng vẫn “liều”, vẫn bất chấp mọi rủi ro để cố làm cho tất cả các dự ước của mình, ý nghĩa của cuộc đời mình được
chu toàn, trọn vẹn Vắt tay nằm nghĩ cơ trần người cung phi đã thấy rõ cuộc đời
trước mắt chỉ toàn là khổ đau, phi lý, mọi sự chỉ là ảo ảnh, vô thường Kẻ ấy đã
nhận thức được tất cả điều đó qua cái nhìn của mình về cuộc đời Thảo nào khi mới
chôn nhau/ Đã mang tiếng khóc ban đầu mà ra! (câu 55-56): Khi mới sinh ra con
người đã là khổ và nỗi khổ ấy được báo hiệu trước nên tiếng kêu đầu tiên lại là tiếng khóc Tại sao không phải tiếng cười mà là tiếng khóc vì tiếng khóc báo hiệu sự có
Trang 28mặt trên cõi đời này của con người mà sinh là nỗi khổ đầu tiên phải gánh chịu Sóng
cồn cửa bể nhấp nhô/ Chiếc thuyền bào ảnh lô xô mặt ghềnh (câu 71-72): Sự vật
trên đời này đều không được lâu bền chỉ là tạm bợ, vô thường như “bào ảnh” Đâu chỉ có “sinh là khổ” mà trong suốt cuộc đời từ trẻ đến già con người luôn đối diện với những khó khăn, những sợ hãi về cuộc sống, những cảnh lầm than, tang tóc, những khát khao mong ước nhưng chẳng thành:
Trắng răng đến thuở bạc đầu
Tử, sinh, kinh, cụ làm nau mấy lần Cuộc thành bại hầu cằn mái tóc Lớp cùng thông như đúc buồng gan
Họ khóc vì họ sẽ phải chứng kiến bao chuyện đời “cắt mài lòng người” một cách đau thương Từ trẻ cho đến già, sự lo âu, phiền não về các vấn đề của cuộc sống và sự khiếp đảm về cái chết đã dày vò tinh thần con người biết bao nhiêu lần không đếm xuể Những lo toan về sự thành bại, được mất đã khiến con người phải khổ sở, mệt mỏi Sự sinh diệt của con người sớm muộn gì cũng bị tan hoại bởi luật
vô thường Còn mọi sự vật hiện tượng trên cõi đời này cũng chỉ là giả hợp không
thật có: Tiêu điều nhân sự đã xong/ Sơn hà cũng ảo, côn trùng cũng hư (câu 95-96)
Như vậy, có gì đâu để đáng tự hào, để đáng vui trong kiếp sống phù sinh này chứ Rút cuộc sau bao nhiêu vật lộn với cuộc đời thì kiếp người cũng về lại với đất, ra tro
bụi, chẳng còn hiện hữu trên cõi nhân gian: Trăm năm còn có gì đâu/ Chẳng qua
một nấm cổ khâu xanh rì (câu 103-104) Kiếp người tan tát như hoa trôi giữa dòng
nước xoáy Người chinh phụ cũng đã thấy trước cuộc đời, và nó đang phô bày trước
mắt nàng là một biến cố: Thuở trời đất nổi cơn gió bụi/ Khách má hồng nhiều nỗi
truân chuyên (câu 1-2) Đó là cuộc đời với biến cố “gió bụi” xảy ra, cả trời đất đâu
đâu cũng chỉ thấy toàn “gió bụi” nổi lên Biết rằng “gió bụi” nổi lên thì chính bản thân mình sẽ là người chịu cảnh “truân chuyên”, đó là một thảm họa đối với con người Đến đây con người đã bất mãn rồi, người cung phi đã muốn đi tu khi chứng kiến bao nhiêu thứ của cuộc đời Nhưng nếu ta dấn thân thì ta phải chấp nhận hết tất
cả những gì ta đã thấy
Trang 29Nhưng trước cái nhìn biết trước đó, mà cả hai kẻ ấy vẫn quyết định lựa chọn dấn thân không dừng lại ở giới hạn làm một con người như bao con người bình thường khác Vì người bình thường khi biết trước sẽ là đau thương thì không dám dấn thân để mà chịu khổ Do đó lựa chọn dấn thân của người chinh phụ và người cung nữ là một lựa chọn thể hiện sự quyết đoán trước cuộc đời này
Trước cái nhìn của kẻ khuê oán về cuộc đời, kiếp người, chúng ta tưởng đâu kẻ
ấy sẽ không bao giờ dính vào những cảnh đời trần tục nữa, sẽ quy y để thoát khổ Nhưng không phải đi tu mới thoát khổ mà chấp nhận khổ đau với tâm đầy thiện chí cũng là một cách để thoát khổ Người cung nga nghĩ rằng phải dấn thân vào cuộc sống vợ chồng vì hai yêu tố này, một là “Nghiệp” theo tư tưởng của Phật giáo và
hai là “Thiên mệnh” theo tư tưởng Nho giáo Hẳn túc trái làm sao đây tá/ Hay tiền
nhân hậu quả xưa kia/ Hay thiên cung có điều gì/ Xuống trần mà trả nợ đi cho rồi:
người cung nữ đã nghĩ mình vì còn mắc nợ ở kiếp trước nên đến kiếp này mình phải trả cho xong nợ; từ ý nghĩ này ta đã thấy có sự lựa chọn dấn thân của tâm thức Kiếp ta đã làm gì gây ra nghiệp chướng thì ở kiếp này ta phải trả cho xong, và muốn trả được thì phải gánh chịu Nghiệp ở kiếp này Trong hai yếu tố thì Thiên mệnh là yếu tố cốt lõi, chi phối mạnh mẽ nhất đến sự lựa chọn dấn thân của người cung nữ,
vì yếu tố Nghiệp chỉ là một yếu tố do nàng suy luận và phán đoán - Hay tiền nhân
hậu quả xưa kia, còn yếu tố Thiên mệnh nàng đã ý thức một cách chắc chắn: Ai ngờ trời chẳng cho làm/ Quyết đem dây thắm mà giam bông đào, Đường tác hợp trời kia run rủi/ Trốn làm sao cho khỏi nhân tình (câu 129-130) Người cung nga cũng
nhận thấy: Kìa điểu thú là loài vạn vật/ Dẫu vô tri cũng bắt đèo bòng/ Có âm dương
có vợ chồng/ Dẫu từ thiên địa cũng vòng phu thê (câu 125-128), tất cả vạn vật trên
đều tuân theo luật của trời đất có đôi có cặp, cũng chịu sống trong cảnh tình duyên quấn quýt; từ nhận thức này mà người cung nữ đã ngầm ý thức: vạn vật còn có đôi
có cặp huống chi là số kiếp con người Nếu mà không sống được như vạn vật thì sự hiện hữu của mình không có ý nghĩa gì cả Người cung nữ quyết định dấn thân hay không nằm ở chỗ bản thân nàng: vì cũng muốn khẳng định giá trị tài sắc hơn người của mình, muốn có một cuộc đời hôn nhân xứng đáng Người cung nữ đã tự mình quyết định lựa chọn “làm thinh” để thử xem con tạo gieo mình nơi nao, tức là đã
Trang 30chấp nhận để ông trời quyết định cho nàng vào số phận vợ chồng Dựa trên việc đã
ý thức rất sâu sắc về các yếu tố, ý thức được giá trị tài sắc của mình, biết mình muốn cái gì trong cuộc đời này cho nên trong ý nghĩ của người cung nga đã lựa
chọn: Thôi thôi ngoảnh mặt làm thinh/ Thử xem con tạo gieo mình nơi nao (câu
130-131)
Người chinh phụ lựa chọn dấn thân xuất phát từ hai nguyên nhân - “ngoại giới”
và do “nội giới” tác động; trong đó yếu tố “nội giới” là yếu tố quyết định Vì cả trời đất đều nỗi cơn gió vụi, ta không thể đi đâu để né tránh biến cố này, vì chồng ta vốn
dĩ là một nam tử không thể không Xếp bút nghiên theo việc đao cung/ Thành liền
mong tiến bệ rồng (câu 18-19) chính vì vậy ta lựa chọn dấn thân, vì ta phải theo
chồng, phải bị sống trong “gió bụi” Nhưng do con người vốn dĩ luôn có ước muốn được chu toàn tất cả, nên việc quyết định dấn thân cũng liên quan đến ước muốn này Đó là ước muốn từ tâm thức của con người Một ước muốn mà ai trong đời này cũng đã từng có: danh lợi và phận vị
Ta dấn thân không phải vì người ta bảo mình phải làm vậy, không phải vì mọi người vậy ta mới vậy; mà trong đó ta đã tìm thấy một sự có lý nào đó vì ta nên ta mới dấn thân
Dấn thân để biết mình, biết đời và biết tha nhân Vậy thì người chinh phụ và người cung nữ đã biết mình, biết đời, biết tha nhân như thế nào sau khi đã chấp nhận dấn thân Tất cả đằng sau cái biết chỉ có thể được gọi trong một tiếng “bất mãn”, bất mãn vì mình, vì đời, và vì tha nhân Đời hiện lên con người đã thấy bất mãn rồi, nhưng sau khi đi vào còn thấy bất mãn hơn Người cung phi khi dấn thân
đã nguyện rằng: Chữ đồng lấy đấy làm ghi/ Mượn điều thất tịch mà thề bách niên
(câu 187-188), nàng đã bằng lòng với cuộc sống vợ chồng, bằng lòng với danh phận của mình Kẻ khuê phòng nghĩ rằng sự dấn thân của mình, sự lựa chọn của mình như vậy chẳng còn gì để mà ngờ, ta sẽ đi trọn được dự ước của mình Kẻ ấy vui
mừng, hạnh phúc, biết ơn kẻ đã sắp đặt mệnh phận của mình – Hoa thơm muôn đội
ơn trên/ Cam công mang tiếng thuyền quyên với đời (câu 155-156) Tới đây người
cung nữ đã quên hết tất cả những gì mà mình đã thấy, đã biết về cuộc đời trước đó, nàng cùng vua hưởng thụ những ngày hạnh phúc ái ân, một cuộc sống vợ chồng
Trang 31được hưởng đầy đủ của cải vật chất, có phận vị cao sang: Khi ấp mận ôm đào gác
nguyệt/ Lúc cười sương cợt tuyết đền phong/ Đóa lê ngon mắt cửu trùng/ Tuy mày điểm nhạt những lòng cũng xiêu/ Vẻ vưu vật trăm chiều chải chuốt/ Lòng quân vương chi chút trên tay/ Má hồng không thuốc mà say/ Nước kia muốn đổ, thành này muốn long Người cung phi đã dấn thân một cách quên mình, quên mình là một
kẻ đã từng đắn đo suy nghĩ về cuộc đời, quên mình đã từng phát tâm đi tu để cắt đứt sợi dây thất tình Người cung nga chỉ chăm lo cho dung nhan sắc đẹp để chìu lòng
quân vương, nghĩ mọi cách để làm cho vua yêu mến mình, ở bên mình - Vẻ vưu vật
trăm chiều chải chuốt, đến nỗi nàng có thể làm cho Nước kia muốn đổ, thành này muốn long Nhưng có thể nói, sống trong cảnh – Một cây cù mộc biết chen cành nào, bản thân người cung nữ phải làm như vậy thì mới tồn tại được, ta phải cạnh
tranh với các cung nữ khác để mà ngóc lên, để làm sao giữa muôn ngàn bông hoa vua có thể chọn mình Vì bản thân một người con gái khi đã là thiếu phụ, họ chỉ dừng lại ở giới hạn thiếu phụ của mình thôi, kẻ nào làm mất đi con người thiếu phụ của họ thì họ quyết giành lại Nhưng cũng vì xuất phát từ “phận” mà người cung nữ
đã nhận: đã là phận là “tôi tớ” của vua thì phải “sớm chực trưa chầu bên vua” mà cách làm cho vua hài lòng thì phải chăm chút nhan sắc, phải hân hoan vui vẻ khi vua gần gũi Và cũng vì nàng đã ý thức sâu sắc về tài sắc của mình, đòi hỏi trong cuộc đời này phải được khẳng định Chính vì sự quên mình trong hạnh phúc tột bậc
ấy mới dẫn đến khổ đau vô tận ở sau này Một sự sa ngã vào lưới tình, thấy trước mắt mà người cung nga tưởng đâu là thật, nào ngờ mọi thứ chỉ như một giấc mộng trêu ngươi Cái khổ của người cung phi là một cái khổ oái ăm: nó cho thân xác nàng
nếm đủ mùi sung sướng của cảnh trần tục, rồi từ từ mới cho nếm tới đắng cay: Ai
ngờ bỗng mỗi năm một nhạt/ Nguôn ân kia ai tát mà vơi/ Suy đi đâu biết cơ trời/ Bỗng không mà hóa ra người vị vong (câu 193-196) “Ai ngờ”, người cung nữ
không ngờ mình lại trở thành kẻ vị vong một cách phi lý, sự dấn thân của ta lại phải chấp nhận rủi ro bất ngờ này sao Có thể nói rằng, khi con người đạt đến một thứ gì
đó ở đỉnh cao thì ngay lập tức họ sẽ mất một thứ gì đó, đó là quy luật phản phục
trong Đạo Lão – Mùi quyền môn thắm rất nên phai (câu 286 – CON) Và người
cung nữ đành cắn răng mà chịu cảnh oái ăm này Mọi sự tới điểm này kẻ khuê
Trang 32phòng mới biết hết tất cả về bộ mặt thật của vua, của cuộc đời và của cả đấng tạo hóa Nếu như đi tu rồi, kẻ ấy đâu có “dịp” để biết được mọi lẽ đời ở trần gian, chỉ có con đường dấn thân, thực sự trải đời thì mới biết mà thôi Người cung nữ giờ đây đã biết được vua là kẻ phụ bạc, tưởng đâu xứng đáng với ta nào ngờ chẳng qua cũng là một người đàn ông ham sắc đẹp Cuộc đời rút cuộc đã hiện ra thực sự như mình đã thấy, danh lợi, quyền cao chức rộng không có gì là vĩnh viễn cả Ông xanh kia cũng
là kẻ trêu ngươi tàn độc: Tay nguyệt lão chẳng xe thì chớ/ Xe thế này có dở dang
không (câu 241-242) Người cung phi nhận ra thân phận rẻ rúng của mình, tiếc cho
phận như cái hoa đã trót gieo cành, tiếc cho thân vì bây giờ đã không được xem trọng nữa mà chỉ là cỏ úng tơ mành Lúc trước vua chỉ đến với ta chẳng qua vì sắc không có một chút tình nào gọi là cái nghĩa vợ chồng Ta là kẻ dấn thân vào cảnh sống vợ chồng một phần vì danh phận, nhưng cũng có cái gọi là tình nghĩa phu thuê, ta đã nguyện sống cho trọn kiếp vợ chồng Nhưng nào ngờ khi trải rồi, ta mới
vỡ lẽ ra sự thật này, mới hối tiếc trong cay đắng: Ví sớm biết lòng trời đeo đẳng/
Dẫu thuê tiền cũng chẳng mang tình (câu 289-290) Dự ước không viên thành nên
mới oán giận kẻ đã gây nên sụp đổ: Chống tay ngồi ngẫm sự đời/ Muốn kêu một
tiếng cho dài kẻo căm (câu 331-332), Trêu người chi bấy trăng già/ Trao con chỉ thắm mà ra tơ mành (câu 335-336) Nếu như cuộc đời cho ta biết trước số mệnh thì
hay biết mấy, cho ta biết cuộc đời ta sẽ diễn ra như thế nào rồi ta mới quyết định dấn thân hay không dấn thân Nhưng nếu biết trước thì chắc có lẽ người ta thấy hạnh phúc thì dấn thân, còn thấy khổ đau thì không dấn thân Người cung nữ vì không biết được vận mệnh mình sẽ khổ như thế nào nên mới chấp nhận cảnh vợ
chồng, nhưng khi tan vỡ nàng mới thấy hối tiếc vì sao không chọn cảnh sống: Ví
sớm biết phận mình ra thế/ Dải kết điều ỏe ọe làm chi/ Thà rằng cục kịch nhà quê/ Dẫu lòng nũng nịu nguyệt kia hoa này (câu 306-309) Con người bây giờ mới điên
đảo, đau đớn, tâm trí chẳng còn muốn suy nghĩ, dự ước đến điều gì nữa: Giết nhau
chẳng cái lưu cầu/ Giết nhau bằng cái u sầu độc chưa (câu 239-240), Ngọn tâm hỏa đốt dàu nét liễu/ Giọt hồng băng thấm ráo làn son (câu 305-306) Trong tâm thức
của con người dấn thân là vì muốn chu toàn cái điều mà mình ước muốn, mà mình
hi vọng, chứ không phải dấn thân để chịu khổ đau, chính điều này mới làm cho con
Trang 33người oán giận, đớn đau khi tất cả rơi xuống thảm trạng: Trên chín bệ có hay chăng
nhẽ/ Khách quần thoa mà để lạnh lùng (câu 325-326), Buồn mọi nỗi lòng đà khắc khoải/ Ngán trăm chiều bước lại ngẩn ngơ (câu 233-234) Vì khi lựa chọn dấn thân
người cung nga ước muốn liên kết chung đôi, cùng chồng hưởng hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn; nàng đã sống được một thời gian như dự ước của mình, nhưng nhà vua dấn thân không phải vì ước muốn này của nàng, nên khi vua phụ bạc kẻ khuê phòng này cũng là điều bình thương Chính cái bình thường này mới gây ra sự phi lý, sự oán giận trong lòng người cung nữ Giới hạn mà ta phải dừng lại trái với ước muốn của mình, đó không phải giới hạn hạnh phúc mà ta mong đợi Giờ đây còn ai để mà nương tựa, ai sẽ đi chung với thân phận mình, trông đợi vào đâu khi tất cả đã được
bày ra đấy: Một mình đứng tủi ngồi sầu/ Đã than với nguyệt lại rầu với hoa, chẳng
còn ai, chẳng còn ai khi ta đã vào số kiếp có chồng chung, khi ta đã rời gia đình, cha
mẹ ta Trong cung quế chỉ mình ta âm thầm, cô độc với cái bóng vật vờ: Trong cung
quế âm thầm chiếc bóng/ Đêm năm canh trông ngóng lần lần Sự dấn thân của ta
trở nên vô nghĩa rồi, ta chẳng nhận được gì ngoài sự biết được tất cả thảm trạng mà mình gánh chịu Người cung nữ bất mãn trước bao nhiêu sự đời, sự tình nhưng
trong thực tâm của kẻ này vẫn luôn muốn theo cho tới cùng dự ước: Khi bóng
nguyệt chênh vênh trước ốc/ Nghe vang lừng tiếng giục bên tai/ Đè chừng nghĩ tiếng tiểu đòi/ Nghiêng bình phấn mốc mà nhồi má nheo (câu 277-280), nếu như
nàng bất mãn thực sự thì đã buông bỏ tất cả, không cần phải cố gắng gượng tô son
điểm phấn khi mơ hồ nghĩ nhà vua sẽ đến và đã không nghĩ về sau này: Phòng khi
động đến cửu trùng/ Giữ sao cho được má hồng như xưa (câu 355-356) Chính vì
không bất mãn thực sự mới cho thấy tâm thức của con người luôn khát khao chu toàn dự ước, luôn muốn phải dấn thân để có được những gì mà mình mong đợi Người cung nữ chỉ nhận một biến cố đó là thành người vị vong trong phi lý, số phận nàng như tối đen đi vì tất cả hạnh phúc trước đây đã bị cuộc đời chiếm cứ; đau đớn thay cho kiếp hồng nhan bạc phận; nhưng cũng đau đớn thay cho kẻ như nàng chinh phụ trong một hoàn cảnh mà phải gánh chịu hai biến cố xảy ra: Biến cố “gió bụi” và biến cố “xuất chinh” “Gió bụi” là một biến cố đang xảy ra thực sự ngoài cuộc đời, con người đang phải đối diện với cảnh binh đao lửa đạn, gia đình người
Trang 34chinh phụ và tất cả mọi người đang phải hứng chịu cảnh chiến tranh Và người thiếu phụ đã chấp nhận “gió bụi” vì mình phải bị ở trong “gió bụi” Biến cố “xuất chinh”
là biến cố thứ hai phát xuất từ biến cố gió bụi Người chinh phụ dừng trong “gió bụi” mà không vượt giới hạn để đồng hòa vào xuất chinh, vì ý thức cho nàng biết trong “gió bụi” ta còn có thể đứng lên, còn có thể kêu rằng mình có mặt, chứ trong xuất chinh, một ý nghĩa số phận khác đã được sáng lên mà chúng ta không thể nào
đi vào nếu như không ly khai cùng một cái nhìn hạn giới cũ hay không biến cải
được để đồng hòa với biến cố đang lại xảy ra Người đàn bà trong Chinh phụ ngâm
là một người đàn bà không thể ly khai được với biến cố “gió bụi” mà cũng không
biến cải được biến cố “gió bụi” Sở dĩ như thế vì nàng đã lựa chọn rồi: Chàng thì đi
cõi xa mưa gió/ Thiếp lại về buồng cũ gối chăn (câu 53-54) Cho nên sự dấn thân
của người chinh phụ sẽ dừng lại trong sự lựa chọn này, dừng lại trong “gió bụi”
không đồng hòa với “xuất chinh” – Thiếp nhìn rặng núi, ngẩn ngơ nỗi nhà (câu 52)
Nàng ngẩn ngơ nỗi nhà, không chấp nhận đi theo chồng, người thiếu phụ dừng lại trong giới hạn của một cảnh đời rằng ta sẽ còn ý nghĩa Vì người chinh phụ biết rằng cuộc đời bên ngoài nếu ta đi vào ta sẽ hoàn toàn bị sở hữu hóa, ở vị trí này ta còn có thể vừa là ta mà vừa có thể biết được cuộc đời, biết được những gì đang xảy
ra cho sự sống Không đồng hòa với biến cố “xuất chinh”, thân xác người thiếu phụ không ở trong giới hạn này; nhưng tâm thức của người chinh phụ lại ở trong hạn giới này, dấn thân vào giới hạn này Chính vì dấn thân bằng tâm thức nên kẻ khuê phụ mới biết được chồng mình phải chịu vất vả, nếm đau thương như thế nào:
Chàng từ đi vào nơi gió cát/ Đêm trăng nào nghỉ mát phương nào/ Xưa nay chiến địa dường bao/ Nội không muôn dặm xiết bao dãi dầu…Đã trắc trở đòi ngàn xà hổ/ Lại lạnh lùng những chỗ sương phong (câu 65-86) Chồng mình đang dấn thân
“ngoài mây kia” chịu bao cảnh hiểm nguy, nhìn mà đau mà thương người yêu thương của mình đang bị biến cố dần chiếm mất Trong “cửa này” phận thiếp đã đành, vì thiếp lựa chọn dấn thân trong giới hạn này, nhưng ngoài mây kia thiếp lại thấy chàng cũng đang chịu đau thương Số phận của thiếp và chàng đành phải chia
xa, đành phải ly cách không thể nào thực hiện được dự ước “đồng hòa” Cho nên tất
cả những gì mà người chinh phụ làm tại giới hạn trong “cánh cửa”, đáng lẽ là công
Trang 35việc chung đôi, nhưng ở đây chàng đã đồng hòa trong “xuất chinh” rồi, nên ta phải sống trong đơn độc Số phận chàng đã tách khỏi số phận thiếp, cho nên người chinh phụ phải sống cho hai số phận, phải làm cho hai số phận trong dự ước đồng hòa Người chinh phụ chấp nhận dấn thân ngừng trong giới hạn “gió bụi”, nàng phải sống thêm số phận của chàng, một sự sống thêm để có thể thấy số phận nàng hiện tại đây luôn còn ý nghĩa Nếu như người chinh phụ là quả phụ, thì đơn độc cho cam, thế nhưng không là quả phụ mà vẫn không có sự chung đôi hiện hữu, Ý thức chung đôi ấy càng sáng tỏ lên khi nàng tha thiết nói ra cảnh ngộ đơn độc của mình:
Nay một thân nuôi già dạy trẻ Nỗi quan hoài mang mể biết bao
Sự cam chịu ở đây cho chúng ta thấy ở trong người thiếu phụ vẫn hàm chứa
một cái nhìn kiêu hãnh: Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm/ Ngọt bùi thiếp đã hiếu
man/ Dạy con đèn sách thiếp làm phụ thân (câu 158-160): sự kiêu hãnh của một
con người muốn hoàn thành tất cả ý nghĩa số phận của mình khi mình đã tự do chấp nhận dấn thân từ trước Chấp nhận sống trong giới hạn của mình đã chọn, người chinh phụ đã thấy rõ được số phận mình, số phận chàng và cả cuộc đời này nữa Nếu như dấn thân mà có chàng thì cả hai sẽ cùng nhau chu toàn những việc mà nàng phải làm khi ở trong “cánh cửa”; nhưng chàng đã tách khỏi ý nghĩa này để tìm một ý nghĩa khác Vậy thì kẻ biết dừng trong giới hạn phải làm sao khi chỉ một mình vẫn có thể chu toàn ý nghĩa cho cả hai Cho nên trong sự chấp nhận dấn thân của người chinh phụ, nàng có quyền kiêu hãnh, vì cam chịu bất mãn trong một thảm cảnh lưu đày là một điều hãnh diện rồi Chấp nhận trọng “cánh cửa” có những oán hờn, cô đơn, bất mãn, thiết tha nhớ nhung, chờ đợi, thất vọng rồi tuyệt vọng vì:
Thuở lâm hành oanh chưa bén liễu/ Hỏi ngày về ước nẻo quyên ca/ Nay quyên đã giục oanh già/ Ý nhi lại gáy trước nhà liếu lo (125-128); Tin thường lại người không thấy lại/ Hoa dương tàn đã trải rêu xanh/ Rêu xanh mấy lớp chung quanh/ Sân đi một bước trăm tình ngẩn ngơ (câu 141-144) Người chinh phụ đi vào đời, giờ
đây đang thấy số phận mình giam hãm trong một cuộc phiêu lưu không lối thoát giữa một quá khứ đã mất đi và một tương lai không còn ngày thể hiện Tất cả những
Trang 36gì hò hẹn, chắc chắn, giới hạn, có vị trí, có địa điểm đều sụp đổ như sương khói, đều như hư ảnh của tâm dự phóng ngày xưa chứ không phải của thực ngày nay Con người không thấy lối thoát ở đâu mà cũng chẳng còn dám tin ở đâu là giới hạn nữa Những lời hò hẹn không còn ý nghĩa, số phận mình là số phận một kẻ lưu lạc tìm kiếm, càng tìm kiếm càng thấy rõ rằng mình chỉ là một kẻ lưu đày đi tìm kiếm Tất
cả mọi khổ đau hiện thực của con người chỉ là sự đổ nhào của những lời hứa hẹn Người thiếu phụ đã ngơ ngác lạ lùng của một con người bắt đầu thấy sự sai lạc giữa hứa hẹn và hiện thực của cuộc đời Tha nhân thất hứa hay cuộc đời không cho con người chu toàn lời hứa hẹn của mình? Hai câu hỏi ấy tất sẽ vang lên trong tâm tư người chinh phụ, hai câu hỏi không tìm được câu trả lời thỏa đáng, chỉ vì con người khi hẹn đâu có nghĩ đến sẽ sai hẹn, và cuộc đời khách thể đâu có quan tâm đôi lời
hò hẹn cá thể của con người Cho nên chỉ có thể nghĩ và nên nghĩ rằng bao nhiêu điều sai lạc chỉ vì thảm trạng làm người ở trong cuộc đời là thế Trong một giới hạn như nổ ra một tiếng vang dữ dội, đi cho cùng một giới hạn, một sự chọn lựa, không thể nào cùng được, để rồi như thấy sự dấn thân của mình ngày trước là một chuyện dại dột, lỡ làng Nhưng không người chinh phụ không dại dột lỡ làng, vì nàng có
“thấy” và có “sống” như dự ước, nghĩa là dự ước đã thực hiện Ở trong giới hạn của mình người chinh phụ phải chịu lưu đày, càng căm chịu bao nhiêu càng khát khao
được dấn thân vào “xuất chinh” để được chung đôi với chàng bấy nhiêu – Ước gì
gần gũi tấc gang/ Giải niềm cay đắng để chàng tỏ hay (câu 167-168)
Bao nhiêu dự ước đã thành khói mây, tan hoại giữa đời, ước vọng “đồng hòa” chung đôi của kẻ khuê phụ và kẻ khuê phòng đã bị cuộc đời thâu tóm, biến dịch Giờ đây kẻ vị vong mới tiếc vì một sự dấn thân sai lầm để rồi mơ về quá khứ mà chọn lấy cảnh sống nhà quê hơn là phải ở hiện thực đớn đau như thế này:
Miếng cao lương phong lưu nhưng lợm Mùi hoắc lê thanh đạm mà ngon
Cùng nhau một giấc hoành môn Lau nhau ríu rít cò con cũng tình
Ví sớm biết phận mình ra thế Dải kết điều ỏe ọe làm chi
Trang 37Thà rằng cục kịch nhà quê Dẫu lòng nũng nịu nguyệt kia hoa này (câu 293-309)
Cũng do dấn thân mà người cung nữ mới biết miếng cao lương ngon nhưng lợm, ăn hoài sẽ chán, chỉ có những gì mà ta trân trọng thì dù là “mùi hoắc lê” cũng ngon Cuộc sống mà người khuê oán mơ giản dị bình thường nhưng hạnh phúc Con người cần gì phải mưu cầu cao sang, quyền quý mà nếm đủ thứ khổ đau
Và người chinh phụ cũng đã từng muốn phóng thể để mong thoát kiếp lưu đày,
để được cùng chàng chung đôi:
Thiếp xin muôn kiếp sau này Như chim liền cánh như cây liền cành (câu 359-360)
Mơ về quá khứ hay dự ước đến tương lai thì trong hai chiều thời gian này con người không thể chiếm cứ được gì, đó chỉ là một lối dấn thân bằng tâm thức Vì quá khứ đã qua mơ về cũng chỉ là mơ thôi, tương lai chưa tới thì làm sao biết trước được điều gì sẽ xảy ra Cho nên sau khi mơ về quá khứ và dự ước về tương lai người cung nữ và người chinh phụ đã lập tức quay trở về hiện tại với một hiện hữu đau thương Quay về hiện tại là chấp nhận dấn thân trong hiện tại, chấp nhận tất cả thảm trạng cuộc đời:
Đành muôn kiếp chữ tình đã vậy Thấy kiếp này hơn thấy kiếp sau (câu 361-362 – CPN) Những hương sầu phấn tủi bao xong
Phòng khi động đến cửu trùng Giữ sao cho được má hồng như xưa (câu 354-356 – CON)
Kẻ cứu tính của người chinh phụ đến đây chính là nàng, nàng đã tự cứu mình
ra khỏi thảm trạng của cuộc đời, làm cho tấm thân lưu đày của mình trở nên xinh
tươi mãi mãi - Thiếp thì giữ mãi lấy màu trẻ trung (câu 364) Cũng đã rồi bao nỗi
“hương sầu phấn tủi” giờ đây người cung nữ đang gắng gượng trong cảnh phòng
không luống giữ, tự hứa với lòng - Giữ sao cho được má hồng như xưa Tất cả
những điều mà cả hai kẻ ấy đã quyết định lựa chọn, cho thấy lựa chọn dấn thân từ trước đến nay của hai kẻ không phải là sai lầm hoàn toàn, cả hai đã không từ bỏ dù cuộc đời mang đến toàn nỗi đau Chính vì vậy chúng ta biết rằng trên hành trình dấn
Trang 38thân con người sẽ gặp phải biết bao nhiêu khó khăn, bất ngờ rủi ro, khổ đau, nhưng chúng ta không được nản lòng, dừng bước Vì dừng bước và quay lưng lại thì ta sẽ nhận ta là kẻ thất bại Ta dấn thân trong “gió bụi” cuộc đời nhưng ta không chấp nhận lưu đày mãi mãi trong “gió bụi”, ta phải vươn lên để khẳng định ý nghĩa hiện hữu của ta Ta phải làm sao ở kiếp này ta thấy mình sống trọn vẹn kiếp làm người Tất cả thảm trạng làm người của chúng ta là không biết được tương lai, cho nên khi
sa vào cuộc đời ta mới thấy rằng tương lai là cái bất ngờ ở ngoài dự ước Vì tương lai không thuộc quyền chiếm cứ của ta cho nên đi vào tương lai là chấp nhận “cái bất ngờ”, mọi dự ước có thể chỉ có thể là dự ước mà không buộc phải viên thành Ta không biết được tương lai của ta như thế nào, nên ta mới đi vào tương lai bằng lối dấn thân, bằng lối này ta không biết cuộc đời sẽ cho nhận cay đắng hay ngọt ngào nhưng dẫu là cay đắng hay ngọt ngào thì cũng là những vị ta cần trải qua Nếu sợ nhận cay đắng thì làm sao có thể thấu hết bao nhiêu điều thú vị của cuộc đời, làm sao biết mình đã như thế nào khi vượt qua cay đắng để mà tự hào rằng mình đã thực
sự thành công
2.2 Tâm thức ưu tư và dự phóng về tương lai
Husserl đã viết: “Bản tính của ý thức là hướng tới” - đó là ý hướng tính, vậy thì trong cuộc sống ý thức của con người hướng tới cái gì? Phải chăng là rất nhiều thứ, và có thể nói là hướng tới vô cùng, con người tất tả chạy theo trăm ngàn dự phóng, hết dự phóng này đến dự phóng kia, và đến chết mới hết dự phóng Nội giới của con người là một nội giới hàm chứa nhiều lo âu bi thảm, hàm chứa nhiều đau thương, hàm chứa nhiều cái nhìn về cuộc đời bi đát Không ai có thể thoát khỏi tình trạng lo âu - tình trạng bất hạnh của tinh thần bởi vì con người còn nghĩ đến thế giới tục lụy này Có thể nói nội giới của chúng ta là một vực thẳm khôn cùng mà vì những ranh giới của thân ta, đời ta cho nên ta không bao giờ thể hiện ra cho hết Ta thường xuyên sống trong lo âu, bất mãn, sở dĩ như vậy vì trong ta có ý thức muốn hoàn tất, muốn chu toàn, và có thể nói vì ta tham vọng; mà sự kiện biến trôi ở đời không cho ta được thực hiện đầy đủ và thỏa đáng Không bao giờ và chưa bao giờ ta
có thể sống đầy đủ giữa đời, ta vẫn thấy có sự nuối tiếc không nguôi vì những gì ta nói ra, những gì ta sống qua ta vẫn chưa sống trọn Vì thế bao giờ hôm nay ta cũng
Trang 39nghĩ về ngày mai và dự tính rằng mai kia ta có thể làm cho đời ta, số phận ta đầy
đủ
Trong cuộc đời, con người vì thiếu cái này vì thiếu cái kia mà lúc nào cũng
muốn có cái này muốn có cái kia để chu toàn Người chinh phụ trong Chinh phụ
ngâm cũng vì dự phóng về ngày mai gia đình sẽ có danh tiếng và vật chất nên mới
cùng với chàng dấn thân Vì dự phóng cho kẻ ấy biết được rằng nếu như không làm như vậy thì gia đình mình sẽ không có được một vị trí trong thế giới này vì cả trời đất đều nổi cơn gió bụi, ta không thể nào làm khác được Điều đó cũng là một sự âu
lo của con người Con người đã khóc thương trong âm thầm, nhắm mắt để thực hiện cuộc dự phóng này Và cũng chính từ dự phóng này đã sản sinh ra biết bao nhiêu dự phóng khác Mà dự phóng đáng sợ nhất là nghĩ về một tương lại với một màu xám xịt, thiếu sự sống Soren Kierkergaard đã từng viết: “Một tù nhân chung thân, luôn luôn cô độc, thì rất giàu tưởng tưởng” Cho nên người chinh phụ trong cảnh cô độc của mình, ý thức một thân của mình, đã tưởng tưởng ra bao nhiêu thảm cảnh nơi chồng mình dấn thân Vì nàng không đồng hòa trong “xuất chinh”, bản thân không sống trong giới hạn của chồng, dừng lại giới hạn trong “cánh cửa”, và chính vì dừng
lại trong giới hạn - một địa ngục đơn độc – Một thân nuôi già dạy trẻ thành thử
người chinh phụ mới tưởng tưởng đến bao cảnh tan thường mà chồng phải trải qua:
Tưởng chàng giong ruổi mấy niên/ Chẳng nơi Hán Hải thì miền Tiêu Quan/ Đã trắc trở đòi ngàn xà hổ/ Lại lạnh lùng những chỗ sương phong (câu 83-86) Và sự tưởng
tượng chính là một cơ sở để người thiếu phụ dự phóng đến tương lại của chồng Cuộc đời không đơn giản là những chuyến ra đi, đưa tiễn trông theo, thương nhớ mà cho trọn tất cả ý nghĩa của một tâm hồn, của một tấm lòng, còn là một cái nhìn dự phóng không nguôi Người chinh phụ là kẻ luôn giam mình trong biến trình dự phóng không nguôi đó Nàng đã tưởng ra và tưởng ra cảnh sa trường để mà rùng
mình sợ hãi, lo âu đến kinh hoàng - Lòng nào là chẳng động lòng bi thương, vì ở
đấy xuất hiện những cô hồn tử sĩ và cả tử thần Khi chồng đi ba bốn năm mà chưa thấy trở về kẻ khuê phụ đã dự phóng đến cái chết của chàng, nhưng nàng không nói đến chồng mình đã chết, mà chỉ nghi nan về số phận của chàng mà thôi, trong cái
dự phóng xám xịt này lại có một tia hi vọng lóe lên từ cái nhìn tin tưởng của nàng
Trang 40Người thiếu phụ chưa một lần nào nhắc đến cái chết của chàng chỉ là sự một sự lo
âu đến cùng cực về sự nguy nan của chàng Vì khi phóng cái nhìn của mình đến sa trường kẻ ấy đã thấy ra hai cảnh: một cảnh có chàng và một cảnh của những người
chiến sĩ khác Chàng thì đi vào nơi gió cát, bao gian nan thử thách: Xưa nay chiến
địa dường bao/ Nội không muôn dặm xiết bao dãi dầu (câu 67-68); các chiến sĩ
khác nàng đã thấy cái chết: Hồn tử sĩ gió ù ù thổi/ Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi/
Chinh phu tử sĩ mấy người/ Nào ai mạc mặt nào ai gọi hồn (câu 97-100) Chiếu
quanh biên cương, người thiếu phụ không thấy chàng mà chỉ thấy cái chết đợi chàng, nàng không thể thấy chàng mà chỉ thấy cảnh ngộ đang chờ chàng ở nơi chiến địa Sa trường – cuộc đời vì vậy trỗi dậy trước mắt người chinh phụ như một kẻ thù
bi thiết, một kẻ thù không nói ra mình là thù địch, nhưng cứ đón nhận hủy diệt tất cả
những ai đã dấn thân vào: Trải chốn nghèo tuổi được bao nhiêu (câu 94) Cái chết
của tuổi trẻ, của tuổi thanh niên, vì vậy là một cái chết xót xa, dù rằng chết vì một cái gì, chết vì một ý nghĩa Cái nhìn về sa trường không thể không khiến người chinh phụ dự phóng đến cái chết của chàng Không lo sợ làm sao khi người yêu thương của mình đang đi vào những hoàn cảnh tang thương đó Nhưng cái nhìn của
lo âu vẫn chỉ là một cái nhìn dự phóng của đêm ý thức, của hiện hữu ngày ý thức không còn, đang chuyển biến sang đêm, dày cả những hình bóng hãi hùng của cái chết đang chờ đợi chồng mình Cuộc đời đang dấu ở đâu đây những cảnh tượng đó, những thảm trạng đó mà con người đã lỡ đi vào không thể tránh được Những cảnh tượng như những gai đau thương chích vào người chinh phụ, cho nên không phải chàng đau khổ mà chính nàng đang chịu đau khổ cho chàng Sự lo âu của người chinh phụ là một trạng thái tự nhiên của con người đang gánh vác trách nhiệm, không lo âu sao được khi đối tượng yêu thương của mình ở ngoài sa trường không biết sống chết ra sao Người thiếu phụ đi vào số phận của chàng và ý thức rằng số phận ấy chính là cái chết vô danh, cái chết thây dựng thành gò thảm thương như sự
vật vô tri, cho nên nàng mới đắng cay trách móc: Chinh phu, tử sĩ mấy người/ Nào
ai mạc mặt, nào ai gọi hồn (câu 99-100) Cái nhìn vào chiến trường của người
chinh phụ ở đây không phải cái nhìn thực hữu, mà chính là một cái nhìn dự phóng của tâm trạng, cho nên đã đi đến cực đoan của trí tưởng tượng và ý nghĩ: cái chết là